Tiếng Việt

Trang nhà Quảng Đức

   Tiếng Anh 

qd.jpg (8936 bytes)

Kinh Điển Phật Giáo


......... .


KINH ĐẠI BỬU TÍCH

Việt dịch:  Thích Trí Tịnh

--- o0o --- 

XLI

Pháp Hội Di Lặc Bồ Tát

Vấn Bát Pháp

Thứ Bốn Mươi Mốt

 

Như vậy tôi nghe một lúc đức Bà Già Bà ở thành Vương Xá trong núi Kỳ Xà Quật cùng chúng đại Tỳ Kheo ngàn hai trăm năm mươi người câu hội và mười ngàn đại Bồ Tát.

Bấy giờ Di Lặc Bồ Tát đứng dậy trịch y vai hữu gối hữu chấm đất chắp tay hướng Phật mà bạch rằng: “Bạch đức Thế Tôn! Nay tôi muốn đem ít pháp hỏi đức Như Lai Ứng Chánh Biến Tri, chẳng hay đức Thế Tôn có cho phép chăng?”

Ðức Phật dạy: “Nầy Di Lặc! Tùy ý ông hỏi, đức Như Lai Ứng Chánh Biến Tri sẽ phân biệt giải nói cho ông vui mừng.

Bạch đức Thế Tôn!  Ðại Bồ Tát cứu cánh thành tựu mấy pháp chẳng thối chuyển Vô thượng Bồ đề, ở trong pháp thắng tiến chẳng thối chẳng chuyển, lúc hành đạo Bồ Tát hàng phục tất cả ma oán địch, như thiệt biết tự thể tướng của tất cả pháp, ở các thế gian tâm chẳng mỏi mệt.  Do tâm chẳng mỏi mệt nên chẳng y nơi tha trí mau chóng thành tựu Vô thượng Bồ đề?”

Ðức Phật dạy: “Lành thay, lành thay, nầy Di Lặc! Nay ông có thể hỏi đức Như Lai về thâm nghĩa như vậy.  Ông nên nhứt tâm lắng nghe, ta sẽ nói cho.

- Bạch đức Thế Tôn! Tôi xin vui thích muốn nghe.

Nầy Di Lặc!  Chư đại Bồ Tát cứu cánh thành tựu tám pháp thì chẳng thối chuyển Vô thượng Bồ đề, ở nơi pháp thắng tiến chẳng thối chẳng chuyển, lúc hành đạo Bồ Tát hàng phục tất cả các ma oán địch, như thiệt biết tự thể tướng của tất cả pháp, ở các thế gian tâm chẳng mỏi mệt, vì tâm chẳng mỏi mệt nên chẳng y nơi tha trí, mau chóng thành tựu Vô thượng Bồ đề.

Những gì là tám pháp?  Ðó là chư đại Bồ Tát thành tựu thâm tâm, thành tựu hành tâm, thành tựu xá tâm, thành tựu thiện tri hồi hướng phương tiện tâm, thành tựu đại từ tâm, thành tựu đại bi tâm, thành tựu thiện tri phương tiện và thành tựu Bát Nhã Ba la mật.

Nầy Di Lặc!  Thế nào là đại Bồ Tát thành tựu thâm tâm?

Nếu chư đại Bồ Tát nghe khen ngợi Phật và chê bai Phật, tâm họ cứu cánh nơi Vô thượng Bồ đề vững chắc chẳng động; nếu nghe khen ngợi Pháp và chê bai Pháp, tâm họ cứu cánh nơi Vô thượng Bồ đề vững chắc chẳng động; nếu nghe khen ngợi Tăng và chê bai Tăng, tâm họ cứu cánh nơi Vô thượng Bồ đề vững chắc chẳng động.  Ðây là chư đại Bồ Tát cứu cánh thành tựu thâm tâm.

Nầy Di Lặc!  Thế nào là đại Bồ Tát thành tựu hành tâm?

Nếu chư Ðại Bồ Tát xa lìa sát sanh, xa lìa trộm cướp, xa lìa tà dâm, xa lìa vọng ngôn, xa lìa lưỡng thiệt, xa lìa ác khẩu, xa lìa ỷ ngữ, đây là cứu cánh thành tựu hành tâm.

Nầy Di Lặc!  Thế nào là đại Bồ Tát thành tựu xả tâm?

Nếu chư đại Bồ Tát là chủ hay xả hay bố thí cho các Sa Môn, Bà La Môn, kẻ nghèo cùng ăn xin ăn mày, những kẻ hạ tiện các thứ vật dụng đồ uống ăn y phục đồ nằm thuốc men, đây là cứu cánh thành tựu xả tâm.

Nầy Di Lặc!  Thế nào là chư đại Bồ Tát cứu cánh thành tựu tâm khéo biết hồi hướng phương tiện?

Nếu chư đại Bồ Tát có tu bao nhiêu thiện căn từ ba nghiệp thân khẩu ý đều hồi hướng Vô thượng Bồ đề, đây là cứu cánh thành tựu tâm khéo biết phương tiện hồi hướng.

Nầy Di Lặc!  Thế nào là chư đại Bồ Tát thành tựu tâm đại từ?

Nếu chư đại Bồ Tát cứu cánh thành tựu thân nghiệp đại từ, cứu cánh thành tựu khẩu nghiệp đại từ, cứu cánh thành tựu ý nghiệp đại từ, đây là cứu cánh thành tựu đại từ tâm.

Nầy Di Lặc!  Thế nào là chư đại Bồ Tát thành tựu đại bi tâm?

Nếu chư đại Bồ Tát thành tựu thân nghiệp chẳng thể chê trách, thành tựu khẩu nghiệp chẳng thể chê trách, thành tựu ý nghiệp chẳng thể chê trách, đây là cứu cánh thành tựu tâm đại bi.

Nầy Di Lặc!  Thế nào là chư đại Bồ Tát thành tựu thiện tri phương tiện?

Nếu chư đại Bồ Tát khéo biết thế đế, khéo biết đệ nhứt nghĩa đế, khéo biết cả hai đế, đây là chư đại Bồ Tát cứu cánh thành tựu thiện tri phương tiện.

Nầy Di Lặc!  Thế nào là chư đại Bồ Tát thành tựu Bát Nhã Ba la mật?

Nếu chư đại Bồ Tát biết rõ như vầy: Y theo pháp nầy có pháp nầy, y theo pháp nầy sanh pháp nầy, đó là vô minh duyên hành, hành duyên thức, thức duyên sanh sắc, danh sắc duyên lục nhập, lục nhập duyên xúc, xúc duyên thọ, thọ duyên ái, ái duyên thủ, thủ duyên hữu, hữu duyên sanh, sanh duyên lão tử ưu bi khổ não, như thế thì chỉ có những khổ lớn tụ họp thôi.

Do pháp nầy không có nên pháp nầy không có, do pháp nầy diệt nên pháp nầy diệt, đó là vô minh diệt thì hành diệt, hành diệt thì thức diệt, thức diệt thì danh sắc diệt, danh sắc diệt thì lục nhập diệt, lục nhập diệt thì xúc diệt, xúc diệt thì thọ diệt, thọ diệt thì ái diệt, ái diệt thì thủ diệt, thủ diệt thì hữu diệt, hữu diệt thì sanh diệt, sanh diệt thì lão tử ưu bi khổ não diệt, như thế thì chỉ có khối khổ lớn diệt thôi.  Đây là cứu cánh thành tựu Bát Nhã Ba la mật.

Nầy Di Lặc!  Đây gọi là chư đại Bồ Tát cứu cánh thành tựu tám pháp chẳng thối chuyển Vô thượng Bồ đề, ở trong pháp thắng tiến chẳng thối chẳng chuyển, lúc hành đạo Bồ Tát hàng phục tất cả các ma oán địch, như thiệt biết tự thể tướng tất cả pháp, nơi các thế gian tâm chẳng mỏi mệt, vì tâm chẳng mỏi mệt nên chẳng y tha trí mau chóng thành tựu Vô thượng Bồ đề".

Đức Phật nói kinh nầy rồi, Di Lặc Bồ Tát cùng chư đại Bồ Tát, chư Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni, Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di, Thiên, Long, Dạ Xoa, Càn Thát Bà, A Tu La, Ca Lâu La, Khẩn Na La, Ma Hầu La Già, Nhơn Phi Nhơn, tất cả đại chúng nghe lời Phật dạy đều rất vui mừng tín thọ phụng hành. 

PHÁP HỘI DI LẶC BỒ TÁT VẤN BÁT PHÁP

THỨ BỐN MƯƠI MỐT HẾT XLII

HẾT

 

 

XLII 

Pháp Hội Di Lặc Bồ Tát Sở Vấn

 Thứ Bốn Mươi Hai

 

Hán dịch : Tây Tấn Tam Tạng Trúc Pháp Hộ

Việt dịch : Việt Nam, Tỳ Kheo Thích Trí Tịnh 

Như vầy tôi nghe một lúc đức Phật ở nước Ba La Nại trong rừng Thí Lộc cùng chúng đại Tỳ Kheo năm trăm ngưòi câu hội, tất cả đều là tri thức của đại chúng, danh hiệu các Ngài là:

A Nhã Kiều Trần Như, Ma Ha Ca Diếp, Ưu Lâu Tần Loa Ca Diếp, Già Gia Ca Diếp, Na Ðề Ca Diếp, Xá Lợi Phất, Ðại Mục Kiền Liên, A Nan, La Hầu La v.v...làm thượng thủ.

Còn có một vạn đại Bồ Tát câu hội. Danh hiệu các Ngài là:

Thiện Ý Bồ Tát, Tăng Thượng Ý Bồ Tát, Kiên Cố Ý Bồ Tát, Sư Tử Ý Bồ Tát, Quan Thế Âm Bồ Tát, Ðại Thế Chí Bồ Tát, Biện Tích Bồ Tát, Mỹ Âm Bồ Tát, Thắng Tràng Bồ Tát, Tín Huệ Bồ Tát, Thủy Thiên Bồ Tát, Ðế Thắng Bồ Tát, Ðế Thiên Bồ Tát, Vô Phan Duyên Bồ Tát, Cụ Biện Tài Bồ Tát, Thần Thông Diệu Hoa Bồ Tát, Di Lặc Bồ Tát, Văn Thù Sư Lợi Pháp Vương Tử v.v...làm thượng thủ.

Ðức Thế Tôn có vô lượng trăm ngàn đại chúng vây quanh cúng dường cung kính mà vì họ thuyết pháp.

Bấy giờ Di Lặc Bồ Tát ở trong chúng đứng dậy trịch y vai hữu gối hữu chấm đất đảnh lễ chắp tay mà bạch Phật rằng: "Bạch đức Thế Tôn! Tôi có chút nghi nay muốn thỉnh hỏi Như Lai, ngưỡng mong cho phép."

Ðức Phật dạy: "Nầy Di Lặc! Nếu có chỗ nghi cho phép ông hỏi, ta sẽ giải nói cho ông vui mừng".

Ðược Phật hứa cho, Di Lặc Bồ Tát vui mừng hớn hở bạch Phật rằng: "Bạch đức Thế Tôn! Bồ Tát thành tựu mấy pháp được lìa ác đạo và ác tri thức mà mau chứng Vô thượng Bồ đề?"

Ðức Phật dạy: "Lành thay, lành thay, nầy Di Lặc! Nay ông thương xót tất cả muốn lợi ích an vui cho Trời Người mà hỏi nơi Như Lai về thâm nghĩa ấy. Ông nên lắng nghe khéo suy nghĩ, ta sẽ vì ông mà phân biệt giải nói.

-Vâng bạch đức Thế Tôn! tôi xin ưa thích được nghe.

-Nầy Di Lặc! Có một pháp mà Bồ Tát thành tựu thì lìa các ác đạo và ác tri thức mau có thể chứng được Vô thượng Bồ đề. Ðó là phát tâm Bồ đề ý nguyện thù thắng.

Còn có hai pháp lìa các ác đạo và ác tri thức mau có thể chứng được Vô thượng Bồ đề. Một là với xa ma tha thường siêng tu tập, hai là với tỳ bát xá na thì được thiện xảo.

Còn có ba pháp lìa các ác đạo và ác tri thức mau có thể chúng được Vô thượng Bồ đề. Một là thành tựu đại bi, hai là tu tập pháp không, ba là nơi tất cả pháp chẳng sanh phân biệt.

Còn có bốn pháp lìa các ác đạo và ác tri thức mau có thể chúng được Vô thượng Bồ đề. Một là an trụ tịnh giới, hai là lìa các lưới nghi, bà là thích a lan nhã, bốn là khởi tâm chánh kiến.

Còn có năm pháp lìa các ác đạo và ác tri thức mau có thể chứng được Vô thựơng Bồ đề. Một là an trụ pháp không, hai là chẳng cầu tìm lỗi người, ba là thừơng tự quan sát, bốn là yêu thích chánh pháp, năm là nhiếp hộ người.

Còn có sáu pháp lìa các ác đạo và ác tri thức mau có thể chứng được Vô thượng Bồ đề. Một là không có tham dục, hai là chẳng sanh sân khuể, ba là chẳng khởi ngu si, bốn là thừơng lìa thô ngữ, năm là an trụ tánh không, sáu là tâm như hư không.

Còn có bảy pháp lìa các ác đạo và ác tri thức mau có thể chứng được Vô thượng Bồ đề. Một là an trụ chánh niệm, hai là thành tựu trạch pháp, ba là phát khởi tinh tiến, bốn là thường sanh hoan hỷ, năm là thân được khinh an, sáu là trụ các thiền định, bảy là có đủ hành xả.

Còn có tám pháp lìa các ác đạo và ác tri thức mau có thể chứng được Vô thượng Bồ đề. Một là chánh kiến, hai là chánh tư duy, ba là chánh ngữ, bốn là chánh tinh tiến, năm là chánh mạng, sáu là chánh tinh tiến, bảy là chánh niệm, và tám là chánh định.

Còn có chín pháp lìa các ác đạo và ác tri thức mau có thể chứng được Vô thượng Bồ đề. Một là xa lìa các pháp tham dục, ác bất thiện mà an trụ sơ thiền tầm từ hỉ lạc tâm nhứt cảnh tánh. Hai là xa lìa tầm từ an trụ nhị thiền nội tịnh hỉ lạc tâm nhứt cảnh tánh. Ba là xa lìa hỉ an trụ tam thiền xả niệm huệ lạc tâm nhứt cảnh tánh. Bốn là xa lìa ưu khổ và hỉ lạc an trụ tứthiền xả niệm thanh tịnh vô khổ vô lạc tâm nhứt cảnh tánh. Năm là vượt quá sắc tưởng không phan duyên dị biệt an trụ vô biên hư không xứ định. Sáu là vượt qua vô biên hư không xứ định rồi có thể an trụ vô biên thức xứ định. Bảy là vượt qua vô qua vô biên thức xứ định rồi có thể an trụ vô sở hữu xứ định. Tám là vượt qua vô sở hữu xứ định rồi có thể an trụ phi tưởng phi phi tưởng xứ định. Chín là vượt qua phi tưởng phi phi tưởng xứ định rồi có thể an trụ diệt thọ tưởng định.

Còn có mười pháp xa lìa ác đạo và ác tri thức mau có thể chứng được Vô thượng Bồ đề. Một là khéo có thể thành tựu kim cương tam muội. Hai là thành tựu xứ phi xứ tương ưng tam muội. Ba là thành tựu phương tiện hành tam muội. Bốn là thành tựu biến chiếu minh tam muội. Năm là thành tựu phổ quang minh tam muội. Sáu là thành tựu phổ biến chiếu minh tam muội. Bảy là thành tựu bửu nguyệt tam muội. Tám là thành tựu nguyệt đăng tam muội. Chín là thàn tựu xuất ly tam muội. Mười là thành tựu thắng tràng tý ấn tam muội.

Nầy Di Lặc! Thành tựu các pháp nhự vậy rồi, Bồ Tát lìa các ác đạo và ác tri thức mau có thể chứng được Vô thượng Bồ đề".

Ðược nghe pháp rồi, Di Lặc Bồ Tát rất vui mừng trịch y vai hữu gối hữu chấm đất chắp tay cung kính ở trước Phật nói kệ tán thán:

"Phật ở kiếp quá khứ

Bỏ vợ con yêu thương

Ðầu mắt và xương tủy

Ðến bờ kia bố thí

Phật thường hộ cấm giới

Như trâu mao mến đuôi

Tối thắng không ngang sánh

Ðến bờ kia trì giới

Phật dùng sức nhẫn nhục

Bỏ lìa các đấu tranh

Chẳng cầu tìm lỗi người

Ðến bờ kia nhẫn nhục

Phật dùng sức tinh tiến

Ðược vô thượng tịch tĩnh

Cứu cánh thường an vui

Ðến bờ kia tinh tiến

Phật dùng sức thiền định

Hay diệt trừ tội nhơ

Làm Ðạo Sư Trời Người

Ðến bờ kia thiền định

Phật dùng sức trí huệ

Khéo biết rõ các pháp

Tự tánh vô sỡ hữu

Ðến bờ kia Bát Nhã

Phật tại Bồ đề thọ

Hàng phục các quân ma

Ðầy đủ trí tối thắng

Thành tựu đạo vô thượng

Ðạo Sư sức vô úy

Nơi nước Ba La Nại

Chuyển pháp luân thanh tịnh

Dẹp pháp các ngoại đạo

Trí huệ lớn vô thượng

Ra khỏi các thế gian

Hay phóng tịnh quang minh

Khéo nói các pháp yếu

Như Lai sắc thanh tịnh

Trí huệ và công đức

Vượt quá các thế gian

Hay đến nơi bờ kia". 

Trưởng Lão A Nan bạch Phật rằng: "Bạch đức Thế Tôn! Di Lặc Bồ Tát nầy rất hi hữu hay thành tựu vô lượng biện tài tùy theo tâm niệm của chúng sanh mà bình đẳng thuyết pháp, nhưng đối với văn tự không có chỗ buộc dính."

Ðức Phật dạy: "Ðúng như vậy, đúng như lời ông nói. Nầy A Nan! Di Lặc Bồ Tát đâu phải chỉ có hôm nay ở trước ta nói kệ tán thán đức Phật, mà từ quá khứ mười vô số kiếp, thuở ấy có Phật xuất thế hiệu Diệm Quang Du Hí Diệu Âm Tự Tại Vương Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hành Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật Thế Tôn.  Bấy giờ có một Bà La Môn tên Hiền Thọ thân tướng đầy đủ ai thấy đức Như Lai đoan chánh thù diệu các căn tịch tĩnh được xa ma tha như ao nước trong sạch không bợn nhơ, có ba mươi hai tướng và tám mươi tùy hảo để tự trang nghiêm, như cây ta la nở hoa, như núi Tu Di cao vọi hơn cả, vẻ mặt tươi vui như trăng tròn, chiếu sáng rực rỡ như mặt nhựt tỏ rạng, thân hình tròn trịa như cây ni câu đà.

Thấy tướng thù thắng của Phật Như Lai, Hiền Thọ sanh lòng tịnh tín suy nghĩ rằng: Hi hữu Thế Tôn hay thành tựu vô lượng công đức trang nghiêm như vậy. Tôi cũng nguyện tương lai sẽ thành tựu thân công đức như vậy.

Phát nguyện xong, Hiền Thọ gieo mình xuống đất lại tự nghĩ rằng: "Nếu đời đương lại tôi sẽ được thân Phật nguyện chưn Như Lai đạp lên mình tôi.

Biết ý nghĩ ấy, đức Phật Như Lai liền lấy chưn mình dẫm lên thân Hiền Thọ. Lúc đức Phật Như Lai hạ chưn xuống, Hiền Thọ được vô sanh pháp nhẫn. Ðức Phật Như Lai ngó ngoái lại bảo chúng Tỳ Kheo rằng các ông chớ đạp lên mình Hiền Thọ, tại sao, vì đây là đại Bồ Tát nay đã chứng vô sanh pháp nhẫn, lại hay thành tựu thiên nhãn thiên nhĩ tha tâm túc trụ thần cảnh trí thông.

Hiền Thọ liền ở trước đức Phật Diệm Quang nói kệ tán thán rằng:

Phật ở mười phương cõi

Tối tôn tối vô thượng

Siêu quá các thế gian

Nay tôi cúi đầu lạy

Như Lai đại quang minh

Chói che cả nhựt nguyệt

Siêu quá các thế gian

Nay tôi cúi đầu lạy

Ví như sư tử hống

Muông thú đều kinh sợ

Thế Tôn đại oai đức

Xô dẹp các ngoại đạo

Tướng lông trắng giữa mày

Trong sáng như pha lê

Siêu quá hơn tất cả

Thế Tôn không ai bằng

Lòng chưn thiên bức luân

Thanh tịnh hóa thế gian

Hay chấn động trời đất

Thành tựu đạo xuất ly

Siêu quá biển phiền não

Ðem các của công đức

Tùy ý ban tất cả

Như Lai giới thanh tịnh

Xuất sanh các công đức

Không có lòng thương ghét

Dường như cõi đại địa

Do nơi sức trí huệ

Biết rõ các pháp không

Chúng sanh và thọ giả

Phân biệt bất khả đắc

Khéo rành tánh chúng sanh

Tâm hành và sở nguyện

Làm đèn sáng cho đời

Lợi ích tất cả loài

Thế gian khổ bức bách

Trôi chìm trong dòng sâu

Phật thường vì chúng sanh

Phát sức tinh tiến lớn

Thế tôn lìa phiền não

Sanh lão và bịnh tử

Ở đời như hư không

Tất cả không nhiễm ô

Trí huệ oai quang lớn

Hay phá tất cả tối

Lìa hẳng tham sân si

Nay tôi cúi đầu lạy. 

Hiền Thọ Bồ Tát được thần thông đến nay chẳng còn thối thất. Nầy A Nan! Hiền Thọ thouở ấy chính là Di Lặc đại Bồ Tát nay ở trong hội nầy vậy.

-Bạch đức Thế Tôn! Di Lặc đại Bồ Tát từ lâu đã chứng vô sanh pháp nhẫn cớ sao chẳng được Vô thượng Bồ đề?

Nầy A Nan! Bồ Tát có hai thứ trang nghiêm và hai thứ nhiếp thủ. Ðó là nhiếp thủ chúng sanh và trang nghiêm chúng sanh, nhiếp thủ Phật quốc và trang nghiêm Phật quốc.

Thuở quá khứ lúc tu Bồ Tát hạnh, Di Lặc Bồ Tát thường thích nhiếp thủ và trang nghiêm Phật quốc, còn ta thì thường ưa nhiếp thủ và trang nghiêm chúng sanh. Di Lặc Bồ Tát tu Bồ Tát hạnh trải qua bốn mươi kiếp bấy giờ ta mới phát tâm Vô thượng Bồ đề, do vì ta có sức dũng mãnh tinh tiến nên siêu việt chín kiếp, ở trong Hiền kiếp nầy thành Vô thượng Bồ đề.

Nầy A Nan! Ta do mười pháp mà chứng Bồ đề: Một là hay sả thí vật sở ái, hai là hay thí vợ sở ái, ba là hay thí con sở ái, bốn là hay thí đầu sở ái, năm là hay thí mắt sở ái, sáu là hay thí ngôi vua sở ái, bảy là hay thí trân bửu sở ái, tám là hay thí máu thịt sở ái, chín là hay thí xương tủy sở ái, mười là hay thí thân phần sở ái. Ta thật hành mười pháp nầy mà được Vô thượng Bồ đề.

Nầy A Nan! Còn có mười pháp hay chứng Bồ đề: Một là hộ giới công đức, hai là thành tựu nhẫn lục, ba là phát khởi tinh tiến, bốn là được các thiền định, năm là có đại trí huệ, sáu là thường chẳng bỏ lìa các chúng sanh, bảy là khởi tâm bình đẳng đối với chúng sanh, tám là thường tu tập pháp không, chín là khéo hay thành tựu tánh không chơn thiệt, mười là khéo hay thành tựu vô tướng vô nguyện. Ta thật hành mười pháp nầy mà được Vô thượng Bồ đề.

Nầy A Nan! Thuở quá khứ lúc hành đạo Bồ Tát, Di Lc Bồ Tát chẳng có thể xả thí tay chưn đầu mắt, chỉ dùng thiện xảo phương tiện đạo hạnh an lạc mà tích tập vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.

-Bạch đức Thế Tôn! Thế nào là di Lặc Bồ Tát thuở quá khứ lúc hành đạo Bồ Tát chỉ dùng thiện xảo phương tiện đạo hạnh an lạc mà tích tập Vô thượng Bồ đề?

-Nầy A Nan! Thuở quá khứ hành đạo Bồ Tát, Di Lặc ngày đêm sáu thời trịch y vai hữu gối hữu chấm đất chắp tay đảnh lễ ở trước chư Phật mả nói kệ rằng:

Nay tôi quy mạng lễ

Tất cả Phật mười phương

Bồ Tát chúng Thanh Văn

Ðấng đại tiên thiên nhãn

Cùng lễ tâm Bồ đề

Lìa xa các ác đạo

Hay được sanh lên trời

Nhẫn đến chứng Niết Bàn

Nếu tôi phạm chút tội

Theo tâm mà sanh ra

Nay tôi ở trước Phật

Sám hối cho tiêu diệt

Nay thân khẩu ý tôi

Chứa họp các công đức

Nguyện làm nhơn Bồ đề

Sẽ thành đạo Vô thượng

Trong quốc độ mười phương

Những người cúng dường Phật

Và Phật vô thượng trí

Nay tôi đều tùy hỉ

Có tội đều sám hối

Phước đức đều tùy hỉ

Nay tôi lễ chư Phật

Nguyện thành trí  vô thượng

Chư Bồ Tát mười phương

Chứng được bực thập địa

Nay tôi cúi đầu lạy

Nguyện mau chứng Bồ đề

Ðược chứng Bồ đề rồi

Xô dẹp các quân ma

Chuyển pháp luân thanh tịnh

Lợi ích loài chúng sanh

Thường nguyện ở thế gian

Vô lượng câu chi kiếp

Gióng trống pháp lớn lên

Ðộ thoát khổ chúng sanh

Tôi bị ngập bùn dục

Bị dây tham trói buộc

Nhiều các thứ triền phược

Nguyện Phật thương xem xét

Chúng sanh dầu tội nặng

Chư Phật chẳng chán bỏ

Nguyện dùng đại từ bi

Ðộ thoát biển sanh tử

Hiện tại chư Thế Tôn

Quá khứ vị lai Phật

Bồ Tát đạo đã làm

Nay tôi nguyện tu học

Ðầy đủ Ba la mật

Thành tựu sáu thần thông

Ðộ thoát các chúng sanh

Chứng được đạo vô thượng

Biết rõ các pháp không

Không tướng cũng không tánh

Không trụ không biểu thị

Chẳng sanh cũng chẳng diệt

Lại như đấng Ðại Tiên

Khéo rõ pháp vô ngã

Không bổ đặc già la

Nhẫn đến không thọ giả

Nơi các sự bố thí

Chẳng chấp ngã ngã sở

Vì an lạc chúng sanh

Thí cho không bỏn xẻn

Nguyện vật tôi bố thí

Chẳng cần công dụng sanh

Quan sát biết rõ không

Ðủ Thí Ba la mật

Trì giới không khuyết giảm

Ðược Phật tịnh thi la

do vì vô sở trụ

Ðủ Giới Ba la mật

Nhẫn nhục như tứ đại

Chẳng sanh tâm phân biệt

Do vì không sân khuể

Ðủ Nhẫn Ba la mật

Nguyện dùng sức thân tâm

Phát khởi đại tinh tiến

Kiên cố không giải đãi

Ðử Cần Ba la mật

Do như huyễn như hóa

Và dũng mãnh tinh tiến

Kim cương các tam muội

Ðủ Thiền Ba la mật

Nguyện chứng tam muội trí

Nhập vào tam giải thoát

Rõ tam thế bình đẳng

Ðủ Huệ Ba la mật

Chư Phật diệu sắc thân

Quang minh oai đức lớn

Bồ Tát tinh tiến hạnh

Nguyện tôi đều tròn đầy

Di Lặc Bồ Tát ấy

Siêng tu hạnh như vậy

Ðủ sáu Ba la mật

An trụ bực thập địa. 

Nầy A Nan! Ki Bồ Tát an trụ thiện xảo phương tiện như vậy tích tập Vô thượng Bồ đề.

Nầy A Nan! thuở xưa ta cầu đạo nhận lấy vô lượng mới có thể tích tập Vô thượng Bồ đề.

Thuở xa xưa có Thái Tử tên Kiến Nhứt Thiết Nghĩa đoan chánh đẹp lạ có đủ các tướng tốt ai thấy cũng đều vui mừng. Một hôm Thái Tử du ngoạn thấy một bịnh nhơn đau khổ nặng, Thái Tử xót thương hỏi thăm: Nay bịnh nầy của ngươi há lại không có thuốc để chữa lành sao? Bịnh nhơn nói kệ đáp Thái Tử:

Bịnh tôi khó tìm thuốc

Thế gian chẳng có được

Quốc Vương cũng không có

Huống là kẻ mắc bịnh

Người giỏi nói y phương

Thông đạt các sách vở

Dầu muốn trị bịnh nầy

Thuốc ấy khó có được. 

Thái Tử nói kệ bảo bịnh nhơn:

Vàng bạc châu ma ni

Nhẫn đến các voi ngựa

Cần gì xin người nói

Ðể trừ khổ cho người.

 

Bịnh nhơn lại nói kệ bạch Thái Tử: 

Nếu uống huyết Thái Tử

Chắc tôi được an vui

Xin Thái Tử vui lòng

Cho tôi hết đau khổ. 

Thái Tử liền nói kệ bảo bịnh nhơn: 

Nếu tôi vì chúng sanh

Mà phải đọa địa ngục

Nhiều kiếp còn chịu được

Huống là thân huyết nầy. 

Lúc ấy Thát Tử lấy dao bén đâm vào thân chảy máu bảo bịnh nhơn tùy ý uống chẳng hề có một niệm hối hận.

Nầy A Anan! Thát Tử Kiến Nhứt Thiết Nghĩa thuở xưa kia chính là thân ta vậy. Nước bốn đại hải còn có th63 đong lường, lúc hành đạo Bồ Tát ta xả thí máu nơi thân mình chẳng tính kể được.

Nầy A Nan! Thuở xa xưa có Thát Tử tên Diệu Hoa đoan chánh đẹp lạ đủ các tướng tốt người thấy vui mừng. Một hôm Thát Tử du ngoạn thấy một bịnh nhơn ốm gầy sanh lòng thương hỏi thăm: Nay bịnh của người há lại không có thuốc chữa lành sao?

Bịnh nhơn nói kệ bạch Thái Tử: 

Thế gian có lương y

Chẳng chữa được bịnh tôi

Xin Ngài rũ lòng thương

Trừ đau khổ cho tôi. 

Thái Tử nói kệ bảo bịnh nhơn: 

Tôi vì lợi thế gian

Tất cả đều bố thí

Thân phần và trân bửu

Cần gì xin người nói. 

Bịnh nhơn nói kệ bạch Thái Tử: 

Ví như đại dược vương

Tùy ý chữa lành bịnh

Cũng như nhựt nguyệt sáng

Chiếu khắp các thế gian

Nếu được tủy thân Ngài

Thoa khắp thân thể tôi

Bịnh nầy sẽ tiêu trừ

Mãi mãi được an vui. 

Thái Tử liền nói kệ bảo bịnh nhơn: 

Nếu có các chúng sanh

Ðập thân tôi lấy tủy

Vì lợi ích thế gian

Lòng tôi chẳng ưu não. 

Thái Tử liền tự đập nát thân lấy tủy cho bịnh nhơn tùy ý dùng không có chút niệm hối hận.

Nầy A Nan! Nên biết thuở xưa Thát Tử Kiệu Hoa kia chính là thân ta. Nước bốn đại hải có thể đong lường, thuở xưa ta hành đạo Bồ tát thí xương tủy nơi thân mình không thể tính kể được.

Nầy A Nan! Tuở xa xưa có Quốc Vương tên Nguyệt Quang đoan chánh đẹp lạ đủ tướng tốt người thấy vui mừng, du ngoạn thấy một người mù ăn xin, chạnh lòng thương nhà vua hỏi: Người cần dùng gì ta sẽ cấp cho, hoặc đồ ăn uống y phục đồ trang sức châu ngọc tran bửu, tùy ý người muốn đều sẽ được ban.

Người mù nói kệ bạch Quốc Vương: 

Ðại Vương như nhựt nguyệt

Quang minh soi thế gian

Ðầy đủ thắng công đức

Chẳng lâu sanh lên trời

Tất cả màu sắc đẹp

Nay tôi đều chẳng thấy

Xin vua đại từ bi

Ban tôi mắt của vua. 

Quốc Vương nói kệ đáp người mù: 

Người mau đến lấy mắt

Cho người được an vui

Ngươi tôi đến đời sau

Ðược mắt Phật thanh tịnh

Tôi hành đạo Bồ Tát

Tất cả đều xả thí

Nếu tôi chẳng cho người

Thì trái với bổn nguyện. 

Vua Nguyệt Quang liền tự móc tròng mắt mình thí cho người mù tùy ý dùng chẳng có một niệm hối hận. Nầy A Nan! Niên biết thuở xưa vua Nguyệt Quang kia chính là thân ta. Núi Tu Di còn có thể đo lường, lúc ta hành đạo Bồ Tát bố thí con mắt của mình chẳng thể kể đếm được.

Nầy A Nan! Di Lặc Bồ Tát lúc hành đạo Bồ Tát có phát nguyện rằng: Nếu các chúng sanh tham sân si mỏng thành tựu thập thiện bấy giờ tôi sẽ thành Vô thượng Bồ đề.

Nầy A Nan! Ðời đương lai có thuở các chúng sanh tham sân si mỏng thành tựu thập thiện, bấy giờ Di Lặc Bồ Tát sẽ thành Vô thượng Bồ đề. Tại sao, vì do nơi bổn nguyện của Bồ Tát vậy.

Nầy A Nan! Thuở xưa lúc hành đạo Bồ Tát, ta phát lời rằng: Tôi nguyện sẽ ở nơi đời ác ngũ trược các chúng sanh ác tham sân si nặng, họ chẳng hiếu với cha mẹ chẳng kính bực tôn trưởng, nhẫn đến quyến thuộc chẳng hòa thuận nhau, bấy giờ tôi sẽ thành Vô thượng Bồ đề. Do bổn nguyện như vậy nên nay ta vào thành ấp tụ lạc, có nhiều chúng sanh khi mắng ta, họ dùng pháp đoạn pháp thường tụ chúng hội họp. Hoặc lúc ta đi khất thực, họ rải đất bụi, họ trộn thuốc độc co ta ăn. Hoặc họ dùng nữ nhơn hủy báng ta.

Nầy A Nan! Nay ta do sức bổn nguyện khởi tâm đại bi vì các chúng sanh ấy thuyết pháp".

Trưởng Lão N Nan bạch rằng: "Bạch đức Thế Tôn! Ðức Như Lai Ứng Cúng Ðẳng Chánh Giác hay làm việc khó hay nhẫn việc khó, người chẳng điều phục đều khiến điều phục, mang gánh những chúng sanh tội cấu như vậy mà thuyết pháp cho họ".

Ðức Phật dạy: "Ðúng như lời ông nói. Tại sao, vì do đại bi của Như Lai nhiếp lấy vậy.

-Bạch đức Thế Tôn! Tôi nghe thệ nguyện vững chắc của đức Như Lai mà toàn thân lông dựng đứng. Bạch đức Thế Tôn! Kinh nầy tên là gì, chúng tôi phải dụng trì thế nào?

-Nầy A Nan! Kinh nầy tên là Di Lặc Sở Vấn, cũng tên là Vãng Tích Bổn Nguyện Nhơn Duyên, ông nên phụng trì như vậy".

Ðức Phật nói kinh nầy rồi, Di Lặc Bồ Tát, Tôn giả A Nan, tất cả thế gian Trời, Người, A Tu La v.v...nghe lời Phật dạy đều rất vui mừng tín thọ phụng hành. 

Pháp Hội Di Lặc Bồ Tát Sở Vấn

Thứ Bốn Mươi Hai

Hết

 

 

 

 

 

XLIII

 

Pháp Hội

Phổ Minh Bồ Tát

Thứ Bốn Mươi Ba

 

Hán dịch : Tây Tấn Tam Tạng Trúc Pháp Hộ

Việt dịch : Việt Nam, Tỳ Kheo Thích Trí Tịnh 

Như vầy tôi nghe một lúc đức Phật ở thành Vương Xá trong núi Kỳ Xà Quật cùng chúng đại Tỳ Kheo tám ngàn người câu hội. Ðại Bồ Tát vạn sáu ngàn người đều là bực bất thối chuyển từ các Phật độ đến họp, đều là bực nhất sanh thành Phật.

Bấy giờ đức Thế Tôn bảo Trưởng Lão Ma Ha Ca Diếp: "Nầy Ðại Ca Diếp! Bồ Tát có bốn pháp thối thất trí huệ. Một là chẳng tôn trọng pháp chẳng kính pháp sư. Hai là được thọ thâm pháp bí ẩn chẳng nói hết. Ba là có người ưa thích pháp thì làm chướng nạn nói các nhơn duyên làm trở hoại lòng họ. Bốn là kiêu mạn tự cao ti hạ người khác. Ðây là bồ Tát bốn pháp thối thất trí huệ.

Lại nầy Ðại Ca Diếp! Bồ Tát có bốn pháp được đại trí huệ: một là thường tôn trọng pháp cung kính pháp sư, hai là tùy theo pháp được nghe dùng tâm thanh tịnh mà rộng giảng nói cho người chẳng cầu tất cả danh văn lựi dưỡng, ba là biết rằng từ đa văn mà sanh trí huệ nên siêng cầu chẳng lười như cưú cháy đầu, bốn là nghe kinh tụng trì thích như thuyết thật hành chẳng theo ngôn thuyết. Ðây là Bồ Tát bốn pháp được đại trí huệ.

Nầy Ðại Ca Diếp! Bồ Tát có bốn pháp mất tâm Bồ đề: một là khi dối sư trưởng chẳng cung kính kinh pháp đã thọ, hai là chỗ không có nghi hối mà làm người khác nghi hối, ba là người cầu Ðại thừa mắng rầy chê bai bêu xấu họ, bốn là dùng tâm siểm khúc mà tùng sự nơi người. Ðây là Bồ Tát bốn pháp mất tâm Bồ đề.

Lại nầy Ðại Cá Diếp! Bồ Tát bốn pháp đời đời ch83ng mất tâm Bồ đề nhẫn đến lúc ngồi đạo tràng tự nhiên hiện tiền: một là dầu là nhơn duyên mất mạng cũng chẳng vọng ngữ huống là chơi cười, hai là thường dùng trực tâm tùng sự cho người rời lìa siểm khúc, ba là đối với chư Bồ Tát tưởng là Phật hay xưng dương danh hiệu các Ngài khắp bốn phương, bốn là tự mình chẳng yêu thích pháp Tiểu thừa có giáo hóa ai đều khiến họ an trụ Vô thượng Bồ đề. Ðây là Bồ Tát bốn pháp chẳng mất tâm Bồ đề nhẫn đến đạo tràng tự nhiên hiện tiền.

Nầy Ðại Ca Diếp! Bồ Tát có bốn pháp mà pháp lành đã được sanh phải mất chẳng tăng trưởng: một là dùng tâm kiêu mạn đọc tụng tu học kinh lộ già gia, hai là lòng tham lựi dưỡng đến nhà đàn việt, ba là ghét và hủy báng Bồ Tát, bốn là với kinh chưa nghe thì trái nghịch chẳng tin. Ðây là Bồ Tát bốn pháp làm mất chẳng tăng trưởng pháp lành đã sanh.

Lại nầy Ðại Ca Diếp! Bồ Tát có bốn pháp mà pháp lành được sanh tăng trưởng chẳng mất: Một là bỏ lìa tà pháp cầu chánh kinh điển lục Ba la mật Bồ Tát pháp tạng, hai là lòng không kiêu mạn đối với chúng sanh khiêm ti hạ hạ, ba là như pháp được bố thí biết vừa biết đủ lìa các tà mạng an trụ thánh chủng, bốn là chẳng bêu tội lỗi hư thiệt của người chẳng cầu chỗ dỡ của người, nếu ở các pháp lòng mình chẳng thông đạt thì của chúng sanh mà thuyết pháp cho họ, chỉ có Phật biết chẳng phải chỗ hiểu của tôi, lấy Phật làm chứng mà chẳng sanh lòng trái nghịch. Ðầy là Bồ Tát bốn pháp mà pháp lành đã sanh thì tăng trưởng chẳng mất.

Nầy Ðại Ca Diếp! Có bốn tâm siểm khúc mà Bồ Tát phải xa lìa: một là ở trong Phật pháp thì sanh lòng nghi hối, hai là đối với chúng sanh thì kiêu mạn sân hận, ba là với lợi dưỡng của người thì sanh lòng tật đố, bốn là mắng chửi Bồ Tát bêu tiếng xấu các Ngài. Ðây là bốn tâm siểm khúc mà Bồ Tát phải xa lìa.

Lại nầy Ðại Ca Diếp! Bồ Tát có bốn tướng trực tâm: một là có phạm tội không phú tàng mà phát lộ với người lòng không phiền muộn, hai là nếu mất nước thân mạng tài sản, gặp lúc sự việc gấp ấy cũng chẳng vọng ngữ chẳng nói kháic, ba là tất cả sự ác hủy báng mắng nhiếc đánh đập trói buộc, lúc bị các sự khổ nạn như vậy chỉ tự trách mình tự y theo nghiệp báo chẳng giận hờn ngươi, bốn là an trụ tín lực nếu nghe Phật pháp thậm thâm khó tin thì tin mình thanh tịnh có thể đều thọ trì cả. Ðây là Bồ Tát có bốn tướng trực tâm.

Nầy Ðại Ca Diếp! Bồ Tát có bốn tướng bại hoại: một là đọc tụng kinh điển mà sanh hí luận chẳng thật hành theo pháp, hai là chẳng có thể cung kính phụng thuận sư trưởng khiến lòng các Ngài vui đẹp, ba là làm tổn sự cúng dường của người tự trái bổn thệ mà thọ tín thí, bốn là Bồ Tát tốt thì khinh mạn bất kính. Ðây là Bồ Tát có bốn tướng bại hoại.

Lại nầy Ðại Ca Diếp! Bồ Tát có bốn tướng thiện thuận: một là kinh chưa được nghe, nghe rồi tín thọ thật hành như lời y chỉ nơi pháp chẳng y theo ngôn thuyết, hai là tùy thuận sư giáo hay biết ý chỉ dễ dàng cùng thưa nói chỗ làm đều hay giỏi chẳng sai ý sư trưởng, ba là chẳng thối giới định dùng tâm điều thuận mà thọ cúng dường, bốn là thấy Bồ Tát tốt thì cung kính yêu thích tùy thuận người lành bẩm thọ đức hạnh. Ðây là Bồ Tát có bốn tướng điều thuận.

Nầy Ðại Ca Diếp! Bồ Tát có bốn tướng sai lầm: một là với người chẳng tin được mà đồng ý với họ, hai là với chúng sanh phi khí mà thuyết pháp thậm thâm, ba là với người thích Ðại thừa lại tán thán Tiểu thừa cho họ, bốn là lúc bố thí chỉ cho người trì giới người lành mà không cho người ác. Ðây là Bồ Tát có bốn tướng sai lầm.

Nầy Ðại Ca Diếp! Bồ Tát có bốn chánh đạo: một là đối với chúng sanh có tâm bình đẳng, hai là khắp giáo hóa chúng sanh đồng dùng Phật huệ, ba là đối với chúng sanh bình đẳng thuyết pháp, bốn là khắp làm cho chúng sanh đồng an trụ chánh hạnh. Ðây là Bồ Tát có bốn chánh đạo.

Nầy Ðại Ca Diếp! Bồ Tát có bốn chẳng phải thiện tri thức chẳng phải thiện đẳng lữ: một là người cầu Thanh Văn chỉ muốn tự lợi, hai là người cầu Duyên Giác vui thích ít sự, ba là đọc ngoại điển Lộ Già Gia Tỳ văn từ nghiêm sức, bốn là người được thân cận chỉ thêm thế lợi chẳng lợi ích chánh pháp. Ðây là Bồ Tát có bốn phi thiện tri thức phi thiện đẳng lữ.

Nầy Ðại Ca Diếp! Bồ Tát có bốn thiện tri thức bốn thiện đẳng lữ: một là người đến cầu xin cầu học là thiện tri thức vì là nhơn duyên Phật đạo, hai là người khác khiến xuất gia là thiện tri vì sanh trí huệ, ba là người hay bảo người khác khiến xuất gia là thiện tri thức vì tăng trưởng thiện pháp, bốn là chư Phật Thế Tôn là thiện tri thức vì tăng trưởng tất cả Phật pháp vậy. Ðây là Bồ Tát bốn thiện tri thức bốn thiện đẳng lữ.

Nầy Ðại Ca Diếp! Bồ Tát có bốn phi Bồ Tát mà tợ Bồ Tát: một là tham cầu lợi dưỡng mà chẳng cầu pháp, hai là tham cầu danh xưng mà chẳng cầu phước đức, ba là tham cầu tự vui mà chẳng cứu chúng sanh để diệt pháp khổ, bốn là thích tụ họp đồ chúng mà chẳng thích xa lìa. Ðây là bốn phi Bồ Tát mà tợ Bồ Tát.

Nầy Ðại Ca Diếp! Bồ Tát có bốn chơn thiệt Bồ Tát: một là hay tin hiểu không mà cũng tin nghiệp báo, hai là biết tất cả pháp không có ngô ngã mà đối với chúng sanh khởi tâm đại bi, ba là rất thích Niết Bàn mà đi trong sanh tử, bốn là thật hành sả thí đều vì chúng sanh mà chẳng cầu báo. Ðầy là bốn chơn thiệt Bồ Tát.

Nầy Ðại ca Diếp! Bồ Tát có bốn đại tạng: một là nếu Bồ Tát được gặp chư Phật, hai là hay nghe sáu Ba la mật và nghĩa giải ấy, ba là dùng tâm vô ngại nhìn người thuyết pháp, bốn là thích hạnh viễn ly tâm không giải đãi. Ðây là Bồ Tát có bốn đại tạng.

Nầy Ðại Ca Diếp! Bồ Tát có bốn pháp hay quá ma sự: một là thường chẳng bỏ rời tâm Bồ đề, hai là đối chúng sanh lòng không giận hại, ba là biết rõ các tri kiến, bốn là lòng chẳng khinh tiện tất cả chúng sanh. Ðây là Bồ Tát bốn pháp hay vượt khỏi ma sự.

Nầy Ðại Ca Diếp! Bồ Tát có bốn pháp nhiếp các thiện căn: một là ở tại chỗ không nhàm rời lìa tâm siểm khúc, hai là ở trong các chúng sanh hành bốn nhiếp pháp mà chẳng cầu báo, ba là vì cầu pháp nên chẳng tiếc thân mạng, bốn là tu các thiện căn lòng không chán đủ. Ðây là Bồ Tát bốn pháp nhiếp các thiện căn.

Nầy Ðại Ca Diếp! Bồ Tát có bốn vô lượng phước đức trang nghiêm: một là dùng tâm thanh tịnh mà thật hành pháp thí, hai là ở nơi người phá giới sanh lòng đại bi, ba là ở trong các chúng sanh ca ngợi tuyên dương tâm Bồ đề, bốn là đối với những kẻ hạ liệt thì tu tập nhẫn nhục. Ðây là Bồ Tát có bốn vô lượng phước đức trang nghiêm.

Lại nầy Ðại Ca Diếp! Gọi là Bồ Tát ấy chẳng phải chỉ danh tự là Bồ Tát mà người hay thật hành pháp lành thật hành tâm bình đẳng thì gọi là bồ Tát. Lược nói người thành tựu được ba mươi hai pháp thì gọi là Bồ Tát: một là thường vì chúng sanh thâm cầu an lạc đều làm cho họ được an trụ trong Nhứt thiết trí, hai là lòng chẳng ganh ghét trí huệ của người, ba là phá hoại kiêu mạn, bốn là rất thích Phật đạo, năm là yêu kính không luống thân hậu cứu cánh, sáu là ở trong oán thân tâm mình đồng đều đến nơi Niết bàn, bảy là lúc nói thường mỉm cười để ý thăm hỏi trước, tám là công việc được làm chẳng nghỉ giữa chừng, chín là khắp vì chúng sanh mà bình đẳng hành đại bi lòng không nhàm mỏi, mười là đa văn không chán, mười một là tự tìm lỗi mình chẳng nói lỗi người, mười hai là dùng tâm Bồ đề hành các oai nghi, mười ba là ban ơn cho người chẳng cầu báo đáp, mười bốn là chẳng y nơi chỗ sanh mà hành trì giới, mười lăm là ở trong các chúng sanh hành vô ngại nhẫn, mười sáu là vì tu tất cả thiện căn mà hành tinh tiến, mười bảy là rời lìa sanh cõi Vô Sắc mà phát khởi thiền định, mười tám là hành phương tiện huệ ứng dụng bốn nhiếp pháp, mười chín là với chúng sanh thiện hay ác đều từ tâm vô úy, hai mươi là nhứt tâm nghe pháp, hai mươi mốt là tâm an trụ viễn ly, hai mươi hai là tâm chẳng thích ham các sự thế gian, hai mươi ba là chẳng tham Tiểu thừa, hai mươi bốn là ở trong Ðdại thừa thường thấy lợi ích lớn, hai mươi lăm là lìa ác tri thức thân cận thiện hữu, hai mươi sáu là thành bốn phạm hạnh, hai mươi bảy là du hí thần thông, hai mươi tám là thường y chơn trí, hai mươi chín là ở nơi chánh hạnh được các chúng sanh thật hành đều chẳng vứt bỏ, ba mươi là lời nói thường quyết định, ba mươi  mốt là quí pháp chơn thiệt, ba mươi hai là tất cả việc làm đều lấy Bồ đề làm đầu. Nếu người có ba mươi hai pháp nầy thì gọi là Bồ Tát.

Nầy Ðại Ca Diếp! Bồ Tát phước đức vô lượng vô biên nên dùng thí dụ nhơn duyên để rõ biết.

Ví như đại địa, tất cả chúng sanh thọ dùng mà không tâm phân biệt chẳng cầu họ báo đáp. Cũng vậy, Bồ Tát từ sơ phát tâm đến ngồi đạo tràng, tất cả chúng sanh đều nhờ lợi ích, mà Bồ Tát tâm không phân biệt chẳng cầu báo đáp.

Ví như thủy chủng, tất cả lúa mạ cỏ cây đều được tăng trưởng, Cũng vậy, Bồ Tát vì tự tâm thanh tịnh nên từ bi trùm khắp tất cả chúng sanh đều khiến tăng trưởng tất cả pháp lành.

Ví như hỏa chủng đều có thể thành thục tất cả trái hột của lúa cây.  Cũng vậy, trí huệ của Bồ Tát đều có thể thành thục tất cả pháp lành.

Ví như phong chủng có thể thành lập tất cả thế giới.  Cũng vậy, Bồ Tát phương tiện đều có thể thành lập tất cả Phật pháp.

Ví như mặt nguyệt từ lúc sơ sanh ánh sáng hình sắc của nó ngày ngày tăng trưởng.  Cũng vậy, Bồ Tát tịnh tâm tất cả pháp lành ngày ngày tăng trưởng.

Ví như mặt nhựt lúc mới mọc đồng thời phóng quang chiếu sáng khắp nơi cho chúng sanh.  Cũng vậy, Bồ Tát phóng trí huệ quang đồng thời chiếp khắp tất cả chúng sanh.

Ví như sư tử thú vương đến chỗ nào cũng chẳng kinh chẳng sợ.  Cũng vậy, Bồ Tát trì giới thanh tịnh trí huệ chơn thiệt ở chỗ nào cũng đều chẳng kinh chẳng sợ.

Ví như tượng vương khéo điều thuận thì có thể làm xong việc lớn nặng mà thân chẳng mệt nhọc.  Cũng vậy, Bồ Tát vì khéo điều tâm nên có thể vì chúng sanh làm lợi ích lớn tâm không mỏi nhọc.

Ví như các hoa sen sanh trong nước mà nước chẳng dính được.  Cũng vậy, Bồ Tát sanh giữa thế gian mà pháp thế gian chẳng ô nhiễm được.

Ví như có người đốn cây vì còn gốc nên lại mọc.  Cũng vậy, Bồ Tát vì có sức phương tiện nên dầu đoạn kiết sử mà còn có thiện căn ái nên lại sanh trong tam giới.

Ví như những dòng nước các phương chảy vào biển thì đều thành một vị.  Cũng vậy, Bồ Tát dùng nhiều pháp môn họp các thiện căn hồi hướng Vô thượng Bồ đề đều thành một vị.

Ví như núi Tu Di, chư Thiên Trời Ðai Lợi và Trời Tứ Thiên Vương đều nương đó mà ở.  Cũng vậy, tâm Bồ đề của Bồ Tát làm chỗ nương ở cho Nhứt thiết trí.

Ví như có có đại quốc vương do sức các quan mà xong việc nước.  Cũng vậy, trí huệ của Bồ Tát do sức phương tiện nên đều thành tựu được tất cả Phật sự.

Ví như lúc tạnh sáng sạch không có mây mù ắt không có tướng mưa.  Cũng vậy, trí huệ của Bồ Tát do sức phương tiện nên đều thành tựu được tất cả Phật sự.

Ví như lúc tạnh sáng sạch không có mây mù ắt không có tướng mưa.  Cũng vậy, Bồ Tát quả văn không có tướng pháp vũ.

Ví như lúc trời đầy mây âm u ắt có thể mưa xuống đầy đủ cho chúng sanh.  Cũng vậy, Bồ Tát từ mây đại bi khởi mưa đại pháp lợi ích chúng sanh.

Ví như Chuyển Luân Vương xuất hiện nơi nào thì có thất bửu.  Cũng vậy, lúc Bồ Tát xuất hiện thì ba mươi bảy phẩm trợ đạo xuất hiện thế gian.

Ví như châu như ý bửu ở chỗ nào thì có vô lượng kim ngân trân bửu.  Cũng vậy, Bồ Tát xuất hiện ở nơi nào thì có trăm ngàn vô lượng bửu Thanh Văn, Duyên Giác.

Ví như chư Thiên Trời Ðao Lợi vào vườn Ðồng đẳng thì chỗ thọ dụng đều đồng đẳng.  Cũng vậy, vì Bồ Tát tâm chơn tịnh nên ở trong chúng sanh bình đẳng giáo hóa.

Ví như sức chú thuật và thuốc làm cho độc chẳng hại người.  Cũng vậy, do sức trí huệ mà Bồ Tát kiết độc chẳng đọa ác đạo.

Ví như vật dơ uế phế thải trong đại thành mà đem đổ vào ruộng mía ruộng nho thì có lợi ích.  Cũng vậy, Bồ Tát kiết sử còn thừa đều là nhơn duyên lợi ích Nhứt thiết trí.

Nầy Ðại Ca Diếp!  Bồ Tát thường muốn học kinh Ðại Bửu Tích này thì phải thường tu tập chánh quán các pháp.  Thế nào là chánh quán?  Ðó là chơn thiệt tư duy các pháp.  Người chơn thiệt chánh quán thì chẳng quán ngã nhơn chúng sanh thọ mạng.  Ðây gọi là trung đạo chơn thiệt chánh quán.

Lại nầy Ðại Ca Diếp!  Người chơn thiệt quán thì quán sắc chẳng phải thường chẳng phải vô thường, quán thọ tưởng hành và thức chẳng phải thường cũng chẳng phải vô thường.  Ðây gọi là trung đạo chơn thiệt chánh quán.

Lại nầy Ðại Ca Diếp!  Người chơn thiệt quán thì quán địa chủng chẳng phải thường cũng chẳng phải vô thường, quán thủy hỏa và phong chủng chẳng phải thường cũng chẳng phải vô thường.  Ðây gọi là trung đạo chơn thiệt chánh quán.

Tại sao vậy?  Vì thường là một bên, vô thường là một bên, còn giữa thường và vô thường thì không có sắc không có hình không có danh không có trí giác, đây gọi là trung đạo thiệt quán các pháp.

Ngã là một bên, vô ngã là một bên, còn giữa ngã và vô ngã thì không có sắc không có hình không có danh không có tri giác, đây gọi là trung đạo thiệt quán các pháp.

Lại nầy Ðại Ca Diếp!  Nếu tâm có thiệt thì là một bên nếu tâm phi thiệt cũng là một bên, nếu không có tâm thức cũng không có tâm số pháp, đây gọi là trung đạo thiệt quán các pháp.

Như thế thì pháp thiện và pháp bất thiện, pháp thế gian và pháp xuất thế gian, pháp có tội và pháp không có tội, pháp hữu lậu và pháp vô lậu, pháp hữu vi và pháp vô vi, nhẫn đến pháp có cấu uế và pháp không có cấu uế cũng đều như vậy, rời lìa hai bên mà chẳng thể thọ được cũng chẳng thể nói được, đây gọi là trung đạo thiệt quán các phap1.

Lại nầy Ðại Ca Diếp!  Hữu là một bên, vô cũng là một bên, còn giữa hữu và vô thì không có sắc không có hình không có danh không có tri giác, đây gọi là trung đạo thiệt quán các pháp.

Nầy Ðại Ca Diếp!  Thập nhị nhơn duyên đã được ta thuyết pháp: vô minh duyên hành, hành duyên thức, thức duyên danh sắc, danh sắc duyên lục nhập, lục nhập duyên xúc, xúc duyên thọ, thọ duyên ái, ái duyên thủ, thủ duyên hữu, hữu duyên sanh, sanh duyên lão tử ưu bi khổ não.

Nhơn duyên như vậy chỉ là họp lại thành, là khối đại khổ.  Nếu vô minh diệt thì hành diệt, hành diệt thì thức diệt, thức diệt thì danh sắc diệt, danh sắc diệt thì lục nhập diệt, lục nhập diệt thì xúc diệt, xúc diệt thì thọ diệt, thọ diệt thì ái diệt, ái diệt thì thủ diệt, thủ diệt thì hữu diệt, hữu diệt thì sanh diệt, sanh diệt thì lão tử ưu bi khổ não diệt mà khối đại khổ diệt.  Minh cùng vô minh không có hai không có khác.  Biết rõ như vậy thì gọi là trung đạo thiệt quán các pháp.

Như thế thì hành và phi hành, thức và sở thức, danh sắc thấy được và chẳng thấy được, các lục nhập xứ và lục thần thông, xúc và sở xúc, thọ và thọ diệt, ái và ái diệt, thủ và thủ diệt, hữu và hữu diệt, sanh và sanh diệt, lão tử và lão tử diệt, đều không hai không khác.  Biết rõ như vậy thì gọi là trung đạo thiệt quán các pháp.

Lại nầy Ðại Ca Diếp!  Người chơn thiệt quán, chẳng do vì không khiến các pháp không mà pháp tánh tự không, chẳng do vì vô tướng khiến các pháp vô tướng mà các pháp tự vô tướng, chẳng do vì vô nguyện khiến các pháp vô nguyện mà các pháp tự vô nguyện, chẳng do vì vô khởi vô sanh vô ngã vô thủ vô tánh khiến các pháp vô khởi đến vô tánh mà các pháp tự vô khởi đến vô tánh.  Người quán như vậy gọi là thiệt quán.

Lại nầy Ðại Ca Diếp!  Chẳng phải vì vô nhơn nên gọi là không mà không có tự không: tiền tết không hậu tế không trung tế cũng không.  Nên y nơi không chớ y nơi nhơn.  Nếu do được không bèn y nơi không thì nơi Phật pháp là thối đọa vậy.

Vì thế nên, nầy Ðại Ca Diếp!  Thà khởi ngã kiến chứa bằng núi Tu Di mà chẳng lấy không kiến khởi tăng thượng mạn.

Tại sao vậy, vì tất cả kiến chấp do nơi không mà được thoát, nếu khởi không kiến thì chẳng thể trừ được.

Ví như y sư cho thuốc khiến bịnh chuyển động, thuốc ấy ở trong thân người bịnh mà không ra ngoài, nầy Ðại Ca Diếp, ý ông thế nào, người bịnh ấy được lành chẳng?

- Bạch đức Thế Tôn!  Không lành, thuốc ấy chẳng ra ngoài thì bịnh càng tăng.

- Nầy Ðại Ca Diếp!  Cũng vậy, tất cả kiến chấp duy không là có thể trừ diệt, nếu khởi không kiến thì chẳng trừ được.

Ví như có người sợ hư không kêu khóc đấm ngực mà la lên rằng: tôi bỏ hư không.  Nầy Ðại Ca Diếp!  Ý ông thế nào, hư không ấy có bỏ được chăng?

- Bạch đức Thế Tôn!  Không bỏ được.

Nầy Ðại Ca Diếp!  Nếu ai sợ pháp không thì ta bảo người ấy cuồng loạn thất tâm.  Vì họ thường đi trong pháp không mà lại sợ pháp không vậy.

Ví như hoạ sư tự tay họa tượng quỉ Dạ Xoa, rồi thấy tượng quỉ lại kinh sợ mê muội té xuống đất.  Cũng vậy, tất cả phàm phu tự tạo sắc thanh hương vị xúc nên qua lại sanh tử thọ các khổ não mà chẳng tự hay biết.

Ví như huyễn sư tự hóa người huyễn rồi trở lại tự tàn hại.  Cũng vậy, Tỳ Kheo có pháp được quán đều không đều tịch không có kiên cố, quán ấy cũng không.

Ví như hai khúc gỗ cọ nhau có lửa phát sanh trở lại đốt cháy khúc gỗ ấy.  Cũng vậy, do chơn thiệt quán nên sanh thánh trí, thánh trí sanh rồi trở lại đốt tiêu thiệt quán.

Ví như thắp đèn thì tối tăm tự không có, tối ấy không từ đâu lại đi cũng không đến đâu, chẳng phải từ phương Ðông lại đi cũng chẳng đến Nam Tây Bắc tứ duy trên dưới, chẳng từ kia lại đi cũng chẳng đến đâu.  Ánh sáng đèn nầy không có quan niệm tôi hay diệt tối.  Chỉ vì đèn sáng mà không tối.  Sáng và tối đều không vô tác vô thủ.  Cũng vậy, lúc thiệt trí sanh thì vô trí diệt.  Trí và vô trí đều không vô tác, vô thủ.

Ví nhà tối suốt ngàn năm chưa từng thấy ánh s1nhg, nếu lúc thắp đèn, nầy Ðại Ca Diếp, ý ông thế nào, bóng tối ấy chừng có quan niệm rằng tôi ở đây đã lâu chẳng muốn đi chăng?

-Bạch đức Thế Tôn! Không, nếu lúc thắp đèn, tối ấy vô lực ắt phải diệt mất.

-Nầy Ðại Ca Diếp! Cũng vậy, trăm ngàn vạn kiếp đã kiết nghiệp từ lâu, dùng nhứt thiệt quán sát thì liền tiêu diệt. Ánh sáng đèn kia là thánh trí vậy, bóng tối kia là kiết nghiệp vậy.

Ví như hột giống mà ở hư không thì chẳng bao giờ sanh trưởng được. Cũng vậy, Bồ Tát thủ chứng thì chẳng bao giờ tăng trưởng Phật pháp được.

Ví như hột giống mà ở tại ruộng tốt thì hay sanh trưởng. Cũng vậy, Bồ Tát có các kiết sử rời lìa thế gian pháp có thể tăng trưởng Phật pháp.

Ví như đất khô cao nguyên chẳng sanh hoa sen. Cũng vậy Bồ Tát ở trong vô vi chẳng sanh Phật pháp.

Ví như trong bùn nước ướt thấp sanh hoa sen. Cũng vậy Bồ Tát ở trong sanh tử tà định chúng sanh hay sanh Phật pháp.

Ví như có bốn đại hải, trong ấy, đầy sanh tô. Cũng vậy, Bồ Tát hữu vi thiện căn nhiều vô lượng.

Ví như chẻ sợi lông ra làm trăm phần, lấy một phần lông chấm một giọt nước trong biển. Cũng vậy, tất cả hành Thanh Văn thiện căn hữu vi cũng rất ít như vậy.

Ví như lỗ rỗng trống của một hột cải nhỏ. Trí huệ hữu vi của tất cả hành Thanh Văn cũng nhỏ như vậy.

Ví như khoảng không gian mười phương vô lượng vô biên. Bồ Tát hữu vi trí huệ năng lực cũng vô lượng như vậy.

Ví như Ðại Vương dòng Sát Lợi có đại phu nhơn thông dâm với kẻ bần tiện mang thai sanh con trai, nầy Ðại Ca Diếp, ý ông thế nào, có phải là Vương Tử chăng?

-Bạch đức Thế Tôn! Không phải.

-Nầy Ðại Ca Diếp! Cũng vậy, chúng Thanh Văn của ta dầu đồng chứng do pháp tánh sanh mà chẳng gọi là chơn thiệt Phật tử của đức Như Lai.

Ví như Ðại Vương dòng Sát Lợi thông dâm với thể nữ có thai sanh con trai, cầu ra từ họ hèn hạ mà được gọi là Vương Tử. Cũng vậy, sơ phát tâm Bồ Tát dầu chưa có đủ phước đức trí huệ lại qua sanh tử tùy lực thế của mình mà lợi ích chúng sanh. Ðây gọi là Như Lai chơn thiệt Phật tử.

Ví như Chuyển Luân Thánh Vương có ngàn con trai chưa có một người có tướng Thánh Vương, trong ngàn con trai ấy Chuyển Luân Thánh Vương chẳng nghĩ tưởng là con trai mình.

Cũng vậy, dầu có trăm ngàn vạn ức Thanh Văn quyến thuộc vây quanh mà không có Bồ Tát trong đại chúng ấy, đức Như Lai chẳng nghĩ tưởng là Phật tử.

Ví như Chuyển Luân Thánh Vương có đại phu nhơn mang thai bảy ngày, đứa con trai ấy có tướng Chuyểng Luân Vương chư Thiên tôn trọng hơn các con trai khác đã có đủ thân thể sức lực. Tại sao? Vì Vương Tử trong thai non ấy chắc sẽ nối ngôi tôn quí kế làm giống Thánh Vương. Cũng vậy, sơ phát tâm Bồ Tát dầu chưa đủ Bồ Tát căn nhưng được chư Thiên thần vương hết lòng tôn trọng hơn bực đại A La Hán đủ bát giải thoát. Tại sao? Vì Bồ Tát ấy được gọi là nối ngôi tôn quí chẳng dứt giống Phật.

Ví như một viên lưu ly châu hơn cả tòa núi thủy tinh. Cũng vậy, Bồ Tát từ lúc mới phát tâm đã hơn chúng Thanh Văn, Bích Chi Phật.

Ví như ngày phu nhơn của Ðại Vương sanh con trai, các tiểu vương quần thần đều đến bái yết. Cũng vậy, Bồ Tát lúc sơ phát tâm, chư Thiên thế nhơn đều nên lễ kính.

Ví như trong núi Tuyết sanh dược thảo không thuộc về ai không có phân biệt, tùy bịnh uống dùng đều hay chữa trị. Cũng vậy, Bồ Tát chức họp trí huệ không chỗ phân biệt bình đẳng cứu hộ khắp tất cả chúng sanh.

Ví như mặt nguyệt sơ sanh được mọi người ái kính hơn mặt nguyệt tròn. Cũng vậy, người tin lời Phật thì ái kính Bồ Tát hơn đức Như Lai. Tại sao? Vì do nơi chư Bồ Tát mà sanh ra đức Như Lai vậy.

Ví như kẻ ngu bỏ mặt nguyệt mà lễ thờ tinh tú. Người trí thì chẳng như vậy, chẳng bỏ lìa người tu hạnh Bồ Tát để lễ kính hàng Thanh Văn.

Ví như tất cả thế gian dầu Trời hay Người giỏi dồi sửa viên ngọc giả cũng chẳng thể làm thành lưu ly bửu châu được. Cũng vậy, người cầu Thanh Văn dầu trì tất cả giới thành tựu thiền định cũng trọn chẳng thể được ngồi đạo tràng thành Vô thượng Bồ đề.

Ví như dồi sửa lưu ly bửu châu hay xuất sanh vô lượng trân bửu. Cũng vậy, giáo hóa thành tựu Bồ Tát hay xuất sanh vô lượng Thanh Văn Bích Chi Phật.

Lại nầy Ðại Ca Diếp! Chư Bồ Tát phải thường cầu lợi ích cho chúng sanh và chánh tu tập, tất cả thiện căn phước đức đã có đều bình đẳng ban cho tất cả chúng sanh, trí dược đã có mang đến khắp mười phương chữa trị cho chúng sanh khiến đều cứu cánh.

Những gì gọi là trí dược cứu cánh? Ðó là dùng bất tịnh quán trị tham dâm, dùng từ bi quán trị sân khuể, dùng nhơn duyên quán trị ngu si, dùng không quán trị các kiến chấp, dùng vô tướng quán trị các ức tưởng phân biệt duyên niệm, dùng vô nguyện xuất ly tam giới, dùng tứ phi đảo trị tất cả đảo, dùng nghĩa các pháp hữu vi đều vô thường để trị quan niệm điên đảo chấp thường trong vô thường, dùng nghĩa hữu vi đều khổ để trị quan niệm điên đảo chấp vui trong các khổ, dùng nghĩa vô ngã để trị quan niệm điên đảo chấp ngã trong vô ngã, dùng Niết bàn tịch diệt để trị quan niệm điên đảo chấp tịnh trong bất tịnh.

Dùng tứ niệm xứ để trị những chấp kiến dựa nương thân thọ tâm pháp.  Hành giả quán thân, thuận theo thân tướng mà quán chẳng sa vào ngã kiến, thuận theo thọ tướng mà quán chẳng sa và ngã kiến, thuận theo tâm tướng mà quán chẳng sa vào ngã kiến, thuận theo pháp tướng mà quán chẳng sa vào ngã kiến.  Tứ niệm xứ ấy hay chán tất cả thân thọ tâm pháp mà mở cửa Niết bàn.

Dùng tứ chánh cần hay dứt các pháp bất thiện đã sanh và ngăn các pháp bất thiện chưa sanh, hay khiến các thiện pháp chưa sanh thì xuất sanh và các pháp thiện đã sanh thì hay khiến tăng trưởng.  Tóm lại, hay dứt tất cả pháp bất thiện và thành tựu các thiện pháp.

Dùng tứ như ý túc hay trị tất cả thân tâm trầm trọng khiến được như ý thần thông.

Dùng ngũ căn trị các chúng sanh bất tín giải đãi thất niệm loạn tâm không trí huệ.

Dùng ngũ lực chướng ngăn sức lực của các phiền não.

Dùng thất giác phần trị sự ngu si nghi hối sai lầm ở trong các pháp.

Dùng bát chánh đạo trị tất cả chúng sanh sa vào tà đạo.

Ðây là cứu cánh trí dược của Bồ Tát mà chư Bồ Tát phải thường siêng tu tập vậy.

Lại nầy Ðại Ca Diếp!  Trong hàng y sư nơi Diêm Phù Ðề, Kỳ Vức y vương là tối đệ nhứt.  Giả sử tất cả chúng sanh trong tam thiên Ðại Thiên thế giới đều như Kỳ Vức, nếu có người hỏi thuốc trị bịnh kiết sử phiền não tà kiến nghi hối trong tâm thì họ còng chẳng đáp được huống là chữa trị được.

Bồ Tát ở trong đây phải quan niệm rằng: Tôi chẳng nên lấy thế dược làm đầy đủ mà phải cầu học tu tập thuốc trí xuất thế, cũng tu tất cả thiện căn phước đức.  Bồ Tát như vậy được trí dược rồi đến khắp mười phương cứu cánh chữa lành cho tất cả chúng sanh.

Những gì gọi là Bồ Tát trí dược?  Ðó là biết các pháp không có ngã nhơn chúng sanh thọ mạng tri kiến, không có tác không có thọ, tin hiểu thông đạt không có ngã sở.  Ở trong pháp không vô sở đắc ấy không có kinh sợ siêng năng tinh tiến mà suy tìm tâm tướng.  Bồ Tát suy tìm tâm như vầy: Gì là tâm?  Là tham dục hay sân khuể ngu si ư?  Là quá khứ vị lai hiện tại ư!  Nếu là tâm quá khứ thì đã dứt mất hết rồi, nếu là tâm vị lai thì chưa sanh chưa đến, nếu là tâm hiện tại thì không có an trụ.  Tâm nầy chẳng phải tội ngoại trung gian.  Tâm nầy không có sắc không có hình không có đối không có thức không có tri không có an trụ không có xứ sở.  Tâm ấy như vậy, tam thế thập phương chư Phật đều chẳng có đã thấy đang thấy sẽ thấy.  Nếu tất cả chư Phật quá khứ vị lai hiện tại mà chẳng thấy được tâm ấy thì nó làm sao có được?  Chỉ do nơi điên đảo tưởng nên tâm sanh các pháp nhiều thứ sai biệt.  Tâm nầy như ảo huyễn do ức tường phân biệt mà khởi các thứ nghiệp và thọ các thứ thân.

Lại nầy Ðại Ca Diếp! Tâm đi như gió vì chẳng nắm bắt được, tâm như nước chảy vì sanh diệt chẳng ngừng, tâm như ngọn đèn vì các duyên mà có, tâm như ánh chớp vì niệm niệm diệt dứt, tâm như hư không vì khách trần ô nhiễm, tâm như khỉ vượn vì tham lục dục, tâm như họa sư vì hay khởi các nghiệp nhơn, tâm chẳng nhứt định vì theo dõi các thứ phiền não, tâm như đại vương vì là chủ tăng thượng các pháp, tâm thường độc hành không hai không bạn vì không có hai tâm đồng thời, tâm như voi cuồng đạp ngả các nhà đất vì hay phá hoại tất cả các thiện căn, tâm như nuốt lưỡi câu vì trong khổ mà tưởng là vui, tâm nầy như mộng vì trong vô ngã mà sanh ngã tưởng, tâm như lằn xanh vì trong bất tịnh mà sanh tịnh tưởng, tâm như ác quỉ vì tìm dịp hại người, tâm thường cao hạ vì tham và sân làm hư hại, tâm như trộm cướp vì cướp mất tất cả thiện căn, tâm thường tham sắc như bướm đáp lửa, tâm thường tham thanh như quân đi lâu thích tiếng trống trận, tâm thường tham hương như heo thích nằm trong chỗ bất tịnh, tâm thường tham vị như cô gái nhỏ ham