Đạo của vật lý
The Tao of Physics
Tác giả:
Fritjof Capra
Nguyễn Tường Bách
dịch
Phần I.
Con đường của vật lý học
Chương 1: Vật lý hiện đại - Một “tâm đạo”?
Mỗi con đường chỉ là một lối đi và cũng không ảnh
hưởng gì đến mình hay đến ai nếu phải từ bỏ nó, một khi trái tim buộc bạn
phải làm thế... Hãy quan sát con đường kỹ lưỡng và chính xác. Và hãy tự
hỏi mình, chỉ chính mình thôi... Đó là một con đường của trái tim? Nếu
phải thì đó là một lối đi tốt đẹp; nếu không nó chỉ vô ích.
Carlos Castaneda;
Bài học của Don Juan
Nền vật lý hiện đại có một ảnh hưởng sâu đậm hầu như
trên mọi hình thái của xã hội loài người. Nó trở thành cơ sở của khoa học
tự nhiên, và sự liên hệ hỗ tương giữa khoa học tự nhiên và khoa học kỹ
thuật đã biến đổi sâu xa điều kiện sống của chúng ta, xấu tốt đều có. Ngày
nay hầu như không có một ngành công nghiệp nào mà không sử dụng những
thành tựu của vật lý nguyên tử và ai cũng biết đến ảnh hưởng của vũ khí
hạt nhân trong nền chính trị thế giới. Tuy thế thật ra, ảnh hưởng của vật
lý hiện đại vượt xa kỹ thuật. Nó vươn dài đến tận tư tưởng, văn hoá và dẫn
đến một sự thay đổi cơ bản về thế giới quan cũng như mối quan hệ của con
người với vũ trụ. Sự nghiên cứu về thế giới nguyên tử và hạ nguyên tử
(*) trong thế kỷ 20 đã phát hiện một cách bất ngờ hạn
chế của các quan niệm cổ điển và buộc ta có một sự sửa đổi triệt để về
nhiều khái niệm. Ví dụ khái niệm “vật chất” trong nền vật lý hạ nguyên tử
hoàn toàn khác hẳn với quan niệm thông thường về một thể vững chắc trong
vật lý cổ điển. Điều đó cũng tương tự cho các khái niệm không gian, thời
gian và nguyên nhân - kết quả. Thế nhưng những khái niệm vừa kể lại là cơ
sở của thế giới quan chúng ta với sự chuyển hoá mạnh mẽ của chúng, thế
giới quan của ta cũng bắt đầu thay đổi.
Trong những thập niên qua, các nhà vật lý và triết gia
đã thảo luận rất nhiều về sự thay đổi này do nền vật lý hiện đại tác động,
nhưng rất ít khi người ta thừa nhận rằng sự thay đổi quan niệm này rõ rệt
đã dẫn vào thế giới quan của nền đạo học phương Đông. Các khái niệm của
vật lý hiện đại cho thấy một sự song song bất ngờ với các quan niệm đã
được đề ra trong các nền triết lý, đạo học miền Viễn Đông. Dù sự song hành
này chưa được đề cập đến một cách cặn kẽ nhưng nó đã được nhiều nhà vật lý
lớn nhất của thế kỷ này đã ghi nhận, khi các vị đó tiếp xúc với các nền
văn hoá phương Đông trong các chuyến đi thuyết giảng tại ấn Độ, Trung quốc
và Nhật Bản. Xin ghi lại ba thí dụ sau đây:
Những quan điểm chung về nhận thức của con người,
được minh hoạ bởi phát hiện của vật lý nguyên tử, tự nó không xa lạ hay
khó hiểu. Ngay trong nền văn hoá của chúng ta, chúng đã có lịch sử và
trong tư tưởng Phật giáo hay ấn Độ giáo chúng có một chỗ đứng trung tâm
đấng kể.
Điều mà ta phát hiện chỉ nêu thêm ví dụ, xác nhận và
làm tinh tế thêm cho một nền văn minh triết cổ xưa (Julius Robert
Oppenheimer 1904-1067, nhà vật lý học người Mỹ, góp phần quan trọng trong
công cuộc nghiên cứu vật lý hạt nhân).
Để tìm sự song hành với lý thuyết vật lý nguyên
tử... ta phải đến với cách đặt vấn đề về nhận thức luận mà các đầu óc như
Phật hay Lão Tử đã từng đối mặt, nếu ta muốn hoà điệu vị trí của chúng ta
vừa là khán giả vừa là diễn viên trong màn kịch lớn của thế gian. (Niels
Bohr).
Đóng góp lớn nhất trong ngành vật lý lý thuyết của
Nhật Bản sau cuộc chiến tranh thế giới vừa qua có lẽ là dấu hiệu của một
mối liên hệ nhất định giữa các tư tưởng phương Đông và nội dung triết học
của lý thuyết lượng tử. (Werner Heisenberg).
Mục đích của cuốn sách này là tìm hiểu mối tương quan
giữa các khái niệm của vật lý hiện đại và cơ sở của nền triết học và đạo
học phương Đông. Chúng ta sẽ thấy hai cơ sở chung của nền vật lý thế kỷ 20
- lý thuyết lượng tử và lý thuyết tương đối - buộc chúng ta phải nhìn thế
giới như cách nhìn Ấn Độ giáo, Phật giáo, Lão giáo và sự giống nhau giữa
hai bên càng tăng thêm khi xét các thí nghiệm gần đây nhằm phối hợp hai lý
thuyết để mô tả các hiện tượng trong vũ trụ vi mô: khi nói về các tính
chất và tương tác của các hạt hạ nguyên tử, các hạt đó là tác nhân tạo ra
vật chất. Đây cũng là nơi mà sự song hành giữa vật lý lý thuyết và đạo học
phương Đông nổi bật nhất và chúng ta sẽ gặp những lý giải mà ta sẽ không
biết chúng do ai phát biểu, do một nhà vật lý hay một đạo sĩ phương Đông.
Khi nói Đạo học phương Đông, tôi nói đến các
triết lý tôn giáo của ấn Độ giáo, Phật giáo và Lão giáo. Mặc dù chúng gồm
một số lớn trường phái tâm linh và hệ thống triết lý đan kết lẫn nhau,
song tính chất chung của thế giới quan đó đều như nhau. Cái nhìn này không
chỉ giới hạn ở phương Đông, nó có thể tìm thấy trong nhiều cấp bậc của mọi
triết lý thiên về huyền bí. Vì thế những luận cứ trong sách này có thể nói
chung là vật lý hiện đại dẫn ta đến một thế giới quan rất tương đồng với
cách nhìn của nhà đạo học của mọi thời đại và truyền thống.
Truyền thống đạo học thực ra có mặt trong tôn giáo và
các yếu tố huyền bí cũng có mặt trong trường phái triết học phương Tây.
Mối song hành với vật lý hiện đại thật ra không phải chỉ có trong Kinh Vệ
Đà của ấn Độ giáo, trong Kinh Dịch hay trong các Kinh Luận của đạo Phật,
chúng cũng đã từng hiện diện trong tư tưởng của Heraclitus (550-480 trước
CN, triết gia Hy Lạp) trong Sufismus của người Ả-rập và trong giáo pháp
của nhà huyễn thuật Yaqui Don Juan. Nhưng ở đây, nhằm dùng từ đơn giản,
tôi sẽ nói thế giới quan phương Đông và thỉnh thoảng mới nhắc đến
các nguồn đạo học khác.
Nếu nền vật lý hôm nay mà đưa về lại một thế giới quan
huyền bí thì thật ra nó chỉ trở lại nguồn gốc của nó, đã cách xa 2500 năm.
Thật thú vị khi theo dõi nền khoa học phương Tây trên bước đường của nó,
bắt đầu với các triết gia đạo học Hy Lạp đến sự phát triển thành những tư
duy duy lý xuất sắc, ngày càng xa tính chất huyền bí ban đầu, tiến tới một
thế giới quan đối lập với thế giới quan của phương Đông. Thế nhưng trong
những bước đường phát triển gần đây nhất, khoa học phương Tây lại tự vượt
lên quan điểm của chính mình và trở lại với tư duy của nền triết học Hy
Lạp cổ và triết học phương Đông. Nhưng lần này nó không đặt cơ sở trên
trực giác nữa mà dựa trên những thí nghiệm chính xác, phức tạp và dựa trên
một lý luận logic chặt chẽ của toán học.
Nguồn gốc của vật lý, cũng như mọi ngành khoa học phương
Tây khác, bắt rễ trong giai đoạn đầu của triết học Hy Lạp, và thế kỷ 6
trước Công nguyên, trong một nền văn hóa mà khoa học tự nhiên, triết học
và tôn giáo chưa hề tách nhau.
Các nhà hiền triết của truyền thống Milesi tại Ionia hồi
đó chưa biết sự phân biệt này. Mục đích của các vị đó là nhằm phát hiện
cái cốt tủy của cơ cấu đích thực của sự vật mà họ gọi là Physis. Từ
Physis (vật lý) xuất phát từ Hy Lạp đó, có nguyên nghĩa là sự tìm
kiếm của tự tính sự vật.
Điều này tất nhiên cũng là mục đích của các nhà đạo học
và thực tế là triết học Milesi cũng có một khuynh hướng đạo học mạnh mẽ.
Người Hy Lạp đời sau gọi các nhà Milesi là Hylozoist nghĩa là kẻ
cho rằng vật chất cũng biết sống vì các vị Milesi không hề phân biệt
giữa sinh và vô sinh, giữa tâm thức và vật chất. Thậm chí họ không có từ
vật chất, vì họ cho rằng mọi hiện tượng đều là phát biểu của
Physis cả, mà cái này chứa sẵn sự sống và tâm thức. Vì thế Thales
(625-547 trước CN - nhà toán học và triết học Hy Lạp) xem mọi sự vật đều
chứa đầy linh tánh và Anaximender (610-547 trước CN - triết gia Hy Lạp)
xem vũ trụ có dạng của một cơ thể, được Pneuma (Hơi thở, khí),
hơi thở của vũ trụ điều hòa, cũng như con người được khí trời nuôi sống.
Quan điểm nhất thể và hữu cơ của những người Milesi rất
gần với triết học cổ đại ấn Độ và Trung Quốc và sự song hành với thế giới
quan phương Đông càng rõ rệt hơn nữa trong triết học của Heraclitus.
Heraclitus tin nơi một thế giới đang biến dịch liên tục, của một sự trở
thành miên viễn. Đối với ông, những gì tĩnh tại chỉ là sự vọng tưởng
và nguyên lý vũ trụ của ông là ngọn lửa, một biểu tượng của sự biến dịch
thường xuyên của mọi sự. Heraclitus chỉ ra rằng, mọi biến dịch trong trời
đất là do tính động và sự tác động đầy sức sống và nhịp nhàng; ông xem mỗi
cặp đối lập đó là cái nhất thể. Ông gọi cái nhất thể, cái xuyên suốt mọi
cặp đối lập, là logos.
Đến trường phái Elatic thì cái nhất thể này bị
chẻ đôi, họ cho rằng có một nguyên lý thiêng liêng cao hơn cả thánh
thần và con người. Mới đầu nguyên lý này được xem là sự nhất thể của vũ
trụ, về sau người ta cho rằng nó là Thượng đế có tính toàn trí và mang
nhân trạng, là người đứng trên và cai quản thế giới. Đó là khởi thủy của
khuynh hướng tách tâm và vật ra làm hai và dẫn triết học phương Tây đến
tính nhị nguyên tiêu biểu.
Trong hướng này thì Parmenides đi một bước ngược hẳn với
Heraclitus. Ông xem nguyên lý cơ bản của mình chính là cái Tồn Tại,
cho nó là cái có thực duy nhất và không thay đổi. Ông xem sự biến dịch
không thể có, cái mà ta gọi là biến dịch trong thế giới chỉ là sự nhầm lẫn
của giác quan. Từ quan điểm này phát sinh một vật chất bất hoại, vật chất
này là nền tảng mang những tính chất có thể thay đổi. Khái niệm vật chất
bất hoại trở thành một khái niệm gốc của tư duy phương Tây.
Trong khoảng thế kỷ thứ 5 trước Công nguyên, các nhà
triết học Hy Lạp tìm cách vượt lên hai quan điểm đối lập của Parmenides và
Heraclitus. Nhằm dung hòa cái tồn tại bất biến (Parmenides) và
sự biến dịch thường xuyên (Heraclitus), người ta cho rẳng tồn tại thể
hiện thông qua những chất liệu bất biến, nhưng đem nó mà trộn lẫn với nhau
hay tách rời xa nhau thì chúng lại tạo nên sự biến dịch của thế giới. Tư
duy này dẫn đến khái niệm nguyên tử, là những hạt nhỏ nhất bất khả phân
của vật chất, nó được trình bày rõ nhất trong triết học của Leucippus và
Demokritus. Những người Hy Lạp cổ theo truyền thuyết nguyên tử đó kéo một
đường phân ranh rõ giữa tâm và vật, đối với họ vật chất được cấu tạo bằng
những hạt cơ bản (**). Những hạt này vận động hoàn toàn
thụ động giữa những hạt khác, cũng chẳng có sự sống trong một không gian
trống rỗng. Lý do nào làm chúng ta vận động cũng không được giải thích rõ,
chúng thường được xem là do các lực bên ngoài tác động, các lực đó có một
nguồn gốc thuộc tâm, khác hẳn vật chất. Trong suốt thế các kỷ sau, hình
dung này là một yếu tố then chốt của tư tưởng phương Tây, của quan điểm
nhị nguyên Tâm - Vật, giữa hồn phách và thể xác.
Khi ý niệm chia đôi tâm- vật bắt đầu bắt rễ thì các
triết gia hướng về thế giới tâm thức nhiều hơn, họ quan tâm đến linh hồn
con người và các vấn đề đạo lý. Suốt hơn hai ngàn năm, sau đỉnh cao của
nền khoa học và văn hóa Hy Lạp trong thế kỷ thứ 4, thứ 5 trước Công
nguyên, các vấn đề đó đè nặng thế giới tư tưởng phương Tây. Dựa trên nhận
thức khoa học thời Thượng cổ, Aristotle đã hệ thống và tổ chức thành mô
hình, mô hình đó làm nền tảng cho quan niệm của phương tây về vũ trụ suốt
hai ngàn năm. Nhưng cũng chính Aristotle lại nghĩ rằng những vấn đề về
linh hồn con người và suy tư về Thượng đế đáng quí hơn chuyên nghiên cứu
thế giới vật chất. Lý do tại sao thế giới quan của Aristotle tồn tại lâu
dài cũng chính là vì người ta không tha thiết gì về thế giới vật chất cũng
như vì ảnh hưởng của Giáo hội, vì Giáo hội là người ủng hộ quan điểm của
Aristotle suốt thời Trung cổ.
Phải đợi đến thời Phục hưng thì khoa học phương Tây mới
bắt đầu phát triển, khi con người bắt đầu tự giải phóng ra khỏi quan điểm
của Aristotle và Giáo hội bắt đầu quan tâm đến thế giới tự nhiên. Sau đó
đến thế kỷ thứ 15, việc nghiên cứu giới tự nhiên được thực hiện trong một
tinh thần khoa học và các thí nghiệm ra đời nhằm kiểm tra những ý niệm
mới. Song song, người ta còn quan tâm đến toán học. Cuối cùng, nhằm phát
biểu những lý thuyết khoa học vừa được khám phá, được thí nghiệm thừa
nhận, người ta sử dụng toán học. Galileo là người đầu tiên đã nối kết các
nhận thức từ kinh nghiệm với toán học, vì thế ông được xem là cha đẻ của
nền khoa học hiện đại.
Khoa học hiện đại phát sinh, nó mở đường cho sự phát
triển của tư duy triết học, và song song nó dẫn đến một sự phát biểu cực
đoan về tính nhị nguyên tâm - vật. Sự phát biểu này xuất hiện vào thế kỷ
thứ 17 với triết học của Rene Descartes, người cho rằng trong tự nhiên có
hai lĩnh vực hoàn toàn tách rời và độc lập với nhau: lĩnh vực tâm thức (res
cogitans) và lĩnh vực vật chất (res extensa). Nhờ cách phân
chia của Descartes, các nhà khoa học được phép xem vật chất là chết và
hoàn toàn độc lập với mình: thế giới vật chất chỉ là một tập hợp của những
đối tượng khác nhau, trong một bộ máy khổng lồ. Thế giới quan có tính cơ
giới này được Isaac Newton ủng hộ, người đã phát triển nền cơ học của mình
trên cơ sở đó và biến nó thành nền tảng của nền vật lý cổ điển. Từ giữa
thế kỷ 17 đến cuối thế kỷ 19, mô hình cơ học của Newton đã thống trị toàn
bộ nền tư duy khoa học. Song song đó, cũng có một hình ảnh của Thượng đế,
người đứng trên thế giới và cai quản thế giới bằng những qui luật của
Chúa. Những qui luật của thế giới tự nhiên mà nhà khoa học đang nghiên cứu
cũng được xem là nằm trong vòng qui luật trường cửu và bất biến của Chúa
vì Chúa là người cai quản thế giới.
Triết học Descartes không những chỉ có ảnh hưởng trong
nền vật lý cổ điển. Nó từng có và ngày nay vẫn còn có ảnh hưởng lớn lao
trong tư duy phương Tây nói chung. Câu nói nổi tiếng của Descartes “Cogito
ergo sum” (tôi tư duy, vậy tôi hiện hữu) làm cho người phương Tây đồng hóa
mình với tâm thức thay vì với toàn bộ con người mình. Hậu quả của cách
phân chia kiểu Descartes là mỗi con người tưởng mình là một thể cô lập, là
một cá thể sống “trong” thân xác. Tâm bị tách rời khỏi thân thể nhưng lại
nhận một trách nhiệm là “quản thân thể đó, vì thế mà sinh ra mối mâu thuẫn
giữa ý chí có ý thức và bản năng vô ý thức. Mỗi một cá thể lại chia chẻ ra
nhiều ngăn hộc khác nhau, tùy hoạt động, khả năng, cảm xúc, niềm tin
v.v... của người đó; chúng nằm chồng chéo trong vô số mâu thuẫn, liên tục
sinh ra những xao xuyến siêu hình và chán nản.
Mối hỗn loạn nội tâm đó của con người được phản ánh qua
cách nhìn ra thế giới bên ngoài, thế giới được nhìn qua nhiều vật
thể và tiến trình khác nhau. Thế giới xung quanh được coi như có nhiều
phần tử kết nên, nhiều phe nhóm giành nhau cấu xé. Quan niệm chia chẻ này
bao trùm luôn lên xã hội, vì thế mà sinh ra nhiều quốc gia, chủng tộc, phe
nhóm tôn giáo và chính trị khác nhau. Cho sự chia chẻ như vậy là
đúng-trong ta, xung quanh ta và trong xã hội đó chính là nguyên do chủ yếu
của mọi cuộc khủng hoảng ngày nay về xã hội, sinh thái và văn hóa; của
tình trạng bạo lực ngày càng gia tăng; môi trường ô nhiễm; trong đó cuộc
sống trở nên tệ hại về tâm lý và thể chất.
Do đó, sự chia cắt kiểu Descartes và thế giới quan cơ
giới vừa có ích vừa tai hại. Nó hết sức thành công trong việc phát triển
nền vật lý cổ điển và kỹ thuật, nhưng cũng mang lại nhiều hậu quả tai hại
cho nền văn minh của chúng ta. Ngày nay thật là một điều kỳ diệu được nhìn
thấy trong thế kỷ 20, nền khoa học sinh ra do sự cách ly kiểu Descartes và
quan điểm cơ giới lại phát triển tiến lên, vượt lên sự chia chẻ, trở về
lại với ý niệm nhất thể mà đã được các nền triết học Hy Lạp và phương Đông
phát biểu.
Ngược lại với quan điểm cơ giới phương Tây thì thế giới
quan phương Đông có tính hữu cơ (*). Đối với nhà đạo học
phương Đông thì mọi vật thể và biến cố con người cảm nhận được có mối quan
hệ với nhau, chúng chỉ là những dạng khác nhau của một “thực tại cuối
cùng”. Khuynh hướng của chúng ta rất thích chia chẻ thế giới được cảm nhận
thành ra những vật thể riêng lẻ và nhận chính mình là một cá thể cô lập,
khuynh hướng đó được xem là một vọng tưởng xuất phát từ một tâm thức hay
phân biệt đánh giá. Triết học Phật giáo xem khuynh hướng đó là vô minh
(Avidya), đó là một dạng của vọng tâm, cần vượt bỏ:
Nếu vọng tâm sinh khởi, thì các pháp đều sinh khởi;
Vọng tâm diệt đi thì các pháp đều diệt 4
.
Mã Minh (**)
(*) Organic
(**)Tác giả trích Đại Thừa khởi tín luận của Mã Minh
(Asvaghosa), luận sư Đại thừa ấn Độ, sống giữa thế kỷ 1,2 Công nguyên.
Trong nguyên bản Anh ngữ của sách này, tác giả trích Mã Minh là từ bản
dịch của Daisetz Teiraro Suzuki-Thiền sư nổi tiếng người Nhật, tác giả các
bộ Essays in Zen Buddhism, The Essence of Buddhism, còn lời dịch này được
trích từ bản dịch của Thích Thiện Hoa. (N.D).
Mặc dù các trường phái đạo học phương Đông khác nhau về
nhiều chi tiết, nhưng tất cả đều nhấn mạnh đến tính nhất thể của vũ trụ,
đó là điểm trung tâm của mọi giáo pháp. Mục đích cao nhất của kẻ tầm
đạo-không kể Ấn Độ giáo, Phật giáo hay Lão giáo-là luôn luôn tỉnh giác về
sự nhất thể và về mối tương quan của mọi pháp, vượt lên khái niệm về một
cái ngã độc lập và tự hoà mình vào “thực tại cuối cùng” đó. Sự tỉnh giác
này-có khi gọi là “giác ngộ”- không phải chỉ là một tiến trình hiểu biết
mà là một kinh nghiệm tự nếm trải, kinh nghiệm này chiếm toàn bộ thân tâm
hành giả và vì thế có tính chất tôn giáo. Do đó phần lớn các triết lý
phương Đông chủ yếu là triết lý có tính tôn giáo.
Theo quan điểm phương Đông thì sự chia chẻ giới tự nhiên
thành sự vật riêng lẻ và không có cơ sở và mọi sự vật đều đang hình thành,
đang đổi liên tục. Thế giới quan phương Đông vì thế là động, chứa đựng
tính chất chủ yếu thời gian và biến dịch. Vũ trụ là một thực tại
không thể phân chia- vận hành liên tục, sinh động, hữu cơ; cùng một lúc
vừa là tâm thức vừa là vật chất.
Vì vận hành và biến dịch là tính chất căn bản của sự vật
nên năng lực tác dụng cho sự vận hành đó, không như quan điểm cổ điển của
Hy Lạp, không nằm ngoài sự vật mà nó chính là một tính chất nội tại của
vật chất. Do đó mà hình ảnh Thượng đế của phương Đông không phải là một kẻ
đứng trên và trị vì thế giới mà là một nguyên lý, nguyên lý đó tác động từ
bên trong:
Đó là người, kẻ ẩn trong mọi sự,
Mà khác biệt với tất cả mọi sự,
Kẻ mà mọi loài không ai nhận ra,
Mà thân người chính là nội sự,
Là kẻ dẫn đường nội tại của mọi sự,
Đó chính là tiểu ngã của bạn,
Kẻ dẫn đường bí ẩn, kẻ bất tử 5 .
Các chương sau đây sẽ chỉ
rõ, mọi yếu tố cơ bản của thế giới quan phương Đông cũng chính là thế giới
quan xuất phát từ nền vật lý hiện đại. Các chương đó sẽ
nói rõ, những tư duy đạo học phương đông cung cấp cho các lý thuyết của
vật lý hiện đại một nền tảng triết học nhất quán và quan trọng; cung cấp
một nhận thức về thế giới mà những phát hiện khoa học hoàn toàn hòa điệu
với những mục đích tinh thần và niềm tin tôn giáo của con người. Hai cơ sở
căn bản của thế giới quan này là sự nhất thể và mối liên hệ qua lại
của mọi hiện tượng cũng như tính chất động của vũ trụ. Càng đi sâu vào thế
giới vi mô, ta càng rõ, nền vật lý hiện đại cũng như đạo học phương Đông
nhìn thế giới là một hệ thống bất khả phân, ảnh hưởng lên nhau và liên tục
biến dịch, mà người quan sát là một phần tử trong hệ thống đó.
Thế giới quan hữu cơ và có tính sinh thái của phương
Đông hiển nhiên là lý do chính tại sao phương Tây đang ưa chuộng nó, một
phong trào mới mẻ và to lớn, nhất là trong giới trẻ. Trong xã hội phương
Tây chúng ta, còn sót lại ảnh hưởng nặng nề của nền văn hóa và quan điểm
chia chẻ và cơ giới nọ, đang có một số người đã thấy tư duy đó là nguồn
gốc của sự bất mãn đang lan tràn trong xã hội và nhiều người đã hướng về
con đường giải phóng của phương Đông. Một điều đáng quan tâm, mà thật ra
chẳng bất ngờ gì, là những người đang được đạo học phương Đông thu hút,
đang tìm hiểu Kinh Dịch hay thực hành phép Du-già (*), những người đó
thường có một thái độ chống lại khoa học. Họ cho rằng khoa học, nhất là
ngành vật lý, là một môn học buồn tẻ, đóng khung, là môn học mang trách
nhiệm của mọi sự xấu xa của kỹ thuật.
Cuốn sách này muốn nâng cao “uy tín” của khoa học, trong
đó nó sẽ chỉ ra một sự hòa điệu cốt lõi giữa tinh thần của đạo học phương
Đông và khoa học phương Tây. Nó sẽ cố gắng chỉ rõ ngành vật lý đã vượt xa
cái khung của kỹ thuật thuần túy, chỉ rằng con đường-hay Đạo-của vật lý là
một con đường với trái tim, tâm đạo, một con đường dẫn đến tri kiến đích
thực và sự thực chứng.
(*) Yoga.
Chương 2: Biết và
thấy
Từ vọng tưởng hãy đưa ta về thực tại!
Từ bóng tối hãy đưa ta về ánh sáng!
Từ cái chết hãy đưa ta về bất tử!
Áo nghĩa thư (Brihad-Aranyaka-Upanishad)
Trước khi nghiên cứu về sự song hành giữa nền vật lý
hiện đại với nền đạo học phương Đông, ta hãy đi sâu trả lời câu hỏi, làm
sao có thể so sánh được hai bên; một bên là một nền khoa học chính xác,
dựa trên ngôn ngữ phức tạp của ngành toán học hiện đại và bên kia là một
môn tu học tâm thức, chủ yếu dựa trên thiền định quán sát rồi lại còn cho
rằng tri kiến của họ không thể dùng ngôn từ để diễn tả.
Điều ta muốn so sánh là nhận thức và tri kiến về thế
giới của nhà khoa học và nhà đạo học. Nhằm so sánh cho đúng, trước hết ta
phải làm rõ tri kiến ở đây là gì. Liệu một tăng sĩ tại Đế Thiên Đế
Thích hay Đông Kinh (Kyoto) hiểu tri kiến cũng như một nhà vật lý
tại Oxford hay Berkeley? Thứ hai, ta muốn so sánh loại tri kiến nào? Một
bên, chúng ta sẽ lấy ra những con số thực nghiệm, những phương trình hay
các lý thuyết và bên kia là các kinh sách tôn giáo, những huyền thoại xưa
cũ và các luận văn triết học ra sao? Chương này nhằm giải quyết hai vấn đề
vừa nêu: tính chất của các tri kiến cần đề cập và ngôn ngữ được sử dụng để
phát biểu những tri kiến đó.
Xuyên suốt toàn bộ lịch
sử, ta nhận ra rằng tâm thức con người có hai cách nhận định, hai cách ý
thức; hai cách đó có khi được gọi là suy luận và trực giác, suy luận
thường được gắn liền với khoa học và trực giác với tôn giáo.
Tại phương Tây thì lối tư duy trực giác, tôn giáo hay bị đánh giá thấp so
với tư duy khoa học, có tính lý luận; trong lúc phương Đông quan niệm hầu
như ngược lại. Những phát biểu sau đây về tri kiến của hai nhà tư tưởng vĩ
đại Đông Tây nói lên đặc trưng của hai thế đứng. Tại Hy Lạp, Sokrates nói
câu nổi tiếng: “Tôi biết rằng tôi không biết gì cả” và tại Trung Quốc, Lão
tử nói: “Biết mà cho là không biết, thì cao”. Tại phương Đông, giá
trị của tri kiến thường sớm được đo lường từ nguồn của chúng. Thí dụ áo
nghĩa thư quan niệm có loại tri kiến cao cấp và bình thường, loại bình
thường xuất phát từ các khoa học và loại cao cấp gắn liền với ý thức tôn
giáo. Phật giáo nói về tục đế và chân đế hay sự thật
tương đối, sự thật tuyệt đối. Mặt khác, triết học Trung Quốc hay nhấn
mạnh tính chất bổ túc lẫn nhau của trực giác và suy luận và diễn tả chúng
bằng cặp hình ảnh nguyên thủy Âm, Dương. Tương tự như thế mà hai nền triết
học bổ túc lẫn nhau-Khổng giáo và Lão giáo-đã phát triển tại Trung Quốc cổ
đại, để đáp ứng với hai loại tri kiến.
Tri kiến suy luận được rút tỉa ra từ kinh nghiệm, loại
kinh nghiệm do ta thu góp được bằng dụng cụ hay thông qua biến cố xảy ra
trong môi trường xung quanh. Chúng nằm trong lĩnh vực của tri thức phán
đoán mà công cụ chủ yếu của nó là phân biệt, chia chẻ, so sánh, đo lường
và phân loại. Với phương cách này mà ta tạo dựng một thế giới của phân
biệt suy luận, một thế giới gồm những cặp phạm trù đối lập, chúng chỉ hiện
diện trong mối tương quan với nhau. Do đó đạo Phật xem loại tri kiến này
là “tương đối”.
Một đặc trưng quyết định của loại tri kiến này là sự
trừu tượng hóa, vì để so sánh và phân loại vô số các dạng hình, các cấu
trúc và hiện tượng chung quanh, ta không thể quan tâm hết mọi tính chất
của chúng mà phải lược bớt để lấy một ít tính chất quan trọng thôi.
Với cách thế đó mà ta có một bản đồ tri thức của
thực tại, trong đó mọi vật chỉ được qui lại trong tính chất chung nhất.
Tri kiến suy luận vì thế là một hệ thống gồm khái niệm trừu tượng và những
biểu tượng, đặc trưng của nó là cấu trúc tuyến tính hợp lý; chúng tương
thích với tư duy và ngôn ngữ của ta. Trong đa số các ngôn ngữ thì cơ cấu
tuyến tính này được nhận rõ khi ta sử dụng các chữ cái, chúng có thể xếp
lại từng dòng mà truyền đạt kinh nghiệm và tư tưởng.
Thế giới tự nhiên, mặt khác, chúng gồm vô số hình ảnh
trùng trùng điệp điệp, một thế giới đa phương nhiều chiều, trong đó không
có một đường nào là thẳng hay dạng nào là đều, trong đó mọi sự vật không
vận hành tuần tự trước sau mà cùng thời; một thế giới mà nền vật lý hiện
đại chỉ rõ rằng ngay cả không gian trống không cũng cong nữa. Điều rõ rệt
là thế giới trừu tượng của cách tư duy khái niệm không bao giờ mô tả hoàn
toàn được thực tại này hay hiểu rõ được nó. Khi suy nghĩ về thế giới,
chúng ta sẽ đứng trước một vấn đề như người vẽ bản đồ, anh ta phải diễn tả
mặt địa cầu vốn cong tròn trên một loạt bản đồ bằng phẳng. Từ đó ta chỉ có
thể mô tả thực tại một cách gần đúng và vì thế tất cả mọi tri kiến suy
luận hiển nhiên chỉ có giới hạn.
Khoa học tự nhiên là loại khoa học thuộc về tri kiến suy
luận, nó đo lường, định lượng, chia loại và phân tích. Sự hạn chế của loại
tri thức càng lúc càng rõ trong khoa học hiện đại, đặc biệt trong nền vật
lý hiện đại mà câu nói của Werner Heisenberg đã chỉ rõ rằng “mỗi danh từ
hay mỗi khái niệm, dù xem ra rõ rệt tới đâu, cũng chỉ có một khả năng ứng
dụng giới hạn” .
Thật khó cho phần lớn chúng ta, nếu muốn luôn luôn ý
thức về sự giới hạn và tính tương đối của lối tư duy khái niệm.
Vì chúng ta dễ hiểu ý niệm về thực tại hơn chính
thực tại, chúng ta có khuynh hướng lẫn lộn về hai cái đó và cho rằng khái
niệm và hình ảnh của ta tạo ra là chính thực tại rồi. Một trong những mục
đích của nền đạo học phương Đông là đưa con người ra khỏi sự lẫn lộn đó.
Thiền tông Phật giáo nói rõ người ta có thể dùng ngón tay để chỉ mặt trăng
rồi thì hãy quên ngón tay đi. Nhà hiền triết Trang Tử viết:
Cần nơm bắt cá, nhưng có cá rồi hãy quên nơm;
Cần bẫy bắt thỏ, được thỏ rồi hãy quên bẫy;
Cần lời truyền ý, được ý hãy quên lời 2
.
Tại phương Tây, Alfred Korzybski cũng diễn tả ý đó rất
công hiệu bằng câu “Địa đồ không phải là cảnh thật”.
Các nhà đạo học phương Đông chú tâm tìm kiếm kinh nghiệm
trực tiếp với thực tại, thực tại này không những chỉ xuyên suốt tư duy suy
luận mà cả mọi cảm thọ giác quan. Áo nghĩa thư viết:
Kẻ biết thờ phụng cái vô thanh, vô cảm, vô sắc, không
biến hại, không mùi, không vị, miên viễn, vô thủy, vô chung, cao hơn cả
cái đại ngã, không lay chuyển được, kẻ đó đã được giải thoát, không còn là
miếng mồi của thần chết.3
Loại tri kiến xuất phát từ sự chứng thực đó được Phật
giáo gọi là tri kiến “tuyệt đối”, vì nó không dựa trên sự phân
biệt, sự trừu tượng hóa và phân loại của đầu có suy luận, vốn chỉ tương
đối và có tính gần đúng. Cái đó được Phật giáo gọi là kinh nghiệm trực
tiếp về một thể là như thế (Như lai), một thể nằm ngoài sự phân
tích, không thể chia chẻ, không thể định nghĩa. Sự chứng thực của thể này
không phải chỉ là hạt nhân trung tâm của đạo giáo phương Đông, nó cũng
chính là kinh nghiệm trung tâm của mọi kinh nghiệm.
Các nhà đạo học phương Đông luôn luôn chỉ rằng, thực tại
tối hậu không bao giờ là một đối tượng của suy luận logic hay là một tri
kiến có thể chỉ bày. Thực tại đó không bao giờ dùng ngôn từ mô tả được vì
nó nằm ngoài phạm vi của giác quan và tư duy, từ phạm vi đó mà chữ nghĩa
và khái niệm hình thành. Về điều đó, áo nghĩa thư viết:
Mắt không chen nổi tới đó,
Tiếng nói cũng không, tâm thức cũng không.
Ta không biết làm sao, chẳng hiểu làm sao,
dạy được điều đó 4 .
Lão Tử, người gọi thực tại tối hậu đó là Đạo, cũng nói ý
đó trong dòng đầu tiên của Đạo Đức Kinh: Đạo khả đạo, phi thường đạo
(Đạo mà ta có thể gọi được, không phải là Đạo). Thực tế mà ai cũng có thể
đọc ra được từ mỗi dòng báo là nhân loại suốt trong hai ngàn năm qua không
hề minh triết thêm chút nào cả, mặc dù tri kiến suy luận tăng lên đáng
kinh ngạc, điều đó đủ rõ rằng không thể trao truyền tri kiến tuyệt đối
bằng lời được. Như Trang Tử nói: “Nếu nó có thể bảo cho người khác hay
được thì ai cũng bảo cho anh em rồi”. Tri kiến tuyệt đối như thế là một sự
chứng thực hoàn toàn phi suy luận, một kinh nghiệm diễn ra trong một dạng
tâm thức bất thường mà ta có thể gọi là một tình trạng “thiền quái” hay
“huyền bí”. Sự hiện hữu một tình trạng đó đã được nhiều nhà đạo giáo đông
tây thừa nhận, thậm chí cũng được các công trình nghiên cứu tâm lý thông
thường xác nhận. Hãy nghe lời của William James:
Tâm thức thông thường, tỉnh táo của chúng ta, tâm
thức suy luận như chúng ta gọi tên, chỉ là một dạng đặc biệt của
tâm thức, trong lúc xung quanh đó, chỉ cách một tấm màn mỏng, có nhiều
dạng của tâm thức hoàn toàn khác đang sẵn sàng 6
Mặc dù nhà vật lý hoạt động với tri kiến suy luận, nhà đạo
học với tri kiến trực giác, thế nhưng hai loại tri kiến này lại xuất hiện
trên cả hai lĩnh vực. Điều này cũng rõ nếu ta xét hai loại tri kiến đó
được đạt tới và được diễn tả như thế nào.
Trong ngành vật lý thì tri kiến được thu lượm từ nghiên
cứu khoa học gồm ba giai đoạn. Giai đoạn một gồm tích luỹ kết quả của kinh
nghiệm, thông qua các hiện tượng, các hiện tượng đó phải được giải thích
thích đáng. Trong giai đoạn hai, những khẳng định do quan niệm mang lại đó
được mô tả bằng biểu tượng toán học và một khung toán học sẽ được đề ra
nhằm diễn tả mối liên hệ của những biểu tượng toán học nói trên một cách
chính xác, hợp với lý luận. Khung đó hay được gọi là mô hình toán học
hay nói một cách tổng quát hơn, là một lý thuyết. Sau đó lý thuyết đó được
áp dụng để tiên đoán kết quả của những thí nghiệm khác nhằm kiểm tra nó.
Trong giai đoạn này, thường nhà vật lý rất vui sướng khi họ tìm ra một mô
hình toán học và biết cách áp dụng để tiên đoán kết quả các thí nghiệm.
Thế nhưng đến một lúc nào đó thì nhà vật lý phải trình bày kết quả của
mình cho một người ngoài ngành và vì thế anh ta phải nói bằng một ngôn ngữ
thông thường. Điều đó có nghĩa là anh ta phải trình bày mô hình của mình
bằng ngôn ngữ thông thường, dùng ngôn ngữ đó mà giải thích mô hình toán
học. Đó là giai đoạn ba của việc nghiên cứu và việc phát biểu một mô hình
bằng câu chữ có nói lên trình độ hiểu biết của anh ta tới đâu.
Trong thực tế, ba giai đoạn đó không phải luôn luôn tách
bạch hẳn nhau và chúng cũng không luôn luôn xuất hiện như trình tự nêu
trên. Lấy thí dụ một nhà vật lý dựa trên một quan điểm triết học để tìm
tới một mô hình và rồi các thí nghiệm cho thấy kết quả ngược lại. Anh ta
sẽ-điều này rất hay xảy ra trong thực tế-tìm cách uốn nắn mô hình đó để
phù hợp với kết quả của thí nghiệm. Thế nhưng nếu kinh nghiệm vẫn tiếp tục
phản bác mô hình của anh ta thì thế nào anh ta cũng bỏ rơi mô hình của
mình.
Phương pháp dựa trên kinh nghiệm mà thiết lập lý thuyết
là phương pháp khoa học ai cũng biết và chúng ta sẽ thấy nó cũng được áp
dụng trong đạo học phương Đông. Chỉ có nền triết học Hy Lạp lại hoàn toàn
khác trong điểm này. Mặc dù triết gia Hy Lạp có những ý niệm thiên tài về
thế giới tự nhiên, rất gần với các mô hình khoa học hiện đại; thế nhưng có
một sự khác nhau rất lớn giữa hai bên về giá trị của thực nghiệm, giá trị
đó xem ra rất xa lạ với người Hy Lạp. Họ thiết lập mô hình dựa trên một số
định đề hay nguyên lý nhất định, chứ không dựa trên quan sát tự nhiên. Mặt
khác lối tư duy đó lại đóng vai trò quan trọng trong giai đoạn hai của
nghiên cứu khoa học, đó là giai đoạn thuần túy phát biểu một mô hình toán
học và đó cũng là một phần quan trọng của khoa học tự nhiên.
Nghiên cứu khoa học phần lớn dựa trên tri thức và phương
pháp có tính suy luận nhưng không thể chỉ có thế. Sự nghiên cứu thuần tuý
lý luận thực ra sẽ vô bổ nếu không có trực giác tham dự vào. Nó giúp nhà
khoa học có một tầm nhìn mới và làm họ thêm sáng tạo. Những loại tri kiến
trực giác này thường xuất hiện một cách đột ngột và đặc trưng của nó là
xuất hiện không phải nơi bàn viết, bên cạnh một phương trình đẳng thức mà
trong phòng tắm, lúc đi dạo, trên bãi biển v.v... dường như trong giai
đoạn tư giãn sau hoạt động của đầu óc suy luận thì óc trực giác chiếm ưu
thế hơn lý trí và dẫn đến một sự tỏ ngộ bất ngờ; đó cũng là niềm vui sướng
của nghiên cứu khoa học.
Tuy thế, tri kiến trực giác chỉ hữu ích cho ngành vật lý
khi nó được phát biểu trong một mô hình toán học hữu lý và được hỗ trợ
thêm bằng lý giải trong ngôn ngữ thông thường. Trong khuôn khổ này thì sự
trừu tượng hoá là một đặc tính quan trọng. Như đã nói, sự trừu tượng cần
một hệ thống những khái niệm và dấu hiệu, chúng diễn tả thực tại bằng một
bản đồ. Thế nhưng bản đồ chỉ diễn tả một phần của thực tại, điều mà ta
không biết là phần nào của thực tại vì ngay từ bé chúng ta đã từng bước
xây dựng bản đồ đó mà không phân tích phê phán gì cả. Vì thế chữ nghĩa của
ngôn ngữ không hề được định nghĩa rõ rệt. Chúng có nhiều nghĩa mà phần lớn
khi chúng ta nghe đến đều hiểu chúng một cách mơ hồ, và ý nghĩa của chúng
vẫn chìm sâu trong tiềm thức.
Tính mơ hồ và đa nghĩa của ngôn ngữ thì quan trọng đối
với thi sĩ, đó là những ngưòi làm việc với những tầng sâu của tâm kiến
thức và mối tương giao của ngôn ngữ. Nhưng khoa học thì nhắm đến những
định nghĩa chính xác và mối liên hệ rõ ràng và vì thế khoa học phải trừu
tượng hoá ngôn ngữ thêm nữa bằng cách giới hạn ý nghĩa của từ và khuôn khổ
của chúng, làm sao cho phù hợp với qui luật của lý luận logic. Sự trừu
tượng hóa cuối cùng được xảy ra trong toán học, trong đó từ ngữ được thay
bằng dấu hiệu và mối liên hệ của những dấu hiệu đó được định nghĩa một
cách nghiêm ngặt. Với cách đó, thông tin khoa học được ghi lại chỉ bằng
một đẳng thức, một dòng dấu hiệu; nếu phải viết ra bằng ngôn ngữ thông
thường ta cần nhiều trang giấy.
Quan điểm cho rằng, toán học không gì khác hơn là một
ngôn ngữ hết sức trừu tượng và sắc gọn, thật ra cũng không phải được chấp
nhận hoàn toàn. Thực tế có nhiều nhà toán học nghĩ rằng toán học không
phải chỉ là một ngôn ngữ mô tả thế giới tự nhiên, mà bản thân thiên nhiên
cũng chưa đựng toán học. Cha đẻ của lối nhìn này là Pythagoras-người đã
từng nói câu nổi tiếng: “Vạn sự là con số”- và là người phát triển một nền
toán học huyền bí rất đặc biệt. Triết lý của Pythagoras đã đưa lý luận
logic vào lĩnh vực tôn giáo, đó là một sự phát triển mà theo Bertrand
Russel đã đóng một vai trò then chốt trong triết lý tôn giáo phương Tây:
Sự phối hợp giữa toán học và thần học, bắt đầu với
Pythagoras, là đặc trưng của nền triết lý tôn giáo của Hy Lạp, của thời
Trung cổ và trong thời đại mới kéo dài đến Kant... Với Plato, St.
Augustine, Thomas Aquinas, Descartes, Spinoza và Leibnitz có một mối giao
hoà mật thiết giữa tôn giáo và lý trí, giữa đòi hỏi đạo đức với sự ngưỡng
mộ của lý trí về cái miên viễn, mối giao hoà đó xuất phát từ Pythagoras và
làm thần học phương Tây đầy tính suy luận khác với nền đạo học trực tiếp
từ châu Á .
Dĩ nhiên các nền đạo học trực tiếp của châu Á
không thể chấp nhận quan điểm toán học Pythagoras. Theo quan điểm phương
Đông, thì toán học đầy chi tiết và định nghĩa phức tạp chỉ có thể là một
phần của bản đồ đầy khái niệm về thực tại chứ không thể là bản thân thực
tại. Thực tại, như các nhà đạo học thực chứng, thì hoàn toàn không định
nghĩa được, không chia chẻ được.
Phương pháp trừu tượng hóa của khoa học rất hiệu nghiệm,
nhưng ta phải trả cho nó một cái giá. Khi chúng ta ngày càng định nghĩa
tinh vi, càng trơn tru chặt chẽ hệ thống khái niệm của ta, thì nó càng xa
rời thực tại. Lấy ẩn dụ của Korzybski về bản đồ và thực tại thì ta có thể
nói, ngôn ngữ thông thường là một loại bản đồ, nhưng nhờ sự thiếu chính
xác của ngôn ngữ mà nó lại linh động nhất định để có thể diễn tả so lược
một mô đất cong. Nếu ngôn ngữ đó trở nên cứng nhắc thì sự linh động cũng
mất theo và với ngôn ngữ toán học thì ta đã tới một điểm mà mối liên hệ
với thực tại chỉ mỏng như sợi chỉ mành, để giữa dấu hiệu toán học và kinh
nghiệm của giác quan không còn gì chắc chắn cả. Do đó khi ta cần phải dùng
ngôn từ để trình bày các mô hình toán học hay các lý thuyết, thì ta phải
dùng các khái niệm có thể hiểu được bằng trực giác, nhưng phải chịu chấp
nhận là chúng có thể đa nghĩa và thiếu chính xác.
Cần phân biệt rõ giữa mô hình toán học và sự giải thích
chúng qua ngôn từ. Mô hình thì tự thân nó cứng nhắc và nhất quán, nhưng
các dấu hiệu của chúng không liên hệ trực tiếp với kinh nghiệm của chúng
ta. Còn khi dùng ngôn ngữ để lý giải mô hình ta cần khái niệm, khái niệm
đó có thể hiểu được bằng trực giác, nhưng khi đó chúng hết chính xác trở
nên nhiều nghĩa. Với cái nhìn đó, chúng không khác với các mô hình triết
học về thực tại, nên cả hai có thể so sánh dễ dàng với nhau.
Nếu trong khoa học đã có
một yếu tố trực giác thì ngược lại trong nền đạo học phương Đông cũng có
một yếu tố thuộc suy luận. Tuy nhiên mức độ của suy luận
thay đổi từ trường phái này qua trường phái khác. Thí dụ như trường phái
Vệ-đà của ấn Độ giáo hay Trung quán tông của Phật giáo rất đề cao
suy luận, trong lúc Lão giáo rất nghi ngờ khả năng suy luận. Thiền tông,
xuất phát từ Phật giáo, nhưng chịu nhiều ảnh hưởng của Lão giáo, cũng tự
nhận là “không văn tự, không lý giải, không giáo pháp, không tri thức”.
Tông này hầu như tập trung trên kinh nghiệm giác ngộ và nếu có lý giải thì
lý giải sơ lược về sự giác ngộ mà thôi. Một câu nói nổi tiếng của thiền
là: “Chỉ mở miệng nói về một sự vật là đã sai rồi”.
Các tông phái khác phương Đông, dù ít thái quá hơn, chủ
yếu cũng chỉ quan tâm đến kinh nghiệm giác ngộ trực tiếp. Các nhà đạo giáo
cũng có vị đi vào những lý luận tinh tế, nhưng ngay các vị đó cũng không
bao giờ thấy lý luận là nguồn gốc tri kiến, mà chỉ dùng ngôn từ để phân
tích hay lý giải kinh nghiệm thực chứng của mình. Tất cả mọi tri kiến đều
xây dựng vững chắc trên kinh nghiệm và chúng cho nền đạo học phương Đông
một tính cách thực nghiệm mà kẻ tầm đạo luôn luôn nhắc nhở. Thí dụ
D.T.Suzuki nói như sau về Phật giáo:
Kinh nghiệm cá nhân là cơ sở của triết lý Phật giáo.
Trong nghĩa này thì Phật giáo theo quan điểm thực chứng tuyệt đối, dù cho
về sau có những phép biện chứng nào để triển khai đi nữa để tìm hiểu ý
nghĩa của kinh nghiêm giác ngộ .
Joseph Needham luôn luôn nhắc lại quan điểm thực chứng
của Lão giáo trong tác phẩm Science and civilisation in China và
thấy rằng quan điểm là gốc của khoa học kỹ thật và Trung quốc. Theo
Needham thì các nhà hiền triết Lão giáo “rút về hoang dã, rừng núi để
thiền quán về trật tự của trời đất và để quan sát vô số dạng xuất hiện của
thiên nhiên”. Các câu kệ sau đây của thiền cũng nói điều đó:
Ai muốn hiểu Phật tính, cứ sống thuận thời, thuận lễ
nhân quả.
Cơ sở vững chắc của tri kiến dựa trên kinh nghiệm của
phương Đông có một sự tương đồng với khoa học thực nghiệm. Sự tương đồng
này còn được gia tăng nên bởi kinh nghiệm tuệ giác. Kinh nghiệm này được
truyền thống phương Đông mô tả là tri kiến trực tiếp, nó nằm ngoài phạm vi
của lý luận và hầu như do Nhìn thấy mà ra chứ không do Tư duy
, thông qua thiền định, thông qua quan sát .
Trong Lão giáo thì khái niệm kiến (thấy) rất
quan trọng, quan sát để thấy và gốc của Đạo. Thiền tông Trung quốc
cũng gọi giác ngộ là kiến đạo và trong mọi tông phái Phật giáo đều
cho rằng thấy là gốc của biết. Trong Bát chính đạo,
bài học của học dẫn đến sự thực chứng, thì chính kiến là bước đầu
tiên, sau đó mới đến chính tư duy. D.T Suzuki viết về điều đó như
sau:
“Thấy” đóng một vai trò đặc biệt quan trọng trong
nhận thức luận Phật giáo, vì nó là cơ sở của Biết. Không thể có Biết nếu
không có Thấy, tất cả mọi cái Biết đều xuất phát từ cái Thấy. Thấy và Biết
(Tri Kiến) như thế nằm chung trong giáo pháp của Phật. Triết lý của Phật
giáo cuối cùng cũng dạy ta thấy thực tại, đúng như nó là. Thấy chính
là chính là chứng ngộ.
Câu này làm ta nhớ đến nhà đạo học Yaqui Don Juan: “Ham
muốn của ta là Thấy... vì chỉ nhờ thấy, Con Người Minh Triết mới biết
được”.
Ở đây cần nói thêm cho rõ. “Thấy trong các truyền thống
đạo học không nên được hiểu theo nghĩa thường, mà chỉ có nghĩa ẩn dụ vì sự
thực chứng chủ yếu không phải là một kinh nghiệm do giác quan mang lại.
Khi nhà đạo học phương Đông nói “Thấy” họ muốn nói đến một dạng cảm nhận,
dạng này bao trùm cả nhận thức bằng mắt, nhưng luôn luôn vượt hơn nhận
thức bằng mắt để tiến tới một kinh nghiệm phi giác quan. Điều mà họ luôn
luôn nhấn mạnh là Thấy, Kiến, Quán là nguồn gốc kinh nghiệm của triết lý
phương Đông nhắc nhở ta nhớ đến tầm quan trọng của quan sát trong nền khoa
học tự nhiên và tạo cho ta một cái khung so sánh. Xem ra, giai đoạn một
của nghiên cứu khoa học, giai đoạn thí nghiệm, phù hợp với giai đoạn kiến
tính trực tiếp trong đạo học và giai đoạn hai, lúc lập mô hình khoa học và
lý thuyết phù hợp với lúc mà các vị hiền nhân bắt đầu lý giải các tri kiến
của mình.
Sự tương đồng giữa thí nghiệm khoa học và tri kiến đạo
học có vẻ bất ngờ khi ta xem xét hai tính cách quan sát. Một mặt, nhà vật
lý thực hiện thí nghiệm của mình bằng cách hợp tác với những người khác,
với thiết bị hết sức phức tạp, trong lúc nhà đạo học chỉ rút về nội tâm,
vắng bóng máy móc, chìm đắm trong thiền định để đạt tri kiến. Mặt khác,
các thí nghiệm khoa học có thể được lặp lại bất cứ lúc nào, với mọi ai
khác, trong lúc những thực chứng đạo học chỉ xảy ra cho một số ít người,
trong những thời điểm nhất định. Thế nhưng, kiểm chứng kỹ hơn ta sẽ thấy
sự khác nhau giữa hai loại quan sát chỉ ở nơi phương cách chứ độ tin cậy
và tính phức tạp không khác.
Những ai muốn lặp lại một thí nghiệm của nền vật lý hạ
nguyên tử hiện đại phải từng trải qua một quá trình học hỏi lâu dài. Sau
đó họ mới đủ sức đặt một câu hỏi đặc biệt với cuộc thí nghiệm và mới hiểu
được câu trả lời. Tương tự như thế, kinh nghiệm đạo học sâu xa cần nhiều
năm tụ tập dưới sự chỉ dẫn của một vị thầy và cũng như khoa học, thời gian
được đầu tư đó chưa bảo đảm cho một sự thành công. Thế nhưng nếu nhà
nghiên cứu thành công thì anh ta có thể lặp lại thí nghiệm của mình. Thực
tế là trong các tông phái đạo học thì khả năng lặp lại kinh nghiệm cũng
rất quan trọng. Nó chính là mục đích của các vị thầy trong việc khai thị
tâm linh.
Vì thế, một kinh nghiệm đạo học cũng không hề xảy ra một
lần rồi thôi, cũng như bên khoa học thực nghiệm. Đồng thời nó cũng chẳng
hề ít tinh tế hơn, mặc dù tính phức tạp của đạo học là một loại khác. Tính
phức tạp và chức năng bén nhạy của các máy móc của nhà vật lý bị tâm thức
của nhà đạo học trong lúc thiền định đạt tới - nói về vật chất lẫn tinh
thần - nếu không muốn nói vượt xa. Với cách đó mà nhà khoa học cũng như
nhà đạo học có những phương pháp rất phức tạp để quan sát thiên nhiên,
người thường không thể đạt tới. Một trang
sách của ngành vật lý về các thí nghiệm hiện đại cũng bí ẩn như các
man-đa-la (đồ hình, linh phù) của người Tây Tạng. Cả hai đều là nơi ghi
lại của những tri kiến về tính chất của vũ trụ.
Mặc dù các kinh nghiệm đạo học sâu xa không thể xảy ra
nếu không có trước một thời gian chuẩn bị dài, tất cả chúng ta đều biết
đến những nhận biết trực giác trong đời sống hàng ngày. Chúng ta ai cũng
đã từng trải qua trạng thái mà trong đó ta muốn nhớ lại một chữ hay một
tên, nhưng cố gắng mấy cũng không được. Nó hầu như nằm trên đầu lưỡi
nhưng không chịu đến và ta đành bỏ qua và hướng sự chú ý đến vật khác
rồi sau đó bỗng nhiên cái tên đã quên chợt hiện đến chớp nhoáng. Trong quá
trình này thì tư duy không hề có mặt. Đó là một tri kiến đột ngột,
trực tiếp. Thí dụ của sự nhận biết đột ngột này đóng vai trò đặc biệt quan
trọng trong đạo Phật, là giáo lý cho rằng thể tính nguyên thủy của chúng
ta là Phật tính, chẳng qua là chúng ta chỉ quên đi. Học trò Thiền tông
Phật giáo bị đòi hỏi phải khám phá cái bản lai diện mục và nhớ
lại cái diện mục đó chính là sự giác ngộ.
Một thí dụ khác được nhiều người biết về nhận thức trực
giác là những mẩu chuyện hài hước. Trong một giây, khi hiểu một mẩu
chuyện, lúc đó ta chứng giác ngộ. Ai cũng biết rằng phút đó tới một
cách đột ngột, rằng nó không đợi lý giải câu chuyện, tức là không cần phân
tích suy luận mà tới. Chỉ khi nắm cái “chốt” của câu chuyện của câu chuyện
một cách trực giác tức thì, ta chứng cái cười mà câu chuyện mang
tới. Những con người giác ngộ hẳn cũng phải biết sự tương đồng này giữa
nhận thức trực giác và nụ cười hài hước vì thường thường các vị đó có đầu
óc khôi hài. Đặc biệt trong Thiền tông chứa đầy những mẩu chuyện hài hước
và trong Đạo Đức Kinh ta tìm thấy: “Nếu không cười, sao đủ gọi là đạo".
Trong đời sống hàng ngày những nhận thức trực giác về
thể tính sự vật thường rất chớp nhoáng ngắn ngủi. Trong nền đạo học phương
Đông thì khác, nó kéo ra một khoảnh khắc dài hơn và cuối cùng trở thành
một tâm thức liên tục. Sự chuẩn bị cho tâm được lưu trú trong dạng tâm
thức này - một ý thức trực tiếp, phi khái niệm về thực tại - là mục đích
chính của tất cả các trường phái đạo học và của cách sống phương Đông.
Trong lịch sử văn hóa lâu đời của Ấn Độ, Trung Quốc và Nhật Bản đã phát
sinh ra nhiều dạng tu học, hành lễ và nghệ thuật nhằm đạt mục đích này,
tất cả những dạng đó có thể gọi chung là thiền định cả, theo nghĩa rộng.
Mục đích căn bản của các phép này là để cho tâm suy luận
ngưng bặt hoạt động và chuyển đổi từ ý thức suy luận qua ý thức trực giác.
Có nhiều lối thiền quán trong đó tâm suy luận bị ngưng hoạt động bằng cách
hành giả chú tâm lên một điểm, như hơi thở, một âm thanh huyền bí hay hình
ảnh một man-đa-la. Trường phái khác lại chú tâm lên mọi vận động thân thể,
hành động tự nhiên vô niệm. Đó là phương pháp của phép Du-già Ấn Độ giáo
hay của Thái Cực Lão giáo. Sự vận động nhịp nhàng của những trường phái
này có thể đưa đến cảm thọ an lạc và vô ngại như những cảm thọ của những
phép thiền quán tĩnh lặng khác: một thứ cảm thọ mà ngay cả một số môn thể
thao cũng có thể mang lại. Theo kinh nghiệm của tôi thì cả môn trượt tuyết
cũng là một dạng thiền quán hết sức nên làm.
Các loại nghệ thuật phương Đông cũng là những dạng khác
nhau của thiền quán. Chúng không nhất thiết phải là phương tiện bày tỏ ý
niệm của người nghệ sĩ mà con đường thực chứng bằng cách phát triển mặt
trực giác của ý thức. Thí dụ âm nhạc Ấn Độ được học không bằng cách đọc
nốt mà bằng cách lắng nghe vị thầy tấu nhạc và tự phát triển một cảm thọ
âm nhạc, cũng như phép tập thái cực không phải nghe sao tập vậy mà phải
luôn luôn cùng thầy bước lại từ đầu. Trong trà đạo Nhật Bản ta thấy toàn
là những hành động chậm rãi, đúng qui phép. Phép đánh quyền Trung Quốc đòi
hỏi bàn tay vận động tự nhiên, không gò bó. Tất cả những phương thức đó
được phương Đông áp dụng, nhằm phát triển mặt trực giác của ý thức.
Đối với phần lớn con người, nhất là giới trí thức, dạng
ý thức này là một phần kinh nghiệm hoàn toàn mới. Thật ra thì nhà khoa
học, xuất phát từ công việc nghiên cứu cũng đã quen với tri thức trực giác
đột ngột, vì mỗi sự phát minh mới mẻ đều xảy ra bất ngờ, trong một tuệ
giác không mô tả được. Thế nhưng chúng đều xảy ra hết sức ngắn ngủi trong
một đầu óc đầy ắp thông tin, khái niệm và mô hình. Còn trong thiền quán
ngược lại, đầu óc vắng bóng tư duy và khái niệm và sẵn sàng hoạt động trực
giác trong thời gian dài hơn. Lão tử nói như sau về sự đối cực giữa nghiên
cứu suy luận và thiền quán:
Theo học, ngày càng thêm; theo đạo, ngày càng bớt.
Khi óc suy luận ngưng biệt
thì tâm trực giác sản sinh ra một dạng ý thức đặc biệt. Thế giới chung
quanh được chứng thực một cách trực tiếp, không bị sàng lọc bởi khái niệm.
Trang Tử nói: “Tâm thức yên tĩnh của thánh nhân như tấm gương phản chiếu
trời đất-chiếu rọi muôn vật. Ý niệm nhất thể với thế giới chung quanh là
đặc trưng của tình trạng thiền quán này. Đó là một dạng tâm thức, trong đó
mọi sự chia cắt đã chấm dứt, biến mất trong một dạng nhất thể vô phân
biệt. Trong thiền sâu lắng thì tâm thức hoàn toàn tỉnh giác. Cùng với cảm
nhận phi giác quan về thực tại, thiền giả cũng nhận biết tất cả tiếng
động, hình ảnh hay các ấn tượng khác từ bên ngoài, nhưng không giữ chúng
lại để phân tích hay suy đoán. Các hình ảnh đó không làm mất sự chú tâm
của thiền giả. Dạng đó của tâm thức cũng giống như tâm thức của một kiếm
sĩ, người cảnh giác cao độ chờ cuộc tấn công của địch, nghe biết hết tất
cả mọi việc xảy ra chung quanh nhưng không lơi là một phút giây. Thiền sư
Yasutani Roshi sử dụng hình ảnh này để mô tả phép thiền shikan-taza:
Shikan-taza là một trạng thái tâm thức chú tâm, trong
đó người ta không căng thẳng vội vã, tất nhiên cũng không bao giờ đờ đẫn
mệt mỏi. Đó là dạng tâm thức của một người đối diện với cái chết. Bạn hãy
tưởng tượng mình phải đấu kiếm như kiểu đấu tại Nhật ngày xưa. Đối diện
với địch thủ, bạn tỉnh giác từng khoảnh khắc, quyết tâm và sẵn sàng. Chỉ
cần một chút mất cảnh giác, bạn sẽ bị đâm gục ngay. Một đám đông người bao
chung quanh để xem trận đấu. Bạn không mù nên bạn thấy đám đông qua khóe
mắt mà bạn không điếc nên bạn nghe họ. Nhưng cảnh giác của bạn không phút
nào bị những cái nghe nhìn đó chi phối.
Vì sự tương tự giữa trạng thái thiền quán và tâm thức
của một kiếm sĩ nên hình ảnh người kiếm sĩ đóng một vai trò quan trọng
trong đời sống tri thức và văn hóa phương Đông. Trong kinh sách quan trọng
nhất của ấn Độ, tập Chí Tôn ca Bhagavad Gita, vị trí câu chuyện là
bãi chiến trường, và nghệ thuật chiến tranh cũng tạo nên một phần quan
trọng trong văn hóa Trung Quốc và Nhật Bản. Tại Nhật, Thiền tông đã ảnh
hưởng lên truyền thống võ sĩ đại Samurai, sinh ra nghệ thật đấu kiếm,
trong đó tâm thức kiếm sĩ đạt tới mức hoàn hảo. Nghệ thuật Thái Cực quyền
của đạo sỹ cũng được xem là võ thuật cao nhất, nó phối hợp những cử động
chậm rãi điều hòa của phép Du-già với một tâm thức tỉnh giác cao độ của
một chiến sĩ Đạo học phương Đông dựa trên tri kiến trực tiếp về thể tính
thực tại và nền vật lý dựa trên quan sát của khoa học thực nghiệm về hiện
tượng của thế giới tự nhiên. Trong cả hai nơi thì những quan sát đó được
lý giải, sau đó được diễn bày bằng ngôn từ.
Vì ngôn từ chỉ là một bản đồ trừu tượng, trình bày gần đúng thực tại nên
mọi diễn bày về một thí nghiệm khoa học hay một thực chứng tâm linh phải
thiếu chính xác, không đầy đủ. Nhà vật lý hiện đại và nhà đạo học phương
Đông đều biết rất rõ điều đó.
Trong vật lý, người ta gọi sự diễn bày một hiện tượng là
lập mô hình hay lý thuyết và biết chúng chỉ có giá trị gần đúng là tính
chất cơ bản của nền nghiên cứu khoa học hiện đại ngày nay. Về điều đó,
tiền đề của Einstein như sau: “Nếu qui luật của toán học dựa trên thực
tại, thì chúng chưa chắc đúng; và nếu chúng đúng thì chúng không dựa trên
thực tại”. Nhà vật lý biết rằng, phương pháp phân tích và suy luận của họ
không bao giờ cùng một lúc có thể giải thích được toàn bộ lĩnh vực của thế
giới hiện tượng và vì thế họ phân loại hiện tượng vào một số nhóm nhất
định và tìm cách lập nên mô hình để mô tả từng nhóm. Qua đó họ bỏ ra ngoài
một số hiện tượng khác và vì thế mô hình không thể mô tả đầy đủ tình hình
thực sự. Những hiện tượng bị loại ra ngoài có thể chúng có ảnh hưởng quá
nhỏ để dù có lưu tâm đến chúng thì lý thuyết cũng không thay đổi bao
nhiêu, hoặc cũng có thể chúng bị bỏ ra ngoài vì khi lập lý thuyết người ta
chưa hề biết đến chúng.
Nhằm làm rõ điều này ta có thể xét mô hình cơ học cổ
điển của Newton. Tác động của sức cản của gió hay sự ma sát thường không
được để ý trong mô hình này vì chúng quá nhỏ. Nhưng ngoài hai yếu tố đó ra
thì suốt một thời gian dài người ta xem mô hình cơ học của Newton là lý
thuyết chung quyết để mô tả các hiện tượng tự nhiên, cho đến ngày khám phá
ra hiện tượng điện tử, trong đó lý thuyết Newton không có chỗ đứng. Sự
khám phá ra những hiện tượng này chỉ rõ mô hình này không đầy đủ, nó chỉ
ứng dụng được cho một nhóm hiện tượng thôi, chủ yếu là cho sự vận động của
chất rắn.
Khi nói nghiên cứu một nhóm hiện tượng, ta có thể nói
nghiên cứu tính chất cơ lý của chúng trong một lĩnh vực hạn chế, điều này
lại cho thêm một lý do tại sao một lý thuyết chỉ có tính gần đúng. Nói gần
đúng cần phải nói một cách tế nhị, vì rằng ta không bao giờ biết giới hạn
thật của một lý thuyết nằm nơi nào. Chỉ có thực nghiệm mới chỉ ra được
thôi. Thế nên mô hình cơ học cổ điển tiếp tục bị xói mòn khi nền vật lý
của thế kỷ 20 chỉ rõ giới hạn đích thực của nó. Ngày hôm nay, người ta
biết rõ mô hình Newton chỉ có giá trị cho loại vật thể do nhiều nguyên tử
hợp lại và di chuyển với vận tốc nhỏ so với vận tốc ánh sáng. Nếu điều
kiện đầu không thể ứng thì cơ học cổ điển phải được thay bằng nền cơ học
lượng tử; nếu điều kiện thứ hai không thỏa ứng, người ta phải áp dụng
thuyết tương đối. Điều đó không có nghĩa cơ học Newton là sai hay cơ học
lượng tử, thuyết tương đối là đúng. Tất cả mô hình này đều là gần đúng,
chúng được áp dụng cho một phạm vi nhất định của thế giới hiện tượng. Ra
khỏi phạm vi đó, chúng không còn mô tả đúng đắn về thế giới tự nhiên nữa
và ngày nay người ta tiếp tục tìm mô hình mới để thay thế mô hình mới để
thay thế mô hình cũ; hay nói đúng hơn, để tăng lên tính gần đúng của
chúng.
Việc qui định giới hạn của một mô hình thường là một
trong những nhiệm vụ khó nhất và quan trọng nhất khi thành lập nó. Theo
Geoffrey chew mà lý thuyết Bootstrap của ông sẽ được trình sau thì quan
trọng nhất là phải luôn luôn tự hỏi sau khi một mô hình hay lý thuyết đã
được thừa nhận là: Tại sao nó ứng dụng được? Giới hạn nó ở đâu? Nó gần
đúng trong dạng nào? Chew xem những câu hỏi này là giai đoạn đầu cho các
nghiên cứu tiếp theo.
Các nhà đạo học phương Đông cũng biết là mọi mô tả về
thực tại là không chính xác và thiếu đầy đủ. Sự chứng thực tại nằm ngoài
suy luận và ngôn từ và mỗi sự giác ngộ đều dựa vào chứng thực đó nên tất
cả những gì nói viết về nó đều chỉ đúng một phần.
Nếu ở khoa học thực nghiệm thì tính gần đúng có thể
diễn đạt bằng số lượng, để cứ mỗi lần tăng tính gần đúng lên thì mỗi lần
có tiến bộ. Còn phương Đông giải quyết ra sao với vấn đề của sự truyền đạt
ngôn từ?
Trước hết, các nhà đạo học quan tâm chủ yếu đến kinh
nghiệm chứng thực mà ít quan tâm đến việc phải mô tả chúng ra sao. Do đó
họ ít chú tâm đến việc phân tích sự mô tả và khái niệm gần đúng nhiều hay
ít không hề được đặt ra ở phương Đông. Mặt khác, khi các vị đạo học muốn
truyền đạt kinh nghiệm của mình, họ cũng gặp phải giới hạn của ngôn ngữ.
Nhằm giải quyết vấn đề này, nhiều phương tiện được đề ra ở phương Đông.
Đạo học Ấn Độ, nhất là Ấn Độ giáo, khoác cho những ý
niệm của họ một cái áo huyền thoại và sử dụng dấu hiệu, thi ca, ẩn dụ và
tính tương quan. Ngôn ngữ huyền thoại ít bị logic hóa và óc suy luận gò
bó. Nó đầy ma lực và nghịch lý, đầy hình ảnh khơi gợi và không bao giờ
chính xác và nhờ đó nó trình bày thế giác ngộ của đạo gia dễ hơn ngôn ngữ
của thông tin cụ thể. Theo Ananda coomaraswamy thì “huyền thoại là hiện
thân gần nhất với thực tại mà có thể dùng ngôn từ tạo dựng nên được”.
Sức tưởng tượng phong phú Ấn Độ sản sinh ra một số nam
thần nữ thần, mà hiện thân và hành động của họ là nội dung mang tính hoang
đường, được ghi lại qua bao thế hệ với qui mô khổng lồ. Người theo Ấn Độ
giáo có trình độ biết rằng, tất cả các vị thần đó đều là sản phẩm của tâm,
hình ảnh huyền thoại là những bộ mặt của thực tại. Mặt khác họ cũng biết
rằng chúng được tạo ra không phải cho vui chuyện mà chúng là phương tiện
quan trọng để truyền bá giáo pháp của một nền triết lý bắt rễ từ sự thực
chứng tâm linh.
Các nhà đạo học Trung Quốc và Nhật có một giải pháp khác
để thoát khỏi chướng ngại ngôn ngữ. Thay vì thông qua hình tượng và huyền
thoại để làm rõ nghịch lý của tính thực tại, họ chuộng sử dụng ngôn ngữ
thông thường để nhấn mạnh thể tính đó. Lão giáo hay sử dụng nghịch lý để
chỉ bày cho thấy những mâu thuẫn do ngôn từ sinh ra và làm rõ giới hạn của
cách diễn đạt đó. Họ đã trao truyền cách này cho các nhà Phật học Trung
Quốc và Nhật, rồi các vị này tiếp tục phát triển thêm. Cách này đã đạt
đỉnh cao trong Thiền tông với những “công án”, những câu đố vô nghĩa được
các vị thiền sư dùng để truyền đạt yếu chỉ của giáo pháp. Những công án
này cho thấy một sự tương đồng quan trọng với nền vật lý hiện đại (xem
chương 3).
Tại Nhật có cách diễn bày thế giới quan triết lý bằng
thi ca hết sức súc tích, thường được các vị thiền sư sử dụng để nói đến
tính là như thế của thực tại. Khi một vị thiền tăng hỏi thiền sư
Phong Huyệt Diên Chiều: “Nói cũng không được, im lặng cũng không xong,
làm sao tránh sai sót?”, sư đáp:
Ta nhớ Giang Tô tháng ba
Gà kêu
Mùi thơm hoa lá.
Loại thi ca tâm linh này đạt đỉnh cao của nó với
“Haicu”, loại thơ cổ điển Nhật với 17 chữ, mang nặng âm hưởng Thiền. Bài
thơ sau đây của một nhà thơ “Haicu” chỉ tri kiến tự tính của đời sống, dù
là bản dịch vẫn còn nói lên được điều cần nói:
Lá rơi,
Chiếc này nằm trên chiếc kia.
Mưa tạt mưa .
Khi các nhà đạo học phương đông trình bày tri kiến của
mình- bằng huyền thoại, biểu tượng, hình ảnh thi ca hay nói cách nghịch
lý- các vị đó biết rõ giới hạn của ngôn ngữ và lối tư duy tuyến tính. Ngày
nay nền vật lý hiện đại khi nhìn về các mô hình và lý thuyết của mình,
cũng đều có cùng một thái độ như thế. Chúng cũng chỉ có thể gần đúng và
không thể chính xác. Chúng chính là một loại tương tự như huyền thoại,
biểu tượng và hình ảnh thi ca của phương Đông và trên bình diện này tôi
muốn rút ra một sự tương đồng, sự song hành giữa hai bên. Thí dụ trong ấn
Độ giáo thì điệu múa vũ trụ của thần Shiva cũng nói lên hình dung về vật
chất giống như nhà vật lý nói về một số mặt của lý thuyết trường trong cơ
học lượng tử. Cả vị thần nhảy múa lẫn lý thuyết cơ lý đều là sản phẩm của
tâm thức: chúng đều là những mô hình để mô tả những tri kiến trực giác về
thực tại của tác những mô hình đó.
Chương 3: BÊN KIA NGÔN NGỮ
Cái mâu
thuẫn, cái làm cách tư duy thông thường bị lạc lối, xuất phát từ thực tế
là, ta dùng ngôn ngữ để diễn tả kinh nghiệm nội tâm của ta, thế mà tính
của kinh nghiệm đó lại vượt lên trên ngôn từ.
D.T.
Suzuki
Các vấn đề
của ngôn ngữ ở đây là sự thật nghiêm trọng. Chúng ta muốn nói về cơ cấu
của nguyên tử, nói một cách nào đó... Nhưng chúng ta không thể dùng ngôn
ngữ thông thường mà nói về nguyên tử được.
W.Heisenberg
Tất cả mọi mô
hình khoa học và mọi lý thuyết đều chỉ gần đúng và sự diễn bày của chúng
đều chịu mất mát với sự thiếu chính xác của ngôn ngữ điều đó nói chung đã
được các nhà khoa học thừa nhận từ đầu thế kỷ này, nhờ một thành tựu mới
mẻ và hoàn toàn bất ngờ. Việc nghiên cứu thế giới của nguyên tử đã buộc
nhà vật lý nhận ra rằng, ngôn ngữ của ta không những không chính xác mà nó
còn hoàn toàn không phù hợp để mô tả thực tại của nguyên tử và thế giới hạ
nguyên tử. Nền cơ học lượng tử và thuyết tương đối, hai cột trụ của nền
vật lý hiện đại đã làm rõ rằng, thực tại này đã vượt lên logic cổ điển và
chúng ta không thể dùng ngôn ngữ thông thường mà nói về nó. Heisenberg
viết:
Vấn đề khó
nhất của việc sử dụng ngôn ngữ xuất phát từ cơ học lượng tử. Trước hết ở
đây ta không có giềng mối gì cả cho phép ta thiết lập mối quan hệ giữa
biểu tượng toán học và khái niệm của ngôn ngữ thông thường. Điều duy nhất
mà ta biết được trước hết là, khái niệm thông thường của ta không thể áp
dụng được cho cơ cấu nguyên tử.
Về mặt triết học
thì dĩ nhiên đây là một bước phát triển hấp dẫn của nền vật lý hiện đại và
gốc rễ của nó là mối liên hệ với triết học phương Đông. Trong các trường
phái của triết học phương Tây thì môn logic và tư duy logic luôn luôn là
công cụ quan trọng nhất để phát biểu những ý niệm triết học và theo
Bertrand Russell cho cả nền triết lý tôn giáo. Còn trong nền triết học
phương Đông thì từ xưa đến nay người ta đã rõ là thực tại vượt ngoài ngôn
ngữ thông thường và các nhà minh triết phương đông không ngại vượt qua
ranh giới của logic và khái niệm thông thường. Theo tôi, đó là lý do chính
yếu tại sao mô hình của các vị đó về thực tại đã cung cấp một cơ sở triết
lý thích hợp với vật lý hiện đại hơn là mô hình của triết lý phương Tây.
Vấn đề của ngôn ngữ đặt ra cho các nhà đạo học
phương Đông y hệt như đối với vật lý hiện đại. Hai câu nói
được trích dẫn ở đầu chương này là của D.T.Suzuki về Phật giáo và Werner
Heisenberg về vật lý nguyên tử , thế nhưng hai câu nói gần như đồng nhất
với nhau. Cả nhà vật lý lẫn nhà đạo học đều muốn trao truyền kiến giải của
mình, nhưng khi họ dùng ngôn từ thì những gì nói ra nghịch lý và đầy mâu
thuẫn. Sự nghịch lý này là đặc trưng của những phát biểu tâm linh từ
Heraklitus đến Don Juan và từ đầu thế kỷ này, chúng là đặc trưng của ngành
vật lý.
Trong vật lý
nguyên tử, nhiều nghịch lý bắt nguồn từ thể tính hai mặt của ánh sáng-hay
nói chung- của bức xạ điện từ. Một mặt thì rõ là chúng phải do
sóng tạo thành vì chúng có hiện tượng giao thoa, hiện tượng đó
chỉ có với thể tính sóng: tức là khi có hai nguồn sáng giao thoa với nhau
thì độ sáng tại một điểm nhất định không nhất thiết phải là tổng số của
hai nguồn sóng, chúng có thể lớn hơn hoặc nhở hơn. Điều này có thể giải
thích rõ ràng bằng sự giao thoa của hai nguồn sóng như sau:
Tại những nơi mà
hai đỉnh sóng gặp nhau, ta có nhiều ánh sáng hơn tổng số hai nguồn hợp
lại; còn nơi một đỉnh một bụng gặp nhau, ta có ít hơn. Trị số chính xác
của sự giao thoa có thể được tính dễ dàng. Hiện tượng giao thoa này luôn
luôn được quan sát mỗi khi ta làm việc với tuyến điện từ và buộc ta phải
thừa nhận những tia này là do sóng hợp thành.
Mặt khác những
bức xạ điện từ cũng có tác dụng của hạt : hiệu ứng của các hạt
quang tử. Khi ánh sáng cực tím chiếu lên bề mặt một số kim loại thì
một số electron (âm điện tử) của bề mặt kim loại đó bị tách ra, do đó tia
này phải gồm có những hạt đang vận động. Một hiện tượng tương tự cũng xảy
ra với thí nghiệm quang tuyến X. Những thí nghiệm này chỉ có thể giải
thích một cách thích đáng khi ta mô tả rằng chúng là sự chạm nhau của
những hạt quang tử với electron. Thế mà chúng lại có đặc trưng của sóng
với hiện tượng giao thoa. Câu hỏi trong thời kỳ đầu của vật lý nguyên tử
làm nhiều nhà vật lý hoang mang là: làm sao được, một tuyến điện từ đồng
thời vừa là hạt (đơn vị có khối lượng rất nhỏ) vừa là sóng, có thể lan
rộng trong một vùng không gian? Cả ngôn ngữ lẫn tư duy trừu tượng không
thể tiếp cận với dạng thực này của thực tại.
Nền đạo học
phương Đông đã phát triển nhiều cách nhằm nắm bắt thể tính đầy nghịch lý
thực tại. Nếu trong Ấn Độ giáo thể tính đó được tránh né bằng văn chương
huyền thoại thì trong Lão giáo và Phật giáo, người ta thấy nên nhấn mạnh
tính nghịch lý đó thay vì che giấu nó. Tác phẩm chính của Lão tử, bộ Đạo
Đức Kinh được viết với một loại văn làm người đọc hoang mang, dường như
thiếu logic. Nó chứa toàn những mâu thuẫn kỳ lạ và ngôn ngữ mạnh bạo, sắc
sảo và hết sức thi vị của nó buộc chặt lấy tâm hồn người đọc và ném ta ra
khỏi quĩ đạo thông thường của tư duy logic.
Phật giáo Trung
quốc và Nhật đã dùng cách thế này của Lão giáo, thông qua nghịch lý mà
truyền đạt kinh nghiệm tâm linh. Khi thiền sư Tâm Phong Diệu Siêu gặp nhà
vua Godaigo, một thiền sinh, vị thiền sư nói:
Ta đã xa nhau từ ngàn kiếp trước, nhưng chưa một phút nào rời xa
nhau.
Suốt ngày nhìn thấy nhau, nhưng chúng ta chưa bao giờ gặp mặt.
Thiền tông Phật
giáo là người biết cách biến những mâu thuẫn của ngôn từ thành một đức
hạnh, và với hệ thống “công án”, Phật giáo đã xây dựng một con đường vô
song, truyền đạt giáo pháp mà không cần chữ nghĩa. Công án là những câu
chuyện, câu đố được soạn thảo kỹ lưỡng, nghe qua rất vô nghĩa, nhưng nó
ghi dấu ấn vào đầu thiền sinh một cách hết sức triệt để về giới hạn của
logic và lý luận logic. Cách dùng chữ vô nghĩa và nội dung mâu thuẫn của
công án làm cho nó không thể giải được bằng tư duy. Chính nó muốn chấm dứt
tiến trình suy luận và làm cho thiền sinh sẵn sàng cho chứng nghiệm phi
suy luận, tri chứng về thực tại trực tiếp. Thiền sư Yasutani sống cùng
thời với chúng ta đưa một thiền sinh phương Tây vào một công án nổi tiếng
với những câu sau đây:
Một trong
những công án tốt nhất là “Mu”, vì nó giản đơn nhất. Đây là câu chuyện:
một vị tăng đến gặp Triệu Châu, một thiền sư nổi tiếng sống vài trăm năm
trước tại Trung quốc và hỏi: “Con chó có Phật tính không?”. Triệu Châu trả
lời: “Mu”. Dịch nghĩa thì Mu là “Không” nhưng câu trả lời của Triệu Châu
không phải là ở chỗ đó. Mu là dạng sinh động, tạo tác, năng động của Phật
tính. Điều bạn phải làm là khám phá tâm và thể tính sâu nhất của Mu, không
phải bằng đầu óc suy luận mà bạn hãy chứng nghiệm cái thể sâu xa nhất của
chính bạn. Sau đó bạn hãy chứng minh cho tôi xem, một cách cụ thể dễ hiểu
và không dựa vào bất cứ khái niệm gì, lý thuyết gì hay giải thích trừu
tượng gì rằng bạn đã nắm Mu được như một sự thật sinh động. Bạn hãy nhớ:
bạn không thể nắm Mu bằng kiến thức thông thường; bạn hãy nắm bắt nó bằng
toàn bộ sự hữu hiện của chính bạn.
Thiền sinh tập
sự thường được thầy cho nghe công án Mu này hay một trong hai công án sau
đây:
Bản lai
diện mục của người là gì trước khi cha mẹ sinh ra?. Hay:
Với hai tay thì có tiếng vỗ tay.
Tiếng vỗ của một bàn tay là thế nào?
Tất cả những
công án này có nhiều hay ít lời giải đặc biệt mà một vị thầy đích thực sẽ
nhận ra ngay. Một khi lời giải đã được tìm ra, công án không còn là nghịch
lý nữa và nó trở thành một phát biểu quan trọng của dạng tâm thức, dạng đã
được đánh thức.
Trong tông Lâm,
Tế, thiền sinh phải giải một loạt công án, mỗi công án đề cập đến một mặt
của thiền. Tông phái này chỉ giáo hoá bằng cách đó. Tông này không khẳng
định điều gì cả mà chỉ để thiền sinh tự mình nắm bắt sự thật với những
công án.
Ở đây ta thấy
một sự tương đồng nổi bật với những mâu thuẫn mà nhà vật lý gặp phải trong
giai đoạn đầu của nền vật lý nguyên tử. Như trong Thiền, sự thật bị che
lấp trong sự nghịch lý, sự thật không do suy luận logic mà lý giải được,
mà chỉ được hiểu trong khung cảnh của ý thức mới về sự thật của thế giới
nguyên tử. Ở đây người thầy dậy dĩ nhiên cũng lại là Tự nhiên, mà cũng như
trong thiền, người thầy đó không khẳng định điều gì cả. Tự nhiên chỉ đặt
câu hỏi.
Muốn giải đáp
một công án, thiền sinh phải hết sức tập trung và tinh tấn. Qua sách vở về
Thiền, ta biết rằng công án chiếm hết tâm trí của thiền sinh, đưa người đó
vào một ngõ cụt tư tưởng, một tình trạng căng thẳng liên tục, cả thế giới
là một khối khổng lồ những câu hỏi và nghi ngờ. Các nhà sáng lập lý thuyết
lượng tử đều đã trải qua tình trạng tương tự mà Heisenberg viết rõ như
sau:
Tôi nhớ lại
nhiều cuộc thảo luận với Bohr kéo dài suốt đêm và chấm dứt hầu như với sự
tuyệt vọng. Và cứ sau mỗi cuộc thảo luận đó tôi còn đi dạo một mình trong
công viên gần đấy, tôi tự nhắc lại mái câu hỏi, liệu thế giới tự nhiên có
thể vô lý thế chăng như nó đã xuất hiện trong các thí nghiệm nguyên tử.
Luôn luôn, một
khi thể tính của sự vật được trí suy luận phân tích thì nó hiện ra một
cách vô lý hay mâu thuẫn. Điều này đã được các nhà đạo học nhận biết và
đối với nhà khoa học, vấn đề này mới được biết sau này thôi. Từ bao nhiêu
thế kỷ nay các nhà khoa học đi tìm Định luật căn bản của thế giới tự
nhiên, trên cơ sở đó mà muôn hình hiện tượng xuất hiện. Những hiện
tượng này nằm trong thế giới vĩ mô của nhà khoa học, tức là nằm trong lĩnh
vực nhận biết được của giác quan. Chính vì hình ảnh và khái niệm suy luận
của ngôn ngữ xuất phát từ sự trừu tượng hóa các cảm thọ giác quan đó, nên
chúng đủ để mô tả các loại hiện tượng đó.
Các tra vấn về
vấn đề tự tính sự vật trong vật lý cổ điển được trả lời với mô hình cơ học
Newton, đó là mô hình qui mọi hiện tượng về lại với sự vận động và tương
tác của các nguyên tử không phân huỷ, tương tự như mô hình Hy Lạp của
Demokritus. Tính chất của thứ nguyên tử này được rút ra từ hình dung vĩ mô
của trái banh bi-da, tức là từ kinh nghiệm thông thường của giác quan.
Người ta không hề hỏi, liệu hình dung đó có thật đúng với thế giới của
nguyên tử thật không. Thời đó người ta chưa thể nghiên cứu thực nghiệm về
điều này.
Thế nhưng ở thế
kỷ 20, nhà vật lý đã đủ khả năng đặt những câu hỏi thực nghiệm về bản chất
cuối cùng của vật chất. Nhờ kỹ thuật tiến bộ, họ nghiên cứu ngày càng sâu
vào thế giới tự nhiên, khám phá từ tầng này xuống đến tầng kia, đi tìm hạt
cơ bản của vật chất. Nhờ thế mà ta khẳng định có sự hiện diện của nguyên
tử cũng như những hạt cấu thành nó, hạt nhân và
electron; và cuối cùng thành phần của hạt nhân, tức là những hạt proton và
neutron và nhiều hạt hạ nguyên tử khác.
Những thiết bị
phức tạp và tinh xảo của ngành vật lý thực nghiệm hiện đại giúp ta đi sâu
vào thế giới vi mô, trong lĩnh vực của tự nhiên nằm xa thế giới vĩ mô của
chúng ta, và giúp ta có thể nhận biết được bằng giác quan. Tuy nhiên điều
này chỉ có thể thực hiện thông qua một loạt tiến trình, mà cuối cùng có
thể nghe được bằng tiếng “cóc” của một máy đo phóng xạ hay thấy được bằng
một chấm nhỏ trên tấm ảnh. Điều mà chúng ta nghe thấy không bao giờ là bản
thân hiện tượng, mà chỉ là hệ quả của nó. Bản thân thế giới của nguyên tử
và của các hạt hạ nguyên tử thì nằm bên kia khả năng nhận biết của chúng
ta.
Như thế thì, với
thiết bị hiện đại ta có thể quan sát tính chất của nguyên tử và thành phần
của nó một cách gián tiếp và có thể nhận biết thế giới hạ nguyên tử tới
một mức độ nhất định. Thế nhưng những kinh nghiệm này lại không phải thông
thường, nếu so sánh với đời sống hàng ngày của chúng ta.
Với thế giới vi mô này, nhận thức không còn do giác
quan trực tiếp mang lại nữa và do đó ngôn ngữ thông thường của ta (vốn do
giác quan tạo ra hình ảnh), không còn đủ khả năng để mô tả các hiện tượng
được quan sát. Càng đi sâu vào thế giới tự nhiên, ta càng
phải từ bỏ hình ảnh và khái niệm của ngôn ngữ thông thường.
Trên bước du
hành vào thế giới cực nhỏ về mặt triết học, bước đầu là bước quan trọng
nhất: bước đi vào thế giới nguyên tử. Tìm hiểu nguyên tử và nghiên cứu cơ
cấu của nó, khoa học đã vượt qua biên giới của khả năng nhận thức bằng
giác quan. Do vậy, khoa học không còn thấy vững tin hoàn toàn nơi logic và
óc suy luận nữa. Thế giới nguyên tử hé mở cho nhà khoa học thấy chút ít tự
tính của sự vật. Cũng như nhà đạo học, nhà vật lý bây giờ cũng phải đương
đầu với kinh nghiệm phi giác quan về thực tại và cũng như nhà đạo học, họ
cũng phải trăn trở với những tính chất nghịch lý của các kinh nghiệm này.
Đạo học phương
Đông cho rằng sự chứng thực tâm linh trực tiếp về thực tại là một biến cố
chớp nhoáng, nó lung lay tận gốc rễ thế giới quan con người. D.T.Suzuki
gọi nó là “biến cố sửng sốt nhất có thể xảy ra trong ý thức con người...
Nó vứt bỏ mọi dạng kinh nghiệm thông thường”1 , ông giả thích
tính chất đáng sợ của kinh nghiệm này bằng lời một thiền sư đã mô tả “như
một bình nước vỡ đáy”.
Đầu thế kỷ này,
nhà vật lý cũng bị tình trạng tương tự, họ mô tả kinh nghiệm này giống như
cách nói của vị thiền sư nọ. Suzuki. Heisenberg viết:
Người ta chỉ
có thể hiểu những phản ứng dữ dội về các phát triển gần đây của nền vật lý
hiện đại khi ta nhận thức rằng, nơi đây toàn bộ cơ sở của vật lý đang
chuyển dịch và sự chuyển dịch này gây ra một cảm giác là nền tảng đó đang
bị cắt rời ra khỏi khoa học 2 .
Einstein cũng
hoảng sợ như thế khi ông tiếp xúc lần đầu với thực tại của vật lý nguyên
tử. Ông viết trong hồi ký của mình:
Tất cả mọi cố
gắng của tôi để thích hợp với cơ sở của lý thuyết vật lý của loại nhận
thức mới mẻ này, hoàn toàn thất bại. Hầu như đất dưới chân tôi bị sụt lở,
không ở đâu còn thấy một nền tảng vững chắc nữa, mà trên đó người ta có
thể xây dựng một điều gì 3 .
Sự khám phá nền
vật lý hiện đại đòi hỏi một sự đổi thay các khái niệm về không gian, thời
gian, vật chất, khách thể, nguyên nhân và hậu quả... và vì những khái niệm
này quá căn bản đối với chúng ta, nên chẳng có gì ngạc nhiên khi nhà vật
lý buộc phải thay đổi chúng, người đó hoảng sợ cũng phải. Từ sự đổi thay
này mà xuất phát một thế giới quan mới, hoàn toàn khác trước, nó vẫn còn
tiếp tục phải thay đổi theo tiến trình của các nghiên cứu khoa học đang
xảy ra.
Hai đoạn văn sau
đây là của Niels Bohr(*) của nhà đạo học ấn Độ Sri Aurobindo,
nói về chiều sâu và tính chất quyết liệt của kinh nghiệm này:
Trong thời
gian qua, kinh nghiệm của ta đã được mở rộng ra, nó được phơi bày dưới ánh
sáng, cho thấy tính bất toàn của những khái niệm đơn giản mang tính máy
móc và hệ quả của nó là nền tảng của nó bị lung lay tận gốc rễ, nền tảng
mà ta dùng để lý giải mọi quan sát 4 .
Niels Bohr
Thực tế là
mọi sự vật của tự nhiên và mọi hiện tượng bắt đầu thay đổi; toàn bộ kinh
nghiệm của chúng ta về thế giới đã khác hẳn... Có một phương thế mới, vĩ
đại và sâu xa để ngộ về mọi sự, để thấy, để biết và tiếp xúc chúng 5
.
Phần sau sẽ phác
họa hình ảnh sơ lược của thế giới quan mới, cho thấy thế giới quan cơ giới
cổ điển vào đầu thế kỷ này phải nhường chỗ cho thuyết lượng tử và thuyết
tương đối, dẫn đến một quan niệm tinh tế, toàn bộ và hữu cơ hơn
nhiều của thế giới tự nhiên (*)
Thế giới quan ngày
nay đang bị vật lý hiện đại thay đổi vốn đặt cơ sở trên mô hình của Newton
về vũ trụ. Mô hình này tạo nên một cái khung chắc chắn cho vật lý cổ điển.
Thật sự nó là một nền tảng vĩ đại, trên tảng đá vững chắc đó, ta đã xây
dựng toàn bộ khoa học và triết lý về giới tự nhiên cho khoảng ba trăm năm.
Sân khấu của vũ
trụ Newton, trong đó tất cả hiện tượng cơ lý xảy ra, là không gian ba
chiều của hình học cổ điển Euclid. Đó là một không gian tuyệt đối, luôn
luôn tĩnh tại và không thay đổi. Hãy dùng chính ngôn từ của Newton: “Tự
tính của không gian tuyệt đối là luôn luôn như nhau, bất động, không hề
phụ thuộc gì vào sự vật nằm trong đó”6 .Tất cả mọi biến dịch
của sự vật trong cơ thế giới cơ lý được mô tả với khái niệm của một kích
thước khác, gọi là thời gian, mà thời gian bản thân nó lại là tuyệt đối,
có nghĩa là không liên hệ gì với thế giới vật chất và trôi đều đặn từ quá
khứ, qua hiện tại đến tương lai. Newton nói: “Thời gian tuyệt đối, đích
thực, có tính toán học, tự chảy, theo tự tính của nó là đều đặn và không
liên quan gì đến bất cứ vật nào”.
Những vật thể
của thế giới Newton, chúng vận động trong không gian và thời gian tuyệt
đối là những hạt vật chất. Trong các đẳng thức toán học, chúng được xem là
hạt khối lượng (**) .Newton xem chúng là những hạt nhỏ,
cứng chắc và là vật thể không huỷ, chúng là thành phần cấu tạo mọi vật
chất. Mô hình này khá giống với mô hình của các nhà nguyên tử học Hy Lạp.
Cả hai đều dựa trên sự phân biệt giữa đầy đặc và trống rỗng, giữa vật chất
và không gian, và trong cả hai mô hình thì các hạt đều luôn luôn có khối
lượng và hình dạng không thay đổi. Do đó vật chất luôn luôn được bảo toàn.
Sự khác biệt lớn giữa Democrit và Newton trong quan niệm nguyên tử là,
Newton là người gắn thêm một lực tác động giữa các hạt với nhau. Lực này
rất đơn giản và chỉ tuỳ thuộc vào khối lượng và khoảng cách của chúng. Đó
là trọng lực hay lực hút lẫn nhau của các khối lượng và Newton xem lực đó
gắn chặt với vật thể, chúng tác động tức thì trong khoảng cách rất xa. Mặc
dù đây là một giả thuyết kỳ dị, nó không được ai tìm hiểu thêm. Các khối
lượng và lực tác động được xem như do Chúa tạo thành và do đó không phải
là đối tượng để xem xét. Trong tác phẩm Optics, Newton cho ta thấy hình
dung của ông về việc Chúa tạo dựng thế giới vật chất:
"Tôi cho rằng
có lẽ mới đầu Chúa tạo vật chất bằng những hạt cững chắc, đầy đắc, không
thể xuyên qua, di động, với dạng hình, với kích thước, với tính chất và
tương quan nhất định với không gian, phù hợp nhất với mục đích mà ngài
muốn tạo ra; và những hạt đơn giản này là thể rắn, cứng hơn bất kỳ vật thể
xốp nào khác, chúng cứng đến độ không bao giờ hao mòn, không vỡ. Không có
một lực nào có thể chia cắt nó, vật mà trong ngày đầu tiên Chúa đã sáng
tạo"
Tất cả mọi hiện
tượng cơ lý trong cơ học Newton đều có thể qui về sự vận động của hạt khối
lượng trong không gian, sự vận động đó do lực hấp dẫn giữa chúng với nhau:
lực trọng trường, gây ra. Nhằm phát biểu tác dụng của lực đó trên hạt khối
lượng bằng tính chính xác của toán học, Newton phải sử dụng khái niệm và
kỹ thuật toán học hoàn toàn mới, đó là phép tính vi phân. Vào thời điểm
đó, đây là một thành tựu tri thức vĩ đại và được Einstein tôn thờ là “có
lẽ đó là bước tiến lớn nhất trong tư duy mà một cá nhân xưa nay làm được”.
Các phương trình
vận động của Newton là nền tảng của cơ học cổ điển. Chúng được xem là qui
luật cố định, theo đó các hạt khối lượng chỉ việc vận hành và thời đó
người ta cho rằng nó mô tả được tất cả mọi biến dịch có thể quan sát được
trong thế giới cơ lý. Theo cách nhìn của Newton thì trước hết Chúa sáng
tạo ra vật chất, lực tác dụng giữa chúng và định luật của sự vận động.
Theo cách đó thì vũ trụ được đưa vào vận hành và từ đó chạy như một cái
máy, được hướng dẫn bằng qui luật bất di bất dịch.
Thế giới quan cơ
giới như vậy liên hệ chặt chẽ với tư tưởng quyết định luận. Bộ máy vũ trụ
khổng lồ được xem là có thứ tự trước sau và cái sau được xác định bởi cái
trước một cách chắc chắn. Tất cả điều gì xảy ra đều có một lý do, sẽ gây
một hiệu ứng rõ rệt, tương lai của mỗi một thành phần trong hệ thống đều
được quyết đoán một cách chắc chắn; nói trên nguyên tắc, nếu mọi điều kiện
trong một thời gian nhất định được biết rõ. Niềm tin này được nói rõ nhất
trong câu nói nổi tiếng của nhà toán học Pháp Pierre Simon Laplace(*):
Một đầu óc,
nếu trong một thời điểm nhất định, nó biết mọi lực tác động, và tình trạng
của sự vật tạo nên thế giới- giả định đầu óc đó đủ lớn để phân tích mọi
thông tin này- thì đầu óc đó chỉ với một công thức mà biết hết mọi vận
động, từ vận động lớn nhất trong vũ trụ đến vận động của những nguyên tử;
đối với đầu óc đó thì không gì là bất định và tương lai cũng như quá khứ
trước mắt nó là rõ rệt, như hiện tại.
Nền tảng của
thuyết quyết định luận này là sự cách ly cơ bản giữa cái tôi và thế giới
còn lại, sự cách ly này do Descartes đem vào triết học.
Sự cách ly này
làm người ta tin rằng, thế giới có thể được mô tả một cách khách quan ,
nghĩa là không cần quan tâm gì đến người quan sát và tính khách quan trong
việc mô tả thế giới được xem là cứu cánh của mọi khoa học.
Thế kỷ 18 và 19 là
nhân chứng cho thành tựu vĩ đại của cơ học Newton. Bản thân Newton áp dụng
thuyết của ông vào vận động của thiên thể và nhờ đó mà giải thích được
tính chất căn bản của hệ thống thái dương hệ...
Thế nhưng mô
hình các hành tinh của ông được đơn giản hóa rất nhiều, thí dụ lực hút
giữa các hành tinh với nhau được bỏ qua và vì thế mà ông gặp phải nhiều
điều không hợp lý, không giải thích được. Ông giải quyết vấn đề này bằng
cách cho rằng Chúa hiện diện thường hằng trong vũ trụ để sửa đổi những
điều không hợp lý nọ.
Laplace, nhà
toán học lớn, tự đặt cho mình trách nhiệm lớn lao, viết một tác phẩm bổ
sung thêm các bài tính của Newton, để “mang lại một lời giải toàn triệt
cho vấn đề cơ học lớn của thái dương hệ và đưa lý thuyết sát gần với mọi
quan sát, để các phương trình xuất phát từ kinh nghiệm không còn chỗ đứng
trong ngành thiên văn”. Kết qu