Đạo Phật Siêu Khoa Học
Minh Giác Nguyễn Học Tài
Chùa Liên Hoa, California, USA
ấn hành 1997
---o0o---
PHẬT CÓ PHẢI LÀ MỘT
BẬC ÐẠI TOÁN HỌC KHÔNG?
Kinh Hoa
Nghiêm, Quyển 5, Phẩm A tăng kỳ, trang 289-323, Tâm Vương Bồ Tát bạch
Phật rằng, “Bạch Thế Tôn! Chư Phật Thế Tôn diễn nói a tăng kỳ, vô lượng,
vô biên, vô đẳng, bất khả sổ, bất khả thuyết, bất khả thuyết-bất khả
thuyết.
Bạch Thế Tôn!
Thế nào là a tăng kỳ nhẫn đến bất khả thuyết bất khả thuyết?”.
Phật bảo Tâm
Vương Bồ Tát: “Lành thay! Lành thay! Này Thiện nam tử! Nay người muốn cho
các thế gian nhập vào nghĩa số lượng của Phật đã biết mà hỏi đức Như Lai
Ứng Ðẳng Chánh Giác.
Thiện nam tử
lóng nghe lóng nghe! Khéo suy gẫm, Phật sẽ vì ngươi mà nói.
Tâm Vương Bồ
Tát kính vâng thọ giáo.
Phật nói: “Này
Thiện nam tử! Một trăm lạc xoa* (Mười vạn làm một lạc xoa: 100,000 (Phật
Học Ðại Từ Ðiển) làm một câu chi. Câu chi lần câu chi làm một a giu đa. A
giu đa lần a giu đa làm một na do tha. Na do tha lần na do tha làm một tần
bà la. Tần bà la lần tần ba la làm một căn yết la. Căn yết la lần căn yết
la làm một a già la. A già la lần a già la làm một tối thắng. Tối thắng
lần tối thắng làm một ma bã la. Ma bã la lần ma bã la làm một a bã la. A
bã la lần a bã la làm một đa bã la. Ða bã la lần đa bã la làm một giới
phần. Giới phần lần giới phần làm một một phổ ma. Phổ ma lần phổ ma làm
một nễ ma. Nể ma lần nễ ma làm một a bã câm. A bã câm lần a bã câm làm một
di già bà. Di già bà lần di gia bà làm một tỳ lã già. Tỳ lã già lần tỳ lã
già làm một tỳ già bà. Tỳ già bà lần tỳ già bà làm một tăng yết lã ma.
Tăng yết lã ma lần tăng yết lã ma làm một tỳ tát la. Tỳ tát la lần tỳ tát
la làm một tỳ chiêm bà. Tỳ chiêm bà lần tỳ chiêm bà làm một tỳ thạnh già.
Tỳ thạnh già lần tỳ thạnh già làm làm một tỳ tố đà. Tỳ tố đà lần tỳ tố đà
làm một tỳ bà ha. Tỳ bà ha lần tỳ bà ha làm một tỳ bạc để. Tỳ bạc để lần
tỳ bạc để làm một tỳ khư đảm. Tỳ khư đảm lần tỳ khư đảm làm một xứng
lượng. Xứng lượng lần xứng lượng làm một nhứt trì. Nhứt trì lần nhứt trì
làm một dị lộ. Dị lộ lần dị lộ làm một điên đảo. Ðiên đảo lần điên đảo làm
một tam mạt gia. Tam mạt gia lần tam mạt gia làm một tỳ đỗ la. Tỳ đỗ la
lần tỳ đỗ la làm một một hề bã la. Hề bã la lần một hề bã la làm một từ
tế. Từ tế lần từ tế làm một châu quảng. Châu quảng lần châu quảng làm một
cao xuất. Cao suất lần cao suất làm một tối diệu. Tối diệu lần tối diệu
làm một nê la bà. Nê la bà lần nê la bà làm một a lý bà. A lý bà lần a lý
bà làm một nhứt động. Nhứt động lần nhứt động làm một ha lý bồ. Ha lý bồ
lần ha lý bồ làm một ha lý tam. Ha lý tam lần ha lý tam làm một hề lỗ già.
Hề lỗ già lần hề lỗ già làm một đạt lã bộ đà. Ðạt lã bộ đà lần đạt lã bộ
đà làm một a lỗ na. A lỗ na lần a lỗ na làm một ma lỗ đà. Ma lỗ đà lần ma
lỗ đà làm một sám mạc đà. Sám mạc đà lần sám mạc đà làm một y lã đà. Y lã
đà lần y lã đà làm một ma lỗ ma. Ma lỗ ma lần ma lỗ ma làm một điều phục.
Ðiều phục lần điều phục làm một ly kiêu mạn. Ly kiêu mạn lần ly kiêu mạn
làm một bất động. Bất động lần bất động làm một cực lượng. Cực lượng lần
cực lượng làm một a mạ đát la. A mạ đát la lần a mạ đát la làm một bột mạ
đát la. Bột mạ đát la lần bột mạ đát la làm một già mạ đát la. Già mạ đát
la lần già ma đát la làm một na mạ đát la. Na mạ đát la lần na mạ
đát la làm một hề mạ đát la. Hề mạ đát la lần hề mạ đát la làm một tỳ mạ
đát la. Tỳ mả đát la lần tỳ mạ đát la làm một bát la mạ đát la. Bát la mạt
đát la lần bát la mạt đát la làm một thi bà mạ đát la. Thi bà mạ đát la
lần thi bà mạ đát la làm một ế la. Ế la lần ế la làm một tiết la. Tiết la
lần tiết la làm một đế la. Ðế la lần đế la làm một kệ la. Lệ la lần kệ la
làm một túy bộ la. Túy bộ la lần túy bộ la làm một nê la. Nê la lần nê la
làm một kế la. Kế la lần kế la làm một tế la. Tế la lần tế làm một tỳ la.
Tỳ la lần tỳ la làm một mế la. Mế la lần mế la làm một ta lã đồ. Ta lã đồ
lần ta lã đồ làm một mế lỗ đà. Mế lỗ đà lần mế lỗ đà làm một khế lỗ đà.
Khế lỗ đà lần khế lỗ đà làm một ma đỗ la. Ma đỗ la lần ma đỗ la làm một ta
mẫu la. Ta mẫu la lần ta mẫu la làm một a dã ta. A dã ta lần a dã ta làm
một ca mạ la. Ca mạ la lần ca mạ la làm một ma già bà. Ma già bà lần ma
già bà làm một a đát la. A đát la lần a đát la làm một hê lỗ gia. Hê lỗ
gia lần hê lỗ gia làm một tiết lỗ bà. Tiết lỗ bà lần tiết lỗ bà làm một
yết la ba. Yết la ba lần yết la ba làm một ha bà bà. Ha bà bà lần ha bà bà
làm một tỳ bã la. Tỳ bã la lần tỳ bã la làm một na bã la. Na bã la lần na
bã la làm một ma lã la. Ma lã la lần ma lã la làm một ta bã la. Ta bã la
lần ta bã la làm một mế lã lỗ. Mế lã lỗ lần mế lã lỗ làm một giả mạ la.
Giả mạ la lần giả mạ la làm một đà mạ la. Ðà mạ la lần đà mạ la làm một
bát lã mạ đà. Bát lã mạ đà lần bát lã mạ đà làm một tỳ già ma. Tỳ già ma
lần tỳ già ma làm một ô ba bạt đa. Ô ba bạt đa lần ô ba bạt đa làm một
diễn thuyết. Diễn thuyết lần diễn thuyết làm một vô tận. Vô tận lần vô tận
làm một xuất sanh. Xuất sanh lần xuất sanh làm một vô ngã. Vô ngã lần vô
ngã làm một a bạn đa. A bạn đa lần a bạn đa làm một thanh liên hoa. Thanh
liên hoa lần thanh liên hoa làm một bát đầu ma. Bát đầu ma lần bát đầu ma
làm một tăng kỳ. Tăng kỳ lần tăng kỳ làm một thú. Thú lần thú làm
một chí. Chí lần chí làm một a tăng kỳ. A tăng kỳ lần a tăng kỳ làm một a
tăng kỳ chuyển. A tăng kỳ chuyển lần a tăng kỳ chuyển làm một vô lượng. Vô
lượng lần vô lượng làm một vô lượng chuyển. Vô lượng chuyển lần vô lượng
chuyển làm một vô biên. Vô biên lần vô biên làm một vô biên chuyển. Vô
biên chuyển lần vô chuyển làm một vô đẳng. Vô đẳng lần vô đẳng làm một vô
đẳng chuyển. Vô đẳng chuyển lần vô đẳng chuyển làm một bất khả sổ. Bất khả
sổ lần bất khả sổ làm một bất khả sổ chuyển. Bất khả sổ chuyển lần bất khả
sổ chuyển làm một bất khả xưng. Bất khả xưng lần bất khả xưng làm một bất
khả xưng chuyển. Bất khả xưng chuyển lần bất khả xưng chuyển làm một bất
khả tư. Bất khả tư lần bất khả tư làm một bất khả tư chuyển. Bất khả tư
chuyển lần bất khả tư chuyển làm một bất khả lượng. Bất khả lượng lần bất
khả lượng làm một bất khả lượng chuyển. Bất khả lượng chuyển lần bất khả
lượng chuyển làm một bất khả thuyết. Bất khả thuyết lần bất khả thuyết làm
một bất khả thuyết chuyển. Bất khả thuyết chuyển lần bất khả thuyết chuyển
làm một bất khả thuyết bất khả thuyết. Và bất khả thuyết bất khả thuyết
lần bất khả thuyết bất khả thuyết làm một bất khả thuyết bất khả thuyết
chuyển.
Tóm lại, Tâm
Vương Bồ Tát hỏi Phật thế nào là A tăng kỳ, na do tha, Hằng hà sa, nghĩa
là những con số không đếm được giống như Vô cực số của khoa học ngày nay.
Phật trả lời
bằng cách đưa ra 132 căn hai, bắt đầu là một Câu chi bằng 10,000,000. khi
đã tìm căn hai của 10, 000,000, lại lấy thành số đó để tìm căn hai kế
tiếp. Rồi cứ tiếp tục giải cho đến hết 132 căn.
Bây giờ, tôi
làm thử năm căn đầu, nếu sai xin qúi vị giỏi toán sửa dùm.
Phật nói,
“Một trăm Lạc xoa làm một Câu chi, và một Lạc xoa bằng 100,000”. Vậy thì
(1) Một Câu
chi bằng:
100 x 100,000
= 10,000,000, hay 10 lũy thừa 7, hay 1 + 7 số 0.
(2) Câu chi
lần Câu chi làm một A giu đa:
10,000,000 ^
2 = 1.e* (Exponent) + 14, hay 10 lũy thừa 14, hay 1 + 14 số 0.
(3) A giu đa
lần A giu đa làm một Na do tha:
1.e + 14 ^ 2
= 1.e + 28, hay 10 lũy thừa 28, hay 1 + 28 số 0.
(4) Na do tha
lần Na do tha làm một Tần bà la:
1.e + 28 ^ 2
= 1.e + 56, hay 10 lũy thừa 56, hay 1 + 56 số 0.
(5) Tần bà la
lần Tần bà la làm một Căn yết la:
1.e + 56 ^ 2
= 1.e + 112, hay 10 lũy thừa 112, hay 1 + 112 số 0.
Nếu tôi giải
hết 132 căn thì những con số Không sẽ dài đến cả thước, và còn dài hơn tên
của các Mệ ở Huế và của Hoàng Gia Thái Lan nữa. Ví dụ:
Ở Huế: Công
Tằng Tôn Nữ Thị Như Lan Huệ (8 chữ)
Ở Thái Lan:
Săm Sa Nít Chít Chi Ca Chỏng (7 chữ)
Vậy đố quí vị
biết đâu là họ, tên đệm, và tên cúng cơm? Ở Ấn độ, tên còn dài hơn nữa. Sợ
lạc đề, tôi xin trở lại 132 căn hai của Phật. Tôi xin phép ngưng giải căn
ở đây. Qúi vị nào giỏi toán, xin làm hết 132 căn này cho Bồ Tát Tâm Vưong
kẻo tội nghiệp!
Tôi ngạc
nhiên khi thấy Phật và Bồ Tát Tâm Vương cũng biết giải căn hai? Không rõ
các ngài đã đậu Trung Học Ðệ nhất cấp chưa hè? Rất tiếc là tôi dốt toán,
nếu không, sẽ giải đủ 132 căn xem nó đến những con số kinh khủng như thế
nào?
Ðến đây, tôi
sực nới đến câu chuyện do một một bạn H.O kể lại: Một lính ngụy đang bị
nhốt, bỗng nghe thầy cô cãi nhau về việc giải phương trình bậc hai hóc
búa. Anh ta bèn nghển cổ nói, “Cho tôi giải thử xem sao?”. Ðược ra, chỉ
trong nháy măt, anh ta đã giải xong vì anh đã là giáo sư Toán Trung Học.
Các thầy cô trố mắt nhìn, tấm tắc khen ngợi, “Lính ngụy mà cũng biết giải
phương trình kia à?”
Nhân tiện,
tôi cũng xin nói qua về những con số quá lớn và quá nhỏ trong kinh Phật.
Những số
lớn không đếm đươọc
Ngoài tên của
1332 căn đã nói ở trên như Câu chi, A giu đa, Tần ba la, Na do tha, Căn
yết la v.v..., trong kinh thường nói đến những con số không đếm được như:
Vô lượng, vô biên, a tăng kỳ, Hằng hà sa (như số cát sông Hằng), bất khả
tư nghì, bất khả xưng, bất khả sổ, bất khả thuyết ... đều là những con số
trên muôn ức.
“Lại nghe
kinh Pháp Hoa này tám trăm ngàn muôn ức na do tha, chân ca la, tần
bà la, a súc bà các bài kệ”, “Ðó là những con số lớn ở Ấn Ðộ từ nghìn muôn
ức sắp lên. Như một chân ca la bằng một nghìn muôn ức”. (Kinh Pháp Hoa,
trang 477)
Kinh Ðại
Thông Phương Quảng Sám Hối Diệt Tội Trang Nghiêm Thành Phật cũng đã
nói đến những vô cực số như sau:
“Nam mô na do
tha, thập na do tha, bách na do tha, thiên na do tha, vạn na do tha, vạn
vạn na do tha chư đại bồ tát ma ha tát hay trừ sinh tử trọng tội từ vô
lượng kiếp đến nay”. (Trang 98-99).
Hoặc:
“Nam mô bách
hằng hà sa, nam mô bách ức vô lượng hằng hà sa chư đại bồ tát ma ha tát,
hay trừ sinh tử trọng tội từ vô lượng kiếp đến nay”. (Trang 99)
Sau đây là
những con số đếm được:
Một do tuần =
9,216 mét. Có ba thứ do tuần: 10 dặm Tàu, 60 dặm, và 80 dặm.
Những đơn
vị thời gian: Sát na
Ðơn vị nhỏ
nhất của thời gian là sát na. Một sát nhãn giới bằng 0.0133 giây. 120 sát
na là một Hằng sát na. Một Hằng sát na bằng 1.6 giây. 60 Hằng sát na bằng
1 phút 36 giây. (Trang 101, Câu Xá Luận, Hoà Thượng Ðức Niệm).
Những đơn
vị khối lượng thuộc vô cực số: Cực vi
7 cực vi = 1
vi tụ
7 vi tụ = 1
kim trần (7 x 7 = 49 cực vi)
7 kim trần =
1 thủy trần (49 x 7 = 343 cực vi)
7 thủy trần =
1 thố mao trần (343 x 7 = 2,401 cực vi)
7 thố mao
trần = 1 dương mao trần (2,401 x 7 = 16,807 cực vi)
7 dương mao
trần = 1 ngưu mao trần (16,807 x 7 = 117,649 cực vi)
7 ngưu mao
trần = 1 khích du trần (117,649 x 7 = 823,543 cực vi)
(Câu Xá
Luận, trang 52)
Còn rất nhiều
nữa, nhưng rất tiếc tôi mới đọc kinh Phật có vài năm. Chắc phải đọc cả
đời, hoặc đến vô lượng kiếp mới hiểu nhiều hơn nữa. Có người đọc kinh phật
hai ba mươi năm mà vẫn chưa hiểu được cái “nghĩa chân thật của Phật”. Anh
bạn đồng tu của tôi đã đọc kinh Phật trên 30 năm mà chưa hiểu thấu kinh
Lăng Nghiêm. Lý do là đạo Phật có cả thiên kinh vạn quyển trong khi
các đạo khác chỉ có một vài cuốn kinh. Lý do thứ hai là kinh Phật rất thâm
sâu tỉ mỉ như ta lấy hòn đá cột vào đầu một sợi dây thòng xuống bể. Thòng
mãi, thòng mãi mà chẳng bao giờ hòn đá chạm đáy bể.
Thông hiểu
kinh Phật như cụ Nghiêm Xuân Hồng mà đã thốt ra những lời này, “Ðến như
tôi tôi đọc kinh Lăng Nghiêm mà chỉ hiểu đôi chút. Rồi độ dăm mươi
tháng hay một năm đọc lại mới hiểu thêm được chút ít!”
Vậy thử hỏi,
trừ những bậc khoa bảng của Phật giáo cùng những vị tu sĩ đạo cao chức
trọng, có Phật tử nào bằng cụ Hồng chưa? Một vị khoa bảng chuyên nghiên
cứu Phật giáo nói rằng, “Ðọc kinh Bát Nhã mình thấy mấy chục cái
Không cứ ném vào mặt mình!” Trong một băng giảng, một nữ tu sĩ cũng nói
tương tự. Chính tôi cũng hốt hoảng khi đọc kinh Ðại Bát Niết Bàn, trong đó
Phật dạy chẳng có Niết Bàn gì hết. Nguyên văn, “Có là nói Niết Bàn thiệt
chẳng có, chứ Phật vì thế gian mà nói có. Như người đời thiệt không có con
mà nói là có con, thiệt không đạo mà nói có đạo”. (Quyển 1, Phẩm Phạm
Hạnh, trang 647).
Tôi bàng
hoàng tưởng như mình đang ở trên trời cao té xuống đất. Nhưng vài năm sau,
khi đọc một bài nói về “Ngũ Thời Thuyết Páp” của Phật, tôi mới vỡ lẽ ra là
Phật nói “Có”, “Không” là tùy thời mà nói. Ðạo Phật là đạo bất biến, bất
biến mà tùy duyên cũng như nước có thể lỏng, thể hơi, và thể đặc. Khi
chúng sinh chấp “Có” dữ quá, Phật phải nói “Không”, và ngược lại, khi
chúng sinh chấp “Không” cũng dữ quá, Phật phải nói “Có”. Ngài nói “Có”,
“Không” là để đối trị cái bịnh chấp trước quá nặng của chúng sinh và hàng
Nhị thừa: “Phàm phu chấp có, Nhị Thừa muội Không!”
Trở lại việc
Phật đưa 132 căn hai cho Bồ Tát Tâm Vương giải, tôi sực nhớ dã đọc một tài
liệu nói rằng một thần đồng Ấn Ðộ đã đọc được trên 40 con số Pi gì đó còn
nhanh hơn máy điện toán nữa.
Nghĩ kỹ, thấy
Phật rất khéo léo khi lấy những tâm trạng hay hành động của phàm phu đặt
tên cho những vị Bồ Tát. Ví dụ Tâm Vương Bồ Tát phải giải 132 căn hóc búa
thì chẳng những tâm vương mà còn tâm rối nữa. Thường Bất Khinh Bồ Tát đi
đâu cũng vái lạy bá tánh và nói rằng, “Tôi vái lạy các Ngài vì các Ngài
đều sẽ thành Phật”. Mục đích của Phật là để dạy các tu sĩ bỏ bớt cống cao
ngã mạn.
Trong một
băng giảng, một nữ tu sĩ đã nói rằng, “Mới tu được vài năm, cái Ngã của
tôi bằng hột đậu. Tu độ năm mười năm , cái Ngã của tôi to bằng cái nhà; và
tu được hai ba mươi năm, cái Ngã của tôi to bằng trái núi!”
Tại sao vậy?
Tu hành là để phá Ngã chấp! nhưng vì thiện nam, tín nữ quá nhiệt thành
cúng dàng và còn bái lạy mình nữa nên Ngã chấp lại tăng thêm. Xin lổi, tôi
đã lạc đề mất rồi. Xin trở lại 132 căn hai của Phật.
Trong khoa
Thiên Văn Vật Lý, các khoa học gia đã dùng những biểu tượng để mô tả thời
gian vô tận, và khoảng cách của những Thiên thể ở xa lắc xa lơ trong vũ
trụ. Ví dụ như Quang niên (năm ánh sáng). Ðơn vị Thiên văn (Astronomical
Unit:AU), Parsec (PSC).
Quang niên
(Năm ánh sáng)
Ánh sáng
truyền đi trong chân không 186,000 dặm hay 300,000 cây số trong một giây
đồng hồ. Một quang niên bằng 5 tỉ tỉ 88 dặm.
Ðơn vị
Thiên văn (Astronomical Unit: AU)
Ðể ước tính
khoảng cách của chín hành tinh và Rìa (Helipause) của Thái dương hệ ở cách
xa Mặt trời bao nhiêu, người ta dùng AU. Người ta ước tính từ Trái đất đến
Mặt trời là 93 triệu dặm, và dùng đơn vị AU để tượng trưng khoảng cách căn
bản đó, nghĩa là một AU bằng 93 triệu dặm. Diêm vương tinh (Pluto) một
hành tinh ở cách xa nhất trong Thái dương hệ có khoảng cách bằng 39 AUs.
Nếu khoảng cách từ Mặt trời đến Rìa (Helipause) hay biên giới của Thái
dương hệ bằng 100 AUs, hai Phi thuyền Voyager 1 và 2 được phóng đi năm
1977, (Voyager 1 đã bay cách xa Mặt trời 52 AUs, và Voyager 2 bay được 40
AUs; cả hai phải bay thêm 18 năm nữa mới đến Rìa của Thái dương hệ.
Ðơn vị
Parsec (Psc)
Ngoài đơn vị
Thiên văn AU, các thiên văn gia còn dùng đơn vị Parsec để ước tính khoảng
cách xa vô cùng tận của những Thiên thể trong vũ trụ.
Một đơn vị
Parsec = 206,265 AUs
Một
kiloparsec = 1,000 Parsec
Một
Megaparsec = 1,000 Kiloparsecs
Ðổi Parsec ra
quang niên bớt được nhiều số không.
Một Parsec =
3.26 quang niên
= 3 x 10 lũy thừa 18 cm
Ðổi Parsec
thành quang niên bằng cách nhân với 3
Ví dụ thiên
hà Tucanae 47, đường kính khoảng 10 Parsecs và ở cách xa Mặt trời 1,500
Parsecs.
nếu 1 Parsec
= 206,265 AUs
1,500 Parsecs
= 309,397,500 AUs
Nếu 1 AU =
93,000,000 dặm.
1,500 Parsecs
= 28,773,967,500,000,000, hay 28,773 tỉ tỉ, 967 tỉ, và 500 triệu dặm.
Bây giờ tính
khoảng cách từ Rìa (Helipause) của Thái dương hệ đến Mặt trời. Người ta
ước tính khoảng cách đó bằng 100 Parsecs.
Nếu 1 parsec
= 206,265 AUs.
100 Parsecs =
20,626,265 AUs.
Nếu 1 AU =
93,000,000 dặm.
100 Parsec =
1,918,242,645,000,000, hay 1,918 tỉ tỉ , 242 tỉ, và 645 triệu dặm.
Ðó là những
con số lớn kinh khủng của khoa học.
Nhưng cách
đây 25 thế kỷ, đạo Phật cũng đã dùng những con số lớn kinh khủng hơn nữa
mà 132 căn hai của Ðức Phật cho Bồ Tát Tâm Vương giải là một bằng chứng.
Tôi xin tóm lại thành số của năm căn đầu:
Mộ Câu chi =
1 + 7 số 0.
Một A giu đa
= 1 + 14 số 0.
Một Na do tha
= 1 + 28 số 9.
Một Tần bà la
= 1 + 56 số 0.
Một Căn yết
la = 1 + 112 số 0.
Phật đã nói
đủ những con số cực lớn và những con số cực nhỏ, nhỏ đến độ mô tả Hạt
(Particle/Matter) và Sóng (Wave/Mind). Ví dụ mà Phật gọi là Cực vi (Hạt
ảo) chỉ bằng 10 trừ lũy thừa 33 cm, tức 1/1000 tỉ tỉ của một cm.
Căn cứ vào
những sự kiện này, quí vị có đồng ý với tôi rằng đức Phật là một bậc
đại toán học hay không?
ÐỨC PHỔ HIỀN CÓ
PHẢI BẬC THIÊN VĂN ÐỊA LÝ KHÔNG?
Hình dạng
các Thiên thể và Vũ trụ:
Trong kinh
Hoa Nghiêm, Tập 1, Phẩm Hoa Tạng Thế Giới, trang 401 và 410 – 415; đức
Phổ Hiền đã nói:
“Chư Phật
tử! Tất cả thế giới chủng đó hình dạng đều khác nhau: Hoặc hình núi Tu
Di, hình sông, hình xoay chuyển (trôn ốc), hình nước xoáy, hình trục xe,
hình lễ đàn (bàn thờ), hình rừng cây, hình lầu các, hình sơn tràng, hình
vuông góc, hình hoa sen, hình thai tạng, hình khư lặc ca (cái rỗ), hình
thân chúng sinh, hình mây, hình ông Phật, hình viên quang (tròn sáng),
hình lưới, hình tam giác, hình bán nguyệt, hình thành quách rộng lớn, hình
bảo hoa xoay nở, hình tứ châu, hình tròn, hình như Kim cang, hình như Ma
ni bửu, hình chữ vạn, hình như tòa Sư tử v.v... “
Ngài nói
thêm, “ Có vi trần số hình dạng như vậy".
Vậy ta thử
tìm hiểu xem đức Phổ Hiền nói có đúng không? Trước hết, Ngài dùng chữ
Thế giới mà khoa học ngày nay hiểu là World hay Planet (Hành tinh). Ở
trong Thái Dương hệ, tất cả những Hành tinh và Vệ tinh, kể cả Mặt trời,
đều hình tròn. Vì vậy, tôi nghĩ ràng đức Phổ Hiền muốn nói đến hình dạng
của một số thiên thể (Celestial bodies) trong vũ trụ. Trong vũ trụ có
những Vi thiên thể (Planetsimal) như Vẫn thạch (Meteorites) có đường kính
khoảng 2 cm, Sao băng (Meteor), Sao chổi (Comet), Tiểu hành tinh
(Asteroid) có đường kính từ vài trăm thước đến dặm nghìn cây số, Tinh tú,
Chòm sao (Constellation), Tinh Vân (Nebula), Sao đột sáng (Nova), Thiên hà
(Galaxy), và Chòm Thiên hà (Cluster of galaxies).
Chỉ có một số
Thiên hà như Chòm sao, Tinh vân, Sao đột sáng, Thiên hà, và Chòm Thiên hà
mới có những hình dạng như đức Phổ Hiền đã mô tả.
Nói về Thiên
thể, kinh Hoa Nghiêm đã dùng những chữ như: Cõi, Thế giới, Phật
sát, Phật sát hải, Phật quốc, Phật quốc độ, Thế giới hệ, Thế giới chủng,
Thế giới võng, và Thế giới hải (Biển thế giới).
Theo thiển
nghĩ, Cõi, Thế giới, Phật sát, Phật quốc độ là một. Nếu dịch ra tiếng Anh
có thể là World hay Planet (Hành tinh). Về Thế giới võng, kinh định nghĩa,
“Tất cả thế giới đều liên tiếp nhau thành thế giới võng, kiến lập nhiều
hình thức sai khác khắp cùng nơi”. Vì vậy, Thế giới hệ, Thế giới chủng, và
Thế giới võng cũng là một, và có thể hiểu là Cụm sao (Cluster of stars),
Chòm sao (Constellation), Thái dương hệ (Solar system), Chòm Thiên hà
(Cluster of galaxies), hay Bức Trường Thành Thiên Hà (The Great Wall of
galaxies).
Cho đến nay,
các Thiên văn gia đã phát hiện hình dạng của một số Thiên thể đúng với lời
mô tả của đức Phổ Hiền như sau:
Hình sông,
hình Xoay chuyển, hình nước xoáy, hình Trục xe, hình Thai tạng, hình Viên
quang (Tròn sáng), hình lưới, hình Ma Ni Bửu (Ngọc quí), hình Bảo hoa Xoay
nở, hình chữ Vạn ... Ngoài ra, các thiên văn gia cũng đã phát hiện dạng
của một số Thiên thể khác như sau: Hình chim Phượng, hình mắt Mèo, hình
cái Nhẫn, hình cánh Bướm, hình con Cua, hình Vòng xuyến, hình Chòm sao
Viên quang, hình Bầu dục v.v...
Ngoài những
Thiên thể có hình dạng rõ ràng còn có những Chòm sao có những hình dạng
được tượng hình bằng những con vật trong thần thoại Hy lạp.
Ðức Phổ Hiền
không những đã thấy vi trần số hình dạng Thiên thể trong Vũ trục mà còn
thấy hình dạng của Vũ trụ nữa. Cụ Nghiêm Xuân Hồng kể, “Tất cả những Thế
giới hải bao la bát ngát ấy chỉ là những tế bào, những bộ phận kết lại
thành những cánh hoa, rồi cánh hoa kết lại thành bông Ðại Bửu Liên Hoa,
lúc nở ra lúc héo hắt đi, và bông Liên Hoa đó trụ trên cái cọng hoa gọi là
Chủng Chủng Quang minh Nhụy Hương Tràng”.
Nhân tiện,
tôi xin nói phép nói qua về Hoa tạng thế giới như kinh Hoa Nghiêm
(trang 377 – 507) đã mô tả, và Nhị Khóa Hiệp Giải (trang 191 – 219)
cùng Lăng Kính Ðại Thừa (trang 126 – 131) đã nói lại.
Nhị Khóa
Hiệp Giải chỉ thuật lại sự mô tả của kinh Hoa Nghiêm, Lăng
Kính Ðại Thừa của cụ Nghiêm Xuân Hồng diễn nôm lại một cách ngắn gọn
và dễ hiểu hơn nhiều.
Ðể quí vị có
khái niệm về hình dạng của vũ trụ theo kinh Hoa Nghiêm tôi xin phép
trích dẫn những giòng sau đây ở cuốn Lăng Kính Ðại Thừa (trang 126 – 127):
“Ngài (Phổ
Hiền) nói rõ danh hiệu các cõi, các thế giới, các thế giới chủng, các thế
giới hải ở mười phương, cùng hồng danh chư Phật Như Lai ngự trị tại các
quốc độ đó. Ngài nói rõ về các cõi hình trạng như thế nào, an lập như thế
nào, nương về đâu, trụ về đâu, thành thành hoại hoại xoay vần, tương tự
như lá mọc rồi lại rụng. Và Ngài cũng dạy rõ ràng tất cả những thế giới
hải bao la bát ngát ấy đều là những tế bào, những bộ phận két hợp
lại thành cánh hoa, rồi cánh hoa hợp lại thành một bông Ðại Bảo Liên Hoa,
lúc nở ra lúc héo hắt đi và bông Liên Hoa đó trụ trên cái cọng hoa gọi là
Chủng Chủng Quang minh Nhụy Hương Tràng.
Trang 130 –
11, cụ Hồng diễn nghĩa Hoa Tạng thế giới cùng sự Bùng Nổ Lớn (The Big
Bang) và sự Co Rút Lớn (The Big Crunch) của vũ trụ như sau:
“Hoa Tạng thế
giới là một bông Ðại Liên Hoa (Hoa Sen Lớn), và thế giới hải, hoặc Giải
Ngân Hà (nói theo sự hiểu biết của người đời nay) chỉ là những bộ phận vi
ti của những cánh hoa.
Gần đây, các
nhà Thiên văn học thấy có những Giải Ngân Hà (xin hiểu là những Thiên hà)
hình như nở ra vi các tinh tú càng ngày càng xoay vần, chạy cách xa nhau
với một thế tốc rất lớn, nên họ đã đưa ra thuyết Big Bang, nghĩa là có vụ
Nổ tung rất lớn khiến các tinh tú bắn tóe ra xa nhau ... Nhưng rồi
họ lại nhận thấy rằng có những Giải Ngân Hà (xin hiểu là Thiên Hà) hình
như co lại, vì trong đó các tinh tú càng ngày càng xích lại gần nhau hơn
...
Thiết tưởng
rất có thể là những chu kỳ nở ra hoặc cụp lại của những cánh Hoa tạng Thế
giới ... Nên nhớ rằng lời kinh không mảy may hư vọng vì những bậc nói kinh
đều là bậc Ðại giác, có đủ ngũ nhãn chứ không phải chỉ có đôi mắt thịt với
mấy chiếc ống nhòm như các khoa học gia đâu”. (*)
Trở lại vấn
đề Hoa tạng Thế giới, theo định nghĩa của các nhà Thiên văn Vật lý, Vũ trụ
không có hình dạng và không có biên giới. Họ cắt nghĩa muốn biết hình dạng
của một vật, ta phải đứng ngoài vật đó để quan sát. Ví dụ ta đứng trong
khu Disneyland, ta không thấy được hình dạng của nó. Nhưng đứng cách đó
dăm ba cây số, ta sẽ thấy hình dạng nó liền.
Theo kinh
Hoa Nghiêm, Ðức Phổ Hiền chẳng những đã thấy hình dạng của vi trần số
thế giới (xin hiểu là Thiên thể) mà còn thấy hình dạng của Vũ trụ là một
Hoa Sen Lớn có những cánh hoa là sự kết hợp của vô vàn, vô số Thiên hà nhỏ
bé như những tế bào vi ti được đặt trên một cái cọng hoa tên là Chủng
Chủng Quang Minh Nhụy Hương Tràng.
Ngài Phổ Hiền
cũng như đức Quán Thế Âm Bồ Tát đều là những vị cổ Phật có đủ ngũ nhãn cho
nên một vị thấy được vi trần số Thiên thể và một vị thấy được hình dạng
của Hằng hà sa số thiên thể trong Vũ trụ.
Tại sao các
Ngài thấy được mà chúng ta không thấy được? là vì chúng ta chỉ quan sát sự
vật với “đôi mắt thịt với vài chiếc ống nhòm”. Muốn được như các Ngài,
chúng ta phải tu hành; và khi đắc quả sẽ có đủ ngũ nhãn.
Kinh Pháp
Hoa, Phẩm “Pháp sư Công đức” thứ mười chín, trang 431, nói “Nếu có
thiện nam tử, thiện nữ nhân thụ trì kinh Pháp Hoa, người đó, nhục nhãn
thanh tịnh của cha mẹ sinh ra, thấy khắp cõi Tam Thiên Ðại Thiên Thế
Giới, trong ngoài có những núi, rừng, sông biển, dưới đến địa ngục A tỳ,
trên đến cõi Trời Hữu đỉnh ...”
Ðó là tu hành
được ngũ căn thanh tịnh. Tu được ngũ căn hổ tương có nhiều diệu dụng hơn
nữa.
Ví dụ, kinh
Lăng Nghiêm, khi dạy về “Lục căn viên thông”, trang 306, Phật nói
“Ông A Na Luật Ðà không mắt mà thấy, ông Bạc Nan Ðà Long không tai mà
nghe, nàng Cang Ðà thần nữ không mũi mà biết mùi hương, ông Kiều Phạm Ba
Ðề không lưỡi mà biết vị, thần Thuấn Nhã Ca không có thân mà biết xúc ...”
Ðó gọi là sáu
căn hổ tương, nghĩa là căn nọ hư thì căn kia làm thế. Truyện gần đây, một
cô gái người Nga tên là Rosa bị mù từ lúc lên hai tuổi. Cô tập nhìn đồ vật
bằng mười ngón tay trong nhiều năm trời, và cuối cùng nhìn được nhờ mười
ngón tay.
Như vậy, kinh
Phật không mảy may nói những điều hư vọng như một số người huệ căn còn quá
thấp kém nên cho rằng những điều nói trong kinh có vẻ mơ hồ, huyễn hoặc,
nếu không nói là bịa đặt.
Ngài Phổ Hiền
và đức Quán Thế Âm Bồ Tát đã thấy được những điều nói trên cách đây mấy
chục thế kỷ.
Ðể quí vị có
ý niệm về sự trường cửu của các Ngài, tôi xin trích dẫn Phẩm “Hóa thành
dụ” nói về thọ mạng Như Lai trong kinh Pháp Hoa, trang 211 như sau:
Phật dạy “Các
tỳ kheo! Từ khi Ðức Phật đó (Ðại Thông Trí Thắng Như lai) diệt độ nhẫn đến
nay rất là lâu xa, thí như địa chủng trong cõi Tam thiên đại thiên, giả sử
có người đem mài làm mực, rồi đi khỏi một nghìn cõi nước ở phương đông bèn
chấm một điểm chừng bằng bụi nhỏ, lại qua một nghìn cõi nước nữa cũng chấm
một điểm, cứ như thế lần lượt chấm hết mực mài bằng địa chủng ở trên. Ý
các ông nghĩ sao? Các cõi nước đó hoặc thầy toán hoặc đệ tử của thầy toán
có thể biết được ngằn mé đó không?
Ngài lại tiếp
“Các Tỳ kheo! Những cõi nước của người đó đi qua hoặc có chấm, hoặc không
chấm mực đều nghiền nát cả ra làm bụi, một hột bụi là một kiếp, từ Ðức
Phật diệt độ đến nay lại lâu hơn số đó vô lượng vô biên trăm nghìn muôn ức
A tăng tỳ kiếp.
Ta dùng sức
tri kiến của Như Lai xem thuở lâu xa đó dường như hiện ngày nay”.
Trong kinh
Hoa Nghiêm, đức Phổ Hiền đã mô tả một số hình dạng Thiên thể, và nói rằng
Ngài còn thấy vi trần số hình đạng những Thiên thể khác nữa. Ngày nay, các
nhà Thiên văn Vật lý đã phát hiện một số Thiên thể có hình dạng đúng như
đức Phổ Hiền đã mô tả.
Có những
Thiên thể ở cách xa Trái đất hàng tỉ quang niên (một quang niên = 5.88 tỉ
dặm) mà Ngài đã thấy tinh tường. Khoa học ngày nay, mặc dầu có những Viễn
vọng kính tối tân, mới chỉ quan sát được 10% những Vật thể trong vũ trụ,
còn lại 90% là Chất tối (Dark matter). Không quan sát được Chất tối vì nó
không phát ra ánh sáng.
Ðó là đối với
những con mắt phàm phu. Ðối với chư Phật, chúng ta thấy xa, Phật thấy gần,
chúng ta thấy tối, Phật thấy sáng; và không có gì Phật không Thấy, Nghe,
Hay, Biết.
Như vậy, quí
vị có dồng ý với tôi rằng đức Phổ Hiền là một bậc đại Thiên Văn Vật Lý
hay không?
(*) Lăng
Kính Ðại Thừa của cụ Nghiêm Xuân Hồng.
ÐỨC
QUÁN THẾ ÂM CÓ PHẢI LÀ BẬC ÐẠI THIÊN VĂN VẬT LÝ KHÔNG?
Trong kinh
Lăng Nghiêm, Quyển 6, trang 389 – 390, trong phần trình bày về pháp
môn Nhĩ căn viên thông, Ðiều 14, Ðức Quán Thế Âm (QTA) Bồ tát đã nói:
“Trong cái
Thế giới Tam thiên đại thiên này có trăm ức mặt trời, mặt trăng”.
Theo thiển ý,
Ngài muốn nói vô vàn vô số Thái dương hệ và hành tinh mà người ta thường
nói “giàu đến thiên ức vạn tải”. Trong kinh Phật thường hay dùng những
danh từ như Na do tha, Hằng hà sa, nghĩa là nhiều quá không đếm được; hoặc
dùng những con số tượng trưng như 84,000 con vi trùng, hay 84,000 pháp môn
...
Ðức Phật cũng
đã nói rằng “Trong bầu trời có vô vàn, vô số thế giới nhiều như số cát
sông Hằng”.
Thái dương hệ
là một hệ thống gồm có Mặt trời ở giữa và chín Hành tinh (trong đó có Trái
dất của chúng ta) chạy vòng quanh quĩ đạo của nó. Còn Hành tinh hệ là
những hệ thống mà khoa học mới khám phá gần đây gồm có Sao Mặt trời ở giữa
và những Hành tinh chạy chung quanh quĩ đạo của nó. Sao Mặt trời không có
nghĩa là Mặt trời mà là ngôi sao đứng giữa. Tỉ dụ Sao Mạch (Pulsar star
PSR 1257 + 10) có những Hành tinh chạy quanh quĩ đạo của nó.
Rất tiếc tài
liệu về vấn đề này mà tôi thu thập trong 8 – 9 năm qua quá ít so với tài
liệu của NASA, JPL ... Tôi chọn 10 bài để chứng minh rằng đức QTA đã nói
đúng. Thật ra chỉ cần một vài bài là đủ. Nhưng tiện đây tôi cũng muốn
trình bày cùng qúi vị những khám phá mới của khoa học về lĩnh vực Thiên
văn Vật lý.
Sau đây, xin
mời quí vị xem những điều trích dẫn trong một số bài báo Mỹ tường trình về
việc khám phá những Tinh tú, Thiên hà, (Galaxy), và Hành tinh hệ
(Planetery system) ở ngoài giải Ngân Hà (The Milky Way Galaxy) của chúng
ta.
“Trong cái
Thế giới Tam thiên đại thiên này có trăm ức mặt trời, mặt trăng”.
Viễn vọng
kính Hubble khám phá thêm nhiều bí mật vũ trụ (20)
Tám năm
trước, khi triển khai thuyết Tương đối chung, Einstein nghĩ rằng vũ trụ
chỉ có một Thiên hà (Galaxy) duy nhất là Giải Ngân Hà (The Milky Way
Galaxy).
Năm 1924,
Thiên văn gia Edwin Hubble mà Viễn Vọng kính không gian được đặt tên của
ông, chứng minh rằng có hàng tỉ Thiên hà và hàng tỉ tỉ (trillion) Tinh
tú ở ngoài Giải Ngân hà của chúng ta.
Cơ quan
Hàng Không Không Gian (NASA) sẵn sàng tìm kiếm đời sống sinh vật ở ngoài
Trái đất (21)
Ðể tìm kiếm
đời sống sinh vật ở ngoài Trái đất, trong 10 năm tới, những viễn vọng kính
đặt tại miền nam California và Puerto Rico sẽ nghe ngóng 400 tỉ tinh tú ở
trong Giải Ngân hà để tìm kiếm dấu vết của những nền văn minh khác lạ.
Thiên văn gia
Frank Drake thuộc SETI (Search for Extra Terrestrial Intelligence), tạm
dịch là (Chương trình tìm kiếm những nền văn minh ngoài Trái đất), phỏng
chừng có 10,000 nền văn minh ở trong Giải Ngân Hà đã có ý hoặc vô tình gởi
tín hiệu đi, và những tín hiệu này đã băng qua Trái đất.
Drake không
chú trọng đến việc nghe ngóng tín hiệu của 200 tỉ Thiên Hà trong vũ trụ
bởi vì chúng ở quá xa. Nếu Drake nói đúng và nếu những hành tinh có đời
sống sinh vật được đặt trong những khoảng cách bằng nhau thì Hành tinh gần
nhất chúng ta cũng cách xa 1,000 quang niên.
Gửi một tín
hiệu từ Trái đất và nhận điện đáp phải mất 2,000 năm. Một phi thuyền bay
nhanh 10 lần tốc độ của những phi thuyền hiện nay phải mất 40,000 năm mới
tới những vì sao chỉ cách Trái đất 10 quang niên.
Phối hợp
những sự kiện khoa học với những lý thuyết mới triển khai, Drake làm bản
ước lượng những may mắn (chance) giúp chúng ta phát hiện đời sống sinh vật
ở một Hành tinh khác với Trái đất của chúng ta như sau:
- Tinh tú ở
trong Giải Ngân hà: 400 tỉ.
- Tinh tú
giống như Mặt trời: 40 tỉ.
- Sao Mặt
trời (Sun like star) chạy quanh Hành tinh: 20 tỉ.
- Sao Mặt
trời có những Hành tinh giống Trái đất chạy quanh quĩ đạo trong 10 tỉ năm
lịch sử của Giải Ngân hà: 10 tỉ.
- Những nền
văn minh gửi tín hiệu băng qua Trái đất ước lược đời sống sinh vật kéo dài
1,000 triệu năm, và những nền văn minh này gửi tín hiệu trung bình trong
10,000 năm.
Bức trường
thành Thiên hà lớn nhất trong vũ trụ (22)
Hai Thiên văn
gia Margaret Geller và John Huchra thuộc trung tâm Thiên văn Vật lý
Harvard Smithsonian (Harvard Smithsonian Center for Astrophysics) đã khám
phá ra một cấu trúc vĩ đại nhất chưa từng thấy trong vũ trụ.
Cấu trúc này
có tên là Bức Trường thành Thiên hà (The Great Wall of Galaxies) gồm có
những Thiên hà dệt thành một tấm thảm dài ít nhất 500 triệu quang niên,
hay vào khoảng 3,000 tỉ tỉ (trillion) dặm.
Tấm thảm này
mắt thường không thấy được, chạy dài từ chân trời nọ đến chân trời kia ở
phía Bắc bán cầu.
Các Thiên văn
gia nói sau việc khám phá này, người ta nêu lên những câu hỏi rộng rãi về
nguồn gốc của vũ trụ và việc có nên xây một Thiên văn đài lớn để theo dõi
những cấu trúc vĩ đại này?
Gell nói
“Kích thước của cấu trúc này chứng tỏ rằng những lý thuyết nói về sự hình
thành của vũ trụ không đúng vì những ước đoán quá xa vời. Không có một lực
nào có thể tạo nên một cấu trúc lớn lao như thế kể từ thời gian vũ trụ mới
được thành lập. Những lý thuyết hiện tại cho rằng vũ trụ bắt đầu bùng nổ
cách đây 15 tỉ năm và bành trướng nhanh chóng thành một hợp chất đồng đều
giữa Thể chất và Năng lượng.
Tất cả những
sự kết hợp của Thể chất và Năng lượng từ những ngôi sao lẻ loi đến những
Thiên hà là sự tập hợp của hàng tỉ ngôi sao cho đến những Chòm Thiên hà
(Cluster of Galaxies) bao gồm hàng ngàn Thiên hà phải bắt nguồn từ những
sự thay đổi tỉ trọng nhỏ bé của hợp chất này.
Gell “ Tấm
thảm Thiên hà có chiều dài bằng 200 quang niên, nhưng chiều rộng chỉ độ 15
triệu quang niên".
Chiều dài của
Bức Trường thành Thiên hà được ước lượng 500 triệu quang niên hầu như làm
sai lạc hết những so sánh đã ấn định. Thiên hà của Trái đất (Giải Ngân Hà)
chỉ có chiều dài 100,000 quang niên, và chiều dài vũ trụ được ước tính từ
10 đến 20 tỉ quang niên.
Phát hiện
Ðịa lục Thiên hà trong vũ trụ (23)
Các Thiên văn
gia loan báo đã khám phá một sự tập hợp của các vì sao lớn nhất chưa từng
thấy.
Việc khám phá
này có thể thay đổi lối suy nghĩ về cấu trúc của vũ trụ.
Ðược gọi là
“Sự Hấp Dẫn Vĩ Ðại” (The Great Attracter) và cách Trái đất 150 triệu quang
niên, cấu trúc vĩ đại này có Trọng trường lôi kéo Giải Ngân Hà và hàng
triệu các Thiên hà khác.
Việc khám phá
nói trên xác định những lý thuyết đã được các Thiên van gia bàn cãi trong
mấy năm qua cho rằng những Vật thể căn bản trong vũ trụ còn to lớn rất
nhiều và quá phức tạp hơn họ đã tưởng. Những Vật thể này không phải là
những Thiên hà hay Chòm Thiên hà giản dị mà là những “Ðịa lục Thiên hà”
lớn hơn cả trăm lần.
Alexander
thuộc Viện Carnegie ở Washington, trưởng toán, đã khám phá ra “Ðịa lục
Thiên hà” này tuyên bố “Nó lớn quá và che lấp bầu trời làm chẳng ai để ý
đến nó”.
Dresser tin
rằng còn có nhiều Ðại lục thiên hà như vậy nữa.
Các Thiên văn
gia không rõ những vật gì đã cấu tạo thành Ðịa lục Thiên hà, nhưng họ tin
rằng chúng phải là Chất tối (Dark matter). Chất tối là những chất cũng
giống như những Chòm Thiên hà đặc và lớn, không phát ra ánh sáng nên không
thể thấy được.
Thay vì bành
trưóng và tách rời nhau như những Thiên hà khác trong vũ trụ, những Thiên
hà trong Ðịa lục Thiên hà này lại tụ hội thành một vùng dài đến hàng trăm
triệu quang niên.
Dùng viễn
vọng kính, người ta chỉ thấy được một phần của Ðịa lục Thiên hà này. Ðịa
lục Thiên hà này bao trùm 1/3 bầu trời về đêm từ Chòm Sao Centaurus đến
một đầu của Pavo và một đầu kia của Indus.
Trong mấy năm
qua, các lý thuyết gia cho rằng “Ðịa lục Thiên hà Vĩ đại” và bức “Trường
thành Vĩ Ðại” đã hiển hiện. bức Trường Thành Vĩ Ðại có chiều dài bằng một
tỉ quang niên.
Những Thiên
thể lớn như vậy đã gây nhiều khó khăn cho những lý thuyết nói về nguồn gốc
của vũ trụ.
Những lý
thuyết này tùy thuộc ý kiến cho rằng khi vũ trụ Bùng nổ (The Big Bang),
các Vật thể bị bắn tung đi khắp hướng, được Trọng trường thu hút tụ hội
thành những khối lượng và đột nhiên trở thành Tinh tú và Thiên hà.
Những vật thể phát hiện gần các Tinh tú được tin
là những Hành tinh (24)
Các Thiên văn gia Hoa Kỳ và Gia Nã Ðại đã phát
hiện 10 Thiên thể giống như Hành tinh chạy quanh quĩ đạo một ngôi sao rất
xa.
Việc khám phá này khiến người ta càng thêm tin
tưởng có đời sống sinh vật ở ngoài Trái đất.
Theo bản tường trình đọc trong một cuộc họp của
Nghiệp đoàn Thiên văn Quốc Tế, các Thiên văn gia thuộc đài Thiên văn Vật
lý Smithsonian ở Cambridge, Mass; tuyên bố họ đã phát hiện một Thiên thể
giống như Hành tinh chạy quanh qũi đạo của một ngôi sao cách xa Trái đất
90 quang niên.
Một Thiên văn gia tại Ðại học Victoria, Anh
Quốc; đã phát hiện chín Hành tinh chạy quanh quĩ đạo của chín ngôi sao,
nói rằng có phân nửa số sao ở giải Ngân Hà đều có Hành tinh hệ.
Bruce Campell, Toán trưởng Gia Nã Ðại tuyên bố
theo kết quả sưu tầm của ông, việc phát hiện một số Hành tinh hệ có thể là
dấu hiệu của những Hành tinh có đời sống thích hợp giống như Trái đất.
Cả hai toán Thiên văn gia khám phá ra các Hành
tinh nói trên bằng cách phân tích việc đổi màu ánh sáng, thâu nhận ở các
vì sao. Ánh sáng từ một nguồn sáng xa sẽ hơi đổi màu nếu nguồn sáng đó di
động. Ánh sáng đổi thành màu đỏ nếu nguồn sáng di chuyển nhanh hơn, và đổi
thành màu xanh khi nguồn sáng di chuyển phía người quan sát. Bằng cách đo
lường tỉ mỉ việc đổi màu này, các nhà Thiên văn có thể phát hiện được
hướng đi của các vì sao. Hướng đi này có thể là do Trọng trường của một
Thiên hà gần, và tốc độ di chuyển giúp các khoa học gia đo được kích thước
của vì sao đó.
Latham nói Vật thể đã phát hiện giống như Hành
tinh lớn hơn Mộc tinh (Jupiter) 20 lần đang chạy chung quanh quĩ đạo của
Sao HD 114762 nóng hơn lò lửa. Sao HD 114762 lớn hơn Trái đất 3,000 lần,
cách xa Trái đất 90 quang niên, hay 522 tỉ tỉ dặm.
Campell nói ông và toán Thiên văn gia Gia Nã Ðại
đã áp dụng một kỹ thuật nhạy bén hơn quang cụ của Latham nên đã phát hiện
được chín Vật thể giống Hành tinh sau khi đã nghiên cứu 18 ngôi sao ...
Ông nói thêm rằng bàng chứng rõ ràng nhất là Hành tinh lớn đang chạy chung
quanh quĩ đạo của sao HD 114762 có tên là Tau Ceti.
Tất cả những ngôi sao do toán Gia Nã Ðại phát
hiện đều rất sáng. Ðộ sáng vào khoảng 4 (Magnitude 4). Chúng đều lớn bằng
Mặt trời và cách xa Trái đất 100 quang niên, hay 580 tỉ tỉ dặm.
Tại đài Thiên văn Oak Ridge ở Harvard, Mass;
Latham quan sát những ngôi sao rất mờ, và Sao HD 114762 có Ðộ sáng 7,
nghĩa là mắt thường không thấy được. Các vì sao càng mờ tối khi Ðộ sáng
tăng lên. Ðộ sáng 6 là độ mờ nhất đối với mắt thường.
Chuyên viên NASA phát hiện một số Hành tinh chạy
quanh quĩ đạo của Tinh tú trong giải Ngân HÀ (25)
Kenneth Marsh, một Thiên văn gia Vật lý thuộc
Phòng Thí Nghiệm Phản Lực (Jet Propulsion Laboratory – JPL) thuộc NASA, và
Michal J Mahoney; đã phát hiện một số Hành tinh có thể chạy quanh quĩ đạo
của bảy ngôi sao ở trong Giải Ngân hà của chúng ta.
Kenneth nói” Những Hành tinh này ở cách xa Trái
đất 2,650 tỉ tỉ dặm có thể là những Sao bạn (Companion Star), hay Sao Nâu
Lùn (Brown dwarf), là những khối hơi khí quá lớn để thành những Hành tinh
và quá nhỏ để thành những Tinh tú.
Marsh tường trìinh rằng ông và Mahoney đã tìm
thấy chín ngôi sao có thể có những Vật thể chạy chung qunh quĩ đạo của
chúng. Họ xác định hai trong chín Thiên thể này là những vì sao mờ. Bảy
Thiên thể kia có thể có những Hành tinh chạy chung quanh quĩ đạo của chúng
là những vì sao mờ tối, hoặc Sao Nâu Lùn. Họ chắc chắn rằng Sao GH Tauri
có Sao Nâu Lùn và hai hay nhiều Hành tinh khác đang chạy quanh quĩ đạo của
nó.
Bảy vì sao ở
trong Chòm sao Taurus Auriga là một vùng tập trung các vì sao đầy hơi khí
và những đám mây bụi cách xa Trái đất vào khoảng 450 quang niên hay 2,650
tỉ tỉ dặm.
Một Hành tinh
là một Thiên thể có bề rộng ít nhất 600 dặm, chạy chung quanh quĩ đạo một
vì sao, và tương đối phát ra ít Năng lượng. Sao Nâu Lùn lớn hơn từ hai đến
80 Trọng khối của Mộc tinh, và có thể chạy quanh quĩ đạo của một ngôi sao.
Chúng phát ra Năng lượng khi tự thu hẹp bởi Trọng trường (Gravity) của nó.
Phát hiện
Hành tinh chạy quanh quĩ đạo của Sao Pegasus 52
Ngày 10-6-95,
hai Thiên văn gia Thụy sĩ Mayer và Dider Queloz loan báo họ đã phát hiện
một Hành tinh cỡ bằng Mộc tinh (Jupiter) chạy vòng quanh quĩ đạo của Sao
Pegasus 51 ở cách xa Trái đất 42 quang niên.
Vật phát hiện
thứ hai là một Thiên thể lớn bằng 20 lần Trọng khối của Mộc tinh, hình như
đang chạy vòng quĩ đạo của một Sao nhỏ GL 229 cách xa Trái đất 30 quang
niên.
Thiên thể
chạy vòng quĩ đạo của hai ngôi sao nói trên có thể là Hành tinh hoặc Sao
Nâu Lùn.
Việc phát
hiện hai Hành tinh hệ (Planetery system) này đã được xác nhận.
Viễn vọng
kính Hubble nhìn thấy “Bảo sinh viện Tinh tú” (26)
Các khoa học
gia đã nín thở khi thấy tấm hình chụp cách xa Trái đất 7,000 quang niên.
Những tấm
hình Viễn vọnh kính Hubble mới chụp khiến các Thiên văn gia lần đầu tiên
thấy tận mắt những vì sao nhỏ mới sinh trong một nơi gọi là “Bảo sinh viện
Tinh tú” (Galartic nursery).
Jeff Haster,
Thiên văn gia thuộc Ðại học Arizona nói trong một buổi họp rằng “Những
Tinh tú mới đang thành hình ngay trước mắt chúng ta”.
Khác với quá
trình hình thành thông thường của các vì sao mà Viễn vọng kính Hubble đã
chụp từ trước, sự hình thành của những vì sao này trông rất rõ rệt nhờ
những cơn gió mạnh từ các ngôi sao khổng lồ thổi bay đám mây che đậy những
khối hơi khí đang tụ hội thành những Thai bào Tinh tú (Embryonic stars).
Khi thổi bay
gần hết hơi khí, gió này cho thấy những vì sao được hình thành rất nhỏ mặc
dầu có đủ chất liệu để lớn mạnh.
Hester nói
“Từ lâu, các Thiên văn gia đã tìm hiểu quá trình nào đã ấn định kích thước
của Tinh tú”.
Việc khám phá
nói trên giúp các Thiên văn gia hiểu nhiều hơn về quá trình hình thành của
Tinh tú cũng như những nơi Tinh tú thường xuất hiện trong vũ trụ.
Việc này cũng
giúp phát hiện được những Vật thể Thất thoát (Missing mass) mà người ta
tin rằng có hiện diện trong vũ trụ dưới những dạng thức chưa được biết.
Viễn vọng
kính Hubble khám phá thêm nhiều Hành tinh mới (27)
Những Thai
bào Thái dương hệ (Embryonic Solar system) khuấy bụi sắp thành những Hành
tinh mới được Viễn vọng kính Hubble phát hiện chạy vòng quanh những vì sao
rất xa đã tăng cường lý thuyết cho rằng có những thế giới giống như
Trái đất của chúng ta đang chạy chung quanh quĩ đạo của những ngôi sao
giống như Mặt trời.
Edward J
Weiler, chuyên thảo chương trình cho Viễn vọng kính không gian tuyên bố “Chúng
tôi đã tìm thấy một nơi có hàng triệu Hành tinh sẽ được hình thành trong
vài triệu năm nữa. Chúng tôi gần có bằng chứng đầy đủ về sự hiện diện của
những Hành tinh có đời sống sinh vật này”.
Robert
O’Dell, Thiên văn gia tại đại học Rice nói khi nghiên cứu những tấm hình
Viễn vọng kính Hubble đã chụp một phần của Tinh vân Orion (Orion Nebula),
ông đã thấy 15 vì sao chạy quanh những Dĩa hành tinh sáng (Photoplanetery
disk), hay những đám bụi mù là những chất liệu cấu tạo Tinh tú.
Các Thiên
văn gia tuyên bố có hàng tỉ tỉ Tinh tú trong vũ trụ được các Dĩa Hành tinh
(Planetery disk) cấu tạo.
Tinh vân
Orion (Orion Nebula) là một vùng hình thành vô số các vì sao. Các Thiên
văn gia khi nghiên cứu vùng này đã tìm được những mấu chốt về tiến trình
hình thành của những Thiên thể trong vũ trụ. Tinh vân Orion ở cách xa Trái
đất 1,500 quang niên là một phần của Giải Ngân Hà (The Milky Way Galaxy)
trong đó có Mặt trời.
Stepen Strom,
Thiên văn gia tại đại học Rice, Mass; nói “Những tấm hình này cho thấy đủ
chất liệu để tạo thành những Hành tinh hệ giống như những Hành tinh chạy
chung quanh Mặt trời. Chúng tôi có đủ chất liệu để thành lập một Thái
dương hệ”.
Tóm lược
những Hành tinh hệ đã được phát hiện Thế nào là một Hành tinh?
Hành tinh là
một Thiên thể có bề rộng ít nhất 600 dặm, chạy vòng quanh quĩ đạo của một
ngôi sao, và tương đối phát ra ít Năng lượng.
1-2. Tiến sĩ
Alexander Wolzczan thhuộc đại học Cornell, và Dale A. Frail thuộc Ðài
Thiên văn Vô tuyến Quốc gia ở Socorro, NM; đã phát hiện hai Hành tinh chạy
quanh quĩ đạo của Sao B1257 + 12.B1257 + 12 là tàn tích của một ngôi sao
đã bùng nổ gọi là Sao Neutron (Neutron star). Vì từ trường của Sao này
thâu hút Âm điện tử khiến những Phân tử này chiếu sáng như một ngọn hải
đăng nên Sao B 1257 + 12 còn được gọi là Sao Mạch (Pulsar).
Hai Hành tinh
này chạy quanh quĩ đạo của Sao B1257 + 12 với một khoảng cách bằng khoảng
cách từ Trái đất đến Mặt trời, hay 1 AU (Astronomical Unit = 93 triệu
dặm). Mỗi Hành tinh này có Trọng khối lớn hơn ba lần Trọng khối của Trái
đất, có tỉ trọng và cấu tạo giống như Trái đất và Kim tinh (Venus). Hai
Hành tinh giống Trái đất này không thể có sinh vật vì nhiệt độ của nó nóng
trên độ nóng của nước sôi. Chúng ở cách xa Trái đất, 1,300 quang niên nên
chúng ta chưa đủ phương tiên bay đến đó được.
2-3. Ngoài
Sao Mạch B1257 + 12 mới được phát hiện, Sao Mạch PSR1829-10 có Hành tinh
chạy chung quanh đã được phát hiện từ tháng 7 -1992.
313. Các
Thiên văn gia Hoa Kỳ và Gia Nã Ðại đã phát hiện 10 Thiên thể giống Hành
tinh chạy vòng quanh quĩ đạo của một ngôi sao ở rất xa.
13-23. Các
Thiên văn gia thuộc Ðài Thiên văn Vật lý Smithsonian ở Cambridge, Mass; đã
phát hiện một Thiên thể giống Hành tinh chạy quanh quĩ đạo của Sao
HD114762 nóng hơn lò lửa ở cách xa Trái đất 90 quang niên. Thiên thể này
lớn hơn Mộc tinh (jupiter) 20 lần và hơn Trái đất 3,000 lần.
23-32. Thiên
văn gia Kenneth Marsh và Mohoney đã phát hiện chín ngôi sao có thể có
những Vật thể chạy chung quanh quĩ đạo của chúng. bảy trong chín Thiên thể
này ở trong Chòm sao Taurus-Auriga ở cách xa Trái đất 450 quang niên.
32-34. Ngày
10-6-1995, hai Thiên văn gia Thụy sĩ Mayer và Dider Queloz đã phát hiện
hai Hành tinh cỡ bằng nửa Mộc tinh chạy vòng quĩ đạo của Sao Pegasus 51
cách xa Trái đất 40 quang niên. Nhưng vì ở gần Sao Pegasus quá nóng nên
không thể có sinh vật. Vật phát hiện thứ hai là một Thiên thể lớn hơn Mộc
tinh 20 lần, hình như đang chạy vòng quanh quĩ đạo của Sao nhỏ GL 229 ở
cách xa Trái đất 30 quang niên.
Việc phát
hiện hai Hành tinh hệ này đã được xác nhận.
34-49. Robert
O’Dell, Thiên văn gia tại đại học Rice, nói ông đã phát hiện 15 vì sao
chạy quanh những Dĩa Hành tinh sáng (Photoplanetery).
49-51. Tiến
sĩ Geoffrey và Paul Butler; đã phát hiện hai Hành tinh chạy quanh quĩ đạo
của Sao 70 Virginis ở trong Chòm sao Vigro (Xử Nữ). Hành tinh thứ nhất có
nhiệt độ của một ly trà nóng nên có thể có nước. Hành tinh thứ hai chạy
quanh quĩ đạo của Sao 47 Ursae Major (Ðại Hùng tinh) nên nhiệt độ quá
lạnh.
Butler nói “Chúng
tôi chưa từng thấy Hành tinh hệ nào giống nhiều như Thái dương hệ của
chúng ta”.
52-52. Trong
năm 1996, một Hành tinh đã được phát hiện chạy quanh quĩ đạo của sao 55
Cancri ở trong Chòm sao Bắc Giải (Cancer), hay Con cua (The Crab).
52-53. Thiên
văn gia George Gatewood, sau 60 năm quan sát, đã phát hiện hai hay ba Hành
tinh chạy quanh quĩ đạo của Sao Lalande 21185 chỉ cách xa Trái đất 8.1
quang niên. Gate wood ước tính rằng Hành tinh ở xa Sao Lalande phải mất 30
năm mới chạy hết quĩ đạo của Sao này, và Hành tinh ở gần phải mất 8 năm.
Ông nói “Ðây
là Hành tinh hệ đầu tiên giống như Thái dương hệ của chúng ta được phát
hiện". Vì ở xa Sao Lalande nên hai Hành tinh nay không thể có đời sống
sinh vật.
Sao Lalande
rất mờ nên mắt thường không trông thấy được. Sao này đang bay về hướng
Trái đất với tốc độ trên 50 dặm/giây.
53-54. Các
Thiên văn gia ở California đã phát hiện một Hành tinh ở cách xa Trái đất
trên 60 quang niên là Hành tinh xa nhất.
54-55.
Geoffrey Macy và đồng nghiệp thuộc đại học San Francisco, đã phát hiện một
Hành tinh lớn gấp bốn lần mộc tinh đang chạy quanh quĩ đạo cách xa HR5185
độ vài triệu dặm. Sao này còn có tên là tau Boo.
55-56. Các
Thiên văn gia thuộc đại học San Francisco, đã phát hiện một Hành tinh chạy
quanh quĩ đạo của Sao HR3522 cách xa Trái đất khoảng 40 quang niên.
Ngoài những
Hành tinh đã phát hiện, các Thiên văn gia ước đoán sẽ khám phá hàng tỉ tỉ
các Hành tinh các như sau:
a. “Những
Thai bào thái dương hệ (Embryonic solar system) sắp thành những Hành tinh
mới đã được Viễn vọng kính Hubble phát hiện chạy quanh quĩ đạo của những
vì sao ở đất xa ...”
b. Edward J
Weiler tuyên bố “Chúng tôi đã tìm thấy một nơi có hàng triệu Hành tinh
sẽ được thành hình trong vài triệu năm nữa”.
c. Các Thiên
văn gia tuyên bố có hàng tỉ tỉ Tinh tú trong vũ trụ được các Diã Hành
tinh (Planetery disk) cấu tạo.
d. Tinh
vân Orion (Orion Nebula) là một vùng hình thành vô số các vì
sao. Tinh vân Orion ở cách xa Trái đất 1,500 quang niên, là một phần
của Giải Ngân hà của chúng ta.
Phát hiện
thêm một Thái dương hệ mới
Tháng
10-1996, báo chí Mỹ loan báo rằng Trưởng toán Thiên văn William D. Cochran
thuộc đại học Texas, và một toán Thiên văn gia ở San Francisco; đã phát
hiện thêm một Thái dương hệ mới gồm có một Hành tinh và một Sao đôi ở cách
Trái đất 70 quang niên và nằm ở trong Chòm sao Cygnus có tên là Vùng Chữ
Thập Bắc.
Hành tinh
phát hiện chạy quanh quĩ đạo của một ngôi sao nhỏ có tên là 16 Cygni B, và
một ngôi sao lớn có tên là 16 Cygni A. Sao 16 Cygni B giống Mặt trời về
nhiệt độ và Trọng khối. Cứ 250,000 năm, Sao Cygni A và B chạy cách nhau 65
tỉ dặm là khoảng cách tiêu chuẩn sát nút của các Tinh tú.
Vì gần nhau
nên Trọng trường của Sao Cygni A đã lôi kéo Sao Cygni B khiến Sao này
không chạy theo quĩ đạo tròn như những Hành tinh trong Thái dương hệ của
chúng ta mà chạy theo quĩ đạo hình bầu dục.
Hành tinh này
không có đời sống sinh vật bởi vì nó thuộc loại Hành tinh hơi khí như Mộc
tinh (Jupiter) và Thổ tinh (Saturn).
Cochran kết
luận rằng quĩ đạo bất thường của Hành tinh nói trên khiến các Thiên văn
gia phải duyệt xét lại lý thuyết nói về sự hình thành của các Hành tinh.
Qua những
việc phát hiện nói trên, quí vị thấy trong vũ trụ có khoảng 200 tỉ Thiên
hà (Galaxies) và 400 tỉ Tinh tú. Một Thiên hà có khoảng 100 tỉ Tinh tú, và
có đường kính từ 1,500 đến 100,000 quang niên.
Riêng Giải
Ngân hà của chúng ta có độ 400 tỉ Tinh tú.Ðịa lục Thiên hà (Continent of
galaxies) lớn hơn Chòm Thiên hà 100 lần, và chiếm 1/3 bầu trời từ Nam Bán
cầu đến Chòm sao Centurus. Bức Trường thành Thiên hà là một tập hợp của vô
vàn vô số Thiên hà chạy dài đến một tỉ quang niên mà kinh Hoa Nghiêm
gọi là Thế giới võng. Ðịa lục thiên hà có thể gọi là Thế giới hải.
Ngoài Thái
dương hệ, khoa học đã dần dần khám phá ra một số Hành tinh hệ, và họ tin
rằng còn vô số vô vàn Hành tinh hệ ở ngoài Giải Ngân hà đang chờ chúng ta
phát hiện.
Ðức Quán Thế
Âm Bồ Tát đã dạy “Ở trong cái Thế giới Tam Thiên Ðại Thiên này có trăm
ức Mặt trời, Mặt trăng”.
Ðức Phổ Hiền
cũng dạy “Có vi trần số hình dạng thế giới như vậy".
Ðức Phật dạy
“Khắp nơi, khắp xứ, chỗ nào cũng có quang minh cùng những loài chúng
sinh cư ngụ. Trong bầu trời, có vô vàn, vô số Thế giới nhiều như số cát
sông Hằng”.
Lời dạy của
các Ngài đã được khoa học xác nhận vì thỉnh thoảng họ phát hiện được một
số Hành tinh hệ và Thái dương hệ mới. Rồi 100, 1000 năm, hay vô lượng năm
sau; họ cứ tiếp tục tìm kiếm mãi mà không bao giờ tìm hết được những Thế
giới mà các Ngài đã dạy.
Ðức Quán Thế
Âm, Ðức phổ Hiền, và Ðức Văn Thù Sư Lợi đều là những vị cổ Phật đã xuất
hiện cách đây Na do tha, Hằng hà sa, và vô lượng kiếp. Ðối với các Ngài,
không có thời gian và không gian; không có quá khứ, hiện tại và vị lai.
Thời gian vô thỉ vô chung thì sự trường tồn của các Ngài cũng như thế.
(Xin xem Phẩm Như Lai thọ mạng trong bài tới).
Nếu tạm lấy
Phật lịch 2,540 làm thời điểm thì các Ngài đã thấy vi trần số Thế giới
cùng hình dạng của nó trên 25 thế kỷ rồi. Lúc đó, các Ngài đâu có những
phương tiện tối tân và hiện đại để quan sát vũ trụ.
Thiên tài
như Albert Einstein đã nói trong Vũ trụ chỉ có độc nhất một Giải Ngân hà.
Thế mà, các Ngài đã nói trong Vũ trụ có vô vàn vô số - hay nói theo nhà
Phật – có Na do tha, Hằng hà sa, Bất khả xưng, Bất khả sổ, Bất khả thuyết
vi trần số Thái dương hệ và Hành tinh hệ.
Như vậy, qúi
vị có đồng ý với tôi ràng Ðức Quán Thế Âm Bồ Tát có phải là bậc đại
Thiên Văn Vật Lý không?
ARISTOLE VÀ ÐỨC PHẬT
(Bốn đại - Bảy đại)
Aristole (*)
nói rằng tất cả vạn vật trong vũ trụ đều được bốn chất căn bản tạo thành:
Ðất, nước, gió. lửa. Những chất này hoạt động nhờ hai lực: Hấp lực khiến
đất và nước chìm xuống, và Tính phiêu bồng khiến gió lửa lên cao.
Aristole cho
rằng người ta có thể chia cắt mãi mãi một vật thành những phần tử nhỏ hơn.
Trái lại, người ta Hy lạp cho rằng Nguyên tử không thể chia cắt được.
Trong bài “Tứ
Ðại Cực Vi”, trang 52, 53, và Câu Xá luận Cương yếu, bản dịch của
Hòa thượng Thích Ðức Niệm nói rằng “Vật chất tức là sắc pháp, bổn chất của
nó do gì tạo thành? Cái tạo thành vật chất gọi là cực vi mà trước ngày
hoặc ra đời, người ta thường gọi là lân trần. Cực vi là đem vật chất phân
tích thành những phần tử nhỏ vi tế không còn phân tích được nữa. Nếu đem
cực vi phân tích nữa thì thành không. Trường hợp này, Phật học gọi là tích
không quán tức quán cái không thể tích ...”
Như vậy, lời
Phật và sự nghiên cứu của người Hy lạp đều giống nhau ở điểm này.
Bốn đại là
gì? Bốn đại (hay Tứ đại) là Ðất, nước, gió, lửa (Ðịa, thủy, hỏa, phong).
Bảy đại kia
là Ðịa đại, Thủy đại, Hỏa đại, Phong đại, Kiến đại, Thức đại và Không đại
(tức Hư không).
Có khi người
ta gọi là Ðại chủng. Ðại nghĩa là chu biến khắp nơi, và
chủng là nương nhau mà chu biến tất cả mọi vật.
Ðối với con
người, Ðất tượng trưng cho xương thịt, Nước cho máu mủ, Gió cho hơi thở,
và Lửa cho sự hô hấp (Combustion lente). Với tâm thức con người được thăng
hoa nên có thêm hai đại nữa là Kiến đại và Thức đại.
Bảy đại là do
Chân thức (Diệu tâm) chuyển thành Hiện thức (Thức Sơ Năng Biến), rồi
chuyển thành bảy đại. (Những danh từ Kiến đại, Thức đại, Chân thức, Diệu
Tâm, Thức Sơ Năng Biến v.v... thuộc về Duy thức học. Nếu nói hết, bài quá
dài. Tôi sẽ trở lại trong một bài khác).
Giờ chúng ta
hãy xét từng đại một.
“Ðịa đại”
(Ðất): Lấy tánh cứng làm thể, lấy sự duy trì làm dụng. Mọi vật đều có sức
đối kháng nhau. Nó hay hổ tương giữ gìn chất thể của nó gọi là tác dụng
địa đại.
Thủy đại
(Nước): là lấy tánh ướt làm thể, lấy nhiếp thủ làm dụng. Sự vật hay hổ
tương tiếp dẫn, cố dịnh, tức là tác dụng của thủy đại.
Hỏa đại
(Lửa): Lấy tánh ấm làm thể, lấy chín làm dụng. Như trái cây, vật chất hay
chín, gạo hay thành cơm. Ðây tức là tác dụng của lửa.
Phong đại
(Gió): Lấy tánh động làm thể, lấy sự tăng giảm nhiều ít làm dụng. Sự vật
hay chuyển động, sanh trưởng, đây tức là tác dụng của phong đại ...
Sự, tánh,
dụng của tứ đại tóm lược như biểu đồ dưới đây:
Sự tứ đại -
đất, nước, gió, lửa - Mắt có thể thấy.
Tánh tứ đại -
cứng, ướt, ấm, động - thực – thân xúc chạm có thể biết.
Dụng tứ đại -
giữ, nhiếp, chín, sanh trưởng ...”
Nếu so sánh
lời của Aristole với lời dạy của Ðức Phật, quí vị sẽ thấy có sự tương đồng
khắng khít.
Aristole:
“Tất cả vạn vật trong vũ trụ đều được bốn chất căn bản tạo thành: Ðất,
nước, gió, lửa.”
Kinh Lăng
Nghiêm, trang 253, Ðức Phật đã giải thích vạn vật trong vũ trụ cùng
được cấu tạo bằng bốn chất: Ðất, nước, gió, lửa.
Aristole:
“Những chất này hoạt động nhờ hai lực: Hấp lực khiến đất và nước chìm
xuống, và Tính phiêu bồng khiến gió lửa lên cao”.
Kinh Lăng
Nghiêm, trang 254, Ðức Phật dạy “Vô minh nghiệp thức đã sinh ra đất,
nước, gió, lửa. Suy theo bốn chỗ ở: Núi, biển, rừng, đất thì công tích của
đất, nước, gió, lửa càng rõ ràng hơn: Lửa xông lên, nước giáng xuống
tạo thành thế giới. Chỗ ướt và thấp làm biển lớn, đó là chỗ chúng sinh
dưới nước. Còn chỗ khô cao hơn thì làm đồi, làm cồn; đó là chổ ở của chúng
sinh trên quả địa cầu ...”
Xem như vậy,
một vị hiền triết ở trời Âu và một bậc Ðại Giác ở trời Á đều nói đúng như
nhau tuy cách xa nhau trên một thế kỷ.
Thế mà có một
số người không đọc và không tin kinh Phật vì họ cho rằng kinh Phật thường
bịa đặt và “tam sao thất bản”. Căn cứ vào sự kiện nói trên, chúng ta thấy
rằng Ðức Phật và kinh Phật đâu có nói những điều hư vọng?
Phật dạy “Thân
người khó đạt, Phật pháp khó tìm”.
Lấy lại được
thân người rất khó nếu chúng ta không giữ ngũ giới. Khi chết, chúng ta sẽ
đầu thai vào bụng con chó, con con heo, con dê, con bò ...
Ngày xưa Thầy
Ðường Tăng phải đi thỉnh kinh bên Tây Trúc gặp bao nỗi gian truân. Một nữ
Phật tử ở nước ngoài nói rằng “Ở Cali nhiều Chùa, nhiều Thầy, nhiều Kinh
sách. Còn ở nơi chúng tôi không Chùa, không Thầy, và có ít Kinh sách. Nếu
có điều kiện, chúng tôi sẽ di cư sang Cali liền”.
Còn như bây
giơ, chúng ta đâu có thiếu điện nước, vì nước đầy rẫy khắp nơi. Tỉ dụ
chúng ta vào sa mạc, nếu đổi vài giọt nước lấy vài lạng vàng, chúng ta sẽ
không chối từ.
Còn ở đây,
nhiều chùa, nhiều thầy, nhiều kinh sách mà chúng ta không thèm đến chùa,
không thèm gặp thầy, không thèm đọc kinh sách chỉ vì không tin kinh Phật,
hay chỉ vì “tam sao thất bản”.
Ðiều này
trong kinh Ðại Bát Niết Bàn gọi là “ma sự”, nghĩa là số người hoài
nghi đó đã bị một sức mạnh vô hình nào đó cản trở không cho theo chánh
pháp của Như Lai mà chỉ nghe theo tà sư, ngoại đạo. Kết quả là khi chết cả
thầy lẫn trò đều đọa địa ngục, phí công cả một đời tu hành.
Cũng có thể,
ở những đời trước, những vị này đã lạc vào thần đạo hay ma đạo. Ðến đời
này, các “đồng chí”" cũ lại tiếp tục o bế người anh em về làm ma dân: Ma
ông, ma bà, ma con, ma cháu ...
Có mấy loại
ma?
Theo cuốn
Niệm Phật Thập Yếu của Hòa thượng Thích Thiền Tâm, trang 198-200, có
ba loại ma: (1) Phiền não ma hay Nội ma, (2) Ngoại ma, và (3) Thiên ma.
Loại thứ nhất
là những thất tình lục dục, tham sân si, tà nghi, mạn kiến ... khiến con
người ta mê muội, tàn ác, điên đảo, và vô luân.
Ngoại ma là
những loài quỉ thần bên ngoài thường hay quấy phá người tu hành. Loại này
lại chia làm ba loại: Bố ma, Ái ma, và Não ma.
Bố ma là loại
ma ưa khủng bố, thường biến thành cọp, sói, rắn, hay những hình ác quỉ
khiến người ta kinh sợ. Ái ma là loài ma khích động lòng ái dục khiến
ngưới ta tham đắm dục lạc. Chúng hóa thành những mỹ nữ lõa lồ, dâng hiến
sơn hào hải vị, có khi hóa thành cha mẹ anh em cho đến thân Phật, Bồ Tát
để khuyến dụ theo chúng. Não ma là loại ma chuyên làm não loạn người tu
hành. Chúng biến thành những loài tinh thú xuất hiện từng giờ, hoặc hóa
thành những loài sâu trùng bò trên thân mình, chui vào lỗ tai, miệng, mũi
... để làm não loạn tinh thần khiến người tu hành phải thối chí. Thiên ma
là loại ma ở cõi Trời Tha Hóa Tự Tại, có phước báo, vui hưởng ngũ trần.
Các hành giả tịnh tu thường bị loại ma này làm não loạn như hiện ra những
hình tướng ghê rợn để khủng bố, hoặc tướng nam nữ xinh đẹp để quyến rũ.
Chúng khiến người ta ham muốn danh lợi thế gian, tính tình thất thường:
Thoạt vui, thoạt buồn, hay cười, ưa ngủ, dễ thương xót, xúc cảm ...
Trang
192-194, tác giả nói về Biện Ma Cảnh, hay Cảnh giới ma mà người niệm Phật
hay tu thiền thường thấy:
1. Những cảnh
không nhân quả không phù hợp như quán tướng này thấy tướng khác, và những
cảnh hiện ra không giống như trong kinh đều là những cảnh ma.
2. Các loài
ma dù có hiện tướng Phật đến đâu, hành giả vẫn cảm thấy xao động, nóng
nảy, không yên.
3. Ánh sáng
của Phật làm cho ta cảm thấy êm dụi, mát mẻ; ánh sáng của ma làm cho ta
chói mắt, bứt rứt, không yên.
4. Lời thuyết
pháp của Phật, Bồ Tát hợp với kinh điển và thuần theo chân lý. Lời của ma
trái với lẽ phải, không đúng như kinh Phật đã dạy.
5. Nếu thấy
những cảnh ma nói trên, nên tụng Bát Nhã Tâm Kinh hoặc trì chú, niệm Phật;
những cảnh ma đó sẽ biến mất.
Ðến đây, tôi
sực nhớ đến một truyện ma giả Phật như sau:
Một nhà tu
hành rất kính phục sư phụ mình vì yên trí sư phụ là Phật. Một hôm ông yêu
cầu sư phụ cho ông thấy sư phụ hiện tướng Phật. Sư phụ đồng ý và dặn rằng
hễ thấy ông hiện tướng Phật thì không được lạy.
Hành giả nhắm
mắt bỗng thấy đức Phật ngồi tòa Sư tử, uy nghi, lẫm liệt. Nhìn kỳ thấy
đúng diện mạo của sư phụ mình. Ông vừa sợ hãi vừa kính phục quên lời sư
phụ dặn vội quỳ xuống vái lạy. Bỗng sư phụ cùng cảnh Phật biến mất.
Tóm lại, muốn
phân biệt chánh pháp và tà đạo, xin đọc lời khuyên sau đây của Trí Giả Ðại
sư Giáo chủ Tông Thiên Thai sáng lập tại núi Thiên Thai bên Tàu, thế kỷ
thứ sáu, như sau:
“Có ba thứ
ngoại đạo:
(1) Chánh
cống ngoại đạo. Họ không dùng bảng hiệu của Phật giáo mà tự dùng bảng
hiệu của họ. Họ cũng tu Thập Thiện, tu thiền, và cũng được lên Trời.
(2) Ngoại
đạo dùng bảng hiệu Phật giáo. Nhưng họ tu theo ngoại đạo. Những người
này có tội đọa địa ngục. Nếu gặp chánh pháp, họ có thể trở lại chánh pháp.
Cũng như đệ tử của Phật như Mục Kiều Liên, Xá Lợi Phất cũng là lãnh tụ
ngoại đạo.
(3) Học
Phật pháp hành ngoại đạo. Họ không biết là ngoại đạo vì họ thông suốt
kinh điển, giảng kinh, thuyết pháp hay lắm! Tín đồ cũng nhiều lắm nên tự
cho mình là hay quá rồi! Thông suốt kinh điển Ðại thừa liễu nghĩa là chánh
pháp rồi còn chê vào đâu? Nhưng mà họ hiểu lầm cái ý của Phật để dạy cho
chúng sanh. Cái đó tội còn nặng hơn ngoại đạo thứ nhì nữa.
Phật gọi
chúng ta là “con trùng sư tử”. Con sư tử chết rồi, các thú khác không dám
lại gần ăn thịt. Khi thịt sư tử thúi rồi sanh ra những con trùng nó ăn
thịt con sư tử chứ những thú khác không dám lại gần để ăn thịt con sư tử.
Loại ngoại
đạo thứ ba là loại tiêu diệt Phật pháp”.(**)
Muốn phân
biệt chánh tà, điều rất giản dị là nên nghe giảng kinh, nghe băng, đọc
kinh sách để thấu hiểu lẽ đạo. Lúc bấy giờ, quí vị sẽ thấy rõ đâu là tà
chánh? Những gì Phật không dạy không nên theo vì Phật đã giác ngộ nên đã
chỉ cho chúng ta con đường tới giác ngộ. Nếu làm khác đi, tu khác đi,
chẳng bao giờ thành công cả.
Phật dạy
“Truyền đăng tục diệm”, nghĩa là mồi đuốc trí huệ của mình vào đuốc trí
huệ của Phật để tự soi đường mà đi. Nếu không đốt đuốc soi đường, chúng ta
sẽ đi trong đêm tối, mà đã đi trong đêm tối, tất nhiên chúng ta phải lạc
vào ma đạo hay thần đạo.
Cửa Phật từ
bi rộng mở: Ưng Cưu Ma La (Vô não) đã giết 999 mạng người, và Dũng Thí tỳ
kheo phạm tội A Ba Di (Sắc và Dâm) mà khi hồi đầu theo Phật cũng đã đắc
quả.
Mục Kiền
Liên, lãnh tụ ngoại đạo, và anh em U Lâu Ca Diếp thờ thần lửa cũng đã
thành Phật.
Tội lỗi,
nghiệp chướng cũng như bóng đêm. Phật dạy “Một căn nhà đen tối một ngày
một đêm, hay đen tối mười ngàn năm, hay một triệu năm; khi đèn đốt lên,
đen tối sẽ hết liền”.
Tôi cũng xin
phép nhắc lại bốn tội địa ngục như sau:
“Phá hoại luật nghi
Phỉ báng Ðại thừa
Cuồng vọng thuyết pháp
Hư thi tín thí”.
Câu cuối cùng
có nghĩa là thọ lãnh sự cúng dàng của bá tánh mà không làm đúng bổn phận
của người tu sĩ.
Xin qúi vị
còn hoài nghi hãy thức tỉnh trở về với chánh pháp của Như Lai.
(*) Nhà hiền
triết Hy lạp (384-322 BC), học trò của Plato, và trợ giáo của A Lịch Sơn
Ðại Ðế (Alexander The Great), đã viết nhiều sách về luận lý, triết lý,
khoa học thiên nhiên, chính trị, và thơ văn.
(**) Trích
băng giảng (Tổ sư Thiền), băng 7, mặt A của Hòa thượng Thích Duy Lực.
---o0o---
Mục Lục
|
Chương I |
Chương
II
Chương
III
|
Chương
IV |
Chương V
---o0o---
Đánh máy vi tính: Chơn Huyền Vân &
Cao Thân
Trình bày: Nhị Tường
Cập nhật :01-06-2003