Trang tiếng Việt

 Trang Nhà Quảng Đức

Trang tiếng Anh

Hội Cựu Sinh Viên 
Cao Cấp Phật Học Khóa III 


...... ... .

 

Số 2

Tháng 12-2003

---o0o---

MỤC LỤC

 

1- Giao từ Ban biên tập

2- Lời đầu nămT. Chơn Phát

3- Nhớ mãi trong tôi Tắc Thiện

4- Tản mạn thời gianTrung An

5- Thiền sư và hoa lan – T. Hải Tín

6- Giá trị nhân sanh Liên Viên

7- Triết học Phật giáo Ấn Ðộ T.Nguyên Tạng

8- Hạnh phúc Phục Liên 

9- Vui cười Trung An 39

10- Một câu nói Như Ngọc

11- Phật giáo học đường.T.Lệ Thọ

12- Việt Nam Phật Quốc tựLiên Ðạt (thơ)

13- Thiền T.Minh Tâm

14- Châm ngôn Như Ngọc 

15- Tâm sự người viễn xứDiệu Tuyết

16- Những cánh thư xuân Tăng, Ni sinh du học

17- Báo cáo hoạt động Như Ngọc

18- Phần phụ lục 
19- Hình sinh hoạt

 

GIAO TỪ  ^

Theo dòng chảy của thời gian vô tận, tháng nối ngày, nối cả những buổi phân ly, hội ngộ. Nên đã có một thời tóc xanh, gót hồng, hoa vàng, phấn trắng – Và cũng đã bao lần ngồi dưới mái hiên để nhớ từng nét mặt thân quen.

“Chư pháp tùng duyên sanh”. Nụ cười trên trang giấy đâu phải tình cờ, vô cớ. Hạt bụi vàng mong manh bay giữa trời tròn là tôi, là ai cũng gồng mình qua những cơn lốc xoáy để giữ một phương hướng thênh thang. Cánh buồm mỏng mảnh giữa con nước mênh mông chảy xiết vẫn không ngơi nghỉ, ra sức chống chèo lên cội nguồn thanh lương thuần tịnh...

Nhớ về bạn, tôi vẽ lên trang giấy này nụ cười của mây trắng. Chỉ nụ cười mây mới có thể gởi khắp mười phương. Ðể ở một nơi nào đó bên trời Tây, đất Bắc, mây đi qua mang theo thông điệp yêu thương, đồng cảm và lời nguyện cầu thành khẩn về sự bình an và thăng hoa kiếp người.

Không chắc, nhưng có thể những dòng chữ quen trong tập sách nhỏ này sẽ là những đóa hoa rất lạ để dâng tặng Thầy, Cô và bằng hữu dưới mái trường xưa... 

Cẩn bút

BAN BIÊN TẬP

 

LỜI ÐẦU NĂM ^

Kính đến quý Pháp lữ

Thế là chúng ta chia tay năm cũ và đón năm mới – Xuân Giáp Thân.

Chắc chư Pháp lữ đều có nhiều niềm vui – Vui trong mùa xuân mới, vui vì thêm một tuổi, vui vì trưởng thành hơn trong Chánh pháp.

Năm Giáp Thân theo tiếng Anh là A YEAR OF THE MONKEY. “Monkey” là con khỉ – vật được đề cập trong nhiều bài pháp của Ðức Phật, nhằm chỉ cho tính phóng túng, bất an từ tâm sanh mà các đệ tử Phật cần phòng hộ. Như vậy, mệnh danh là đệ tử Phật “Monk” thì phải khéo phòng hộ tâm như lời Phật dạy, kẻo “Monkey” làm quấy nhieãu.

“Key” được xem là chìa khóa Bát Chánh đạo và Tam vô lậu học để mở đường chuyển hóa tâm thức, thuần phục tâm thức – im lặng – suy nghiệm – biết lắng nghe và hiểu.

Một năm Giáp Thân – năm của sự tinh tấn không ngừng trên con đường tu tập. Xin gửi đến quý Pháp lữ lời cầu chúc “Tinh tấn”.

Kính bút

Tỳ-kheo Chơn Phát

 

 

NHỚ MÃI TRONG TÔI ^

Qua bốn năm học tại trường Cao cấp Phật học, sau khi tốt nghiệp, huynh đệ chia tay nhau từ đầu năm 1997 đến nay thấm thoát cũng đã 6 năm. Thế nhưng, trong ký ức tôi, những kỷ niệm êm đềm, từng cảnh vật, trường cũ, tình xưa vẫn chưa phai mờ, dù từ ngày ấy đến nay, tôi bận rất nhiều công việc, bổn phận.

Tôi nghĩ đến nguyên nhân làm phát sinh tình cảm cao thượng gắn bó các huynh đệ chúng tôi với nhau. Ðó là tấm chân tình và lòng nhiệt thành của những con người biết trân trọng “Tình người” đã giành cho nhau. Hai năm qua, tôi bị tai nạn, không đến họp mặt ngày Truyền thống hằng năm, nhưng tôi vẫn nhận được ít nhất là một cánh thiệp xuân và hôm nay là lời ngỏ viết bài cho Nội san. Dù bận rộn mấy, dù văn thô ý vụng đến đâu, tôi cũng cố gắng đóng góp để vui cùng huynh đệ.

Cho đến bây giờ, dù mái trường xưa đã thay đổi hẳn: khang trang, đầy đủ tiện nghi và hiện đại hơn trước nhiều, nhưng tôi vẫn nhớ và yêu lắm mái trường cũ kỹ, rêu phong nằm e ấp dưới hàng phượng vĩ. Với cấu trúc đơn sơ, trường đã xuống cấp theo thời gian, thế mà nó vẫn đủ sức chở che cho hơn hai trăm Tăng, Ni sinh khóa III chúng tôi cho đến ngày ra trường.

Tôi không quên được từng khuôn mặt của hơn một trăm huynh đệ lới Ni của chúng tôi qua những nụ cười duyên dáng hiền từ. Những buổi sinh hoạt tươi vui, những tiếng hát trầm bổng réo rắt, hồn nhiên của tuổi học trò. Hình ảnh và lời vàng ngọc của từng vị Giáo thọ sư đã in sâu vào tâm trí chúng tôi, những ấn tượng sâu sắc trong suốt chuỗi ngày học tập.

Tôi nhớ mãi những buổi sinh hoạt dã ngoại tham quan, những ngày Lễ truyền thống của trường, của lớp đã làm chúng tôi  hiểu nhau hơn, dễ cảm thông nhau và thương yêu gắn bó nhau hơn.

Giờ đây, tuy mỗi người mỗi ngã, nhưng thời gian và không gian vẫn không làm nhòa đi bao kỷ niệm êm đềm ấy trong tôi. Dù bao năm phải đối diện với cuộc sống thực tại với bao vui buồn lẫn lộn, nhưng chỉ một phút hồi tưởng là cả một thế giới thần tiên của tuổi học trò của chúng tôi hiện về đầy đủ. Nó là những viên gạch lát tường, là nhịp cầu dẫn chúng tôi từ tuổi dại khờ, từng bước trưởng thành để thẳng tiến và thế giới của những người thực sự sống vì lý tưởng giải thoát cho chính mình và cho tha nhân. Dần dần quên đi cái ta nhỏ bé để hòa nhập, san xẻ, xoa dịu bao thống khổ của những người chưa đủ duyên lành để giác ngộ. Dưới mái ấm Trường Cao cấp Phật học tại Thiền viện Vạn Hạnh, chúng tôi đã được rèn luyện, đào tạo thành những đứa con yêu của Giáo hội.

Tôi tiếc lắm, bốn năm trôi qua nhanh quá, để giờ này, chúng tôi mỗi đứa mỗi nơi, phải lo cho bổn phận của chính mình, không còn được ấp ủ, yêu thương đùm bọc như lúc còn ngồi ghế nhà trường. Giờ đây, theo nhu cầu, nguyện vọng, lý tưởng riêng, không biết bao giờ tôi và các huynh đệ có được một lần họp mặt đông đủ như ngày xưa nữa ! Tôi bồi hồi nuối tiếc thật sự.

Thôi thì, dù kỷ niệm đẹp mấy, nhưng đã là con Phật, chúng tôi phải sống đúng Chánh pháp. Tôi nhớ bài kinh “Nhất Dạ Hiền”:

“Quá khứ không truy tầm

Tương lai không ước vọng

Quá khứ đã đoạn tận

Tương lai lại chưa đến

Chỉ có pháp hiện tại

Tuệ quán chính là đây

Không động, không rung chuyển

Biết vậy nên tu tập.

Hôm nay nhiệt tâm làm

Ðâu biết chết ngày mai

Không ai điều đình được

Với đại quân thần chết

Trú như vậy nhiệt tâm

Ðêm ngày không mệt mỏi

Xứng gọi Nhất Dạ Hiền

Bậc yên tịnh trầm lặng”.

Ðời sống tâm linh thật diệu kỳ

“Vui thay chúng ta sống

Không rộn giữa rộn ràng

Giữa những người bận rộn

Ta sống không rộn ràng”.

Tôi muốn sống theo tinh thần bản kinh ấy. Và như vậy, không có nghĩa là chúng tôi bỏ quên đi tình bạn cao quý mà chính là vì thật sự muốn báo ân Phật, báo bốn ân lớn, trong đó có ân của tất cả mọi người mà tôi đã thọ, dù chỉ là một ánh mắt, một nụ cười, cho đến những lời giáo huấn cao sâu đầy ý nghĩa trong chiếc nôi tại Thiền viện Vạn Hạnh ấy.

Quên đi dĩ vãng, cũng chính là góp phần làm cho đời sống tâm linh của chúng ta ngày một thăng hoa. Có thế chúng ta mới thật sự sống đời sống tu sĩ có ý nghĩa. Ðời sống tinh thần càng phong phú sẽ nâng cao giá trị con người nổi bật giữa hội chúng. Vật chất phù hoa giữa cuộc sống văn minh, những học hàm, địa vị không hẳn sẽ đưa ta đến trạng thái an lạc, giải thoát hoàn toàn, mà chỉ là phương tiện. Chính đời sống hằng tỉnh thức là suối nguồn làm phát sinh, phát triển bao điều thiện và hạn chế những điều xấu ác. Ðó là nguyên nhân chính hướng ta đến vô ngã, vị tha – giác ngộ, giải thoát. Làm được như vậy là thật sự báo Tứ trọng ân và xứng đáng với các bậc Tôn túc – Giáo sư đã dày công giáo dưỡng chúng ta suốt chặng đường dài bốn năm ấy. 

Tỳ-kheo-ni Tắc Thiện 

 

TẢN MẠN THỜI GIAN ^

Thời gian là diệu dược

Xóa dần bao khổ đau

Thời gian là dao nhọn

Xoáy vào hồn thương đau

Thời gian không biết nói

Nhưng quá đỗi nhiệm mầu

Thời gian không biết khóc

Sao rướm lệ...  sầu mau !

Thời gian người con Phật

Những giây phút tâm bình

Thời gian đầy an lạc

Khi thực nghiệm tâm linh. 

Thời gian... như bóng câu qua cửa sổ, vút đến, thoắt đi. Thời gian... như gió ngàn bạt đỉnh, như mảnh trăng non trơ vơ trên ngọn ngô đồng thưa lá. Ngày tháng trôi đi như con rắn trườn đi, như con rắn đang chui vào lỗ, làm sao bắt nó lại ? nắm lấy đuôi ư ? cũng bằng vô dụng !

“Nhất thốn quang âm, nhất thốn kim” mà “Thốn kim nan mại thốn quang âm” (Một tấc thời gian một tấc vàng, tấc vàng khó mua tấc thời gian). Từ đó, cho ta thấy rằng, giữa những mỏi mòn tiêu tao của tuế nguyệt, cái hoài vọng về thời gian... xa xôi đó của con người quả là bi ai và khắc nghiệt.

Cố nhân thích thiên lý

Lâm biệt thượng trì trì

Nhân hành do khả phục

Tuế hành nan khả truy.

Thời gian như mũi tên bắn thẳng ra phía trước, mũi tên bắn đi không cách nào quay đầu trở lại;

Thời gian... đi... và đi mất. Bên này là dòng chuyển lưu cuồn cuộn cứ mải trôi đi và bên kia là một chân trời đồng vọng không có đến.

Thời gian – đến và đi như chưa từng có. Nhân duyên kiếp người – có như chưa từng đến và đi. Trong một thuở của nghìn năm, trong thoáng chốc, trong nháy mắt, trong một khảy móng tay, ... đã trở thành không trong vĩnh cửu. Dấu vết một thời sẽ không còn thấy đâu đây nữa, nỗi cô đơn sẽ như cánh hạc gầy lẻ loi, cao vút, tung cánh trong nắng quái cuộc đời. Cánh hạc sẽ bay bổng mù khơi, còn kể gì đến những dấu chân trên cát.

Thời gian quý báu như vàng bạc, song cũng đáng sợ như ma quỷ. Nó gắn liền với sự sống của con người ta, gặm nhấm sự sống như con chuột đen ở đầu dây sinh tử...

Sáng mới SINH pha lê trong ướm ngực

Trưa đìu hiu LÃO khập khễnh xuôi về

Chiều lạnh lùng sóng sượt BỆNH đê mê

Ðêm đơn độc TỬ thần về trăn trối,

khiến người ta cảm thấy thời gian ngắn ngủi, khiến người ta thức tỉnh, lòng dâng đầy nỗi sợ sệt, bi ai và phiền muộn chừng như chẳng thể gỡ ra được. Nó khiến người ta không thể không suy nghĩ về cái đoạn đường bên kia cuộc sống – Say sưa, mộng mị về sinh tử, sao có thể gỡ ra được những lo âu, hồ nghi về sống chết nhỉ ?

Buổi sớm – bởi có màu đen của đêm ở bên mà càng thêm chói sáng. Sự sống – bởi có sự uy hiếp của cái chết mà càng thêm đáng quý.

Thời gian của người con Phật là sự tĩnh lặng thực tại của tâm thái. “Tâm bình thế giới bình”. Sự an lạc thật sự của nội tâm là khi chúng ta biết sống từng giờ, từng phút khi mà quá khứ trở thành hiện tại và hiện tại chính là tương lai, hoàn toàn không bám víu, ràng buộc hay vướng mắc vào đâu cả. Chính từ sự tĩnh lặng ấy, chúng ta mới cảm nhận được sự rung cảm kỳ diệu từ mạch nguồn tâm linh đang trôi chảy trong dòng tương tục của chánh niệm và tĩnh giác.

Thạch Lan

Thích Huệ Quang (Trung An)

 

 

THIỀN SƯ VÀ HOA LAN ^

Có một vị Thiền sư rất thích hoa lan. Ngài trồng rất nhiều loại lan quý. Ngoài thời gian niệm kinh, thuyết pháp ra Ngài luôn chăm sóc lan, Ngài yêu nó như thân mạng của mình vậy.

Một ngày nọ, Thiền sư có công việc phải đi ra ngoài. Ngài dặn dò các đệ tử ở nhà chăm sóc lan. Khi tưới lan, có một đệ tử vì bất cẩn làm gẫy giá đỡ lan, tất cả những chậu lan quý đều rơi xuống đất, hoa và cành đều bị gẫy hết. Vị đệ tử này nghĩ rằng: Chốc nữa Sư phụ về thấy cảnh những chậu hoa quý bị như vậy, không biết Ngài tức giận đến mức nào?!

Khi vị Thiền sư trở về, người đệ tử làm đổ lan liền quỳ trước mặt Ngài, cầu xin Sư phụ tha thứ. Nhưng vị Thiền sư hoàn toàn không tức giận mà còn an ủi đệ tử rằng: “Ta trồng lan là vì muốn lấy hoa cúng Phật, đồng thời làm đẹp cảnh chùa, hoàn toàn không phải tức giận mà trồng”.

Câu nói Thiền: “Không phải tức giận mà trồng” thực kỳ diệu làm sao! Thử xem trong cuộc đời này còn có cái gì đáng tức giận nữa? Khi vợ chồng sống với nhau, khó tránh khỏi lời qua tiếng lại, tranh chấp với nhau. Giả như có thể bắt chước câu nói Thiền, là vợ chồng thì phải luôn hết lòng yêu thương nhau, không phải vì tức giận thì có thể biến những can qua thành ngọc lụa. Kết bạn cũng như vậy, bạn bè thì phải giúp đỡ lẫn nhau, không phải kết bạn để hiểu lầm rồi tức giận nhau, mà phải hòa hợp với nhau.

Khi con cái không ngoan ngoãn, chúng ta cũng phải thay đổi suy nghĩ. Sanh con là giáo dục chúng sau này lớn lên cống hiến đời mình cho xã hội, quốc gia, chớ không phải vì tức giận mà sinh dưỡng. Có như thế, mới có thể yêu thương mà dạy con cái.

Chúng ta đến thế giới này làm người là vì vui vẻ mà đến, chớ không phải vì buồn phiền, tức giận mà đến, cho nên chính mình phải tạo niềm vui để sống. Nếu niềm vui của chúng ta hoàn toàn dựa vào người khác, chờ người khác đem niềm vui đến cho chúng ta, như vậy là không được.

Cho nên nói, trong tâm có Phật, trong tâm có niềm vui; cuộc sống có thiền, cuộc sống có niềm vui. Vì thế, những hành vi, hành động hằng ngày của mỗi người chúng ta, dù cuộc sống có khác nhau, khi gặp những điều bất như ý như: thất vọng, thất bại, khó khăn... chỉ cần chúng ta nghĩ đến câu nói của Thiền sư: “Tôi không phải vì tức giận (mà làm cái gì đó)!”. Như vậy, cuộc sống trong đời này không phải rất vui đó sao?

THÍCH HẢI TÍN

 

GIÁ TRỊ NHÂN SANH ^

 Nhân loại vốn được mệnh danh là “vạn vật chí linh”. Trong các loài động vật, con người quả thực là loài thông minh nhất. Nhưng có rất nhiều người không biết tận dụng cái thông minh của mình nghiên cứu, tìm hiểu con người sanh tồn trên thế gian này để làm gì? Nếu như mỗi người có thể tự mình nhín chút thời gian, lợi dụng cái thông minh của mình nghiên cứu Phật học, thì người đó sẽ tìm thấy đáp án như ý về vấn đề này trong Phật học.

Trong cuộc sống, sau khi con người sanh ra đã bắt đầu “bận rộn”, và cứ tất bật với ảo ảnh công danh, cặm cụi cùng sương mai phú quý như vậy cho đến già, đến chết. Thân người này từ đâu đến? Chết rồi đi về đâu? Tuyệt đại đa số con người đều không có thời gian chú ý đến nó, Chỉ cứ quanh quẩn bận rộn, tất bật, cặm cụi sống cho hết kiếp mà thôi. Có một triết học gia đối với kiếp người rối động này đã đưa ra 1 ví dụ rất ly kỳ. Ông ta nói: Có 2 ngọn núi hùng vĩ đối diện nhau. Chính giữa hai ngọn núi này có một dòng sông sâu thẳm, nước chảy cuồn cuộn. Phía trên có 1 chiếc cầu vừa nhỏ vừa dài nối liền hai ngọn núi. Con người muốn đi từ núi bên này sang ngọn núi bên kia, nhất định phải đi qua chiếc cầu này. Vì đây là phương tiện giao thông duy nhất giữa hai ngọn núi. Người đứng trên cầu dõi mắt nhìn ngọn núi phía trước thì chỉ thấy mây mù dày đặc, hướng vọng về ngọn núi phía sau thì cũng thấy dày đặc mây mù. Ngó xuống dưới thì sâu hun hút. Có một số người vừa đi được vài bước liền bị té xuống vực sâu; có người đi được đến giữa cầu thì bị rớt xuống dưới; có người rất thận trọng đến được bên kia đầu cầu, nhưng vừa bước chân đến vách núi thì sức đã kiệt vì sự vất vả mệt nhọc, cuối cùng cũng rơi lọt xuống vực sâu thăm thẳm. Như vậy những người rớt xuống kia, họ đã rơi vào đâu? Ai ai cũng đều không biết. Ví dụ linh động này thật sự đã miêu tả được cuộc sống bận rộn, mù mịt của kiếp người .

Việc nghiên cứu Phật học chính là tìm ra một nhận thức chính xác cho bài toán nhân sinh điên đảo này. Giống như một chiếc thuyền ra khơi, nếu như nó một mạch hướng về một phương buông mái chèo thì nó nhất định sẽ cập vào bờ. Cũng là một chiếc thuyền nhưng nếu vô phương hướng, không mục tiêu, cứ lênh đênh trôi dạt trên biển cả, cuối cùng việc nguy hiểm nhất định sẽ đến với nó. Trong quá trình học Phật, Chúng ta như những thủy thủ trên tàu phải dùng tri thức có được của mình điều khiển, lèo lái như thế nào để con tàu nhân sinh này hướng về một phương, như vậy mới có thể an toàn bước chân lên bến bờ bình yên.

Rất nhiều người đối với giá trị hàng hóa trên thương trường cực kỳ tinh thông Nhưng đối với giá trị nhân sinh tối quan trọng này thì lại mù tịt, hoàn toàn không hiểu biết gì hết. Ðiều này có thể nói đây là kẻ “ bỏ gốc tìm ngọn, bỏ gần tìm xa”.

Kiếp sống con người này có giá trị như thế nào? Như chúng ta biết, nhân loại trong vũ trụ luôn ở trong vị trí chủ động. Thế gian này rối loạn hay an ninh, nhân sinh hạnh phúc hay đau khổ, đều do một tay con người tạo thành cả. Do con người có quyền chủ động như thế cho nên mới đủ sức quyết định hướng cuộc sống của mình vào đúng phương hướng đúng mục tiêu giải thoát.

Như vậy, thế nào gọi là hướng đúng đường, đi đúng mục tiêu? Ðầu tiên là hướng thượng; thứ hai là hướng đến điều tốt lành. Hướng thượng là nhìn về phía trước cao thượng; Hướng đến điều tốt lành nghĩa là học tập, noi theo gương hiền lành, lương thiện. Người bình thường cho rằng điều tốt lành của nhân sanh là sức khoẻ dồi dào, có quyền có thế, có cuộc sống gia đình sung túc, con cháu đầy nhà. Bạc tiền đầy kho. Ðứng về mặt thế gian thì những điều này tất nhiên là tốt, chúng ta không thể phủ nhận được. Nhưng các vị cần nên biết, đây chỉ là một kết quả tốt, nó hoàn toàn không phải là nguyên nhân tốt. Chúng ta cần phải trồng nhân tốt mới có được kết quả thiện lương. Muốn vậy chúng ta cần phải gieo trồng vào miếng ruộng phước điền của mình những hạt giống bồ đề, đó chính là tu tập thập thiện, thọ trì tam quy ngũ giới, làm nhiều việc thiện lành, bồi đắp nhân lương thiện. Như vậy chúng ta mới có được cuộc sống an lành trong hiện tại, mới bảo đảm nắm vững được xu hướng giải thoát ngay trong hiện tại của mình.

Vậy làm sao để được hướng về mục đích cao thượng? Trên thế giới này, từ khi bắt đầu trang lịch sử đến nay, người có kiến thức cao sâu, đạo hạnh cao thượng, sự lý dung thông không ai vượt khỏi Ðức Phật Thích Ca. Ngài vì hạnh phúc của nhân loại đã hy sinh địa vị, hoàng cung, vợ đẹp con xinh một thân một mình nửa đêm vượt thành xuất gia. Sau khi tìm ra được chân lý giác ngộ cho nhân sanh vũ trụ, Ngài đã vạch rõ thật tướng của nhân sanh, chỉ ra con đường giác ngộ để nhân sanh tu hành, luận giải rõ ràng nguyên lý nhân loại từ đâu đến và sau khi đi chết về đâu. Ngài vì thế giới này của chúng ta mà điểm sáng lên hào quang muôn trượng. Phật là bậc đại giác ngộ “tự giác giác tha giác hạnh viên mãn”. Ngài là bậc được sùng kính vĩ đại nhất trong cõi nhân sinh này. Chúng ta cần phải noi theo Ngài hướng về Ngài mà tu trì, Hướng về Ðức phật vĩ đại mà học tập. Như vậy mới được gọi là hướng thượng.

Cũng có người cho rằng: Phật quá vĩ đại, thánh cách quá cao quý, chúng ta là người phàm làm sao học tập theo Phật được? Thưa quý vị, nếu như thật sự có người nghĩ như vậy, nghĩa là họ tự coi thường bản thân mình, tự đánh giá thấp giá trị làm người của mình. Vừa rồi tôi đã nói, con người trong vũ trụ này là động lực chủ động, con người hạnh phúc hay đau khổ đều do con người làm chủ. Chúng ta thấy, Ðức Phật cũng là một con người bình thường như bao con người khác, Ngài chỉ dựa vào lực lượng chủ động của thân người này mà không ngừng tịnh hoá bản thân, lắng trong vọng niệm, nỗ lực tu trì. Như vậy, Phật là do người thành thôi. Trong kinh có câu: “Bỉ ký trượng phu, ngã diệc nhĩ” thế thì tại sao chúng ta không hướng về Phật, noi theo công hạnh Phật tu tập?

Tóm lại, việc tu học của chúng ta cần phải có một mục tiêu lý tưởng. Cổ nhân có nói: “thủ pháp hồ thượng, cận đắc kỳ trung; thủ pháp hồ trung, tắc đắc kỳ hạ” có nghĩa là: học tập pháp cao thượng thì sẽ đắc được đạo bậc trung; nếu như học tập pháp bậc trung thì sở đắc thuộc về bậc hạ. Thế nên, trong quá trình tu học, chúng ta nhất định phải lựa chọn mục đích học tập cao thượng vĩ đại.

LIÊN VIÊN

 

 

 HẠNH PHÚC ^

Tỳ-kheo-ni Phục Liên

Hạnh phúc là một nhu cầu thiết yếu mà con người ai cũng luôn tìm kiếm. Người ta có thể thiếu cơm ăn, áo mặc nhưng không thể thiếu hạnh phúc. Vậy hạnh phúc là gì ? Tìm nó ở đâu ?

Tiền bạc là hạnh phúc ? Những người trong túi trống rỗng có thể nghĩ như thế “Tiền là Tiên là Phật, là sức bật của con người”, “Có tiền mua Tiên cũng được”. Không hoàn toàn như thế ! Sau lần điều tra trên một ngàn cự phú ở Mỹ, người ta phát hiện rằng: đại đa số những người giàu có trên đều ở và trạng thái phiền muộn, khổ sở. Cùng lúc với việc mọi người cứ ngỡ họ đang “sống trong hạnh phúc” thì chính là lúc họ đang cố gắng hết sức lao vào việc truy tìm, hưởng thụ để bù đắp lại sự trống vắng về tinh thần.

Ðịa vị là hạnh phúc ư ? Những người chức vụ thấp hèn có thể nghĩ như thế. Tổng thống, Quốc vương, Thủ tướng của Tây phương tựa như là hóa thân của quyền lực và giàu sang, họ có thể tận hưởng và làm bất cứ việc gì. Thế nhưng sự khổ não của những nhân vật quyền lực tột đỉnh này lại ít có người biết đến. Bà Thủ tướng Gandhi Ấn Ðộ hằng ngày tiếp xúc rất nhiều người, nhưng Bà vẫn thường than thở: “Làm cái nghề chính trị này thường buồn tẻ và cô độc quá”.

Danh dự, sự quý trọng là hạnh phúc ư ? Các minh tinh màn bạc nổi tiếng đều có chung một tâm trạng là họ chưa bao giờ được đi dạo trên các đường phố một cách thoải mái. Bởi vì họ sợ khán giả hâm mộ nhận ra, không chen lấn đến chết là may.

Sắc đẹp là hạnh phúc chăng ? Người xưa thường nói “Hồng nhan bạc phận”. Trên thực tế cho ta thấy, từ xưa đến nay bi kịch của các mỹ nhân cũng vô số. Cuộc sống đời thường của họ thật trắc trở.

Ðến đây, có người sẽ hỏi: Tiền bạc, địa vị, danh dự, sự quý trọng đã không chắc chắn mang đến hạnh phúc. Thế thì, rốt cuộc cái gì là hạnh phúc ?

Hạnh phúc không thể tìm thấy từ bên ngoài. Thật vậy, tiền bạc, địa vị, danh dự, sắc đẹp... nếu hạnh phúc tùy thuộc vào những thứ ấy, nó sẽ chóng sụp đổ. Tiền bạc thì mau qua; thành công thì không dễ gặp; danh vọng chỉ là quan điểm của người khác; vận may có thể tan biến. Sự phản bội, bất trung và quên lãng thường gây thất vọng đến những ai xây đắp hạnh phúc mình trên tình cảm của người khác. Tục ngữ phương Ðông có câu: “Ðừng dựa vào bức tường, bức tường sẽ đổ. Ðừng dựa vào cành cây, cành cây sẽ gãy. Ðừng dựa vào con người, con người sẽ chết”.

Hạnh phúc là một trạng thái tâm linh, nên nó nằm bên trong chúng ta, trong tâm hồn tĩnh lặng và trong sáng của chúng ta.

Hạnh phúc không giống với những khoái lạc ích kỷ riêng tư mà nó ẩn chứa trong sự hy sinh và cống hiến.

Ðiều đáng chú ý, một hạnh phúc thật hoàn hảo không thể có trên thế gian này. Cuộc sống của nhân sinh luôn bị pha trộn trong vui buồn, sướng khổ. Do đó, hạnh phúc thật sự chỉ có mặt trong sự bằng lòng với hoàn cảnh của chính mình, với những thăng trầm trong cuộc sống.

 

VUI CƯỜI ^

Thầy giáo: Ðiệu Minh, trò giải thích cho Thầy câu này: “Có bạn từ phương xa đến, chẳng phải là vui sao ?”

Ðiệu Minh: Thưa Thầy, Khổng Tử nói câu này sai rồi, đáng lẽ phải nói là: “Có bạn từ phương xa đến, chẳng phải là thê thảm sao !”

Thầy giáo (tức giận): Trò giải thích ngay câu đó cho tôi xem !

Ðiệu Minh: Dạ, tại vì khi bạn tới chơi, ta tất phải tốn tiền mua đồ đãi bạn ạ. Chẳng phải là thê thảm sao ? !

Thầy giáo: Trời !!!

 

KẺ ÐÁNG THƯƠNG

Sư phụ dẫn Tiểu Minh đi tham bái Phật Tích Tòng Lâm. Tới một nơi phong cảnh hữu tình, non nước nên thơ, xa xa có một họa sĩ đang ngồi bên bờ sông vẽ tranh.

Sư phụ và Tiểu Minh mới đến sau lưng người đó đứng xem một hồi, chỉ thấy ông họa sĩ động tay nhất bút vẽ rất ít mà thời gian trầm tư suy nghĩ lại nhiều;

Ðột nhiên, Tiểu Minh quay lại nói với Sư phụ:

“Sư phụ thấy hông, người hổng  có máy chụp hình thiệt là tội nghiệp quá đi!”

Sư phụ: ??!!??

 

NHẪN NẠI

Trong giờ đạo đức, thầy viết lên bảng đen hai chữ  “Nhẫn nại”.

Thầy giáo: Hôm nay, chúng ta học ý nghĩa của chữ “Nhẫn nại”. Nào, bây giờ các trò nghe đây. Một khi chúng ta cố sức chịu đựng những sự đau khổ nhất. Ðó gọi là ý nghĩa của Nhẫn nại.

Ðiệu B: Thưa Thầy, con cũng có kinh nghiệm về sự nhẫn nại ạ !

Thầy giáo: Tốt lắm, trò kể ra cho các bạn cùng học hỏi xem !

Ðiệu B hớn hở: Da, hôm bữa đó, con bị nhức răng dữ dội, mà con vẫn cố nhẫn nại  chịu đựng để ăn cho hết gói bánh ạ.

Thầy giáo: !!??!!

KHÔNG LỜI

Trong giờ học cứu thương.

Thầy giáo: Ðiệu A, con nói cho Thầy biết, khi vào núi, lỡ gặp rắn mắt kính thì việc đầu tiên phải làm là như thế nào ?

Ðiệu A (đang lơ mơ, bừng dậy) dõng dạc nói: Dạ, việc đầu tiên cần làm là phải lập tức đập bể mắt kiếng của nó, cho nó hết thấy đường đi. Sau đó, mình... co giò chạy ạ!

Cả lớp: Ha ha... Hi hi... hê hê hê...

Thạch Lan – Thích Huệ Quang

 

MỘT CÂU NÓI ^

Mỗi con người trong quá trình trưởng thành, có khi chỉ do một câu nói của người thân, bạn bè, thầy tổ, cha mẹ mà có thể làm thay đổi cả cuộc đời.

Nhan Thâm, một đệ tử của Khổng Tử, người tuy thông minh nhưng không chịu lập chí. Về sau, chỉ vì một câu nói của Khổng Từ: “Ông không chịu khổ học. Từ nay, ta cũng không hy vọng ông có thể trở nên người có tài lớn”, Nhan Thâm vì câu nói này kích động, lập tức đóng cửa từ khách, phát tâm khổ học. Rốt cuộc đạt được thành công trong số ba ngàn đệ tử.

Vào đời Ðường, Thiền sư Ðơn Hà vốn là một sĩ tử. Trên đường lên kinh đô ứng thí, gặp một vị xuất gia nói với Ngài rằng: “Chọn quan, không bằng chọn Phật”. Ngay lúc đó, Ngài thay đổi chủ ý, đến chùa xuất gia, tham thiền mà trở thành vị Cao tăng ngộ đạo một thời.

Vì một câu nói, có người tích cực hướng thượng, quyết vươn lên sự hùng cường; có người thì sa sút bạc nhược, cam chịu thụt lùi. Cho nên, một câu nói có thể khiến người thành công, cũng có thể khiến người thất bại.

Cha mẹ của một gia đình nọ, giới thiệu con gái mình với khách tới chơi rằng: “Con nhỏ này không có tương lai, không làm được việc gì cả”. Không ngờ, cô bé sau khi nghe được câu này, liền nghĩ: “Ðược, mẹ đã nói mình không có tương lai, không làm được việc gì. Mình là một con nhỏ hư, mình sẽ hư cho họ thấy”.

Có một Thầy giáo trong trường chỉ một em học sinh bảo: “Em lười biếng như vậy, không giống người có học thức mà lại giống kẻ lưu manh”. Em học sinh nghe rồi, nghĩ thầm: “Tốt thôi, Thầy đã cho tôi là thằng lưu manh. Tôi sẽ làm thằng lưu manh cho Thầy thấy”. Từ đó, em này đã sống những tháng ngày phóng túng, bỏ trôi thời gian.

Cũng đồng một câu nói, có người cho là giáo dục, thì đây là sự khích lệ. Có người thì cảm thấy bị xúc phạm, từ đó một là không làm, hai là làm không ngừng. Ví dụ: có người nói với chúng ta “Sao bạn không nói những lời tốt đẹp?”. Có người nghe rồi, liền tự nhắc nhở mình nói lời hay. Có người nghe lại nghĩ: “Tui sẽ nói lời xấu cho ông nghe”. Thầy giáo mắng học sinh: “Các em thật ngu dốt !”. Có em sẽ quyết tâm học thật giỏi, không muốn làm kẻ ngu. Nhưng có em lại nghĩ: “Tui là đứa ngu, thì tui sẽ ngu cho Thầy xem”.

Cũng đồng một câu nói, âm điệu khác nhau thì kết quả cũng khác nhau. Do đó, cha mẹ, thầy cô khi nói chuyện với con em của mình, cần rất lưu tâm, chú ý đến hậu quả. Cửa chùa có rất nhiều học sinh, chính là cũng nhờ một câu nói mà được khai ngộ. Nhà Nho cũng có những câu nói khích lệ đệ tử mà thành tựu cả một đời học tập.

Có một người địa vị cao trong xã hội, bị vợ ép quy y Phật pháp, muốn ông lễ bái. Ông vô cùng khó chịu, gần như muốn trở thành kẻ phản đồ. Một vị Tăng đứng bên cạnh bảo: “Làm Phật là tốt rồi, không nhất thiết phải lễ Phật”. Ông ta nghe câu này rất vui, cho rằng làm Phật thì mình làm được. Do đó, về sau liền trở thành một vị Ðại hộ pháp trong Phật giáo.

Lại có một vị Giáo sư, có người khuyên ông ta tham gia cứu trợ thiên tai, ông ta tiếc tiền, không chịu bỏ ra đồng nào, còn la to: “Người nào tôi cũng không giúp”. Một vị Tăng vừa nghe, liền nói: “Chẳng lẽ muốn người bị thiên tai tới cứu ông à?”. Nghe câu này, vị Giáo sư như bị một gậy vào đầu, như người trong mộng tỉnh lại. Về sau trở thành một phần tử tri thức luôn hoan hỉ làm các việc từ thiện.

Mọi người cần biết một câu nói của mình có ảnh hưởng rất lớn đến người khác, thường khơi gợi trí tưởng tượng. Vì thế, khi thốt ra lời nói cần nên suy nghĩ cẩn thận.

Như Ngọc, dịch từ Internet. 

 

PHẬT GIÁO HỌC ÐƯỜNG ^

Ngày nay trái đất dường như được thu hẹp bởi sự thông minh và tài năng của con người qua các thông tin nhanh, những thành tựu khoa học, từ đó tạo ra cho con người nhân cách sống, không còn nhiều tư thù, ích kỷ, thỏa mãn tham vọng cá nhân..., những thứ đó được đổi lại bằng sự thông cảm và hiểu biết lẫn nhau hơn. Qua đó, xu hướng xích lại gần nhau bằng lối đi chung cho cả thế giới là toàn cầu hóa, mục đích cũng không ngoài việc đề cao nhân bản, không phân chia màu da hay sắc tộc. Luận cứ đó cho thấy rằng từ ý tưởng cho đến quan niệm về con người khá tương đồng với giáo lý của đạo Phật, con người là quan trọng, chỉ cần “giáo dục” thì nhân tính đó sẽ được thăng hoa vì Phật tính đã có sẵn.

I- GIÁO DỤC PHẬT GIÁO:

1- Giáo dục truyền thống.

Thời kỳ truyền giáo của Ðức Phật được các nhà Nhân chủng, Lịch sử và Giáo dục học thông qua sự nhận định của Kritnamoti: “Ngài đã dùng Ða nguyên luận, dựa trên căn bản chất tố của con người mà khai triển ngũ uẩn, mười hai xứ và mười tám giới, giúp cho con người nhận ra được giá trị tuyệt đối nhân tính hay thực tại như một vị Ðại y vương tùy bệnh mà cho thuốc”. Vì thế, mãi đến mười hai năm sau, Giới luật mới được đề cập và những quy định khác cũng được nêu ra... để phục vụ cho sự nghiệp làm giáo dục.

Ðiều đó cho chúng ta thấy rằng: Ðức Phật là một nhà Giáo dục vĩ đại của nhân loại. Thông qua Giáo lý của Ngài, người ta nhận ra được điều lý thú là nhân tính của mỗi cá nhân giống như “quặng mỏ” nếu được hướng dẫn và sống đúng thì nhân cách, ý tưởng và trí tuệ được thay đổi mà con người ít khi nghĩ đến. Vì thấy được giá trị vô song đó, nên các vị Thánh tăng đã tiếp nối ý tưởng “truyền đăng tục diệm” cho đến ngày nay. Tuy nhiên, trên bước đường hội nhập thì Phật giáo đã uyển chuyển theo hình thức vốn sẵn có của mỗi nơi như văn hóa, phong tục tập quán của địa phương đó, nhưng nội dung vẫn được tuyệt đối trân trọng. Phật giáo Việt Nam cũng không đứng ngoài nguyên tắc đó.

2- Giáo dục chuyển tiếp:

Hội nghị Phật giáo thế giới lần thứ nhất vào ngày 25-5-1950 đến 08-6-1950 có 26 nước tham dự. Phái đoàn Phật giáo Việt Nam do Hòa thượng Tố Liên, Trụ trì chùa Quán Sứ – Hà Nội làm đại biểu. Sau lần góp tiếng nói chung đó đã làm tiền đề cho các vị danh Tăng Việt Nam thêm nhiều sáng tạo trong cuộc cách tân Giáo đoàn ở 3 điểm chính yếu: Giáo lý, Giáo chế và Giáo sản. Tư tưởng đó được hầu hết Tăng, Ni và quần chúng Phật tử trong nước hưởng ứng, vì nó đã mang lại một luồng sinh khí mới cho nhận thức. Nhân nơi sự cách tân đó mà bộ Giáo án Phật học Phổ thông đầu tiên của Phật giáo Việt Nam ra đời đáp ứng cho nhu cầu thực tế. Từ đó, giáo lý được phổ cập rộng rãi ở nhiều thành thị, qua sự chuyển tiếp ngôn ngữ từ âm Hán-Việt sang tiếng Việt nên ý nghĩa của giáo lý trở nên khúc chiết, gãy gọn và rõ ràng hơn. Tuy nhiên, 60 năm trôi qua ngôn ngữ đó giờ đây vẫn chưa thể khẳng định ưu thế của mình trong công tác giảng dạy cho Tăng, Ni và Phật tử mà đặc biệt là phong cách truyền đạt thiếu tính chuyên môn trong sư phạm để đáp ứng cho nhu cầu tiếp thu kiến thức hiện đại.

II- GIÁO DỤC TỔNG THỂ:

Thiết nghĩ, ngày nay đất nước đang gia tăng phát triển để hội nhập thế giới về mọi mặt thì trong giới Phật giáo cũng phải bắt nhịp cùng chủ trương mới chứ không thể “thụ động” ứng dụng những thành quả đã qua của các vị tiền nhân.

Tinh thần khế lý, khế cơ của Phật giáo có thể nói “trên cả tuyệt vời”. Nó đáp ứng được mọi thời đại, như bản chất của gạo là cung cấp nguồn dinh dưỡng cho sự sống, cho nên con người đã khéo léo lấy tinh bột của nó làm ra nhiều hình thức khác nhau để đáp ứng cho như cầu chứ không cục bộ chỉ biết nấu thành cơm mà thôi ! Vì thế, trong tương lai gần, đất nước việt Nam sẽ đi vào công nghiệp hóa thì chắc chắn cách ứng dụng giáo lý cũng phải phù hợp với hoàn cảnh thực tế, như thay đổi giờ công phu, tụng niệm và những buổi lễ chính để Phật tử dễ dàng tham dự, đồng thời không gây trở ngại về giờ giấc cho những khu dân cư chung quanh. Những buổi thuyết giảng không chỉ ở giảng đường mà còn được phát trên đài phát thanh hay đài truyền hình để đáp ứng cho nhhững người không có điều kiện đi nghe giảng. Chuyển tải toàn bộ kinh điển từ âm Hán-Việt sang thuần Việt, để trong những buổi lễ vẫn “tán, tụng” theo nghi thức thiền môn, nhưng mọi tầng lớp đều có thể hiểu trọn vẹn lời Phật dạy...và đặc biệt là thay đổi cách trình bày ở học đường cho Tăng, Ni.

Thập niên 50, nhu cầu Phật sự là chừng ấy đã cân đối giữa cung và cầu, nhưng nửa thế kỷ trôi qua, nhu cầu đó lại một lần nữa cần phải thay đổi như một “chiếc áo” năm xưa không còn phù hợp với thời trang và một cơ thể đang “trưởng thành”. Ðó là điều kiện ắt có và đủ cho xã hội cùng con người đương đại ! Vì thế, chúng ta không thể giữ cách học từ chương, chữ đâu nghĩa đó, học thuộc lòng, cách làm đó không phù hợp với danh xưng và kiến thức của Tăng, Ni mà nó mang tính Thầy truyền cho trò.

Hiện nay cả nước có 28 trường Cơ bản, nhưng trên “mặt bằng” giáo khoa cho Phật giáo học đường thì không đồng đều qua cách hướng dẫn. Trong đó có sự khách quan của thời kỳ quá độ và chủ quan của Giảng viên đứng lớp không tự nâng cao cách truyền đạt tư tưởng, đồng thời không mang tính khoa bảng nên phương pháp đào tạo chủ yếu ở các trường Trung cấp trong nước vẫn chủ yếu phương pháp “độc thoại” và “thụ động” (mà những người thuộc thế hệ của người viết bài này hay trước nữa đã từng trải qua): Thầy giảng bài, trò chép bài. Tăng, Ni sinh phải tuân theo sách vở một cách máy móc. Hậu quả của phương pháp dạy học này làm cho học sinh trở nên thụ động, không phát triển được kỷ năng thực hành, sáng tạo và tính chủ động, tự lập.

Ngoài ra, mối quan hệ tương tác giữa quý Thầy và quý Sư cô đối với học sinh còn quá cổ kính. Tăng, Ni sinh không được khuyến khích chất vấn Thầy, Cô mà phải tuân theo một cách gần như tuyệt đối. Học sinh nào dám chất vấn Thầy, Cô liền bị mang nhãn hiệu là “vô lễ” hay “hỗn hào” và có thể bị trù dập! Hậu quả của lối giáo dục thụ động và một chiều này là nó tạo ra một thế hệ Tăng, Ni sinh học vẹt, lười suy nghĩ, thiếu chủ động, kém tưởng tượng và tư duy thực tế để có thể giảng dạy, truyền thụ kiến thức cho mọi người trong lúc còn đang học và sau khi rời ghế nhà trường... Trong vấn đề này, dường như thiếu sự quan tâm; nói cách khác là chưa đặt ra tầm quan trọng “sản phẩm” có chất lượng hay không hoặc có thể “giới thiệu” sang các nước Phật giáo bạn trong khu vực và thế giới.

III- CẦN CẢI CÁCH VƯỜN ƯƠM TRÍ TUỆ:

Khi nói đến học đường là người ta nghĩ ngay đến tính sư phạm: cách cầm viên phấn như thế nào, trình bày bảng ra sao ? Bố cục của tiết giảng có “cháy” giáo án hay không ? Có ra tạo được sự hấp dẫn trong mỗi tiết bởi kiến thức được cập nhật hay vẫn nói chuyện của 20 năm về trước? Ðể Tăng, Ni không phải nghĩ rằng chuyện chẳng đặng đừng nên phải ngồi đây nghe mấy năm nay không có gì mới thêm nữa, kiến thức đó không giúp ích gì từ tư duy đến nhu cầu giảng dạy cho mình trong tương lai sau khi rời mái trường.

Giáo dục đã, đang và sẽ là một chỉ tiêu quyết định sự khác biệt giữa các quốc gia và giữa cá nhân. Giáo dục Phật giáo không thể đứng ngoài 3 chức năng chính là nâng cao trình độ, kiến thức cho Tăng, Ni; đào tạo nhân sự có trình độ chuyên môn cao và nuôi dưỡng nhân tài. Hiện nay, Phật giáo học đường ở Việt Nam chỉ mới làm được chức năng số một, còn lại 2 chức năng sau thì còn rất hạn chế. Phật giáo Việt Nam ngày nay đã có một thế hệ tương đối trẻ hơn 50 % so với thập niên 60. Tăng, Ni trong cả nước là dưới 40 tuổi. Phật giáo học đường phải làm sao trang bị cho lực lượng trí thức trẻ này những kiến thức chuyên môn cần thiết để họ “có Chánh kiến” và nhận thấy trách nhiệm học tập để họ tự hoàn thiện theo phương châm “Duy tuệ thị nghiệp”, nhằm đáp ứng cho mọi tầng lớp và đặc biệt là nơi vùng sâu, vùng xa đang thiếu “Dòng suối từ” của Phật giáo chảy đến những “mảnh đất khô cằn” trí tuệ và nhận thức. Nếu Phật giáo không huy động được nguồn nội lực trí tuệ thì Giáo hội sẽ lạc hậu và Tăng, Ni, Phật tử sẽ bị nô lệ tri thức ở các tôn giáo khác. Vì thế, những chuyện cần làm ngay:

1- Hiện tại:

- Hệ thống hành chánh của trường như Ban Giám Hiệu, Ban Giảng Huấn và Văn phòng hành chánh cần phải đúng quy cách.

- Thi cử phải nghiêm túc.

- Nội dung học của từng môn phải được cân nhắc, chứ không nên nhồi nhét.

- Mỗi cơ sở phải có một thư viện nội và ngoại điển cho Tăng, Ni sinh tham khảo để mở rộng kiến thức.

- Quy định về Luận văn tốt nghiệp phải đạt yêu cầu, nếu không chỉ cấp chứng chỉ.

- Không chạy theo thành tích, làm cho nền Phật giáo học đường nước nhà suy kém.

- Mỗi năm cần có sự giao lưu các trường khác và Học giả bên ngoài, ít nhất là một lần.

2- Tương lai:

- Thống nhất bộ giáo án.

- Các tỉnh thành trong khu vực, nên chọn ra một địa điểm để làm trường, chứ không nên mỗi Tỉnh một trường, không có đủ học viên và kinh phí hoạt động.

- Mỗi năm phải có kỳ tuyển sinh.

- Tăng, Ni sinh không đạt số điểm chuẩn thì phải học lại.

- Ngoài tiếng Hán cổ, cần tăng thêm Anh ngữ và Hán hiện đại.

- Ba tháng An cư, chỉ để Tăng, Ni tu tập nhằm tiêu hóa những gì đã tiếp thu.

- Chỉ mời những Giảng viên có sư phạm để truyền đạt kiến thức. Tuy nhiên những vị “tu giỏi” thì vẫn mời giảng ngoại khóa.

- Khen thưởng và xử phạt phân minh.

- Giành nhiều thời gian cho Tăng, Ni tiếp xúc với thư viện.

- Mỗi tuần, lớp học phải có buổi thảo luận vào ngày thứ bảy.

IV- NHỮNG YÊU CẦU CẦN THIẾT CỦA MỘT GIẢNG VIÊN:

1- Mô phạm và thân giáo:

Thân giáo có thể được xem như bài học giáo dục thâm thúy nhất và thiết thực nhất. Sự phạm hạnh và thanh tịnh của người thầy có sức tác động mạnh vào tâm thức Tăng, Ni sinh, khiến họ phát khởi chánh tín, làm trỗi dậy hạt Bồ-đề, làm động lực cho sự tu tập... Tất cả hành vi thân giáo của người thầy như cách đi, đứng, nằm, ngồi, cho đến mặc áo, ăn cơm, rửa mặt, v.v... là những giáo huấn sinh động, không thể tìm thấy qua ngôn ngữ văn tự trong trường lớp. Do đó có thể nói sự mô phạm hay thân giáo của người thầy Phật học được đánh giá rất cao và đóng vai trò quan trọng trong sự tu học của Tăng, Ni sinh.

2- Sư phạm:

Sư phạm là quá trình khoa học của giáo dục được thể hiện và đánh giá qua sự vận dụng quy luật trong quá trình dạy học và còn là yếu tố không thể thiếu trong việc thành tựu khế lý và khế cơ.

Ðối tượng của thầy giáo là con người và do đó đối tượng của người thầy Phật học là Tăng, Ni sinh. Muốn giáo dục con người thì người thầy phải biết thuyết phục, nêu gương đồng thời tổ chức các hoạt động thực tiễn để cho các học viên có dịp rèn luyện. Tính khoa học trong giáo dục sư phạm Phật học được thể hiện một cách chính xác, hợp lý khi nó xác hợp với các quy luật phát triển của lứa tuổi và đặc điểm của đối tượng.

Sư phạm trong giảng dạy Phật học thực chất là một nghệ thuật truyền trao Chánh pháp và huấn luyện trí tuệ, đạo đức một cách hữu hiệu. Ðây là nghệ thuật đòi hỏi nhiều ở sự nỗ lực tự trau giồi của người thầy nhiều hơn bất cứ nghề nào khác.

Phật giáo học đường phải là nền giáo dục hoàn mỹ, mới cung cấp được cho Tăng đoàn và xã hội những con người vững về chuyên môn (Chánh kiến và kiến thức phổ thông uyên bác) và mạnh mẽ về đạo đức. Nói cách khác, giáo dục phải mang lại cho người một kỹ năng học và cái tâm an lạc khi phục vụ. Nhưng lâu nay vấn đề này ít được đề cao mà chỉ xoay quanh một vấn đề duy nhất là đạt được “chất lượng kiến thức” mà không quan tâm đến “chất lượng đạo đức”!

Chẳng những chất lượng đạo đức không chỉ được xem là quan trọng ngày hôm nay mà còn là sự quan tâm hàng đầu của Ðức Phật từ ngàn xưa. Nên “vườn ươm” Tăng tài của Phật giáo Việt Nam phải vào cuộc cải cách để mang lại hiệu quả thiết thực trong công cuộc “trồng người”. Nếu không, chúng ta chỉ có những sản phẩm “kém chất lượng”, những con người “què cụt nhân cách” với những bước chân khập khiễng đi vào cuộc đời.

Vì vậy, bên cạnh những giải pháp để nâng cao chất lượng dạy và học, chúng ta cũng cần phải đặc biệt chú trọng đào tạo về phẩm chất cho một “Thiên nhân chi đạo sư” trong tương lai và hiện tại là công dân hữu dụng, có một trình độ nhất định ở nhiều lĩnh vực để đóng góp cho đất nước trong công cuộc tiến đến công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, chứ đừng để cho Tăng, Ni cứ mải ngủ vùi trong vầng hào quang của Thầy tổ.

Tóm lại, điều kiện kinh tế hiện nay còn khó khăn, không cho phép chúng ta làm nhiều việc cùng một lúc. Nhưng cũng không thể chờ đợi đến lúc có đầy đủ hết rồi mới làm. Giảng viên là người hơn ai hết, biết rõ từng vấn đề trong giao thức để đổi mới nội dung của môn học, trong phương pháp giảng dạy và xu thế phát triển của Phật giáo. Muốn được thế, cần phải tiếp xúc với xã hội qua nhiều lĩnh vực: tin tức qua báo đài, giao lưu nhiều tầng lớp từ trí thức cho đến bình dân, để hiểu được mình đang đứng ở đâu, mạnh về mặt gì, yếu về mặt gì ?

Nội dung và phương pháp giảng dạy ảnh hưởng quyết định đến chất lượng học đường. Vì thế, Giảng viên phải soạn lại giáo trình và giáo án nghiêm túc trước khi lên lớp. Ðừng bắt “con em” chúng ta ê a học bài như chính chúng ta đã làm cách đây mấy mươi năm. Hãy tìm cách rút ngắn bài học nhưng đầy đủ ý nghĩa và súc tích, để giành thời gian còn lại cho họ thư giãn và tu tập những gì đã học, đó mới là biện pháp có hiệu quả trong giáo dục Phật giáo.

Với trách nhiệm “truyền đăng tục diệm” buộc Giảng viên không được tụt hậu về nhân cách và sư phạm mà phải nỗ lực thật nhiều trong công cuộc truyền đạt kiến thức cho thế hệ hiện tại và mai sau một lối đi hiệu quả cho xu thế phát triển của xã hội và Phật giáo ngày nay, để làm giàu thêm phong cách của một Giảng viên trong sự nghiệp trồng người.

TỲ KHEO THÍCH LỆ THỌ

 

VIỆT NAM PHẬT QUỐC TỰ  ^

Bodhgaya 

Việt Nam Phật Quốc tự tôi yêu

Tổ quốc hồn thiêng vọng nhớ nhiều

Chuông chùa văng vẳng ba ngàn cõi

Bát-nhã phá tan mười cửa siêu.

 

Siêu độ vong linh tại đất Thiền

Mái chùa Nam Việt đứng ngang nhiên

Rồng vàng uốn lượn phun châu ngọc

Phụng chầu nghinh rước bậc uy nghiêm.

 

Nghiêm trang thanh nhã cổng tam quan

Việt-Pà-Ấn ngữ rõ hàng hàng

Nghệ thuật hiển bày văn hóa cổ

Nghệ nhân tinh xảo tuyệt nhân gian.

 

Gian nan chi quản tấm lòng son

Ðông, Tây, Nam, Bắc vượt non mòn

Ban phát cho đời hoa trí huệ

Ươm mầm giải thoát quả thơm ngon.

 

Ngon ngọt rồi đây sẽ lại đầy

Ðắp bù giông tố thuở đoanh vây

Bốn biển con chung cùng góp sức

Mỗi một bàn tay đắp đắp xây.

 

Xây cất chùa xong Lễ Lạc thành

Người người nô nức hiệp vây quanh

Chim từ muôn hướng bay về tổ

Hưởng chút tình thiêng của Ðạo lành.

 

Lành thay Phật Quốc Tự hôm nay !

Rợp bóng tre xanh, sáng trăng đầy

Lối mòn  in bóng hình Tăng sĩ

Mảnh áo nâu sồng thanh thoát thay!

 

Thay đổi thăng trầm rõ thịnh suy

Hai ngàn năm lẻ, pháp Vô-vi

Mùi Thiền giác ngộ hoa đào nở

Việt Nam Phật Quốc Tự sử ghi.

 

Delhi, 22/10/03

LIÊN ÐẠT

 

THIỀN ^

J.KRINAMURTI

Minh Tâm dịch 

Tâm thiền là vắng lặng nhưng không phải là sự yên lặng mà tư tưởng có thể nhận thức được. Thiền không phải là cái vắng lặng của một buổi tối. Nó thật sự vắng lặng khi tất cả những tư tưởng, lời nói và nhận thức hoàn toàn ngừng bặt. Tâm thiền này là tâm tôn giáo mà không bị quản thúc bởi một tôn giáo hay bất cứ một hình thức lễ nghi nào.

Tâm tôn giáo là sự bột phát của tình yêu. Một thứ tình yêu hoàn toàn không có sự phân biệt. Ðối với nó xa là gần. Nó không phải là một mà cũng chẳng phải là nhiều, hay nói đúng hơn là một thứ tình yêu mà tất cả sự phân biệt đã dứt bặt. Giống như cái “đẹp” không thể diễn tả bằng lời nói. Từ sự yên lặng này tâm Thiền phát khởi. 

Thiền là một trong những nghệ thuật tuyệït vời trong cuộc sống. Có lẽ là tuyệt vời nhất và không ai có thể dạy cho bất cứ ai. Ðó là cái đẹp của Thiền. Tự nó không có kỹ thuật cho nên không có người thiện xảo. Khi bạn tìm hiểu về chính mình, nhìn vào chính mình, nhìn vào những bước đi của bạn, bạn ăn như thế nào, nói cái gì, ghét hay thương... Nếu như bạn biết được tất cả những cái đó trong bạn mà không có sự phân biệt thì đó chính là một phần của Thiền.

Do đó Thiền có thể xảy ra trong lúc bạn đang ngồi trên xe buýt hay đang đi trong cánh rừng rợp bóng mát, hoặc đang lắng nghe chim hót hay đang nhìn vào gương mặt của vợ con bạn.

Thật sự bạn muốn biết tại sao Thiền trở nên quan trọng như thế! Nó không có sự khởi đầu cũng không có sự chấm dứt. Nó giống như giọt mưa, trong nó hàm chứa tất cả những sông hồ và biển cả. Hạt mưa ấy nuôi dưỡng trái đất và con người. Không có nó, trái đất sẽ trở nên sa mạc. Không có Thiền thì tâm sẽ trở thành khô cằn, một vùng đất hoang tàn.

Thiền sẽ tìm thấy trong tâm với tất cả những hoạt động hay những kinh nghiệm của nó có thể hoàn toàn vắng lặng. Không nỗ lực nhưng hiện tại bạn nỗ lực, đó là nhị nguyên. Bạn có thể nói rằng: “Tôi thích có một kinh nghiệm phi phường, cho nên tôi phải bắt tâm tôi vắng lặng. Bạn sẽ chẳng bao giờ làm được điều đó cả. Nhưng nếu như bạn bắt đầu tìm kiếm quan sát, lắng nghe tất cả những hoạt động của tư tưởng, tình trạng của nó, mục đích của nó, những sợ hãi và những cảm giác của nó, hãy theo dõi tâm của bạn hoạt động như thế nào rồi bạn sẽ thấy tâm của mình trở nên vắng lặng một cách phi thường. Sự vắng lặng đó không phải là sự ngủ yên mà là một cách hoạt động tích cực và do đó nó yên lặng. Một máy phát điện lớn chạy tốt hầu như không hề có tiếng động, chỉ khi nào có sự va chạm thì khi đó có tiếng động.

Sự yên lặng và không gian đi cùng với nhau. Sự bao la của yên lặng là sự bao la của tâm thức mà trong đó không có điểm trung tâm.

Thiền là việc làm khó khăn. Nó đòi hỏi hình thức cao nhất của giới luật mà không phải là sự tuân thủ, cũng không phải là sự bắt chước. Thiền chỉ là giới luật mà chỉ đến hoàn toàn bằng sự tỉnh thức không những những vấn đề bên ngoài và còn cả những vấn đề bên trong của bạn. Do đó, Thiền không phải là hành động xa vời mà ngay chính trong cuộc sống hằng ngày, nó đòi hỏi sự cộng tác, sự nhạy cảm và sự thông minh. Không có nền tảng của một đời sống chân chánh thì Thiền sẽ không có giá trị đối bất cứ ai, một đời sống chân chánh là không tuân theo những đạo đức xã hội mà là thoát khỏi sư ghen tỵ, ham muốn và tìm kiếm quyền lực. Thoát ly khỏi những thứ này sẽ không phải bằng ý muốn mà là sự tỉnh thức. Không biết những hoạt động của tự ngã Thiền sẽ trở nên sự ham thích cảm giác và nó trở nên vô nghĩa.

Luôn luôn tìm kiếm rộng, sâu, những kinh nghiệm hảo huyền là một lý do cách xa chân lý “cái gì”, mình là gì, và tình trạng của tâm là sao. Một cái tâm tỉnh thức, thông minh, giải thoát tại sao không nên có?  Tại sao không nên cần? Ánh  sáng là ánh sáng. Nó không đòi hỏi gì hơn là ánh sáng.

Thiền là một trong những điều phi thường, và nếu bạn không biết nó là gì bạn sẽ giống như một người mù đang di chuyển trong một thế giới đầy màu sắc và ánh sáng. Nó không phải là một vấn đề của tri thức, mà là khi tâm hồn thể nhập vào tâm thức thì tâm thức sẽ có một khả năng khác, nó là chân lý, vô hạn không những trong khả năng tư duy, hành động một cách hiệu quả mà còn trong ý thức về cuộc sống trong không gian bao la nơi mà bạn là một phần của nó.

Thiền là một thứ tình yêu. Nó không phải là tình yêu của một người cũng không phải của nhiều người. Nó giống như nước mà người ta uống trong bất kỳ loại chai nào cho dù là nó được làm bằng vàng hay bằng đất nung: Nó là vô tận. Và một điều quan trọng xảy ra là nó không phải là ma túy cũng không phải là sự thôi miên nhưng nó đã xảy ra và một điều quan trọng xảy ra khi tâm thể nhập vào chính nó, bắt đầu từ khởi đầu và thể nhập sâu dần cho đến khi ý niệm về sâu – cao mất đi ý nghĩa của nó và mọi hình thức của sự đo lường hoàn toàn đoạn diệt. Ðó là trạng thái hoàn toàn an tịnh- không thỏa mãn những gì xãy ra bằng sự hài lòng, chỉ là sự an tĩnh một cách quy củ, đẹp và mãnh liệt. Tất cả có thể bị hủy diệt như bạn hủy một bông hoa và chính sự tổn thương này nó bất diệt. Bạn không thể học phương pháp Thiền này từ người khác. Bạn phải bắt đầu từ số không và bắt đầu loại bỏ dần dần vô minh.

Mảnh đất mà tâm Thiền có thể phát khởi đó là cuộc sống hàng ngày, sự xung đột, nỗi đau khổ và mang đến quy củ và cũng từ đó đi đến sự vĩnh cửu. Nhưng nếu bạn chỉ liên hệ bằng sự thứ tự và chính cái thứ tự ấy sẽ mang đến sự giới hạn và chính tâm sẽ trở thành tù nhân của nó. Trong tất cả những hoạt động này bạn không biết phải bắt đầu hay chấm dứt từ đâu. Bờ bên này chẳng có liên hệ gì với bờ bên kia và không biết làm sao để vượt qua dòng sông. Bạn lao xuống nước nhưng không biết phải bơi như thế nào. Và cái đẹp của Thiền là bạn chẳng bao giờ biết  bạn đang ở đâu, bạn đang đi đâu, và cuối cùng là gì.

Thiền không phải là cái gì khác cuộc sống hàng ngày. Ðừng đi ra khỏi phòng để hành thiền chừng 10 phút rồi dừng thì chỉ là một kẻ đồ tể của ảo ảnh và thực tiễn.

Thiền là một trong những điều nghiêm túc nhất. Bạn có thể thực hành  suốt ngày, trong văn phòng, với gia đình, khi bạn nói với ai đó là “Tôi yêu bạn” khi bạn quan tâm đến con cái. Bạn giáo dục chúng trở nên những chiến binh, hy sinh để bảo vệ độc lập, tôn trọng màu cờ tổ quốc, giáo dục chúng hiểu rõ những cạm bẫy của thế giới hiện đại.

Quan sát tất cả những thứ này, thấy rằng bạn là mộ phần trong đó, tất cả những thứ ấy là một phần của Thiền. Và khi bạn Thiền như vậy bạn sẽ thấy ở Thiền một cái đẹp phi thường. Bạn thực hành ngay trong trong hiện tại và nếu bạn không thực hành ngay trong lúc ấy thì cũng chẳng có vấn đề gì bạn sẽ thực hành trở lại. Bạn sẽ không thấy hối tiếc. Thiền là một phần của cuộc sống nó không xa rời cuộc sống.

Nếu bạn chuẩn bị thiền, thì đó không phải là thiền. Nếu như bạn muốn bày tỏ sự lương thiện thì cái thiện đó chẳng bao giờ nở rộ. Nếu bạn cố tình trau giồi đức tính khiêm cung, thì đức tính ấy sẽ hoại diệt. Thiền là một cơn gió thoảng đến khi bạn mở cánh cửa sổ ra, nhưng nếu như bạn chủ tâm mở cửa, chủ ý muốn chờ đợi một cơn gió thì nó chẳng bao giờ xuất hiện.

Thiền không phải là phương tiện. Nó là cả hai: phương tiện v