Nghĩ về tám điều giác ngộ
của bậc Đại Nhân
Thích Phổ Huân
Chùa Pháp Bảo, NSW
Mùa Phật Đản 2005
Lời nói đầu
Kinh
điển Phật Giáo thật nhiều, nhiều đến nỗi chưa từng nghe ai
đã đọc hết. Dù các bậc Bồ Tát vẫn còn xuất hiện ở thế gian,
nhưng các Ngài cũng chưa thị hiện phương tiện quyền biến để
cho người đời thấy có người đọc ghi nhớ hết được. Phật giáo
Trung Hoa hãnh diện có được Ngài Tam Tạng pháp sư Huyền
Trang (602-664), là người tinh thông ba tạng Kinh Luật Luận,
đã ròng rả hơn mười sáu năm trời tham học tại Phật quốc Ấn Độ,
mang về cho đất nước Trung Hoa số lượng kinh khổng lồ, làm
lợi ích không biết bao nhiêu người, và không chỉ cho người
Trung Hoa thời ấy mà còn không biết bao nhiêu người khác của
thời nay. Được như Ngài không có mấy người; tuy nhiên chính
ngay cả bản thân Ngài cũng không thể rõ hết được số lượng
kinh Phật dạy, vì thời gian của Ngài chỉ có 16 năm lưu trú
đất Phật, trong khi vừa phải học ngôn ngữ vừa nghiên cứu,
sưu tầm, do đó chắc chắn có nhiều Luận sư, Đại sư, Thánh
Tăng hoặc còn ghi nhớ, hoặc còn lưu giữ nhiều kinh điển khác
hơn, mà Ngài chưa diện kiến. Cho nên xưng tán Ngài là tinh
thông ba tạng, cũng chỉ tương đối, hoặc nói đúng hơn công
trình tìm kiếm, dịch thuật kinh điển làm lợi ích cho Phật
pháp của Ngài thật vĩ đại quả hiếm có trên thế gian, chứ
không phải tất cả kinh điển Ngài ghi nhớ và mang về đã gọi
đủ là ba tạng kinh Phật.
Có lẽ hiện hữu
lượng kinh điển Phật giáo thật nhiều là phương tiện mà chư Phật vì muốn
ứng hiện ra! Điều này để cho thế gian thấy rằng, giáo lý siêu việt giải
thoát, thế học không cách nào so sánh được; và tất cả những kiến thức khoa
học, triết lý nhân sinh thế tục, cũng chỉ nằm gọn trong giáo điển Như Lai.
Việc này không
cần phải minh định so sánh từng phạm trù ứng hợp với các ngành học thế
gian, chỉ xin nêu lên pháp học căn bản nhất có thể đủ bao gồm hết tất cả,
đó là Lý Duyên Sinh, còn gọi Lý Nhân Duyên. Pháp học này nói lên không một
sự kiện gì, cho đến cả ý niệm khởi lên mà không có nguyên nhân; và lời
kinh chân tín nhất nói lên dòng sống này là: cái này có thì cái kia có,
cái này không thì cái kia không, cái này sinh thì cái kia sinh, cái này
diệt thì cái kia diệt. Từ đây suy ra mọi công trình khám phá, học hỏi,
sống và sáng tạo của con người không thể rời khỏi chân lý đó. Như vậy đủ
khẳng định kiến thức trong đạo, ngoài đạo đều từ đây là căn bản.
Trở lại việc giáo
lý quá nhiều trong kho tàng kinh điển, cho thấy đây phải là mầu nhiệm;
nhiệm mầu ở chỗ tất cả cũng từ do tâm chúng sanh trong ba cõi sinh ra.
Nhưng nhiệm mầu hơn, là nhiều mà không bao giờ nhiều, nghĩa là người ta
vẫn giác ngộ giải thoát, khi chỉ đọc vỏn vẹn một quyển kinh, chẳng hạn
kinh Pháp Hoa, hay Vô Lượng Thọ. Rồi nhiệm mầu hơn nữa, cũng không hiếm
người không đọc được chữ, mà vẫn giác ngộ giải thoát, họ chỉ nhờ nghe
người khác tụng kinh, giảng pháp rồi tha thiết thực hành tu theo.
Đọc lịch sử Phật
giáo Trung Hoa, Phật tử Việt Nam ai lại không nghe Bồ Tát Huệ Năng, Người
đã minh chứng cụ thể việc tu chứng, không cần thông qua tham luận học
nhiều vất vả, chỉ nghe ít lời trong kinh Kim Cang trở thành giác ngộ.
Vậy thì gọi cái
nhiều kinh điển, là từ khi Bồ Tát Tất Đạt Đa thành đạo dưới cội Bồ Đề,
thấy được chúng sanh trong ba cõi muốn nhiều nên cho nhiều; đến khi thấy
chúng sanh đã hiểu nhiều Phật đổi thành cho ít lại; ít đến nỗi không còn
nói là ít nữa mà thành không luôn (Ta chưa từng nói một lời). Nhưng lúc
này đệ tử lại hiểu và chứng Thánh quả. Chứng quả ngay việc hiểu, không
nhiều, không ít, cũng chẳng quan tâm đến cả cái không!
Học đạo ngày nay
của chúng ta không giống như chư vị ngày xưa; chẳng nói gì thời của chánh
pháp, thời của Bồ Tát Huệ Năng (638-713) cũng không còn được. Ta học càng
nhiều càng chấp pháp, nếu không tự cao ngã mạn đã là may, nói gì siêu phàm
chứng Thánh. Hơn nữa thời đại càng về sau, con người càng bị kiến thức
chính mình bó buộc, sản phẩm tiêu dụng văn minh đã quá sa đà mất đi ý
nghĩa mục tiêu ban đầu lương thiện chính nó; nên chỉ còn lại thời gian
chống cự kiềm hãm, sức kéo lôi vật nhiễm, mà đâu thể thư thả điềm nhiên
định tỉnh tư duy hành trì tu niệm.
Nói là vừa tu vừa
đi vào đời ‘nhập thế’, vậy ai đã tự nhận làm được điều này, dù có đi nữa
đã được mấy người? Tuy nhiên nói vậy, cũng không phải giáo pháp giải thoát
không tưới được giọt vị cam lồ tươi mát nào vào lòng người, trong thời
nhiễu nhương mạt pháp này.
Bao giờ còn người
tha thiết hướng tâm giải thoát, hướng tánh vị tha thương người giúp vật,
chừng ấy vẫn còn hình ảnh Bồ Tát lẫn lộn trong chốn trần gian. Và chúng ta
hàng phàm phu sơ học, muốn tìm các Ngài làm bạn hữu, nhất định phải gia
công tu trì hành đạo.
Kinh sách dù
nhiều nhưng nội dung chỉ là nhất quán; đọc tụng chí tâm ta có thể tìm được
hoa thơm giải thoát, và nương nhờ diệu lực gia bị của chư Phật hôä niệm.
Bản kinh Bát Đại
Nhân Giác thật là bản kinh ngắn, chỉ có tám điều khai thị chúng sanh,
nhưng đầy đủ lời thức tỉnh, chỉ dạy tha thiết thâm sâu nhất, khiến hai
hàng Phật tử xuất gia tại gia không thể không nhiếp tâm kính ngưỡng. Bản
thân chúng tôi cảm thấy mỗi lần đọc lên kinh này, tưởng như có gì soi điểm
vào tâm, cảm được những gì cụ thể nhất làm hành trang cho người tu sĩ. Như
thế bằng tâm tha thiết, cảm nhận điều hỷ lạc của mình, xin được mạo muội
chia xẻ, theo thiển kiến nông cạn, kính viết tặng đến một vài bạn đọc.
Được biết kinh
này đã được một vài chư Tôn Đức luận giải mạch lạc rõ ràng, nhưng chúng
tôi vẫn xin đóng góp phát lên ý tưởng của một hậu học, sống nơi thời điểm
xứ sở văn minh vật chất cực thịnh, phát lên cảm tưởng trong sự tác động
phản ánh niềm tin qua bản kinh đây.
Chúng tôi dựa
theo bản kinh tiếng Việt của dịch giả Thích Minh Quang, dịch từ bản tiếng
Hán trong sách “Mười bài giảng kinh Bát Đại Nhân Giác” của
Hòa Thượng Tinh Vân (Đài Loan). Sách này có ghi rõ tiểu sử dịch giả bản
Hán Văn là Ngài An Thế Cao; đọc giả có thể tìm đọc sau phần giới thiệu của
dịch giả Minh Quang
, chúng tôi chỉ xin được giới thiệu.
Cuối cùng xin
được chân thành ghi ân cảm niệm chư vị tác giả, dịch giả mà chúng tôi đã
trích dẫn dựa theo để bàn luận, nhất là dịch giả Thầy Thích Minh Quang.
Nhân đây không quên cảm niệm công đức người thân trong gia đình đã trợ lực
giúp đỡ từ vật chất đến tinh thần, qua thời gian hơn hai phần ba quyển
sách được viết tại Luân Đôn, trong đó gia đình cháu Nguyễn Quốc Hùng đã
chu đáo hỗ trợ thật tận tâm. Nay sách hoàn tất tại Sydney, phần công đức
tại đây xin được cảm niệm tri ân đến quý cô Giác Thủy, Giác Anh, Giác
Duyên, Giác Trí đã trực tiếp trợ lo ủng hộ từ tinh thần đến vật chất cho
chúng tôi trong khi làm việc.
Và lần nữa, tất
nhiên như mọi tác phẩm trước, chúng con không quên ghi nhớ ân đức Thầy Bổn
sư đã từ lâu và cho đến bây giờ, mãi mãi là nơi chúng con thọ ân nhiều
nhất. Cuối cùng là sự đóng góp phương tiện hoàn tất in ấn ra mắt đến đọc
giả, xin được ghi nhận công đức quý Phật tử, thiện hữu tri thức và nguyện
cầu chư vị luôn sống an lành trong niềm tin chánh pháp.
Cuối cùng, xin
thưa rằng với sự hiểu biết nông cạn, thô thiển của người viết, lời mạn đàm
trong sách này chỉ là cơ bản, chắc chắn không tránh khỏi sơ suất, kính
mong các bậc cao minh từ bi chỉ giáo.
Nam Mô A Di Đà Phật
Cẩn bút
Thích Phổ Huân
Chùa Pháp Bảo- Sydney ngày 31/01/2005
Phật thuyết Kinh
Tám Điều Giác Ngộ
của Bậc Đại
Nhân.
Phật thuyết Bát Đại Nhân Giác
Kinh
Sau khi
thành đạo Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, Đức Như Lai tùy thuận hoàn cảnh
không gian, thời gian tùy loài chúng sanh, khai thị đạo vàng.
Căn cơ chúng sanh thấp kém,
lanh lợi thế nào Ngài đều phương tiện trải lòng từ không phân biệt. Trong
hàng chúng sanh sáu cõi, duy chỉ có loài người là thắng duyên trọn vẹn thọ
nhận lời dạy của Ngài, và kết quả rất nhiều chư vị chứng Thánh, siêu phàm
thoát ly sinh tử. Đối với chúng sanh ở cõi trời, do vì chánh báo, y báo
các vị thuần đầy hưởng vui lạc thú, nên việc tri nhận và sự xuất hiện của
Đức Phật không đem lại thắng duyên bằng cõi Ta Bà chúng ta. Nói một cách
khác chư Thiên vì ít khổ nhiều vui, khó thể học được pháp tu giải thoát.
Riêng hàng A Tu La tuy có thần lực hơn loài người, nhưng lại đau khổ bởi
tánh chất sân giận luôn cháy trong tâm, do đó thế giới của họ chiêu cảm
theo tâm, mà khó được nghe Phật pháp.
Ba loài chúng sanh còn lại chịu
cảnh khổ đau hơn nhiều, đó là, địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Cảnh giới ba
hạng này muôn vàn khó khăn, để được duyên gặp pháp hiểu đạo tiến tu. Tuy
vậy bằng thiên nhãn và lòng từ của chư Phật, chư Bồ Tát, những chúng sanh
đau khổ này vẫn có được nhân duyên, dù rất ít.
Bằng thần lực, nguyện lực chắc
chắn chư Phật, Bồ Tát đã từng thị hiện đi vào những thế giới đó; chẳng hạn
hình ảnh Bồ Tát Địa Tạng, và tích chuyện Mục Kiền Liên, phần nào nói lên
được việc làm này. Trong ba hàng chúng sanh đau khổ vậy, loài súc sanh
được nhân duyên hơn; chẳng nói thời Phật, ngay thời nay chúng ta vẫn thấy
sự nhiệm mầu của một vài loài súc sanh nương tựa được lực gia trì của ba
ngôi Tam Bảo. Tất nhiên đa số vẫn còn giới hạn từ thọ nghiệp của chúng, vì
còn tùy vào quả báo nặng nhẹ. Tỉ như loài sống dưới nước, ngoài đại dương,
làm sao có cơ hội nghe được âm thanh kinh điển. Âu đó là nghiệp báo quá
nặng, sanh vào loài vật đã là nặng, lại sanh vào nơi hoang dã, mù xa, u
tịch, thăm thẳm cô liêu… càng khiến nghiệp thức trì trệ, nặng nề thêm.
Suy tư, quay về cảnh giới phàm
nhân, con người chúng ta đang trực diện nhân duyên tối thắng, và bản kinh
này Phật dạy còn đưa đến sự hiểu biết, việc làm của bậc đại nhân.
Bậc đại nhân, vẫn là những
người hiện sống gần gũi ta, và có khi đang cùng ta chung ở. Nhưng các vị
lại hoàn toàn khác ta; khác qua ý thức, tư duy, tư tưởng việc làm. Khác
nhiều lắm, tuy nhiên khác mà không khác! Vì nếu quả đúng cái khác như ta
phân biệt thì các Ngài đã không thể thị hiện sống được với ta, và cũng
không thể gọi là bậc đại nhân nữa.
Vậy đại nhân đây là chư vị Bồ
Tát Thánh nhân đang hướng đến quả vị giải thoát, chứ không phải là danh
xưng bình thường, được đánh giá qua vài phong cách, ứng xử cao đẹp như thế
gian ca tụng. Đại nhân mà thích người ca tụng, tự hào việc làm của mình,
phân biệt nhân ngã thế gian, đó không phải là bậc đại nhân đáng học.
Bậc đáng học là bậc đang hành
pháp đại thừa cứu độ chúng sanh, xiển dương chánh pháp làm lợi ích muôn
loài. Vậy thì nơi đây, đề kinh Phật dạy hướng đến giải thoát qua tám điều
mà bậc Bồ Tát đại nhân liễu đạo, chắc chắn đánh thức mọi người con Phật
chúng ta.
Về nhân duyên nói kinh này, xin
được phép trích lại lời giảng của Hòa Thượng Tinh Vân như sau:
“ Phàm bất cứ một việc gì cũng
có nhân duyên của nó. Đức Phật vì sao lại giảng Kinh này? Tất nhiên cũng
có nhân duyên.Đó là lúc Ngài ở tinh xá Kỳ Viên, một hôm trong Pháp hội,
tôn giả A Na Luật thiên nhãn đệ nhất thưa với Phật rằng:
- Bạch Đức Thế Tôn, trong tăng
đoàn với tinh thần lục hòa, thì việc quên mình, xả bỏ tự ngã là điều chúng
con có thể làm được; đối với chúng sinh phải tuyệt đối từ bi, tuyệt đối
nhân ái, đây cũng là điều mà chúng con đã biết… Nhưng bạch đức Thế Tôn!
Những Phật tử tại gia học đạo rất nhiều, đệ tử xuất gia tiếp cận xã hội
hoằng pháp lợi sinh cũng rất đông. Những vị vậy làm thế nào để cầu được
giác ngộ, tiếp nhận Niết Bàn? Cúi xin đức Thế Tôn từ bi khai thị.
Đức Phật mỉm cười một cách an
lành, hoan hỷ trả lời:
- Này A Na Luật, lời nói của
ông rất đúng. Điều ông hỏi là vấn đề học hạnh Đại nhân (Bồ tát). Tôi sẽ vì
ông mà nói tám điều giác ngộ của bậc Đại nhân, mà ai là đệ tử Phật đều nên
ngày đêm chí tâm tụng niệm…*
Như vậy qua nhân duyên Phật nói
kinh trên, cả hai giới xuất gia đều nên trì tụng; và có lẽ hàng xuất gia
phải ưu tư hơn hết.
Là người đệ tử Phật ngày đêm
nên chí tâm, thường tụng niệm tám điều giác ngộ của Đại nhân.
Vi Phật đệ tử thường ư trú dạ,
chí tâm tụng niệm, Bát Đại nhân giác.o
Đây là lời tựa trước khi đi vào
kinh; lời đơn giản nhưng nhấn mạnh sách tấn khả quyết, khiến người học
Phật phải tỉnh tâm suy nghĩ. Tất nhiên ứng dụng lời này cho cả hai giới,
xuất gia và tại gia. Thử nghĩ, là người học Phật không luôn nghĩ về sự vô
thường, khổ, không, vô ngã, những điều mà các bậc chân tu, thanh tịnh nhờ
đó chứng đắc Thánh đạo, thì còn phải nghĩ gì, khi tự mình dấn thân bước
vào con đường học hạnh thoát ly sinh tử.
Nhân đây chúng ta thử hiểu thế
nào là một đệ tử Phật.
Đệ tử Phật ai cũng biết có hai
giới, xuất gia, tại gia. Hàng xuất gia nam gọi là Tỳ Kheo, hàng nữ gọi Tỳ
kheo Ni, hàng tu sĩ nam mới tập sự chưa thọ đại giới gọi là Sa Di, và nữ
là Sa Di Ni. Các vị tại gia nam cư sĩ gọi là Ưu Bà Tắc, nữ là Ưu Bà Di.
Ta có thể đặt vấn đề, khi Phật
còn tại thế những người hâm mộ giáo lý Ngài nhưng chưa biết Ngài, rồi thực
hành theo, như ngày nay người không duyên ở gâàn chùa gặp thầy thọ giới,
lại âm thầm tích cực tu trì, như vậy những người đó có được gọi là đệ tử
Phật hay không?
Điều này được hiểu một cách
tương đối, người đó vẫn có thể là Phật tử nếu tự mình phát nguyện đọc lên
lời quy y trước hình ảnh Phật, nhưng dù sao vẫn cần buổi lễ chính thức sau
này, giúp họ gieo vào tâm điền hình ảnh thọ giới quy y, tức nhận được giới
thể. Giới thể là tác bạch hứa nguyện trước sự chứng minh qua hình ảnh nghi
thức của một hay vài vị Thầy, nên tâm người đó khắc ghi nhớ niệm*.
Xét lại lần nữa người
chưa quy y đó vẫn là đệ tử Phật, vì đang học giáo lý Phật, và đúng hơn
nữa, tương lai người đó còn được chứng đạo, chứ không phải chỉ là đệ tử
Phật mà thôi.
Chúng ta có thể đi xa hơn bằng
nhận định yếu nghĩa danh từ Phật.
Phật là danh từ chung, tức ai
cũng xử dụng được, nhưng xử dụng và tác thành được là khi có kết quả, nếu
không nghĩa chữ Phật cũng chỉ nhắm vào người khác, ta chẳng một chút dự
phần, dù Phật chất lúc nào cũng có trong ta. Phật là tánh giác thanh tịnh,
là sự yên lặng vô vi tuyệt đối, Phật không có nghĩa đối lại với vô minh.
Còn tương đối phân biệt so
sánh, đó chưa phải là Phật; trong kinh Kim Cang nêu rõ vấn đề này,
Phàm có tướng đều là hư
vọng; nếu thấy các tướng đều không phải tướng, chính là thấy Như Lai*.
Tướng mà chúng sanh
thấy, hiểu, là tướng phân biệt, đối đãi; tướng mà không phải tướng là
tướng chân thật, tướng đó không đưa đến phân biệt, chấp trước, phiền não,
tướng đó được tri nhận qua tuệ giác bằng giáo lý duyên sinh, duyên khởi,
duyên diệt. Cho nên được như vậy mới thấy và hiểu nghĩa Như Lai.
Nhưng vì khó thể diễn tả nói
lên cụ thể toàn vẹn Phật chất đó, hay đúng hơn chúng ta chưa được tuệ
giác, thành ra phải so sánh đối tác với chánh tà, chân ngụy, sáng suốt, vô
minh. Như thế nếu đơn giản hiểu rằng Phật là đối ngược với vô minh, thì
chắc chắn có người chấp vào sự thành Phật, và sự chấp thành Phật kia làm
sao là Phật được! Thế thì tất cả định nghĩa của thế gian chỉ là phương
tiện tương đối giả lập để dễ phân biệt mà tu.
Chúng ta hiện thời quy y Phật,
là vị Phật lịch sử hay vị Phật theo nghĩa chánh giác thanh tịnh, vô vi
tuyệt đối? Vị Phật lịch sử là Phật Thích Ca đã tịch cách đây hơn hai ngàn
năm trăm năm (2500), làm sao ta gọi là quy y Ngài được; ta chỉ quy y Pháp,
là lời dạy của Ngài và Tăng đoàn đệ tử của Ngài truyền mãi đến hôm nay.
Vậy nếu gọi quy y Phật, ý nghĩa chắc chắn là quay về tánh giác thanh tịnh
bên trong, thanh tịnh yên lặng tuyệt đối không còn phân biệt mới đúng là
quy y Phật. Tuy nhiên ta cũng nhờ ai mà biết tánh giác thanh tịnh, vô vi
tuyệt đối? Thế là ta cũng có thể nói ta quy y cả hai, Phật của lịch sử và
Phật của tự tâm; và để quy y Phật đúng nghĩa hơn, ta không nên khởi chấp
bất cứ pháp học nào, như vậy mới đúng ý kinh Kim Cang dạy: Pháp còn
phải bỏ hà huống phi pháp! (Pháp thượng ưng xả, hà huống phi pháp!).
Thế thì hình thức dung nghi của
người tu Phật, chỉ chứng minh rất giới hạn sự giác ngộ chứng đạo bên
trong. Sự hiểu biết trọn vẹn của một đệ tử Phật là sự an lạc định tâm của
ngay chính hành giả tu Phật. Đại Ca Diếp vị đệ tử lớn nhất của Phật không
thường xuyên hầu cạnh bên Ngài, dung nghi và hành hoạt lại không hòa nhập
Tăng đoàn, nhưng được Phật tán thán ca ngợi khiến số đông đệ tử sơ cơ lúc
bấy giờ ngạc nhiên không ít. Đại Ca Diếp được Phật tán thán như vậy, vì
Ngài sống và tu từ sâu thẩm bên trong, vượt lên mọi vọng động hình thức
pháp trần, trọn vẹn sống như giáo lý Phật dạy. Như thế có thể nói rằng, ai
cũng là đệ tử Phật nếu hiểu lời Phật dạy, và phải thực hành giáo pháp của
Ngài mới thật xứng đáng.
Cuộc đời đầy biến động phát
xuất từ tâm tưởng chúng sanh; bao giờ chúng sanh chưa giác ngộ hoán chuyển
vọng động thành tịnh tâm, chuyển thức thành trí, thì biến động càng dìm
sâu chúng sanh vào mê tình vọng thức, hóa cuộc luân hồi đến bất tận, tái
sanh mãi trong sáu nẻo lụy phiền.
Lời tựa nhắc ta phải ngày đêm
nên chí tâm thường tụng, đây là tiết lộ sự thật chân lý về cảnh trần pháp
nhiễm, về căn thức vọng động của chúng sanh.
Cảnh trần chỉ là sự tương tác
hòa nhập với tâm, chứ không độc lập tạo gây ra tội. Người biết ý thức phải
dè dặt cả hai, tâm và cảnh. Cảnh có thể nhiễm uế với mình, nhưng với người
khác không hẳn hoàn toàn, và ngược lại nơi mình có thể an tâm điều thân,
thì có người không thể chịu được.
Đệ tử Phật hàng tại gia, tâm có
thể dấy động nhiều hơn hàng xuất gia, do tiếp cận công việc bận rộn hằng
ngày, nhưng khi ý thức được cảnh trần là nhiễm, sự dấy động tâm có thể
giảm trừ. Dù vậy đa số hay bị cảnh trần khuấy dụ quên đi. Người xuất gia
ít tất bậc công việc thế gian, sống đa phần lo cho Phật pháp, nên cảnh
trần ít nhiễm hơn; nói ít nhiễm hơn có nghĩa vẫn còn nhiễm, vì thời nay
hầu như chùa chiền tăng sĩ đã tạo phương tiện quá nhiều trong việc hoằng
pháp. Những tiện nghi vật chất, thời đại kỷ nguyên điện tử đã nghiễm nhiên
xuất hiện nơi chốn già lam. Như việc phương tiện kỹ thuật tin học, phổ
biến thông tin cho người học Phật một cách phổ quát vượt không gian, thời
gian, chẳng hạn một bài pháp của vị Pháp sư hiện nay, có thể tức khắc được
truyền đi đến khắp lục địa toàn cầu, và được lưu giữ thời gian không giới
hạn. Tuy nhiên ngược lại, người nghe pháp sẽ dễ dàng đồng hóa bài pháp là
một thuyết trình thông tin giáo dục, để trở thành học kinh học pháp như
môn học hàm thụ thế gian mà chẳng cần đến chùa viện. Kết quả việc học như
vậy sẽ không được, hay ít được nhân duyên thực tập lễ Phật, đọc kinh, ngồi
thiền, niệm Phật; từ đó có thể dẫn đến phóng tâm suy nghĩ, đánh giá, bình
phẩm Tăng Ni không khác như một giáo viên, giáo sư trường lớp.
Hiểu về Tăng sĩ như một thầy
giáo vẫn đúng, vì chính ngay đức Phật cũng là vị thầy dạy học, tất nhiên
bậc Thầy vĩ đại có thể dạy cả Phạm thiên, Bồ Tát. Nhưng dù vậy Phật vẫn
phải hiện thân mô phạm, luôn luôn hành động trong từng sinh hoạt đời sống,
để mọi người thấy rằng Phật đã am tường bài vở chân lý chính Ngài nói ra.
Vậy đồng ý việc học Phật pháp ngày nay dễ dàng, nhưng e khó nhận được thật
chất an lạc bên trong, vì thiếu thực tập; chưa kể người thông minh học
hiểu được nhiều, rồi đi ngược việc học của mình, khi dò xét, chấm điểm
người khác.
Riêng cảnh già lam thanh tịnh,
khi tiếp cận phương tiện thế gian quá nhiều vào đời sống tu hành, tất
nhiên phải vất vả chống chọi nhiễm pháp. Vì các pháp bên ngoài thật dễ gây
nhiễm tâm người học đạo, dù rằng Phật pháp bất ly thế gian giác…
nhưng ta không phải là người của thời Lục Tổ, nên điều đó đúng với phần lý
nhiều hơn, phần sự phải tùy tâm tùy người hành xử. Chứng minh điều này,
chính ngay Lục Tổ dù đã giác ngộ chứng đạo, Ngài cũng phải xuống tóc đắp
y, chứ không thể mặc đồ thế gian, sống ở thế gian mà được người gọi là Tổ.
Tăng sĩ ngày nay phải vì thế
gian mà thay đổi rất nhiều, phải biến mình trong nhiều hình thức độ sanh.
Họ có thể là những giáo sư: toán học, khoa học, văn chương, ngôn ngữ, hội
họa, lịch sử, triết học… thậm chí còn đi vào lãnh vực y khoa.
Trong hoàn cảnh tạo thành trọng
trách hoằng pháp qua nhiều phương tiện như vậy, người Tăng sĩ chỉ vất vả
thêm chứ không thể dễ dàng nhiếp tâm an lạc được. Khác với phàm tăng, chư
vị Bồ Tát thị hiện vào thế gian do tâm từ bi cứu độ chúng sanh trầm luân
đau khổ, nên bất cứ hoàn cảnh, hay nhân ảnh nào các Ngài vẫn có thể đi vào
tự tại.
Phàm phu học Phật như chúng ta
trong vai trò nào đó phải ý thức, đó là tiếp nối việc làm của Bồ Tát độ
sanh, nếu không, ngược lại phương tiện độ sanh sẽ ảnh hưởng công phu tu
hành và lý tưởng xuất gia của người học Phật.
Lời tựa Tám Điều Giác Ngộ này
nhất định được ghi nhớ luôn luôn. Chỉ có luôn luôn ghi nhớ trì tụng, hàng
xuất gia mới giữ được chất liệu giải thoát tự tâm, nhìn lại việc làm của
mình và hàng tại gia cũng lấy kinh Tám Điều Giác Ngộ này khắc ghi tu học
khi đang sinh hoạt ngay trong đời sống.
Điều giác ngộ thứ nhất: Thế gian vô
thường, cõi nước rất mong manh, bốn đại lại khổ không, năm ấm là vô ngã,
luôn sinh diệt biến đổi, giả dối không có chủ, tâm là nguồn việc ác, thân
là rừng nghiệp tội; nếu quán sát như thế, lần lần lìa sinh tử.
Đệ nhất giác ngộ:
Thế gian vô thường, quốc độ nguy thúy, tứ đại khổ không, ngũ ấm vô ngã,
sinh diệt biến dị, hư ngụy vô chủ, tâm thị ác nguyên, hình vi tội tẩu; như
thị quán sát, tiệm ly sinh tử.o
Thông thường nhận
thức về thế gian, là nhận thức theo tâm cảnh hoàn cảnh sống, tức theo tình
cảm lý trí phán xét phù hợp với căn thân của mình. Người mang hoài niệm
sống để hưởng thụ, sẽ nhận thức thế gian theo quan điểm khác với người bi
quan nhìn đời chỉ toàn tranh đấu đau thương. Cứ như thế trên bình diện tư
duy nhận thức ý nghĩa nhân sinh thế giới, sẽ không thể đồng tình hợp nhất.
Tuy nhiên, chung quy thế gian phải bị thay đổi theo thời gian lưu chuyển
chẳng ngừng, luận lý này mọi người đều công nhận. Thay đổi đó là cảnh vật
sinh hoạt ngày xưa so với ngày nay; và hễ sinh hoạt đời sống càng thay
đổi, tư duy nhận thức con người phải ảnh hưởng theo.
Nhận định qua giáo
lý nhà Phật, mọi sự vật và con người hết thảy trên thế gian, chẳng thể ra
ngoài sự thay đổi biến dịch luôn luôn, điều đó được gọi ‘chư hành vô
thường’*,
nghĩa
là mọi thứ vận hành, hiện khởi nào cũng đều vô thường cả, hay nói đúng hơn
sự vận hành, hiện khởi tự nó đã là vô thường. Sự hiện khởi và hiện hành
của tất cả như thế được gọi là pháp hữu vi
,
có sanh tức có diệt.
Phật dạy các pháp
hữu vi
đều do nhân
duyên sinh, do nhân duyên sinh nên cũng do nhân duyên diệt. Lời dạy này
dẫn đưa chúng sanh đi vào Thánh đạo giải thoát và vị đại Thánh tiêu biểu
trí tuệ đệ nhất là ngài Xá Lợi Phất, trước kia đi vào chánh đạo cũng nhờ
nghe được chân ngôn này.
Tuy vậy nhận định
thẩm thấu ý nghĩa để thực hành lời dạy trên không phải việc dễ. Việc không
dễ vì con người đang sống trong thương yêu dục lạc nhiễm ái thế gian này.
Nhập đề vào kinh
Bát Đại Nhân Giác, đã nói lên ngay hiện trạng chúng sanh đang sống; cho
biết thế gian vô thường, cõi nước mong manh, đó là ý nghĩa các pháp do
nhân duyên sinh cũng do nhân duyên diệt.
Bao giờ các pháp
không sinh, tất sẽ không có đối tượng tác động hủy diệt, và bao giờ có
sinh, tất phải có diệt. Chúng ta hiểu ngay, vì sao các pháp bị diệt? Vì
bởi có sinh. Những gì có sinh do nhờ duyên tạo, khi duyên đoạn lìa, pháp
cũng diệt theo.
Thế gian, danh từ
này được đặt định gọi tên, cũng là một pháp như vô lượng pháp hữu vi, và
đã là pháp thì theo thời gian, theo nhận thức con người, nó sẽ bị hủy diệt
một ngày không xa.
Con người đối với
thế gian đối với hành tinh này quá ư nhỏ bé, sự thay đổi biến dịch của
hành tinh khó làm con người ý thức là tiến trình đi dần đến hoại diệt.
Sinh hoạt của thế gian quá phổ quát bao la, và dân số càng ngày càng tăng
lại làm cho con người tưởng mình là tồn tại. Sự hưởng thụ vật chất sung
mãn ngày nay so với ngàn xưa tạo thêm lầm tưởng thế gian ngày nay sung mãn
phẩm thực dư thừa!
Thật ra tất cả
những gì xưa nay chưa từng mất đi, chưa từng tăng phát, những gì của thế
gian ẩn tàng, xuất hiện xưa nay chỉ là vòng luân vũ xoay vần thay hình đổi
dạng. Sản phẩm của ngày xưa thô sơ, vật phẩm của ngày nay tinh xảo đều
không ra ngoài vật liệu vật chất thế gian. Cổ vật của ngày xưa chưa phải
gọi là xưa cũ ngày nay, vì chúng đã và đang biến mình trở thành những
nguyên tử mới khác; ngược lại những thiết bị sắt thép tân kỳ hôm nay cũng
không phải là những sản phẩm mới, vì chúng đã là những nguyên tử lang
thang trong vũ trụ từ vô thỉ đến nay. Hơn thế nữa nguyên tử ngày xưa, ngày
nay vẫn là một, khác đổi chỉ là nhân duyên hội tụ tan rả mà thôi. Như thế
nói về tính chất nguyên tử vật thể ngày xưa và ngày nay nào đâu là khác,
và chẳng thể nào giữ mãi nhất như độc lập, vì tự tính của chúng chỉ là
nhân duyên tụ hội rồi tan. Chính cả thế gian này chỉ là những vật chất
biến hóa dị thường theo duyên sanh ý thức, mê lầm vọng tưởng của chúng
sanh cấu tạo thành; rồi đây sẽ có một sự vô thường vĩ đại xảy ra, khi cả
một quả địa cầu chúng ta bùng nổ.
Nhưng biến cố đó
cũng chỉ nói lên vô thường, như bao nhiêu cái vô thường đã và đang hằng
hữu xảy ra; đến đây thì một sự tái lập mới, một nhân duyên mới, từ nguyên
tử cũ phân tán hay nguyên tử mới từ nhân duyên cũ tạo thành…
Lớn như quả địa
cầu cũng có ngày hủy diệt phân tán một cách hợp tình hợp lý, vì hiện hữu
do nhân kết tụ, thế có cái gì gọi là thế gian trường cữu? Nhưng Kinh dạy
thế gian vô thường, không phải chỉ nhắm vào cõi địa cầu hành tinh xanh
này. Thế gian đây có thể được hiểu, vượt ngoài sự hiện hữu thấy được và
nhận thức được; thế gian như vậy sẽ vượt qua các tinh hà thiên văn trong
vũ trụ mà hiện con người khám phá ra.
Cao hơn nữa theo
nhận thức người học Phật, phải hiểu là ba cõi chúng sinh luân hồi. Vì
trong ba cõi, dung chứa làm duyên cho tất cả chúng sanh ý thức mình đang
hiện hữu. Trong ba cõi này dù hai cõi sắc và vô sắc
chỉ có chứng đạo mới thấy, vẫn là nơi không thật, để chúng sanh nương
theo, và thế nó phải chịu luật vô thường biến đổi luôn luôn, nên chúng
sanh nơi ba cõi ấy hẳn phải bị tác động lệ thuộc vào.
Khẳng định nói
rằng, chẳng có gì không phải vô thường trên thế gian này, khi chính ngay
tự cõi thế gian dung chứa mọi thứ đã là vô thường, vậy cõi nước là mong
manh, dễ hoại quả thật đúng.
Nếu tin còn chưa
thỏa đáng, ta hãy suy nghĩ chiêm nghiệm xem có phải đất nước thế giới có
mong manh không?
Mong manh có nghĩa
là không vững vàng kiên cố, hay bị xoay chuyển lung lay, nói đúng hơn sự
hư hoại chỉ là thời gian đang đến. Đó là những thiên tai lũ lụt, động đất,
hỏa hoạn hoành hành xảy ra khắp nơi trên thế giới. Thiên tai đã và đang
xảy ra từ khi quả đất mới hình thành, và chắc chắn nó phải tiếp tục xảy ra
mãi mãi. Thật dễ hiểu vì do duyên tạo, tất phải bị duyên phá hủy theo chu
kỳ Thành, Trụ, Hoại, Không mà người học Phật nào chẳng nghe.
Lịch sử đã ghi lại không biết
bao nhiêu hoạn nạn thiên tai, chưa nói có những thiên tai không còn một ai
nhân chứng kể lại. Suy nghĩ cho kỹ đó là tất nhiên, và chúng ta người học
Phật phải lặng thinh hay đau khổ ?
Dù có trả lời hay
không, sự vô thường vẫn xoáy mòn con người chúng ta, chỉ vì đơn giản rằng,
tất cả sinh vật hữu hình hiện đang sống nhờ trên cái thế giới mong manh
đó.
Thời gian chúng
tôi đang viết mạn đàm về tập kinh này, thì một biến cố động đất xảy ra tại
vùng biển Ấn Độ Dương, nạn sóng thần kinh hoàng khiếp hãi đã cướp đi trên
hơn hai trăm ngàn sinh mạng. Thị trấn Banda Aceh thuộc vùng đảo Sumatra
(Nam Dương) bị tàn phá nặng nhất, gần như đồ hình địa lý bị biến dạng,
vượt ngoài sự tưởng tượng con người. Truyền thông báo chí, tin tức khắp
nơi trên thế giới không một nước nào không đăng tải báo động vụ thiên tai
kinh hoàng này. Có lẽ từ trước đến nay thiên tai sóng thần này, được tường
thuật ghi lại chi tiết hình ảnh rõ ràng nhất, nên trở thành quá kinh
khủng. Kinh khủng hơn nữa vì sự đau thương lan tỏa gần như đến khắp toàn
cầu; cái chết cướp đi đủ loại màu da chủng tộc trên thế giới. Sóng thần
xảy ra ngay mùa nghỉ cuối năm, nên dân Châu Mỹ, Châu Âu trong dịp nghỉ mát
vùng Châu Á rải rác các nơi ven biển đã đều lâm nạn.
Đó là một biến cố
cụ thể sự thật vừa xảy ra ngay cuối năm qua (2004)
.
Thế thì
thế giới được hình thành do duyên tạo, và sự hủy diệt hư hoại ắt phải có
nguyên nhân. Nguyên nhân tạm hiểu là tuổi
thọ của trái đất có lẽ quá già, hay vì đang chuyển bệnh từng cơn, hoặc có
thể do những phiền hà của những sinh vật đang sống trên nó, vô tình hay cố
ý gây ra. Điều đó ai biết? Nhưng, tuyệt đối phải biết, có sanh tất có
diệt.
Con người cũng
chẳng khác gì. Tất nhiên nhân duyên tạo nên con người có vô số pháp. Con
người do nhiều nhân duyên tác thành, tất hẳn không khác thế gian vô
thường, cõi nước mong manh. Trong Tương Ưng Bộ, Phật nói về vô thường nơi
con người như sau: Sắc (thân thể), này các Tỷ Kheo, là vô thường.
Cái gì là nhân, cái gì là duyên cho sắc sanh khởi; cái ấy cũng vô thường.
Sắc đã được cái vô thường làm cho sanh khởi, này các Tỷ kheo, vậy từ đâu
có thể gọi là thường được.
Tiếp theo tất
cả còn lại của ngũ uẩn, Phật dạy đều là vô thường. Do đó mà bốn đại lại
khổ không, năm ấm là vô ngã, luôn sinh diệt biến đổi, giả dối không có
chủ.
Bốn đại là đất,
nước, gió, lửa, là những nguyên tố vật chất tạo nên con người. Sự thật
được hiển lộ rõ nhất khi con người chết đi, rồi tất cả hòa vào cát bụi.
Năm ấm là sắc, thọ, tưởng, hành, thức tạo nên con người, chúng chẳng có gì
là tự sinh, tự chủ có thể giữ được chính nó, cho nên chẳng có gì gọi là
độc tôn, độc ngã, thành ra gọi là vô ngã.
Sắc là hình hài vẽ
đẹp của một hình thể con người nói riêng, nói chung là hết thảy mọi vật;
cả đến quả địa cầu nơi đang dung chứa chúng sanh bàn luận
về sự hư giả này.
Nơi con người là
một hình ảnh cụ thể có thể thấy đẹp xấu, nhưng sẽ chưa đủ là con người nếu
không có thọ, tưởng, hành, thức là những linh hoạt khiến nó hành động đi
đứng thọ dụng buồn, vui, suy nghĩ… Ngược lại những hành động linh hoạt như
vậy chẳng thể có được, nếu không nhờ cái hình ảnh sắc thân kia. Cho nên
phải hội đủ nhiều yếu tố nhân duyên con người mới đủ gọi con người, như
thế con người được hình thành là do nhân duyên từng thành phần một mà ra.
Suy ra để thấy
chẳng có gì gọi là tự ngã độc lập, tự chủ. Nếu tự ngã độc lập thì con
người phải mãi mãi là con người, chẳng bao giờ có sanh có diệt, chẳng bao
giờ theo luật vô thường nay khổ mai vui. Và chẳng bao giờ phải bị mòn xoáy
theo sanh già bệnh chết, nhất là chẳng có chuyện phải chịu quả báo, biến
hình đổi dạng trong sáu cõi luân hồi. Thực tế hơn hết là chẳng bao giờ
phải chịu buồn vui đau khổ như ta đã và đang trực diện đương đầu trong đời
sống hiện tại. Câu chuyện sau đây nói lên sự vô thường của ngũ uẩn thân,
khiến địa vị nào cũng phải lo âu khổ sở.
Ngày xưa có một
ông vua, cai quản một đất nước thịnh vượng. Mỗi khi vua đi tuần du đều
thấy giang sơn gấm vóc, nhân dân ấm no. Đi đến đâu vua cũng được mọi người
sùng kính, ngưỡng mộ. Vua rất sung sướng và chỉ mong được mãi mãi trên sự
vinh hoa phú quý ấy. Nhưng một hôm soi gương, thấy tóc mình đã bạc, mặt
nhăn, khi ra thiết triều, vua bỗng khóc nức nở, triều thần kinh ngạc tâu
hỏi duyên cớ.
Vua trả lời:
-Vừa rồi Trẫm đi
tuần du, thấy đất nước thanh bình thịnh trị, mọi người đều ngưỡng mộ Trẫm.
Cả giang sơn gấm vóc này đều thuộc quyền sở hữu của Trẫm. Nhưng than ôi,
bây giờ Trẫm đã già rồi; Trẫm sắp chết, sắp rời bỏ cuộc sống hoan lạc này,
cho nên Trẫm đau lòng mà khóc.
Triều thần thấy
vua khóc cũng động lòng khóc theo. Trong đám triều thần ấy chỉ có một
người không khóc theo vua mà lại mỉm cười.
Thấy thế, vua bèn
phán hỏi:
-Tại sao khanh
không thông cảm nỗi đau khổ của Trẫm mà lại cười? Khanh hãy trả lời Trẫm,
nếu khanh có lý, Trẫm sẽ tha tội, nếu vô lý khanh sẽ bị chém đầu vì tội
khi quân.
Ông quan kia bèn
nhỏ nhẹ tâu rằng:
-Tâu bệ hạ, bệ hạ
khóc rất có lý. Triều thần khóc cũng rất có lý. Nhưng hạ thần nghĩ cái lý
của bệ hạ khóc còn quá nông nổi. Nếu nghĩ sâu hơn một chút bệ hạ sẽ thấy:
Nếu không có sự vô thường thay đổi thì bây giờ vị vua trước còn sống sờ sờ
ra đấy, làm sao bệ hạ lên thay được để hưởng mọi điều vinh quý ấy ? Vì bệ
hạ quên điều ấy nên bệ hạ khóc. Triều thần quên điều ấy cho nên triều thần
khóc. Nên hạ thần nhắc lại để bệ hạ thấy sự vô thường ấy mà không nên
buồn.
Câu chuyện nhà vua
chẳng hiểu, chẳng biết vô thường, khiến phải đau khổ sợ chết trong khi
đang hưởng thụ đời sống dục lạc; tuy nhiên nhà vua còn nhận ra mình già
nua tóc bạc, vẫn là một điều may; may hơn nữa có một cận thần thiện tri
thức, giải thích hiện tượng tất nhiên của vô thường. Nếu không, vua còn
phải khổ đau hoài với vô thường mà chẳng thể nào tìm cách dứt bỏ được.
Trong câu chuyện lại thấy vị đại thần mỉm cười nhìn vua khóc, là người đã
liễu nghĩa vô thường, có thể tự tại chính mình và còn giúp người khác hiểu
đạo.
Chuyện chẳng có gì
khó hiểu, chỉ vì vua giựt mình khi thấy mình già đi. Ngũ uẩn thân là tài
sản quý báu nhất của vua, bấy lâu nay hưởng thụ, nay gần đến thời kỳ phá
sản lụn bại, tiếc thương cho thân, tiếc thương của cải không còn tiêu dùng
được, nên hóa ra đau thương khổ não. Thật ra việc thân thể già nua hốc hác
nào đâu phải là chuyện mới lạ với vua, vì chung quanh vua còn đó những
quan thần già hầu cận.
Nhưng tâm lý chung
của con người ham sống sợ già, sợ chết, chẳng muốn việc xấu tới mình,
thành ra hốt hoảng, nhất là tài sản vật chất còn đang quá dư thừa đầy đủ.
Xét lại thân thể
hình hài chúng ta đây, là một cụ thể để quan sát tính cách giả dối vô
thường dễ thấy nhất, cũng là bài học khẩn cấp nhất thức tỉnh được mình,
qua việc vô ngã sinh diệt biến đổi.
Mỗi ngày ta mỗi
già đi, già đi là mỗi ngày đi gần đến ngày chết. Ta chẳng có cách nào khác
níu kéo tuổi già ngừng lại được; không những chỉ có riêng ta bất lực mà
bất cứ ai, bất cứ vật gì đã xuất hiện trên đời này cũng đều phải bị tuổi
già tàn phá. Hiểu vậy ta mới biết sự sống của mình chẳng có gì gọi là chân
thật, vì từ thân đến tâm đều chuyển động theo luật vô thường. Vô thường
như thế quá rõ ràng, và nghĩa của vô thường Phật dạy đó là vô ngã.
Xét về thân là vật
chất hình sắc ta đã đồng ý tuyệt đối là vô thường, vô chủ, nay ta trở về
xét lại ý thức đang suy nghĩ, đang học hỏi đây cũng vẫn vô thường, dù nó
là phương tiện chuyển được cái vô thường đi đến rốt ráo thành Phật.
Thử tư duy suy
niệm chính mình, tức cái ý thức đang khởi động, ta sẽ thấy không một giây
phút nào tìm được ta là tự chủ độc lập. Ta có thể độc lập giây phút này
nhưng khó độc lập giây phút khác. Dòng suy tư cứ tuôn chảy không ngừng ở
một nơi đâu, nên gọi là tâm vô thường. Tâm vô thường nên khó giữ khó chế
phục. Kinh Pháp Cú dạy: Rất khó tri giác cái tâm. Tâm vô cùng tế
nhị. Người thiện trí canh phòng tâm. Tâm được canh phòng nghiêm nhặt dẫn
đến hạnh phúc.
Tâm tế nhị vì khó
thể xác định, khó thể làm chủ, khó thể tri nhận, nó có thể là nhất thời,
nhưng cũng có thể là mãi mãi! Nhất thời là sự vô thường biến đổi không trụ
định, mãi mãi là chân tâm: không sanh, không diệt, không khởi, không trụ,
không động, không tịnh, không thể nghĩ bàn. Tìm chân tâm là sự tìm trong
động, chỉ nên hiểu tâm là tâm, là vô thường là tỉnh thức trong từng lẽ
sống hiện tại, bằng sự canh phòng giác tỉnh hành động của tâm.
Như thế, quả thật
phiêu lưu nguy hiểm, nếu để tâm mãi mê dong duổi chạy theo ngoại cảnh, mà
không canh phòng tỉnh thức.
Ta cũng có thể đặt
nghi vấn, thế sao cuộc đời vẫn còn sáng tạo được nền văn minh vật chất, dù
rằng ý thức là vô thường phân biệt chập chờn vô chủ?
Vâng, đó là luật
của thành trụ hoại không; điểm đạt mục đích của con người là điểm sống,
trong điểm sống buộc con người phải lao theo sáng tạo sinh tồn và hưởng
thụ, do đó văn minh sinh hoạt, ý thức vươn lên là việc hẳn nhiên của dòng
sống một chúng sanh; tuy nhiên văn minh vật chất không đưa đến an lạc
tuyệt đối mà cần phải hài hòa với tinh thần đạo học. Như vậy văn minh sáng
tạo vật chất dù đáng ca ngợi, vẫn phải cần khẩn cấp học hiểu tinh thần tâm
linh đạo giáo, mới có thể đạt được sự an lạc hoàn toàn. Lịch sử chiến
tranh từ ngàn năm, trăm năm, và cận đại đã cho thấy, vẫn là nguy hiểm nếu
cứ chạy theo tham muốn; điều đó nói lên sự phân biệt vô thường của ý thức
chưa được giác ngộ vậy.
Ý thức để được
chuyển hóa thanh tịnh, trở thành trí thức vô ngại, đó là hướng thượng xây
dựng trên bình diện tu sửa thân tâm; điều thiết thực đó là hành trì giới
học. Nơi đây ta thấy các kinh Đại Thừa luôn đề cao tán thán công đức thanh
tịnh giữ giới, vì giữ giới là hành động không chìu theo bản ngã, không để
tâm vô thường sai khiến, sáng suốt vượt lên, dừng nghỉ được tâm biến đổi
vô thường. Chỉ có dừng nghỉ tâm lăn xăn dao động mới tự tại vấn đề, mới
chinh phục bản ngã, thấy được tự ngã giả dối quay về chân ngã tự tại.
Người làm được vậy thì chứng đạo gọi là Bồ Tát, gọi là Phật.
Ngược lại tư duy
nhận định trên, con người sẽ dễ phóng tâm, vọng tưởng, xoay vần theo pháp
nhiễm thế gian, nên kinh dạy tiếp theo: tâm là nguồn ác, thân là rừng
nghiệp tội; nếu quán sát như thế, lần lần lìa sinh tử.
Thật vậy, một sự
thật không thể phủ nhận, sự kiện đau khổ cho mình, cho người đều do vọng
tâm, si tâm làm chủ. Người sở dĩ gây tội do tâm bất thiện sai khiến, do
tâm tham ác phủ lấp tinh thần, như thế hành động của thân chỉ thuần về ác.
Tuy nhiên bản thể tự tâm là huyền diệu, có thể tự mình hoán chuyển vượt
khỏi đối tác duyên trần quay về giác ngộ. Nhưng không phải đạt được chân
tâm thấy tánh là việc dễ làm! Suy ngẫm điều này, ta có thể thấy qua đoạn
kinh Lăng Nghiêm; Phật đánh giá lời tán thán, ca tụng của Ngài A Nan về vẻ
đẹp của Phật như sau: Tốt lắm A Nan! Các ông nên biết cái suy nghĩ
mà ông vừa nói đó nguyên là ‘vọng tưởng’ chứ không phải ‘chơn tâm’. Chúng
sinh từ vô thỉ cứ xoay vần trong vòng sanh tử, là vì không biết nhận cái
chơn tâm thường trú, không thấu hiểu ‘bản tánh thanh tịnh’ (của nội tâm).
Vì đã lầm nhận vọng tưởng là chơn tâm nên bị luân hồi.
Lời Phật dạy, cho
ta thấy dùng căn thân đối với cảnh trần mà không dùng trí giác, nên sanh
vọng thức đánh mất tánh vô ngại thanh tịnh, lầm tưởng hiện cảnh theo vọng
niêäm sai biệt thế gian, đó là điều đưa chúng sanh vào con đường chấp mê
đau khổ, do đó Phật dạy, điều nhận xét của Ngài A Nan chỉ là vọng tưởng,
không phải chơn tâm.
Xét ra chúng ta
thì sao? Vọng thức rối ren hằng ngày, không khéo tâm trở thành nguồn ác!
Như Ngài A Nan dùng tâm tán thán Phật mà vẫn là vọng tưởng, hà huống là ai
!
Khi vọng tâm tạo
ác, thân tất nhiên gây tội, không thể thoát được luân hồi; nhưng khi
chuyển được tâm quay về bản tánh thanh tịnh như lời Phật dạy, thì các pháp
trần vẫn là thanh tịnh chẳng ngoài bản thể chân tâm; như thế người giác
ngộ thấy rõ được lý duyên sinh nhân quả từ tâm lưu xuất.
Ngài A Nan phương
tiện thay thế chúng sanh thưa hỏi, để Phật dạy rõ sự vọng động của tâm đó
là điều cẩn trọng, nên tu tâm, nếu không tâm sẽ dễ thành nơi dung chứa
nguồn ác để quả báo làm thân biến thành rừng nghiệp tội.
Như vậy thấy được
các pháp sinh diệt biến khởi để trấn tỉnh mà tu, để ý thức từng giây phút
trong đời sống hiện thực. Vì chính ngay thân ngũ uẩn này là vô chủ, cái
tâm lăn xăn kia chẳng phải là chân thật đáng tin, thì đối với các pháp thế
gian làm sao trường tồn bất diệt được. Cho nên tâm dễ thành nguồn ác nếu
không hiểu rằng, chẳng có pháp nào trường tồn để chúng ta dính mắc; và sự
ngoan cố tự ngã chấp thủ, ôm giữ cho mình sẽ chẳng bao giờ giữ được, rồi
sẽ là hiểm họa sa đọa khiến phải luôn sống trong đau khổ luân hồi.
Thế thì hiểu rằng,
tại sao mở đầu đệ nhất giác ngộ, kinh dạy thế gian vô thường, cõi nước
mong manh; đó là nhắc nhở con người chớ ham đắm hoàn cảnh thế giới của
mình, bởi chúng là giả cảnh không thật. Không thật nên vô thường, mong
manh.
Từ sự không thật,
mọi việc sống gá vào nhau tất nhiên sinh diệt biến đổi. Nếu không hiểu, sự
đau khổ sẽ tự chính mình gây ra, do đây kết luận điều thứ nhất kinh dạy,
phải quán sát như thế để lìa khỏi sinh tử vô thường khổ đau.
Có thể khả quyết
rằng phẩm kinh Bát Đại Nhân Giác, chỉ cần đoạn mở đầu điều giác ngộ thứ
nhất, đã đủ hành trang cho người học Phật nhận định rõ ràng thân phận con
người, hoàn cảnh thế giới con người và muôn vật đã và đang xảy ra chung
quanh; từ đây bước đi vào đạo một cách vững vàng kiên cố, và đường về bến
giác không còn là điều xa vời, mà xưa nay tưởng là việc không thực hiện
được.
Tuy nhiên dù là
chân lý rõ ràng trước mắt, nhưng không thể khiến người dễ dàng khơi động
tánh giác, cho nên kinh dạy rõ hơn sự sai lầm đau khổ, để cuối cùng chính
nơi đau khổ vô thường của chánh báo và y báo, chúng ta mới nuôi dưỡng được
tâm từ bi; phát được đại thừa tâm, trở thành như kinh dạy là người giác
ngộ phải độ chúng sanh.
Điều giác ngộ thứ hai: tham muốn
nhiều là khổ, bao sinh tử nhọc nhằn, đều từ tham dục ra; nếu ít muốn vô
vi, thân tâm được tự tại.
Đệ nhị giác tri:
Đa dục vi khổ, sinh tử bì lao, tùng tham dục khởi; thiểu dục vô vi, thân
tâm tự tại.
Có lẽ không một ai
lại không hiểu sự nguy hại từ tham muốn. Tham muốn càng nhiều đau khổ càng
tăng, nhưng việc khổ tâm của chúng sanh cõi Ta Bà này, là không một ai lại
không tham muốn. Minh chứng đó, chính ngay con người chúng ta; thân thể
con người là căn nguyên đến từ dục ái, là quả báo kết thành do tham dục
tình ái tham muốn mà ra.
Nói như vậy có quá
đáng không? Thật sự đây là vấn đề sáng tỏ từ lâu, từ khi xuất hiện con
người; nhưng hiểu biết được như vậy là do Đấng Đại Giác mở bày chân lý.
Nếu con người chỉ tham muốn thuần về vật chất, thì vật chất cũng chỉ bấy
nhiêu đó mà thôi. Nghĩa là thân thể vật chất sinh lý này, chỉ dung nạp
chừng ấy dung lượng thực phẩm; hay sự dục lạc của thân thể chỉ là chớp
nhoáng, rồi để lại bao phút giây nuối tiếc.
Nơi ở xa hoa đô
thị cũng vậy, cũng bấy nhiêu không gian che lạnh gió mưa chừng ấy, nhưng
đời người lại chẳng sống được bao lâu! Thế là vật chất kia vẫn thật hạn
hẹp, tù túng, không thể thỏa mãn cho con người. Nhưng thật ra sự thể vật
chất kia cũng chẳng làm nên tội, nếu con người biết được sự dừng lại, biết
được mức thái quá vấn đề, và biết hài hòa đời sống vươn lên trong khi
sống.
Đời sống có ý
nghĩa phải là đời sống tích cực xây dựng và phát triển; khi tiếp xúc, phát
triển tất nhiên phải sáng tạo và duy trì, cho nên từ công trình sáng tạo
đến thể hiện đời sống hạnh phúc thương yêu lúc nào cũng đẹp và đáng được
ca ngợi; sự kiện trở thành không đẹp, trở thành đau buồn, sân hận, tất cả
chỉ vì do hành động không sáng suốt, chỉ thu hẹp vào tự ngã bản thân,
chẳng nghĩ tưởng đến tha nhân ngoại giới. Nhưng rồi sự tham dục vật chất
kia tự mình chẳng thể làm chủ được.
Vấn đề này trong
kinh Pháp Cú có dạy và kèm theo tóm tắt câu chuyện như sau:
Một phú gia không con, chết đi, bỏ
lại tất cả tài sản sự nghiệp lớn lao. Vua truyền lịnh cho nhập gia sản của
ông vào quốc khố và Vua đến hầu Đức Phật. Vua bạch lại tự sự với Đức Phật,
ghi nhận rằng mặc dầu nhà ông ấy ở gần nơi Đức Phật ngự, không bao giờ ông
để bát cúng dường Ngài.
Nhơn cơ hội Đức
Phật dạy:
Giàu sang làm sụp
đổ kẻ cuồng si, nhưng không (hại) những ai mưu cầu Bờ Bên Kia (Niết Bàn).
Do lòng ham giàu, kẻ si mê tự làm cho mình sụp đổ (cũng như đang làm sụp
đổ) kẻ khác.
Ngoài sự tham muốn
vật chất, còn một động cơ kinh khủng hơn đó là động lực yêu thương, tình
ái. Dục ái khiến con người phải chìm mê tham đắm. Từ đó tạo thành nguyên
nhân, ganh đua quyền lực, đoạt danh, đoạt của, mong chiếm được lắm tình.
Hiểu thêm rằng
tình ái còn có tình bạn tình người. Tất nhiên tình người là lý sống đẹp,
đẹp đời, đẹp cảnh, bởi ta không thể như loài vật vô tình (hiểu biết về
tình rất ít) hầu như sống chỉ biết ăn! Tuy nhiên vì không giảm được tình
ái sâu dầy nên kết buộc thương yêu đời này mãi đến đời sau. Hay nói cho
thật, bao giờ chúng ta chưa chứng đạo, chưa giác ngộ chân lý, thì mọi tình
cảm, tình ái thế gian chỉ là ràng buộc khổ đau.
Khi kết buộc ái
tình tham luyến đời này đến đời sau, để sanh ra hiện thể làm người, từ đây
lại vì thế gian sinh ra tham cầu mọi thứ. Trẻ em có cái tham của trẻ em,
người lớn có cái tham người lớn; tham nhiều đến nỗi trẻ nhỏ ấu đả đánh
nhau, người lớn chiến tranh đẩm máu. Những tàn tích hình ảnh chiến tranh
vẫn còn, những vết thương đọng lại từ thế hệ trước chưa phai, vậy mà con
người chẳng vì đây khiếp sợ. Thật ra tham muốn nào đâu là kẻ thù tiêu cực,
vì tham thiện làm lành ai lại không đề xướng tán dương; nhưng vì không
hiểu được lý vô thường, mọi vật đều duyên sanh giả tạm và hạnh phúc thật
sự nào đâu phải độc quyền tự ngã cá nhân. Nếu là tự ngã cá nhân, thì ta
chẳng thể nào tồn tại. Trong khi hạnh phúc, sống còn của con người đang có
là do đối tác cộng hưởng trong một cộng đồng, sự thành tựu của ta chỉ là
duyên thành đối lại với bao liên hệ ngoại duyên. Nói rõ hơn có người thất
bại có kẻ chịu thua, ta mới thấy rằng ta thành tựu. Vậy sự tham muốn kia
nếu được như ta mong đợi, tất nhiên lại có bao người đang thất vọng sầu
lo. Đành rằng ai cũng mong vui thành tựu, nhưng biết san xẻ nghĩ nhớ đến
người thì tham vọng chẳng làm đau khổ một ai. Huống gì kinh dạy “bao
sinh tử nhọc nhằn, đều từ tham dục ra”.
Trong kinh Trung A
Hàm, Phẩm Khổ Ấm, Đức Phật nói về hậu quả tác hại từ sự tham dục sinh ra;
sự tham dục tuy ban đầu chỉ là chức năng sinh tồn, nhưng trong đó đã chứa
mầm mống lo sợ khổ hãi. Đoạn kinh như sau:
“- Thế nào là tai
hoạn của dục? Một người con nhà dòng dõi, tùy kỹ thuật riêng mà tự mưu
sinh, hoặc làm ruộng, hoặc buôn bán, hoặc đọc sách, hoặc giỏi toán thuật,
biết công số, khéo in khắc, làm văn chương, tạo thủ bút, hoặc hiểu kinh
thơ, hoặc làm võ tướng, hoặc phụng sự vua. Người ấy khi gặp lạnh phải chịu
lạnh, gặp nóng phải chịu nóng, bị đói khát nhọc mệt, bị muỗi mòng châm
chích; người ấy phải làm nghề nghiệp như thế để mong kiếm được tiền của.
Người ấy, bằng những phương tiện như vậy, làm các công việc như vậy, để
mong cầu như vậy; nhưng nếu không kiếm được tiền của thì sinh khổ sở, lo
buồn, rầu rĩ, tâm thành si ám, nói rằng: ‘luống công làm lụng, khổ nhọc vô
ích mà những điều mong cầu không có kết quả’. Trái lại, người đó, bằng
những phương tiện như vậy, làm các công việc như vậy để mong cầu như vậy,
nếu kiếm được tiền của thì sinh yêu quí, giữ gìn, cất giấu. Vì sao vậy?
‘Tài vật nầy là của ta, đừng để cho vua đoạt, giặc cướp, lửa thiêu, hư
hại, mất mát, hoặc xuất tài mà vô lợi, hoặc làm việc mà không thành tựu’.
Kẻ đó giữ gìn cất giấu như vậy, nhưng nếu rủi bị vua đoạt, hoặc giặc cướp,
lửa thiêu, hư hại thì sinh khổ sở, lo buồn rầu rĩ, tâm thành si ám, cho
rằng: ‘Vật ta yêu quí nhớ nghĩ suốt đêm ngày, nay đã không còn.’ Đó là
những nỗi khổ ở đời nầy, nhơn nơi dục, duyên nơi dục, lấy dục làm gốc”.
Nhưng nếu con
người hiểu được tham dục, tham muốn tạo ra sự sinh tử nhọc nhằn đời này
qua đời khác, thì dù có đau khổ cũng chỉ tự mình an phận đau khổ, chứ
không phải tạo thêm sự đau khổ khác, gây hại xúc phạm đến người thân của
mình, như đoạn tiếp của kinh: Lại nữa, vì chúng sinh nhơn nơi dục,
duyên nơi dục, làm gốc, nên mẹ tranh với con, con tranh với mẹ, cha con,
anh em, chị em, bà con dòng họ giành giựt lẫn nhau. Vì giành giựt lẫn nhau
như vậy nên mẹ bêu xấu con, con bêu xấu mẹ, cha con, anh em, chị em, bà
con dòng họ bêu xấu nhau. Thân thích còn vậy huống nữa là người ngoài…”
Kinh còn kể nhiều
tác hại ảnh hưởng ghê gớm hơn, và cái ghê gớm đó là hai tiếng chiến tranh
xưa nay mãi mãi không dứt “…vì chúng sanh nhơn nơi dục, duyên nơi dục,
lấy dục làm gốc nên mặc áo giáp, khoác trường bào, cầm giáo, cung tên hoặc
cầm đao thuẩn đi tranh đoạt nước người, công thành phá lũy, chống cự lẫn
nhau, thúc trống, thổi kèn, bắt loa kêu réo; hoặc dùng chày đập, hoặc dùng
mâu kích, hoặc bánh xe bén, hoặc dùng tên bắn hoặc lăn đá đè, hoặc dùng nỏ
lớn, hoặc rót nước đồng sôi vào mắt. Trong khi giao đấu, kẻ chết, người sợ
hãi, khổ sở vô cùng. Đó là những nỗi khổ ở đời nầy, nhơn nơi dục, duyên
nơi dục, lấy dục làm gốc.”
Xét rằng nhân loại xưa nay nào đâu
không hiểu hậu quả tham dục, nhưng vì kết chặt nguồn gốc tham ái từ vô
minh nên khó cưỡng lại, đó là nguyên nhân sinh ra từ dục ái. Chẳng nói gì
đến tham bất thiện, mà tham thiện nhưng còn chấp trước phân biệt vẫn chưa
ra khỏi vòng sanh từ luân hồi.
Người học Phật,
tham muốn thiện mà chưa liễu đạo chứng quả vẫn còn trong sinh tử, điều này
càng tự ý thức răn nhắc khéo tu, thế mới rõ con đường sinh tử phải là nhọc
nhằn, dù quả báo thiện có đến cảnh trời cũng vậy.
Một khoảng đời
sống con người chỉ dài bằng thời gian chớp mắt của chư đại Bồ Tát, thì quả
báo thành tựu đời người chẳng đáng nói ra. Đáng nói là thời gian ngắn ngủi
kiếp người mà con người chẳng hay chẳng biết. Nhưng có lẽ do nguyên nhân
suy nghĩ sai lầm, chết rồi là đoạn mất, hoặc người chết tái sanh người,
vật chết tái sanh vật, nên chẳng sợ nhân quả, tăng trưởng tham lam, tận
dụng hưởng vui khoái lạc. Và rồi đau khổ từ đây tăng theo tham muốn, bởi
tham muốn vô hạn mà vật lạc thể chất chỉ là giới hạn mực chừng. Hiểu ý
nghĩa này, dù sống không dư thừa nhưng thân tâm an lạc; an lạc hơn nữa
biết áp dụng giáo lý tu thân dưỡng tánh, sống đời tri túc, nhận ra lý
nghĩa cuộc đời là vô thường, sinh diệt, ý thức con người chỉ là những vọng
động chìu theo tham tình dục ái, nên sống nghĩ đến tha nhân mới trau dồi
hạnh thiện.
Vì còn tham nên
khó thể tỉnh tâm an lạc, khó chấp nhận lời khuyên ngược lại quyền lợi của
mình; cho nên đạo lý giải thoát vô vi mầu nhiệm nào đâu dễ dàng lãnh hội.
Đạo lý vô vi, khó
luận khó bàn, người hiểu được phải là người ít còn tự ngã. Chìu theo dục
tình tham muốn, tức sống chỉ biết mình chẳng nghĩ tha nhân, thì làm sao
hiểu được vô vi là thâm diệu. Trong sách Thiền Lâm Bảo Huấn có nói về
Nghĩa và Lợi như sau:
Hòa Thượng Minh
Giáo nói: Thái Sử Công đọc sách Mạnh Tử đến chỗ vua Lương Huệ Vương hỏi
ngài Mạnh Tử: Ngài chỉ cho tôi cách nào để có lợi cho nước tôi, bất giác
ông để sách xuống thở dài và than: “Ôi, LỢI thực là đầu mối của sự loạn
lạc!” Vì vậy, đức Phu Tử ít nói đến lợi mà Ngài chỉ thường nói về cách đề
phòng cội gốc của nó mà thôi. Cội gốc tức là đầu mối. Cái tệ ham lợi của
những người tôn quí cũng như cái tệ ham lợi của những người bần tiện,
không biết lấy gì mà phân biệt được. Tại nơi công, ham lợi không minh thì
pháp luật loạn. Tại nơi tư, dối trá để lấy lợi thì công việc loạn. Công
việc loạn thì người người tranh nhau sinh bất bình, pháp luật loạn dân oán
chẳng phục. Và, sự ngang trái, đấu tranh, không nghĩ gì đến sự chết chóc
từ đó phát sinh. Đó chẳng phải LỢI thực là đầu mối của sự loạn lạc sao?
Thánh hiền thường
răn việc bỏ lợi, tôn trọng nhân nghĩa, đời sau lại có người cậy vào lợi mà
lừa nhau, làm thương tổn phong hóa, bại hoại chính giáo rất nhiều. Họ công
nhiên phô trương và thực hành đường lối tranh lợi của họ, mà họ lại muốn
chỉnh lại phong tục thiên hạ, để cho thiên hạ không bị kiêu bạc, thì ý
muốn ấy có thể được chăng?
Đọc đoạn trên cho
thấy, đạo Khổng tinh tế nhìn sâu được hậu quả của lợi, là nguyên nhân dẫn
đến loạn lạc cho nên tôn trọng đề cao nhân nghĩa, kẻ trí thức hiền nhân
nào đọc qua lại không cho là bài học ngàn vàng!
Thế gian tu nhân
đức đã sợ lòng tham nên xem lợi chưa chắc đã lợi, vì muốn lợi phải nỗ lực
ra công lấn áp vấn đề, giành mình phần thắng, nhất định không ít thì
nhiều, đối tượng tranh đua phải tổn thương, bại hoại. Đối tượng đó nếu là
vật vô tri, vô tình tất phải mất đẹp cảnh vật thiên nhiên, ảnh hưởng đến
môi trường đời sống. Đối tượng là vật hữu tình, thức giác, chắc chắn phải
đau khổ buồn lo. Nếu xử thế được mình lợi người thì có được bao người làm
được. Lợi nhỏ còn có thể giải quyết êm xuôi, nhưng lợi càng lớn, ắt tâm
tham dấy khởi. Như phần trên đã trình bày lời Phật dạy, cũng vì dục là sự
tham muốn mà tan nát gia đình rồi dẫn đến chiến tranh tàn phá. Dục đó là
nguyên nhân muốn lợi dưỡng bản thân mà sinh ra hủy hoại tất cả.
Chuyện nhà vua
Lương Huệ Vương hỏi Ngài Mạnh Tử về cách làm lợi cho đất nước, chứ
không chỉ riêng cho vua, cũng còn tỏ ra lo cho dân cho thiên hạ, nhưng
Thái Sử Công vẫn thấy xót xa, nhìn được sự nguy hại rồi. Vì ông quả thật
đầy lòng nhân đạo, không những thấy chỉ có đất nước mình, mà thấy nơi đâu
cũng là con người, nơi đâu cũng muốn sống thái bình an lạc. Chỗ ông thấy,
đó là lòng tham phá hoại tánh hiếu sinh nhân nghĩa vậy.
Với đạo giải
thoát, đây là cơ bản bài học nhân quả hướng đến tha nhân phụng trì chánh
pháp. Tuy vậy nếu không tiến xa hơn am tường giáo nghĩa giải thoát, sự lợi
ích, lợi dưỡng khi hành đạo vẫn khó thể tự tại vô ngại được. Như thế chỉ
trừ được tánh tham, trừ được lợi dưỡng, trừ được tự ngã thấp hèn, là khi
hiểu được các pháp đều do duyên sinh nên vô thường, vô ngã vậy. Đó là
nguyên lý cơ bản thực hành làm lợi cho mình cho người mà không đi sai
chánh pháp.
Con người khởi tâm
tham, tất nhiên vì nguyên nhân chấp ngã thật có, khởi tâm đạt lợi riêng
mình vì chưa hiểu các pháp do duyên sinh. Vì không hiểu nên cho thân tâm,
vật chất vũ trụ, vạn hữu là thật, nên chấp vào bám giữ đó là điều đương
nhiên; và đương nhiên tiếp theo, lo sợ đánh mất trong khi bám giữ, cuối
cùng kết quả sống chẳng tự tại, sống ràng buộc trong pháp nhiễm thế gian
mà không thấy được đạo lý nhiệm mầu giải thoát.
Thân tâm tự tại là
hiểu được lý đạo nhiệm mầu, và lý đạo cao siêu đó chỉ là ít tham biết đủ.
Thân là vật chất, tâm là tinh thần; người không tham đắm thân chẳng mệt
nhoài đeo đuổi, tâm chẳng dao động rối ren.
Lý đạo cao siêu
nhưng chỉ đơn thuần từ cuộc sống hằng ngày hiện qua sinh hoạt thân tâm.
Người học Phật tự nhủ mình đang đi trên đường giải thoát, nếu không ý thức
tham đắm là nguy hại cho mình, thì làm sao tự tại, dù giáo lý hằng ngày
đọc tụng đến nhuần nhuyễn! Chính ngay tham tu, tham học, giúp người cứu
vật mà chư Bồ Tát còn xem chỉ là phương tiện, chẳng xem việc đó tự hào, tự
mãn động đến chân tâm. Chân lý này Bồ Tát mới tự tại, và cũng không hiểu
lý này chúng ta phải mãi nhọc nhằn sinh tử, dù rằng Phật sự đa đoan! Phật
sự đa đoan mà tự tại mới là tinh thần Bồ Tát đạo, mới hiểu được giáo lý vô
thường “thành, trụ, hoại, không”. Tham làm thiện chỉ mong cầu giải thoát,
việc tham này chẳng phải là tham; chẳng phải tham nên việc thiện hay không
chẳng làm tâm người vướng mắc, cho nên thân tâm tự tại.
Điều giác ngộ thứ ba: Tâm nếu không
biết đủ, chỉ lo việc tham cầu, sẽ tăng thêm tội ác. Bồ Tát không như vậy,
thường nhớ đến tri túc, vui cảnh nghèo giữ đạo, lấy tuệ làm sự nghiệp.
Đệ tam giác tri:
Tâm vô yểm túc, duy đắc đa cầu, tăng trưởng tội ác. Bồ tát bất nhĩ, thường
niệm tri túc, an bần thủ đạo, duy tuệ thị nghiệp
Điều thứ ba nhắc
lại lần nữa sự nguy hại của tâm tham, là nguyên nhân gây thêm tội ác. Nơi
đây ta thấy điểm nhấn mạnh “gây thêm tội ác”, nghĩa là tội ác hiện thời ta
đã phạm, đang phạm, và hiện không khéo tu ta lại chồng chất gây thêm. Như
thế khi có thân này, dù là việc khó được (nhân thân nan đắc) nhưng nơi
thân là việc dễ gây tội ác.
Con người khi nhỏ
chưa ý thức thiện ác, chưa ý thức hoàn cảnh nhiệm mầu, chưa ý thức lý đạo
huyền vi, nên tự nhiên tạo tội. Hành hạ giết chóc loài vật nhỏ nhít chẳng
kể tiếc thương; loài vật làm thực phẩm nuôi thân giết hại đã thấy xót xa,
mà loài chẳng phải để ăn cũng tiêu khiển giết đi làm thích. Rồi tuổi đời
càng lớn nghiệp sát càng cao, thú vui ăn uống thêm cầu kỳ, nghiệp sát bấy
giờ nào đâu kể được.
Thật tình suy
niệm, được sanh làm người quả thật là khó, phải nhờ phước báu tiền kiếp mà
ra, nếu không phải vậy, tại sao biết bao loài vật không phải là người? Có
một vài loài vật có trí thông minh khiến loài người mến phục; phải chăng
sự thông minh đó có thể là tiền nghiệp liên hệ nhân quả cận nhất từ kiếp
người? Đớn đau ngược lại, có những quả báo của một số người đâu đó trên
hành tinh này lại có đời sống khổ đau như loài vật! Vậy chăng sáu nẻo luân
hồi Trời, Người, A Tu La, Địa ngục, Ngạ quỷ, Súc sanh, ta đã từng dạo chơi
qua lại, nên chi có loài động vật gần gũi với người tưởng chừng như thân
quyến!
Ngoài nghiệp tội
ngẫu nhiên vì đời sống nuôi thân, ta lại tạo ra tội khác. Thật tình có gì
gọi là ngẫu nhiên, nhưng vì vô minh không sáng suốt, nên con người cố tự
cho đó là việc tự nhiên. Tội ác khác còn đau đớn khủng khiếp hơn, khi con
người đối xử tệ hại với nhau. Chiến tranh là tội ác không thể chối cãi
được. Trong chiến tranh dù chiến tranh chánh nghĩa, cũng không thể tránh
được việc sát hại hàng lớp người vô tội chết theo. Chiến tranh thế giới
thứ nhất cướp đi bao sinh mạng! Chiến tranh thứ hai lại khủng khiếp hơn,
và còn các cuộc sát chiến khủng bố khác mang đủ danh nghĩa của ý thức, tư
tưởng mệnh danh chánh lý, công minh v.v… Tất cả tội ác như vậy đều do tâm
không biết dừng lại, không biết tri túc, chỉ muốn thỏa mãn bản thân; nếu
thật sự có rộng lòng đến người khác, thì người ấy phải là thân thuộc của
mình. Hoặc rộng lượng đến cùng hết mức, cũng chỉ lo cho người trong đất
nước quốc gia mà thôi. Ý thức như vậy cũng còn được đáng khen, vì nội
chiến huynh đệ một nhà xưa nay vẫn mãi xảy ra. Như thế chỉ có biết đủ
không tham, mới tránh được ác nghiệp trả vay, vay trả.
Nơi đây kinh dạy
Bồ Tát không như vậy, thường nhớ đến tri túc, vui cảnh nghèo giữ đạo,
lấy tuệ làm sự nghiệp. Thế Bồ Tát là ai, mà làm được vậy? Bồ Tát chưa
phải là Phật, Bồ Tát vẫn còn là chúng sanh, nhưng chúng sanh đã giác ngộ ý
thức được vũ trụ vạn pháp, và đang trên đường thực hành giáo lý giải
thoát. Vũ trụ vạn pháp mà Bồ Tát ý thức giác ngộ, đâu phải là việc mù xa
trừu tượng, chính là không gian, vạn vật nơi con người đang sống.
Có hai hình ảnh Bồ
Tát, một là tại gia và hai là xuất gia. Bồ Tát tại gia, không thể đoán
biết được các vị là hạng người nào. Chỉ căn cứ vào hành động từ bi, trí
tuệ có thể xét đoán phần nào họ là Bồ Tát; đương nhiên người xét đoán cũng
phải hiểu biết đúng theo tinh thần từ bi trí tuệ nhà Phật.
Bồ Tát tại gia lăn
xả vào đời quá dễ dàng vì không ai nhận dạng được chư vị; chư vị có khi là
người đang sống gần ta mà ta chẳng biết, nhưng khó hơn nhất, là lắm khi
chư vị hành động ngược lại nhận xét cảm quan lý tưởng của ta. Và có khi Bồ
Tát hiện tướng con người mà ta đang phê bình chỉ trích đó!
Ngày còn Đấng Thế
Tôn tại thế, về mặt chân thiện thâm sâu diệu lý đại thừa, ta nghe qua có
Bồ Tát Duy Ma Cật; về mặt chân thiện thành tựu phước đức có Bồ Tát Tu Đạt
Đa (còn gọi Cấp Cô Độc). Nhị vị Bồ Tát tại gia này có thể nhận ra được, có
thể hiểu được, nhưng Bồ Tát Đề Bà Đạt Đa hay A Xà Thế thì không thể chấp
nhận được, nói chi nhận ra. Tuy nhiên nhị vị khó tin nhận này vẫn là Bồ
Tát! Nếu không phải, Phật đã không thọ ký Đề Bà Đạt Đa thành Phật rồi
.
Riêng Vua A
Xà Thế lúc chưa giác ngộ, việc làm ác độc của ông đã gây nhân duyên dẫn
đưa thân phụ và mẫu thân thấm hiểu rằng chỉ có giáo lý giải thoát của Thế
Tôn mới cứu được biển khổ trần gian này.
Điều đó được minh
chứng, phụ hoàng A Xà Thế là vua Tần Bà Sa La an nhiên thị tịch đi vào
dòng Thánh ngay tại ngục giam trong lúc thân thể bị hành khổ, đó chẳng
khác gì thân mẫu Vi Đề Hy gặp được thắng duyên mục kích cảnh Tây Phương
Cực Lạc sanh về Tịnh Độ. Hình ảnh nghịch hạnh Bồ Tát như vậy phàm phu khó
lường hiểu nổi. Thời nay không phải không có nghịch hạnh Bồ Tát, và sự
nhận diện biết được các Ngài thật khó thể nào dám lên tiếng chỉ thị đích
danh.
Với hàng Bồ Tát xuất gia được
nhận diện đã quá rõ ràng vào thời Đức Phật. Ngày nay phần lớn chỉ là hàng
Bồ Tát sống trong hoàn cảnh lý tưởng độ tha xả kỷ, thể hiện bằng vài hình
ảnh nếp sống: sống chung hòa hợp Tăng, sống nhờ vào thập phương tín thí,
và ít ra phần nào sống không chìu theo ngũ dục
;
chứ ta không thấy Bồ Tát sống bằng thân xả kỷ, vị tha, không phải hoàn
cảnh lý tưởng. Như vậy xét về sự và lý hành trì dung hòa của bậc Bồ Tát
xuất gia thời đại hôm nay khó thể nào nhận ra được. Điều nữa ta không thể
nhận ra Bồ Tát thời nay, vì ta chưa phải là Bồ Tát liễu đạo, sở dĩ ta biết
được một số Bồ Tát lớn thời Phật, đó cũng do Phật nói ra. Chỉ có ngang
trình độ hoặc hơn mới biết được người khác, bằng không chỉ vọng ngữ đoán
mò.
Nhưng việc làm của
một vị phát tâm cầu giải thoát hướng đến tha nhân vẫn mặc nhiên là Bồ Tát,
dù vị đó chẳng cần làm một vị Bồ Tát! Tất nhiên vị đó phải có hành trì,
hành trì phải ngược lại phàm nhân, mà nơi điều thứ ba đây là phải biết đủ,
không tham cầu. Ngài Cấp Cô Độc, vị đại gia tỉ phú, vẫn là Bồ Tát. Ngài
lấy sự bố thí trừ tâm tham, lấy biết đủ một thời hưởng thụ giàu sang trong
quá khứ, để tỉnh thức quay về với đạo Phật, từ bỏ một thời đã qua trong
bóng tối vô minh, mà gia tâm hành phước đến cuối cuộc đời. Sự giàu sang
vẫn làm được Bồ Tát, và có ích lợi cho nhiều người. Thậm chí giàu như vua
cũng là Bồ Tát, Vua A Dục chắc chắn là vị Bồ Tát, người đã có công hoằng
truyền giáo lý giải thoát một cách rực rỡ, sau khi Phật tịch gần ba trăm
năm. Ở nước ta Hoàng Đế Trần Thái Tông hẳn càng chắc chắn là một Bồ Tát,
đọc Khóa Hư Lục với lời lẽ không ai thể tưởng được đây là lời dạy của một
vị vua. Ta thử đọc một đoạn trong “Văn khuyên phát tâm Bồ Đề” như sau: ‘’…Ôi!
xét cho rõ: Trăm năm ánh sáng, trong một sát na; bốn đại huyễn thân, đâu
hay lâu được. Trọn ngày ruỗi rong nghiệp thức, quanh năm đắm đuối trần
lao. Không biết một tánh viên minh, chỉ theo sáu căn tham dục. Giàu sang
nhất mực, khó tránh 2 chữ vô thường; công danh nhất đời, chẳng thoát một
trường đại mộng. Tranh nhân tranh ngã, rốt cuộc thành không. Khoe giỏi
khoe hay, đều là chẳng thật. Gió lửa tiêu tan bao già trẻ, núi khe rũa nát
mấy anh hùng. Mái xanh chưa mấy, tóc bạc vội lấn dần; kẻ mừng vừa đi,
người viếng len chân tới. Một bao máu mủ, chuỗi năm luyến tiếc ân tình;
bảy thước xương khô; rông rỡ tham lam của báu. Thở ra khôn bề thở lại,
ngày nay khó đợi ngày mai…
Thế thì làm Bồ Tát
thật chân, vừa khó cũng vừa dễ, khó là trong khi đang làm vua giàu sang
quyền hạn, dễ là ai mà chẳng có Bồ Đề tâm, tức cái tâm cầu làm Phật độ
chúng sanh. Vấn đề là ta phải nuôi được tâm Bồ Đề luôn ở bên trong, chứ
không chỉ hôm nay, ngày mai lại khác. Sở dĩ ta khác Bồ Tát, khác Phật, sở
dĩ ta chẳng làm được như các Ngài, vì tâm con người luôn chập chờn nữa say
nữa tỉnh. Ta say theo mộng đời như giấc mộng mơ khi ngủ, ta tỉnh cũng chỉ
tỉnh theo mộng đời như tỉnh trong mộng mơ. Đằng nào ta
cũng
trong mộng với mơ! .
Giấc mộng đời là
giả ta cho thật, giấc mộng thật trong đời ta lại chẳng tin! Mộng đời là
cuộc biến thiên, từ trăm năm trước đến trăm năm nay, lớp người luôn thay
đổi, chỉ nói trăm năm thôi, không cần phải nói xa. Người của ngày xưa còn
trẻ nay đã già, chẳng làm gì níu kéo được, người già của ngày nào nay
chẳng còn ở thế gian. Thân thể và kiến thức hiểu biết này, chỉ múa máy
được vài chục năm rồi lặng lẽ ra đi không ai nhắc đến; kẻ làm người được
nêu danh ca tụng, rồi cũng qua đi theo từng thế hệ. Riêng ta cũng vậy, đâu
thể nào biết được mình sẽ sống bao lâu! Cảnh vật tưởng vẫn ngày nào, nhưng
đã và đang thay đổi; người đi xa trở về phải mò bước mà đi, nếu cuộc thiên
tai địa chấn xảy ra thì còn gì người, còn gì cảnh. Đó chẳng phải cuộc đời
là mộng giả sao?