Trang tiếng Việt

 Trang Nhà Quảng Đức

Trang tiếng Anh

Phật Học Cơ Bản


 

 

 

 

Con người giác ngộ 

Thích Phước Tú biên soạn

 

 

Hạnh phúc thay đức Phật ra đời!

Đức Phật là vị hữu tình không có si ám, sinh ra ở đời vì hạnh phúc cho nhân loài. Vì an lạc cho muôn loài, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho loài Trời và loài Người.

 

LỊCH SỬ ĐỨC PHẬT THÍCH-CA MÂU-NI

(624-544 Trước dương lịch)

A. LƯỢC SỬ

I. THÂN THẾ

Đức Phật Thích-Ca Mâu-ni, sinh năm 624 trước dương lịch. Đến nay (2004) là 2628 tuổi.

Ngài tên: Tất-đạt-đa(Siddhattha)

Họ: Kiều-đáp-ma (Gautama-Cồ Đàm)

Dòng: Thích-ca (Sakya)

Sinh tại: Vườn Lâm-tỳ-ni (Lumbini), Thành Ca-tỳ-la-vệ (Kapilavastu) xứ Népal ngày nay (Ấn Độ).

Sinh ngày trăng tròn tháng Vesak (tháng 2) theo lịch Ấn Độ, nhằm rằm tháng 4 âm lịch.

Ngài gốc dân Árya, giống da trắng.

Ngài là Hoàng Thái Tử (con vua)

Cha: Vua Tịnh Phạn (Sudhodana)Mẹ: Hoàng hậu Ma-da (Maya).

Mẹ nuôi: Ma-ha Ba-xà-ba-đề) Maha Pạapati Gotami

Khi còn là Thái Tử, Ngài có vợ là Da-du-đà-na (Ýaodhảa) và một con trai là: La-hầu-la(Rahula) (17 tuổi cưới vợ, 19 tuổi có con).

Ngài sinh và sống trong lúc thời thịnh trị của triều đại.

Ngài có đời sống hạnh phúc hưởng ngũ dục đầy đủ.

 

II.SỰ NGHIỆP

-Ngài xuất gia tìm đạo năm 19 tuổi (mùng tám tháng 2 âm lịch)

-Ngài thành đạo năm 30 tuổi (594 trước dương lịch-ngày mùng 8 tháng 12)( Đạo Phật có từ đây).

-Ngài hành đạo giáo hoá truyền Pháp cứu khổ chúng sanh 49 năm. Đệ tử chính thức là Tăng là Ni-Tỳ-kheo, Tỳ -kheo-ni ( giới xuất gia) trên dưới hai ngàn vị(2000)

-Ngài nhập Niết-bàn(chết) năm 544 trước dương lịch (15-2 âm lịch). Ngài sống được 80 tuổi. Đến nay (2004) là 2628 tuổi.

-Năm ngài mất được lấy làm lịch Phật (ngày giỗ). Nay (2004) là PL.2584. Ngài được người đời tôn là Phật (Bouddha-Giác) hay Phật Thích-ca Mâu-ni (Sakya Muni- người dòng Thích-ca vắng lặng). Ngài tự xưng là Như Lai.

 

III. GIA PHẢ

Đất nước Ấn Độ ngày xưa, trước kỷ nguyên được chia ra làm nhiều vương quốc. Dòng họ Thích-ca là một trong những vương quốc thời ấy. Vị vua được biết là đầu tiên của dòng họ này có tên: Chúng Sở Hứa. Từ vị này truyền đến đời Đại Thiện Sanh vương là tổ bảy đời của Thái Tử Tất-đạt-đa. Hệ thống kế thừa như sau:

Đại Thiện Sanh vương – Sư-ma-ý – Ưu-đà-la - Cồ-la – Sư Tử Giáp - Tịnh-phạn vương - Tất-đạt-đa

 

A.     BÊN CHA THÁI TỬ TẤT-ĐẠT-ĐA:

 

SƯ TỬ GIÁP +KIẾN GIÀ NA

(em gái A-noa Thích Ca)

                                                                             

Sinh ra:

1-     Tịnh-phạn vương

 

+Bà Ma-da                                                         

+Bà Ma-ha Bà-xa-ba-đề

2-     Bạch - phạn Vương → Đề -bà-đạt-đa ─ A-nan

3-     Cam-lộ-phạn Vương → Ma-ha-nam ─ A-na-luật

4-     Hộc-phạn Vương → Bà-sa Bạt-đề

5-     Cam-lộ vương Phi → Da-du-đà-la

 

B.     BÊN MẸ THÁI TỬ TẤT ĐẠT ĐA:

A-NOA THÍCH-CA VƯƠNG + DA-DU-ĐÀ-LA

( Em gái Sư Tử Giáp)

(Vua thành Thiện Tý nước Kosala)

 

Sinh ra:

1-     Thiện Giác vương + Cam Lộ vương phi → Đề-bà, Da-du-đà-la (gả cho Tất-đạt-đa)

2-     Ma-da hoàng hậu +Tịnh Phạn vương →Tất-đạt-đa ( Cưới Da-du-đà-la)

3-     Ma-ha Ba-xà-ba-đề +Tịnh Phạn vương →Nan-đà.

 

B. TRUYỆN TÍCH

I. ĐẢN SANH CHÀO ĐỜI

a. Vào thai:

Vua Tịnh Phạn trị vì vương quốc Ca-tỳ-la-vệ (Kapila-vastu) đã nhiều năm đến tuổi ngũ tuần mà chưa có con nối nghiệp. Vua và hoàng hậu Ma-da đã nhiều đêm trăn trở lo âu cho cơ nghiệp không có ai nối dõi. Rồi một hôm vua và hoàng hậu đến đền Thần để cầu con.

Với tấm lòng chí thành chí kính thần linh, Vua và Hoàng hậu được toại ý hài lòng. Một hôm hoàng hậu Ma-da nằm mộng thấy từ trên không hiện ra một con voi trắng sáu ngà. Voi uy nghiệm xà xuống lòng bà. Hoàng hậu đem điềm mộng này báo cho đức Vua truyền chiêm tinh gia đoán mộng. Nhà đoán mộng cho biết đó là điềm lành, Hoàng hậu sẽ có quý tử. Hoàng hậu có thai, năm này Hoàng hậu đã 45 tuổi.

Từ đó đức Vua và Hoàng hậu rất mực vui sướng. Triều đình, thần dân trăm họ cũng vui lây. Cả đất nước đều rạng ngời niềm hoan hỷ chờ đón một hoàng tử sắp chào đời.

Hoàng hậu Ma-da được từ đức Vua đến triều thần chăm sóc thật chu đáo. Có cả một kế hoạch dưỡng thai đề ra và thực hiện vì đây là quốc bảo quý giá vô cùng vô tận. Kế hoạch dưỡng thai được thực hiện qua hai mặt: An toàn sức khoẻ lành mạnh thân xác và an toàn trí não. Về thai giáo được đặc biệt quan tâm vì đây là nguồn lực trí huệ cho cả dòng tộc và vương quốc. Nhà Vua và triều thần hy vọng hoàng tử sẽ là một bậc tài trí siêu phàm ngự trị ngai vàng đưa đất nước đi lên đến phồn thịnh hùng mạnh tột đỉnh. Hy vọng thật tràn trề về một Thái Tử tương lai, một nhà Vua anh minh lỗi lạc mai kia, vua quan đều hỷ hạ.

TRÍCH KINH:

Kinh Sơ Đại Bổn Duyên - Trường A Hàm - Quyển 1 - Đại Tạng Kinh Việt Nam.

Theo Kinh” Sơ Đại Bổn Duyên”, thì chư Phật ra đời là theo một “ Thường Pháp”, tức Phật xưa cũng ra đời như vậy, Phật nay cũng ra đời như vậy, như đức Phật Tỳ-bà-thi. Trước khi sanh vào thai để thành Phật các vị đều là bậc Bồ-tát. (Điều này có thể hiểu qua sự ra đời của đức Phật Thích-ca Mâu-ni. Ngài cũng theo thường pháp của chư Phật.

-Lời Kinh: “ Bồ tát trước khi vào thai mẹ là ở tại cung trời Đâu-suất. Khi vào thai Bồ-tát lòng chuyên niệm,(luôn giữ chánh niệm) không loạn, đồng thời thân mẹ an ổn, không có những lo âu, trí tuệ tăng trưởng, mẹ tự xem thai thấy thân Bồ-tát các căn (các bộ phận) đầy đủ như màu vàng tía, không vết nhơ, cũng như người có mắt thấy khối lưu ly trong sạch, thấu suốt cả trong lẫn ngoài, không có chướng ngại.

-Bồ-tát từ cung trời Đâu-suất giáng thần vào thai mẹ thì chuyên niệm không loạn, đồng thời tâm mẹ Ngài thanh tịnh, không có những tư tưởng dục nhiễm, không bị lửa dục thiêu đốt.

-Bồ tát vào thai mẹ, chuyên niệm không loạn, mẹ Ngài cũng vâng giữ năm giới, phạm hạnh thanh tịnh, đầy đủ lòng tin và giàu lòng nhân ái, mọi điều lành đều thành tựu, an lạc không sợ hãi. Sau khi bà mẹ mệnh chung thì sanh về cõi trời Đao-lợi”.

b.Chào đời. Thái Tử Tất-đạt-đa hạ sanh

Thời gian lặng lẽ trôi. Niềm mong chờ của người mẹ, người cha và muôn người với cõi lòng háo hức được sớm thấy mặt Hoàng nhi, ngày ấy rồi cũng tới. Hoàng hậu ma-da sắp đến kỳ nở nhuỵ khai hoa.

Theo tục lệ người Ấn Độ lúc bấy giờ, khi người mẹ có mang, trước khi sinh nở thì trở về quê mẹ để sinh nở. Tuy Hoàng hậu Ma-da phu nhân cũng giữ tục lệ ấy. Vả chăng dòng họ bên bà cũng là dòng vua chúa (Vua Thành Thiện Tý nước Kosala) phương tiện cũng đầy đủ.

Bà Hoàng hậu Ma-da lên kiệu, theo sau đoàn thị tùng đông đảo, đủ thầy thuốc chuyên môn hướng về quê mẹ. Đức Vua cũng theo bên đưa tiễn đến tận xa thành. Nhà vua ân cần nhắn nhủ dặn dò hoàng hậu đủ điều, và hẹn ngày gặp lại cùng Hoàng nhi khả ái.

Hoàng hậu trở về quê mẹ thật là sảng khoái, vì quê mẹ êm đềm đẹp đẽ biết bao…nơi đó có bao nhiêu kỷ niệm thời thơ ấu, thời còn là một công chúa xuân thì. Bà đã mong cho mau đến quê nhà. Nhưng con ngựa cứ thong thả mà đi theo lời dặn của đức Vua. Bà cảm nghe thấm mệt, bảo xa phu dừng lại bên đường. Ô! Bên đường là ngôi vườn hoa xinh đẹp. Hoa nở đầy cành như reo cả chào đón Hoàng hậu và Hoàng nhi. Hoàng hậu Ma-da nhìn ngắm vườn hoa bằng tâm hồn thanh thoát lạ! Đây là ngôi vườn hoa Lâm-tỳ-ni (Lumbini) là một công viên của Vương triều.

Hoàng hậu sau khi ngắm cảnh, bà bước về phía ao sen ngắm nhìn sen nở thơm tho dưới ánh sáng ban mai. Bà thoáng hiện như con mình được nở ra từ đoá sen trắng trong kia vậy, và rồi bà nhẹ ngồi xuống bên hồ cho tay vóc nước. Bà rửa tay rửa mặt bằng dòng nước trong mát. Bà nghe hồn lâng lâng.

Sau đó bà nghe bụng mình chuyển động. Bà đứng lên với sự dìu đỡ của những cung nữ. Hoàng hậu ngẩn nhìn một thân cây đầy hoa trắng muốt và bà tiến về cội cây ấy. Cây ấy có tên Ưu-bát-la (Asoka – Vô Ưu). Theo truyền thuyết nhân gian ấn độ xưa, người ta cho rằng cây này ngàn năm mới nở hoa một lần. Và sau khi hoa trổ đó là báo hiệu sẽ có một vị thánh nhân ra đời. Vì vậy hoa này có tên là hoa “Linh Thoại”. Hôm nay hoa Vô Ưu lại nở rộ, màu sắc cực kỳ lộng lẫy, đẹp đẽ vô ngần. Hoàng hậu từ bờ hồ nước từng bước chậm rãi hướng về loài hoa không muộn phiền này. Bà đi chừng năm mươi bước thì đến gốc cây. Bà trông hoa đẹp lạ hồn trộn lẫn vào hương hoa, nghe chừng thanh thoát lắm. Bà chợt nghe bụng mìng quặn thắt, bà đưa tay vịn lấy cành hoa để giữ thăng bằng. Liền khi đó mặt bà chừng như tối sầm lại. Một thoáng mơ màng bà đã sinh con.

Đứa con được sinh ra từ hông phải của bà. Và ô kìa đó là một Hoàng nam. Hoàng tử vừa ra khỏi lòng mẹ liền bước đi bảy bước, mỗi bước nở một hoa sen. Hoa sen đã nâng chân đỡ bước hài nhi. Đứng trên hoa sen thứ 7, Hoàng tử tay phải chỉ trời, tay trái chỉ đất, mặt xoay nhìn bốn hướng thốt lời:

Thiên thượng hạ duy ngã độc tôn

(Trên trời, dưới trời chỉ có TA trên hết)

TRÍCH KINH:

* Cha mẹ, nơi sanh của đức Phật, được đức Phật nói qua kinh “ Sơ Đại Bổn Duyên”.

Thân phụ của ta tên là Tịnh Phạn, thuộc dòng Sát-đế-lợi, mẹ tên Đại Thanh Tịnh Diệu, kinh thành trị vì tên Ca-tỳ-la-vệ. Đất rộng dân giàu có, Ta sinh ra ở đó.

Lúc bấy giờ cả trời đất thảy đều huy hoàng trong sáng lạng. Một buổi sáng Đản sanh một vị thánh. Đức Phật ra đời qua vị Thái Tử vừa mới sinh, Ngài đã dơ tay vẫy chào bạn đời, vạn loại sinh linh.

Thời gian này, khung cảnh này, Ôi! Linh thiêng lạ!

Một đấng vĩ nhân, một bậc thánh ra đời có khác.

Đứa bé chào đời từ hông phải của mẹ, khiến cho da thịt Người phải nhiều đau nhức. Hoàng hậu Ma-da thiếp đi khi biết mình vừa sanh được một đứa con trai kháu khỉnh.

Lúc ấy một luồng gió mát ở đâu lại đưa lại mơn man mái tóc lơ thơ quăn tròn của Thái Tử và cùng người cảnh vật. Cành lá Vô Ưu khẽ động, run mình cho những cánh hoa tuyệt diệu, không vướng muộn phiền đầy niềm hỷ lạc trang nghiêm buông nhẹ bên mình Thái Tử, như chúc tụng, như tán thán một con người siêu phàm xuất thế. Tiếng gió cũng ngân nga ca tán qua lá cành vườn ngự Lâm-tỳ-ni.

Mọi người có mặt nơi ấy hân hoan rõ nét, người có trách nhiệm lo toàn phận sự ắm bồng Thái Tử, chăm sóc cho Hoàng hậu. Đặc biệt một thị vệ đã nhanh chân cấp báo tin vui cho Vua Tịnh Phạn.

Nhà Vua hay tin đại hỷ vui sướng biết nhường nào. Ông như trẻ lại tuổi đôi mươi. Mặt mày tươi rói, những sợi râu bạc nhảy nhót tung tăng quanh chiếc miệng già rực sáng thanh xuân. Ông hò hét ba quân tướng sĩ hãy xa giá cấp tốc để đến rước phu nhân và quí tử về hoàng cung.

Đây là một cái tin mà nhà Vua chờ đợi, không phải chỉ chín mười tháng mà chờ đợi gần cả đời. Lên xe rồi mà nhà Vua vẫn còn thấy chậm, hối thúc xe hãy đánh ngựa nhanh hơn. Lòng vua chừng như tách khỏi người để đến bên con trai yêu quí trước.

Đến vườn Lâm-tỳ-ni, nhà Vua như một chiến tướng giữa sa trường, không đợi long xa dừng, đức Vua nhảy phốc xuống và chạy nhanh đến đám người lúm xúm dưới cội Vô Ưu. Nhà Vua hô lên: Con ta đâu? Con trai yêu quí của ta đâu? - Mọi người có mặt không kịp quỳ để tung hô vạn tuế. Nhà Vua cũng không cần lễ nghi phiền phức ấy. Đức Vua tiến thẳng đến người cung nữ đang bồng đứa bé. Mọi người có mặt đều quì rạp xuống và rơm rớm nước mắt khi nhìn thấy đức Vua đang đưa tay bồng con trai đầu lòng của mình. Họ đầy niềm hỷ lạc an vui lạ.

Nhà Vua bồng con bằng cái bồng lọng cọng, lần đầu biết làm cha khi vào tuổi năm mươi. Nhà Vua bồng con tươi cười hơn bao giờ hết. Nhưng nhìn kỹ sẽ thấy đôi hạt lệ đang lăn tròn trên má già nua. Nhà Vua chừng như quên tất cả những gì xung quanh từ người đến khung cảnh và Hoàng hậu nữa. Một chốc sau như tỉnh còn mơ, nhà Vua nhìn đứa con với ánh mắt trìu mến vô vàn và hỏi: Hoàng hậu ta đâu? Trao con cho thị nữ, nhà Vua đến bên Hoàng hậu đang thiêm thiếp trở mình rên đau. Nhà Vua thấy thế nghe lòng mình đau nhói. Ngài cấp tốc truyền lệnh hồi cung.

Vườn Lâm-tỳ-ni hôm nay đã là nơi đỡ đấng Thầy trời người, đã chứng kiến và là chứng tích cho sự xuất hiện một vị Phật ra đời cho thế nhân, cho vạn loại chúng sinh. Vườn Lâm-tỳ-ni thật sự là thánh địa nhân gian. Hoa Vô Ưu vì vậy mãi mãi là Vô Ưu. Muộn phiền, khổ não của người đời của chúng sinh đã được giải quyết từ đây.

Ngày Hoàng tử chào đời nhằm đêm trăng tròn tháng Vesak, tức tháng hai theo lịch Ấn Độ. Nếu tính theo âm lịch Trung Hoa, Việt Nam là vào ngày rằm tháng tư, tức là ngày 15 tháng tư âm lịch. Năm ấy là năm 624 trước Dương Lịch. Tính đến nay (2004) là (624 + 2004) = 2628 năm tuổi. Hoàng tử sanh tại Lâm-tỳ-ni (Lumbini) nước Népal (Ấn Độ) bây giờ.

-Về năm sinh này có nhiều truyền thuyết khác nhau, có chênh lệch một năm hoặc 2-3 năm. Không nhiều. Nhưng theo Đại Hội Phật Giáo thế giới thì chọn năm 624 trước dương lịch và là ngày trăng tròn.

-Và về nơi sinh thì được xác định là tại Lâm-tỳ-ni(Lumbini) là một khu đất tại phía nam nước Népal ngày nay (Bắc nước Ấn Độ), chính chỗ này có dựng một trụ đá và được khắc chữ xác định nơi sinh ra của Phật một cách rõ rệt, do vua A-dục dựng lên để tôn thờ và đánh dấu. Trụ đá này được phát hiện bởi nhà khảo cổ người Anh có tên Cuningham. Ông tìm thấy vào năm 1896. (Vua A-dục: -336─ - 272 trước D.L) Vua A-dục đã ghi:

1- Năm Thiên Ái Thiện Kiến thứ 25, A-dục đích thân đến đây.

2- Đức Phật đà, dòng họ Thích-ca đi xuất gia, Ngài đản sanh nơi này.

3- Vua sắc dựng thạch trụ để kỷ niệm nơi Ngài đản sanh.

4- Thôn Lumbini nơi Phật đản sanh được miễn thuế.

5- Đó là hồng ân Phật đối với nơi Ngài đản sanh.

 

Qua những phát hiện này, người ta mới xác định đức Phật là một nhân vật lịch sử. Là một con người có khai sinh rõ ràng, do công phu tu hành giác ngộ thành Phật, không phải là nhân vật huyền thoại, tưởng tượng. Như vậy đức Phật là một con người thực sự đã sinh tại Lâm-tỳ-ni đúng như sử sách trong nhà Phật từ xưa đã nói.

Và mới đây vào đầu thập niên 90 của thế kỷ 20, có hai nhà khảo cổ, một người Nhật và một người Népal đã đi theo di chỉ của trụ đá vua A-dục mà khai quật vùng đất đó. Họ đào xuống hơn năm mét đất và gặp một viên đá khối chữ nhật diện tích bề mặt khoảng 40x50 cm và dầy 20cm. Họ cho rằng đây là chỗ xác định đúng nhất là vị trí của đức Phật chào đời khi là hài nhi.

Viên đá này được hiểu như một đứa bé. Đứa bé “ Phật” được ra đời tại đây.

TRÍCH KINH:

(Kinh Sơ Đại Bổn Duyên- Kinh Trường A-hàm. Quyển 1- Đại Tạng Kinh Việt Nam).

- Về việc vào thai và sinh ra của đức Phật trong Kinh Sơ Đại Bổn Duyên cũng có ghi:

“- Lúc mới nhập thai thì chỗ tối tăm nhất cũng đều nhờ ánh sáng tự thân mà chói sáng. Đến khi Ngài sanh ra từ hông bên phải của mẹ, thì cõi đất chấn động, hào quang chiếu sáng khắp nơi.

- Bồ-tát đương lúc sanh ra từ hông bên phải của mẹ thì chuyên niệm không loạn và mẹ của Bồ-tát lúc ấy, tay vịn cành cây, không ngồi, không nằm. Bấy giờ, bốn thiên tử tay bưng nước thơm đứng trước Phật mẫu thưa rằng: “ Thưa thiên mẫu, nay ngài sanh Thánh tử, vậy chớ có âu lo”.

- Bồ tát đương lúc sanh ra từ hông phải thì chuyên niệm không loạn, thân ngài thanh tịnh, không ô nhiễm, cũng như người có mắt, lấy ngọc minh châu sạch sẽ đặt lên lụa trắng, hai bên không làm bẩn nhau, vì cả hai đều sạch. Bồ-tát ra khỏi thai cũng như thế ( mẹ, con đều không nhơ).

- Bồ tát đương lúc sanh ra từ hông phải thì chuyên niệm không loạn, ngài từ hông phải đản sanh và bước xuống đất, đồng thời đi bẩy bước, không cần người nâng đỡ. Ngài nhìn khắp bốn phương và đưa tay lên nói rằng:” Trên trời dưới đất, duy chỉ có ta là tôn quí! Ta muốn độ chúng sinh thoát khỏi khổ sanh, già, bệnh, chết”.

- Bồ-tát đương lúc sanh ra từ hông phải thì chuyên niệm không loạn, có hai suối nước vừa ấm, vừa mát đều tuôn chảy để cung cấp cho Ngài tắm”.

c. Tướng mạo- đặt tên:

Tin báo về Hoàng tử chào đời, cả triều đình thần dân trong hoàng thành không mấy chốc đều rõ biết. Tất cả đều hân hoan nô nức. Triều thần đều nhanh chóng tổ chức một lễ đón rước Hoàng tử, Hoàng hậu và đức vua hết sức là trọng thể, hết sức tưng bừng. Ngày thì cơ xí rợp trời, đêm thì đèn hoa lấn át cả trăng sao. Dù rằng đêm nay trời trong trăng tròn vành vạnh đẹp lạ lùng. Lễ đón mừng được diễn ra suốt ba ngày đêm. Hoàng thành Ca-tỳ-la-vệ tưởng chừng như phải thức trắng reo ca cả đêm ngày.

Việc này đã làm vang động cả trời đất, giật dậy những ai muốn lịm mình trong giấc ngủ, trong say mê tĩnh lự. Các vị tiên từ trên non trên núi cũng đều biết đến. Dù là trên ngọn Hy Mã Lạp Sơn đi nữa thì hào quang từ Ca-tỳ-la-vệ cũng phản ánh qua gương mặt băng làm sáng lên cả đỉnh non thiêng cao nhất thiên hạ. Ngọn Evesest cũng đồng vọng lời hoan hỷ. Vị tiên trưởng A-tư-đà (Asita), nhà tu hành thường được gọi là Kàladevala cũng biết được tin này. Ngài cho rằng đây là “tin mừng” không chỉ cho đức vua Tịnh Phạn, hoàng hậu Ma-da, mà còn là tin mừng cho cả nhân loại, cả Chư Thiên, cả muôn loài sinh linh. Tiên A-tư-đà lấy làm hoan hỷ lắm. Được biết ngài là một vị tiên trưởng có nhiều uy tín trong chốn tu hành và nhân gian Ấn Độ thời ấy.

Tiên trưởng A-tư-đà tuy tuổi đã già, nhưng khi biết được “ tin mừng” này, Ngài không nệ tuổi già, mà vận hết công phu hàm dưỡng bấy lâu nay cầm gậy xuống núi vào hoàng thành để ra mắt “ một trẻ sơ sinh”. Trẻ sơ sinh này dưới con mắt Ngài, đó là tinh hoa của trời đất đã kết tụ nên, là vật chí linh của loài người, là trân bảo của thời đại của mai sau.

Tiên trưởng với dang già nua, nhưng tinh anh qua ánh mắt ngời sáng, cao khiết qua bộ râu tóc bạc như màu tuyết. Đặc biệt râu Ngài đã qua rún trắng toát lên vẻ tiên phong đạo cốt. Với chiếc áo mong manh qua nhiều năm tháng sương pha tuyết phủ cùng chiếc gậy khẳng khiu như thân xác, Ngài đi từng bước chậm rải phiêu bồng vào hoàng thành đến nội cung.

Ngài đã từng là quí nhân của đức Vua và triều đình nên Ngài được tiếp đón rất mực tôn kính. Ngài đến diện kiến đức Vua. Dầu rằng đức Vua đang lo buồn cho sức khoả của Hoàng hậu, nhưng nhà Vua vẫn ân cần tiếp kiến vị tiên trưởng.

Sau khi thi lễ, vị tiên trưởng, người đại diện cho kiến thức thời đại này mở lời chúc mừng cho đức Vua và hoàng tộc vừa sinh được một vị Hoàng tử. Kế đó ngài tỏ ý với đức Vua bằng thái độ trân trọng tôn kính muốn được chiêm ngưỡng dung mạo Hoàng nhi.

Nhà Vua rất hoan hỷ, rất mừng vì Nhà vua cũng có ý muốn triệu tiên trưởng vào cung để xem tướng cho Hoàng tử cũng là chứng minh cho Vua đặt tên con mình. Nhà Vua nhất tâm hoan hỷ.

Hoàng tử cũng được cung nữ ẵm ra trước đức Vua và tiên trưởng. Tiên A-tư-đà vừa thấy Hoàng tử đã cúi đầu sụp lạy một cách thành kính. Hoàng tử nhoài người đặt đôi chân tí hon lên đầu tóc tiên trưởng. Mọi người có mặt đều rất đỗi kinh ngạc. Hoàng tử ban lễ xuống ân huệ cho vị tiên trưởng, khiến cho tiên A-tư-đà càng thêm cảm kích.

Tiên trưởng xin được xem tướng Hoàng tử, đức Vua hoan hỷ. Tiên A-tư-đà nhìn Hoàng tử thật chăm chú. Ngài nhìn từ trên đầu xuống đến chân, từ trước ra sau. Ngài quan sát khắp rồi gật gù khen: Theo như các bậc cổ đức còn lưu lại qua quí tướng của con người, thì Hoàng tử có đủ 32 tướng quí. Đây là tướng của bậc Chuyển luân thánh vương, một vị Vua thánh quý nhất trong các Vua. Là vị Vua của tất cả Vua. Kính xin chúc mừng bệ hạ có một quí tử. Kính xin chúc mừng bệ hạ!

Nói xong tiên A-tư-đà bậc lên một tràng cười vui vẻ, tràng cười đầy hạnh phúc.

Nhà Vua theo đó mà vui lây. Nhà Vua vuốt chòm râu mà thích chí cười khoan khoái như nói lên: Quả là trời không phụ ta, tặng cho ta một đứa con quý như thế này. Nhà Vua cũng biết rằng xưa nay chưa có ai là đủ 32 tướng quí như vậy. Nay con ta có đủ thật là quý báu nào bằng. Nhà Vua nhìn vào con trai còn đỏ hỏn mà lệ lăn tròn. Nhà Vua quá ư sung sướng.

Qua hết tràng cười thanh thoát chúc phúc, tiên A-tư-đà lại cúi mặt khóc lên với tiếng khóc tức tưởi. Ôi! Thảm thương thay cho một cụ già tóc bạc phơ lại quẹt nước mắt trước đứa trẻ sơ sinh mủm mỉm. Hoàng tử khẽ chép miệng, lại hé môi cười. Phải chăng Hoàng nhi thông cảm điều gì sâu kín trong lòng tiên trưởng.

Đức vua thấy tiên trưởng bật khóc lấy làm lạ liền tắt lụn nụ cười hỏi rằng:- Tại sao tiên trưởng hết cười lại khóc vậy? Chẳng hay có gì nguy hại cho con ta và ta không?

Tiên A-tư-đà nhẹ lau nước mắt và quỳ thưa:

-Muôn tâu thánh thượng, kẻ hèn này đã làm kinh động bệ hạ, kính xin bệ hạ thứ lỗi. Kẻ hèn cười khóc đây là vì:- Cười là mừng cho bệ hạ có quí tử, mừng cho thiên hạ có cứu tinh nhất là mừng cho Hoàng tử sau này sẽ thành đạt danh phận cao nhất trong thế gian. Sẽ là người có trí tuệ siêu việt trong loài người loài trời. là người sẽ tự giải khổ cho mình và cứu khổ cho người.

Và khóc là vì kẻ hèn này chết trước khi Hoàng tử thành đạo, không được học hỏi ở Người con đường giác ngộ giải thoát. Kẻ hèn này vì xót thương cho thân phận mình mà khóc.

Muôn tâu bệ hạ hãy hiểu cho kẻ hèn này.

Tiên trưởng lại tiến lên và đến bên Hoàng tử. Hoàng tử lại nảy người quơ tay, mắt mở sáng nhìn thẳng vào tiên trưởng như truyền sức sống mới cho tiên trưởng. Tiên trưởng đón nhận ánh mắt tròn vo trong sáng như pha lê ấy, ấm áp tình người và chan hoà nhựa sống an vui được lưu suốt một bộ não rất ư là đặc biệt. Bộ não vĩ đại siêu việt này ẩn dưới hộp sọ nhô cao khác thường. Đây là đảnh tướng quang minh. Đảnh đầu nhô cao được phủ lên một lớp tóc đen nhánh và xoăn tròn theo chiều phải. Đây là tướng trí tuệ phi phàm. Tiên trưởng đã đặc biệt quan tâm vào quí tướng này.

Và tiên trưởng xin được vén chiếc áo cỏn con của Hoàng tử để được xem kỹ hơn về bộ ngực no tròn của Hoàng tử . Tiên trưởng đã sáng mắt lên khi thấy trên ức ngực cu vun đầy kia hiện lên hình dáng chữ Vạn. Với hình chữ vạn cộng thêm đảnh đầu kia đã khiến cho tiên trưởng sụp xuống lạy thêm Hoàng tử một lần nữa.

Nhà Vua lấy làm lạ nửa mừng nửa lo, Vua hỏi rằng:

-Có chuyện gì thế, nói cho trẫm rõ?

Tiên A-tư-đà quì thưa: Muôn tâu bệ hạ, thật là đặc biệt, thật quí hoá thay. Hoàng tử không phải là con người bình thường sanh ra để lập công danh như bao người. Hoàng tử sẽ không ngồi ngai vàng, không làm Vua. Hoàng tử sẽ xuất gia làm Sa-môn và sẽ giác ngộ giải thoát. Ngài sẽ độ chúng sanh thoát khổ đau. Chính đảnh tướng và vạn tướng đã nói lên điều đó. Kính mong bệ hạ lưu ý cho việc này.

Nhà Vua nghe qua rụng rời cả tay chân, ngồi thụp xuống ngai vàng lắc đầu buồn rầu như nói lên: Con ta rồi phải như thế sao?! Rồi ai sẽ kế nghiệp ngồi vào tiếp ngai vàng của ta đây? Con ta sẽ bỏ ta mà đi à?!

Để chờ nhà Vua qua chút ưu sầu, tiên trưởng lại quan sát Hoàng tử kỹ hơn. Thì ra càng nhìn, tiên trưởng càng thấy rõ Hoàng tử là một con người đặc biệt nhất trần gian. Hoàng tử càng lớn sẽ càng đẹp lạ ra, sẽ là một chàng trai anh tuấn nhất thế gian. Hoàng tử chẳng những đẹp người mà còn rất đẹp nết. Đầu óc thông minh mà cõi lòng lại thương người thương chúng sanh vô hạn. Hoàng tử quả là bất phàm, quả là thập toàn thập mĩ. Ôi! Đây là đại phước cho chúng sanh. Tiếc quá! Tiếc qúa cho ta!

Nhìn qua đức Vua khi biết đức Vua đã qua cơn sầu não, tiên A-tư-đà mới hỏi vua rằng:

-Muôn tâu bệ hạ, vậy chẳng hay bệ hạ đã đặt tên cho Hoàng tử là gì?

Nhà Vua trầm ngâm mà rằng:- Trẫm chưa biết đặt tên gì cho xứng, nay tiên trưởng đã cho trẫm biết về Hoàng tử như vậy thì trẫm sẽ đặt tên cho hoàng nhi là:Tất-đạt-đa (Siddhatha). (Tên này có nghĩa là: Người được toại nguyện).

Tiên A-tư-đà vui lắm, vuốt chòm râu dài trắng nuột nà mà rằng: Tốt lắm. Hoàng tử sẽ là” người được toại nguyện”. Được vậy kẻ hèn này cũng rất toại nguyện.

Thế là sau đó nhà vua truyền chỉ mở hội đặt tên cho Hoàng tử.

Một lễ hội được tổ chức tưng bừng. Hoàng tử tí hon là nhân vật chính. Quà tặng từ các vương tử công thần trưởng giả dành cho Hoàng tử không biết bao nhiêu. Buổi lễ này các thầy Bà-la-môn chủ trì cử hành lễ. Nhân đây nhà Vua cũng tạm thời qua được cơn phiền muộn.

TRÍCH KINH:

(Kinh Sơ Đại Bổn Duyên. Kinh Trường A-hàm. Quyển 1 - Đại Tạng kinh Việt Nam)

- Phụ vương liền triệu tập các tướng sư và các nhà đạo thuật mà khiến họ xem tướng Thái tử, để biết điềm kiết hung của Ngài. Bấy giờ các thầy tướng vâng lệnh liền cởi áo Thái tử ra xem, thấy có đầy đủ tướng tốt và đoán rằng: Người có tướng này theo một trong hai con đường chắc chắn không sai.

1-Nếu Ngài ở nhà thì sẽ làm Chuyển Luân Thánh Vương, trị vì bốn châu thiên hạ, đầy đủ bốn tướng quân binh. Dùng tránh pháp trị dân, không thiên vị, thi ân khắp thiên hạ, bảy báu tự nhiên đến, có ngàn người con mạnh mẽ, có thể hàng phục ngoại địch, không cần dùng binh khí, gậy gộc mà thiên hạ vẫn thái bình.

2- Nếu ngài xuất gia học đạo, sẽ thành Chánh Giác, đầy đủ mười hiệu. Bấy giờ các Thầy tướng liền thưa với Vua rằng:

“Thái tử đã có đủ 32 tướng tốt, thì sẽ theo một trong hai con đường quyết chắc không sai: Nếu ở nhà sẽ làm Chuyển Luân Thánh Vương, nếu xuất gia, chắc sẽ thành bậc Chánh Giác, đầy đủ mười hiệu”.

BA MƯƠI HAI TƯỚNG CỦA THÁI TỬ TẤT-ĐẠT-ĐA

Bấy giờ Vua cha ân cần hỏi lại các tướng sư hai, ba lần, rằng:”Các ông hãy xem lại Thái tử, ba mươi hai tướng tốt của Thái tử là những tướng gì?” Lúc ấy, các tướng sư liền cởi áo Thái tử ra xem, và nói 32 tướng đó như sau:

1.      Bàn chân bằng phẳng, đầy đặn, bước đi vững vàng.

2.      Dưới bàn chân có tướng bánh xe, như xe đầy đủ ngàn căm, rất rõ tươi tắn.

3.      Có màng lưới mỏng ở giữa kẽ tay và chân, chân như ngỗng chúa.

4.      Tay chân mềm mại như áo trời.

5.      Ngón tay ngón chân thon dài, không ai đẹp bằng.

6.      Gót chân đầy đặn, nhìn không chán.

7.      Bụng như bụng nai, trên dưới thon thon.

8.      Các khớp xương móc lấy nhau như dây xích.

9.      Có tướng mã âm tàng.

10.  Đứng thẳng, tay duỗi dài quá gối.

11.  Mỗi lỗ chân lông có một lông, màu sắc như lưu ly, xanh và xoay đều về phía hữu.

12.  Lông xoay về phía hữu mà xanh biếc rất đẹp

13.  Thân như màu vàng của vàng

14.  Da mịn màng, không dính bụi.

15.  Hai vai ngang bằng, đầy đặn, tròn đẹp.

16.  Giữa ngực có chữ Vạn.

17.  Thân cao hơn thân người thường.

18.  Bảy lỗ trong người đều bằng phẳng, đầy đặn.

19.  Thân cao rộng như cây Ni-câu-loại.

20.  Hai má như má sư tử.

21.  Ngực vuông ngay ngắn như ngực sư tử.

22.  Trong miệng có bốn mươi chiếc răng.

23.  Răng vuông ngay ngắn, bằng và đều.

24.  Răng kín không hở.

25.  Răng trắng tươi sáng

26.  Yết hầu trong sạch, ăn thức ăn gì cũng vừa

27.  Lưỡi rộng, dài, có thể liếm tới hai mép tai.

28.  Tiếng nói trong suốt.

29.  Con mắt màu xanh biếc.

30.  Mắt như mắt trâu chúa, hai mí đều nháy một lần.

31.  Có lông trắng giữa hai chân mày, mịn thắm, dịu dàng, nếu kéo ra thì dài một tầm và thả ra thì xoay về bên hữu, đồng thời xoăn theo kiểu ốc như chơn châu.

32.  Trên đảnh có nhục kế.

c-Đại Tạng – Hoàng hậu Ma-da mất

Lễ đặt tên xem tướng đoán vận mệnh Hoàng tử xong, nhà Vua lại dốc lòng lo cho Hoàng hậu.

Bà Ma-da, khi biết mình đã hạ sanh một Hoàng nhi xinh đẹp đầy đủ 32 tướng, bà vui mừng đến nỗi ngất đi. Được cấp cứu bà tỉnh lại và mỉm cười trong nước mắt, mấp máy đôi môi mà rằng: Ta đã làm xong bổn phận, làm tròn chức năng một con người. Con ta! Ôi con yêu quí của ta, con hãy lớn lên thật tốt, sẽ là niềm tin cho dòng tộc, cho thiên hạ.

Nhà Vua luôn túc trực bên Hoàng hậu, Ngài cầm tay bà mà rằng: Hậu này! Con ta thật tốt lắm, nó sẽ đúng như ý Hậu thôi. Hậu hãy an lòng mà tịnh dưỡng, bệnh dầu có nặng rồi cũng qua đi. Thái y luôn có mặt, nỗ lực chữa trị, Hậu hãy yên tâm.

Hoàng hậu lại thiếp đi, buông lỏng tay nhà vua.

Đức vua buồn rười rượi. Vui đó rồi buồn đó, cảnh đời thật trớ trêu. Nhà vua lại cảm thán: Phải chi mẹ tròn con vuông thì hay biết mấy! Tại sao trời đất lại đối xử với ta thế này!

Nhà vua lại mất ăn mất ngủ, lúc tỉnh lúc mơ về bên con bên mẹ. Con mỉm cười đỏ hồng, mẹ thì hốc hác xanh xao, một cảnh tình khiến não lòng người. Không riêng gì đức Vua như thế mà cả hoàng gia cung phi đều vui buồn lẫn lộn. Nhìn qua Hoàng tử thì vui, trông qua Hoàng hậu thì buồn.

Dù rằng đức Vua được triều thần sắp xếp cho việc nuôi nấng Hoàng tử chăm sóc Hoàng hậu thật chu đáo, đức Vua vẫn không yên.

Về phần mẹ thì giao cho Thái Y chăm lo. Về phần con thì giao cho bà dì ruột Hoàng tử là em gái hoàng hậu Ma-da là bà Ma-ha Bà-xà-ba-đề ( Ma ha Prajàpati) chăm sóc nuôi nấng.

Bà Ma-ha Ba-xà-ba-đề  thay Hoàng hậu Ma-da thương yêu Hoàng tử rất mực. bà sắp xếp cho bao nhiêu người xúm lo cho Hoàng tử. Hoàng tử được tưng tiu từng chút. Hoàng hậu Ma-da vì xé bụng sinh con nên sức khoẻ cứ mòi mòn. Không thể nuôi cho con bú được. Bà rất lấy làm buồn cho mình. Thế rồi ngày thứ bảy, bệnh bà càng nặng, Thái y hết cách. Bà cố gắng mấp máy đôi môi: Con!

Bà Ma-ha Ba-xà-ba-đề bồng Hoàng tử đến trước Hoàng hậu và gọi:

-Con Hoàng tỷ đây! Hoàng nhi đây!

Hoàng hậu cố hết sức mở mắt trông con lần sau cuối rồi từ từ khép nhẹ đôi mi. Người mẹ đầy phúc lạc trút hơi thở cuối cùng. Bà đã viên mãn cuộc đời, đã dâng tặng cho cuộc đời một bông hoa tươi đẹp nhất và hữu dụng nhất có khả năng chữa lành các chứng bệnh khổ sanh tử cho chúng sanh. Đó là cành hoa vô ưu Tất-đạt-đa.Một đấng cứu tinh cho nhân loại chúng sanh.

Hoàng hậu Ma-da lìa đời sau 7 ngày sinh nở, tuy vậy vẫn còn số đông người cho rằng bà vì có đức đại phước đức sanh ra được vị Phật tương lai, nên bà tránh được ghánh nặng tội nghiệp cõi nhân gian để về trên cõi trời Đao lợi mà hưởng lạc phúc muôn đời.

Vua Tịnh Phạn cùng hoàng gia cung nữ thương tiếc khổ sở vô cùng. Hoàng tử Tất-đạt-đa cũng bật khóc dai. Rồi chừng như Hoàng tử lắng động tâm tư, như người trầm ngâm thiền định. Hoàng tử mở đôi mắt tròn xoe nhìn vào khoảng không mênh mông.

Lễ tang Hoàng hậu được triều đình tổ chức vô cùng trang trọng. Đức vua vô cùng đau khổ. Ngài đã khóc đến xưng vù đôi mắt. Dự lễ trà tỳ (thiêu xác) đức vua đã khép vành mi không dám nhìn lửa đỏ. Tim gan Ngài gần như tan nát, đầu óc gần như phiu phưỡn đâu đây.

Hạnh phúc và đau khổ đã diễn ra cuộc đời Đức vua mấy ngày thật vừa cay nghiệt vừa ngọt ngào, mang đủ ý vị của cuộc đời. Nhà Vua cảm khái biết bao-Quả là dòng “Sinh-Tử”.

Hoàng tử Tất-đạt-đa vừa chào đời phải nhận đại tang. Hoàng tử mồ côi mẹ từ đây.

Hoàng tử có biết gì không khi mất mẹ?

-Biết, Hoàng tử biết mình mất đi dòng sữa ngọt.

II. NUÔI DẠY

Thái tử Tất-đạt-đa được từ Vua cha đến triều đình và di mẫu có kế hoạch nuôi dạy thật chu đáo. Đây không phải chỉ nuôi dạy một đứa con thôi, mà còn là nuôi dạy một vị vua tương lai. Đức Vua Tịnh Phạn chỉ có một mình Tất-đạt-đa là đứa con trai duy nhất nên Tất-đạt-đa vừa là Hoàng tử vừa là Thái Tử, người chuẩn bị lên ngai vua. Vì kế hoạch nuôi dạy Thái Tử thật chu đáo. Việc nuôi dạy này gồm cả hai mặt: Thân xác và tinh thần.

a- Thân xác:

Thái tử là đứa con cầu khẩn, là niềm tin duy nhất của hoàng tộc nên được “cưng như trứng, hứng như hoa”. Dĩ nhiên là được cưng yêu rất mực.

Về việc chăm nuôi Thái tử có sự tổ chức phân nhiệm vụ rõ ràng cụ thể. Bà dì Ma-ha Ba-xà-ba-đề là người trực tiếp lãnh đạo việc nuôi dạy Thái tử lúc ấu thơ, bà với vai trò không chỉ là mẹ nuôi mà còn là mẹ ruột. Bà dù có con cùng lúc với Thái tử là Nan-đà (Nam da), nhưng bà đã gửi con mình cho vú nuôi để chỉ nuôi mình Thái tử thôi. Tình thương bà lại dồn hết cho Thái tử. Đây là vì tình trạng của Thái tử thật đáng thương vừa sinh ra đã mất mẹ. Dưới bà lại còn cả cùng một đội ngũ nuôi dạy. Người thì chịu trách nhiệm về tình trạng sức khoẻ đau yếu thuốc thang(ngự y), người thì phụ trách về ăn uống, tắm giặt, ngủ nghỉ, trang phục, bồng ẵm, vui chơi v.v…Bao nhiêu nữ tỳ luôn có mặt để chăm sóc Thái tử. Đội ngũ này phải thực hiện đúng theo “ Nội quy nuôi dạy” và phải chịu kỷ luật khi sai phạm. Việc điều động trông coi  sinh hoạt này được một vị quan trực tiếp giám sát chỉ huy. Việc nuôi dạy Thái tử như thế nên thật là tốt.

Thái tử lớn lên xân xẩn, khi một hai tuổi thì bụ bẫm dễ cưng vô cùng, ai nấy cũng muốn bồng muốn ẵm, muốn nựng. Bà dì càng ngày càng thương Thái tử hơn, vì càng lớn Thái tử càng nổi bật vẻ đẹp, các tướng càng phát lộ rõ ràng. Nhất là Đức vua hoan hỷ vô cùng. Nhà Vua dành nhiều thời gian cho Thái tử hơn. Ngài bồng bế Thái Tử, vui chơi cùng Thái tử, đặt con lên đùi, lên đầu lên cổ hun hít con không biết chán. Thái tử đã chiếm trọn vẹn tâm hồn đức Vua. Hình bóng Hoàng hậu Ma-da đã biến mất trong đầu Ngài. Còn chăng chỉ là một thoáng khi thấy con mình có nét giống mẹ. Nhưng rồi hình dáng đứa con cưng liền xoá mất bóng Hoàng hậu trong lòng Đức vua. Nhà Vua chỉ còn biết có Thái tử thôi, chỉ còn biết có đứa con trai cưng là cục vàng thôi.

Rồi Thái tử biết cười, biết nói bập bẹ, ba ba… ma ma…và biết đi lẫm đẫm…mỗi mỗi là niềm vui vô bờ bến của đức Vua. Niềm vui của Đức vua có nhiều ý nghĩa, có thể nói Niệm Phật niềm vui này hơn hẳn niềm vui của các ông cha khác. Đâu ai có được một đứa con đầy tướng đẹp đầy tương lai như thế?

Ôi! Thái tử là nguồn hạnh phúc của Đức vua.

Rồi Thái tử lại lớn lên, biết đi, biết chạy, biết vui đùa trở thành đứa con trai thật sự.

Lần hồi Thái tử trở thành một thiếu niên lành mạnh anh tuấn hơn. Và rồi Thái tử trở thành một thanh niên chững chạc, cơ bắp rắn rỏi hùng mạnh. Dáng vẻ uy nghi, ngũ quan sắc nét đầy vẻ thanh tú. Thái tử là một đấng nam nhi thật sự. Lúc này 32 tướng tốt thật sự phát triển trọn vẹn. Thái tử dung nghi đẹp tợ như một vị thần, một vị trời.

Đức vua sung sướng vô ngần khi thấy con trai yêu quí của mình thật hoàn chỉnh trên thân xác.

Bà Ma-ha Ba-xà-ba-đề đã khéo nuôi, Thái tử thật sự lành mạnh trên thân xác. Bà đã tìm thức ăn quí hiếm đầy đủ dinh dưỡng cho từng thời điểm của cơ thể. Bà đã chọn những người đầu bếp giỏi nhất để làm thức ăn ngon vừa miệng Thái tử. Bà đã khéo phối hợp thức ăn và bài thuốc để nuôi dưỡng Thái tử. Bà cũng đã chọn những hầu hạ thật ý nhị khéo tay khéo ý để làm vừa lòng Thái tử, giúp Thái tử ăn uống ngủ nghỉ, vui chơi học tập…thật tốt. Bà chẳng để một thứ gì làm trở ngại cho Thái tử.

Bà lại chú ý cả trang phục cho Thái tử từ tấm bé cho đến lúc trưởng thành. Đồ mặc nào, trang sức nào đẹp nhất, tốt nhất và thích hợp nhất cho từng thời tiết, Xuân, Hạ, Thu, Đông, và từng thời điểm sớm trưa chiều tối., cùng tình trạng sức khoẻ, và cùng sinh hoạt lễ hội, vui chơi, học văn, học võ v.v…nhất nhất bà đều chu đáo, bà không để một sơ thất dù nhỏ nào. Ai sơ thất bà sẽ nhắc nhở kỷ luật.

Bà lại cùng triều thần thường xuyên tổ chức, những cuộc vui chơi cho Thái tử để Thái tử giữ được sức khoẻ tốt.

Thái tử lại còn được phụ hoàng xây cho cung điện thích hợp cho thời tiết. Mùa đông có cung điện ấm, mùa hè có cung điện mát, có cung điện an toàn không bị ảnh hưởng ướt át gió giông và cung điện mùa xuân. Nhà ở đủ tiện nghi cũng giúp bảo toàn sức khoẻ, khiến Thái tử thật sự hoàn chỉnh về sự phát triển thân xác cả hai mặt: Sức khoẻ và vẻ đẹp.

Nhà Vua và bà Ma-ha Ba-xà-ba-đề  cùng triều thần hoan hỷ, sung sướng cùng hãnh diện biết bao về Thái tử. Một con người thập toàn thập mĩ về dung mạo. Một con người xứng đáng là vị Vua tương lai.

TRÍCH KINH:

Kinh Nhu Nhuyến- Kinh Trung A-tư-đà-hàm-q3-Đại Tạng Kinh Việt Nam.

Theo bài Kinh Nhu Nhuyến” đã cho thấy đời sống của Thái tử Tất-đạt-đa  thật là sung sướng rất phong phú, trên đời hiếm có, từ đây giúp cho thân xác Thái tử được phát triển tốt đẹp hơn.

-Lời kinh:” Một thời Phật du hoá tại nước Xá vệ, Trong rừng Thắng lâm, vườn Cấp-cô-độc. Bấy giờ đức Thế tôn nói với các Tỳ-kheo:

- Chính Ta ngày trước đi xuất gia học đạo là ra đi từ chỗ ưu du, từ chỗ thung dung nhàn nhã, từ đời sống cực kỳ êm dịu. Khi ta còn ở nhà, Phụ vương tạo cho ta đủ thứ cung điện: Cung điện mùa xuân, cung điện mùa hạ và cung điện mùa đông.

Bởi ta thích du ngoạn nên cách cung điện không xa, Người lại tạo không biết bao nhiêu ao hoa: ao hoa sen xanh, ao hoa sen hồng, ao hoa sen đỏ, ao hoa sen trắng. Trong các ao đó trồng dủ các loại hoa: hoa sen xanh, hoa sen hồng, hoa sen đỏ, hoa sen trắng. Nước luôn luôn đầy, hoa luôn luôn trổ, mà những người sai dịch chăm sóc không thông suốt hết được.

Bởi ta thích du ngoạn nên Người sai bốn người tắm rửa cho Ta. Tắm rửa cho ta rồi, lại xoa hương Xích Chiên Đàn vào khắp thân Ta. Xoa vào thân ta rồi lại khoát vào mình Ta chiếc áo lụa thật quí, trên dưới trong ngoài đều mới mẻ. Suốt cả ngày đêm, luôn luôn có người cầm lộng trắng che cho Ta, không để ta đêm phải nhiễm sương, ngày bị nắng háp. Như các Thầy thường được ăn gạo trắng khô, canh đậu, rau, gừng và cho là đồ ăn bậc nhất, nhưng người sai dịch thấp nhất của phụ vương Ta lại cho như vậy là rất dở, chỉ ăn nếp trắng và hào soạn mới cho là đồ ăn bậc nhất.

Lại nữa, nếu có cầm thú nơi đồng ruộng, loại cầm thú ngon nhất như đề-đế-la-hoà-tra, kiếp-tân-xà-la,hễ-mễ-hà, lê-nê-xa-thi-Ma-ha Ba-xà-ba-đề-mễ. Các loại cầm thú nơi đồng ruộng, loại cầm thú ngon nhất như vậy, Ta thường được ăn.

b. Tinh thần

- Vua Tịnh Phạn bị ám ảnh lời tiên tri của A-tư-đà rằng:” Lớn lên Thái tử không ngồi ngai vàng mà lại xuất trần làm tránh giác”.

Thế nên nhà Vua luôn có kế hoạch để đối phó hầu phá tan đi điều mà tiên A-tư-đà dự đoán. Đức vua không thể chấp nhận cho Thái tử xuất gia được mà nhất định đưa Thái tử lên ngai vàng làm Vua để tiếp nối thống trị sơn hà xã tắc, tiếp nối dòng họ kiều hung làm dạng danh thêm nữa truyền thống cha ông, tạo nên một kỳ tích hiển hách nhất trên thế gian.

Trong kế hoạch, nhà Vua thực hiện việc này từ khi Thái tử còn tấm bé. Ngài tránh tất cả việc buồn đau có thể xảy ra cho Thái tử. Nhà Vua tạo mọi phương tiện cho Thái tử được yên vui, để không nghĩ đến việc bỏ cung thành với biết bao cái hay cái đẹp, cái sung sướng hạnh phúc như cõi trời.

Nhà Vua chọn bà dì Ma-ha Ba-xà-ba-đề thế vào chỗ Hoàng hậu Ma-da cũng là nhằm khiến cho Thái tử khỏi buồn đau khỏi cảm thương thân phận bị mồ côi mẹ. Và bà Ma-ha Ba-xà-ba-đề diễn thật hay, giống y mẹ ruột của Thái tử khiến Thái tử khi còn bé vẫn không hay mình bị mất mẹ, bị mồ côi. Tình cảm Thái tử vì thế không bị tổn thương. Thái tử vẫn có đủ phụ hoàng và mẫu hậu, đầy đủ cả cha lẫn mẹ, thế là hạnh phúc trọn vẹn.

Nhà Vua dùng bao nhiêu tình cảm lớn lên bên bà dì, mà còn để Thái tử lớn lên bên cạnh nhà Vua. Từ nội cung  hay xuất cung nhà Vua thường hay cho Thái tử đi cùng, , từ lúc bé cho đến lúc trưởng thành. Đây cũng là lòng thương của người cha mà cũng là một sự ràng buộc Thái tử một cách khéo léo. Nhà Vua nhằm tập cho con quen nếp triều nghi, quen vương quyền phú quí, đoanh vây tâm hồn Thái tử, tránh cho Thái tử suy tư mông lung bất lợi cho tiền đồ.

Nhà Vua còn lập cho Thái tử hưởng đủ dục lạc, ăn chơi theo cung cách đế vương để Thái tử không còn tâm trí nghĩ vớ vẩn điều khác.

Niệm Phật còn đem việc học áp đặt thật sớm đối với Thái tử. Nhỏ ba năm bảy tuổi phải học lễ nghi, triều nghi. Rồi lại phải học văn, học võ. Nhà Vua tuyển chọn những bậc trí giả siêu việt nhất đương thời làm Thầy dạy văn và những bậc võ nghệ siêu quần bạt tục dạy võ cho Thái tử để cho Thái tử mất hết thời giờ, không còn đầu óc trống để viển vông nghĩ ngợi linh tinh.

Nhưng cũng may cho Thái tử, Thái tử vốn là người thông minh mẫn tuệ, nên học văn hay võ đều không có gì cả. Thái tử học một biết mười khiến cho các thầy học phải bái phục. Do vậy mà đầu óc Thái tử vẫn còn trống, vẫn còn nghĩ được điều này điều nọ về mình về người thân, thân phận con người.

Trong cuộc sống, nhà Vua cố tình không để xảy ra một cảnh tượng nào khiến Thái tử phải chạnh lòng, đau thương. Không để người già, người bệnh, kẻ tàn phế, kẻ tội đồ, người thất bại, kẻ chết chóc, cảnh hoang tàn đổ nát, cũ kỹ tàn tạ v.v…hiện ra trước mắt Thái tử. Nghĩa là trước Thái tử chỉ có mầu sáng đẹp mà không có u tối buồn thảm. Có sự sống tươi mơ, không có sự chết chóc thê lương.

Khi giao tiếp, không ai được nói chuyện thương tâm, mà chỉ được nói chuyện vui, chuyện mừng, chuyện tốt lành. Đối tượng giao tiếp với Thái tử cũng được giới hạn và chọn lựa kỹ, chẳng được tuỳ tiện tự do giao tiếp.

Nhà Vua cố tình bưng bít những gì gây thương cảm cho Thái tử để cho Thái tử không sầu muộn. Lỡ có điều gì khiến cho Thái tử sầu muộn thì liền tổ chức tiệc linh đình thâu đêm suốt sáng để khoả lấp nỗi sầu cho Thái tử.

Nhà Vua dốc hết tâm trí đầu tư cho Thái tử được yên vui để Thái tử không khởi lên ý nghĩ xuất trần. Nhà Vua giới hạn sự xuất cung của Thái tử. Thái tử chỉ được đi khỏi cung khi nào đi cùng với phụ hoàng. Có thể nói Thái tử bị kìm kẹp một cách tinh vi khoa học.

TRÍCH KINH:

Kinh Nhu Nhuyến- Kinh Trung A-tư-đà-hàm-q3-Đại Tạng Kinh Việt Nam.

Theo đoạn kinh sau để thấy Thái tử luôn được phụ hoàng quan tâm “kề sát” để hướng dẫn Thái tử theo ý đồ, thực hiện hành trình ngũ dục. Khiến Thái tử phải lên ngai vàng.

-Lời kinh:” Ta nhớ khi xưa lúc còn ở với phụ vương Duyệt-đầu-đàn suốt bốn tháng hạ, mỗi khi lên chánh diện đều không có nam nhân, chỉ toàn là kỷ nữ để cùng vui chơi không hề trở xuống.

Rồi khi ta muốn đến viên quán, thì liền có ba mươi danh kỵ thượng thặng được tuyển chọn với những hàng thuẫn lớn đi dẫn đường hộ tống trước sau, không kể những tiểu tiết khác. Ta có những điều êm dịu, đầy đủ vừa ý như vậy

Ta còn nhớ khi xưa lúc ta thăm ruộng, người làm ruộng nghỉ ngơi trên đám ruộng, ta đi đến dưới gốc cây diêm-phù ngồi kiết già, ly dục, ly pháp ác,bất thiện, có giác, có quán, có hỷ lạc do ly dục sanh…”

-Lần ra thăm ruộng với phụ hoàng, Ngài đã tách khỏi phụ hoàng lắng sâu vào thiền định một cách tự nhiên mà hiểu ra, mà thông cảm với người đời về cái Bệnh, cái Già.

c. Học Tập

Hướng dẫn tinh thần cho Thái tử, vua Tịnh Phạn tập chung đào tạo Thái tử qua việc học tập. Học tập để làm nên một ông Vua tài giỏi. Muốn vậy nhà Vua xắp xếp cho Thái tử phải học cả hai môn của thời đại: Văn và Võ. Làm vị Vua tài giỏi phải kiêm văn võ, văn thao võ lược, văn võ toàn tài, vào văn ra võ mới thực là ông Vua có đủ hùng tài đởm lược, tài trí hơn người. Việc này đức Vua giao cho một đại thần chịu trách nhiệm trông coi quản giáo.

- Về văn phải học hết những kinh thư của thời đại, của đại giáo đương thời (Học bằng khẩu truyền-dạy và học qua lời nói, ghi nhận qua âm thanh không qua chữ). Học về cách chăn dân trị nước (Chính Trị), học về binh thư đồ trận (Quân sự), học về thiên văn, địa lý, học về toán số.v.v…

- Về võ, phải học đủ các môn: Quyền, cước, côn, kiếm, cung. Nói theo Trung hoa là phải đủ” Thập bát ban võ nghệ” -18 món binh khí phải làu thông, tất cả bộ môn võ thuật đương thời phải biết hết.

Văn võ đều phải có thầy. Nhà Vua tuyển chọn những vị thầy tài giỏi nhất nước để làm thầy dạy cho Thái tử.

Thái tử vốn có sức khoẻ lành mạnh, và tinh thần sáng suốt nên Thái tử học rất nhanh, rất giỏi, thầy dạy một Thái tử biết mười. Chẳng như thế Thái tử còn biết những điều mà thầy chưa biết, khiến cho các bậc thầy đều bái phục. Vị thầy nào dạy Thái tử một thời gian rồi cũng xin rút lui vì không đủ sức dạy Thái tử nữa. Trí óc Thái tử như biển cao vời, mênh mông như bầu trời, thu thập chứa đựng hết sở học của thầy mà chẳng còn thấy đầy.

Thái tử đã học với thời gian kỷ lục. Đến tuổi 16 Thái tử đã thành tài, quán thông văn võ. Với thời điểm này nhà Vua biết con mình đã có khả năng phi thường, tài nghệ siêu việt. Nhà Vua rất hài lòng họp triều mở cuộc tỉ thí so tài, đặc biệt cho các bậc vương tôn công tử. Đấu trường gồm cả hai môn văn võ.

Đây là cuộc so tài mấy mươi năm mới có một lần. Từ trong thành đến ngoài thành người người náo nức chờ đón được xem.

Đấu trường được tổ chức vừa to rộng vừa trang trọng và thật là tốn kém. Một đấu trường từ xưa chưa từng có. Người ta chỉ cần nhìn tổng quát đấu trường thôi cũng đủ nể phục ban tổ chức, nể phục triều đình tôn kính đức Vua.

Đặc biệt là các đấu sĩ đều là hàng con vua cháu chúa, tuổi đời không quá hai mươi.

Ban tổ chức là triều đình, dĩ nhiên có Đức vua thân lâm khán chứng, Triều thần tham dự và cũng đầy đủ Hoàng hậu, cung phi, mỹ nữ, công tử công nương đều có mặt. Người xem chật nứt khán đài. Đây quả là một ngày hội lớn. Việc buôn bán trở nên đông vui vô kể.

Đức Vua trên đài cao lòng những mong Thái tử quí yêu của mình toàn thắng.

Thái tử Tất-đạt-đa tuy phải ra đấu trường, nhưng Thái tử không vì thắng bại mà vì phụ hoàng mong muốn mà thôi. Nhưng khi thi đấu, vì tài năng Thái tử có thừa nội lực hùng hậu nên dù không cố sức vẫn thắng các đối thủ. Trong giao đấu Thái tử luôn khiêm nhường chẳng muốn thắng bạn làm gì, nhưng vì bạn kém hơn. Dù rằng có đối thủ lòng dạ nham hiểm Thái tử cũng mỉm cười thông qua, như đối với Đề-bà-đạt-đa là người em họ. Cuối cùng cuộc thi Thái tử được ban giám khảo chấm là vô dịch. “ Vô địch” thật xứng đáng vô cùng.

Đức vua cùng triều thần, Hoàng hậu v.v…đồng vỗ vang tay dần chừng như muốn vỡ cả hư không.

Mọi người đều tung hô nói với nhau: Đất nước mình rồi sẽ có một vị vua anh minh kiêu hùng nhất xưa nay làm dạng danh cho dòng họ Sakya (Thích-ca).

Vua Tịnh Phạn vuốt chòm râu bạc nhìn con nhìn trời đầy hy vọng. Ngày mai đây sơn hà ta sẽ mở rộng đến chân mây do bàn tay, bước chân của đứa con yêu quí của ta. Thật hạnh phúc biết là bao! Đức vua cất lên tràng cười sáng khoái đầy tự tin tự hào.

d.Tánh tình Thái tử

Tánh tình Thái tử được nhìn qua trong kinh.

TRÍCH KINH:

Kinh Nhu Nhuyến – trang 13 – Kinh Trung A-hàm- q3-Đại Tạng Kinh Việt Nam.

-Lời kinh: “ Ta còn nhớ khi xưa lúc ta đi thăm ruộng, Ta đi đến dưới gốc cây Diêm-phù ngồi kiết già, ly dục , ly pháp ác, bất thiện, có giác, có quán, có hỷ, có lạc do ly dục sanh, chứng đắc được thiền thứ nhất thành tựu và an trụ. Ta nghĩ rằng:” Phàm phu ngu si, không đa văn tự có sẵn tật bệnh, không thoát khỏi tật bệnh, nhưng thấy người tật bệnh thì ghê tởm, khinh bỉ, không yêu, không thích mà không tự quan sát mình”. Rồi ta tự nghĩ:” Ta có sẵn tật bệnh, không thoát khỏi tật bệnh, nếu ta thấy người tật bệnh mà ghê tởm, khinh bỉ, không yêu, không thích ta không nên như vậy, vì ta cũng có trường hợp này, quán sát như vậy rồi, thì tâm cuống cao phát khởi do không có tật bệnh liền tự tiêu diệt, ta nghĩ lại rằng: “ Phàm phu ngu si, không đa văn, tự có sự già, không thoát khỏi sự già, nhưng thấy người già cả thì ghê tởm, khinh bỉ, không yêu, không thích, mà không tự quán sát mình”. Rồi ta tự nghĩ:” Ta tự có sự già, không thoát khỏi sự già, nếu ta thấy người già mà ghê tởm, khinh bỉ, không yêu, không thích, ta không nên như vậy, vì ta cũng có trường hợp này”. Quán sát như vậy rồi thì tâm cống cao phát khởi do chưa đến tuổi già liền tự tiêu diệt.

Phàm phu ngu si, không đa văn, vì chưa bị tật bệnh nên tự cao, tự phụ, phóng dật, rồi do tham dục mà sanh si ám, không tụ tập phạm hạnh. Phàm phu ngu si không đa văn, vì còn trẻ trung nên tự cao, tự phụ, phóng dật, rồi do tham dục mà sanh si ám, không tu tập phạm hạnh. Phàm phu ngu si, không đa văn vì còn thọ mạng nên tự cao, tự phụ, phóng dật, rồi do tham dục mà sinh si ám, không tu tập phạm hạnh.

HIỀN – TRÍ – HOÀ ÁI - CẢM THÔNG – BÌNH DỊ ĐƠN GIẢN – KHÔNG “TA ĐÂY” – NHU NHUYẾN

Khi còn bé thơ khoảng tám chín tuổi Thái tử theo Vua cha dự lễ “xuống giống” Thái tử đã tách rời Vua cha ngồi yên dưới cội cây rừng, Thái tử quan sát được như trên. Thái tử thông cảm được cái khổ về bệnh về già, dù Thái tử chưa già chưa bệnh. Thái tử tránh được cống cao, khinh khi người khác. Sống mà không tự cao. Không khi người là điều khó có được, nhất là ở một Thái tử  đầy đủ điều kiện và tư cách để tự cao và khinh người.

Như thế để thấy Thái tử có bản chất ôn nhu từ ái, biết thông cảm cho kẻ khác, không phách lối, không ta đây, thật nhu nhuyến.

- Từ đặc tánh cơ bản này làm nền tảng cho lối sống cư sử với người. Do vậy Thái tử có tính khí rất ôn hoà khi tiếp xúc với người, luôn gây thiện cảm với người, khiến người mến thích Thái tử.

Và cũng từ đoanj kinh này để thấy Thái tử có đời sống nội tâm chuyên sâu, tức con người có “tâm hồn”, không hời hợt như bao kẻ có thế quyền sang giàu khác. Còn trẻ mà Thái tử đã biết lắng lòng mình, biết quán sát một cách sâu sắc vào đời, vào tự thân. Từ đây cho thấy Thái tử có khuynh hướng về con đường Tâm linh rất sâu sắc.

Như vậy Thái tử có tấm lòng vì đời sống sâu rộng. Con người Thái tử là con người đầy tình cảm, đầy tình nghĩa. Đây là bản chất Thái tử mà không do giáo dục từ phụ hoàng hay của thầy học. Bản chất này chính là nghiệp tập từ xa xưa, từ kiếp trước.

Thái tử vì thế được xác định là một con người có bản tính hiền hoà, Ngài không tỏ vẻ ta đây, cống cao mà hay gần gũi với người nên Thái tử cũng là người bình dị. Ngài là Thái tử mà tìm gốc cây để ngồi, không màn người hầu kẻ hạ nên thật đơn giản. Thái tử lại thấy rõ việc mà người lớn có khi vẫn chưa thấy chưa hay, mình chưa hết bệnh, chưa già mà cảm thông người già bệnh mà biết do tham dục mà sanh si ám. Đây là Thái tử có được cái trí sáng suốt hơn người. Thái tử vì thế đáng được gọi là người Hiền trí trong đời.

* BÌNH ĐẲNG

Thái tử được tánh tình như vậy nên quan hệ trong cuộc sống đời thường rất tốt. Thái tử biết kính trọng người trên người lớn, biết bình đẳng với bạn bè trang lứa. Biết thông cảm kẻ trên,  cảm thông kẻ dưới dù là kẻ tôi đòi Thái tử vẫn đối xử một cách nhân ái rất tình người. Thái tử đã có cái nhìn tương quan giữa mình và người rất sớm như vậy. Nên Thái tử không khinh bạc người mà còn tôn trọng người, có cái nhìn “ta, người” không khác gì nhau: người già bệnh, ta cũng già bệnh. Đây là một thứ nhìn “ bình đẳng”, mặc dù thời đại của Thái tử vốn là thời đại giai cấp, thời đại của bất bình đẳng. Xã hội này có bốn giai cấp:1 –Giáo sĩ (Bà-la-môn), 2- Cầm quyền (Sát-đế-lỵ), 3- Thương gia (Phệ-xá), 4-Hạ tiện nô dịch (Thủ-đà-la). Bốn giai cấp này có đối xử khác nhau. Giai cấp một và giai cấp hai là tôn quí, còn giai cấp ba và bốn phải phục dịch cho một và hai, giai cấp bốn còn được coi như thú vật.

Trong bối cảnh xã hội giai cấp như vậy mà Thái tử lại có lối sống bình đẳng, điều này không những là gây sự khó chịu cho vua cha mà cả hoàng tộc và cả thời đại. Thái tử sống như vậy nên có tính nhân bản thật cao. Đó là thể hiện sức sống:

“Không có giai cấp trong dòng máu cùng đỏ, trong nước mắt cùng mặn”

Chẳng những Thái tử có tính nhân bản thật cao, mà có tính “ chúng sanh bản” thật rộng nữa. Thái tử chẳng những yêu thương thông cảm con người thôi mà Thái tử còn thương yêu cả loài vật, cả chim thú cho đến cả cây cỏ. Nhìn cảnh chim muông ăn nuốt con côn trùng trên cánh đồng vỡ đất, Thái tử đã mất vui mà bỏ đi ngồi vào gốc cây nhập thiền quán. Và Thái tử đã tranh dành con chim bị tên của Đề-bà-đạt-đa. Thái tử nhổ tên, đắp thuốc cứu sống chim, và thả chim về bầu trời của nó.

Thái tử có hai đặc tính tuyệt vời:

- Tính nhân bản

- Tính chúng sinh bản

Mà thời đại Thái tử chưa có người biết đến.

*NHIỆT THÀNH

Thái tử hiền hoà nhưng quyết liệt. Khi tranh dành con chim bị tên với Đề-bà-đạt-đa, Thái tử vì” sự sống” mà không nhượng bộ Đề-bà-đạt-đa dù đúng là con chim Đề-bà-đạt-đa bắn. Vì cứu chúng sinh mà Thái tử không khoan nhượng quyết cứu cho bằng được” lẽ sống”.”Lẽ sống”,”sự sống” là quí nhất trên đời, là lẽ phải cần được bảo vệ. Thái tử có quyết tâm không sai, và được triều thần ủng hộ. Thái tử đã thắng. Một sự đắc thắng không làm tổn hại một ai, không gây cho con chim đổ một giọt máu. Ai cũng có sự sống, chim, Đề-bà, triều thần, thân dân ai cũng có sự sống nên “lẽ” cuộc sống là đúng đắn nhất. Lẽ sống = chân lý.

* HY SINH

Từ sự nhiệt tâm vì “lẽ sống” cho thấy Thái tử lại có đức hi sinh thật vĩ đại. Thái tử hi sinh thân phận, hy sinh sự an ổn cho cá nhân. Đức hy sinh này được thấy rõ nét ở ngày Thái tử thoát ly khỏi cung vàng, khỏi điện ngọc, khỏi vợ con v.v…Thái tử đã hy sinh tất cả vì cứu khổ chúng sanh.

* HIẾU ÂN

Thái tử con người đầy HIẾU và ÂN. Mang ơn người, Thái tử đều ghi nhớ và đáp đền.

-Phụ hoàng: Trong đời sống hàng ngày ơn lớn nhất với Thái tử đó là phụ hoàng, Thái tử luôn biết điều này. Thái tử thể hiện bằng sự nghe lời, chịu sự sắp xếp của phụ hoàng. Thái tử chịu khó học tập, chịu cưới vợ, chịu có con. Tuy nhiên Thái tử vẫn có cái suy tư riêng. Điều này không giống phụ hoàng. Đây cũng là chuyện bình thường trong cuộc sống. Nghề cha nghề con đâu buộc giống nhau? Có hiếu không có nghĩa phải giống cha. Mặt con không giống cha là bất hiếu sao? Nhưng dù sao mặt này Thái tử không giống phụ hoàng nên cũng khiến cho đức Vua có điều phiền muộn. Nhất là khi Thái tử vượt thành xuất gia khiến phụ hoàng đau khổ không ít. Điều này được xem là Thái tử bất hiếu. (Tuy đây chỉ là bước tạm thời chưa đủ quyết định mà hãy còn bước sau đó dài hơn quan trọng hơn là bước xuất gia hành đạo). làm con có hiếu không có nghĩa là lúc nào cũng có cái bóng của cha, không thể rời. Phải để cho con có đời sống của con chứ? Và Thái tử đã làm xong việc nối dõi tông đường, (sanh con) đây phải nói là việc cố gắng lớn nhất trong đạo hiếu của Thái tử.

-Thầy học: Với thầy học Thái tử đáp lại công ơn bằng cách học tập tốt, dù Thái tử thông minh hơn cả Thầy, nhưng không bao giờ dám khi bạc, hỗn ẩu với thầy mà lúc nào cũng tôn kính các bậc thầy. Cụ thể khi nghe lời thầy mà luyện tập để khi ra đấu trường được toàn thắng làm rạng danh thầy khiến thầy vừa lòng thích ý.

-Mẹ nuôi: Đối với bà Ma-ha Ba-xà-ba-đề, lúc bé Thái tử không phân biệt được là mẹ ruột hay mẹ nuôi và đối đãi như một đứa con ruột thịt, bằng tình cảm và bổn phận của một đứa con. Thái tử lúc nào cũng tỏ ra hiếu kính đối với mẹ rất trọn vẹn. Khi lớn lên, Thái tử hiểu chuyện biết rõ đây chỉ là mẹ nuôi là bà dì thôi, dù vậy hiếu đạo của Thái tử không thay đổi. Vì ân dưỡng nuôi của bà dì quả thật to tát nặng nề, Thái tử không bao giờ phôi pha, mà càng lớn khôn càng thấy sâu nặng hơn. Nếu không có bà dì thì Thái tử sẽ ra sao? Và bà dì lại thương Thái tử hơn là con ruột là Nan-đà. Tình thâm nghĩa trọng Thái tử luôn ghi khắc và luôn nghĩ phải đáp đền. (Sau khi thành Phật, ngài đã đáp đền cho bà được xuất gia).

-Mẹ ruột: Thái tử là con người hiền từ nhưng lại rất thông minh. Chính yếu tố này đã làm rõ thêm thân phận Thái tử hơn.

Lúc còn thơ dại, Thái tử bị người lớn sắp xếp che mắt mình như ngỡ rằng bà dì là mẹ đẻ, nhưng khi đã lớn khôn rồi Thái tử đã rõ mẹ đẻ đã chết khi sinh ra mình mới được 7 ngày. Biết được cái chết thảm của mẹ Thái tử đau đớn biết dường nào. Thái tử cảm thấy mình là tác nhân khiến mẹ phải chết. Để mình được chào đời mẹ đành phải banh xẻ da thịt, phải xé bụng cho mình chào đời. Ôi! đau đớn cho mẹ. Chính vì xé bụng, mổ bụng mà mẹ mới chết! Cảm thương biết nhường nào! Mẹ đã vì mình mang nặng suốt bao tháng ngày với tất cả tấm lòng thương yêu. Vì Thái tử là đứa con cầu con khẩn, đứa con trông chờ suốt mấy mươi năm, nên tình cảm theo đó mà sâu nặng. Càng nghĩ Thái tử càng đau ( Nhất là khi Thái tử có vợ và vợ có mang và sanh nở. Thái tử lại thấy rõ hình ảnh nặng quằn ở mẹ hơn).

Thái tử thương mẹ vô bờ.

Nhưng làm sao để đáp đền ơn đây?

Câu hỏi này đặt ra không có giải đáp. Mẹ đã chết rồi thì làm sao? Tuy mẹ chết nhưng lòng hiếu thảo của Thái tử không chết cứ tăng trưởng, nhất là khi soi gương thấy hình hài mình là do mẹ mình lại hai phần giống mẹ thì lại đau xót, quặn thắt. Phải chi Thái tử là người vô tình thì đỡ, đằng này là con người có tâm hồn sâu thẳm, có tình cảm dạt dào thì làm sao mà không đau đớn? Thế nên Thái tử có những nỗi buồn thầm lặng xa xăm, mà nỗi buồn này không ai cảm thông được dù là phụ hoàng dù là di mẫu hay vợ hiền đi nữa. Nỗi buồn này, một nỗi buồn “thiêng liêng”, Thái tử luôn luôn giữ kín trong lòng mà tôn thờ mà kính ngưỡng lấy nỗi buồn đau làm nén hương dâng lên mẹ, Nỗi buồn này sâu thẳm làm sao phụ hoàng giải toả cho được?!. Nỗi buồn này đâu thể dùng ca nhạc, cao lương mỹ vị, mỹ nữ, cho đến vợ con đi nữa cũng không làm sao vơi được. Đây là nỗi buồn vạn kỷ. Mất mẹ là mất cả bầu trời! Nỗi buồn mất mẹ cộng với nỗi buồn nhân thế khiến Thái tử cứ dào dào không vui. Nếu có vui thì cũng là gượng để vui lòng phụ hoàng và di mẫu vậy thôi.

Dù thế, Thái tử luôn nghĩ phải làm gì đó để đền ơn báo hiếu cho mẹ. Đây là một công án xoáy cháy tâm hồn Thái tử. Vì đạo hiếu mà quặn thắt đòi cơn.

 

III. LẬP GIA ĐÌNH CƯỚI VỢ

Thái tử càng xuất hiện nhiều nét buồn xa xăm, kém vui chơi dù rằng phụ hoàng luôn qua tâm tạo nhiều cuộc vui. Nhà Vua lo ngại cho vẻ buồn phảng phất trên vầng chán thông minh và vẻ mặt anh tuấn, ngại rằng Thái tử sẽ thực hiện lời tiên đoán của A-tư-đà. nhà Vua hội ý cùng đại thần để tìm giải pháp xoá sầu đem vui cho Thái tử.

Đại thần dâng ý: thuốc chữa bệnh sầu đời không gì bằng lập gia đình cho Thái tử. Đây là kinh nghiệm cả đời của bậc làm cha làm mẹ. Nhà Vua chuẩn y, khi thấy đây là diệu kế. Quả vậy, đây là một kế hoạch hoàn hảo, vẻ đẹp sẽ là sợi dây cột chặt chí xung thiên của kẻ trượng phu dù có chí xuất trần cũng khó bề thoát được. Nhà Vua vội truyền chỉ tứ hôn cho Thái tử.

Năm nay Thái tử 17 tuổi. Nhà Vua muốn cưới vợ cho Thái tử càng sớm càng tốt, có thể đỡ phải lo âu nhiều ngày tránh đi việc “đêm dài lắm mộng”.

Chỉ đã ban truyền cho bộ lễ thi hành hôn sự cho Thái tử. Vua Tịnh Phạn và hoàng tộc triều thần đồng ý hỏi cưới công chúa Da-du-đà-la con gái Vua Thiện Giác, thành Thiện Tý (Thái tử Tất-đạt-đa và công chúa Da-du-đà-la là bà con cậu. Cha Thái tử là anh của mẹ công chúa).

Việc hôn ước được tiến hành thuận lợi. Nhưng còn một chút theo phong tục của dòng họ vua Thiện Tý: Người muốn được vợ phải đủ tài thắng đối thủ. Thái tử muốn cưới được công chúa Da-du-đà-la phải trải qua một phen tỉ võ với đối phương cũng có ý muốn được cưới công chúa. Dù rằng công chúa đã phải lòng Thái tử, khi xem qua lần thi đấu năm rồi. Trong lòng công chúa đã có hình bóng của Thái tử Tất-đạt-đa, nàng đã thầm kén chọn chàng làm phò mã cho phụ hoàng.

Người quốc sắc kẻ thiên tài

Tình trong như đã mặt ngoài còn e.

Thái tử và công chúa  quả là xứng lứa vừa đôi. Công chúa Da-du-đà-la, một người con gái “sắc nước hương trời”, “chim sa cá lặn”.

Chim đáy nước cá lờ đờ lặn

Ngẩng da trời nhạn lửng lơ sa.

Công chúa đẹp, đẹp không gì để sánh. Vừa đẹp người vừa đẹp nết, nàng là con gái ngoan hiền, đoan trang thuỳ mị, hiếu nghĩa, công, dung, ngôn, hạnh đầy đủ thật là một người vẹn toàn.

Công chúa khi được Thái tử dạm hỏi thì lòng đã rộn lên:” Quả là trời đã chiều ý ta”.

Thái tử nhìn thoáng qua dáng dấp công chúa thì tưởng chừng như đã gặp nàng từ lâu rồi: Chính là người trong mộng. Ôi đây là “ duyên tiền định”.

Thái tử và công chúa duyên xưa nay gặp lại. Thái tử nghe lòng bồi hồi xao xuyến. Hình dáng mẹ Ma-da đã nhập thân vào công chúa Da-du-đà-la. Thái tử quên lửng về mẹ.

* TỈ THÍ

Thái tử chấp nhận điều kiện thách đấu để được vợ. Thái tử không dựa vào thế lực phụ hoàng hay triều đình mà dựa vào thế lực bản thân tỉ võ một cách công bằng. Qua nhiều trận đấu do sự xắp xếp từ phía Vua Thiện Giác, qua nhiều đối thủ lợi hại. Trong đó cũng có Đề-bà-đạt-đa cùng tranh với Thái tử.

Dù rằng phần thưởng của trận đấu là công chúa Da-du-đà-la tuyệt vời, là người trong mộng. Thái tử vẫn quang minh lỗi lạc. Luôn giữ thái độ trượng phu người quân tử, vẫn ung dung trong đấu trường, vẫn tôn trọng đối phương, không ý sát thủ mà chỉ biểu dương nghệ thuật cùng thi chuyển nguồn nội lực thâm hậu diệu kỳ có một không hai trong thời đại mà thôi. Ý thức cao độ tinh thần mã thượng chính nhân thuần hậu, rất lịch sự, ra tay không ác ý, lại độ lượng khiến đối phương phải tâm phục khẩu phục. Đối thủ dù có thua cũng mát lòng mát dạ. Thua một kẻ đáng được thua cũng là niềm hãnh diện của họ. Nhất là được cùng đấu sức với một tay vô địch đũng nghĩa rất chân chính như Thái tử thì đó là việc vinh dự rồi nên có phải thua cũng đáng cũng vui.

Thái tử đắc thắng, ngoài tiếng reo hò ca tán, tiếng vỗ tay như bể trời, còn một nụ cười nhẹ nhàng rạng rỡ khi buông tay ôm lồng ngực vì sợ của công chúa Da-du-đà-la. Nàng đã hồi hộp sợ rằng Thái tử không may. Nhưng không, người mộng của nàng phước lớn đức lớn được trời phù hộ. Ôi! Sung sướng quá! Người nàng yêu đã đại thắng! Thế rồi trên làn da mịn màng như tơ trời lại thấm ướt đôi hạt lệ lăn dài. Da-du-đà-la chắp đôi tay măng non mềm mại xá tạ ơn trời. Niềm hạnh phúc đã tràn ngập trong lòng công chúa.

Vừa khi ban giám khảo tuyên bố: Thái tử Tất-đạt-đa thắng cuộc. Thái tử liền ngó quanh một vòng, Thái tử sung sướng biết bao khi bắt gặp đôi mắt long lanh của người mình thương. Thái tử mỉm cười sâu lắng với ánh mắt lồng trong mắt Da-du-đà-la hoà quện hai tâm hồn thuần khiết trong nhau. Thái tử nghe mình lớn ra và tràn ngập cả không gian, nghe đất trời trong vòng tay nồng ấm.

*ĐÁM CƯỚI

Hai nhà Vua, hai triều đình làm sui gia. Tổ chức đám cưới đám gả thì phải tổ chức thật long trọng kéo dài nhiều ngày. Từ trong triều đến ngoài nội đều tưng bừng hỉ hả, tiệc tùng thâu đêm suốt sáng, trò chơi, kịch nghệ hát xướng được liên tục trổ tài giúp vui. Một cuộc lễ cưới chưa từng có từ trước đến giờ.

Ai có dự lễ cưới gả này cũng phải trầm trồ khen ngợi đôi tân nương tân lang hiếm thấy trên đời. Thật là cặp một trời sinh.

Trai anh hùng gái thuyền quyên

Nên duyên cầm sắc vẹn tuyền nhân duyên.

Thái tử sánh vai công chúa bước trên đường hoa ngập ánh triêu dương.

Vua Tịnh Phạn chẳng những cưới Da-du-đà-la làm Thái tử phi mà còn cưới thêm hai người vợ nữa cùng tuyển nạp một số phi tần cho Thái tử để sớm hôm hầu hạ, cùng thể hiện đời sống vương giả.

Đời sống của Thái tử như vậy nên người ta cho là Thái tử hạnh phúc trên đời, sống chỉ biết hoan lạc không biêt đau khổ là gì! Đời sống của Thái tử có thể nói còn sướng hơn cả đức Vua vì Vua còn bận trăm công nghìn việc, phải phê tấu sớ, ban chiếu chỉ v.v…Thái tử chỉ biết hưởng thụ vui chơi, Thái tử mà kém vui thì nhà Vua còn phải buồn nữa là. Người ta cho rằng:” Thái tử phước đức vô lượng vô biên”.

*CÓ CON

Sau thời gian hương lửa mặn nồng, Da-du-đà-la có mang. Giờ đây Thái tử lại hình ảnh hoá qua mẹ Ma-da của mình. Thái tử thấm thía hơn tình cảm ở một người sắp làm mẹ.

Và rồi Da-du-đà-la hạ sanh một hoàng tôn. Thái tử lại càng thắm thía hơn công ơn sâu nặng ở người mẹ.

Lên non mới biết non cao

Nuôi con mới biết công lao mẫu từ.

Thái tử có con, lại một đứa con trai, Thái tử đặt cho con cái tên là La-hầu-la. Đứa bé dĩ nhiên là xinh đẹp, vì cha mẹ đều là kẻ tuyệt vời.

Có con Thái tử dĩ nhiên vui, nhưng rồi Thái tử lại nhìn con, rồi đi vào khoảng không mênh mông mà thoáng buồn. Thái tử lại nhớ mẹ, muốn đáp đền công ơn cho mẹ.

Thái tử lại nhìn vợ, nhìn con, nhìn đời người, nhìn lại kiếp sống thở dài với cái đầu khẽ lắc:

Đời người: Sanh- già- bệnh- chết.

“Sanh” bắt đầu để “già”, “bệnh”, và cuối cùng là “chết”. Đời người là vậy. Có gì đâu gọi là!

Sanh ra rồi sống, sống để làm gì?

Phải chăng “sống” để chờ “chết”?!

Đây không phải là chân lý là sự thật sao? Phải! Đúng! – Là sự thật! Lẽ thật!.

Thái tử lòng lại buồn rười rượi. Hình ảnh con và mẹ, sanh và tử đang lốc xoáy trong tâm hồn Thái tử. Làm sao đây? – Làm sao để vẹn điều sanh tử. Làm sao để giải quyết vấn đề “Sanh-tử” ở mình và người đây? Giờ phút sanh tử ở bện giường vợ con là sự thật nhất đang diễn ra trước mắt trong đầu Thái tử. Con người là thế thôi sao? Chỉ có thế thôi sao, không còn gì nữa sao?

Với đầu óc thông minh, Thái tử không chịu cho chỉ có vậy, mà còn phải có cái gì khác, cái gì nữa, mới xứng đáng là cuộc sống, mới xứng đáng là con người vốn là cao quí hơn trong loài động vật.

Thái tử nhìn con nhìn vợ nở nụ cười buồn, đầu khẽ lắc, và bước lui. Đầu Thái tử dường như khẽ vọng lên hai tiếng:

Kiếp người!

Thái tử tản bộ ra ngự uyển. Thái tử ngồi yên bên dòng suối nhỏ của toà giả sơn. Ngồi đó mà nhìn mình trong mặt nước trong veo. Thái tử nhìn mà không thấy mình. Đầu óc Thái tử chừng như bay biến ở tận đâu đâu! Thỉnh thoảng Thái tử lại thở dài. Thái tử đang mơ màng một điều gì đó, mà không ai biết được. Thực ra, không có gì lạ, đó chỉ là thân phận một con người! Con người điều này lại trở nên mới mẻ với chính Thái tử.

-Con người từ đâu ra? Dù rằng giáo lý Đạo Bà-la-môn giải thích là từ Phạm Thiên mà có Thái tử đã học qua, nhưng giờ đây Thái tử lại đặt ra, vì Thái tử thấy còn điều gì đó chưa ổn.

-Con người sống để làm gì? – Làm dân, làm vua, làm nghề này nghề nọ, làm thế nọ, thế kia…Thái tử cho đó cũng chưa phải.

-Con người sau khi chết sẽ đi về đâu? – Có chỗ nào về chăng? Đạo lý đương thời có lý giải. Nhưng Thái tử vẫn chưa thoả mãn.

Và thực chất con người là gì? – Đây là vấn đề lớn ở Thái tử và cũng ở con người. Thái tử cần phải rõ về chính mình.

Thái tử lại thở dài và đứng lên, lững thững trở về đông cung. Những kẻ hầu đã chực chờ trước diện để thỉnh lệnh. Thái tử phải làm bổn phận của người cha. Trước hết báo tin vui cho phụ hoàng có cháu nội là trai. Thái tử lại không quên bổn phận làm chồng, lệnh cho những người có trách nhiệm phải lo cho Thái tử phi cùng hoàng tôn, Phải chăm lo cho mẹ tròn con vuông. Phải chuẩn bị tiệc mừng cùng lễ tạ tiên đế cùng trời đất.

Như thế Thái tử đã làm tròn bổn phận của người con, và người chồng, làm xong chức năng một con người.

Có con rồi, Thái tử thật sự có riêng một mái ấm gia đình. Thái tử, Da-du vui vầy bên con trẻ, gia đình này hạnh phúc biết bao. Xem như một gia đình có đủ phước đức mà người đời hằng mơ ước.

 

IV. LÀM VIỆC

Thái tử Tất-đạt-đa từ khi có con, chính thức đã thành người lớn. Năm nay Thái tử đã 19 tuổi.

Phụ hoàng bắt đầu sắp xếp công việc cho Thái tử trong triều nội. Việc của Thái tử là việc chuẩn bị cho một ông vua tương lai. Trước Thái tử phải phụ việc cho đức Vua, sau thì bị ràng buộc bởi vợ, bởi con, tuy vậy, Thái tử cũng giúp cho phụ hoàng. Giúp thì giúp mà Thái tử không nghĩ rằng mai kia mình lên ngôi, lên ngai vàng thế Vua cha. Thái tử không có tham vọng đó.

Dù không phải chí của Thái tử, nhưng Thái tử đã tỏ ra là người giỏi giang trong công việc. Thái tử có nhiều sáng kiến trong việc làm. Nhà Vua rất vừa lòng ưng ý. Trong khi giúp việc Vua Thái tử dâng ý làm giảm nhẹ sức dân, lấy dân làm gốc, bớt sưu bớt thuế, nâng đỡ đời sống cho dân một cách thiết thực, cứu tế, chẩn bần nhằm đem lại ấm no hạnh phúc thực sự cho người dân. Nhất là c