Trang tiếng Việt

 Trang Nhà Quảng Đức

Trang tiếng Anh

Phật Học Cơ Bản


 

 

 

5 CÁI NHÌN VỀ VÔ THƯỜNG

 

Thích Giác Đẳng
 

(Giảng trong Room Diệu Pháp)

 

Vô Thường qua cái nhìn của Văn Hóa
 

Namo Buddhaya,

Kính đảnh lễ Sư Trưởng, kính đảnh lễ Thượng Toạ Tuệ Siêu cùng Chư Tôn Đức có mặt trong room. Thân chào tất cả quý Phật tử.

Thưa quý vị chủ nhật này chúng ta có một chương trình rất đặc biệt của room Diệu Pháp và từ hôm nay cho đến ngày chủ nhật, chúng ta đặc biệt dành những ngày còn lại của tuần lễ này để nói về đề tài “ Năm cái nhìn về sự Vô Thường”.

Bài hôm nay chúng ta nói về “ Sự Vô Thường qua cái nhìn của văn hoá”.

Nói cách khác là văn học nghệ thuật cho chúng ta cảm niệm gì về vô thường. Sáng nay chúng tôi thức dậy, trong phòng làm việc này, cũng với ánh sáng lọt qua khung cửa sổ như thường ngày và với tất cả những gì trước mặt. Trong cái không gian lập đi lập lại như một sinh hoạt rất bình thường của mọi ngày. Chúng tôi chợt nghĩ đến một điều là có những đổi thay trong cuộc sống vốn ảnh hưởng đến chúng ta qua nhiều cách khác nhau. Nhưng những đổi thay đó không phải dễ dàng để chúng ta có thể đón nhận một cách bình thường. Từ cổ chí kim, từ đông sang tây, nhân loại đã dùng muôn vàn phương tiện khác nhau, qua thi ca âm nhạc để nói về tính vô thường bấp bênh của đời sống. Có một thứ có lẽ đi ngược lại tất cả những gì đang xảy ra trong cuộc đời, đó là sự kỳ vọng của mỗi chúng ta. Khi chúng ta kỳ vọng điều gì chúng ta thuờng có những liệu toan là cuộc đời sẽ diễn ra theo một thứ tự nhất định. Ở vào thời điểm đó do nhân duyên đó nó sẽ tạo nên sự việc đó và nó sẽ tồn tại theo cách đó. Nhưng đó là sự liệu toan của chúng ta. Trong bài học lớn về sự vô thường, đó là tính chất vô định, tính chất bấp bênh mà tận trong tâm khảm của chúng ta ai cũng biết rằng tính là tính, sắp đặt là sắp đặt, nhưng mọi sự ở trên đời này không nhất thiết phải diễn ra như mình mong mỏi.

Có lẽ từ khi chúng ta bắt đầu lớn khôn trên cuộc đời này, chúng ta hiểu rằng bên cạnh những dự toan của cuộc sống, chúng ta phải có thái độ dũng mãnh để đón nhận những gì nằm ngoài sự tính toán của mình. Hôm nay trong bài nói chuyện vế vô thường qua cái nhìn của thi ca, chúng tôi muốn mời quý Ngài và quý vị nghe một bài nói chuyện về một bài thơ xưa. Nói rằng xưa nhưng thật sự nó không xưa và lấy từ một điển cố rất xa xưa. Câu chuyện về bài thơ này dài, nó sẽ là câu chuyện ở trong câu chuyện và ở đây có tới ba lớp dẫn: chúng tôi đang nói chuyện với quý Ngài và quý Phật tử đó là một câu chuyện. Người ở trong câu chuyện này lại nói chuyện với chúng ta là một câu chuyện khác, và câu chuyện mà người đó kể là một nhân vật lại là một câu chuyện khác. Chúng ta vẫn thường nghe rằng chiêm bao trong giấc mộng hay mộng ở trong mộng, thì cuộc đời vốn thường có những vấn đề như vậy. Thật ra đã lâu rồi chúng tôi không có những chương trình như vậy trong room Diệu Pháp. Hôm nay chúng tôi muốn mời quý vị nghe một chương trình trong đó có một chút thơ, một chút nhạc. Nó thật sự không thích hợp lắm cho tất cả quý Ngài và quý vị. Nhưng chúng tôi tin rằng đế tài những gì được nói đến ở đây, trong bài nói này sẽ là một tiên đề để chúng ta thảo luận nhiều về tính vô thường, và dĩ nhiên ở đây vô thường qua thi ca. Xin mời tất cả quý Ngài và quý vị nghe bài nói này. Bài nói đã có nhiều phần giới thiệu bài nói đến từ đâu, ai là người thực hiện và tác giả của những bài thơ. Do vậy không cần phải giới thiệu ở tại đây, chỉ xin được mở lại cho quý Ngài nghe mà thôi.

(Mở nhạc nền)

Bích Huyền xin kính chào tái ngộ quý bạn và quý thính giả đang lắng nghe chương trình câu chuyện thơ nhạc của đài tiếng nói Hoa kỳ. Trong chương trình này Bích Huyền mời quý vị và các bạn cùng Bích Huyền đi ngược lại dòng thời gian trở về hình ảnh một bến sông, hính ảnh một ông lái đò nhưng ở đây không phải là một ông già chèo thuyền bình thường với sinh hoạt áo cơm hay là một ngư ông theo dòng sông câu cá kiếm ăn. Ông lái đò ấy là ai? Bích Huyền mời quý vị và các bạn cùng theo dõi trong bài thơ “ Bến My Lăng” của Yến Lan

Bến My Lăng nằm không, thuyền đợi khách
rượu hết rồi, ông lái chẳng buông câu
Trăng thì đầy rơi vàng trên mặt sách
Ông lái buồn để gió lén mơn râu

Ông không muốn run người ra tiếng địch
chở mãi hồn lên tắm bến trăng cao
vì đìu hiu, đìu hiu trời tĩnh mịch
Trời võ vàng, trời thiếu những vì sao.

Trôi quanh thuyền những lá vàng quá lạnh
Tơ vương trời nhưng chỉ rải trăng… trăng
Chiều ngui ngút dài trôi về nẻo quạnh
để đêm buồn vây phủ bến My Lăng

Giọng ngâm thơ và hát của Ca sĩ Trường Vũ

Tôi đã gặp một chiều trên bến nước
Ông lái đò ngồi đợi khách sang sông
Gió đưa nhẹ đôi hàng lau lả lướt
Ông lái buồn đưa mắt mỏi mòn trông

(bắt đầu vào nhạc)

Một dĩ vãng tự nghìn xưa chiếu dội
Mỗi chiều về sống lại giữa hồn ông
Ông chỉ muốn cuộc đời xưa đen tối
Xóa nhòa đi trong cùng tận đáy long

Mới ngày nào trên bến sông vắng lạnh
Đời buồn tênh như lỡ một cung đàn
Thuyền đò ông mang nặng sầu cô quạnh
Lặng lờ đưa bao khách lạ sang song
Khách qua đò ngày xưa hờ hững quá
Trả công ông để lại một vài xu
Họ với ông hai cảnh đời xa lạ
Sang sông rồi không một tiếng phân ưu

Ông lão vẫn say trăng, đầu gối sách
để thuyền hồn bơi khỏi bến My Lăng

Ông lái đò ấy là ai? Mà đêm trăng này khiến ông lão mơ màng nhớ về đêm trăng trong dĩ vảng, trên con đường ven rừng, bao nhiêu chiếc lá rơi trong mùa thu vàng rụng ấy. Vâng, ông đang hoài tưởng một đêm trăng muôn thưở của đất trời. Trên bến sông kia ông đã trò chuyện tương đắc với một chàng trai trẻ. Ông đã gửi gắm cả tâm hồn lý tưởng của mình vào người thanh niên ấy. Thế nhưng thời thế đã phôi phai nhiều lắm, người đi không trở lại bến sông xưa.

Bến My Lăng nằm không, thuyền đợi khách
rượu hết rồi, ông lái chẳng buông câu
Trăng thì đầy rơi vàng trên mặt sách
Ông lái buồn để gió lén mơn râu

Ông lái đò đã ngày đêm trông đợi mỏi mòn, chờ mong người trở lại những đêm trăng sáng, một mình trong sự thinh lặng của đất trời, tâm hồn ông mênh mông xa vắng,

Ông không muốn run người ra tiếng địch
chở mãi hồn lên tắm bến trăng sao
vì đìu hiu, đìu hiu trời tĩnh mịch
Trời võ vàng, trời thiếu những vì sao

Giong ca sĩ  Trường Vũ (nói theo giọng thơ mới trong cung "Rê unir")

Và cứ thế giòng đời trôi lặng lẽ
Bến ngày xưa tưởng ngủ muôn đời
Ông lái đò trong tuổi già bóng xế
Còn mong gì thấy được ánh hồng tươi

Nhưng một hôm ánh hồng lên rực rỡ
Non sông rền một điệu nhạc oai hung
Giòng sông xưa chuyển mình lên hăm hở
Muôn hoa tươi căng thẳng nhựa sống hung

(hát theo nhạc trở lại)

Ông lái đò giờ đây già yếu lắm
Cũng thấy lòng sống lại tuổi đôi mươi
Hồn rung mạnh trước cảnh đời tươi thắm
Nỗi mừng vui không thốt được nên lời

Giọng nói Bích Huyền

Chàng tuổi trẻ ấy là ai? Có phải chăng là những người nối nghiệp hào hùng, một thế hệ kế tiếp, một thế hệ bất khuất như ông lái đò hay là một Kinh Kha kiên cường, Kinh Kha của Thái tử Yên Đan vượt bờ sông Dịch với sứ mạng to lớn tiêu diệt Tần Vương, sớm chấm dứt cuồng vọng thôn tính chư hầu. Chàng trai đó cũng ra đi vì đất nước. “Nam nhi cổ lai chinh chiến hề”. Đem cả đời trai với sơn hà. Họ đến rồi họ đi, có biết chăng người ở lại chờ mong,

Trôi quanh thuyền những lá vàng quá lạnh
Tơ vương trời nhưng chỉ rải trăng… trăng
Chiều ngui ngút dài trôi về nẻo quạnh
để đêm buồn vây phủ bến My Lăng
Thưa quý vị người buồn cảnh cũng buồn như thế đó.

Ca nhạc tiếp bài Ông lái đò
Từ hôm đó bến đò ông sống dậy
Bao nhiêu chiều đưa đón khách sang sông
Những người khách không giống ngày xưa ấy
Họ về đây hồn nặng trĩu bên long

(nói theo giọng thơ mới )

Họ về đây bụi vương mình trên nếp áo
Đường xa xăm tóc lộng gió tơi bời
Họ đi rồi ông thấy buồn áo não
Vì họ qua bến ấy một lần thôi

Giọng nói của Bích Huyền

Quý vị và các bạn vùa thưởng thức một đoạn trong bài thơ “Bến My Lăng” của Yến Lan và bài hát hình ảnh hai cuộc đời còn có tên là “Ông lái đò” của Hiếu Nghĩa với giọng hát Trường Vũ. Có lẽ cả bài thơ và bài hát cùng ra đời cách đây khoảng 60 năm. Thời chiến trang chống Pháp. Riêng bài hát nhạc sĩ Hiếu Nghĩa đã ghi tặng ông lái đò tên là T.H và những con đò khác đưa khách sang sông trong mùa chinh chiến. Thưa quý vị và các bạn riêng trong bài thơ “Bến My Lăng” thi sĩ Yến Lan không tả hình dáng chàng tuổi trẻ nhưng chúng ta vẫn hình dung ra được một dũng khí oai hùng, dũng khí toát ra nơi chàng trai trẻ. Đó là nguồn sống tiềm ẩn bất diệt trong lòng ông lái đò già, cho nên trong đêm trăng hoài tưởng ông lão thầm hỏi,

“Ừ sao không nhớ chàng trai trẻ,

Trò chuyện cùng tôi dưới ánh trăng”

Hai người, một già một trẻ đã nói với nhau những gì, nào ai biết. Thế nhưng chúng ta vẫn tưởng tượng họ đã nói với nhau nhiều lắm. Người trai trẻ lãnh hội lên đường mang theo sứ mạng cao cả vì quê hương đất nước. Chàng đi đi mãi để những mùa trăng ông lái đò chờ đợi.

Bến My Lăng nằm không, thuyền đợi khách

rượu hết rồi, ông lái chẳng buông câu

Trăng thì đầy rơi vàng trên mặt sách

Ông lái buồn để gió lén mơn râu

Người buồn cảnh cũng buồn, vâng, ông lái chờ đợi trong ánh trăng đêm nay. Ông lái buồn neo chiếc thuyền không trên bến vắng và chờ đợi cố nhân. Bầu rượu đã vơi, ánh trăng vàng rơi rụng trên mặt nước, ông lão thả hồn về bóng trăng xưa. Cho mãi tới một đêm kia có một chàng kỵ mã rong ruổi ngựa đến Bến My Lăng, áo chàng nhuộm đầy trăng.

 nhưng đêm kia đến một chàng kỵ mã

Nhúng đầy trăng màu áo ngọc lưu ly

Chàng gọi đò, gọi đò như hối hả

Sợ trăng vàng rơi khuất lối chưa đi

Thế nhưng:

Ông lão vẫn say trăng, đầu gối sách

để thuyền hồn bơi khỏi bến My Lăng

Tại sao lại như thế nhỉ? Bao đêm trăng ông lão vẫn hằng chờ đợi chàng trai quay trở lại cơ mà. Thế thì sự im lặng là tại sao? Không, phải nói là sự thờ ơ của ông lái đò già đã làm cho chàng kỵ mã kia càng thêm nôn nón

Tiếng gọi đò, gọi đò như oán trách

Gọi đò thôi run rẩy cả ngành trăng 

Tất cả nơi đây đều vắng lặng, tỉnh mịch chỉ có tiếng gọi đò vang động ánh trăng ngà, âm ba vượt khỏi vùng bến nước, chìm dần trong khoảng không vô tận của âm thanh. Và ông lái đò vẫn như bất động, “Ông lão vẫn say trăng, đầu gối sách” Ông không nghe tiếng gọi đò hay là ông giả vờ không nghe thấy. Tại sao lại như thế, ông vẫn mong mỏi, mong đến mòn mỏi người về.
 Vậy thì ông lái đò đó chờ ai đợi ai? Thưa quý vị ai cũng ngở rằng sự xuất hiện của chàng kỵ mã sẽ đáp ứng được lòng mong đợi của ông. Không, ông lão vẫn buồn vẫn đợi chành tuổi trẻ năm nào. Tại sao lại như thế? Có gì đâu, chàng kỵ mã đã đánh giá ông lão ngang hàng như một người lái đò độ nhật kiếm ăn bình thường trên một bến sông

Chàng gọi đò, gọi đò như hối hả

Sợ trăng rơi khuất lối chưa đi

Vậy sao thì ông lái đò lại có xem người kỵ mã như chàng trai xa xưa mà ông vẫn hằng mong đợi được. Thế cho nên mãi mãi và mãi mãi

Bến My Lăng còn lạnh, bến My Lăng
Ông lái buồn đợi khách suốt bao trăng…

Ca sĩ  Hương Lan (hát theo nhạc trở lạ)

Ông lái đò giờ đây già yếu lắm
Cũng thấy lòng sống lại tuổi đôi mươi
Hồn rung mạnh trước cảnh đời tươi thắm
Nỗi mừng vui không thốt được nên lời
Từ hôm đó bến đò ông sống dậy
Bao nhiêu chiều đã đón khách sang sông
Những người khách không giống ngày xưa ấy
Họ về đây hồn nặng trĩu bên lòng

(nói theo giọng thơ mới )

Họ về đây bụi vương mình trên nếp áo
Đường xa xăm tóc lộng gió tơi bời
Họ đi rồi ông thấy buồn áo não
Vì họ qua bến ấy một lần thôi

Giọng nói Bích Huyền

Bích Huyền vừa gửi đến quý vị bài thơ Bến My Lăng của thi sĩ Yến Lan hoà cùng bài hát Ông Lái đò của Hiếu Nghĩa với hai giọng hát Trường Vũ và Hương Lan. Cả bài thơ lẩn bài hát ra đời cùng thời vào cuối thập niên1940, xưa thật là xưa nhưng không cũ gợi lại cho chúng ta một cảm giác bâng khuâng khó tả, có phải như thế không? Thưa quý vị và các bạn.

TT Giác Đẳng:

Chúng ta vừa nghe một bài thơ một bài hát. Chúng tôi đặc biệt muốn mượn những gì được đề cập đến trong bài hát bài thơ vừa rồi để nói về hai điều:

Một là dòng sinh-diệt của đời sống. Hai là sự cảm nhận và thái độ của tâm thức đối với dòng sinh-diệt này. Sự vô thường đôi lúc nó là bài học, rất dễ biết. Nó dễ biết giống như ban ngày thì sáng ban đêm thì tối. Nó dễ biết giống như chúng ta ngồi rồi lại đứng rồi lại đi rồi trở lại nằm. Nhưng đôi lúc nó không phải dễ tiêu hoá. Nói một cách đơn giản, nhịp sống của tâm và nhịp độ đổi thay của cuộc đời vốn không song hành. Bởi vì nó không song hành, nên cuộc sống vốn tạo ra nhiều điều mà nếu chúng ta không biết dùng chữ gì, chúng ta phải nói là lấn cấn. Nó lấn cấn bởi vì cái này và cái kia không ăn nhịp với nhau, như một dàn nhạc hoà âm mà ở trong đó người chơi vĩ cầm hay chơi trống và những tiết tấu người này tạo ra không hoà nhịp với những người khác. Chúng ta thường nghĩ rằng cuộc đời là hỗn hợp của tất cả mọi thứ như một dàn nhạc giao hưởng, nhưng có chuyện gì rất khác giữa những gì xảy ra trong cuộc đời này và một bài nhạc giao hưởng, đó là tính vô trật tự của đời sống. Tính vô trật tự đó chúng ta gọi là sự bất an của đời sống.

 

 

Vô Thường trong giáo dục
 

TT Giác Đẳng: Hôm nay chúng ta lại bước sang một ngày thứ hai trong năm ngày đặc biệt dành để làm đề tài "Vô Thường".  Khía cạnh chúng ta đề cập đến sự "Vô Thường" ngày hôm nay không trực tiếp nói về sự vô thường, mà nói về ảnh hưởng của tôn giáo đối với giáo lý vô thường.  Hầu như mọi người sống trên trái đất này luôn luôn chống chế với một quan niệm là tất cả pháp hữu vi đều vô thường.  Phải! tất cả chúng ta đều sẽ già, đều sẽ bịnh, đều sẽ chết, mọi thứ đều sẽ thay đổi, tất cả những gì chúng ta đang có, dù đẹp, dù xấu, dù hay, dù dở rồi sẽ đi vào dĩ vãng, chúng ta sẽ biến mất trên cuộc đời này, cuộc đời không bỏ chúng ta, chúng ta cũng bỏ cuộc đời.  Như vậy, tất cả chúng ta với một ít trí khôn để hiểu rằng "Tất cả sẽ đi qua".  Chính về điểm này các tôn giáo thường đưa ra một luận điểm là làm sao cái "Vô Thường" biến đổi nó, có một cái gì trường cửu, vĩnh hằng, nói về một cảnh cực lạc, một thiên đàng, một cứu cánh giải thoát nào đó mãi mãi ở trên đó con người trẻ hoài không già, khoẻ hoài không bịnh, sống hoài không chết.  Điều dễ sợ nhất là lý tưởng mà chúng ta tôn thờ, cái đẹp chúng ta mong mỏi.  Nếu có một người nhìn chúng ta như Đức Phật đã nhìn bảo rằng: "Tất cả thứ đó đều sẽ vô thường."  Thì thưa qúi vị chỉ chừng đó cũng làm cho chúng ta thấy khó lãnh hội, khó đón nhận.

Bài pháp đầu tiên của Đức Thế Tôn tại vườn Lộc Giả, khi Ngài hỏi các tỳ kheo: "Này các tỳ kheo, sắc, thọ, tưởng, hành, thức là thường hay vô thường."  "Bạch Đức Thế Tôn, sắc, thọ, tưởng, hành, thức là vô thường."  "Cái gì vô thường thì cái đó khổ hay vui"  "Bạch Đức Thế Tôn, cái gì vô thường là khổ."  "Cái gì vô thường là khổ, có sự biến đổi trong vô thường thì có nên cho rằng đó là 'của ta' 'đó là tự ngã của ta'  'đó là ta' chăng?"  "Bạch Đức Thế Tôn, chẳng nên."  Đó là một trong những lời dạy ngay buổi sơ thời trong kinh Vô Ngã Tướng mà ngày thứ hai, thứ ba sau khi Đức Thế Tôn đặt chân đến vườn Lộc Giả, Ngài đã giảng sau bài kinh Chuyển Pháp Luân. 

Thưa quí vị, ở trên phiến đá giữa hai cây Long Thọ tại Kusinara những lời thuyết sau cùng khi Đức Thế Tôn sắp viên tịch, Ngài cũng đã nhìn các vị tỳ kheo mà nhắn nhủ rằng: “Tất cả pháp hữu vi đều vô thường, các con hãy tinh tấn.”  Với vô thường là giáo lý của trí tuệ, giáo lý đánh thẳng vào sự mê chấp của cuộc sống và khai mở huệ nhãn làm cho chúng ta thấy được sự thật và không bị cuốn mắc vào sự thật.  Thế nhưng giáo lý vô thường cũng trả lại một khoảng trống mênh mông cho những người vốn muốn tìm hiểu một cái gì đó ở cõi trần gian giả hợp này.  Ngay trong thời gian gần đây người ta cũng hô hào về việc thành lập một tịnh độ nhân gian, tức là ở giữa cõi đời này làm sao cho nó trở lên hoàn hảo, làm sao cho nó trở lên mỹ mãn.  Về điểm này thì ngay cả những nhà Sư Phật Giáo cũng làm và cũng đưa ra một quan niệm như vậy.  Có hai số quần chúng; một số quần chúng có thể đối diện với sự thật và có một số quần chúng không thể đối diện với sự thật.  Số quần chúng đối diện với sự thật có thể nói rằng: "À! sự thật nó là như vậy, dù mình có thích hay không thích thì cũng chấp nhận".  Nhưng có một thứ quần chúng họ không thể nghe về sự thật mà họ cần được mơn trớn, cần được khuyên nhủ, hay vẽ những bánh vẽ thật lớn để cho những người này được hưởng thụ để họ tiếp tục với niềm tin của mình, để tín đồ của một đạo giáo được đông đảo, mà người ta cho rằng điều đó là điều cần thiết.

Đây là một trong những điều mà chúng ta có thể nói là mặt trái sáng sủa nhất, khó nghĩ bàn nhất của tôn giáo, đôi khi người ta nghĩ tới sự tồn tại và tồn tại một cách đông đảo của tôn giáo và sự tồn tại bằng bất cứ giá nào.  Khi mà chúng ta nói đến chuyện làm thế nào để có một số đông đi theo tạo thành một trào lưu, tạo thành một thế lực lớn của đạo giáo đông tín đồ, thì người ta sẵn sàng làm bất cứ điều gì, và nói bất cứ điều gì để cho những người đó thấy rằng; ở đây là nơi mà họ có chứa đầy hy vọng, kể cả những hy vọng tương tựa như "xây lâu đài trong các" mà người ta vẫn làm.  Tại vì sao? tại vì người ta quan niệm rằng ở trong sự giáo dục không phải ai cũng có thể nghe được sự thật, và chính về điểm này đã tạo thành một cái gì rất là then chốt khi chúng ta đề cập đến sự "Vô Thường" .  Và tôn giáo sự vô thường và sự giáo dục, sự vô thường và khả năng lãnh hội của chúng ta trong đời sống.  Cứ tưởng tượng như vầy  bây giờ tín ngưỡng mà chúng ta đang tôn thờ, đạo giáo mà chúng ta đang theo đuổi, cả một bầu trời tươi đẹp mà chúng ta đang sống, bây giờ chúng ta phải nhìn những điều đó như là những điều có đến thì có đi, có hiện hữu thì có vô thường, chúng ta không cam lòng, và nếu chúng ta bắt buộc phải chấp nhận thì có ai đó phải nói với chúng ta rằng điều đó sẽ được thay thế và thay thế cho một cái gì đó trường cửu, thay thế cho một cái gì vĩnh hằng. Với cái nhìn gần gủi  bên ngoài cũng là một bản ngã trường cửu như thế giới này thì trước sau vĩnh cửu đó là cái nhìn của chúng ta.

Thưa qúi vị đặc biệt hôm nay chúng tôi muốn mời qúi vị nghe một bài nói chuyện của một người tên là Đoàn Thế Ngữ.  Bài nói chuyện này không nói về sự vô thường mà nói về một tác phẩm khoa học, nó không phải là một tác phẩm khoa học lớn mà là một tác phẩm khoa học rất thường nhưng lại quen thuộc với nhiều người trong chúng ta đó là quyển Phong Thần.  Có lẽ vị nào thường thích cải lương, thích chuyện Tàu, thích hát bội kiểu Việt Nam chúng ta nhớ những nhân vật như là Đinh Tiễn một mắt, hay Na Tra, Quách Tịnh hay là nhiều nhân vật khác ở trong thế giới Phong Thần cho chúng ta một nhân sinh quan rất là Trung Hoa nhưng lại rất là thú vị, vì nói về thần, nói về tiên, nói về người, nói về vật, nói về sự tu tập để trở lên các bậc đó.  Như là một luật định của trật tự ở trong thế gian này ở trong cõi người và tiên giới nó cho người ta một quan niệm rất mạnh là tại sao người ta nói muốn nhìn tôn giáo ở trong một khía cạnh đầy những fantasia, tại sao chúng ta thường liên tưởng đến một cái gì vĩnh hằng, mặc dù chưa một người nào ở trong chúng ta thật sự biết điều đó, mà chúng ta đang cố gắng để vẽ ra một cái bánh vẽ thật lớn để mọi người tự riêng mình ăn cái bánh vẽ đó.  Thì vấn đề của chúng ta tại đây là liệu mỗi chúng ta có khả năng để tiêu hoá những sự thật, những sự thật mà bậc đạo sư của chúng ta Đức Phật vào thuở bình minh của giáo pháp cho đến khi Ngài viên tịch Ngài đã nói và nói một cách rõ ràng chưa bao giờ có một lời nói phân hai, lời nói mập mờ hay là lời nói xét lại về chuyện đó bởi vì chuyện đó là sự thật.  Nhưng chúng ta hãy nghe, hãy tập lắng nghe, nghe thật kỹ về cái nhìn của Đức Phật đối với vấn đề và so với những đạo giáo khác.  Chúng tôi mời quí vị nghe đoạn này.

Đoàn Thế Ngữ: Đây là đề tài về giáo dục, kính thưa qúi vị, chúng ta biết là một đất nước muốn thịnh trị thì phải có dân trí cao, nhưng trong thời gian mà đưa trí cao là chuyện không dễ dàng có thưa qúi vị.  Dân trí của cả một nước muốn nâng trí cao cùng một lúc của tổng dân số chẳng hạn như tám mươi triệu người Việt Nam hay 1 tỷ tư dân Tàu gì đó là những chuyện không dễ dàng.  Và khi muốn nâng cao dân trí thì phải đi qua một giai đoạn hết sức nguy hiểm, là  khi mà bắt đầu trí tuệ con người ta bắt đầu khai hóa nó không phải khôn ngoan ngay được mà nó đi qua một giai đoạn bắt đầu, nó hết dốt đi, nó hết đần độn, nó hết u mê đi nhưng nó chưa có đủ trí khôn.  Tức là nó đi từ dốt đặc nó đi qua giai đoạn dốt lỏng lỏng, rồi khôn lỏng lỏng rồi mới khôn đặc thì đó là cái khổ của chính quyền.  Với chính quyền trị dân mà nói chắc nhất chỉ có hai điều một là dốt cho đặc, hai là khôn cho đặc thì dễ trị hơn.  Tức là nếu dân chúng dốt đặc không biết gì hết chính quyền nói gì nghe ấy cũng là một cách dễ trị, đất nước đó có thể rơi vào chuyên chế không đến nỗi nguy hiểm.  Đất nước thứ nhì nếu dân chúng hoàn toàn có khôn ngoan mà khôn đặc, khôn về trí tuệ hoàn  toàn rất cao, chẳng hạn như xã hội phương tây lối sống bây giờ phải nói là đại đa số dân số nhất là các vùng thành phố thì dân trí đều tốt như vậy, tất cả đều có học, và trí tuệ của họ đều khá cao cho cái khôn khá đặc, không đặc hoàn toàn nhưng khá đặc thì chính quyền cũng dễ cai trị, như thế người dân đi bầu có thể người chính quyền nghe những ý kiến người dân được.  Còn cái nguy hiểm nhất là những lúc mà khôn lỏng ở giữa, chính là tổ của chúng ta có một câu rất hay là "khôn lỏng mà ý đúng"   Bởi vì khi con người ta mới vừa được võ vẽ một tí kiến thức, chưa có đủ một nội lực thâm công, chưa có đủ cái mà đem ứng dụng được mà lại cậy tài ỷ sức ra đây múa văn múa võ loạn xà ngầu lên thì rất là dễ loạn.  Chính vì vậy mà người ta rất e dè, chính vì vậy mà cái áp dụng dân trí thường thường áp dụng vào những cộng đồng nhỏ ít dân cho nên Singapore làm dân trí lên cao rất dễ, chẳng hạn như Đài Loan dân trí lên cao rất dễ, chẳng hạn như nước Pháp và nước Anh vào thời thế kỷ thứ 18 lúc bấy giờ dân số còn ít mà chữ viết của họ cũng là chữ viết alphabet nên dễ học dễ nhớ, cho nên dân trí lên cao là điều dễ có chứ không phải là điều khó có, vì vậy thường thường dân trí lên cao được một lúc là hết, thời đất nước nhỏ dân số ít và phương tiện truyền bá dân trí là phương tiện chữ viết alphabet thường thì nó cũng nhiều thuận tiện hơn, bằng không thì phải thật nhỏ như Singapore hay như Đài Loan là một sự đáng mừng vì chữ Tàu rất khó. 

Nhưng nói tóm lại như qúi vị thấy là dân trí trong cái giai đoạn nguy hiễm nhất là đi từ dốt đặc nó phải đi qua, nó phải đi qua quá trình dốt lỏng rồi khôn lỏng rồi tới khôn đặc, ngay cái lúc khôn lỏng và dốt lỏng là hai cái rất nguy hiểm vô cùng, lúc bấy giờ nó còn dễ phát hoả, nó giống như một loại mà metan để trong bình lắc qua lắc lại một tí là nó cực kỳ nhạy nổ, nổ ghê gớm.  Nhất là chúng ta biết khi trí tuệ phát triển chưa đủ.  Khi người ta ngu thì người ta cũng biết mình ngu thì người ta cũng hiền.  Đàng này chỉ có một tí tí khôn vào thì bắt đầu cậy thế ỷ tài, bắt đầu sinh ra đủ mọi thứ, bắt đầu ngạo mạn, bắt đầu rắc rồi, bắt đầu ngứa nghề, đúng ra thì nhân sinh quan chính thức của mình lúc đó bắt đầu nguy hiểm vô cùng.  Khi kiến thức nó cao đến mức độ đặc rồi thì người ta lại trở lại khiêm tốn, bình thường hoà nhã giản dị, còn cái kiến thức chưa đủ có một tí kiến thức là bắt đầu con người ta đủ trò, đủ mãnh lực, làm đủ trò rất là nguy hiểm cho nền tồn tại.  Vì vậy chúng ta phải thấy có một vấn đề mà Trung Quốc họ nói cái oan của họ cũng có phần đúng, là một tỷ tư dân Trung quốc rất khó nâng cao trình độ suy nghĩ, thành ra họ không thể đánh canh bài như thế được để cho chế độ dân chủ tự do vào trong một đám kiến thức lúc mà trong dân chúng chưa đủ một dân trí cao như thế nó rất dễ gây ra hoảng loạn, mà hoảng loạn như thế ở một tỷ lệ là một tỷ bốn thì cái khó khăn nâng cao dân trí. Khi vấn đề dân chủ Trung Quốc nói chung dân trí và dân trí cao như thế là một chuyện hết sức là khó, họ không thể vì một người, một đưá sinh viên hoặc cả chừng trong cả nước trí thức sinh viên còn chừng mười nghìn người đó, bảo là họ có thể đi được với một bài toán có thể đưa tới một tỷ tư dân chúng nổi điên họ rất là khó điều trị, đó là vấn đề thiên tính vạn nan lúc nó có quá nhiều dân.  Như người Việt Nam của chúng mình trong tương lai cả nước mình là tám mươi triệu rồi có lẽ cũng phải từ từ mà phải sản sinh kế hoạch một tí, bởi vì cuối cùng mà nói cái hàm số dân càng nhiều, không phải lúc nào cũng càng nhiều càng tốt, càng nhiều càng lợi, trời sinh voi rồi trời sinh cỏ.  Một khi nhiều quá đâm ra nó lại đâm ra béo ị cả nước thì không thể tiến bộ được,  trên con đường giống như người khi mà béo quá thì người đó không chạy nhanh được thành ra cuối cùng sự phát triển về thể dục cũng khó mà cao. 

Vì vậy ở đây vấn đề cho thấy vấn đề giáo dục là vấn đề hết sức nguy hiểm là làm sao chấp nhận điều đó thì từ thời thượng cổ người ta đã có hai phương pháp mà thôi:  Một là chấp nhận cái nguy hiểm đó để cho cả nước khối dân trí nâng cao, mặc dù phải đi qua một giai đoạn quá nguy hiểm nhu vậy, mà do đó dân số vừa đủ mức có thể kiểm soát được thì người ta mới dám đi qua quá trình này nếu không có thì đành ngồi chịu chết thôi.  Chẳng thà vì vậy càng đông dân người ta lại càng chọn thuyết thứ hai là thà để dân chúng dốt đặc, và thật ra đó là con đường dài cũng là phúc cho nó hơn và cũng là đưa nhẹ nhàng cho nhà nước mà cũng là phúc cho chúng nó nhiều hơn, đây là cái ý rất là tàn nhẫn và ác độc mà có khi cuối cùng là ý duy nhất có thể làm được, vì vậy thành ra chúng ta phải để ý đến điều này khi chúng ta muốn áp dụng dân chủ vào trong dân trí như vậy là những vấn đề phải suy nghĩ rất là sâu xa rất là khó khăn, mỗi một size của dân số tám mươi triệu như ở Việt Nam bây giờ cũng đã bắt đầu là cả một sự đau đầu về vấn đề nâng cao dân trí, may mà chúng ta không còn dùng chữ Tàu, chứ còn dùng chữ Tàu để mà phát triển dân trí như bên Nhật hay bên Đài Loan thì chắc là chết, bên Nhật người ta phải giản dị hoá chữ Tàu lại chỉ còn khoản chừng 1,200 chữ gì đó thôi cho nên cả nước có thể phát triển được vấn đề mà ai cũng biết đọc biết viết hết, Đài Loan thì cả là một hiện tượng phải nói là đáng khâm phục sự thành công tuy đất rất nhỏ, như Singapore đất rất nhỏ, chứ còn cả nước Tàu vĩ đại, chúng ta biết là họ phải dùng loại chữ giãn thể và không đi đến đâu dân chúng cũng chẳng thể đọc được nhiều hơn là bao nhiêu tức là người dân Tàu vẫn khi nghìn xưa vậy thôi, đọc võ vẽ được đâu khoản chừng  một người nông  dân bình thường đọc cũng khoản chừng một hai trăm chữ cần thiết cho mỗi ngày đi làm phải có, còn ngoài ra không thể nào đủ chữ để đọc được báo chí, hay tiếp thu được kiến thức một cách tuyệt vời bởi vì chữ viết đã khó.  Thành ra là cái vấn đề dân trí bên Tàu có nhiều vấn đề, thật là đau đầu vô cùng, đó là vấn đề hiện đại chúng ta thấy chúng ta trở lại truyện Phong Thần. 

Trong truyện Phong Thần có những cái gì về chuyện này mà Thế Ngữ dám nói về Phong Thần nó chứa được dụ ngôn về chuyện này.  Kính thưa qúi vị chuyện Phong Thần nó có đó qúi vị.  Ở trong Phong Thần chắc quí vị đọc quí vị còn nhớ nó có hai thuyết về giáo dục trong Phong Thần đó là Xiển Giáo và Triệt giáo. Xiển giáo Và Triệt Giáo dùng ngụ ngôn của chuyện thần thoại, tức là đây chỗ dạy phép tiên, dạy phép để tìm trường sanh bất tử, tức là đi tới mức độ trí tuệ cao nhất của loài người hay là cả sáu cõi sanh vật của từ Đạo Phật mới thể nhập vào trong tư tưởng của người Tàu ở trong sáu đường đầu thai thì đưa đến đường cuối cùng là thoát ra khỏi luân hồi tức là thoát ra khỏi vành luân hồi cuả sáu cõi tức là Chư Thiên, atula, người, súc vật, ngã qủi v.v… các oan hồn có sáu cõi đầu thai, làm sao thoái khỏi sáu cõi đó tức là đi học phép tiên tu tiên để thoát được vòng trầm luân đó, tức là dụ ngôn thần thoại là mượn ý đó thành ra có hai giáo phái lớn để dạy phép tiên;  một giáo phái là Xiển giáo, xiển ở đây tức là xiển dương, tức là giáo phái này là giáo phái chính, tức giáo phái mang chức chính thống (orthodox) là con đường của Tàu đi, giáo phái này hoàn toàn mang tánh elitism Có nghĩa là mang tính rõ ràng phân chia ra, những người nào chưa đủ căn cơ thậm  chí không nhận vào, không dạy, có đến cầu gõ cửa xin học cũng không dạy nhất định không dạy là không dạy, chỉ dạy những kẻ nào đủ căn cơ tức là nền xã hội giáo dục đây là trường phái suy nghĩ giáo dục là thà để cho một là dốt đặc để cho dốt luôn, hai là đủ căn cơ thì cho nó làm khôn ngoan đó là con đường của Tàu đi từ xưa tới nay thưa qúi vị, đó là phái của Triển Giáo. 

Trong chuyện thần thoại đưa cái ý ra là chỉ những ai làm người rồi, chúng ta biết là có sáu cõi đầu thai, có làm xúc vật, có làm ác qủi, có làm atula, các thứ như thế thì đơn giản lại chỉ còn có 3 loại thôi, đầu thai làm xúc vật, đầu thai làm người, còn không thoát lên nữa thì làm tiên hoặc làm thần.  thế thì là như vậy ở trong Phật Giáo chỉ có chấp nhận loài người mà thôi không dạy loài súc vật muốn đi tu, loài súc vật như con rùa con rắn có muốn đi tu phép tiên cũng không nhận vào để mà dạy, không bao giờ như thế chỉ sợ những người thậm chí loài người đã sinh làm người tức là đã khác hơn súc vật tức là âm công tích đức đã dày rồi mới được đầu thai làm con người, nhưng cả con người cũng vậy nữa toàn người có đức thì mới dạy mà không có căn có cơ có gì thế nào mới dạy, còn loại phàm phu tục tử có đến cũng không dạy đó là dụ ngôn trong vấn đề giáo dục tức là đây là dưới lốt thần thoại nói chuyện đó thưa qúi vị, chúng ta đang bàn tức là dạy theo kiểu elitism  hoàn toàn.  Nói thẳng ra đất nước này sẽ có hai giai cấp, một giai cấp là những con người có học, và giai cấp còn lại là những con người không có học, như thế nước dễ trị toàn những người khôn đặc và những người dốt đặc, chỉ cần 5% dân số khôn đặc, và 95% dân số dốt đặc thì đất nước sẽ rất bình yên, rất là vững mạnh, rất là thịnh trị.  Vấn đề lớn nhất là để cho 5%  khôn đặc mà thôi, khôn đặc không để cho bọn chuyên chế nắm quyền và không rơi vào chính thể quân đội, quân sự hay quân phiệt, thì nó thoát khỏi nguy hiểm đó, nếu mà trên 5% đó toàn là những người có kiến thức về nhân văn và có kiến thức về kẻ sĩ và sống có đạo đức thì tự nhiên chính là mô hình này không xấu, cái mô  hình chuyên chế kiểu này thật ra nó không xấu với điều kiện là kẻ chuyên chế kẻ nắm uy quyền trong tay là những con người có chút nhân văn và có chút suy nghĩ và không đi vào con đường độc tài đến độ giết người hoặc dùng bắt bạo lực để trấn áp dân số, mô hình độc tài mà nói ở một đất nước mà dân số quá đông và vấn đề nâng cao dân trí là một con số khổng lồ dù ở mức độ astronomical có thể làm được, vì vậy chúng ta nhìn kỹ cái Xiển giáo trong Phong Thần, chủ thuyết ra đời ở nhà Minh là câu đáp án muôn thuở ở của cái thế lực của Trung Hoa cho vấn đề giáo dục. 

Người ta không tin vào đại đồng giáo dục, người ta không tin vào dân chủ, tất cả mọi người, người ta không tin chính thức là phải của mọi người mà người ta tuyên bố thẳng thừng  rằng 5% khôn đặc 95% dốt đặc đó là mô thức để xây dựng quốc gia.  Còn bây giờ phái đối lại với phái Xiển Giáo là phái Triệt Giáo, Triệt tức là thông suốt, nhưng triệt mang ý đây là ý rất là đúng với cái nhìn đối với Phương Tây.  Triệt là cái gì đó là triệt để tức là thống suốt đầu tư,  tức là cái gì cũng biết lý luận được đó là thâm sâu, nhưng nó lại triệt tức là nó bị cắt đi cái ngọn của nó giống như thể là vì sinh lực của nó thoát tiết ra ngoài quá nhiều cho nên loại văn hoá này không tồn tại lâu dài được theo cái nhìn của Tàu, loại văn hoá này mất chất âm dương, đi triệt một đường thành ra nó triệt để rồi nó cũng sớm bị tiêu triệt thành ra nó đối lại với Xiển Giáo và Triệt Giáo. 

Chúng ta nhớ là Xiển Giáo có hai giáo chủ là Thái Cực Lão Quân tức là Lão Tử và Ngươn Thủy Thiên Tôn còn bên kia là Thông Thiên Giáo Chủ là sư đệ của hai ông này, Thông Thiên giáo chủ thật ra bắt đầu là làm lành, ông phản đối hai sư huynh là quá ư kén học trò, theo ông thì người nào muốn học cũng nên dạy cho nó chứ, đây là Thông Tiên giáo chủ đời nhà Minh, khi bên Tàu viết loại thần thoại này thì có cốt truyện vua Trụ, cốt truyện của đời nhà Minh đã hình dung lúc bấy giờ ở Tàu đã có những con người biết suy nghĩ dân chủ kiểu Mỹ, làm việc kiểu Mỹ cứ mở trường đại học cho chúng nó vào học, đứa nào vào học cũng nhận vào cứ đóng tiền là cho vào học dạy hết, nó học được đến đâu, học được một chữ qúi một chữ, học được hai chữ qúi hai chữ, con rùa đến học ông cũng nhận, con rắn đến học ông cũng nhận con bò cạp đến học ông cũng nhận, con beo con cọp đến học ông cũng nhận, loài người không có đức đến học ông cũng nhận, bởi vì tài phép là tài phép, cứ dạy tài phép cho nó biết, cứ cung cấp cho nó học bằng nó có nghề, nó ra đi làm chính thức chữ một chữ hai thế nào cũng được rồi từ từ cả nước sẽ dần dần được khôn lên, không có gì nguy hiểm cả.  Thì quả thật là Thông Tiên nghĩ như thế nhưng mà trong Phong Thần đã chứng minh ra rõ rằng không phải như thế.  Quả thật những con mà không linh tính như con rùa tu mới được chưa bao ngày, những con hổ, con báo, con vượn, con này con kia được đi học hết ở bên Triệt Giáo được một tí phép bắt đầu múa văn múa võ loại thiên hạ, mà chính vì vậy mà rốt cuộc là sau thời gian để cho hai phái Xiển Giáo và Triệt Giáo.  Xiển Giáo dạy theo kiểu elitism  như vậy tạo ra được mớ đồ đệ rất ít nhưng họ là những người chóp bu ở trên trời Quảng Tiên Tử, Xích Tiên Tử  đồ đệ bên núi Côn Lôn ở bên điện Ngọc Huynh cùng Ngươn Thủy Thiên Tôn và Thái Lão Quân.  Còn bên kia là phía bên Thông Thiên giáo chủ thì sinh ra rất nhiều đồ đệ nhưng hầu hết những đồ đệ là kiến thức ba láp ba búa, dĩ nhiên là có khá hơn thời là súc vật nhưng tài cũng chưa đủ khá cho lắm mà cái đức vẫn còn cái tâm hung hăng của loài súc vật, vẫn chưa được thuần dưỡng, chưa được minh mẫn cho nên nó múa văn múa võ loạn xà ngầu, nó gây ra rất nhiều chuyện và nhất là cái kiến thức không đủ thì con người ta có một tí kiến thức bắt đầu khoe khoan bắt đầu ngứa nghề, muốn đem thò tay làm thử chuyện này, thò tay làm thử chuyện kia, mà chính vì nhiều khi người ta có nhiều kiến thức hơn người ta thấy những việc người ta không làm vì người ta biết làm sẽ có hại như vậy, chính là người càng biết nhiều vô vi nhưng chưa dám làm, mà trong khi đó những kẻ không biết gì hết và vì điếc không sợ súng thành ra dám nhảy ra làm bùa phứa làm lăn xăng và làm loạn hết cả vấn đề. 

Ở chỗ này cho thấy cả người Anh, người Mỹ tuy là xã hội năng động vậy họ cũng biết vấn đề này, họ gọi là (too rushing where anger fear to pass) có nghĩa là nơi mà các thiên thần có vẻ không dám đi vào thì bọn ngu lại ùa nhau để đi vào, chẳng hạn như chỗ nguy hiểm đi vào là chết thành ra các thiên thần có tài phép như vậy bay trên mây, đi trên băng mỏng bằng tờ giấy mà băng cũng không đứt, mà thiên thần còn chưa dám đi vì thiên thần biết chuyện nên không dám đi, còn cái bọn ngu thì lại uà nó đi rồi nó chết với nhau cả đám, tức là khi người ta có đủ trí thì có một số chuyện thấy người ta ngần ngại không làm vì người ta có đủ kiến thức để biết rằng làm sẽ sinh ra vấn đề về sau thành ra khi chưa nghĩ được giải pháp người ta chưa dám vọng động, chưa dám mạo muội mà làm bậy lỡ sau này làm rồi nó đổ nợ ra dọn không kịp còn những người mà kiến thức kém vì đức kém và tài cũng kém cho nên vì vậy tài không bao nhiêu mà đức thì không mà muốn khoe khoan tài nghệ của mình nổ ra làm đầy đủ trò ra sau này mọi người mắc công đi dọn những điều mà họ làm bậy không xong. 

Thì trong truyện Phong Thần quả thật có chuyện như vậy, ghi rất rõ là các đồ đệ của Thông Tiên Giáo Chủ chính vì như vậy vì tài thì không bao nhiêu mà đức thì cũng kém mà lại ngứa nghề muốn ra khoe khoan của mình làm hơn bên Xiển Giáo còn bầy ra rất nhiều trò vì vậy mà đi tới cả một tập đồ sát.  Như vậy là ở trong các vấn đề tưởng là chuyện thần thoại giữa Xiển Giáo và Triệt Giáo làm sao mà nói đây là một loại dụ ngôn ở loại dụ ngôn này đã tỏ rõ vấn đề hết sức to lớn đó là vấn đề giáo dục, nên giáo dục theo phương pháp elitism hay giáo dục theo phương pháp tức là đánh đổ đồng và bất phân thượng vàng hạ cám cũng vậy hết, được chữ nào hay chữ ấy như chúng ta trả lời rồi đó cả hai đều có cái đúng và đều có cái sai.  Cái sai dạy theo kiểu elitism làm cho dân chúng mãi mãi chấp nhận là để cho dân chúng dốt đặc hoài hoài vì chỉ có 5% hoặc tối đa 10% là được quyền khôn đặc mà không hề tồn tại cái loại dốt lỏng hay khôn lỏng thì nó lại được một cái là nó ổn định và nó vững bền nhưng nó không tiến bộ được, nó ngồi yên tại chỗ nó dậm chân tại chỗ dù nó vô cùng vững bền còn cái ngược lại thì nó năng động, nó sinh ra rất là nhiều cái cho tương lai nhưng có nhiều khi mà nó ở trong cái thế nào đó nó có thể nổ tung và tiêu diệt tất cả mọi thứ, giữa hai nguy hiểm chúng ta nên nhớ kỹ một điều dân chủ đi chung với dân trí, dân trí đi chung với sự an nguy của dân tộc vì vậy chúng ta tìm cách nào mà nâng cao dân trí tối đa thì chúng ta mới áp dụng dân chủ được một cách thoải mái.  Chúng tôi nói ở đây chỉ thấy rõ ràng là vẫn vì dù sao dân chủ nguy hiểm khi mà dân trí chưa cao hay là khi những kẻ kiến thức chưa đủ mà họ đi bầu thì sẽ có nhiều điều nguy hiểm vì lúc đó thật sự lá phiếu của họ bầu mà họ không biết suy nghĩ gì cả họ chọn sai be bét mà chúng ta củng vì đa số thắng thiểu số tôn trọng dân chủ mà theo chính sách của những người ngu đi bầu thì chúng ta sẽ chết sớm, chúng ta phải thấy rõ điều đó dân chủ chỉ áp dụng được khi có dân trí đau khổ này làm sao dám để cho dân trí nâng cao khi phải đi qua một giai đoạn và giai đoạn ở giữa vô cùng nguy hiểm, chúng ta hiểu một điều thật ra mà nói thấy miếng đất trống ở Tàu nhưng chúng ta phải hiểu cho rằng họ cũng có những vấn đề của riêng họ, họ không có rợn tóc gáy, chúng ta không thể nào gọi là bộ chính trị trung ương của đảng Trung Quốc, họ nhìn thấy cái cảnh mà mười nghìn người sinh viên đó thì hiểu được dân chủ là gì nhưng còn một vạn dân Tàu với một tỷ dân Tàu dưới phần  là nông dân chưa biết gì là gì hết mà nếu bọn sinh viên này mà đem truyền cái nọc về dân chủ đó vào trong những đầu óc mà chưa có học đủ chưa cứng cựa mà bọn nó chỉ có hung hăng lên nổi loạn để mà chống chính quyền không thôi trong khi chưa biết ất giáp gì hết thì tạo lên cái loạn lớn hơn, vì vậy mà họ giết thậm chí là một trăm một nghìn sinh viên để họ giữ được sự ổn định cho cả nước nhưng không phải họ nói dối hoàn toàn mà chúng ta biết được thật đâu mà nói còn có lý do thật mà làm như vậy khi chúng ta kêu gào đòi hỏi dân chủ, chúng ta phải biết dân chủ có cái giá phải trả cho nó phải có đủ tiền mới mua được các món bậc sang trọng như vậy để mà dùng lấy tiền để mua dân chủ là dân trí, dân chủ mà không có dân trí thì chỉ là một liều thuốc thối tha đẩy cả một dân tộc xuống hố ngay lập tức, nếu thật sự để cho những người ngu không biết gì hết mà đi bầu nghe sự lựa chọn của đa số, thật ra trong đa số là những người trí thức không cao thì chúng ta sẽ làm từ sai lầm này đến sai lầm khác chỉ vì tôn trọng tối đa nguyên tắc đa số thắng thiểu số làm sao đa số hiểu biết nhiều hơn thiểu số.  Mà thật ra cái  nào cũng vậy, nói thẳng là một điều làm sao lại có chuyện xã hội nào mà dễ dàng có chuyện là người khôn là số đông mà người ngu mà số ít được, xã hội nào rồi cũng thế người kém trí tuệ lúc nào cũng phải chiếm đa số và người trí tuệ nhiều hơn thiểu số như thế thật sự dân chủ 100% như ý nghĩa đơn giản và thô lỗ thì cả nước đi xuống có lẽ chắc chắn.  Thật ra ở Mỹ người ta áp dụng như thế đó  bởi vì dân chúng có trí tuệ người ta thật sự nghe lời dân chúng 100% , quối hội đại biểu bầu, dân chúng muốn là một điều nhưng phải đi qua các đại biểu của họ, các đại biểu là những người có kiến thức.

TT Giác Đẳng:  Kính bạch Chư Tôn Đức và thưa quí Phật tử, chúng tôi vừa cho qúi vị nghe một đoạn nói chuyện của Đoàn Thế Ngữ nói về quan niệm giáo dục.  Ở đây trong quan niệm giáo dục chúng tôi muốn dùng ý định đó để chỉ qua một sự kiện khác đó là không thể riêng về xã hội mà ngay cả trong lãnh vực tôn giáo có rất nhiều người kể cả những người làm tôn giáo quan niệm rằng đối với đa số quần chúng nên cho họ cái gì đó mà tương đối là nếu chúng ta dùng chữ mê muội  thì nó quá đáng nhưng đại khái là một thứ gì làm cho người ta thoải mái cảm thấy ưa thích.  Thí dụ  thay vì nói về bản chất của đời sống mà chúng ta đang đối diện thì người ta nên nói về một thế giới đẹp, thế giới đó hứa hẹn là thế giới đó cho người ta cảm thấy nhiều nguồn hy vọng.  Có một lần chúng tôi đến một hội trường nghe một vị Thầy giảng về một pháp môn, vị Thầy đó nói rằng đây là thời mạt pháp thành ra các pháp môn khác không tốt bằng pháp môn niệm Phật cầu vãnh sinh, nhưng mà rồi ở một đoạn khác thì vị đó nói rằng pháp môn niệm Phật cầu vãnh sinh là pháp môn dành cho hạng thượng căn tức là cho những người có trí tuệ căn cơ cao,  thì thưa qúi vị lát sau chúng tôi chưa có nói nhiều về chuyện này, thì có một người Phật tử đưa ra câu hỏi: “thì như vậy phải chăng trong thời mạt pháp có nhiều người có căn cơ cao hơn là hồi Đức Phật còn tại thế, bởi vì đây là thời mạt pháp mà đi giảng pháp môn đó nhưng mà rồi pháp môn đó lại dành cho những người căn cơ cao, thì như vậy căn cơ cao với căn cơ thấp là thế nào.”  thì thưa qúi vị đó chỉ là một ở trong số rất nhiều ví dụ là cho chúng ta thấy rằng những giáo lý những giáo điểm mà liên quan đến sự thật và sự thật là cái gì chứa đựng rất lớn ở trong kho tàng kinh điển của Đạo Phật và dĩ nhiên khi mà chúng ta đề cập đến những trạng thái vô thường của danh của sắc tức là của thân của tâm của danh pháp sắc pháp là pháp hữu vi nó không thể nào là câu chuyện đơn giản như chúng ta nói là hoa nở rồi hoa tàn hay là chúng ta nói rằng có hợp thì có tan những cái đó người ta nói ai cũng có thể chấp nhận được, bây giờ người ta nói cái gì sâu kín hơn, người ta nói sâu kín hơn từ cả những quan niệm của sắc của thọ tưởng hành thức, của cái  gọi là linh hồn trường cửu, linh hồn bất biến một cảnh giới sau đời sống này v.v… và v.v... rất là nhiều thứ.  Ở trong quan niệm giáo dục ở đây trong Phong Thần chúng ta thấy quan ni ệm của Xiển Giáo và Triệt Giáo nó có sự khác biệt một sự khác biệt là có những thứ dành cho tất cả,  nhưng  Triệt giáo - Thông Thiên giáo chủ quan niệm rằng cái gì là cũng nên cho tất cả mọi người đó là một nền giáo dục đại đồng ai cũng thể đón nhận giống nhau,  nhưng bên Xiển Giáo thì cho rằng nó sẽ loạn lên nếu mà những con rắn con rùa con hồ ly mà có thể tu thành tiên thành thần, và khi thành hình thì nó là yêu tinh là ma quái v.v…  thì chúng ta thấy là cả một quan niệm được bày ra tại đây và khi nó được bày ra tại đây thì nó có sự tranh luận rất lớn vì vậy điều đó nó có thể tạo nên một sự phân hoá trong đạo Phật Nói về một quan niệm mang tánh bảo thủ và một quan niệm mang tánh cấp tiến gọi là Đạo Phật căn bản và Đạo Phật phát triển hay là Đạo Phật của đại chúng, một khi nói đến đại chúng thì người ta tìm cái gì hợp với thị hiếu quần chúng và khi hợp với thị hiếu quần chúng thì cái đó phải là một cái gì đẹp cái gì nghe vừa lòng mang tánh trào lưu bởi vậy chúng ta ít thấy có một cái nơi nào như ở vài quốc gia mà thôi, Phật giáo phát triển ngay trong cộng đồng của chúng ta có phong trào, tại sao người ta đưa ra phong trào, có khi phong trào Thiền Vô Vi, có khi trào ăn chay của Thanh Hải Vô Thượng Sư, có khi phong trào Phật thất.  Chúng ta đưa nhiều phong trào tại vì phong trào là cái gì mang tánh quần chúng và tánh quần chúng đó, tánh lôi cuốn quần chúng đó nó dễ nói và nếu đưa đến chỗ có sức mạnh hơn là những lời dạy như là thế giới thì vô  thường, khổ, vô ngã, và sanh già bịnh chết, đây là khổ đế, đây là nguyên nhân sanh khổ v.v…  những điều đó với nghiệp báo và nói theo dông dài đôi khi nó quá nhàm. Thì cái chuyện mà chúng ta đề cập đến ngày hôm nay liên quan đến sự vô thường nó có một vấn đề là có thể tất cả các tông phái của Đạo Phật hay là cũng có thể nói là hầu hết tất cả các tôn giáo đều nhìn nhận về sự phù du của kiếp nhân sinh này chúng tôi đang nói chuyện với qúi vị, ở trong sự phù du đó có nhiều sự thay đổi có nhiều bí mật. Thế giới này ngày hôm nay người ta không còn ngây thơ như ngày xưa đó là một thế giới vĩnh hằng nữa, tất cả chúng ta đều nhận rằng rồi một ngày nào đó ngay cả hành tinh xanh mà chúng ta đang ở đây, ngay cả Thái Dương Hệ mà chúng ta đang được biết gồm có mặt trời và những hành tinh chung quanh, tất cả đều sẽ tan biến như là những vì sao mà thỉnh thoảng chúng ta bắt gặp, như là  những mảnh thiên xa mà thỉnh thoảng chúng ta được nhìn thấy qua viễn vọng kính, những vọng kính như là Chandra hay là Hubble cho chúng ta thấy không biết bao nhiêu thiên thể, rồi những thiên thể có thể lớn gấp triệu lần trái đất của chúng ta và lớn hơn nữa,  thế nhưng rồi nó tan biến theo định luật vô thường.  Thì những gì mà mình thấy những gì mà mình biết không ai cãi rằng đó là nó vô thường, không ai cãi rằng nó sẽ mãi mãi không bao giờ bị mất, thế nhưng điều người ta tranh luận là người ta muốn nói đến điều rằng người ta muốn cái gì của quần chúng của đa số tín đồ của đại đa số vào một cái nhìn chung về một thế giới xa xăm, và những luận cứ  mà  người ta hay căn cứ là cái gì xảy ra sau khi chết, chúng ta thấy rõ ràng trong tại sao các tôn giáo và đặc biệt là những tôn giáo mang tính quần chúng nghĩa là với số đông thường nói về kiếp sau hơn kiếp này, kiếp sau là mình chết mình sẽ sanh về đâu, mình vãng sanh vào chỗ này mình đến chỗ kia v.v…. Và khi nói về kiếp sau thì người ta thường nói đến một thế giới trường cửu một thế giới vĩnh viễn không bao giờ thay đổi.  Tại sao người ta lại nói được điều đó là tại vì ở đó nó cho con người một niềm hy vọng một cái gì khác hơn cuộc đời này và do vậy bài học rất là khó nuốt hiện tại mà chúng ta phải đi qua là chúng ta có nên hay không nên tập trú vào hiện tại với những gì đổi thay những gì vô thường và ở tại đây nó là mấu chốt của bài học mà chúng ta nói, bởi vì khi mà nói đến vô thường thì chúng ta phải nói đến cái thực chất, cái gì đang hiện hữu, bởi vì chỉ có cái gì đang hiện hữu thì chúng ta mới thực sự lãnh ngộ được.  “À! Nó như vậy thì nó là như vậy”, tuy nhiên chúng ta không cam lòng, chúng ta không thể chấp nhận điều đó một cách dễ dàng như là chúng ta nghĩ chúng ta thường mơ về một thế giới xa xăm mà ở trên thế giới đó con người sống là một thế giới  khác.  Chúng tôi nhớ có một năm chúng tôi nhập hạ ở California,  một người Phật tử cho chúng tôi mượn một cái trailer một cái mobile hôm (nhà di động) sống trong một vùng đất sa mạc rất là lạnh về đêm và nóng về ban ngày và thưa qúi vị ở chung quanh đó có rất nhiều tín đồ của Seventh Day Adventist và khi họ thấy chúng tôi là một nhà Sư Phật giáo mà họ có thể họ biết chúng tôi là một nhà Sư Phật giáo thấy mặc y áo khác với mọi người và cuộc sống khác, do đó họ thường ghé ngang và chúng tôi nhớ ít nhất là có bốn lần chúng tôi được mời đến để tham dự những ngày lễ như Thanks Giving hay là một vài lễ gì đó chúng tôi không nhớ, nhưng tại các ngôi nhà thờ thì chúng tôi cũng đi tại vì mình là một tu sĩ Phật giáo chứ không có chuyện gì hết và đến đó thì người ta phát outlet, những bơoklet (cuốn sách nhỏ) trong đó người ta in hình về một vùng địa đàng của tiên nga, một ngày nào đó chúa Kytô sẽ sống lại trong khu vực này và ở đó nó là cái gì giống như một công viên rất đẹp những hoạ sĩ phát hoạ ở trong công viên đó thì có đủ nam thanh nữ tú những người mặc áo kimono của Nhật, những người da đen mặc áo kiểu Phi Châu v.v... và người ta vẽ hình ảnh rất thanh bình, nó giống như một người trong thành phố lớn chúng ta thường thấy,  và người ta cho rằng cái thế giới đó nó vĩnh hằng, thì như vậy là một giấc mơ địa đàng, một vùng địa đàng, một cõi tịnh độ nhân gian và rõ ràng điều mà chúng tôi nhận thấy rằng nó phát sinh vốn rất nhiều người và nhiều người rất mong muốn một thế giới bình yên như vậy, một thế giới vĩnh cửu ở trên trái đất này như vậy mặc dù với kiến thức khoa học của chúng ta ngày nay ai cũng nghĩ rằng ngay cả trái đất này ngay cả thế giới chúng ta đang sống nó có tuổi thọ nhất định của nó chứ nó không thể nào mãi mãi được.  Thì thưa qúi vị vấn đề tại đây là quan niệm về sự giáo dục của tôn giáo, cái quan niệm về cái nhìn của đạo giáo là hễ chúng sanh nào có khả năng thấy được sự thật thì nên nói cho họ nghe về sự thật và những chúng sanh nào không có khả năng đón nhận sự thật nghe về sự thật thì nên phương tiện mà bàn vẽ những điều mà chúng ta gọi là cái gì đó để giữ lại niềm tin của họ để trưởng dưỡng được sự ưa thích của những người có lòng thành tín sự khát vọng của họ và chúng ta phải thảo luận về đề tài này bởi vì thưa qúi vị chúng tôi đã nói đến hai thông điệp của Đức Thế Tôn khi Ngài vừa mới thành đạo chuyển pháp luân những ngày đầu tại vườn Lộc Giả và thông điệp cuối cùng tại Kusinara khi Ngài sắp viên tịch hai thông điệp đó đều nhất quán đều có cái nhìn giống nhau và Ngài đã mang 40 cuộc đời một bài học rất thật rất trực tiếp rất rõ ràng về những gì mà Ngài muốn nói có nhiều người trong chúng ta không cảm thấy thoải mái điều nó, ngay cả những người Phật tử.  Chúng tôi biết rằng người Trung Hoa có một số lớn là Phật tử và có những người Phật tử rất thành tín nhưng có những điều người ta rất là khó, ví dụ như chúng tôi có một người Phật tử tại chùa, con cái họ đi tu thì họ cho rằng đó là chuyện rất là sui không bao giờ nói nữa, hoặc giả là thỉnh thoảng nhiều khi Phật tử đến chùa làm lễ cưới thì cũng có người Phật tử khác họ nói tại sao lễ cưới  lại mang lên chùa.  Tại vì chùa là nói lên cảnh bản chất vô thường khổ của đời sống và khi làm đám cưới người ta muốn nói đến chuyện gì răng long tóc bạc, trăm năm đồng tâm bình chất v.v.... Trong tất cả mọi thứ thì không thể nào mà chúng ta đem hai điều nhập một được, và người Trung Hoa họ có một kiêng cử, những kiêng cử này khiến cho người Trung Hoa đưa đến một cái nhìn tách biệt là có những thứ chùa thì trả lại cho chùa có những thứ của nhân gian thì trả lại nhân gian, thành ra quí vị thấy rằng trong các quốc gia Phật giáo Đại thừa hay Phật Giáo Bắc Truyền sự tách biệt giữa ngôi chùa và nhân gian thật là lớn mà khi chúng tôi đi sinh hoạt đó đây có đôi khi chúng tôi thấy rằng những người Phật tử thường vẽ điều ranh phân tích rõ. À! chùa thì không được ở bên ngoài, còn bên ngoài thì không được ở trong chùa, trong khi đó thì một vài tôn giáo người ta muốn nói đem đạo vào đời hay là một đạo Phật nhập thế. Cái tiếng kêu gào đó tại sao nó kêu gào như vậy? Là tại vì thường là có một sự chống chế làm thế nào đó có những chuyện chỉ nên nói với một số người mà không nên nói với một số người khác. Và đây là đề tài mà chúng ta sẽ bàn ngày hôm nay liệu rằng đối với vô thường có thể đem nói với tất cả mọi người chúng ta hay không?.

 

Vô Thường qua cái nhìn của Khoa Học
 

Namo Buddhaya, Chúng con kính đảnh lễ Sư Trưởng, TT Tuệ Siêu cùng Chư Tôn Đức Tăng  trong room. Thân chào quý vị Phật tử.

Hôm nay trong đề tài cũng nói về sự vô thường, chúng tôi xin lược lại một vài ý, một vài chú thích trong bài vô thường của ông Hopskin mà chúng tôi nghĩ rằng rất có lợi cho những người Phật tử khi suy niệm về điều này. Chú thích là trong bài viết thú vị này đưa ra nhiều chiều kích khác nhau khi chúng ta nhìn về sự vô thường.

Chiều kích đầu tiên, chúng ta được biết có những vật thể thuộc về vật chất mà chúng ta cho rằng không có cái gì huỷ diệt được, không bị ảnh hưởng bởi thời gian, nó luôn tồn tại và đã tồn tại hằng triệu năm và sau này nó cũng như vậy. Ví dụ chúng ta nói đến kim cương. Thường người ta nói kim cương bất hoại chẳng hạn. Và có thể chúng ta để một khối đá, một pho tượng bằng kim loại và hầu như từ năm này qua tháng kia nếu pho tượng kim loại không bị oxy hoá và phiến đá kia không bị ai đập thì dường như những thứ đó đứng yên một chỗ, không thay đổi. Trong thực tế, kiến thức về vật lý cho chúng ta biết, vật chất là kết cấu của những phân tử, của những nguyên tử, những nguyên tử này vẫn có tự tánh riêng, có hoạt đông nhất định và sự hoạt động này tạo nên một sự luân chuyển thường xuyên. Những đơn vị vật chất chúng ta gọi là nguyên tử đã được nói nhiều đến trong kinh điển của đạo Phật và kinh điển đạo Phật không phải chỉ nói đến những nguyên tử vật chất mà còn nói trên phương diện danh pháp tức là trên phương diện tâm pháp còn nói đến những đơn vị cực vi. Đơn vị cực vi đó là sát-na, mà Ngài Tịnh Sự thường gọi nôm na là một cái tâm. Như một sát-na tâm, sanh và diệt, trong đó chẳng những một sát-na tâm được xem như một đơn vị cực vi mà sát-na đó qua cái nhìn của A-tỳ-đàm là một kết cấu của nhiều thuộc tánh hay nhiều tâm sở, tối thiểu như những tâm ngũ song thức ở trong sự  nhận thức biết cảnh muội lược nhất thì có 7 tâm sở biến hành thọ xúc tưởng tư v.v.. Như vậy có lẽ phải mất một dòng lịch sử rất dài nhiều thế kỷ mà một sự tiến xa vượt bậc về vật lý, con người mới bắt đầu nhận ra sự có mặt và sự có mặt cần phải nói đến của những nguyên tử. Những phân tử, những nguyên tử này là đơn vị cực vi nhỏ nhất khi chúng ta nói về vật chất. Nhưng điều đó hoàn toàn không xa lạ gì với cái nhìn của người Phật tử khi chúng ta đề cập đến tất cả pháp hữu vi kể cả vật chất và tâm, tức là chúng ta nói sắc pháp và danh pháp đều hiện hữu là những đơn vị. Đây là sự tổng hợp của một tiến trình mà trong đó gồm nhiều đơn vị danh pháp và sắc pháp. Những đơn vị cực vi này đưa chúng ta đi vào thế giới hoàn toàn khác hơn quan niệm hằng ngày chúng ta nhìn nhau thấy rằng người này đẹp người kia xấu, người kia da trắng da vàng v.v…
Bây giờ quan niệm chúng ta nói về thế giới hiên tượng này, chúng ta muốn nói đến một thế giới khác mà khoa học ngày nay đã nhìn nhận là sự hiểu biết của chúng ta về các tinh tú, các thiên thể, các thái dương hệ, cho thấy rằng tất cả những vật thể trong thái không kể cả thái dương hệ, mặt trời và nhiều hành tinh xoay chung quanh những quỹ đạo nhất định đều cuối cùng rồi sẽ phải kết thúc. Nói cách khác là trái đất của chúng ta có tuổi thọ của nó và thậm chí trong mấy tháng vừa rồi, người ta còn nói đến một hiện tượng, ở một giai đoạn nào đó trái đất sẽ mất hoàn toàn bầu khí quyển bên ngoài và lúc bấy giờ những gì trong trái đất này đều bị bốc cháy bởi không chịu được ánh sáng mặt trời, sức nóng mặt trời. Điều đó làm chúng ta liên tưởng đến một hiện tượng trong Kinh nói đến là trái đất sẽ bị tiêu diệt vì lửa. Nhưng đó là một câu chuyện khác, câu chuyện quan trọng là con người vốn vì sự suy tư của mình. Có ít nhiều  từ thưở hồng hoang, khi địa cầu mới được hình thành. Chúng ta đã nói đến sự bắt đầu rất nghèo nàn, nghèo nàn đến nổi như một câu chuyện cổ tích và khi chúng ta hiểu rằng trái đất đã hiện hữu rồi, mặt đất này đã hiện hữu, nó sẽ mãi mãi như vậy. Con người có sanh ra có già có bệnh và chết đi, nhưng trái đất này, nhưng mặt đất này không bao giờ thay đổi. Trong thành ngữ Trung Hoa người ta nói bốn chữ Thiên trường Địa cửu. Khi nói đến thiên trường địa cửu có nghĩa là không có gì thay đổi hết, khi nói đến thiên đến địa, nói đến trời, đến đất. Nhưng, những gì chúng ta biết về những thiên thể, những tinh cầu, những thái dương hệ qua các viễn vọng kính và ngay cả trong quan niệm vật lý sơ đẳng nhất, thì trái đất này cũng có tuổi thọ của nó. Như vậy chúng ta đã đi sang một chiều kích khác, chiều kích này rất quan trọng. Đó là, tự trong thân mình với những đơn vị cực vi như là những sát-na của danh pháp của sắc pháp, có sanh thì có diệt. Sanh-Diệt tiếp nối như một tiến trình của sự hiện hữu.
Chúng ta nói đến tuổi thọ của Thiên-Địa, của trái đất này, của thái dương hệ, đến một lúc nào đó sẽ bùng vỡ ra và tan biến vào trong thái không. Những thứ mà trước kia chúng ta nói đến thì dường như là lý thuyết, dường như là kinh điển, nhưng mà ngày nay chúng ta có thừa bằng chứng khoa học để đón nhận điều này.

Bây giờ chúng ta nói sang một chiều kích khác, cũng nói về sự vô thường, đó là ở chính thân tâm của chúng ta. Những hiểu biết của con người về DNA, những hiểu biết của con người về não bộ đã cho chúng ta biết có những thời gian tăng trưởng, có những thời gian lão hoá suy thoái và dần dà đi đến chỗ huỷ diệt. Khi chúng ta sanh ra đời, tự chúng ta đã là một sản phẩm mang thời gian tính. Con người như vậy, chủng loại như vậy, sống chừng đó tuổi thọ không thể quá được. Có những người sống một trăm năm, một trăm mười năm, một trăm hai mươi năm, rồi tất cả cũng phải chết. Cái khát vọng muôn thưở của nhân loại là có thêm dược đơn để trường sanh bất tử như chúng ta nghe nhiều từ ảnh hưởng của đạo Lão tại Trung Hoa hay là có những nhà Yoga , những nhà Yoga này của Ấn độ tập luyện chuyển luân xa đến mức độ những người này có thể chôn sâu trong lòng đất mà không cần thở dưỡng khí, không cần ăn uống thực phẩm vào vẫn sống được. Người ta nói đến những vị trường sanh bất tử. Nói để mà nói. Chưa có ai chứng minh được rằng, có những con người bằng xương bằng thịt đạt đến chỗ trường sanh bất tử. Bởi vì chúng ta nói trái đất còn có tuổi thọ của nó, thì nói gì đến con người nhỏ nhoi sống trong trái đất này. Nghĩ đến chuyện trường sanh bất tử, đó chỉ là một ảo mộng, chỉ là một cài gì đó mà chúng ta tạm tin để mà mơ ước. Trên thực tế đó là điều bất khả.

Cũng trong bài nói chuyện về hiện tượng vô thường, Hopskin còn có một bằng chứng khác từ thưở xa xưa nền văn minh của Hy Lạp cũng sản sinh ra những bậc hiền triết  và những người này đều đồng ý rằng cuộc sống không đứng yên một chỗ, như một sòng suối chảy như một dòng sông lững lờ đi qua mắt chúng ta. Thấy con sông đó thấy dòng suối đó, nhưng thật sự nó là một lưu lộ bất tận không ngừng nghỉ. Khi nghĩ về một dòng sông nghĩ về một dòng suối thì điều đó giống như cuộc sống của mỗi chúng ta ở tại đây và của cả thế giới này. Nó vốn không đứng lại và nó vốn không có khả năng giữ cái nguyên trạng của nó, mãi mãi như vậy. Bài học đó thật sự rất quan trọng. Quan trọng hơn bất cứ bài học nào khác. Bởi vì chúng ta có một chút ngưỡng cầu, mơ ước một cuộc sống an lập, an cư mới lạc nghiệp, chúng ta mơ ước cuộc sống không có xáo trộn không có đổi dời. Cho dù đôi khi con người cũng muốn có thay đổi nhưng hầu hết chúng ta mong rằng tình yêu sẽ mãi mãi như vậy, sức khoẻ sẽ mãi mãi như vậy, cuộc sống chung quanh sẽ mãi mãi tốt đẹp như vậy. Chúng ta sợ cái đau lòng, chúng ta sợ cái bất trắc, chúng ta sợ cái đổi thay và chúng ta run rẩy trước tử thần. Nhưng không phải những điều đó khiến cho chúng ta tránh được những thứ đó. Tất cả chúng ta, hoặc sớm hoặc muộn hoặc cách này hoặc cách kia rồi cũng phải đi qua nhịp cầu sanh-tử, rồi cũng phải đi qua và đối diện với những gì chúng ta không vừa lòng.

Phật xưa rằng kiếp nhân sinh
Lắm điều khổ luỵ chẳng dành riêng ai
Xuân xanh rồi cũng tàn phai
Thời hoa mộng tựa sương mai đầu cành
Tấm thân tứ đại hợp thành
Ốm đau tật bệnh thường tình xưa nay
Dù cho thọ mạng ngắn dài
Cổ kim nào kẻ thoát tay tử thần
Người thân ly biệt người thân
Trong tâm sao đặng khó ngăn lệ nhoà
Mỗi người riêng nghiệp của ta
Rừng mê biển khổ phải qua một mình
Tử sinh là kiếp tử sinh
Trầm luân khởi tự vô minh khởi nguồn

Đó là những lời được tụng trong kinh Năm Pháp Quán cho chúng ta cái nhìn là cuộc sống vốn biến dịch và do biến dịch nên nó tạo ra vô số hiện tượng. Chúng ta đã nói vô thường là sự thay đổi, là cái gì không đứng yên một chỗ và đặc biệt ông Hospkin trong bài nói chuyện lại đề cập đến một quan niệm của người Trung Hoa, mặc dầu từ đầu chí cuối ông không nhắc đến đạo Phật, nhưng bài viết của ông đặc biệt có một cái gì chứa đầy những giá trị Phật Pháp. Ông nhắc đến một tác phẩm của người Trung Hoa không phải của đạo Phật, đó là Kinh dịch. Chữ dịch có nghĩa là biến, chữ biến ở đây ví dụ như chúng ta nói thái cực, rồi ngũ quy rồi tứ tượng rồi bát quái rồi 64quẻ chẳng hạn. Từ Âm-Dương tạo ra những hào những quẻ khác nhau và do sự kết hợp chúng ta có 64 quẻ như vậy. Giống như trong computer chúng ta chỉ có on-off, chỉ có Zero và Một, vậy mà nó có thể biến hiện muôn ngàn thứ khác nhau, những thứ vô cùng kỳ diệu. Cái mà chúng ta gọi là bits như là chúng tôi đang nói chuyện với quý vị trước máy đây, tất cả được diễn tả bởi những cái bits như vậy, mà thực sự nó chỉ có hai số thôi, số 0 và số 1. Nó giống như trong Kinh dịch chúng ta nói âm và dương. Nhưng khi âm và dương này đi chung với nhau, nó tạo thành những quẻ, tạo thành những cái quái, tạo thành những cái hào, thượng- hạ chẳng hạn, nó biến hiện ra nhiều dạng thức và những dạng thức này vốn là những chồng chất kết cấu của nhiều thứ trước khi chúng ta nói âm dương bát quái. Tương tự như vậy. Có một thí dụ rõ ràng là cuộc sống không đứng yên một chỗ tại vì cái này nó ra cái kia, cái kia nó ra cái nọ. Điều đó nó đưa chúng ta đi về một cõi xa xăm mà chúng ta không biết tới. Cũng như các nhà khoa học nói về DNA,.họ nói về các nhiễm thể và khi một người nam một người nữ  kết hợp với nhau thì nhiễm thể X nhiễm thể Y. Nó chỉ có hai thứ nhiễm thể mà nó tạo ra bao nhiêu con người, người ta phải phân ra bao nhiêu thế hệ để tìm về manh mối nào đó từ thời xa xưa. Thế giới này là vậy.

Trong kinh Phật có nói đến một thứ, mà chúng ta biết rằng một từ ngữ rất khó gọi là Sankhara. Sankhara là gì? Sankhara là sự kết cấu hay sự tập  thành của nhiều nhân nhiều duyên. Trong Anh ngữ người ta thường dùng là concoction giống như kinh dịch gíông như chúng ta hiểu biết về khoa học. Những hiện tượng vật lý, tâm lý  đều là một kết hợp của nhiều thứ và do sự kết hợp này tạo ra nhiều dạng thức. Những gì chúng ta cười những gì chúng ta khóc, những gì chúng ta vui, chúng ta buồn, xem ra cũng chỉ là một sự kết cấu và cái phản ứng đối với những hiện tượng đó. Đời sống có nhiều khi cho chúng ta những cái thật sự bất ngờ, một trong những cái bất ngờ mà chúng ta thấy là cuộc sống không đứng yên một chỗ như chúng ta nghĩ và nó luôn luôn như dòng suối như dòng sông. Người Trung Hoa gọi là dịch tức là biến. Tại sao nó biến là vì cái này nó kết hợp với cái kia nó sanh ra cái nọ. Âm-Dương chúng ta thấy rằng nó thoạt mang ý nghĩa rất đơn giản nhưng rồi nó không nằm yên một chỗ. Trong Kinh Phật nói rất nhiều về những hiện tượng tồn tại của thế giới này. Những hiện tựơng nhìn bên ngoài, nói chung về phương diện văn học nghệ thuật, chúng ta cảm nhận khác. Nếu như chúng ta nhìn như cái nhìn của A-tỳ-đàm, của Vi-diệu-pháp thì chúng ta sẽ thấy một cái gì khác.
Trong loạt bài nói chuyện “Năm cái nhìn về vô thường” này. Bài đầu tiên chúng tôi gửi đến cho quý vị nghe một bài thơ về Bến My Lăng. Ở đó cho chúng ta một cảm nhận về vô thường qua cái nhìn của văn học, nhưng ngày hôm nay khi nói đến sự vô thường qua cái nhìn của khoa học, chúng ta một lần nữa thấy được rằng có rất nhiều góc cạnh để chúng ta quán chiếu về một lẽ thật và lẽ thật này dẫn chúng ta về đâu. Đó là câu chuyện của ngày mai. Ngày mai chúng ta nói về vô thường và thiền quán. Khi mà chúng ta đã đồng ý với nhau được là vạn vật không đứng yên một chỗ, mọi thứ đều biến dịch, mọi thứ đều thay đổi, nhưng sự thay đổi đó đưa chúng ta về đâu?

Một lần nữa xin được xin lỗi quý Ngài và quý vị, chúng tôi bị một chút trục trặc về kỹ thuật nên không phát thanh được bài nói chuyện của ông Hopskin về Những ghi nhận của khao học ngày hôm nay đối với vô thường . Chúng tôi cố gắng mang trong trí nhớ của mình để gửi đến những ý chính trong bài học này, về bài nói chuyện này. Chúng tôi mong rằng quý vị sẽ có dịp để có thể đọc lại hoặc nghe lại bài nói chuyện này và qua đó chúng ta thấy được con người càng phát minh, càng hiểu về thế giới này. Khi chúng ta những Phật tử có được những thông tin đó, chúng ta cũng chợt nhận ra rằng, “ những điều đó không xa lạ gì với chúng ta hết”. Ví dụ như Đức Phật có một lần nói với chư Tỳ kheo, “ Này các con, đã có thời đại dương là núi cao có thời núi cao là đại dương” Quý vị thấy Hy-Mã-lạp Sơn này có thời là biển bây giờ là núi cao chập chùng . Thật ra những lời dạy đó quá lớn, quá nhiều vượt ngoài trí hiểu của một người bình thường thời Đức Phật còn tại thế. Đối với chúng ta ngày hôm nay, như rặng Rocky Mountain, như ở Denver (hiện nay là vùng núi Hoa Kỳ) chúng ta tìm thấy được những vỏ sò, những hoá thạch cho chúng ta biết rằng nhiều triệu năm về trước vùng đất này là biển cả. Hy-Mã-Lạp-Sơn cũng vậy, thỉnh thoảng người ta tìm được rất nhiều hoá thạch, những hoá thạch này cho chúng ta biết rằng, bao nhiêu triệu năm về trước những nơi này là lòng biển, là đáy của đaị dương. Đức Phật không nói lời huyền hoặc, không nói đi xa sự thật, nhưng thật ra có những điều không phải dễ cho một người ở một thời nào đó để lãnh hội để đón nhận. May mắn và sung sướng cho chúng ta, ngày nay trong kho tàng kiến thức của nhân loại đã có những sự hiểu biết vượt bậc về những hiện tượng của thế giới này và càng hiểu về chuyện đó chúng ta càng ghi nhận trước những lời dạy của Đức Phật liên quan đến lẽ thật của đời sống.
 

 

Vô Thường qua cái nhìn thuần túy Phật Pháp
 

Namo Buddhaya, chúng con kính đảnh lễ Sư Trưởng, kính đảnh lễ TT Tuệ Siêu cùng Chư Tôn Đức Tăng đang có mặt trong room. Thân chào tất cả Quý Phật tử.

Tiếp theo loạt bài đặc biệt trong tuần này, chúng ta nói về sự vô thường. Sau khi nói về sự vô thường qua cái nhìn của văn học nghệ thuật, sự vô thường qua cái nhìn của sự giáo dục, sự vô thường qua cái nhìn của khoa học. Hôm nay chúng ta nhìn vô thường qua một khía cạnh rất thuần tuý Phật Pháp, riêng về bài học hôm nay và bài học ngày mai, tức là hai bài học sau cùng, chúng tôi đặc biệt mượn hai thời pháp của hai vị danh Tăng để chúng ta cùng nghe và cùng thảo luận. Thưa quý vị, vô thường không phải là một lý thuyết, vô thường không phải là một giáo thuyết, vô thường chính thật ra là một thực tế của đời sống, một bản chất của đời sống. Thực tế này đặc biệt quan trọng và có ảnh hưởng lớn đến tuệ giác với khả năng đoạn trừ phiền não. Đạo Phật không chỉ nói đến con đường, nhiều tôn giáo và nhiều bộ môn triết học đặc biệt là của Trung Hoa thường nói đến đạo. Đạo nghĩa là có một con đường, một lẽ sống dẫn con người đi đến chỗ vĩnh hằng. Khi đạo Phật nói đến chữ đạo thì lại mang ý nghĩa khác và khi nói đến chân lý thì đó là những sự thật và nhiều khi những sự thật này làm cho chúng ta rất ngạc nhiên. Ngạc nhiên bởi vì sự thật đó là những gì hiển nhiên trước mắt và ngạc nhiên bởi vì tại sao những sự thật đó có ảnh hưởng lớn đến chúng ta như vậy.

Trong bài nói chuyện hôm nay về một khía cạnh khác của vô thường, chúng tôi mời quý vị nghe một bài của Ngài Bodhi, một vị Tăng sĩ người  Hoa-Kỳ, một vị Tiến sĩ Phật học và là người đặt trọng tâm rất nhiều vào việc giới thiệu Phật Pháp cho những người không phải là Phật tử. Những gì được nói trong bài Pháp này làm ngạc nhiên cả những người Phật tử rất lâu năm, như là mỗi chúng ta. Bài nói chuyện này được trình bày bằng Anh ngữ, do vậy ngày hôm nay chúng ta sẽ mất ít thời giờ và chúng tôi sẽ chuyển ngữ trực tiếp lại bài nói chuyện này. Chúng tôi xin quý Ngài và quý vị hoan hỷ là chúng ta hơi bị mất thì giờ một chút, nhưng lâu lâu nghe một bài Pháp từ một vị Pháp sư không phải trong room của chúng ta, kể ra cũng là một sự thay đổi không khí. Xin mời quý Ngài và quý vị nghe bài nói chuyện này, về hiện tượng thiên nhiên và hành giả tu tập của Tỳ kheo Bodhi.

Mở đầu cho Pháp thoại này, Ngài Bodhi có nói lên  lời đảnh lễ Tam Bảo, đảnh lễ Đức phật là bậc Ứng Cúng , Thế Tôn, Chánh Biến Tri. Tiếp theo Ngài mở đầu với một đoạn Phật ngôn, một lần Đức Thế Tôn có một thời pháp thoại thường lệ cho các vị Tỳ kheo, Ngài đã hỏi rằng, “ Này các Tỳ kheo, nếu những du sĩ ngoại đạo hỏi các con, cái gì là mục đích cái gì là cứu cánh của đời sống phạm hạnh mà ở trong pháp và luật của Như Lai, thì các con trả lời như thế nào?” Chư Tỳ kheo đều im lặng và Đức Thế Tôn, Ngài đã cho câu trả lời, “Đó là sự hiểu biết, giác ngộ, nhận thức những gì cần được giác ngộ cần được hiểu biết cần được lãnh hội. Và cái gì cần được hiểu biết, cần được giác ngộ? Đó là năm uẩn, sắc uẩn- thọ uẩn- tưởng uẩn- hành uẩn- thức uẩn. Sự hiểu biết hay là giác ngộ về thực chất của các Pháp, ở đây được hiểu là sự giác ngộ các pháp hữu vi, bản chất của năm uẩn: sắc-thọ-tưởng-hành- thức được xem là con đường dẫn đến cứu cánh giác ngộ giải thoát. Sự hiểu biết ở đây không phải là sự hiểu biết của kiến văn hay là sự thu thập các dữ kiện các tin tức hay là những lời giới thiệu. Đây là sự lãnh ngộ dựa trên kinh nghiệm thực nghiệm thực chứng của mỗi cá nhân. Và điểm này là điểm rất quan trọng khi chúng ta nói đến sự lãnh hội thực tướng của đời sống. Chính sự hiểu biết lãnh hội giác ngộ chân tướng của các Pháp khiến cho chúng ta cởi bỏ được những sợi dây trói buộc mà thường được gọi là Thằn thúc kiết sử. Khi các kiết sử thằn thúc được tháo bỏ sẽ dẫn đến giải thoát viên mãn hoàn toàn. Và đây là con đường Đức Thế Tôn đưa ra cho tất cả chúng ta, truyền đạt cho tất cả chúng ta. Sự hiểu biết đó cũng trong Phật ngôn được trưng dẫn đầu tiên, Đức Thế Tôn đã nói rõ là hiểu biết điều gì. Ngài nói chính là sự hiểu biết rõ chân tướng của sắc- của thọ- của tưởng- của hành- của thức.

Khả năng chứng nghiệm hay là kinh nghiệm hay là sự nhận thức, nó vốn là một phần của đời sống và đó là điều mà chúng ta cần phải hiểu biết và hiểu biết rõ về kinh nghiệm của chính mình. Thế nhưng, chúng ta ít khi dùng kinh nghiệm hay sụ nhận thức của mình cho mục đích giác ngộ chân tướng của các Pháp mà trái lại chúng ta dùng khả năng đó cho sự hưởng thụ các cảnh của các giác quan như là cái gì mình thấy cái gì mình nghe, ngửi nếm đụng. Suy nghĩ  biết nhận thức hay là kinh nghiệm vốn dĩ là cái gì có trong mỗi người. Nhưng chúng ta không dùng khả năng đó cho sự giác ngộ mà chỉ đơn thuần để hưởng thụ các dục lạc và ở tại đây Đức Phật dạy rằng chính những kinh nghiệm đó cũng cần được hướng dẫn cần được quán chiếu để có thể mở toang cánh cửa của giác ngộ.

Hành trình dẫn đến cứu cánh, Đức Phật đã truyền dạy cho chúng ta một phương tiện để soi sáng từng bước đi của mình, phương tiện đó là Dhamma hay là  Pháp, nói chung là lời dạy của Đức Phật. Chính Pháp hướng dẫn chúng ta làm hai việc rất ư là quan trọng:
1/ Có một cái nhìn toàn diện về thế nào là sự hiện hữu của mỗi chúng ta ở trên cuộc đời này. Một hành giả phải nhận chân được thế nào là thân thế nào là tâm, sắc- thọ- tưởng- hành- thức là một tổng hợp của tất cả mọi thành phần, chúng ta gọi là sự hiện hữu của đời sống.
2/ Sau khi chúng ta có được một sự ghi nhận toàn diện về sự hiện hữu của đời sống này, chúng ta phải nhìn thấy được hiện tướng của sự hiện hữu này. Sanh như thế nào, diệt như thế nào, tồn tại như thế nào. Chính thấy sự hiện tướng của các Pháp dẫn chúng ta đến chỗ lãnh ngộ chân thực là cái gì là thực tướng của đời sống.

 

Nói về khả năng nhận thức thực tướng của đời sống như thật của các Pháp. Điều đầu tiên đòi hỏi là một cái nhìn phân tích. Cái nhìn phân tích đó là khả năng chia chẻ những thành tố của cái gọi là Tôi của cái gọi là Ta. Cái Tôi cái Ta là một kết hợp. Sự kết hợp của sắc- của thọ- của tưởng- của hành- của thức. Ngoài những thành tố này chúng ta không có cái gì khác ngoài những thứ đó.  Ngoài những thành tố này, những gì gọi là những bộ phận để kết cấu thành con người của chúng ta phải được hiểu biết, hiểu biết một cách chân thực là những thành tố đó có bản chất như thế nào. Có những thứ khi chúng ta nhìn bên ngoài, dường như không có liên hệ gì với chính mình hết. Trên thực tế một khi một người có khả năng để quán chiếu, thấy được sự kết cấu của những thành phần trong đời sống đây là sắc- thọ- tưởng- hành- thức. Chính ở tại đó chúng ta nhận thức được cái gì là bản chất cái gì là nguyên nhân của sự đau khổ. Ở đây bây giờ chúng ta nói đến cái Pañña rất là cần thiết, đó là tại sao chúng ta cần hiểu rõ năm uẩn để thấy rõ được thế nào là khổ, thế nào là nguyên nhân sanh khổ. Nói một cách khác là tại sao hiểu rõ thực tướng  của đời sống lại quan trong trong hành trình giác ngộ giải thoát khổ đau của mỗi chúng ta như vậy.

Một trong những khía cạnh rất nổi bật của Đạo Phật là với một hành giả tu tập cần phân tích rõ về hiện tượng của các pháp. Khả năng phân tích ở đây không phải là để đào bới hay thu thập dữ kiện như những nhà khoa học mà chính sự phân tích này là khả năng duyên khởi làm cho chúng ta xoá được ảo giác về cái gọi là Tôi là Ta. Sự phân tích này đến từ khả năng lãnh hội những thành tố của cái gọi là con người. Nhựng thành tố đó trong kinh điển gọi là Khandha, tiếng Việt dịch là uẩn hay là ấm. Khandha hay là uẩn có nghĩa là gì? Đó là sự tập hợp hay là một nhóm. Một nhóm này được xem như là những thành phần có chung một bản chất, có chung một hiện tướng và chính vì vậy những thứ này được gom lại thành một nhóm hay là một Khandha. Khandha chúng ta gọi là uẩn như là sắc uẩn - thọ uẩn - tưởng uẩn – hành uẩn - thức uẩn. Năm uẩn này là một sự thống kê toàn diện về cái gọi là sự hiện hữu của chúng ta. Nói một cách khác ngoài năm uẩn này không có một cái gì khác và bất cứ hiện tướng nào về tâm sinh lý đếu nằm ở trong năm uẩn này. Đó là điều hành giả phải nhận thức, phải biết tính toàn diện của năm uẩn. Chúng ta cũng phải nhấn mạnh rằng không có kinh nghiệm hay sự hiện hữu nào của một thành tố nào của cuộc sống mà nằm ngoài năm uẩn. Tất cả gói trọn trong năm uẩn. Năm uẩn bao gồm tất cả sự hiện hữu của chúng ta.

Điểm đầu tiên chúng ta nói đến ở tại đây là sắc uẩn. Chữ sắc hay Rupa ở đây bao gồm tất cả những hiện tượng về vật chất. Sắc uẩn được chia làm hai là sắc tứ đại và sắc y sinh. Sắc tứ đại ở đây Đức Phật Ngài dùng chữ tương đối quen thuộc trong truyền thống tín ngưỡng cũng như văn học của Ấn-Độ, đó là Đất - Nước- Lửa- Gió mà chúng ta thừơng nói Địa đại- Thuỷ đại- Hoả đại- Phong đại. Nhưng những chữ Đất- Nước- Lửa- Gió không nên được hiểu theo nghĩa đen. Đất là đất, Nướclà nước, Lửa là lửa, Gió là gió mà Đất- Nước- Lửa- Gió ở đây là chữ tạm dùng để nói lên tính chất hay tính cách là một hiện tướng của hiện tượng  vật lý mà chúng ta sẽ nói đến sau. Do đó khi nói đến Đất- Nước- Lửa- Gió là sắc tứ đại không thể hiểu như cách hiểu bình thường của chúng ta.

Chúng ta hãy có một định nghĩa về Địa đại- Thuỷ đại- Hoả đại- Phong đại hay Đất- Nước- Lửa– Gió ở đây được hiểu như thế nào. Đất được hiểu như là những thứ có hiện tượng chiếm dụng một khoảng không gian hay chúng ta nói một cách khác là những gì cứng và mềm và chúng ta có thể nhận biết qua cảm xúc của mình. Nhưng chính Đất là một sự chiếm ngự không gian tạo nên một diện tích nhất định về sự hiện hữu từ một vật cực vi như một viên gạch cho đến những thể lớn chúng ta gọi là đất. Nước tức là cái khả năng hay một tính chất kết hợp những đơn vị bất chất lại với nhau để cho nó dính với nhau, liền với nhau, chúng ta gọi là hiện tượng về nước. Nói về Lửa, là nhiệt lượng của vật chất, nhiệt lượng ở đây là cái gì rất cố định cho dù một đơn vị vật chất rất nhỏ hay đơn vị vật chất lớn đều hấp thu nhiệt lượng. Gió là thành tố của sự di động của những hiện tượng vật chất. Chúng ta tạm hiểu như vậy. Bốn hiện tượng vật chất này tồn tại trong tất cả những gì thuộc về vật chất dù nó là thể rắn, hay thể loãng thể khí tất cả đều có hiện tượng vật chất này. Một hạt bụi trong không khí hay một hòn núi lớn. tất cả đều có Đất-Nước-Lửa-Gió kể cả trong thể loãng như nước của đại dương cũng có bốn hiện tượng là Đất- Nước- Lửa- Gió.

Trong cái nhìn của Thiền quán, chúng ta có thể tạm mượn khái niệm Đất là một thể rắn chiếm ngự không gian nào đó, thể loãng của nước, nhiệt lượng,  rồi sự di động vận hành. Đất- Nước- Lửa- Gió để có thể nhìn thấy thân thể của chúng ta, nhưng đây là một khái niệm khác, xử dụng đến khái niệm của tứ đại để hiểu biết về kết cấu của cái gọi là cơ thể của mỗi người. Khi nói đến vật chất, khi chúng ta nói đến tứ đại Đất-Nước- Lửa- Gió như là những thành tố căn bản của vất chất. Bây giờ chúng ta nói đến một phương diện khác chúng ta gọi là sắc y sinh. Sắc y sinh có nghĩa là từ tứ đại mà ra. Sắc y sinh là những loại sắc được kể đến là hiện tượng vật chất nhưng có nhiều khía cạnh khác nhau. Trong đó có thể nói rằng năm loại sắc quan trọng  nhất chúng ta gọi là sắc thần kinh hay các giác quan tức là nhãn- nhĩ- tỷ- thiệt- thân tức là thần kinh nhãn -thần kinh nhĩ- thần kinh tỷ- thần kinh thiệt- thần kinh thân. Đó là những giác quan giúp chúng ta nhận sắc và sau đó là sắc cảnh giới tứclà những đối tượngcủa các giác quan. Trong đó có cái gì mình thấy, cái gí mình nghe, cái gì mình ngửi, cái gì mình nếm, cái gì mình cảm giác, sắc- thinh- khí- vị- xúc. Nhưng đại loại chúng ta nên hiểu rằng khi nói đến tứ đại được hiểu như là một thống kê toàn diện về những hiện tượng vật chất. Sắc y sinh là những sắc biến hiện của sắc tứ đại mà ra. Trong đó có thể phải nói rằng quan trọng nhất mà chúng ta phải biết những gì liên quan đến đời sống của mình tức là năm sắc thần kinh hay là năm giác quan nhãn- nhĩ- tỷ- thiệt- thân. Năm giác quan này cho chúng ta khả năng thấy- nghe- ngửi- nếm- đụng.

Khi chúng ta nói đến sắc, chúng ta nói đến sắc pháp, nói đến hiện tựơng vật chất thì rõ ràng vật chất là một kết cấu của nhiều yếu tố. Chúng ta nói đến cảnh khác là tâm mà ta gọi là danh pháp. Danh pháp cũng là sự kết cấu của nhiều yếu tố. Ở đây danh pháp được kết cấu bằng bốn danh uẩn, đó là thọ- tưởng- hành- thức.

Bài Pháp của Ngài Bodhi tương đối dài, qua đó Ngài cố gắng trình bày về năm uẩn sắc –thọ- tưởng- hành- thức và  tại sao nhận thức năm uẩn, thực tướng của năm uẩn và sự vô thường của năm uẩn dẫn đến giác ngộ giải thoát. Bài Pháp hơi dài, chúng ta không có nhiều thì giờ để dịch hết cả năm uẩn. Do đó xin được hỏi ý kiến của Chư Tôn Đức và Quý Phật tử muôn dịch hết bài học này hay ngưng tại đây dành thời gian thảo luận.

TT Tuệ Siêu:
Trong đoạn đầu chúng ta đã được nghe về lời dạy của Đức Phật, nhắn nhủ các vị Tỷ kheo cách trả lời khi có người hỏi về mục đích và con đường của đời sống phạm hạnh này. Đức Phật đã cho các vị Tỷ kheo biết đại ý là, “Ở đây trong giáo pháp Đức Phật Ngài đã dạy về ngũ uẩn, sắc- thọ- tưởng- hành- thức, và làm như thế nào để nhận được chân tướng bản chất của sắc- thọ- tưởng- hành- thức. Đó là mục đích và khi có sự hiểu biết về chân tướng bản thể của sắc- thọ- tưởng- hành- thức. Thấy sự vô thường biến hoại trong các pháp hữu vi, điều này sẽ làm cho một vị Tỳ kheo có sự nhàm chán ly tham và cắt đứt mọi kiết sử thằn thúc để rồi thoát ly khỏi sự luân hồi sanh tử. Đây chính là đạo lộ đưa đến mục đích cứu cánh của đời sống phạm hạnh. Có một câu Phật ngôn trong Pháp cú kinh Đức Phật có dạy,

Sabbe sa'nkhaaraa aniccaa-ti
yadaa paññaaya passati
Atha nibbindati dukkhe
esa maggo visuddhiyaa.

Chư hành là vô thường
Với trí tuệ thấy rõ
Sẽ nhàm chán trong khổ
Đó là đạo thanh tịnh
 
Đạo thanh tịnh ở đây tức là con đường dẫn đến Niết-bàn. Niết-bàn là một sự thanh tịnh tuyệt đối. Thanh tịnh về cái gì? Niết-bàn thanh tịnh mọi phiền não, Niết-bàn thanh tịnh sự tái sanh luân hồi và ở đây khi mà một người hành trình trên đạo lộ dẫn đến Niết-bàn, đạo lộ dẫn đến sự thanh tịnh này, phải là người thật sự nhàm chán trong sự khổ luân hồi.
Như Đức Phật Ngài có dạy trong một câu kinh Pháp cú câu số 75 khi đề cập đến vị sa-di Tissa. Vị sa-di này mặc dù còn trẻ tuổi nhưng vị đó đã sớm ý thức được rằng, “ Nếu đời sống tu tập xuất gia còn vướng bận nhiều với sự thăm viếng của thân bằng quyến thuộc và sự vướng bận với những lợi lộc, lợi đắc, cung  kính phát sanh lên sẽ làm cho trở ngại. Cho nên vị sa-di này đã quyết tâm rời bỏ hội chúng, đi ẩn cư trong rừng. Sau một thời gian, vị sa-di đó đã thành tựu quả vị A-la-hán. Trường hợp này Đức Phật Ngài cũng dạy rằng, “Đối với một vị tỳ kheo khi thấy rõ niết-bàn là khác, thấy lợi lạc là khác. Sau khi thấy rõ như vậy bậc trí sẽ chọn con đường đạt đến Niết- bàn, đạt đến sự tịch tịnh. Và ở đây chỉ khi nào chúng at thật sự nhàm chán trong sự khổ thì lúc đó chúng ta mới có thể hành trình được đạo lộ giải thoát và ở đây, nhàm chán trong sự khổ này có ba ý nghĩa:
1/ Sự nhàm chán với cuộc sống phải bị bận rộn, phải bị chi phối với hội chúng, phải bị chi phối với danh lợi và danh lợi đó nó cũng vô thường, nó làm cho chúng sanh bị thất vọng tuyệt vọng. Khi danh lợi có thì chúng sanh tham cầu nhưng khi danh lợi mất thì chúng sanh khổ đau. Đó là sự khổ mà bậc trí cần phải nhìn thấy.
2/ Sự nhàm chán về cái khổ khi có thân ngũ uẩn này, có thân tứ đại này phải luôn luôn chịu sự chi phối phải già bệnh và chết không có lúc nào yên ổn và mạng sống này hằng bị đe doạ, có lúc thì khoẻ có lúc thì bệnh. Khi thời tuổi trẻ trôi qua, hết thời trung niên, đến thời lão niên, rồi đi đến cái chết. Trải qua thời gian khi thân xác bị già cổi, bị già nua kéo theo sự bệnh tật, bậc trí cần nhàm chán sự khổ đau đó.
3/ Khía cạnh thứ ba là nhàm chán trong sự khổ đau luân hồi. Bởi vì cuộc đời này giống nh