NGƯỜI XUẤT GIA VỚI
ĐẠO HIẾU
-Thích Nhật Hiếu-
---o0o---
Một
mùa Vu Lan báo hiếu nữa lại trở về, gợi nhắc cho chúng ta gương hiếu hạnh
của Tôn giả Đại Mục Liên cứu mẹ; nhất là hình ảnh của đức Phật Bổn Sư đã
báo hiếu cho song thân như lên cung trời Đao Lợi thuyết pháp cho thân mẫu,
ân cần chăm sóc và thuyết cho phụ vương đang lâm trọng bệnh về pháp lạc
của thánh quả Dự lưu,… Kể từ ấy, đạo Phật đã đi vào lòng người, và thật sự
trở thành Đạo hiếu hạnh nhân luân; đạo lý ấy phát xuất từ nghi biểu bậc
thầy của trời người, một con người sống đời dung dị, nhưng tâm hồn thanh
cao và nghị lực siêu việt, trở thành những mẫu người giáo dục cho thế nhân
ở nhiều góc độ khác nhau; như thi sĩ dân gian nào đó từng ca ngợi:
“Chơn như đạo
Phật rất mầu,
Tâm trung chữ
hiếu, niệm đầu chữ nhân,
Hiếu là độ được
song thân,
Nhân là cứu vớt
trầm luân muôn loài”.
“… Trên thời hiếu
báo sinh thành,
Dưới thời nhân
cứu chúng sinh Ta Bà”.
(Thơ nhân gian: Nam
Hải Quan Âm)
Thật vậy, cũng là
một con người bằng xương bằng thịt, không phải dưới đất chui lên hay trên
trời rơi xuống, mà là một con người cũng có cha mẹ, có một cuộc sống rất
đổi thông thường như bao con người khác, nhưng có khác chăng cũng chỉ:
“Phàm đã là người
xuất gia, đặt chân lên phương trời cao rộng, tâm hình khác tục, nuôi lớn
dòng thánh, chấn nhiếp ma quân, báo đáp bốn ân, giúp cùng ba cõi”.
(Văn Cảnh sách).
Cha mẹ là người đã
cưu mang và trưởng dưỡng chúng ta nên vóc nên hình, nên con người trưởng
thành, cất bước vững vàng và hòa nhập vào cuộc đời như ngày nay; nhất là
với những người được mệnh danh là trưởng tử Như Lai, là bậc xuất trần
thượng sĩ, với sứ mạng “Tác Như Lai sứ và hành Như Lai sự”, hòan
thiện nhân luân và viên mãn siêu thoát, thì không thể bỏ qua đạo lý cơ bản
này. Ngay cả, công đức cao vời của đức Phật Thế Tôn, cũng có phần đóng góp
không nhỏ của đấng dưỡng dục sinh thành.
“Thế Tôn chủ ba
cõi,
Đại Hiếu Thích Ca
Văn,
Nhiều kiếp báo
thâm ân,
Thế nay thành
Chánh giác.”
(Thế Tôn tam giới
chủ,
Đại Hiếu Thích Ca
Văn,
Trần kiếp báo thâm
ân,
Tích niên thành
Chánh giác.)
Việc tri ân và báo
hiếu luôn là một đạo lý quan trọng đối với mọi tín đồ Phật tử. Đạo lý ấy
không chỉ là một khúc tấu của bản trường ca thông thường trong dàn nhạc
giao hưởng, được trổi lên trong những buổi hòa nhạc trang trọng, nhưng khi
kết thúc là chỉ đọng lại trong lòng mọi thính giả một kí ức mơ hồ man mác;
mà nó chính là bản nhạc được tấu lên bằng những chuỗi âm thanh hòa quyện
êm đềm du dương từ dòng máu theo nhịp tim của mẹ như dòng suối réo rắt
chảy vào trong con, và những lời hát nỉ non hòa với tiếng kẽo kẹt võng đưa
và xen lẫn tiếng xạc xào gió lướt từ quạt mo trên tay cha hiền ru con giữa
trưa hè oi ả. Bản tình ca ấy mãi đệm theo bước chân con đi trên khắp nẻo
đường nhân thế. Bản tình ca ấy cho con sự hiểu biết nơi cha và thương yêu
nơi mẹ, cho con sức sống vượt chông gai gian khó để hướng đến thành công,
cho con niềm tin yêu đối với cuộc sống, dù gì vẫn vui vẻ khi đời đã ban
tặng cho mình những cái tốt đẹp hay đưa đến những điều xấu xa, dù được hay
mất, dù buồn hay vui,… và dù gì đi nữa, con vẫn phải thành người. Cha mẹ
cho con đầy đủ nghị lực ý chí sống: thất bại không thối chí, thành công
không ngã lòng. Bởi, công cha và nghĩa mẹ đã đổ ra quá nhiều vì con:
“Nuôi con buôn
tảo bán tần
Chỉ mong con lớn
nên thân với đời
Những khi trái
nắng trở trời
Con đau là mẹ
đứng ngồi không yên
Trọn đời vất vả
triền miên
Chạy lo bát gạo
đồng tiền nuôi con”.
Và:
“Cha tôi tuy đã
già rồi
Nhưng còn làm
lụng để nuôi cả nhà
Sớm hôm vừa gáy
tiếng gà
Cha tôi đã dậy để
ra đi làm”.
Với tinh thần hiếu
đạo theo Phật giáo, tri ân và báo ân là một vấn đề cần phải lưu tâm. Đạo
làm con phải biết hiếu dưỡng đối với song thân, nhưng hiếu dưỡng thế nào
mới thật là chân chánh và thiết thực nhất để tốt đẹp cho cha mẹ cũng như
lợi ích mọi người xung quanh. Phật dạy có 2 cách báo hiếu là hiếu dưỡng và
hiếu đức. Hiếu dưỡng là phụng dưỡng và an ủi vỗ về cha mẹ; hiếu đức là
giúp cha mẹ tịnh tu giới đức và tác phước hành thiện.
Đức Phật cũng đã dạy
rất nhiều cho các thầy Tỳ kheo về việc hiếu dưỡng đối với đấng sinh thành
của mình. Tuy người xuất gia sống không gia đình, tài sản, nhưng chừng mực
nào đó vẫn có thể phụng dưỡng cha mẹ già yếu, nếu cha mẹ không còn cháu
con để nương tựa:
“Các thầy nên sớm
hôm phụng dưỡng chăm sóc cơm nước và thuốc thang cho cha mẹ già yếu”.
(Luật tạng & Kinh tạng)
Đời cũng như Đạo,
xưa cũng như nay, lúc nào ở đâu, cũng có nhiều lời phê phán những đứa con
thất trách trong bổn phận đối với đấng sinh thành của mình về việc phụng
dưỡng cha mẹ trong lúc già yếu:
“Cha mẹ sống
chẳng cho ăn,
Chết lập đàn cỗ
làm văn tế ruồi”.
Hoặc:
“Cha mẹ nuôi con
biển hồ lai láng,
Con nuôi cha mẹ
tính tháng tính ngày”.
Với những hạng người
con này, cho dù họ có công thành, danh toại, có tiền tài và địa vị gì
trong xã hội vẫn bị người đời mai mỉa; họ không đáng cho đời trọng dụng.
Tình cha nghĩa mẹ là thứ tình cảm thiêng liêng, khơi nguồn cho mọi tình
cảm nhân thế khác, vì còn gì quí báu hơn tình cốt nhục thâm ân; thứ tình
cảm được nuôi nấng bằng dòng máu thắm và nắm ruột rứt ra, bằng cả tính
mạng của chính cha mẹ, bằng cả tâm huyết trao cho con mình, vỗ về ấp ủ khi
con ngủ, để mắt dõi theo khi con bước vào đời, con là những gì cao quí
nhất của cả cha lẫn mẹ, vắt cạn cả sức sống của thân già cho con cháu có
cuộc sống sung túc để xứng mặt với đời, mà không nghĩ đến bản thân mình
quê mùa dân dã. Nếu không phải tấm lòng cao cả của mẹ cha, thì ai có thể
chăm lo cho ta cuộc sống như vậy? Với những hạng người vong bản vô ơn, sẽ
bị người đời chê trách. Còn nữa, có những người con nhiều tiền lắm của,
nuôi cha mẹ với thái độ hững hờ theo kiểu thi ân, không hề có lòng chân
thành thương mến. Một thứ tình cảm thiêng liêng cao cả như vậy mà họ còn
đạp đổ, thử hỏi mối quan hệ giữa họ và ta có nghĩa lý gì; nếu có thì cũng
chỉ là thứ tình cảm man trá, dụng ý mưu mô. Mối quan hệ tình cảm huyết
thống thiêng liêng mà họ còn chà đạp, thì không còn một mối quan hệ tình
cảm xã hội nào họ thật lòng trân trọng.
Từ đó, chúng ta có
thể nhận chân được, hiếu đạo là những gì được phát xuất từ tấm lòng chân
thành của ta đối với đấng sinh thành của mình. Với khối óc hiểu biết và
con tim yêu thương như vậy sẽ mách bảo cho chúng ta biết phải làm gì để
báo đáp một phần nào ân sâu nghĩa nặng này. Tinh thần hiếu nghĩa này được
phát xuất từ tấm lòng chân tình rất mực tôn kính ngay trong mỗi người con.
Ngay trong những lúc cùng quẫn nhất, người ta vẫn thể hiện được hiếu đạo
của mình.
“Mẹ già ở túp lều
tranh,
Sớm thăm tối
viếng mới đành dạ con”.
“Đói lòng ăn đọt
chà là,
Để cơm nuôi mẹ,
mẹ già yếu răng”.
Vả lại, tinh thần
hiếu đạo này còn cảnh báo cho chúng ta biết về đạo lý nhân quả tương tác
tất yếu, nếu gieo thiện nhân thì gặt hái thiện quả, và ngược lại. Bài học
đạo lý gia phong này, mang tính đặc thù truyền thừa giữa các thế hệ ông
bà, cha mẹ và cháu con trong mỗi gia đình:
“Nếu mình hiếu
với mẹ cha
Chắc con cũng
hiếu với ta khác gì;
Nếu mình ăn ở vô
nghì
Đừng mong con
hiếu làm gì uổng công”.
Đức Phật khuyên, một
trong những điều hiếu đạo cao cả nhất cần phải lưu tâm, giúp cho cha mẹ
tránh xa con đường ác nghiệp, khả dĩ tạo ác nhân, để rồi lãnh lấy khổ đau
cho hiện tại và mai sau, là giúp cho cha mẹ có cuộc sống thanh cao bằng
qui hướng Tam bảo và tác phước hành thiện, để rồi gặt hái hạnh phúc và an
lạc trong hiện tại và mãi mãi về sau. Trong kinh Tăng chi bộ tập 1, tr.
75, đức Phật dạy về cách tri ân và báo ân cha mẹ như:
“Những ai đền ơn
bằng cách nuôi dưỡng, cúng dường cha mẹ với các của cải, vật chất, tiền
bạc thời không bao giờ đủ để trả ơn cha mẹ. Nhưng này các Tỳ kheo, ai đối
với cha mẹ không có lòng tin, khuyến khích, hướng dẫn, an trú vào thiện
giới; đối với cha mẹ xan tham, khuyến khích, hướng dẫn an trú vào bố thí;
đối với cha mẹ theo ác trí tuệ, khuyến khích an trú vào thiện trí tuệ. Cho
đến như vậy, này các Tỳ kheo, là làm đủ và trả đủ công ơn cho mẹ và cha”.
Hơn nữa, làm con
cũng phải thực hiện những kỳ vọng của cha mẹ đặt nơi con, nếu không đồng
nghĩa với đại nghịch bất hiếu. Đó là mong cho con được thành nhân, mong
cho con thành danh, mong cho con nên cơ nghiệp để mở mặt mở mày với người.
Vì những hoài bão và kỳ vọng này mà cha mẹ không quản nại khó khổ, không
ngại mình quê mùa, ra sức bươn chải nuôi con ăn học, dạy dỗ và khuyên lơn
cho con phải sống cho xứng đáng đạo làm người.
Mong con thành nhân,
sống cho có tư cách, có ích cho làng nước và xã hội. Chúng ta đã thấy,
biết bao người mẹ trở thành cô phụ trong thời chiến tranh hết chờ chồng
rồi lại trông con, mỏi mòn héo hon. Hình ảnh người mẹ đã khắc họa nên hòn
vọng phu, đã đi vào trang sử vàng cũng như lòng dân Việt. Người mẹ Việt
Nam, người phụ nữ quả cảm, dâng cả đứa con thân yêu, là kết tinh của xương
trắng máu đào của chính mình cho quê hương yên ổn và đất nước thái bình,
để không còn cảnh ngoại xâm giầy xéo quê hương; vẫn biết rằng đó là sự mất
mát to lớn, bao nhiêu người con yêu đã ra đi không bao giờ trở lại. Mẹ
mong sao con mình thành nhân, phải sống cho có nghĩa, cho dù phải đánh đổi
cái giá quá đắc cho đời mình. Theo Phật pháp đó là tinh thần Bồ tát đạo,
là vị tha không chút vị kỉ, là vì người không chút toan tính cho mình,
nâng tình thương yêu con đỏ lên ngang tầm tình yêu tổ quốc quê hương. Ôi,
tình mẹ quê hương đất nước quả thật cao vời!
Cũng vậy, tình cha
và nghĩa mẹ đã cưu mang tôi trong thời thơ ấu; ngày tôi đi xuất gia còn bé
lắm, cha mẹ nén nỗi đau phải xa con thơ mà nhìn nhau gượng cười, riêng tôi
ngấn lệ suy nghĩ mông lung, tình cha nghĩa mẹ và tình cảm anh chị em gia
đình đang chất chứa ngổn ngang trong lòng tôi. Tất cả với tôi như đang lưu
luyến và không nỡ chia ly, nếu không có sự động viên của cha mẹ thì tôi
khó bề rứt áo ra đi. Giờ này, suy nghĩ kĩ lại, cha mẹ nào lại không thương
con thơ, nếu không phải vì tình thương cao cả, vì sự hy sinh cho ý nghĩa
lớn lao thì cha mẹ tôi đâu nỡ xa đứa con bé nhỏ của mình. Ngày nay, tôi
không dám tự phụ mình là đã hoàn thành tâm nguyện của cha mẹ, nhưng chừng
mực nào đó tôi cũng đã làm cho cha mẹ mình vui lòng. Có lẽ đây chính là
món quà nho nhỏ mà người xuất gia có thể dâng lên cho đấng sinh thành của
mình. Nó không sang trọng hay cao quí trên phương diện vật chất, nhưng đây
chính là món quà mà cha mẹ tôi hằng đợi mong.
Mong con thành danh,
phải nỗ lực hết sức trong việc kiến tạo sự nghiệp bằng học tập, rèn luyện
và làm việc, tự đứng trên đôi chân với khả năng chính mình để đi vào đời;
không lêu lổng, bê tha, trác táng, hư đốn. Thật vậy, khi thấy con mình
thành đạt trong cuộc sống, thì cha mẹ rất hài lòng, cảm thấy toại nguyện
trong tuổi già. Đây cũng được xem là một nguồn hạnh phúc, an ủi tinh thần
đối với bậc sinh thành. Do đó, lòng hiếu đạo đối với song thân là một đạo
lý hết sức tế nhị và sống động vô cùng, chỉ có cái đầu hiểu biết và tấm
lòng thương yêu chân thành cùng với ý chí quả cảm chúng ta mới có thể thực
hiện được đạo lý thâm trầm ấy bằng cách này.
Và Phật pháp cũng đã
cảnh báo cho chúng ta, nếu không nỗ lực thật tu, thật học, thật hành trì
và thật chứng giác ngộ giải thoát, hòan thành đạo nghiệp cho chính mình và
thực thi sự nghiệp lợi lạc cho thế nhân bằng dùng đuốc tuệ chánh pháp soi
sáng thế gian u tối, thì cũng chỉ là kẻ tội đồ núp bóng cửa Phật mà thôi.
“Cha mẹ còn sống
vẫn không thể nào nuôi dưỡng, cha mẹ quá vãng cũng không bạt độ nổi vong
linh; tội bất hiếu như vậy sẽ không nơi nào dung thứ”.
(Phát Bồ Đề Tâm Văn)
Thế nên, người xuất
gia đúng nghĩa, phải nhập vai sứ mạng giáo hoá tha nhân, chính là mẫu
người đạo đức, giữ cán cân đạo lý cho đời. Người xuất gia là người rất coi
trọng hiếu đạo, nhưng cách thể hiện so với người đời có khác, đều hướng về
đạo lý “Cội nguồn”. Tình yêu thương của người xuất gia không chỉ
với cha mẹ trong hiện đời, mà còn xem “Chúng sinh trong tam giới đều
từng là cha mẹ”. Chính vì lẽ đó, hiếu đạo đối với người xuất gia có
phần mở rộng hơn, ứng biến hơn, thâm trầm và cao cả hơn rất nhiều so với
người đời. Cũng bắt nguồn từ hiếu đạo ấy, nhưng từ phạm vi gia tộc huyết
thống, bước sang lãnh vực pháp giới chúng sinh, mà trong tứ ân của người
xuất gia đã dạy rõ. Phải là đóa hoa phạm hạnh ngát hương lan tỏa khắp các
loài cỏ cây hoa lá trong ngôi vườn chánh pháp.
“Nhứt nhơn tác
phước thiên nhơn hưởng
Độc mộc khai hoa
vạn thọ hương”.
Tháng bảy lại trở
về, thêm rộn ràng lễ hội hiếu hạnh, làm thổn thức con tim của mọi người dù
Phật tử tại gia hay xuất gia hướng về ơn nghĩa sinh thành. Đây cũng là
cách làm trong muôn ngàn cách thức của những người con hiếu hạnh hướng về
song thân. Cho dù ân sâu nghĩa nặng ấy không thể nào đáp trả trong một sớm
một chiều, nhưng cũng là tấm lòng chân thành báo đáp trong muôn một của
người con hướng về cha mẹ. Nhưng thật ra cha mẹ mình có đòi hỏi gì đâu,
chỉ cần thấy con cháu ngoan hiền hiếu thảo là hạnh phúc lắm rồi; mà làm
cho cha mẹ hạnh phúc, cũng chính là cách tri ân và trả ân tốt đẹp và ý
nghĩa nhất.
Với hiếu đạo, chúng
ta phải có một cách nhìn toàn diện hơn. Chừng mực nào đó, người xuất gia
có đời sống nặng về tinh thần hơn, nên khả năng “hiếu dưỡng” về cơm
áo và gạo tiền cho cha mẹ rất hạn chế, nhưng không vì thế mà cho rằng
người xuất gia không làm tròn hiếu đạo, mà hòan thành một cách rất có hiệu
quả nữa là khác, xuyên qua “hiếu nghĩa” và “hiếu đức” trong
vai trò xuất thế, bằng trau dồi giới đức và tịnh tu phạm hạnh của mình,
kiến tạo phước điền cho đời, trong đó có cha mẹ thân bằng quyến thuộc;
giúp mọi người trút bỏ mọi ưu phiền khổ lụy, ngay phút giây hiện tiền giác
ngạn đồng đăng; như cổ nhân đã từng xác chứng: “Nhứt nhơn đắc quả cửu
huyền siêu thăng”.
--- o0o ---
Nguồn: Nội san Vu Lan Khánh Hòa
Trình
bày:
Nhị
Tường
Cập
nhật
ngày: 01-08-2006