Diện Mục
Thích Bảo Lạc
Sau một thời gian tu tập và hành đạo từ Việt Nam đến
Nhật Bản, sang Úc và tại một số các quốc gia Âu, Mỹ, cho tôi có đủ thì giờ
và nhận thức để xác định lại rằng tổ chức Tăng đoàn và Giáo Hội thật hết
sức lõng lẽo, nhưng rất là trật tự. Lõng leo bởi Giáo Hội không có giáo
quyền hay đúng hơn Phật Giáo chủ trương từ bi và bình đẳng như một tặng
phẩm vô giá mang tính hào phóng và bao dung đối với bậc trượng phu hay Bồ
Tát, là tôn giáo hợp lý (logic), khoa học, văn minh mang tính nhất quán từ
lý thuyết, đến thực hành trong tiến trình tu chứng từ sơ quả đạt đến vô
thưọng chánh đẳng chánh giác. Như những sợi dây vô hình miên mật đan mắc
dính lại với nhau giống hệt tấm lưới như Kinh Phạm Võng Bồ Tát giới ví như
thiên võng (lưới trời) để chỉ sự trùng trùng vô tận các thế giới liên kết
lại với nhau không xen hở mà dưới con mắt của nhà khoa học đã và đang
chứng minh được điều đó. Nên có thể xác minh mà không sợ phiến diện và
mang tính chủ quan rằng Phật Giáo là một tôn giáo lạ lùng nhất trong số
các tôn giáo hiện hữu trên thế giới xưa nay.
Về tính trật tự trong Phật đạo cũng là một
điều cần phải nghiên cứu nghiêm túc, nó đòi hỏi sự tu tập hành trì nơi
hành giả về giới hạnh mới có thể cảm nhận được sự thích ứng mà không thấy
có vấn đề trong đời sống tu tập hằng ngày. Trật tự theo thứ đệ trong tinh
thần bình đẳng và dụng dị, chứ không phải tôn ti ngôi thứ trong chế độ
giai cấp.
Không đề cập sang các lãnh vực khác như triết
học, khoa học, học thuyết, kiến trúc, điêu khắc, hội hoạ v.v...mà Phật
Giáo mang tính đa dạng, ở đây chỉ xin giới hạn cụ thể trong phạm vi giáo
dục qua đó chúng ta chiêm nghiệm, học hỏi từ nơi cung cách bậc thầy vĩ đại
của đạo Phật - đức Phật Thích Ca – và hàng Thánh chúng đệ tử xuất
gia thường thân cận học hỏi từ thân giáo, khẩu giáo, ý giáo của một nhà mô
phạm điển hình, bậc đạo sư khả kính, nhà truyền giáo uyên bác v.v... và cả
hàng chục danh xưng khác để tôn danh đức Phật. Dù vậy đức Phật vẫn không
tự đặt mình ra ngoài cộng đồng giáo đoàn mà Ngài chỉ nhận là người thầy
dẫn đường. kẻ đi trước dẫn dắt người đi sau cùng tiến đến mục đích giải
thoát, giác ngộ mà thôi. Giáo đoàn hay đúng ra phải gọi Tăng đoàn, vì lẽ,
thời đức Phật, chúng đệ tử của ngài lần đầu tiên mới chỉ có 5 vị Tỳ kheo
trong nhóm của ông Kiều Trần Như, A xã Bà Thệ (Mã Thắng), Thập Lực Ca
Diếp, Bạt Ðề và Ma Ha Nam (con trưởng Hộc Phạn Vương) trong lần Phật
chuyển hóa nói về pháp Tứ Ðế tại vườn Lộc Uyển (Deer Park) thuộc Ấn Ðộ
khoảng 600 trước Tây lịch.
Nhờ hạnh xả ly, đức hy sinh và giàu lòng từ
bi của bậc đạo sư cảm hóa mà nhiều người từ dân giả như Ưu Ba Ly đến các
bậc vua chúa công tôn vương tử như Ðề Bà Ðạt Ða, A Nan, A Na Luật, Tần Bà
Sa La, Ba Tư Nặc hay ngay cả các vị giáo chủ của đạo thờ thần lửa như ba
anh em Ưu Lâu Tần Loa Ca Diếp,Thập Lực Ca Diếp và Già Da Ca Diếp, đều được
xuất gia và quy y theo Phật. Do đó đoàn sứ giả dần dần lớn mạnh từ 5 vị Tỳ
kheo đầu tiên đã lên đến con số 1250 và cứ như thế chúng xuất gia theo
Phật ngày càng đông đảo, cũng như vô số chúng sanh khác đều cảm nhận được
và thấm nhuần giáo pháp của đức Phật không thể dùng toán tính đếm hết
được. Ðây là một phương pháp giáo hóa vô cùng linh động hiệu quả của bậc
đạo sư, nhờ Ngài biết phương tiện của một nhà tâm lý đầy kinh nghiệm theo
sát từng mỗi tâm niệm cá biệt; cũng như vị lương y xem đúng bịnh, cho đúng
thuốc khiến cho bịnh nhân chóng được lành bịnh.
Tuy đức Phật luôn áp dụng tính dân chủ trong
việc giáo hóa, nhưng Ngài cũng không bỏ qua cho các ác tánh Tỳ Kheo bằng
cách chế giới luật ràng buộc họ phải tuân thủ để giữ vững kỹ cương của
Tăng đoàn. Chẳng hạn, trong tập thể đại chúng của Trường hạ đề ra hiệu
lệnh như sự nhắc nhở cần thiết cho mỗi chúng ta trong một đạo tràng qui tụ
đông người, hầu dễ dàng cho tổ chức; cũng như Nội Qui để làm mực thước cho
đại chúng theo đó hành trì tự nhắc mình và cũng để sách tấn người khác,
trong một cộng đồng đa dạng giữa Tăng Ni và Phật tử, giữa những vị lớn
tuổi và người nhỏ tuổi đều hòa hài nhau trong tinh thần học hỏi, tu niệm.
Ðể sách tấn tu tập pháp giải thoát trong thời
gian An Cư, đại chúng mỗi người nên tinh tấn chấp hành các điều như sau:
1/ Khi nghe hiệu lệnh nên có mặt tại điạ điểm
lớp học, chánh điện, trai đường...
2/ Có duyên sự ra khỏi đại giới trường phải
tác bạch giữa đại chúng, nêu rõ lý do.
3/ Tiếp khách xin mời vào trai đường ngoài
giờ tu tập
4/ Tham dự tất cả những buổi thọ trì, học
tập, thảo luận Phật pháp không nên vắng mặt.
5/ Ðể giữ gìn sức khỏe chung sau giờ chỉ tịnh
xin đại chúng an tức (ngủ nghỉ).
Những điều qui định như vậy có một giá trị
nhất định của nó để làm gia tăng nội lực tự thân, nếu mỗi người ai cũng
biết ý thức theo dõi và áp dụng, chắc chắn sẽ gây được uy tín cho đạo
tràng và lợi lạc chung rất lớn lao. Cũng nhờ tính cách dân chủ tuyệt đối
mà hàng đệ tử xuất gia của Phật sống nương tựa, hòa hợp nhau trong tinh
thần lục hòa. Người khác (ngoài) nhìn vào tổ chức Tăng Ni cũng khó mà hiểu
vì không nắm rõ được luật lệ của tăng đoàn.
Xin nêu ra câu chuyện sau đây làm ví dụ điển
hình:
Vào năm 1998 Tự Viện Pháp Bảo tại Sydney – Úc
Ðại Lợi tổ chức lễ khánh thành hoàn tất công trình xây dựng sau hơn 10 năm
nỗ lực không ngừng của chư Tăng và Phật tử. Lễ Khánh thành có mời không
những Tăng Ni Việt Nam khắp các nơi tại hải ngoại về dự lễ mà còn mời cả
các Phật tử, chính quyền các cơ quan, đoàn thể khác từ nhiều nơi về dự.
Dịp này phái đoàn của TT Thích Như Ðiển đến từ Ðức Quốc tháp tùng theo
cùng với 30 Phật tử. Khi tới phi trường Sydney, phái đoàn được đón về
chùa. Trên đường về có một nam Phật tử gặp thầy Phổ Huân (chùa Pháp Bảo)
chấp tay chào “chú” thì có mấy Phật tử đính chính là nên gọi Thầy mà không
phải chú. Từ đó Ðạo hữu luôn gọi Ðại Ðức là Thầy trong suốt thời gian lưu
trú lại chùa. Tuần sau lễ khánh thành, phái đoàn TT Như Ðiển viếng thăm
Adelaide và chùa Pháp Hoa của Hòa Thượng Thích Như Huệ. Tại chùa Pháp Hoa,
vị nam Phật tử theo phái đoàn TT Như Ðiển hôm trước gặp chú Hạnh Châu (lúc
đó là Sa Di) đạo hữu chấp tay chào bạch Thầy. Các Phật tử chùa Pháp Hoa
đính chính lại, là phải kêu “Chú” và không phải gọi Thầy! Ðiều này làm cho
Ðạo hữu ấy vô cùng bối rối và tự hỏi: tại sao ở chùa Pháp Bảo một thầy
tuổi tác tương tự gọi là chú lại bảo phải gọi bằng thầy; còn chùa Pháp
Hoa, thầy này tuổi tác cũng đâu có nhỏ gọi Thầy lại cải chính phải gọi
bằng chú? Vấn đề qúa rắc rối ai làm sao hiểu nổi! Sau đó đạo hữu đem phân
trần với TT Như Ðiển và được giải thích rõ ràng thế này:
Vị Tăng đã thọ giới Tỳ Kheo nên gọi là Ðại
Ðức hay Thầy; vị Tăng dù lớn tuổi nhưng chưa thọ đại giới vẫn gọi bằng chú
như thường. Ðó là truyền thống xưa nay của Phật giáo Ðại Thừa. Cũng như
vấn đề tuổi Hạ cao là người lớn tuổi trong đạo, trong khi vấn đề tuổi Hạ
cao là người lớn tuổi trong đạo chứ chưa chắc lớn tuổi đã là người tu lâu
năm. Có những vị tuy lớn tuổi nhưng mới thọ giới thì đâu phải là người
trưởng thành trong đạo giáo. Ðây là điểm khác nhau giữa đạo và đời khá rõ
rệt qua một lằn ranh giới luật. Nhờ có giới luật làm điểm tựa cho chúng Tỳ
Kheo ngồi lại với nhau trong sự tương giáo, tương sám, tương thuận, tương
kính để xây dựng Tăng đoàn thành một tổ chức có qui củ đúng pháp theo luật
Phật dạy.
Ðó là lý do cho sự chọn lựa chủ đề nói trên.
Diện là mặt hay còn gọi là vóc dáng toàn diện; mục là mắt tức là tai mắt
để soi sáng quán chiếu lại mình. Như vậy, diện mục là một con người gồm
hai phần thân xác và tinh thần hay nói cách khác con người thể chất và tâm
linh. Nhưng điểm quan trọng hơn hết, tác giả muốn tự soi nhìn lại bộ mặt
thật con người hai mặt của mình lâu nay ra sao để học hỏi và cầu tiến bộ.
-Về con người thể chất: 6 căn tai, mắt, mũi,
lưỡi, thân, ý ngày càng hao mòn cạn kiệt như một cổ xe mà toàn thân hầu
mục rả sau nhiều năm xử dụng quá nhiều. Các bộ phận bên trong long lở, củ
kỹ, chực đụng tới là hư rã gây ra bất an cho thân cả tâm nữa.
-Về mặt tinh thần hay tâm lình: những tham,
sân, si, mạn, nghi năm món độn sử (trói buộc nặng nề, trì trệ khó một lúc
mà gỡ rứt ra hết được nên gọi là độn) và thân kiến, biên kiến, kiến thủ,
giới cấm thủ, tà kiến, (năm món này gọi là lợi sử vì bén nhạy, có phần dễ
trừ hơn 5 loại trước. Mười món sử này ràng buộc, sai sử chúng sanh đi
trong lối hiểm đường ma nên ta cần phải luôn luôn quán chiếu để tự răn
mình.
Tóm lại để soi rõ mặt, lúc chưa biết tu ta ưa
dùng kiếng soi ngắm nhiều lần, trước khi bước ra khỏi nhà để xem
gương mặt dơ sạch thế nào. Bây giờ biết tu người đệ tử của Tam Bảo nên
dùng tâm kinh Bát Nhã soi tâm. Soi tâm chính là quán chiếu lại mình để
thấy rõ bộ mặt thật xưa nay mà trong kinh thường gọi là bản lai diện mục,
bản tánh, như lai tạng, chân như, Niết Bàn, bản thể v.v...Vì vậy, tiến
trình tu tập hành giả luôn luôn phải cẩn trọng giữ mình như giữ tròng con
mắt, không để cho bụi bặm và mọi vật chung quanh làm khuất che mất ánh
sáng; cũng chính là quán chiếu thân và tâm qua từng đề mục: sắc, thọ,
tưởng, hành, thức (năm uẩn), đều không để vượt qua mọi khổ đau, ách nạn
như tâm kinh Bát Nhã .
Viết nhân trong mùa An Cư Kiết Ðông của
chư Tăng Ni GHPGVNTN Hải Ngoại tại Tu Viện Quảng Ðức – Melbourne Úc Ðại
Lợi từ ngày 6 đến 16 tháng 7 năm 2004.
Melbourne ngày 7 tháng 7 năm 2004
Thích Bảo Lạc
^
Kiết đông
Một ánh sao đêm trở bạc đầu
Buông rơi tia nắng ngâm câu Phật đà
Mây vần như sẽ tuôn mưa xuống
Thái Dương bỗng rẽ bước ngà lung linh
Mang về Quảng Đức yên vui ấm
Tàn Đông kiết hạ, lời kinh nhiệm mầu
Ai về cõi tịnh xin nhắn lại
Thế nhân đã sáng trên đầu hào quang.
Bước đi dày dạn qua thương hải
Vác núi chồng cao, hạt cải Tu di
Ca lăng ríu rít Tam qui kỉnh
Tóc xâu trái đất thất kinh ông trời
HT.Thích Huyền Tôn
^
Lá vẫn còn xanh
Chuông khuya vang vọng canh dài
Từ Tôn tịch mặc Tiểu hài lặng yên
Đất nước Úc Đại Lợi đi vào đông, mùa đông ở
Tiểu Bang Victoria thành phố Melbourne lại càng giá buốt. Trong Tăng Xá Tu
Viện Quảng Đức, Tôi lắng nhìn qua khung cửa những hàng cây rụng lá, vài
con chim nhỏ ríu rít trên cành hình như không đủ sức mình hòa tấu nhạc bản
Hoa nở chim ca.
Thế mà, trong cái lạnh của xứ Nam Bán Cầu,
hình bóng Tăng Ni Phật tử thuộc liên bang Úc Châu – Tân Tây Lan - Việt Nam
về dự an cư tại Tu Viện Quảng Đức hàng chục vị. - Người ta có câu rằng:
“Khó mà trồng được hạt giống Bồ Đề trên xứ tuyết”, bởi vì nơi đây ngôn ngữ
bất đồng văn hóa khác biệt. Nhưng, những hàng lớp Tăng Ni Phật tử vượt
biển - vượt biên - vượt cả không gian qua xứ nầy tạo lập Tu Viện, Tự Viện,
Tịnh Xá, Tịnh Thất để ươm hạt giống Bồ Đề!
Tu Viện Quảng Đức lãnh sứ mệnh tổ chức An Cư
10 ngày, do Giáo Hội Hải Ngoại chỉ đạo. Thượng Tọa Tâm Phương, Đại Đức
Nguyên Tạng Chánh phó Tu Viện đã làm trọn bổn phận một người Tăng sĩ.
Tu Viện Quảng Đức trưóc đây là một Trường
học, được duyên lành nay trở thành một Tu Viện kiến trúc theo văn hóa Việt
Nam. Người viết thầm nghĩ: Chánh báo Y báo quyện với nhau, cho nên ngôi
phạm vũ này thực sự rất trang nghiêm. Tiếng đại hồng chung - bước chân
kinh hành niệm Phật - Ngọn lửa Chánh niệm bừng sáng – Tâm thức hành giả
vọng hướng về chân trời giải thoát làm quên đi cơn giá lạnh mùa đông.
Nơi đây, gặp nhau trong tình pháp hữu. Quý
Hòa Thượng khả kính, chư Thượng Tọa Đại Đức Tăng Ni và quý Phật tử là
những mẫu người thấm nhuần đạo vị; đạo đời có nhiều hương vị. Có những
hương vị ngọt thơm – cay đắng, nhưng chắc chắn hương vị giải thoát mà
người con Phật hằng ước mong!
Ngày mai chia tay còn đâu
nữa?!...,
nhưng tin rằng: Trong ánh mắt nụ cười và trong từng cử chỉ thân thương vẫn
còn in đậm trong tâm thức của chúng ta.
Ai đi bỏ lại cuộc đời
Về nơi xứ lạ quê người thân thương
Vầng trăng mười sáu vẫn tròn
Trở về bến cũ nghe lời kinh thiêng
Mùa An Cư năm 2004 tại Tu Viện Quảng Đức, thành phố Melbourne.
Thích Trường Sanh.
^
Tán Dương Công Ðức
An cư kiết hạ mười ngày qua
Trai soạn Quảng Ðức thật bôn ba
Mỗi ngày ba bửa cơm chay tịnh
Cúng dường chư Phật cùng Tôn Ðức
Sáng trưa chiều tối đều hoan hỷ
Không chút phàn nàn chẳng thở than
Nơi đây Chris đang rửa chén
Ðằng kia Bobby khiêng tượng Phật
Anh bạn Steven chạy khắp nơi
Ðưa đón chú Sơn cùng Phật tử
Giúp thầy không một tiếng than van
Ôi! Lành thay Phật tử thật đáng khen
Xin ghi công đức vô bờ bến
Nhóm Phật tử Liêu Huyền Quang
Tưởng nhớ vị sa di đầu tiên
Thông lệ an cư khởi sự từ thời Phật tại thế.
Lúc đó ở Ấn Độ mỗi năm vào 8 tháng tốt trời đức Thế Tôn ngự đến nước này
nước kia để giáo hóa; 4 tháng mùa mưa vì không tiện di chuyển vì thời gian
ấy cây cỏ sinh vật sinh sôi nảy nở nên vì lòng từ bi, Phật chế pháp an cư.
Chúng Tăng trụ lại một nơi chuyên tâm tu niệm.
Hoa trái của đạo Phật ngày nay không còn giới
hạn ở Ấn Độ nữa, hương thơm giải thoát đã tỏa ngát khắp năm châu. Năm nay
mùa an cư được tổ chúc tại ngôi Già lam Quảng Đức, thành phố Melboure
(Vic).
Giữa đại hùng bảo điện trang nghiêm, hình
bóng chư Tôn khắp nơi tụ về, sáng rực uy nghi trong màu y vàng giải thoát.
Đức Thế Tôn dạy ngưòi xuất gia là con cả của Như Lai, chỉ có hàng Tăng lữ
mới là hình ảnh trực tiếp giữ gìn mạng mạch Phật pháp. Chí khí người xuất
gia cao cả, tâm lượng người xuất gia rộng sâu. Tự lợi, lợi tha, dang tay
dung chứa tất cả, đem giáo lý Phật đà chuyển hóa khổ đau của chúng sanh.
Lý tưởng xuất gia tuyệt vời là thế. Lý tưởng
càng cao thì phải có năng lực càng nhiều. Đã đành rằng từ bao lâu quay
cuồng trong sinh tử, giờ này tuy đã biết quay về, nhưng những tập khí khó
mà dứt trừ trong nhấp nháy nhứt thời. Nhưng không vì thế, người xuất gia
chùn chân dừng bước. Lịch sử chứng minh, biết bao liệt vị Tổ sư vì đạo hy
sinh, bao thánh tử đạo quên mình hiến thân cho Phật pháp. Khó khăn chập
chùng nhưng ngọn đuốc chánh pháp chưa từng tắt và còn truyền mãi đến ngày
nay và sẽ đến ngàn sau. Cứ mỗi lần vọng tâm lăn xăn hiện lên hàng hậu bối
lại nhớ đến bài học Đức Thê Tôn khi xưa rầy chú Sa Di La Hầu La. Chú La
Hầu La xuất gia năm 14 tuổi, theo Ngài Xá Lợi Phật làm đệ tử. Vì còn trẻ
con, nên những nghịch ngợm phá phách chưa dứt trừ. Một hôm Phật biết được,
đích thân đến Tịnh Xá chú đang tu. Với dạng hết sức oai nghiêm, La Hầu La
bất ngờ chỉnh y ra nghinh đón Phật. Đợi cho Thế Tôn an tọa, chú đem nước
đến cho Phật rửa chân. Đức Phật không nói một lời, rửa chân xong bèn chỉ
nước dơ trong thau hỏi La Hầu La.
- Này chú, thứ nước dơ này có uống được
không?
- Thưa không, bạch Thế Tôn
- Vì sao vậy?
- Bạch Thế Tôn, vì nước đã bị dơ
- Là Sa Di như La Hầu La (không giữ giới
hạnh) cũng giống như nước dơ vậy.
Phật bảo La Hầu La đổ nước đi và hỏi:
- La Hầu La có thể lấy thau này đ ựng nước ăn
uống được không?
- Bạch Thế Tôn, không
- Làm Sa Di không có giới hạnh như La Hầu La
cũng vậy.
Phật bảo La Hầu La úp thau lại và lấy nước đổ
lên trên, Phật hỏi:
-
Nước có đọng lại trên thau không?
-
Thưa không, bạch Thế tôn
-
Làm Sa Di như La Hầu la, không có tâm,
không giữ giới thanh tịnh thì Phật Pháp cũng không đọng lại được.
-
Phật lấy chân đá vỡ thau và hỏi La Hầu
La
-
Có tiếc cái thau không?
-
La Hầu La bủn rủn thưa: Thưa không,
bạch Thế Tôn.
-
Vì sao?
-
Vì cái thau này không còn dùng được
vào việc gì cả nên có bể cũng không tiếc.
-
Cũng vậy, làm Sa Di như La hầu la mà
không có giới hạnh thì không ai tin dùng cả, có bỏ thân cũng không ai mến
tiếc.
Từ ấy, Sa Di La Hầu la tinh tấn tu tập không
ngừng. Sau này, La hầu la được Phật tán thán là một trong 10 đại đệ tử của
Phật với tôn hiệu Mật Hạnh Đệ Nhất. Đạo Phật là thế, tất cả những ai được
tắm mình trong dòng pháp giải thoát đều hưởng được những hoa trái của sự
tu tập. Huống hồ chúng xuất gia, ngày ngày sáu thời sống trong chánh pháp.
Ngày nào còn mang bên mình chí nguyện của buổi sơ tâm xuất gia, còn biết
trên vai nặng gánh nhiệm vụ hoằng pháp lợi sanh; thì ngày ấy không một
mãnh lực vô minh nào có thể làm lui sụt chí khí của bậc xuất trần thượng
sĩ.Tạm biệt trường hạ Quảng Đức, trở về lại trú xứ, mỗi người lại thấy
ngọn lửa Bồ Đề thêm nhen nhúm, chí nguyện độ sanh thêm dũng mãnh. Nguyện
cầu Tam Bảo gia hộ cho tất cả chúng sanh đều nhờ ơn mưa pháp, mau sớm
thoát ly khổ hải, đều gặp được Phật pháp rồi sẽ trọn thành Phật đạo.
Kỷ niệm mùa an cư tại Tu Viện Quảng Đức 2004
Giác Anh
^
Niềm Vui Lớn
Là một con người hiện hữu trong đời sống này ai cũng
ước vọng cho mình luôn có một niềm vui trong đời sống, đó là lẽ tất
nhiên.
Tuy nhiên có những người họ chỉ ước vọng
những cái bình thường trong đời sống này là họ đã thấy mãn nguyện hạnh
phúc, rồi cũng có những người cho dù nằm trên đống bạc, họ thụ hưởng mọi
thứ xa hoa, sơn hào hải vị nhưng họ cảm thấy vẫn thiếu và chưa đủ, lòng
tham vô bờ của mỗi chúng sanh.
Nói đến đây tôi nhớ hoài một lời nói chân
thành của một anh chàng thanh niên miền quê lục tỉnh trong trại cấm Tị
Nạn SungaiBesi của năm 1990. Trong những năm đó, các đảo tị nạn đã đóng
cửa, có rất nhiều tấn thảm kịch khổ đau xảy ra trong các trại tị
nạn, tôi cùng TT Quảng Ba có dịp đi lại tất cả các trại tị nạn Ðông Nam
Á một vòng để thăm viếng và ủy lạo, tặng quà an ủi đến đồng bào của
chúng ta đang còn kẹt lại nơi đó, sau 6 tuần lễ đi thăm viếng hầu
hết các trại tị nạn, vào một buổi sáng tôi dừng chân trại Sungai
Besi, nơi đây cùng là nơi mà tôi được dung thân an ổn sau những ngày
vượt biên trên biển, Ðảo Paulau Bidong và trại Sungai Bese đối với tôi
cũng nhiều đồng bào tị nạn khác cũng có nhiều kỷ niệm và cũng lắm thương
đau.
Hai ngày trôi qua tâm sự hàn huyên chia xẻ
những món quà tinh thần lẫn vật chật đến với những đồng bào bất hạnh .
Lúc đó có một chàng thanh niên khoảng 25 –27 tuổi, anh đến bên tôi
tâm sự và khóc sướt mướt thỏ thẻ nói lên nguyện vọng của mình. “Thầy
ơi Thầy cứu con với, con đã hai lần rớt thanh lọc rồi, chắc chắn con sẽ
phải trả về Việt nam, trả về Việt Nam những gì sẽ xảy ra với con,
vì lúc con đi vượt biên con là một du kích xã , con đi, con lấy của họ
cây súng để phòng thân, và tàu ra khơi an toàn con quăng cây súng ấy
xuống biển, dù ít nhiều chuyện ấy cũng liên quan đến chính trị thế mà
qua đây họ ghép con vào diện tị nạn kinh tế, đánh rớt con hai lần”.
Rồi tôi nhận nghe nhiều lời than thở, cầu cứu của Chị Hai Ty cùng 2
cháu, anh chị Tư, ông Bảy đi một mình và rất nhiều đồng bào khác v..v .
Tôi ngồi trầm tư suy nghĩ miên man, tôi cảm thông thấu suốt từng niềm
đau và từng nổi thống khổ của mỗi người, tự nhiên trên môi tôi thấy mặn
mặn thì ra tôi đã xúc động và khóc từ bao giờ? Rồi tôi bất chợt nghe một
tiếng nói và Ước Vọng từ trong đáy lòng, Thầy ơi con khổ lắm, Cứu con
với .
Nếu ngày đó con chỉ cần được tự do ăn nói,
có một ước vọng nhỏ, là có được một chiếc xe Honda cũ, để làm chiếc xe
lôi kéo chuối từ trong vùng sâu, vùng xa đem ra chợ bán kiếm tiền để
nuôi người mẹ già bệnh yếu và 2 em nhỏ là con không bao giờ đi vượt biên
để khổ cái thân trên hòn đảo này.
Ðó là
một ước vọng đơn sơ của con người miền quê lục tỉnh, mà họ nghĩ đánh đổi
một cuộc đời để đạt được một ước vọng rất tầm thường nhưng vẫn không đạt
được. Anh sẽ phải bị trả về Việt nam sau đó , và tôi cũng đã mất liên
lạc với người thanh niên quê chân chất ở một góc trời quê hương
tôi kể từ dạo ấy. Dĩ nhiên tôi cùng quí vị đã thấy và đã chứng kiến hàng
trăm hàng ngàn sự khổ đau hơn đó nữa, chúng ta cũng không biết làm gì
hơn để cứu vản tình thế ngoài khả năng của mình.Tôi tiếp tục suy
tư, và dòng cảm nghĩ miên man chảy dài trong tôi, làm một con người ư,
làm người sao có lắm nhiều thương đau và khổ lụy.
Bậc
Thầy Giác Ngộ của chúng tôi đã dạy; Ðờinày làmđược thân
người là một phước báo lớn, nếu chúng ta kém tu, không có niềm tin
chánh tín nhân quả, nghiệp báo thì khổ lắm. Thân người khó được,
Phật pháp khó gặp, gặp được Phật Pháp mà phát khởi niềm tin chánh tín và
tu học lại càng khó hơn.
Tôi rất may mắn, sinh ra trong một gia đình
theo Ðạo Phật, tuy không giàu có, nhưng chưa bao giờ gia đình tôi, hay
trong họ hàng nội ngoại hai bên phải đói cơm ăn, hay không đủ áo mặc ấm,
như tôi đã từng chứng kiến những cảnh khổ đau của nhiều gia đình
người khác trong đời sống này.
Một niềm vui đối với tôi, là
gia đình tôi và dòng họ tôi ít nhiều đã hiểu đạo, tất cả đều Quy Y Tam
Bảo và trở thành những Phật tử thuần thành. Chính tôi chính thức đưa ông
nội tôi đến (Hoàng Trúc Am trên đồi Trại Thủy, TP Nha Trang) đảnh
lễ và xin quy y với Hòa Thượng Trí Nghiêm, ngày ông nội tôi mất chính
Hòa Thượng Trí Nghiêm đến niệm hương Lễ Nhập Liệm cho Người. Ðây là một
ân đức lớn cho gia đình chúng tôi, vì Hoà Thượng Trí Nghiêm là một Bậc
Cao Tăng Thạc Ðức của cả Miền Trung nước Việt. Lúc đó tôi đang kẹt trên
bán đảo Tị Nạn Paulau Bidong (tháng 6/1986).
Sau hơn 17 năm lưu lạc trên xứ người, tôi
lần theo dấu chân xưa của Ðức Từ Tôn, tôi sống trong Giáo Ðoàn
Tăng Ni của Giáo Hội, luôn sát cánh cùng Chư Tôn Ðức trong Giáo Hội,
gánh vác công việc của người trưởng tử Như Lai trong sứ mạng “Tác Như
Lai Sứ, Hành Như Lai Sự” theo khả năng nhỏ bé của mình. Bản thân
tôi vẫn còn nhiều vụng về , non yếu trên bước đường Thượng Cầu Hạ Hóa,
tôi rất thiết tha tiếp nhận những lời giáo dưỡng ân cần của Chư
Tôn Ðức , cùng những Thiện hữu tri thức giúp tôi đi trọn con đường
phụng sự.
Mười bảy năm đã trôi qua mau như bóng cau
lướt nhẹ, bất giác tôi thấy mình đã có hai màu tóc, hiện tướng già,
bệnh, chết đã bắt đầu xuất hiện. Tôi chạnh lòng vì thấy sức khỏe của
mình trong hiện tại không còn như xưa nữa, buồn vì còn quá
nhiều công việc và hoài bảo chưa thực hiện được trên bước đường
xiển dương Giáo Pháp của Như Lai trên xứ sở này. Con chấp tay nguyện cầu
Ðức Thế Tôn chứng minh và luôn soi sáng giúp con có được nhiều nghị lực
và sức khỏe.
Mùa An Cư Kiết Ðông lần thứ 5
năm nay được Giáo Hội giao phó cho Tu Viện Quảng Ðức chúng tôi tổ chức,
đây là một Niềm Vui Lớn đối với tôi và tất cả những người con
Phật tại đạo tràng này và chư đồng hương Phật tử xa gần nhiệt tâm
hổ trợ.
Quả thật vậy, đây là một
Niềm Vui Lớn, Tu Viện Quảng Ðức đã cung đón trên 60 vị Chư Tôn
Ðức Tăng Ni, và gần 100 Phật tử tại địa phương cùng các tiểu bang đồng
hướng về Kiết Giới Tịnh Tu công quả trong 10 ngày, màu huỳnh y rực
rỡ của Chư Tôn Ðức Tăng Ni thanh thoát kinh hành niệm Phật, và những
thời công phu khuya, tối, tôi cảm động và thương từng chiếc áo tràng lam
cần mẫn trong tay xâu tràng hạt, Ấn Kiết Tường dâng trọn tâm thành nâng
bình bát cơm đầy Niệm Tứ Ân, Cúng Dường Mười Phương Chư Phật, tôi bồi
hồi xúc động với niềm vui buồn lẫn lộn, từng bước chân an lạc tìm đến
từng phòng vấn an sức khỏe Chư Tôn Ðức, lo lắng thăm hỏi sức khỏe quí
Phật tử về tịnh tu công quả, 10 ngày rồi cũng trôi qua nhanh như một
giấc ngủ, Chư Tôn Ðức đều trở về trụ xứ lại tiếp tục sứ mạng trên bước
đường phụng sự. Tôi thương và cảm thông những người con Phật tại gia rồi
phải quay về vật lộn với đời sống, nhưng tôi tin tưởng rằng
trong mỗi người con Phật đều có hạt giống từ bi và trí tuệ để cứu mình
và chia xẻ cho đời những hoa trái giác ngộ yêu thương và hiểu biết.
Ngoài trời cơn mưa vẫn còn nặng hạt, màu
xám sương chiều đã phủ xuống hiên thềm Tu Viện, tôi bổng nghe hồi chuông
báo hiệu, thời kinh tối của đại chúng đã bắt đầu...
Tôi trân quí khoác lên mình bộ y màu
vàng thẳm, bước nhẹ lên thềm hoa cửa Phật, trong lòng hân hoan nao nức
bổng dâng trào, thầm khấn nguyện cho chúng sanh đời bớt khổ!
Mùa An Cư Kiết Ðông
2004
TK. Thích Tâm Phương
Lời Khai
Mạc Khóa An Cư 2004 Tại Tu Viện Quảng Ðức
Nam
Mô BỔn Sư Thích Ca Mâu Ni PhẬt
Ngưỡng Bạch Lên Hòa Thượng Chứng Minh Hội
Ðồng Giáo Phẩm Trung Ương GHPGVNTN Hải Ngoại Úc Ðại Lợi Tân
Tây Lan.
Ngưỡng Bạch Lên Hòa Thượng Hội Chủ, Hội
Ðồng Ðiều Hành GHPGVNTN Hải Ngoại tại Úc Ðại Lợi Tân Tây Lan.
Kính Bạch hiện tiền Chư Tôn Ðức Tăng Ni,
Kính thưa quí thiện Nam Tín Nữ, quí Tịnh
Nhơn, Học Viên về tham dự Khóa Tu , Tùng Hạ An Cư , công quả, cùng quí
đồng hương , Phật Tử xa gần thân mến.
Trước đây hơn 2500 năm , khi Ðức Thế Tôn
còn tại thế , Ngài Lảnh Ðạo một một Giáo Ðoàn Tỳ Kheo hơn 1200 Vị , để
đi lại trên khắp mọi nẻo đường của đất nước Ấn Ðộ , để hóa duyên
và truyền trao Giáo Pháp Giác Ngộ An Lạc, cũng như phương pháp diệt trừ
khổ đau , và chấm dứt con đường sanh tử luân hồi của mọi chúng sanh.
Rồi từ đó cũng từ trong Giáo Ðơàn này, Mùa
An Cư Kiết Giới Tịnh Tu ï đầu tiên được tổ chức tại Kỳ Hoàn Tịnh
Xá lúc bấy giờ, nhằm mục đích để thúc liểm thân tâm Tấùn Tu Ðạo
Nghiệp, đồng thời cũng tránh được sự đi lại quá nhiều của Giáo Ðơàn 1200
vị , trong mùa mưa ẩm ước , có thể dẩm lên những vi trùng sâu bọ, mà
lòng từ của Ðức thế tôn gọi đớ là mỗi mỗi chúng sanh bị mất mạng sống ,
dưới bàn chân của chúng ta.
Ngưỡng bạch lên chư tôn đức, Kính thưa liệt
quí vị, trải qua suốt chiều dài lịch sử đã hơn 2500 sau khi Ðức Phật
Nhập Diệt, Phật Giáo đã truyền đi khắp năm châu bốn biển nói chung , nói
riêng cho Phật Giáo Việt Nam, và tuỳ theo từng quốc độ , hoàn cảnh nhân
duyên để xiển dương giáo pháp của Ngài được trường tồn , hưng thịnh.
Mà trong đó Giáo Ðoàn Tăng Ni , là hàng
trưởng tử Như Lai phải nghiêm trì Giới Luật , để bảo tồn chánh pháp cứu
độ chúng sanh, mà trong Kinh Di Giáo Ðức Thế Tôn đã dạy.
Ðể thực hiện những lời Giaó huấn đó của
Ngài, hằng năm Mùa An Cư Tịnh Tu , trao dồi giới đức không thể
thiếu đối với hàng Trưởng Tư Như Lai. Năm nay Mùa Kiết Giới An Cư 2004 ,
lần thứ 5 do Giáo Hội Tổ Chức . . Chúng con Chư Tăng Ni , Phật tử tại
đạo tràng Tu Viện Quảng Ðức được Chư Tôn Ðức tin tưởng giao phó tổ chức
Mùa An An Cư Tịnh Giới năm nay, đây là một niềm vui lớn , một công đức
lớn mà Tu Viện Quảng Ðức chúng con được hoan hỷ vui mừng nhận lãnh.
Tuy rằng chúng con vẫn biết với hoàn cảnh ,
và những phương tiện khiêm tốn của Tu Viện trong hiện tại , cũng như tài
đức khiếm khuyết của chúng con khó có thể chu toàn viên mãn cho
khóa tu , nhất là về mặt sức khỏe của Chư Tôn Ðức và quí Phật tử
về tùng hạ Tu Học , côn quả trong 10 ngày vì thời tiết quá lạnh. Chúng
con cầu nguyện Chư Phật gia hộ, và mong được đón nhận những lời
chỉ dạycủa chư tôn đức , cũng như được sự hổ trợ phát tâm của những
thiện nam tín nữ Phật tử xa gần, gián tiếp hổ trợ , hay về tham dự khóa
hạ an cư , tu học công quả .
Kính bạch lên Chư Tôn Ðức, Thay mặt
Ban Tổ Chức Khóa Hạ An Cư lần thứ 5 của GHPGVNTN Hải Ngoại Úc Ðại Lơi
Tân Tây Lan, cũng là Hóa Chủ Trường Hạ tại Tu Viện Quảng Ðức , tính cho
đến giờ phút này chúng con được cung đón 60 Chư Tôn Ðức Tăng Ni đã đăng
ký về Kiết giới an cư tại giới Trường. Ðồng thời cũng có hơn 70 Phật Tử
về tùng hạ tu học, công quả trong 10 ngày.
Nhân Danh Hóa Chủ Trường Hạ chúng con thành
tâm đê đầu đảnh lễ Chư Tôn Ðức, thân mến đón mừng sự có mặt của quí vị
Phật tử về tùng hạ, cũng như quí đồng hương Phật tử xa gần .
Kính chúc chư tôn đức , cùng liệt quí vị,
thân tâm an lạc, bồ đề tăng trưởng , đạo quả viên thành, Suốt thời gian
Tu Học
Nam Mô Công Ðức Lâm Bồ Tát Tác Ðại
Chứng Minh.
^
Lời Mở Ðầu Lễ
An Vị Thích Ca Phật Ðài Lộ Thiên.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Kính bạch hiện tiền Chư Tôn Hòa Thượng, Chư
Thượng Tọa Ðại Ðức Tăng Ni.
Kính thưa quí đồng hương Phật tử thân mến.
Ðúng vào ngày 20.6.1997 Ðào Tràng Tu Viện
Quảng Ðức thuyên chuyển về nơi mảnh đất này, nơi đây là một ngôi trường
tiểu học cũ đã đóng cửa trong nhiều năm, khung cảnh thật hoang tàn xơ
xát. Suốt 7 năm qua Ðạo Tràng Quảng Ðức chúng con từng bước khắc phục
xây dựng và chỉnh trang để trở thành một ngôi Tu Viện được trang nghiêm
.
Ðây là một thành quả khiêm tốn, được xây
dựng bằng cả mồ hôi , nước mắt, bằng tâm đức nguyện lực của mọi giới
đồng hương Phật tử xa gần.
Kính thưa liệt quí vị, Phật Ðài Thích ca Lộ
Thiên trước mặt Chư Tôn Ðức và quí đồng hương Phật tử là một pho
tượng được an trí trong ngôi chánh điện cũ, pho tượng này đã được quí
đồng hương Phật tử xa gần phát tâm cúng dường , và đã phát tâm lễ lạy tu
học trong nhiều năm. Tuy nhiên khi xây dựng ngôi chánh điện mới Ðạo
Tràng chúng con đã an vị Tôn Tượng Bổn Sư bằng đồng tại Ðại Hùng Bảo
Ðiện.
Và để đánh dấu ghi lại công đức ngay từ
những ngày đầu tiên , đồng thời cũng để kỷ niệm, và đền ơn trong muôn
một ân đức của quí ân nhân, đồng hương Phật tử xa gần đã nhiệt tâm hổ
trợ, chúng con quyết định xây dựng Phật Ðài Lộ Thiên này. Ngưỡng bạch
lên hiện tiền Chư Tôn Ðức Tăng Ni, thật là một phước duyên thù thắng cho
đạo tràng Tu Viện Quảng Ðức của chúng con, được Chư Tôn Ðức giao phó
trọng trách tổ chức Mùa An Cư Tịnh Giới Tu Trì cho Chư Tôn Ðức Tăng Ni
trong Giáo Hội.
Sau một tuần lễ tịnh giới tu học đã trôi
qua, hôm nay đạo tràng chúng con được Chư Tôn hứa khả quang lâm Phật Ðài
Lộ Thiên Thích Ca Mâu Ni để Chú Nguyện Lễ Sái Tịnh Tẩy Trần An Vị. Ðây
là một công đức lớn mà đạo tràng của chúng con khó có thể đủ phước duyên
nhận được.Trong giờ phút trang nghiêm thanh tịnh trước Ðài Sen Chân Dung
Ðức Thế Tôn, chúng con nguyện cầu Hồng ân Tam Bảo chứng minh gia hộ Chư
Tôn Tôn Ðúc Pháp Thể Khinh An Chúng Sanh Dị Ðộ.
Và kính chúc toàn thể quí đồng hương Phật
tử xa gần , bồ đề tâm kiên cố, gia đình hạnh phúc, và luôn được an lành
trong ánh hào quang của Ðức Phật.
Nam Mô Hoan Hỷ Tạng Bồ Tát
Trụ Trì Tu Viện Quảng Ðức
Tỳ Kheo Thích Tâm Phương
^
Tình Pháp Lữ
TK. Hương Vân
Mùa An cư năm nay tôi có phước duyên về tu
học tại Tu Viện Quảng Ðức, Melbourne, Úc Châu, ở cùng phòng với Thượng
Tọa Như Ðịnh, trú trì chùa Thiên Ấn, Sydney. Phòng chúng tôi được ban
chức sự Trường Hạ đặt là Liêu Mật Hiển.
Trước cuộc hội ngộ đầy ý nghĩa và thắm
tình đạo vị này, hai huynh đệ chúng tôi chưa hề quen biết nhau. Một chút
dè dặt và e ngại đã diễn ra trong giờ phút sơ kiến, do bởi hoàn cảnh đặc
biệt của tôi, một tu sĩ đến từ Việt Nam, nhất là chúng tôi lại sanh
trưởng ở những địa phương khác nhau. Thầy Như Ðịnh quê ở Quảng Ngãi, còn
tôi ở Huế. Quả thật, lúc đầu tôi có hơi lo. Trong thâm tâm, tôi mong
được cùng ở chung với một thầy người Huế hay Quảng Trị, vì dù sao tình
đồng hương cũng làm tôi an lòng hơn. Tuy nhiên, giá trị của thời
gian sống chung với vị Tỷ-kheo đáng kính này đã cho tôi thấy được sự sai
lầm của ý niệm chấp thủ, cụ thể là trong trường hợp này.Sau vài giờ
chuyện trò, những khoảng cách về địa lý, ý thức vùng miền... giữa chúng
tôi đã được lấp kín bởi sự thông minh, dí dỏm, cởi mở, đặc biệt là nụ
cười hoan hỷ của người bạn đồng liêu. Càng sống chung với thầy tôi
lại càng cảm nhận được nguồn nội lực tâm linh của thầy. Lối kiến giải
sắc sảo về kinh luật, những kinh nghiệm tu học ở xứ người của thầy thật
sự là nguồn kinh nghiệm quý giá đối với tôi trong việc tu tập cũng như
hoằng pháp. Thầy sống rất giản dị, chân chất; đặc biệt là tính khiêm
cung và hạnh hỷ xả. Chân tình của thầy đã làm tê cứng những suy nghĩ
mang tính phân biệt, xã giao, kiểu cách, hoặc những thứ có cùng gốc ngọn
trong lòng tôi.
Quả thật, tôi đã học ở người pháp hữu này
rất nhiều. Ðúng như lời các bậc tiền nhân dạy “học thầy không tày học
bạn”. Qua đây tôi lại rút thêm được một bài học khác. Ðó là nếu bạn muốn
có nhiều niềm vui và an lạc trong cuộc sống thì trước hết bạn hãy mở tấm
lòng hoan hỷ của mình đến với mọi người. Bởi vì, theo cách hiểu thông
thường, ai gieo nhân gì thì sẽ nhận được quả ấy. Câu chuyện trong tuyển
tập “Nghệ Thuật Sống” trích từ Internet sẽù minh hoạ cho tư tưởng này.
Một đứa bé, trong một trạng thái tâm lý buồn bực, chạy ra bên bờ rừng và
hét to “Tao ghét mày”. Lập tức, nó nghe cùng câu nói “tao ghét mày” vọng
lại. Âm thanh phản hồi này đã khiến chú bé hoảng sợ. Nó chạy vội về nhà
và kể lại với mẹ. Mẹ nó bảo rằng con hãy ra lại chỗâ ấy và nói rằng “tao
thương mày”. Nó đã làm như thế và tiếng vọng “tao thương mày” của núi
rừng đã loại trừ ngay tâm lý buồn bực trong lòng của chú bé.
Thật là giản đơn nhưng rất ý vị. Chắc chắn
những gì có được từ cuộc sống chung với thầy Như Ðịnh trong mùa an
cư năm Giáp Thân-2004 sẽ là song hành với cuộc đời tu tập của tôi
trong hiện tại cũng như tương lai.
Tu Viện Quảng Ðức, Mùa An Cư Giáp Thân-2004
^
Công Án – Koan
Alexander Eliot – TK Nguyên Tạng
(dịch
Khi sơ Tổ Bồ Ðề Ðạt Ma đến Trung Hoa, Vua
Lương Võ Ðế cho mời ngài đến để hỏi đạo. Nhà vua tưởng mình sẽ được nghe
một bài thuyết pháp, nhưng Tổ chỉ nói: “rỗng tếch, có gì thiêng liêng
đâu !”.
Ngạc nhiên và có lẽ chấn động vì sự cộc lốc
đó, Vua Võ Ðế hỏi rằng Tổ Bồ Ðề Ðạt Ma nghĩ mình là ai mà lại nói như
vậy. Bồ Ðề Ðạt Ma nhăn mặt, gải đầu, rồi trả lời:“ Ta không biết”.
Giận và bất mãn, Vua Võ Ðế cho vị khách của
mình lui ra. Sau đó vua đã suy ngẫm về những câu nói của Tổ và nghĩ rằng
Sơ Tổ Bồ Ðề Ðạt Ma không phải là một người khờ. Vua lại cho mời tổ nhưng
không thấy ngài đến. Các sứ giả của Võ Ðế đi tìm khắp nơi rồi trở về tâu
là tổ Bồ Ðề Ðạt Ma đã biến mất. Thế là Võ Ðế càng giận và bất mãn hơn
trước. “Tuy nhiên gió nam vẫn tiếp tục thổi”, như một nhà bình
luận Trung Hoa đã ghi chú bên lề của truyền thuyết này.
Gió thổi nơi nào nó muốn, người ta nói như
vậy, và khi toạ thiền, những ý nghĩ của hành giả vẫn nổi lên như thường
lệ. Ðiều quan trọng là không theo đuổi những ý nghĩ đó khi chúng xuất
hiện. Hành giả chỉ ngồi yên, quan sát một chút, nhưng không nhìn nhiều
qua con mắt của tâm trí. Dường như những bọt bong bóng tri thức thành
hình trong bụng, nổi lên, rồi vỡ ra, tan biến vào hư không. Tiến trình
này không giống kỹ thuật “ liên tưởng tự nhiên” của các nhà phân
tâm học, vì không cần có sự liên tưởng nào cả, dù tự nhiên hay có tính
toán. Hành giả cứ để cho ý nghĩ xuất hiện, không theo đuổi chúng, cho
tới khi chúng đi xa ngoài tầm ý thức của mình, giống như Bồ Ðề Ðạt Ma
biến khỏi triều đình của Lương Võ Ðế.
Tổ Bồ Ðề Ðạt Ma trú trong một hang núi
trong chín năm, chỉ ngồi quay mặt vào vách đá. Cái hang đá đó là thai
bào tâm linh của ngài. Nhưng cuối cùng một người đến tìm, hy sinh một
cánh tay của mình, làm rộn thời thiền của Ngài. Ngài hỏi người mới đến:
-
“ Ngươi muốn gì ?”
-
“Xin Thầy an tâm cho con”, vị
ấy trả lời.
-
“ Cho ta thấy tâm của ngươi, rồi
ta sẽ làm cho nó an”.
-
“Con không tìm thấy nó ở đâu cả”.
-
“ Ngươi đã được an tâm rồi đó”.
Không giống như Lương Võ Ðế, người một tay
này trở thành vị tổ thứ hai của Thiền Tông Trung Hoa, đó là nhị tổ Huệ
Khả.
Chuyện này có ý nghĩa gì ? Khi không tìm
kiếm gì nữa mà sống với hiện tại, người ta sẽ bỏ được tham vọng, tham
dục và tâm trí được yên tĩnh. Nhưng khi còn ở trong thế gian này người
ta không thể hoàn toàn bỏ được tính tham. Tham dục là động lực của sự
sống. Người ta có thể sửa đổi những ước muốn của mình cho tốt đẹp hơn,
nhưng trong cuộc đời này người ta không bao giờ giải trừ một phần nỗi
đau vi tế và rộng khắp của sự làm người. Như vậy, sự chết có phải là lời
giải không?
Mới đây tôi nằm mơ thấy Tổ Bồ Ðề Ðạt Ma
xuất hiện. Ngài ẩn hiện trong không khí giống như một bóng ma, một người
to lớn, hai mắt lồi, đôi lông mày rậm. Với bộ râu tua tủa của ngài khiến
người ta không thể biết là ngài đang cười hay đang nhăn mặt. Ngài nói
nhỏ qua hàm râu: “ nhà ngươi có vẽ đã trưởng thành, nhưng lại chưa
bao giờ giết ai cả. Tại sao vậy?”
Tôi cố gắng nói: “ Thiền tông có
cách truyền thừa đặc biệt, ngoài việc giết người”. Nhưng khi tôi nói
như vậy, một nỗi nghi ngờ làm cho tôi thức dậy. Giấc mộng ấy làm tôi
hoang mang, nhưng tôi vẫn bắt đầu thời khóa tu tập trong ngày là toạ
thiền. Thật là khủng khiếp, hình ảnh Bồ Ðề Ðạt Ma mà tôi gặp trong giấc
mộng đêm qua đã hiện ra trước mắt tôi. Các vị thầy của tôi đã dạy rằng
khi tham thiền, hành giả có thể bị ma chướng khuấy phá, nhưng đừng chú ý
tới chúng, vì vậy tôi nhìn xuyên qua hình Bồ Ðề Ðạt Ma cho tới khi hình
ảnh ấy tan biến. Làm như thế có đúng không ? Lúc đầu tôi rất sợ, nhưng
sau đó tôi bớt sợ hơn, vậy có nghĩa là tôi đã làm đúng. Tuy nhiên khi
nghĩ lại tôi muốn mình có thể hỏi Bồ Ðề Ðạt Ma là người có ý gì khi đề
cập đến việc giết người.
Theo triết lý Phật Giáo thì sự chết không
phải là lực bên ngoài, cũng không phải là nơi để trốn tránh. Kinh Kim
Cương là một trong những bản kinh nói rằng không có cái ‘ta’ nào
để giải thoát, cũng không có gì ngoài bản thân để tránh hay để chứng
đắc, sự chết chính là sự sống. Lục Tổ Huệ Năng chứng nghiệm cả sự chết
lẫn sự tác sinh trong cùng một khoảng khắc, khi ngài nghe được tiếng
tụng Kinh Kim Cương.
Nhưng Tổ Huệ Năng nói rằng lời Kinh không
có ý nghĩa gì đối với ngài, và tính chất của giáo lý là không rõ ràng.
Ngài cho rằng ngay cả ngồi thiền cũng có thể là một cái bẫy, và tốt nhất
là không theo pháp môn nào cả, vì thói quen đều có hại. Ngài khuyên
người ta phải bỏ kinh sách. Về sau “ Huệ Năng Pháp Bảo Ðàn Kinh”
trở thành đề tài ưa chuộng trong tranh thiền. Chắc chắn Tổ Huệ Năng cũng
sẽ xé cả tranh nữa, nếu ngài gặp một bức.
Bạn đồng môn của Tổ Huệ Năng là Ngài Thần
Tú có làm một bài thơ nói về một giáo thuyết của Phật Giáo rằng “
thân người giống như cây bồ đề, tâm giống như đài gương, phải giữ
cho thân và tâm được sạch bụi”. Tổ Huệ Năng cũng làm một bài thơ
khác đối lại rằng “không có cây bồ đề hay tấm gương nào cả, vì vậy
không có gì để bám bụi trần”. Sau đó, khi ngài Thần Tú đuổi theo
ngài để hỏi pháp giác ngộ, Tổ Huệ Năng nói: “ ngay lúc này, không
nghĩ thiện, không nghĩ ác, cho ta thấy khuôn mặt của anh trước khi cha
mẹ sinh ra”.
Ðó là công án đầu tiên trong số 1.700 công
án làm thành khối lượng văn chương và giáo lý đặc thù của Thiền tông. Tổ
Huệ Năng thật sự đã mở đầu một truyền thống. Các Thiền sư của phái Lâm
Tế nói riêng đã đặt ra nhiều công án cho các đệ tử của mình với mục đích
là đưa họ đi xa theo khúc quanh mà họ có thể gặp được trên bước đường
trở về cội nguồn tâm linh, ví dụ: - “ Hãy nghe tiếng vỗ của một bàn
tay”, “ Ngừng chiếc tàu trên biển xa”, - “ Nói cho ta biết, một là gì
?”.
Có hàng trăm câu trả lời nổi tiếng cho
những công án này, nhưng các câu trả lời này không giúp gì nhiều cho một
đệ tử, vì y cần phải có câu trả lời tự nhiên phát ra từ trong tâm của
mình, để thầy của y nghĩ là y đã thực sự hiểu và sống với công án đó. Vì
vậy trong việc quán chiếu công án, hầu như trong tất cả các trường hợp,
đệ tử sẽ đối diện vị lão sư nhiều lần và y có thể mỗi lúc mỗi tuyệt vọng
hơn, có thể gần như loạn trí, và cũng có khi giác ngộ bất ngờ (đốn ngộ).
Thói thường, người đệ tử phải hơn một lần hoát nhiên đại ngộ. Sự kiện
bao nhiêu lần đốn ngộ tùy thuộc ý chí hơn là sự thông minh của y. Các đệ
tử được coi là phải trải qua khoảng 600 công án trước khi được phép lập
tu viện thu nhận đệ tử riêng của mình. Ðiều này gợi nhớ một nguyên tắc
cũ của phân tâm học, đó là chính các nhà tâm phân học phải đã được phân
tích tâm lý trước khi được phép hành nghề. Nghĩa là tất cả, trừ người
sáng lập môn phân tâm học, ông Sigmund Freud.
TK Thích Nguyên Tạng trích dịch từ nguyên bản tiếng Anh: “
Zen Edge” của Thiền sinh Alexander Eliot, do nhà xuất bản Thames &
Hudson ấn hành năm 1976 tại Anh quốc. Bản Việt dịch sẽ được Tu Viện
Quảng Ðức xuất bản vào mùa Phật đản năm 2006.
Koans
When Bodhidharama, the First Patriarch of
Zen, came up from the south into China, the Emperor Wu sent for him and
asked some questions concerning the highest good. He expected a sermon
in reply, but Bodhidharma’s answer was:
‘Emptiness, and nothing holy.’
Astonished and possibly shocked by that
abrupt rejoinder, the Emperor next inquired who Bodhidharma thought he
was, to talk so. Bodhidharma frowned, scratched himself, and confessed:
‘I do not know.’
Cool, disappointed, Wu dismissed his guest
The Imperial audience was over for that day. Later on, however, when he
had given himself an opportunity to ponder what was said, Wu came to
feel that Bodhidharma was no fool. He sent for the missionary again, to
no avail. The Emperor’s emissaries searched far and wide, returning to
report that Bodhidharma had disappeared. So poor old Wu died cooler and
even more disappointed than before. “The south wind however”, as
a Chinese commentator noted in the margin of his legend, still continued
to blow.
The breeze blows where it chooses, they
say, and when you do zazen your thoughts keep on bubbling up as
usual. The point is not to pursue them. You simply sit still and watch,
as it were, dimly, not seeing much in the mind’s eye. It is as if
intellectual bubbles formed in the warm darkness of your gut, swirled
slowly up, popped, and dissolved is nothingness. The process does not
resemble the ‘free-association’ techniques developed for psychoanalysis,
because it calls for no association of ideas at all, free or not free.
You let thought go, and go, without pursuit, until it passes out beyond
the borders of your conscious rule, and is gone like Bodhidharma from
the Emperor’s court.
What Bodhidharma had chosen, in preference
to court life and Wu’s queries, was to hole up in a cave for nine years,
staring at stone. That cave was his soul’s womb, and he felt happy
there. But finally a would-be disciple found him and managed – by
sacrificing an arm, no less - to break in on Bodhidharma’s
profound meditation. This time, however, the First Patriarch himself was
the one to ask questions.
‘What do you want?’ he began.
‘Peace of mind!’ was the would-be
disciple’s reply.
‘Show me your mind, in that case, and I’ll
pacify it.’
‘I...can’t find it now.’
‘You see? Already pacified!’
Unlike Bodhidharma’s abortive interview
with Emperor Wu, this one ended happily. The one-armed would-be disciple
who had failed to locate his mind on demand became the Second Patriarch
of Zen. What does the legend mean? Simply that when you no longer seek,
but are, then you put the worst of thirsty craving behind, and achieve
peace of mind. Fair enough, but all the same you cannot altogether
overcome greedy passion while in the flesh. Desire is the entire
circuitry of life on this planet. You may refine your appetites no end,
but you never in this world so much as begin to eliminate the subtle and
all-pervasive pain of being human. Is death an answer, then?
I recently had a dream in which Bodhidharma
appeared. He was floating huddle of a man, rotund, ghostly, with bulging
eyes and bulbous brow. Was he grinning, or grimacing? His coarse
bristling whiskers made this impossible to tell. ‘You seem to be a
grown-up man,’ he whispered through the beard, ‘yet you’ve never killed
anyone. How come?’
‘There is a special transmission of Zen
outside killing!’ I tried to say. But, even as I spoke, a growing
sense of doubt brought me awake.
Badly shaken by the dream, I none the less
pursued my standard practice of starting the day with zazen
meditation. To my horror, the same Bodhidharma figure which I had
encountered in dream came gliding between the wall and my waking eyes.
Fortunately, my instructors had warned that I might occasionally be
disturbed by makyo, visions of a suspicious nature, while
practising zazen. I had been told simply to ignore such
apparitions. And so, religiously, if that is the word, I stared right
through Bodhidharma’s image until it frayed out upon the air and
disappeared.
Was that really the right thing to do? I
was badly frightened for a moment or two, and afterwards less so, which
indicates that the answer is yes. In retrospect, however, I would give a
good deal to be able to question the figure. What did he mean about
killing?
Death is no alien force, nor even a refuge,
according to Buddhist philosophy. The Diamond Sutra is just one of the
many sacred texts to maintain that no one person has a ‘self’ to save.
No, nor anything other than self to avoid or achieve. Death is the same
as birth. The Sixth and final Zen Patriarch – Hui Neng was his name –
experienced both death and re-birth at one and the same instant, when he
happened to overhear the chanting of the Diamond Sutra.
Yet the words themselves had meant nothing
to him, Hui Neng insisted even afterwards, explaining that all doctrine
is by nature dark. Even zazen can be a trap, he taught; it is
best to pursue no discipline at all. Habit deadens. As for sacred texts,
they ought to be destroyed, he said. ‘Hui Neng tearing up the Sutras’
was to become a favourite subject of Zen art, later on. Doubtless the
old man would have torn up the pictures too, if he could.
One of Hue Neng’s many rivals once wrote a
poem, a pretty little poem to maintain an old Buddhist doctrine; namely,
that the human body itself resembles the bo tree beneath which the
Buddha received enlightenment, that the human mind resembles a silvered
mirror, and finally that both body and mind ought to be kept dust-free.
Hui Neng responded to the poem with a brief, obscure and at the same
time brutal blast. There is no bo tree, there is no mirror, there is
nothing to dust, he objected. Soon after that exchange occurred, the
priest the poet who had been Hui Neng’s rival pursued him, begging for
enlightenment. Hui Neng obliged with an impossible demand:
‘At this very moment, without thinking of
good or evil, show me the face you had before your parents were born!’
That was the first of some 1,700 so-called
koans-meaning icy conundrums and mad commands –which now constitute the
specifically Zen corpus of religious literature and instruction. Hui
Neng really started something. Roshis, or Zen masters of the Rinzai sect
in particular, set koan after koan to the monks in their charge. Each
koan, like Hui Neng’s own, appears designed to send disciples so far
round the bend that they may meet themselves on the return journey.
Examples are:
‘Listen to the sound of one hand clapping.’
‘Stop the ship on the distant ocean.’
‘Tell me, what is one?’
Famous replies to these koans, and hundreds
more like them, are common property. Yet these prove small help to the
student, for he is required to respond from heart, spontaneously, in
such a manner as to convince the roshi that he really does kushu
or understand the koan to the point of living it. Therefore sanzen,
as koan-work is known, almost invariably calls for of-repeated
confrontations with one’s roshi, leading to ever deeper despair,
near-breakdown and – on occasion – breakthrough as well. More than one
breakthrough is demanded, as a rule. Just how many, depends upon the
novice’s own ambition and strength of will rather than his intelligence.
Roshi-trainees themselves are said to pass an average 600 koans before
receiving permission to set up shop – or rather, temple – as practising
roshis themselves. In this respect, Zen ethics recall the old code of
psychoanalysis, according to which professionals in that field must
themselves have been psychoanalysed. All but the founder, Freud, that is
to say./.
^
Lời Phật dạy
TK. Tâm Thành
Ở Ấn Ðộ, khi những cơn mưa đầu mùa hạ bắt
đầu nặng hạt cũng là lúc Tăng đoàn đệ tử Phật cùng nhau tụ họp tại một
trú xứ để kiết giới an cư. Ðây là một truyền thống rất quan trọng và có
nhiều ý nghĩa, vì vậy mà các đệ tử Phật luôn tôn trọng và duy trì một
cách liên tục từ lúc Ngài còn tại thế cho đến ngày nay. Một mặt, kiết hạ
an cư là thể hiện lòng tôn trọng những di ngôn của đức Ðạo Sư
trước lúc Ngài nhập diệt , thể hiện lòng từ đối với chúng sanh. Mặt
khác, an cư cũng là thời kỳ để Tăng Ni và Phật từ cùng nhau họp lại để
làm nhiều thiện sự.
Các bậc trưởng lão, tôn túc gặp nhau để
trao đổi những kinh nghiệm tu hành và hoằng pháp trong thời gian chín
tháng du hành hóa đạo. Các đệ tử xuất gia khác cùng nhau sống hoà hợp,
thanh tịnh trong thời gian ba tháng tại một trú xứ để được học tập và
hành trì lời Phật dạy dưới sự chỉ dẫn trực tiếp của những bậc Tỷ-kheo
thanh tịnh và thiện xảo về giới đức, tâm đức và tuệ đức cũng như kinh
nghiệm hành trì. An cư cũng là thời điểm mà mối quan hệ giữa hai chúng
xuất gia và tại gia đệ tử Phật được thắt chặt lại, vì đây là khoảng thời
gian để chúng Phật tử tại gia thực hiện bổn phận hộ trì Tăng-già; đồng
thời tín đồ tại địa phương cũng có nhiều thời gian được thân cận, gần
gủi và tu học với nhiều bậc cao tăng thạc đức.
Khi Phật giáo truyền bá vào nhiều quốc gia,
xứ sở khác nhau, truyền thống này cũng được Phật giáo đồ mọi nơi
tuân thủ một cách nghiêm túc theo đúng mùa hạ của xứ Phật, dù thời tiết
của một số quốc độ không phải là mùa mưa. Do vậy, hằng năm khi biết được
Tăng-già tổ chức an cư kiết hạ tại một trú xứ nào đó -ví dụ như Úc Châu,
năm nay chư tôn đức Tăng Ni và Phật tử an cư mùa đông tại Tu Viện Quảng
Ðức, tiểu bang Victoria- thì các vị xuất gia có bổn phận vân tập về trú
xứ mà đại tăng quyết định để cùng nhau tu học, ngoại trừ một vài trường
hợp đặc biệt.
Năm nay, tôi có duyên sự sang Brisbane,
thuộc tiểu bang Queensland, Úc Châu để hoằng pháp theo lời mời của Sư Cô
trú trì chùa Linh Sơn và một số Phật tử Brisbane đúng vào mùa an
cư. Ðây có thể xem là một trong những trường hợp khá đặc biệt. Lúc đầu,
tôi khởi lên ý nghĩ rằng có lẽ chư tôn đức Tăng Ni cũng sẽ thông
cảm và hoan hỷ cho tôi nếu tôi không thể đến Tu Viện Quảng Ðức để tu học
cùng Tăng-gìa vì một số khó khăn chủ quan cũng như khách quan. Với tâm
niệm như thế, tôi yên tâm để làm Phật sự tại Brisbane.
Tuy nhiên, một hôm, trong lúc soạn đề tài
“Ý Nghĩa Giới Luật” để giảng cho Phật tử, tôi đọc được mẫu chuyện sau
đây giữa đức Phật và tôn giả Kiếp Tân Na trong Yết Ma Yếu Chỉ.
Vào một thuở nọ, tôn giả Kiếp Tân Na đang
lưu trú tại một nơi thanh vắng. Nhân ngày bố-tát thuyết giới, tôn giả
khởi lên ý nghĩ rằng mình vốn là người trì giới thanh tịnh thì sự lắng
nghe thuyết giới xem ra không cần thiết lắm. Biết được ý nghĩ này của
tôn giả, đức Phật đích thân đi đến khu rừng nơi Kiếp Tân Na đang sống và
nói với tôn giả rằng: “Này Kiếp Tân Na, quả thật điều ngươi nghĩ, dù
ngươi có đến nghe thuyết giới hay không nghe thuyết giới thì ngươi
vẫn là người trì giới thanh tịnh bậc nhất. Nhưng này Kiếp Tân Na, đối
với việc thuyết giới ngươi phải cung kính tôn trọng và chấp hành. Nếu
ngươi không cung kính, tôn trọng và chấp hành thì còn ai sẽ là người
cung kính, tôn trọng và chấp hành sự thuyết giới.”
Sau khi đọc xong câu chuyện này, tôi nhận
ra sự sai lầm trong suy nghĩ của mình, bởi vì nếu chính tự thân tôi
không cung kính, tôn trọng và thực hành lời Phật dạy thì làm sao quý
Phật tử có thể lắng nghe những gì tôi đang trình bày và chia xẻ với họ.
Quả thật, lời dạy này vô cùng quan trọng và
cần được chuyển hoá vào đời sống hàng ngày của hàng đệ tử Phật, xuất gia
cũng như tại gia, đặc biệt là trong hoàn cảnh xã hội hiện nay. Vì chính
nếp sống như pháp, như luật của người con Phật sẽ là những bài pháp hùng
hồn, chuyển hoá tinh thần từ bi và trí tuệ của đức Phật vào cuộc đời,
vốn đang bị lối sống vật chất thực dụng làm xói mòn các truyền thống đạo
đức, tâm linh của nhân loại. Nếu không, chỉ nói về, chỉ lý thuyết, chỉ
mơ ước thì ảnh hưởng của Phật pháp không những rất ít, mà lắm khi lại
phản tác dụng.
Tu Viện Quảng Ðức, Năm Giáp Thân-2004
^
Tu Viện Quảng Ðức
Kính tặng Thầy Tâm Phương, Thầy
Nguyên Tạng
Thầy phát nguyện tinh tấn chí công.
Tâm Thầy bàn bạc tựa Pháp vân
Phương Trượng Linh Sơn thật tuyệt trần
Xây dựng điểm tô nền chánh pháp
Tu hành chơn chất để đền ân
Viện hoằng đạo cả truyền thừa mãi
Quảng chi mệt nhọc khó muôn phần
Ðức hạnh rồi đây đời ghi nhớ
Ðại Tạng Kinh văn ngộ pháp thân
Già trẻ gái trai thầm nể phục
Lam lũ an bần dạ Thánh nhân.
TK. Thích Tịnh Minh
^
Hương Sen Mùa Hạ
TK. Viên Trí
Viết tặng quý Phật tử tại Tu Viện Quảng
Ðức
nhân Mùa An Cư năm Giáp Thân-2004
Mùa kiết đông an cư đã về tại Úc châu.
Trong mấy ngày qua, Tu Viện Quảng Ðức, thành phố Melbourne, ngập tràn
câu kinh tiếng kệ. Tăng ni và Phật tử tham dự khoá tu luôn y áo chỉnh tề
nghiêm trì lời Phật dạy. Các buổi pháp đàm, pháp thoại không những luôn
âm vang trong bầu trời giá lạnh ở đây, mà còn vọng đến những vùng đất xa
xôi như châu Âu, châu Mỹ qua phương tiện internet. Không khí trang
nghiêm và ấm cúng qua các thời khóa tụng kinh, ngồi thiền, nghe pháp,
vấn nghi... đã thật sự đem đến lợi ích và an lạc cho số đông. Việc duy
trì truyền thống đúng pháp này của Tăng-gìa Phật giáo Úc Châu trong
chừng mực nào đó đã làm yên lòng cho giới Phật tử tại gia trung kiên với
đạo. Bên cạnh đó, cuộc sống đạo vị này ắt cũng sẽ là chất kích tố đối
với ai đang có cảm tình với Phật giáo. Quả thật, tại ngôi chùa Việt Nam
này, một lần nữa, lời dạy: “Giới Luật là thọ mạng của chư Phật” lại được
tứ chúng đệ tử của đức Phật tôn kính và thực hành. Chắc chắn những ai
tham gia trường hạ này mà thanh tịnh giới luật của Phật chế sẽ là những
bông hoa tươi đẹp, tỏa hương khắp mọi chân trời, như kinh Pháp Cú đã
dạy:
“Hương thơm các loài hoa, chỉ ngược bay chiều gió,
Hương thơm người đức hạnh, toả ngát khắp muôn phương, Hương thớm bậc
chân nhân, tung bay mọi chân trời”
Tuy nhiên, một hình ảnh khiến tôi xúc động
và lưu ý nhiều nhất trong thời gian tu tập tại đây là hạnh tu thầm lặng
của một số Phật tử trong ban ngoại hộ, gồm các tiểu trai soạn, hành
đường, y tế, âm thanh ánh sáng, vệ sinh, vận chuyển, v.v... Cần lưu ý
rằng số Phật tử này không chỉ là thường trú nhân tại Melbolurne hay tiểu
bang Victoria, mà còn có những thiện nam, tín nữ đến từ Sedney,
Adelaide, thậm chí Darwin, cách đây gần 5.000km, và có cả một đệ tử đến
từ Philadelphia, Mỹ quốc... Họ bao gồm cả người Việt Nam lẫn người Úc.
Ðây là những con người phải thức khuya dậy sớm, gánh vác mọi trách nhiệm
nặng nề, khó nhọc để chăm lo từng buổi ăn cho đại chúng hơn cả 100
người, lo sức khoẻ cho trường hạ, lo chăn áo mền chiếu cho toàn bộ khoá
tu, lo săn sóc bệnh tật cho từng thành viên, đ