Trang tiếng Việt

 Trang Nhà Quảng Đức

Trang tiếng Anh

Truyện Tích Phật Giáo


...... ... .

 
NHÀ XUẤT BẢN THUẬN HÓA - 1995

 

THƯỜNG ÐỀ BỒ TÁT

(BỒ TÁT HAY KHÓC)

 

Nguyên tác: Pháp Sư Long Căn

Thích Chân Tính soạn dịch

--- o0o ---
 

 

Lời tựa
Tập truyện Thường Ðề Bồ Tát (Bồ Tát Hay Khóc) được trích dịch trong cuốn “Vô Thanh Thoại Tập” của Pháp sư Long Căn. Ngoài những truyện kể về cuộc đời các vị Bồ Tát thời quá khứ như Thường Ðề, Thiện Tài đồng tử, Thường Bất Khinh và sự tích các Thánh đệ tử hiện tại như Thương Na Hòa Tu, Ưu Ba Cúc Ða ra, còn có truyện kể vua về A Dục, một tài liệu hiếm quý, giúp chúng ta hiểu thêm cuộc đời nhân vật lịch sử danh tiếng có công lớn đối với việc hoằng hộ Phật pháp.
Nhận thấy tập truyện rất bổ ích nên người dịch đã không quản ngại sức học non kém của mình, cố gắng chuyển dịch ra Việt văn từ bản văn Trung Quốc, để cống hiến cho độc giả đôi chút hương hoa Phật pháp, chứa đựng trong những mẩu chuyện đạo này.
Ðây là dịch phẩm đầu tiên cho nên không sao tránh khỏi những khiếm khuyết. Rất mong chư tôn đức hoan hỷ chỉ giáo cho.
Chùa Hoằng Pháp, ngày 15-07-1993
Người dịch

THÍCH CHÂN TÍNH

 

THƯỜNG ÐỀ BỒ TÁT

 

1.- Vì tiếng khóc mà thành tên thiên hạ đều biết

Thường Ðề là một vị Bồ Tát thanh niên đặc biệt xuất sắc của Phật giáo.

Thường Ðề ra đời vào thời Ðức Phật quá khứ, hiệu Lôi Hống Âm Vương. Không ai biết rõ chàng là người nước nào và cũng không có tên họ chi cả, chỉ biết chàng từ nhỏ hay khóc và cho đến lớn cũng vậy. Ðối trước người đời chàng thường phát ra những lời than thở bi thiết, như muốn tỏ bày tâm sự đau thương bất tận của mình, vì thế mọi người đều gọi là Thường Ðề (Hay Khóc).

Thường Ðề sinh trưởng trong hoàn cảnh nghèo cùng khốn khó, nhờ vậy khi thành nhân đã trui rèn cho mình một tính cách chịu đựng, thân tâm như kim cang sắt đá. Bẩm tính của chàng càng đặc biệt hơn nữa, người ta đánh, chàng không trả đũa, người ta chửi, chàng cũng không giận hờn, chẳng ham thế tục, chẳng ưa trân bảo, nhưng lại rất thích lễ Phật, nghe kinh.

Thường Ðề tánh tình khác người. Bình sinh chàng không nghĩ đến phước lạc thế gian, thân tâm yên định như đá núi, trời lay cũng không sợ, đất chuyển cũng chẳng kinh. Thường Ðề hiểu sâu Phật pháp, biết rõ vấn đề lớn của con người là bị sinh, lão, bệnh, tử bức bách, bị xâm lấn bởi hết thảy khổ nạn. Chỉ tiếc cho người đời mải miết chạy theo danh lợi không tiếc thân mạng, nên bị nó cướp đoạt, khiến cho thiên hạ chẳng được thái bình. Từ khi biết được cái khổ của cuộc đời và con người, Thường Ðề ôm ấp lòng thương cứu nhân độ thế. Chàng biết muốn giải quyết được vấn đề này chỉ có phương pháp học Phật tu hành. Cho nên chàng đã phát đại thệ nguyện tu Bồ Tát đạo, độ hết thảy chúng sinh thoát mọi khổ nạn.

Khi Thường Ðề phát tâm Bồ đề rộng lớn, chàng liền suy nghĩ những vấn đề như: Muốn tu hạnh Bồ Tát phải tu như thế nào? Muốn độ chúng sinh thoát khổ phải độ như thế nào? Trong khi Ðức Phật Lôi Hống Âm Vương không còn tại thế nữa biết hỏi ai bây giờ? Những điều này khiến chàng băn khoăn suy nghĩ, ăn uống không ngon, ngủ nghỉ không yên, trong lòng rối bời, không ngăn nổi đau thương, chàng bèn khóc than đến bảy ngày không thôi, khiến người đời phải kinh hãi ngạc nhiên. Có người bảo chàng là kẻ đần, có người nói là đồ si, cũng có người mắng là thằng điên, chàng thản nhiên không đáp, nhưng vẫn cứ khóc mãi. Vì thế mà trở thành tên, thiên hạ đều gọi chàng là Bồ Tát Thường Ðề (Bồ Tát Hay Khóc)

2.- Chí thành cảm động Phật hiện thân

Tiếng khóc của Bồ Tát Thường Ðề rất chí thành vô tư, nhưng người đời không hiểu lại nói châm nói chọc. Thường Ðề chẳng hề xấu hổ, trái lại tiếng khóc của chàng lại càng thống thiết hơn. Cho đến sáng sớm ngày thứ bảy chợt xuất hiện chuyện lạ thường: Một vị Phật tướng hảo đoan nghiêm, hào quang sáng rực từ trên không giáng xuống đứng trước mặt khiến chàng bối rối vừa mừng vừa sợ. Chàng không thể ngờ là Ðức Phật đã phóng quang đến, ngay lúc ấy chàng chỉ biết chí thành đảnh lễ rồi quỳ trước Ðức Phật, nhưng rồi chàng lại lúng túng không biết thưa hỏi điều gì và cũng quên không hỏi danh hiệu Ðức Phật.

Có một điều mà người đời khó có thể biết được là Ðức Phật vốn ở khắp mọi nơi mọi chỗ, không chỗ nào là không có các Ngài. Cho nên khi Thường Ðề phát tâm Bồ đề và học đạo Bồ Tát liền được các Ðức Phật trong mười phương thế giới cảm nhận. Lúc Ðức Phật xuất hiện, không đợi Thường Ðề thưa hỏi, liền vì chàng mà giải đáp vấn đề.

Ðầu tiên Ðức Phật khen ngợi chàng rằng:

- “Lành thay! Lành thay! Ngươi đối với danh tiếng và lợi dưỡng thế gian đều không tham đắm, một lòng tu học Phật pháp để cứu nhân độ thế. Thật tốt thay! Khó được! Khó được! Ngươi vì cầu pháp mà thành khẩn khóc như vậy khiến Ta rất cảm động. Thật là hy hữu! Hy hữu! Ngươi là người có chí lớn hạnh lớn, nhất định sẽ được thành công như nguyện. Hãy nỗ lực lên, gắng tinh tấn, tinh tấn lên!”.

Tiếp đến Ðức Phật khai đạo cho chàng rằng: “Thường Ðề! Kẻ học Phật độ người phải tu học hạnh Bát Nhã. Bát Nhã là trí tuệ, là phương pháp tự độ mình và độ người, hay cứu hết thảy mọi khổ nạn. Bát Nhã là đạo của Bồ Tát, là chiếc thuyền độ người, năng cứu hết thảy chúng sinh thoát khỏi biển khổ. Chúng sinh trong thế gian rất nhiều, tâm tánh mỗi người mỗi khác, chỉ có thông đạt Bát Nhã mới có thể tùy cơ mà cứu độ giáo hóa. Ta cũng từ chỗ tu theo Bát Nhã mà đạt đến quả vị Phật. Ngươi muốn học Phật độ thế nên tu theo Bát Nhã Ba la mật”.

Rồi Ngài lại chỉ dạy tiếp:

- “Từ đây đi về hướng Ðông khoảng năm trăm dặm đường có một thành tên gọi Chúng Hương. Trong thành có một vị Bồ Tát tên Pháp Thượng, lãnh đạo chúng hội Thanh niên Phật giáo có đến hàng vạn người cùng tham gia nghiên cứu Phật pháp. Hiện tại, Bồ Tát Pháp Thượng đang cử hành pháp hội lớn, tuyên dương Phật pháp, chủ giảng về Kinh Bát Nhã. Ðây là một cơ hội rất khó gặp, ngươi mau đến đó tham dự, chắc chắn sẽ gặt hái được nhiều lợi ích trong việc tu học Phật pháp”.

Thường Ðề nhất tâm lắng nghe lời khai thị của Ðức Phật, thân tâm chìm đắm trong ánh hào quang pháp lạc của Ngài không biết bao lâu, đến khi giật mình sực tỉnh thì không còn thấy Ðức Phật ở trước mặt nữa. Thường Ðề liền hướng lên không trung đảnh lễ ba lạy, cảm tạ Ðức Phật đã quang lâm chỉ dạy.

3.- Nơi chợ bán thân làm kinh động cả Quỷ, Trời

Thường Ðề cảm ứng trước sự phi thường này, cho nên sự tín tâm học Phật càng thêm thâm thiết, nhất tâm ghi nhớ lời chỉ giáo của Ðức Phật. Lúc này trong tâm chàng chỉ tha thiết nghĩ nhớ đến một việc là mong mỏi không bao lâu sẽ được thân cận Bồ Tát Pháp Thượng và nghe pháp Bát Nhã. Chàng tha thiết đến nỗi quên cả thân tâm lẫn thế giới bên ngoài, lần đi vào cảnh giới chân chính quên mất bản ngã mình. Trong cảnh giới tâm linh an định, chàng thấy mình đến chỗ các Ðức Phật ở mười phương thế giới, được các Ngài khuyên bảo sách tấn. Sau khi tỉnh giác khỏi cảnh mộng ảo và quay trở về với thế giới hiện thực, thân tâm chàng cảm nhận được sự khinh an vô hạn.

Do thân tâm sung mãn và hưng phấn khiến cho tinh thần của Thường Ðề càng thêm phấn chấn hẳn lên và chàng quyết tâm phải đến cho được thành Chúng Hương. Nhưng vì không có tiền bạc mua hương hoa dâng cúng Tam Bảo, chàng liền nghĩ kế bán mình làm nô lệ nơi chợ thành. Thế nhưng kết quả chẳng được như ý muốn, không một người nào thèm đoái hoài tới. Chàng buồn rầu la lớn, rồi lại khóc lớn lên làm chấn động cả Quỷ vương.

Quỷ vương thường hay phá hoại Phật pháp, làm chướng ngại lớn cho người tu hành. Quỷ vương rất vui mừng khi thấy có người làm ác và rất sợ trên thế gian có nhiều người học Phật tu hành. Vì nếu có một người học Phật, tu hạnh Bồ Tát, tương lai sẽ độ cho rất nhiều người. Nhiều người học Phật tức là có nhiều người lành, người tốt và người ác sẽ ít đi. Khi đó con cái đệ tử của Quỷ vương sẽ bị giảm dần, quyền uy của Quỷ vương phải bị lay chuyển, thế lực của Quỷ vương phải bị tiêu mất. Cho nên, Quỷ vương bị chấn động bởi tiếng khóc của Thường Ðề, lo sợ lũ quỷ trong cung hoang mang, bèn dùng quỷ thuật ngăn chặn khiến mọi người không thể nghe được tiếng khóc của Thường Ðề.

Mặc dù Quỷ vương thành công trong việc ngăn trở Thường Ðề bán mình làm nô lệ, nhưng không thể nào lay chuyển được tâm chí học Phật chắc như sắt đá của chàng. Và tiếng khóc của chàng lại càng bi thương thống thiết hơn nữa, oán trách thân thể của mình kiếm tiền còn thua loài trâu ngựa.

Tiếng khóc của Thường Ðề cũng làm kinh động đến Thiên cung là nơi ở của Ðế Thích Thiên Chủ. Thiên Chủ rất ủng hộ Phật pháp, một lòng bảo vệ người học Phật. Thấy Thường Ðề còn trẻ mà đã phát tâm Bồ đề cứu nhân độ thế, Thiên Chủ rất lấy làm hoan hỷ và tôn kính, nhưng e sợ ý chí của chàng không kiên định, thế nên Thiên Chủ liền biến thành một người Bà-la-môn đến trước mặt Thường Ðề nói:

- Anh muốn bán thân, nay tôi cần tủy máu của người để tế thần, anh có thể bán cho tôi không?

Thường Ðề đang khổ sở vì bán thân mà không ai chịu mua, chợt có người đến hỏi mua tủy máu, chàng rất vui mừng chấp nhận ngay ý nguyện này không một chút do dự đắn đo. Trong lúc chàng cầm dao định chích thân lấy huyết, Thiên Chủ liền xuất hiện nguyên hình, nói rõ ý của mình, rồi ca ngợi Thường Ðề rằng: “Anh là người chí thành học Phật cầu pháp không tiếc thân mạng khiến tôi đây rất lấy làm kính phục. Tôi xin chúc lành cho anh được thành công trong việc cầu pháp. Anh không nên chích máu lấy tủy nữa mà cần phải bảo vệ thân thể cho được tốt lành để tu hành. Anh cũng không nên bận tâm đến việc không có tiền, nếu anh muốn có hương hoa để cúng Phật sẽ có người đem cho. Trân trọng thay! Tâm Bồ đề tối cao vô thượng của anh!”.

Thiên Chủ nói xong liền biến mất. Thường Ðề vừa kinh sợ vừa vui mừng, mặc dù việc bán huyết không thành công nhưng nội tâm chàng rất an ổn hoan hỷ. Do vì chí hạnh kiên cố của chàng nên mới có sự cảm ứng dị thường đó.

Việc bán thân và chích huyết của Thường Ðề được một nữ trưởng giả giàu có tình cờ trông thấy. Bà rất lấy làm khâm phục cảm động và tự nguyện hỗ trợ chàng đi đến thành Chúng Hương. Bà hứa sẽ cung phụng hết thảy tiền của vật dụng lên Bồ Tát Pháp Thượng và đại chúng trong hội Thanh niên Phật giáo theo ý muốn của Thường Ðề. Bà cũng phát tâm học Phật, khuyên các thị nữ hầu cận bên mình đồng theo Thường Ðề quy y Tam Bảo, nghe pháp Bát Nhã và thân cận Pháp Thượng thiện tri thức. Ðiều này khiến Thường Ðề rất lấy làm cảm động, phấn khởi, chàng liền chấp nhận sự hỗ trợ và nguyện vọng của nữ trưởng giả, đồng thời chàng cũng tổ chức thành một đoàn người cầu pháp. Nữ trưởng giả đem theo rất nhiều vàng bạc châu báu và mua sắm đầy đủ các thứ hương hoa, phẩm vật cúng dường, chở trên các cỗ xe, hướng về thành Chúng Hương.

4.- Trên hội Bát Nhã, vui mừng thành công

Thành Chúng Hương là nơi giáo hóa thù thắng của Ðức Phật. Trong thành kiến thiết trang nghiêm không thể tả. Ðường phố bằng thẳng, không một chút bụi dơ, bốn phương tám hướng nhà cửa dân chúng ở san sát nhau. Lâu đài điện các trang hoàng bằng thất bảo, cờ xí giăng khắp mọi nơi. Chim hót líu lo, hoa hương thơm ngát khắp nơi. Du khách mặc tình dạo chơi tại các công viên hoặc bơi lội thỏa thích trong các ao hồ. Dân chúng người người thân tâm khỏe mạnh thơ thới, sinh hoạt rất hòa thuận vui vẻ. Nét đặc sắc của thành Chúng Hương, nơi Phật giáo hóa, thế đất sung mãn hẳn ra.

Trụ sở hội Thanh niên Phật giáo rất nguy nga tráng lệ, tọa lạc tại khu trung tâm của thành. Bồ Tát Thường Ðề hướng dẫn đoàn cầu pháp đang trên đại lộ tiến vào thành. Xa xa đã trông thấy người người nô nức đi đến chỗ hội Thanh niên Phật giáo thành một biển người di động, khiến đoàn cầu pháp của Thường Ðề càng thêm phấn chấn, họ hòa trong dòng người để cùng tiến đến pháp hội. Nơi thuyết pháp là một giảng đường rộng lớn, ở giữa thiết kế hai tòa đại bửu cao lớn. Một tòa là nơi cúng dường Kinh Bát Nhã để mọi người chiêm ngưỡng lễ bái. Còn tòa kia là nơi Bồ Tát Pháp Thượng an tọa giảng Kinh Bát Nhã. Thính chúng trong ngoài giảng đường thật đông đảo nhưng không khí rất yên tĩnh, một tiếng động nhỏ cũng không có, cảnh tượng thật là trang nghiêm kính cẩn. Giảng đường tuy rộng lớn nhưng pháp âm rất rõ ràng khiến người người đều nghe được hết.

Thường Ðề hướng dẫn đoàn tiến vào một góc giảng đường, yên lặng lắng nghe. Ðến khi Bồ Tát Pháp Thượng tuyên giảng xong, chàng mới dẫn đoàn vào thăm hỏi lễ bái, bày tỏ ý nguyện của mình, rồi dâng các báu vật và hương hoa cúng dường. Phẩm vật được chia làm hai phần, một phần cúng dường Kinh Bát Nhã và Bồ Tát Pháp Thượng, phần còn lại dâng cúng cho hội Thanh niên Phật giáo, số vàng bạc có tới hàng vạn.

Bồ Tát Thường Ðề rất khâm phục biện tài của Bồ Tát Pháp Thượng, liền thỉnh cầu ngài dũ lòng từ bi thâu nhận họ làm đệ tử, chỉ dẫn cách thức tu hành Bát Nhã và đạo Bồ Tát. Họ mong mỏi Bồ Tát Pháp Thượng nhận họ vào hội Thanh niên để nương tựa đức độ của ngài và tu học dưới sự hướng dẫn của ngài, họ khỏi phải sợ trái với hạnh nguyện Bồ Tát.

Những lời thỉnh cầu này đều được Bồ Tát Pháp Thượng hứa khả. Công việc hướng dẫn đoàn cầu pháp của Thường Ðề đã thành công viên mãn, mọi người vui mừng khôn xiết, đồng thời họ cũng được quy y Tam Bảo dưới sự chứng minh của Bồ Tát Pháp Thượng, phát khởi tâm đại Bồ đề, lập nguyện lớn hành đạo Bồ Tát, vì cứu nhân độ thế mà hy sinh thân mạng, vì việc giải trừ hết thảy mọi khổ nạn cho chúng sinh mà phục vụ. Họ chính thức trở thành những tân học Bồ Tát được hết thảy mọi người trong cộng đồng hội tán thán ngưỡng mộ.

5.- Tán ngưỡng tên Thường Ðề được lưu truyền

Trên thế gian này không có người nào không khóc, nhưng xưa nay khó kiếm được một người nào do khóc mà thành tên như Thường Ðề. Bồ Tát Thường Ðề sầu khổ không phải vì những tư lợi ích kỷ của sự nghèo khó, mà chính là vì thiên hạ muôn dân khổ nạn cho nên chàng mới thương tâm. Vì thấy chúng sinh cầu Phật pháp trên thế gian này không có bao nhiêu người, và không làm sao khiến cho lòng người sinh tín ngưỡng được, cho nên chàng mới khóc để tỏ bày tâm sự đau thương bất tận của mình.

Vậy nên có bài kệ ca ngợi rằng:

Kính lạy Thánh giả Thường Ðề xưa,

Chẳng lo đói lạnh chẳng ưa tranh.

Chỉ nghĩ muôn dân bao khổ nạn,

Mong cầu Phật đạo cứu quần sinh.

Khóc để muôn dân bừng tỉnh ngộ,

Khóc cho Thần, Quỷ phải thất kinh.

Quy y Pháp Thượng tu Bát Nhã,

Mười phương thế giới mãi tên truyền.

 

BỒ TÁT THƯỜNG BẤT KHINH

 

Quá khứ có Phật, hiệu Uy Âm Vương, thần trí vô lượng, dạy đạo hết thảy, Trời, người, thần, rồng, quy kính cúng dường. Sau Phật diệt độ, lúc pháp sắp hoại, có một Bồ Tát, tên Thường Bất Khinh. Trong lúc tứ chúng, bàn luận về pháp, Bất Khinh Bồ Tát, đến nơi chỗ họ, nói lời như vầy: “Ta chẳng khinh người, các người hành đạo, sẽ được thành Phật”. Mọi người nghe rồi, khinh chê mắng chửi, Bất Khinh Bồ Tát, đều nhẫn nhục chịu.

Trích Kinh Diệu Pháp Liên Hoa

Phẩm Thường Bất Khinh

1.- Phật giáo ở vào thời Phật Uy Âm Vương

Thường Bất Khinh là một vị đại Bồ Tát xuất gia theo hạnh Bồ Tát, ra đời vào thời Ðức Phật Uy Âm Vương thuộc về quá khứ rất lâu xa. Lúc ông ra đời thì Ðức Phật Uy Âm Vương đã diệt độ lâu rồi, giáo pháp do Ðức Phật lưu truyền lại thế gian, chính pháp đã diệt tận, tượng pháp cũng đang ở vào giai đoạn suy tàn.

Lúc bấy giờ, tứ chúng Phật tử đối với việc tu học Phật pháp phần lớn xu hướng truy cầu theo danh lợi từ chương, chấp trước vào văn tự, cạnh tranh theo hình tướng bên ngoài. Họ cho sở học sở hành của mình là tối thượng tối thắng, lời nói việc làm của mình là tối diệu tối cao, lần lần trở thành một đoàn thể xu hướng tăng trưởng ngã mạn. Cho nên Phật pháp đương thời, về hình thức trông rất hoàn mỹ nhưng nội dung tinh thần thì không có gì, danh tự còn mà thật tướng mất. Mọi người mong mỏi có một nhân vật xuất chúng ra đời để phục hưng chính pháp. Trong lúc nguy cấp này, Bồ Tát Thường Bất Khinh đã xuất hiện. Ngài là bậc Thánh giả kiệt xuất đứng ra vận động canh tân hầu cứu nguy Phật pháp.

2.- Sự xuất gia của Bồ Tát Thường Bất Khinh

Bồ Tát Thường Bất Khinh ra đời vào thời kỳ tượng pháp của Ðức Phật Uy Âm Vương đang suy vi. Ðại sĩ do nhờ tuệ căn sâu dày, hiểu sâu chân lý đạo Phật, nhận thấy tứ chúng học Phật chỉ xu hướng đàm huyền thuyết diệu, truyền sai nghĩa lý Phật pháp, không coi trọng việc thực hành chứng quả. Ðiều này khiến cho Phật pháp đi đến chỗ suy vong, bởi vì Phật pháp không chỉ có học hiểu mà cần phải có hành thì mới có thể hoàn chỉnh và kiện toàn được. Ðức Phật từng nêu rõ: “Hiểu và hành tương ưng, phước và huệ song tu”. Nếu chỉ chuộng đàm luận lý lẽ cao siêu về các cảnh giới Thánh hiền, mà coi nhẹ việc hành trì chân thật thì không những đưa Phật pháp đến chỗ suy vi, mà còn khiến cho hết thảy chúng sinh bị tổn hại rất lớn, làm mất đi lợi ích cứu tế chân chính của Phật pháp, làm mai một đi hiệu quả của việc cứu độ hết thảy khổ ách cho chúng sinh.

Thường Bất Khinh thấy rõ được nguy cơ của Phật pháp đương thời nên phát tâm rộng lớn muốn cứu vãn tình thế, lập chí uốn nắn lại thiên kiến của Phật tử, bèn xả tục xuất gia, gia nhập Tăng đoàn, lãnh lấy trách nhiệm trọng yếu là giữ gìn chính pháp, phát nguyện Bồ đề, tu hạnh Bồ Tát, phát dương tinh thần chân chất bình dị của Phật pháp. Sau khi xuất hiện một vị Bồ Tát xuất gia như thế thì tinh thần Phật giáo trở nên sinh động hẳn. Trong tứ chúng Phật tử đã từng có những sự tích hết sức bi tráng và cảm động lòng người, khiến Tăng tục xưa nay một lòng tôn sùng ngưỡng mộ, lưu truyền cho đến hiện tại của chúng ta vẫn còn tiếp tục noi theo mà học tập.

3.- Phản đối tư tưởng cũ chỉ chuyên đọc tụng kinh điển

Bồ Tát Thường Bất Khinh ứng theo thời vận mà sinh ra đời, ôm ấp hoài bão cứu vãn Phật pháp, chỉnh đốn những sai trái, cho nên sau khi xuất gia liền thực hiện việc vận động cách tân. Tứ chúng học Phật lúc bấy giờ thâm nhiễm tăng thượng mạn mà không biết, chuyên lấy việc đọc tụng, giảng thuyết, biên chép cho là Phật pháp, Phật pháp chính là đây, đây chính là Phật pháp. Những hạng tăng thượng mạn này chưa đắc nói là đắc, chưa chứng nói là chứng. Bồ Tát Thường Bất Khinh đầu tiên nhắm vào xu hướng học tập thiên kiến này là đưa ra tư tưởng mới “Không chuyên đọc tụng kinh điển” để cứu trị. Không chuyên đọc tụng kinh điển không có nghĩa là phế bỏ kinh điển, không cần kinh điển, mà là để cảnh tỉnh mọi người không nên cố chấp vào kinh điển mới chứng đắc Phật pháp. Phật pháp chân thật không phải là kinh điển, không phải là chỗ hay đọc tụng, mà Phật pháp phải từ trong chỗ hiểu thấu kinh điển để thực hành, nương theo sự thực hành mà chứng quả, có như thế mới khế nhập được chân lý của Phật pháp. Tư tưởng mới này khác hẳn với xu thế học tập đương thời, trái với luận điệu tín hành của đại chúng. Nó giống như một tiếng sét trên không làm chấn động tứ chúng Phật tử, cảnh tỉnh những kẻ mê mộng chấp trước vào văn tự. Bồ Tát Thường Bất Khinh dám vì Phật pháp mà rống lên tiếng rống của sư tử, chứa đựng đầy đủ tinh thần vô úy. Những người có tâm học Phật chân chính đã bắt đầu chuyển động, từ xu thế thiên kiến chuyên đọc tụng và giảng thuyết, nghiên cứu kinh điển đều chuyển qua hướng vận động mới này là lo gấp rút tu hành để liễu ngộ.

4.- Ðề xướng phong cách mới bình dị, thật thà, một lòng một dạ thực hành

Việc vận động cách tân của Bồ Tát Thường Bất Khinh không chỉ nói hay bàn giỏi trên miệng lưỡi, không chỉ có lời kêu gọi vang dội mà thật ra trong ấy chứa đựng hành động rất thực tiễn. Có phải cái hành động thực tiễn ấy là một pháp khó hành trì và cực kỳ cao thâm rộng lớn chăng? Sự thật thì không phải như thế. Trái lại, phong cách mới này chỉ có “thực hành lễ bái” mà thôi, ai ai cũng có thể biết và thực hành được cả. Ðối với những người biết đạo thì việc lễ bái trong Phật pháp là một việc tu hành rất bình thường. Thế nhưng vì sao Bồ Tát Thường Bất Khinh lại đặc biệt xem trọng và đề ra việc vận động cách tân Phật giáo? Bởi vì trong việc tu học Phật pháp, lễ bái là pháp tu hành cơ bản rất bình thường, nhưng người học Phật đương thời không có mấy người hiểu được ý nghĩa lễ bái một cách chân chính và có thể thực hành lễ bái một cách chân chính. Chỉ có Bồ Tát Thường Bất Khinh mới hiểu và hành được pháp lễ bái chân chính này. Bởi vì tứ chúng học Phật bấy giờ chỉ biết lễ bái, cúng dường, sùng kính Phật pháp, chỉ giỏi bàn luận Phật pháp mà xem thường mọi thứ, không biết mình bị rơi vào phong cách của kẻ tăng thượng mạn. Họ lại càng không biết việc thực hành lễ bái ở trong chỗ tầm thường, mà thực tế là không còn phân biệt cao thấp, chỉ có mỗi một vị bình đẳng, phát huy công dụng phá trừ ngã kiến, ngã mạn. Họ không biết hiểu là để hướng dẫn thực hành mà lại thiên về việc chuyên đọc tụng nghiên cứu, làm chướng ngại việc hiểu và hành, khiến cho hai việc không tương ưng, ngăn trở con đường dẫn đến Phật quả.

Cho nên Bồ Tát Thường Bất Khinh vì muốn thay đổi xu hướng thiên kiến này mà vận động đề xướng chỉ có một việc là thực hành lễ bái. Không những lễ bái Phật pháp, lễ bái các vị Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni xuất gia, mà cho đến các vị Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di tại gia cũng đều lễ bái. Loại chủ trương mới này là cung kính lễ bái một cách bình đẳng, giản dị, chân chất, thật thà, tức là hạnh thực tiễn của Bồ Tát. Chủ trương này đã ảnh hưởng đến những kẻ tăng thượng mạn, họ cảm thấy hổ thẹn và chuyển thái độ tranh cường xưng thắng, ngạo mạn quay về chỗ khế hợp bình đẳng của Phật pháp, hướng đến chỗ hiểu để mà hành, từ gần đến xa, từ cạn đến sâu, từ thấp đến cao, mở ra một phong cách học Phật mới là bình dị, thật thà và một lòng một dạ thực hành.

5.- Tuyên dương lý luận mới “Các ông sẽ thành Phật”

Bồ Tát Thường Bất Khinh không những “chỉ thực hành lễ bái” mà còn “cho đến xa thấy tứ chúng liền đến lễ bái”. Kiểu lễ bái này là cách lễ bình đẳng, không phân biệt cao thấp, thân sơ. Căn cứ vào lý luận gì khiến ông lại thực hành như vậy? Do vì Bồ Tát Thường Bất Khinh thể ngộ được thật tướng của các pháp là bình đẳng không sai khác. Hết thảy chúng sinh chỉ có hình thể sai biệt, trí ngu bất đồng, chớ thật tánh không có phân biệt nhân ngã, cao thấp, thân sơ. Theo pháp tánh này mà quán pháp tánh bình đẳng để tiêu trừ phân biệt chấp trước, mới có thể khế hội được thật tướng của chư pháp, chứng nhập thật tánh của chư pháp, tức là quả vị Phật.

Nhưng vì chúng sinh ngu mê sâu nặng, không biết quan sát thật tướng của các pháp. Hơn nữa, tứ chúng học Phật lại chấp trước vào văn tự Phật pháp, xem nhẹ việc ly ngôn chứng Phật tánh, cho nên mới rơi vào thiên kiến chỉ hay nói suông, khiến cho Phật pháp vô thượng mất đi tác dụng thực tế là cứu độ hết thảy khổ ách. Bồ Tát Thường Bất Khinh do nắm được căn bản Phật pháp cho nên đã phát động phong cách mới chỉ chuyên thực hành lễ bái, đề xuất khẩu hiệu “Tôi không dám khinh các người đâu”, tuyên dương lý luận mới “Các người sẽ thành Phật”. Người người đều có thể dùng lý luận thành Phật trên cơ sở pháp tánh bình đẳng này. Như vậy hết thảy chúng sinh ai lại không tôn kính tứ chúng học Phật. Một khi tứ chúng đã đi đến chỗ hiểu và hành đúng rồi thì tương lai chắc chắn sẽ thành Phật.

Do vậy khẩu hiệu “Tôi không dám khinh các người” và lý luận “Các người sẽ thành Phật” đã gây nên tác dụng rất lớn, làm thức tỉnh những kẻ mê chấp thiên kiến chuyên đọc tụng kinh điển, đả phá việc nói suông, ngăn trừ tăng thượng mạn, mọi người đã tự biết trân trọng lấy mình, tôn trọng kẻ khác, củng cố niềm tin và mong cầu thành Phật một cách khẩn thiết, khiến cho mình và người cùng nhau đi vào con đường Phật đạo một cách bình dị, thật thà, khoan dung và thanh thản. Lúc bấy giờ, có đến hàng vạn ức người được Bồ Tát Thường Bất Khinh cảm hóa bằng lời nói hoặc qua việc làm của ngài.

6.- Thực hành hạnh Bồ Tát dù bị chửi đánh cũng cam chịu

Bồ Tát Thường Bất Khinh không thích xu hướng cao đàm hoạt luận (nói giỏi luận suông) nên đã đề xuất tư tưởng mới là không chuyên đọc tụng kinh điển, không cầu thắng giải một cách thiên kiến mà chính bản thân mình chỉ thực hành lễ bái theo phong cách mới, không chấp trước vào ngã kiến ngạo mạn hơn người mà đề xướng khẩu hiệu “Tôi không dám khinh các người”, không phân biệt cao thấp mà tuyên dương lý luận mới “Các người sẽ thành Phật”. Tuy nhiên, hành động và lời hiệu triệu vận động cách tân này cũng bị giới Phật giáo đương thời phản đối kịch liệt và những kẻ học Phật các nơi cũng công kích dữ dội. “Không chuyên đọc tụng kinh điển” bị phê bình là “lìa kinh phản giáo”, là hành động của ma. “Chỉ thực hành theo phong cách lễ bái” bị chê là kẻ điên rồ, thần kinh rối loạn. “Không dám khinh các người” bị phỉ báng là cuồng vọng nói liều. “Các người sẽ thành Phật” bị chế giễu chê cười là giả mạo Phật tiên đoán ẩu. Không phải chỉ có những lời chê bai như thế đâu, mà còn có những kẻ phiền não thâm độc đánh đập, chửi rủa Bồ Tát một cách thậm tệ, đến nỗi người khác trông thấy còn chịu không nổi, vậy mà ngài lại chẳng hề có một chút tâm niệm oán hận hoặc bất bình nào cả. Trái lại, Bồ Tát Thường Bất Khinh lại coi những việc đả kích, đánh chửi này đã tạo thắng duyên cho mình thực hành và hoàn thành đạo Bồ Tát. Bởi vì người học Phật chân chính và tu hành đạo Bồ Tát không bao giờ ngồi đợi mọi việc sẽ đến, mà chính tự mình phải dấn thân vào mọi thử thách. Bị chửi rủa mà động tâm sân hận, bị chê bai mà sinh tâm hối hận, cái thấy về nhân ngã còn sâu dầy, cái tâm phiền não còn nặng nề thì có khác chi người phàm phu đâu! Trái với tinh thần Phật giáo thì làm sao hoàn thành được hạnh Bồ Tát! Bồ Tát Thường Bất Khinh nhờ có tuệ kiến chân thật này nên thực hành đạo Bồ Tát một cách rất chắc chắn. Do vậy mà sự vận động cách tân của ngài mới không bị khuất phục bởi mọi khổ nạn, trái lại còn có thể khắc phục một cách kiên định hết thảy mọi khổ nạn ấy. Ðối với mọi thứ đả kích, ngài vẫn thẳng tiến một cách bi tráng để đạt đến thành công như nguyện.

Trong biểu hiệu vận động cách tân của Bồ Tát Thường Bất Khinh, từ việc lễ bái bình thường, tư tưởng không chuyên đọc tụng kinh điển, phong cách không khinh mạn mọi người, lý luận các ông sẽ thành Phật, cho đến bản thân bị đánh chửi hết thảy đều là thành tựu hạnh Bồ Tát. Sự hiện thân chân chính của Bồ Tát Thường Bất Khinh đã giải thích rõ ràng Phật pháp là gì? Thế nào là hạnh Bồ Tát?

Qua những sự tích giản lược về ngài Bồ Tát Thường Bất Khinh, chúng ta có thể rút ra được những bài học vô cùng quý giá.

7.- Chư Phật đồng khen ngợi Thường Bất Khinh

Tư tưởng, lời nói, hành vi và tác phong của Bồ Tát Thường Bất Khinh được các bậc tôn túc cao Tăng thời bấy giờ cho là rất bình thường và cạn cợt tợ hồ như không có một chút gì đặc biệt cao sâu và thâm áo, nhưng lại thành tựu hạnh Bồ Tát một cách vĩ đại. Vĩ đại ở chỗ là ngài đã một lòng một dạ thực hành hết sức bình thường chân thật. Từ trong chỗ một lòng một dạ thực hành này mà hiển xuất ra sự vĩ đại và cao thâm. Không chuyên đọc tụng kinh điển nhưng không phế bỏ kinh điển, lễ bái tứ chúng không có tâm phân biệt, không khinh mạn mọi người để trừ sạch hư ngụy, tôn trọng Phật tánh mãi mãi không thoái chuyển, nhẫn chịu đánh chửi không một chút động tâm. Hết thảy những biểu hiện chân chất thật thà này đã cho thấy được tính cách vĩ đại và cao thâm của Phật pháp, chứng minh rằng Phật pháp không phải ở chỗ kinh điển văn tự. Cho nên ngài không chuyên đọc tụng kinh điển mà vẫn hoàn thành hạnh Bồ Tát một cách vĩ đại là vậy.

Sự học Phật của Bồ Tát Thường Bất Khinh khế hợp với bản tâm thuyết pháp của chư Phật, cho nên các Ðức Phật xưa nay đều hoan hỷ ca ngợi Tỳ-kheo Bồ Tát Thường Bất Khinh. Như Ðức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật cũng đặc biệt giới thiệu về công hạnh tu hành của vị Bồ Tát này trong Kinh Pháp Hoa. Ðến mãi tận đời vị lai Bồ Tát Thường Bất Khinh vẫn còn là tấm gương điển hình cho người tu hạnh Bồ Tát và là mô phạm cho tứ chúng học Phật.

 

THIỆN TÀI ÐỒNG TỬ

 

1.- Học đạo từ Văn Thù và Phổ Hiền

Thiện Tài đồng tử là một thanh niên nổi danh do hành Bồ Tát hạnh kiệt xuất. Thiện Tài được cảm hóa và trực tiếp lãnh thọ sự dẫn dắt của Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi, qua đó được gián tiếp lãnh thọ ảnh hưởng hạnh nguyện của ngài Phổ Hiền. Khi mới phát tâm Bồ đề hành Bồ Tát đạo, Thiện Tài rất ham học hỏi không biết mệt mỏi, một lòng một dạ thực hành chưa hề thối chuyển.

Văn Thù và Phổ Hiền là hai vị Bồ Tát nổi tiếng xưa nay trong Phật giáo, đều là bậc thượng thủ trong các Bồ Tát. Nơi pháp hội của Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni, hai vị đồng tâm hiệp lực phò trợ pháp Ðại thừa “Bi trí song vận” vô thượng thậm thâm vi diệu, thực hiện đạo Bồ Tát: Trừ cái khổ của chúng sinh và ban vui cho chúng sinh, đầy đủ bản hoài cứu nhân độ thế của Phật, từng bước cải tiến cõi nhân gian trở thành cảnh Tịnh độ.

Phật là bậc Thánh vô thượng đầy đủ đại bi đại trí, biểu hiện bi trí viên dung tùy cơ giáo hóa, dùng phương tiện dẫn dắt chúng sinh quy hướng Bồ đề, cho nên nói Phật là Vô thượng, lòng từ bi và trí tuệ sâu rộng khôn lường. Văn Thù và Phổ Hiền chưa được đầy đủ bi trí như Ðức Phật, nhưng mỗi vị lại chuyên sâu một mặt, hai vị hợp lại có thể hiển thị đầy đủ công năng Ðại Bi Ðại Trí như Ðức Phật. Chẳng hạn như nếu phân biệt về việc tuyên dương thì mỗi vị đều tự nêu cao bi và trí (mặc dù hai mặt mà một thể) của Ðức Phật.

Do chỗ phân biệt tính chất đặc thù của từng vị cho nên trong hàng Bồ Tát các ngài được tôn xưng là Ðại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Ðại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát, thành ra phân thân đại bi và đại trí của Ðức Phật, mỗi vị tùy theo nhiệm vụ riêng mà hành hóa tại nhân gian.

Ðạo Ðại thừa Bồ Tát là sự kết hợp, cấu thành của Bi, Trí rộng lớn vô biên, vốn chỉ là một thể mà không có hai. Dùng phương tiện mà nói thì mới có phân biệt Bi, Trí tương đối, trước sau sâu cạn chẳng đồng. Như nương nơi đại bi mà lập đại nguyện thì việc độ sinh lấy đại bi làm đầu. Như nương nơi đại trí mà thành đại hạnh thì việc giáo hóa lấy đại trí làm đầu. Không đại bi chẳng thể phát đại nguyện, không đại trí chẳng thành đại hạnh. Ðại bi thâu nhiếp hết thảy hạnh nguyện cho nên thành hạnh Phổ Hiền. Người học đạo Bồ Tát phải lấy hạnh Phổ Hiền làm lý tưởng thực hiện. Hoàn thành hạnh Phổ Hiền cũng tức là hoàn thành bi đức của Phật. Ðại trí thâu nhiếp hết thảy phương tiện, không có phương tiện thì chẳng thể độ sinh, không thành tựu được hạnh Bồ Tát. Cho nên người học hạnh Bồ Tát lấy trí Văn Thù làm mục tiêu, trí Văn Thù viên thành cũng tức là viên thành trí đức của Phật. Nếu như tổng hợp hai thứ ấy lại tức là tròn đầy Bi, Trí của Phật.

Việc thực hiện hạnh Bồ Tát tuy có phân ra Bi, Trí nhưng thực tế thì phải dựa vào nhau mà hành, nương vào nhau mà thành và cần phải có sự liên hệ nhất quán mới có thể hành Trung đạo Ðại thừa viên dung vô ngại. Như người mù và người què nương nhau mới có lợi. Nếu đem tính nhất quán của Bi, Trí mà triển khai một cách máy móc thì cũng giống như đem người mù và người què tách riêng ra sẽ đi đến chỗ thất cách, hoặc là bất cập hoặc là thái quá, không thành tựu Trung đạo và cả hai đều không có lợi. Thiện Tài đồng tử học theo hạnh Bồ Tát cho nên phát sinh quan hệ mật thiết với ngài Văn Thù và Phổ Hiền, đó cũng là lý và thế tất nhiên của sự phát triển mà thôi.

Việc thực hành hạnh Bồ Tát của Thiện Tài đồng tử biểu hiện ở chỗ nghiêng nặng về đại trí, vì vậy cậu mới chịu sự chỉ đạo của Bồ Tát Văn Thù mà thực hiện một sự tham vấn rộng rãi. Thật ra, sự tham vấn đó cũng là mục đích hoàn thành đầy đủ hạnh Phổ Hiền rộng lớn, vì tham vấn tức là thực hành hạnh Phổ Hiền, không lìa hạnh Phổ Hiền. Nhưng nếu xét về mặt đại trí thì đó là tạm ẩn tàng cái bi hạnh mà nêu cái nghĩa thù thắng của đại trí, đề cao tính vô thượng của hạnh Ðại thừa Bồ Tát, tròn đầy ánh sáng nơi pháp giới.

Việc thực hành Bồ Tát đạo của Thiện Tài chịu ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp với Văn Thù và Phổ Hiền, vì sao lại phải triển khai? Ðiều này vốn xuất hiện trong sự tích tham vấn thiện tri thức liên tục của Thiện Tài đồng tử, nhưng bài văn này chỉ đề cập đến phần mở đầu trước khi Thiện Tài đi tham vấn mà thôi.

2.- Hội Phổ Chiếu Pháp Giới ở chùa Ðại Tháp

Trong sự nghiệp lớn cứu nhân độ thế mà Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni kiến thiết, Văn Thù và Phổ Hiền cùng phân chia trách nhiệm gánh vác tuyên truyền và phát triển rộng rãi. Phổ Hiền lãnh đạo phần lớn thanh niên thuộc hội Hành Chứng (tu hành chứng quả) nghiêng về việc tu học thực hành, cho nên thường an định một chỗ. Văn Thù dựa vào biện tài vô ngại lãnh đạo phần lớn thanh niên thuộc đoàn Tín Giải (tin hiểu) xem trọng việc phát dương lý trí, cho nên thường lưu động tuyên truyền bốn phương. Hai ngài phân công hợp tác, phát huy nội tu ngoại hoằng của Phật giáo, tợ như hai mà lại chẳng phải hai, chiếu diệu khắp cùng thế giới, trải dài vô tận.

Có một lần, Văn Thù và Phổ Hiền cùng tham gia đại pháp hội Hoa Nghiêm với Ðức Phật Thích Ca tại tinh xá Kỳ Hoàn, vườn Cấp Cô Ðộc nước Xá Vệ. Sau đó, Văn Thù Sư Lợi lãnh đạo đoàn Tín Giải tạm thời từ biệt Ðức Phật, chia tay với Bồ Tát Phổ Hiền, du hành về phương Nam, triển khai công tác hoằng truyền Phật pháp. Ðoàn Tín Giải một khi đã ra đi thì không từ khổ nhọc, không sợ gian nan. Trải qua biết bao núi non, ruộng đồng, tiến về vịnh phía Nam của Ấn Ðộ, gặp một thị trấn tên gọi Phước Thành, họ dừng lại tại chùa Ðại Tháp, nơi cánh đồng phía Ðông của ngoại thành.

Chùa Ðại Tháp là Thánh địa Phật giáo nổi tiếng, không những phạm vũ rộng lớn trang nghiêm, cảnh trí u tịch đẹp đẽ, phong cảnh thích hợp với người tu hành, mà nơi đây còn có các bậc Thánh thường đến giảng pháp. Vì thế khách du lịch từ các nơi đến thăm chùa hằng ngày. Trên các nẻo đường dẫn đến chùa, người người đến tham quan, lễ bái không ngừng.

Khi Bồ Tát Văn Thù dẫn đầu đoàn Tín Giải đến Phước Thành, dừng chân nơi chùa Ðại Tháp. Chẳng mấy chốc, người trong ngoài Phước Thành đều nghe tin. Ðã từ lâu người người vốn khát ngưỡng tinh thần truyền giáo và biện tài vô ngại của Bồ Tát Văn Thù, cho nên Phật tử và những người hâm mộ Phật pháp tấp nập rủ nhau đến chùa. Người thì lễ bái, kẻ thì thỉnh giảng pháp, hoặc phỏng vấn, hoặc chiêm ngưỡng, khiến cho không khí sinh động hẳn lên. Tinh thần của đại chúng rất phấn khởi khiến Bồ Tát Văn Thù và đoàn viên cũng phải bận rộn nhiều. Bồ Tát Văn Thù dự định kế hoạch, tuyên bố sẽ cử hành đại hội Phổ Chiếu Pháp Giới tại chùa Ðại Tháp và tuyên giảng Kinh Phổ Chiếu Pháp Giới trong bảy ngày. Ðiều này khiến người người vui mừng quá đỗi, thế rồi một truyền mười, mười truyền trăm, trăm truyền ngàn, truyền vạn làm náo động cả Phước Thành.

Pháp hội bắt đầu khai mạc, quang cảnh chùa Ðại Tháp nhìn chỗ nào cũng thấy mới mẻ. Phật tử, đặc biệt là thanh niên nam nữ đến nghe giảng pháp rất đông không thể kể xiết. Giảng đường Phổ Chiếu Pháp Giới phải nới rộng thêm ra. Những người đến sau chỉ có thể đứng ở phía ngoài giảng đường.

Bồ Tát Văn Thù bắt đầu giảng pháp. Ngài thong thả bước lên pháp tòa, pháp tướng trang nghiêm, thái độ từ hòa, cặp mắt bình thản phóng ra ánh sáng trí tuệ vô lượng, khiến cho thính chúng đang nhốn nháo liền im lặng và an định. Lúc ấy muôn người lặng yên nhất tâm mong đợi, một hơi thở mạnh cũng không nghe. Diệu nghĩa Phổ Chiếu Pháp Giới chưa tuyên mà không khí trong ngoài hội trường đã hiển thị ra cảnh tượng Phổ Chiếu Pháp Giới.

Bồ Tát Văn Thù bắt đầu khai giảng. Khi đề Kinh Phổ Chiếu Pháp Giới vang lên đã điểm trúng ngay lòng người đang ngưỡng đợi. Ngài khởi đầu bằng một giọng phạm âm thanh tịnh có tác dụng ảnh hưởng triệt để tới trong ngoài giảng đường, khiến cho nước tâm của thính chúng vô cùng lắng trong. Ngay lúc ấy, giáo pháp hiển hiện bên trong mỗi người mà vẫn dung thông vô hạn ngại, hỗ tương nhiếp nhập trong ánh sáng thanh tịnh huyền diệu mà không bị phân cách. Cũng giống như hàng ngàn ngọn đèn trong một ngôi nhà, ánh sáng ngọn đèn của mỗi người chiếu rọi lẫn nhau không ngại, đây thực là cảnh giới bất khả tư nghị. Sự tuyên thuyết đề Kinh Phổ Chiếu Pháp Giới của Ðại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát đã phát xuất tác dụng bất khả tư nghị, khiến cho tinh thần của chúng hội cùng hòa nhập với nhau. Nhưng đây chỉ mới là sức gia bị của Ðại Trí Văn Thù mà thôi, không phải là cảnh giới do thính chúng đạt được. Cho nên, vì muốn cho thính chúng có thể đạt được trí Phổ Chiếu Pháp Giới, Bồ Tát Văn Thù phải dùng đến phương tiện ngôn ngữ giải thích sâu cạn danh nghĩa đề Kinh Phổ Chiếu Pháp Giới và tuyên giảng nội dung của kinh. Văn kinh không dài lắm, tương tợ như Tâm Kinh, nhưng nghĩa lý thì vô cùng tận, khắp hư không, đầy pháp giới cũng khó dung nạp được hết. Bồ Tát Văn Thù phát huy trí tuệ cao siêu và xảo diệu, khiến cho thính chúng tự mình lãnh ngộ được hỷ lạc của pháp vị. Diệu nghĩa Phổ Chiếu Pháp Giới trùng trùng vô tận, đưa thính chúng vào cảnh giới siêu việt, quên cả thân tâm lẫn thế giới bên ngoài. Chẳng biết thời gian là bao lâu, chợt nghe tuyên bố phần tiếp theo sẽ giảng vào ngày hôm sau, đại chúng như người trong mộng mới tỉnh, mọi người trở về với hiện thực. Sau khi Bồ Tát Văn Thù rời pháp tòa, họ mới sôi nổi bàn tán về pháp lạc chưa từng có và quyến luyến ra về.

Thời gian trôi qua như điện chớp, đại hội Phổ Chiếu Pháp Giới đã đến ngày cuối cùng. Người đến chùa Ðại Tháp nghe kinh ngày càng đông đảo, họ ngồi đầy cả trong lẫn ngoài chùa thành cả một biển người. Có người đến vì để nghe kinh, cũng có người vì tôn sùng ngưỡng mộ đạo đức của Bồ Tát Văn Thù mà hấp dẫn đến.

Sau khi Bồ Tát Văn Thù giảng Kinh Phổ Chiếu Pháp Giới hoàn tất, thính chúng hết lòng cảm tạ và chí thành đảnh lễ. Những vị chưa học Phật thì phát tâm quy y Tam Bảo, những người học Phật rồi thì phát tâm Bồ đề, cầu học đạo Bồ Tát, số nhiều không thể kể xiết. Lại còn số thanh niên đồng nam đồng nữ thuần khiết muốn gia nhập đoàn Tín Giải của ngài Văn Thù, đem nhiệt tâm dũng cảm vì pháp, vì người mà phục vụ, sinh lòng kính ngưỡng không bờ mé, sôi nổi phát tâm học Phật, tu tập Ðại thừa Phật pháp. Trong số các đồng nam ấy, có một thanh niên tên gọi là Thiện Tài đồng tử, không biết dũng khí thế nào, đột nhiên tách chúng tiến đến gần trước mặt ngài Văn Thù trang nghiêm thỉnh cầu:

- Lạy đấng Diệu trí thanh tịnh như mặt trăng, lòng từ rộng lớn không bờ mé trùm khắp hết thảy, xin ngài dũ lòng thương chiếu cố đến con, lạy bậc vua trong hết thảy pháp giới, Pháp Bảo là hàng đầu qua lại không trở ngại, xin dũ lòng dạy dỗ con.

Bồ Tát Văn Thù quan sát Thiện Tài đồng tử thấy cậu tuổi còn trẻ, thân thể khang kiện, phong độ phi phàm, cử chỉ trang nghiêm, lời nói thành khẩn, biết là người đã sâu trồng căn lành. Lại thấy trong những ngày vừa qua, Thiện Tài rất chăm chỉ và say sưa nghe giảng pháp, nên ngài đáp ứng yêu cầu khai thị yếu nghĩa pháp Ðại thừa, xong rồi lại còn khích lệ và an ủi nữa. Thiện Tài đồng tử được Bồ Tát Văn Thù khai đạo và khích lệ, thật là một sự vui mừng chưa từng có! Sau đó cậu mới cùng đại chúng rời khỏi chùa Ðại Tháp.

Ðược tin Bồ Tát Văn Thù và chúng đoàn Tín Giải sắp rời đi hoằng đạo nơi khác, giới nhân sĩ Phật giáo ở Phước Thành chuẩn bị buổi tiễn đưa thật long trọng và nhiệt tình. Thiện Tài đồng tử cũng chuẩn bị tham gia buổi tiễn đưa tại chùa Ðại Tháp.

3.- Ðiều khổ tâm và mất ngủ của Thiện Tài đồng tử

Trên đường từ chùa Ðại Tháp trở về nhà, Thiện Tài đồng tử chợt khởi lên suy tư về những vấn đề liên quan đến việc làm người và việc học Phật của mình từ nay về sau như thế nào. Vấn đề tưởng chừng như thật đơn giản, nhưng càng nghĩ càng thêm rối rắm, đầu óc quay cuồng không thể an định được. Về đến nhà, Thiện Tài tìm một góc vườn hoa, ngồi yên lặng trên phiến đá trầm tư. Trời đã tối mà vẫn chưa thấy bóng dáng con, cha mẹ Thiện Tài vội vã đi tìm. Sau một hồi tìm kiếm, thấy con có vẻ mặt khác thường, ông bà vồn vã hỏi han con có tâm sự gì uẩn khúc không. Thiện Tài đồng tử biết cha mẹ mình không ưa muốn nghe những chuyện này, nên cậu không dám thố lộ, bèn tìm cách trả lời cho qua chuyện và xin phép trở về phòng nghỉ ngơi.

Thiện Tài đồng tử vốn là con của trưởng giả Phước Ðức, là người giàu có vào bậc nhất ở Phước Thành. Cha mẹ già mới sinh được một mình cậu cho nên thương con như tính mạng mình. Vợ chồng trưởng giả Phước Ðức từ trẻ đã nổi tiếng về việc kinh doanh buôn bán xuất khẩu. Trải biết bao nhiêu cay đắng khổ cực, do chí thú cần cù làm ăn, công việc kinh doanh ngày càng phát đạt, chẳng mấy chốc ông bà đã trở thành cự phú. Thế nhưng có một điều khổ não lớn lao, dù cho có bao nhiêu tiền của cũng không thể giải quyết được, đó là ông bà chưa có được người con nào cả. Vợ chồng trưởng giả vô cùng buồn rầu, lo lắng, tự nghĩ đến cái sản nghiệp đồ sộ của mình sau này sẽ ra sao? Hai ông bà vốn là người hiền lương, không thích làm giàu phi nghĩa, tu nhân tích đức, thường hay ưa bố thí, vui sướng làm việc thiện, được mọi người yêu mến và khen ngợi. Nhưng những điều này cũng không thể nào dứt trừ được tâm lo rầu của ông bà. Cho đến khi tuổi đã xế chiều, sự mong mỏi tưởng chừng như đã tuyệt vọng, thì “Nhà tích thiện ắt có vui thừa”, ông bà đã sinh được một người con trai, khiến cho tâm ưu sầu như lửa đốt đã bao năm nay của vợ chồng trưởng giả Phước Ðức mới được mát mẻ.

Tin ông bà trưởng giả Phước Ðức sinh con trai lan truyền nhanh chóng, thân thuộc bạn bè đến thăm hỏi chúc mừng không ngớt. Ðứa bé có nước da sáng, tinh thần quang minh khác thường, trông không giống những đứa trẻ khác. Thấy mọi người trầm trồ khen ngợi con mình, hai ông bà vô cùng sung sướng và cho biết rằng: “Khi cháu vừa mới sinh ra đời, trong nhà bỗng có thêm nhiều kho của mới, các thứ báu vật tự nhiên được đầy nhà”. Mọi người nghe nói về điềm lành này lại càng hân hoan chúc mừng vang rân. Do điềm lành mà cha mẹ, thân thuộc, cùng thầy tướng giỏi đều gọi cậu bé là Thiện Tài đồng tử.

Thiện Tài đồng tử sinh ra trong cảnh giàu sang sung sướng, được cha mẹ hết lòng thương yêu quý mến. Ðồng tử lớn rất nhanh, thân hình khang kiện, tài giỏi xuất sắc, linh hoạt và ngay thẳng thật thà, có tư tưởng, tình cảm rất phong phú, ý chí hoài bão cao thượng. Nhờ tiếp nhận sự giáo dục thực tế liên tục nên đồng tử có được một tính cách phi phàm, đó cũng là động lực và nhân tố cơ bản để cậu học Phật và tu Bồ Tát đạo.

Thiện Tài đồng tử tuy mang tên Thiện Tài nhưng cậu lại hoàn toàn không thích tiền tài danh vọng. Cậu nhận thấy cha mẹ mình suốt đời cứ phải bận rộn, lo toan việc buôn bán làm giàu, phải chịu biết bao cay đắng cực khổ để có được sản nghiệp to lớn, nay tuổi đã già mà vẫn còn cố gắng làm giàu, mong cho con cái sau này được sung sướng. Nhưng tiếc thay, khi vô thường đến có ai đem theo được một chút gì đâu, chỉ có bi thương khổ não mà thôi. Thiện Tài lại nhận thấy mọi người ở Phước Thành cũng đều giống như cha mẹ mình không khác, cho dù giàu hay nghèo ai ai cũng đều bận rộn lo toan về của cải tiền bạc. Không những thế, họ còn vì tiền của mà tranh giành lẫn nhau, khéo léo để chiếm đoạt, trộm đêm cướp ngày, gây bao tội ác về sát, đạo, dâm, vọng mà không nghĩ đến tình người và pháp luật. Tuy có khác biệt về thân phận giàu nghèo, sang hèn, nhưng hành vi tâm tánh thì phần nhiều đều giống nhau. Có điều kỳ quặc là người chưa giàu thì cầu cho được tiền của thật nhiều, nhưng người đã giàu có rồi thì lại mong cầu tiền của càng thêm nhiều nữa.

Thiện Tài đồng tử lại nhận thấy một điều nữa là người ở Phước Thành, không luận là nam nữ, già trẻ, phú quý, bần tiện, ai ai cũng đều chán ghét và buồn bã sợ hãi đối với hiện tượng sinh, lão, bệnh, tử, một ngày nào đó bất chợt nó đến, không một ai tránh khỏi hoang mang rối loạn, mặc cho khổ não đẩy tới chỗ tử vong. Suốt cả cuộc đời đều chỉ vì bản thân, vì gia đình, vì tiền của, rồi rốt cuộc cũng trở về con số không, đây là chân tướng của người đời ở Phước Thành, nhưng có lẽ nhân loại trên thế giới cũng chẳng khác gì hơn!

Thiện Tài nghĩ đến mình, nghĩ đến cha mẹ, nghĩ đến tài sản của cha mẹ, nghĩ đến người ở Phước Thành, nghĩ đến con người trên thế giới, thật là thăm thẳm mờ mịt. Tư tưởng và tình cảm phát sinh về mình, về mọi người và tất cả nhân loại của Thiện Tài thật là phong phú biết bao. Không những trong giới thanh niên khó gặp được một người như cậu mà ngay cả đến hàng lão niên cũng chẳng có mấy người được như vậy.

Thiện Tài lại nghĩ: Vì sao người đời lại không biết phân biệt về định luật hữu vô mà cứ đeo đuổi, truy cầu danh lợi, phú quý không có lúc nào nghỉ ngơi, vĩnh viễn chẳng có lúc nào cho là đã đầy đủ, lẽ nào đây lại là chân ý nghĩa của người đời?

Nếu đây là lý tưởng tối cao của họ, thì tại sao khi khổ não và tử vong đến họ lại hoang mang và bi thương khôn xiết?

Thiện Tài tìm cầu giải đáp nơi học vấn, nghiên cứu tư tưởng của các tôn giáo nhưng cũng chỉ lãnh hội được đôi chút mà thôi. Tuy nhiên, tư tưởng của Thiện Tài có phần tiến triển hơn, ý niệm tìm cầu cũng thâm thiết hơn, phạm vi nghiên cứu cũng rộng lớn hơn. Nhờ vậy, khi Thiện Tài tiếp xúc với Phật giáo liền phát sinh sự hứng thú rất lớn, phàm chỗ nào có pháp hội diễn giảng, Thiện Tài đều bỏ tất cả mọi việc để đến tham dự. Chùa Ðại Tháp cũng là nơi cậu thường đến.

Thiện Tài quan niệm rằng: “Phật pháp khó nghe nên việc cầu pháp là đệ nhất”. Do đấy, đối với Phật pháp, Thiện Tài rất siêng năng chăm chú lắng nghe và tiếp nhận được nhiều điều hay. Như đối với người đời vì sao cầu tiền của không chán, vì sao bị sinh, lão, bệnh, tử, Phật pháp có rất nhiều lý giải hợp lý. Càng suy nghiệm sự việc con người đời hiện tại, cậu càng tăng thêm sự tín tâm, đối với Phật pháp càng sinh khởi lòng ngưỡng mộ không chán, đối với nhân sinh cũng có những hy vọng mới, không còn là sự bao la mờ mịt nữa.

Thiện Tài nhận rõ dục vọng của con người không bao giờ đủ, sinh, lão, bệnh, tử thường xâm chiếm bức bách, không ngoài sự tạo thành của “ngu si che đậy và lửa tham sân lẫy lừng”. Nhân loại bị che phủ bởi ngu si hắc ám, không rõ được hết thảy người vật tồn tại là do các duyên giả có hư vọng không thật, nên đã sinh khởi tâm ái trước tham cầu không chán, nếu chẳng được như ý thì sinh ra sân hận. Trong tâm loài người có hai thứ lửa là tham lam và sân hận không ngừng bừng cháy, càng ngày càng cháy mạnh, có muốn dập tắt cũng không phải dễ. Chẳng hạn như chỗ mong muốn của con người là “tiền của không bao giờ chán”. Ngu si là nhân, tham sân là duyên, tạo nên các thứ nghiệp, thọ quả khổ sinh, lão, bệnh, tử, đấy là lý do mà người đời phải chịu khổ.

Thiện Tài biết chắc Phật pháp có những phương pháp triệt để nhằm giải trừ sinh, lão, bệnh, tử, hơn hẳn các học thuyết và tôn giáo khác tự cho là cứu cánh, là thù thắng. Thiện Tài thường thân cận nhiều bậc Thánh của Phật giáo, cậu rất khâm phục các ngài thông đạt chân đế về thế gian vô thường, khổ, không, vô ngã. Trong việc chuyên tu giới, định, huệ, các ngài đã trừ sạch tận gốc rễ độc hại ngu si tham ái và sân hận, đạt được niềm vui tịch diệt giải thoát sinh tử. Ðây cũng là nguyên nhân lớn khiến cho Thiện Tài sinh tâm ngưỡng mộ Phật pháp.

Thế nhưng, Thiện Tài lại nghĩ rằng tự mình được giải thoát sinh tử, còn cái khổ não sinh tử của người khác chưa tiêu diệt được thì làm sao? Chẳng lẽ lại không quan tâm đến ư? Cho nên, đối với Phật pháp, nhất là pháp Tiểu thừa chỉ cầu giải thoát sinh tử cho bản thân mình, Thiện Tài vẫn cảm thấy có chỗ chưa được thỏa mãn cho lắm.

Nhưng từ khi được nghe Bồ Tát Văn Thù tuyên giảng Kinh Phổ Chiếu Pháp Giới tại chùa Ðại Tháp, Thiện Tài cảm nhận được sự an vui rộng lớn không thể nào diễn tả hoặc thí dụ cho được. Do vì Kinh Phổ Chiếu Pháp Giới tuyên dương diệu pháp Ðại thừa vô thượng là nêu tánh vô tận bảo tạng. Pháp giới là khắp tất cả, không một pháp nào không ở trong pháp giới. Phật pháp cùng pháp giới tương thông, khổ vui tương cộng. Nhưng phải có trí lớn rộng khắp mới có thể thấu suốt điều này, mới có thể khế chứng và hiển xuất được diệu dụng vô biên, thành tựu hết thảy chúng sinh, trang nghiêm quả Phật vô thượng. Ngài Văn Thù Bồ Tát đã tóm lược rằng: “Muốn cầu viên thành quả Phật phải phát tâm Bồ đề, tu hạnh Phổ Hiền, rộng cứu pháp giới chúng sinh. Muốn hoàn thành việc thoát ly khổ hải của chúng sinh trong pháp giới cần phải tu cho được trí Phổ Chiếu Pháp Giới”.

Ðiều này quả rất hợp với lý tưởng của Thiện Tài đồng tử. Thiện Tài vô cùng xúc động và muốn cầu thêm Phật pháp quý báu, nên khi pháp hội kết thúc, cậu liền đến trước Bồ Tát Văn Thù tha thiết thỉnh cầu, được ngài khai thị bằng một câu ngắn, nhờ vậy Thiện Tài gặt hái được những pháp lạc vô lượng. Nhưng nay mai Bồ Tát Văn Thù lại phải hướng dẫn đoàn đi nơi khác, biết đến ngày nào mới trở lại đây? Từ nay về sau biết chỗ nào mà nghe pháp? Thiện Tài vô cùng rầu rĩ, vì cậu còn nhiều điều băn khoăn, mong muốn được hiểu thấu đáo. Như đã phát tâm Bồ đề rồi, lại phải học đạo Bồ Tát và tu hạnh Phổ Hiền như thế nào? Con đường học đạo Bồ Tát rất rộng rất dài, mà ngài Văn Thù mai này sẽ ra đi rồi biết học ai đây?

Lại nữa, Thiện Tài mong muốn được gia nhập đoàn Tín Giải của Bồ Tát Văn Thù để có thể tùy lúc mà thỉnh cầu giáo pháp, nhưng không biết là có đủ điều kiện để gia nhập không? Có đủ tiêu chuẩn hay không? Bồ Tát Văn Thù có đặc biệt linh hoạt cho không? Ngày mai họ đi rồi, thời gian thật là cấp bách, không còn cơ hội để tham khảo nữa, tâm của Thiện Tài rối loạn như kiến bò trên nồi lửa.

Thiện Tài lại nghĩ: Người phát tâm Bồ đề chẳng phải phát rồi là xong. Nếu như muốn hành đạo Bồ Tát, phải thực hiện các công tác, quyết không thể ở nhà mà làm Bồ Tát được. Ly gia để cầu pháp, vì người, đây là việc phải làm. Thế nhưng cha mẹ không đồng ý, không cho phép thì biết phải làm sao đây? Nếu lén lút ra đi thì cha mẹ đau lòng lại mang thêm tội bất hiếu. Vậy thì làm thế nào để tốt đẹp cả đôi bên đây? Rồi... càng nghĩ càng thêm rối rắm.

Ðêm đã khuya mà Thiện Tài vẫn còn trằn trọc, thao thức, chưa tìm ra được cách giải quyết vấn đề, khiến Thiện Tài vô cùng khổ tâm. Ðây cũng là một điểm rất đặc biệt mà Thiện Tài đồng tử không giống với người thường, vì điều khổ tâm và mất ngủ của cậu tuyệt đối không có chút liên quan gì đến việc thăng quan hay phát tài như người đời thường để tâm đến.

4.- Niềm vui và nỗi buồn của buổi tiễn đưa

Suốt một đêm thao thức suy tư, quá mệt mỏi, Thiện Tài thiếp đi lúc nào không hay, đến khi chợt tỉnh thì mặt trời đã lên khá cao. Sợ bị chậm trễ trong buổi tiễn đưa, Thiện Tài bỏ cả bữa điểm tâm, liền từ biệt cha mẹ, vội vã lao ra lộ, dốc sức chạy về hướng chùa Ðại Tháp. Thiện Tài tuy bị mất ngủ suốt đêm, nhưng vì là thanh niên tràn đầy sinh lực và nhiệt tâm cho nên gương mặt cậu không có một chút gì biểu hiện sự mệt mỏi vì mất ngủ. Ðiều này chứng tỏ Thiện Tài có một sức lực mạnh mẽ vô hạn, cho dù bất kỳ khổ nạn nào cậu cũng đều có thể đảm đương được.

Sau khi pháp hội Phổ Chiếu kết thúc viên mãn, chúng đoàn Tín Giải của Bồ Tát Văn Thù nghỉ ngơi an vui, thoải mái tại chùa Ðại Tháp. Sáng sớm, họ thức dậy sửa soạn hành lý rất đơn giản và chuẩn bị khởi hành. Họ đến và đi đều không báo trước, chỉ cốt hoàn thành công tác hoằng pháp, còn việc đưa đón không đáng quan tâm đến. Ðối với họ, đến và đi cũng đều giống nhau, bởi vì pháp giới không có đến đi. Nói cái gì đến cái gì đi, chẳng qua là “Không đến mà đến, không đi mà đi”, hà tất phải đón chào nghênh tiếp hoặc tiễn đưa. Nếu chấp trước vào nó sẽ không hợp với nghĩa thật tướng của pháp giới, và cũng không phải là chỗ mong muốn của Bồ Tát Văn Thù. Nhưng có lẽ các đoàn viên sợ phạm lỗi vọng ngữ, nên khi có người hỏi đến họ phải nói rõ việc ra đi, vì thế mới xuất hiện câu tiễn đưa vui vẻ là: “Chân bất ly tục”.

Hội Phổ Chiếu Pháp Giới lần đầu tiên được cử hành tại Phước Thành quaû là một điều rất khó gặp, nên người nghe lãnh hội được pháp vị vô thượng rồi thì không thể không cảm niệm ân đức giáo hóa. Không biết thì thôi, một khi đã biết đoàn ra đi mà không đến tiễn đưa thì hóa ra mình xem nhẹ tình người lắm sao? Vậy làm sao có thể phát ra cái tâm lớn là: “Báo chúng sinh ân, hành Bồ Tát đạo”? Cho nên chúng đoàn của Bồ Tát Văn Thù tuy không muốn được tiễn đưa, nhưng những người nghe kinh lại thành tâm và nhiệt tình đến tiễn đưa. Do vậy buổi tiễn đưa này không thể xem như một cuộc náo nhiệt tầm thường, lại càng không thể đem tâm tưởng của thế tục, dùng thước đo trang sức bên ngoài mà sánh với tâm thành của những người nghe kinh đến tiễn đưa.

Chúng đoàn Tín Giải thấy người đến tiễn đưa càng lúc càng đông, không nén được tâm tình biểu hiện ở chỗ “chân bất ngoại tục” tùy hỷ tiếp đãi, lộ vẻ vui tươi mà “hằng thuận chúng sinh”. Ðoàn viên đều là những thanh niên hoạt bát chân chính, cùng với đồng nam đồng nữ tại Phước Thành hợp lại như một gia đình đạo. Họ lưu luyến chúc tụng nhau biểu hiện lòng mong muốn vô hạn: “Tứ sinh cửu hữu, đồng đăng hoa tạng huyền môn. Bát nạn tam đồ, cộng nhập Tỳ lô tánh hải”. Các vị lão niên thì ân cần thăm hỏi Bồ Tát Văn Thù bao giờ mới trở lại chỉ dạy cho họ biết cách tu hành để thoát khỏi biển khổ sinh tử. Có người chưa kịp đợi Bồ Tát Văn Thù trả lời đã rơi lệ ròng ròng. Những người già biết rằng ngày tháng qua mau, mạng sống chẳng còn được bao lâu nữa, trong khi tâm linh thì trống rỗng, đầy lo lắng, làm sao có được một vị đại Bồ Tát thường xuyên khuyến khích chỉ dạy đây? Thanh niên tuổi còn trẻ, sức còn mạnh thì tràn đầy hy vọng, nhưng điều khiến họ tiếc nuối là đoàn Tín Giải chuẩn bị đi một số nơi mà họ không được tham gia vào các công tác Phật sự ấy. Họ mong đợi đoàn Tín Giải sẽ trở lại, lãnh đạo họ phát dương tinh thần Phật giáo tại Phước Thành. Họ rất tự tin ở niềm hy vọng này không phải là hụt hẫng. Cũng có một số thanh niên không ngăn được nỗi buồn ly biệt đã than thở rằng: “Không đến thì thôi! Mới đến đã lại đi rồi, như vậy làm sao người ta chịu được!”. Khiến cho một trận cười chân thành vang lên. Những thanh niên thẳng thắn, nói năng bộc trực không thể so sánh với lời nói thận trọng của các bậc lão niên được.

Thiện Tài đồng tử cũng sớm đến chùa Ðại Tháp, mong muốn được thỉnh vấn những điều còn vướng mắc trong tâm, nhưng vì Bồ Tát Văn Thù đang bận rộn tiếp đãi những người đến đưa tiễn, lễ kính, từ biệt, khiến cậu không làm sao có cơ hội để thưa hỏi. Thiện Tài chỉ có thể chen lấn trong đám người, đến trước mặt Bồ Tát Văn Thù, thành kính lễ lạy tiễn đưa để biểu thị tâm thành của mình. Thiện Tài lắng nghe những tiếng than thở bi ai, sầu than, vui cười đan quyện vào nhau cũng giống như cảnh vô ngại pháp giới hiện tiền vậy.

Mọi người đến tiễn đưa đều hy vọng sẽ có được một trận mưa pháp lợi lạc cuối cùng, cho nên đã giảm bớt phần từ biệt và thỉnh cầu Bồ Tát Văn Thù, trưởng đoàn Tín Giải tặng lời tiễn biệt. Bồ Tát vì muốn làm thỏa mãn điều mong cầu và tâm nguyện của tứ chúng, liền nói lời tặng rằng:

“Phật pháp không đến đi, phương tiện có hợp có tan, nhưng nếu thường nghĩ Tam Bảo thì Tam Bảo liền ở trong mọi người, mỗi niệm nhớ Tam Bảo, Tam Bảo liền theo niệm mà đến, có lúc nào xa lìa chúng ta đâu. Giả sử tâm không nghĩ Tam Bảo, Tam Bảo dù ở tại trước mặt cũng như tận chân trời xa thẳm. Người đời có câu rằng: “Gần mặt mà xa cách lòng” là vậy. Mong tất cả quý vị đừng nên bận tâm đến việc đến hay đi của chúng tôi. Tất cả quý vị tinh tấn học Phật thì tinh thần của chúng ta vĩnh viễn khế hợp nhau, cũng là vĩnh viễn ở cùng một chỗ. Học Phật như vậy, Phật, Pháp, Tăng Tam Bảo luôn luôn gia hộ cho chúng ta, phiền não đoạn diệt, thân tâm mát mẻ, tự tại và an vui, há không phải là hạnh phúc lắm sao?”.

Lời khai thị tinh yếu và ngắn gọn này khiến cho ngọn đèn tâm của hội chúng như được đổ thêm dầu liền phóng ánh sáng lớn, những tăm tối u ám trước đây đều tan biến không còn dấu tích, tiếng vỗ tay vui mừng vang lên như sấm, thể hiện sự thỏa mãn cao độ của niềm vui nghe pháp.

Tiếp đến đại chúng xếp thành hai hàng, tuần tự tiến ra trước cổng chùa. Văn Thù Bồ Tát hướng dẫn đoàn cùng chắp tay, dàn thành một đội hình giống như chim nhạn rồi từ từ hướng về phía Nam mà tiến bước. Ðại chúng hoan hô vang dậy, chờ cho đến khi hình ảnh của đoàn Tín Giải mờ dần và mất hút hẳn, đại chúng mới chịu ra về.

Tiếng chuông trống công phu chiều đã ngân vang. Ánh dương khuất dạng sau rặng núi phía Tây, hắt những tia sáng cuối cùng lên đỉnh điện của chùa Ðại Tháp, giống như một lớp vàng lá lấp lánh mới được phủ lên đấy. Hiện tượng này cũng chẳng khác gì việc Thánh giả Văn Thù tuy ra đi nhưng vẫn còn lưu lại ánh sáng trí tuệ Phổ Chiếu Pháp Giới để cho mọi người đều ngưỡng vọng suy tư.

5.- Trong rừng vắng dưới ánh trăng, bày tỏ tấm lòng và tình cảm của mình

Vầng trăng lung linh trên nền trời phía Ðông, gió hiu hiu thổi. Cái không khí náo nhiệt ban ngày nơi chùa Ðại Tháp đã được ánh sáng thanh tịnh phủ khắp, thanh khí tràn đầy, toàn thể cảnh vật núi rừng trở nên u tịch. Các thanh niên nam nữ đến tiễn biệt đoàn của Thánh giả Văn Thù đã trở về nhà. Lúc này không biết họ có ghi nhớ được chút pháp hỷ nào không? Hay là tâm của họ lại rong ruổi theo sắc đẹp, tiền của, ta người, phải trái rồi bị nó chiếm hữu? Ðiều này chỉ tự mỗi người biết lấy mà thôi. Thế nhưng dưới ánh trăng nơi phía trước chùa Ðại Tháp lại còn một bóng người đang quanh quẩn nơi ấy, đó chính là Thiện Tài đồng tử.

Vì sao Thiện Tài đồng tử không trở về nhà? Lại còn không cho mọi người biết là mình lưu lại ở đây? Nhưng ở lại để làm gì? Thật là một người kỳ lạ hết sức! Bởi vì thâm tâm của Thiện Tài không bám víu theo người ở Phước Thành mà lại hướng theo đoàn người của Bồ Tát Văn Thù. Do cậu đã nhận thức được rằng: “Tự mình đã lãnh thọ sự chỉ giáo của Văn Thù Bồ Tát, âm thầm phát tâm Bồ đề, nhưng phát tâm rồi không phải là xong. Không thể ở nhà tại Phước Thành để chờ đợi thành Bồ Tát mà phải thực hành hạnh Bồ Tát. Ðiều này không thể tự cho mình là thông minh, vọng nghĩ việc mặc áo ăn cơm, ngủ nghỉ, làm việc chỗ nào cũng là đạo Bồ Tát. Ðem so sánh việc mình làm với hành vi của các vị đại Bồ Tát thì thực ra mình chỉ là một kẻ phàm phu. Bồ Tát Văn Thù đã đi rồi, chẳng thể nói đạo Bồ Tát của mình đã hoàn thành, không có đạo Bồ Tát nào thành tựu một cách dễ dàng như vậy đâu! Nhưng nếu trở về nhà lại phải giúp đỡ cha mẹ trong việc buôn bán, điều này không thích hợp với tâm Bồ đề của mình cho lắm. Cha mẹ không hiểu, mình không thể oán trách được, nhưng mình cần phải chuyển đổi ước mong của cha mẹ, không để đánh mất tâm Bồ đề, trái ngược với đạo Bồ Tát. Làm thế nào có thể lợi ích cho chúng sinh, hoàn thành tâm nguyện cứu thế của mình đây?”.

Thiện Tài không tha thiết gì đến cái gia tài khổng lồ của cha mẹ, chỉ một lòng nguyện đem thân tâm, tánh mạng, vì người, vì pháp mà phát tâm đại Bồ đề. Với dũng khí và hoài bão lớn lao này, há không xứng đáng để nhân loại xưa nay hướng về khâm phục và ngưỡng vọng hay sao! Cũng có người cho Thiện Tài là đồ ngốc, nhưng điều này cũng chẳng tổn hại gì cả. Bởi vì sự ngây thơ, thuần khiết, nhiệt tình, dũng cảm và trí thông minh của cậu thanh niên này đã phát ra ánh sáng huy hoàng chiếu khắp mọi nơi. Thiện Tài lập nguyện kiên quyết không trở về nhà. Nhưng không trở về nhà mà ở lại trước chùa Ðại Tháp để làm gì? Quanh quẩn trước chùa Ðại Tháp mà chùa Ðại Tháp không giúp đỡ gì cho Thiện Tài ngoài sự vắng lặng. Ði đi lại lại dưới ánh trăng, ánh trăng cũng không đồng tình cho Thiện Tài mà chỉ có thể chiếu ánh sáng thanh tịnh bao phủ toàn thân.

Con mắt tâm của Thiện Tài chợt sáng lên, cậu nghĩ đến đoàn của Bồ Tát Văn Thù chắc chưa đi xa lắm, họ cũng phải dừng nghỉ lúc về đêm, cứ lần theo dấu vết có thể sẽ tìm đến. Nghĩ như thế, tinh thần của Thiện Tài càng thêm phấn khởi, cậu liền rời khỏi chùa Ðại Tháp, lần theo đường mà đi. Nhờ niềm tin vững chắc và sự hưng phấn, lại có sự trợ giúp của làn gió mát và ánh trăng thanh, Thiện Tài thẳng tiến về phía trước.

Quả đúng như ý nghĩ của Thiện Tài đồng tử, đoàn Tín Giải của Bồ Tát Văn Thù đã đi được khoảng ba mươi dặm và ngừng lại nơi rừng cây bên đường, nghỉ ngơi trên một thảm cỏ xanh. Trăng sáng vì họ xua đi những tối tăm, gió mát vì họ đuổi đi những muỗi mòng. Lúc họ tọa thiền hay kinh hành đều không bao giờ quên chính niệm. Riêng ngài Bồ Tát Văn Thù ngồi tọa thiền dưới gốc cây một cách khinh an tự tại.

Thiện Tài đồng tử đã tìm được đến nơi, lòng vui mừng không thể tả. Ðợi một lúc cho hơi thở điều hòa, Thiện Tài định thần xong tiến đến trước Thánh giả Văn Thù cung kính đảnh lễ và bày tỏ ý nguyện của mình. Bồ Tát Văn Thù liền ca ngợi và an ủi rằng: “Lành thay công đức tạng! Có thể đến chỗ ta, phát khởi tâm đại bi, cần cầu Vô thượng giác”. Thiện Tài nghe xong, thân tâm có cảm giác rất mát mẻ thanh tịnh, mọi nhọc mệt, nóng nực đều tiêu mất. Thiện Tài bèn bộc bạch những vấn đề mà mình đang băn khoăn:

- “Kính bạch Bồ Tát! Làm thế nào để học hạnh Bồ Tát? Làm thế nào để tu hạnh Bồ Tát? Làm thế nào để có chí thú về hạnh Bồ Tát?... Và làm thế nào khiến cho hạnh Phổ Hiền mau được thành tựu viên mãn?”.

Thiện Tài giải bày một loạt các vấn đề một cách chân thành, mạch lạc. Thánh giả Văn Thù cảm động nói rằng: “Nếu có chúng sinh năng phát tâm A nậu đa la Tam miệu Tam Bồ đề, là một điều rất khó, đã phát tâm rồi còn cầu Bồ Tát hạnh lại càng khó gấp bội lần”.

Thiện Tài đồng tử nghe lời khen ngợi và khuyến khích này cảm thấy an ổn và vui sướng vì mình không có chút sai phạm nào trong lời dạy của Thánh giả. Thiện Tài không những đã phát tâm Bồ đề rồi mà lại còn cầu Bồ Tát hạnh nữa. Nếu không như vậy mà chỉ ngu ngốc sống qua ngày với gia đình tại Phước Thành, không bị bậc Thánh mắng nhiếc e rằng chẳng có thể được như vậy.

Tiếp đến Bồ Tát Văn Thù khai thị những điểm chính cho Thiện Tài: “Này thiện nam tử! Nếu muốn thành tựu Nhất thiết trí, phải quyết định cầu chân thiện tri thức. Cầu chân thiện tri thức là cầu mong cho được yếu hạnh Nhất thiết trí của Ðức Phật. Chân thiện tri thức mới có thể cho ta chân trí, chân kiến, cũng mới có thể đạt đến chỗ chân trí huệ, không đến nỗi đi vào nẻo tà, rơi vào chỗ tương phản với Phật trí. Cầu chân thiện tri thức là khai đường dẫn lối cho việc tu đạo Bồ Tát, rất trọng yếu không thể thiếu được. Học Bồ Tát hạnh mà không thân cận thiện tri thức, sẽ rơi vào chỗ sai lầm “đóng cửa làm xe” (làm theo chủ quan, bất chấp thực tế khách quan).

Ngoài ra còn phải có tâm “cầu thiện tri thức không sinh lười biếng”. Ðối với thiện tri thức nên mong cầu càng nhiều càng tốt, mới có thể tăng trưởng trí tuệ liên tục. Cho nên phải “tiếp xúc với thiện tri thức chớ sinh lòng thỏa mãn”. Nếu như sinh lòng thỏa mãn thì trí tuệ sẽ không tăng trưởng, mãi mãi bị đình trệ nơi chỗ chướng ngại đạo. Lại khi thiện tri thức dạy bảo phải nên tùy thuận. Ðây là tín điều tất yếu để cầu thiện tri thức. Trái lại, dạy mà không nghe, không tùy thuận làm theo, không những không có lợi ích cho mình mà cũng trái với ý chí thân cận thiện tri thức. Lại còn điều trọng yếu nữa là: Ðối với thiện tri thức có phương tiện rất khéo léo, chớ nên thấy chỗ sai lầm. Bởi vì thân cận thiện tri thức là do mình chưa được đầy đủ, chưa biết hết mới phải cầu những điều lợi ích nơi thiện tri thức. Thân cận thiện tri thức, không phải là tìm kiếm những sai sót của thiện tri thức. Cho nên phải chú ý đến chỗ “phương tiện khéo léo”, nắm lấy những chỗ lợi ích cho mình, không nên soi mói những điều sai sót của thiện tri thức. Có như vậy mới hoàn thành việc học Bồ Tát hạnh, mong cầu đức hạnh nơi thiện tri thức”.

Từng chữ từng chữ của lời khai thị và chỉ đạo này đều khắc sâu vào tâm khảm của Thiện Tài mãi mãi. Sau cùng, Bồ Tát Văn Thù giới thiệu với Thiện Tài là ở phương Nam, nơi núi Diệu Phong, nước Thắng Lạc có Tỳ-kheo Ðức Vân, là vị đại thiện tri thức nổi tiếng, nên đến đó học hỏi và thân cận. Ðối với những câu hỏi “Làm thế nào để hạnh Phổ Hiền mau đạt được viên mãn?”, Thiện Tài đã lãnh hội được lời giải đáp như ý nguyện. Những lời chỉ giáo của Thánh giả, Thiện Tài đều nhất nhất tin nhận không nghi.

Thiện Tài hiểu rõ việc học đạo Bồ Tát, tu hạnh Phổ Hiền, yêu cầu đầu tiên là được trí tuệ quảng đại, điều này phải do thân cận thiện tri thức rất nhiều mới có thể đạt được. Thiện Tài rất cảm kích lòng từ bi của Bồ Tát Văn Thù đã khai đạo một cách thiết yếu và rõ ràng. Thiện Tài không còn phải bận tâm về vấn đề làm thế nào để tu Bồ Tát đạo. Thiện Tài hiểu rằng thân cận thiện tri thức là học tập việc bắt đầu của hạnh Bồ Tát. Có tin sâu vào việc này mới có thể giúp cho việc đi đến đạo Bồ Tát một cách tuyệt đối không sai sót, đem đến cho ta thiện xảo ứng tri, ứng hạnh vô biên, thành tựu hạnh nguyện vô thượng, trọn vẹn mục tiêu tối cao. Thiện Tài dường như đã thấy được con đường sáng phía trước, trong lòng sung sướng vô cùng, liền bái biệt Bồ Tát Văn Thù, trung thành với lời dạy thực tiễn của Thánh giả, không ngại khuya sớm, không ngại gian nan, tiến thẳng về dòng sông phía Nam bắt đầu kiếp sống tham phỏng học hỏi, triển khai bản lý lịch vinh quang trong việc tham cầu thiện tri thức của mình.

 

NGƯỜI BUÔN CHÂU BÁU 

Căn cứ vào truyền thuyết Phó Pháp Tạng Nhân Duyên, theo lời ký của Ðức Phật, sau khi Phật diệt độ khoảng một trăm năm thì vị Thánh thứ ba trụ trì Phật pháp là Thương Na Hòa Tu sẽ xuất thế.

Vị Thánh nhậm chức trụ trì Phật pháp đầu tiên sau khi Phật diệt độ là Tôn giả Ðại Ca Diếp, đầu đà khổ hạnh đệ nhất. Theo truyền thuyết, những điều chứng ngộ và tuyên dương của Ðức Phật là “Vô thượng thắng pháp”, “Thanh tịnh pháp”, “Vi diệu pháp”. Vì sợ rằng khi Phật diệt độ, người thọ lãnh mạng vận làm giáo pháp tiêu diệt khiến chúng sinh đời sau mãi mãi trầm luân nơi biển khổ, cho nên lúc sắp viên tịch, Ðức Phật đặc biệt ân cần phó chúc cho Ðại Ca Diếp: “Ta nay sắp Bát Niết bàn, đem pháp thậm thâm vi diệu giao phó cho ông, ông vì đời sau mà kính thuận lãnh thọ ý ta, rộng tuyên dương lưu truyền, đừng để bị đoạn tuyệt”. Thực tế, Ðức Phật không phải chỉ phó chúc riêng một mình Ðại Ca Diếp mà thôi, phàm đã là đệ tử Phật thì đều phải lãnh thọ như thế. Bởi vì tất cả đệ tử chỉ là một chứ không phải hai. Cho nên, không luận là phàm hay Thánh, hễ là đệ tử đều phải có trách nhiệm chung đối với việc trụ trì Phật pháp. Nếu như bảo điều này Phật chỉ nói cho Ðại Ca Diếp thì đó là việc làm của một mình Ðại Ca Diếp, còn các đệ tử khác xưa nay rất đông, có thể do không nghe, không hỏi, không nói đến họ cho nên họ không có trách nhiệm đối với sinh hoạt Phật giáo chăng?

Ðiều này quả là đã ngộ nhận tâm nguyện và lòng từ bi của Ðức Phật. Bởi vì đương thời đệ tử Phật rất đông, Phật không thể phó chúc cho từng người được. Hơn nữa, trong đại chúng xuất gia, Ðại Ca Diếp là một vị Trưởng lão Thượng tọa cao niên trong chúng, đức độ đầy đủ là bậc tôn kính trong Tăng đoàn. Cho nên Ðức Phật chọn Ðại Ca Diếp làm đại biểu trong Tăng chúng để giao sứ mạng cho ông, xem như là sự kiện rất trọng đại và tối hậu của Ðức Phật và cũng là sự bàn giao một cách viên mãn vậy. Lúc ấy, Ðại Ca Diếp cũng hiểu sâu sắc về bi nguyện quảng đại của Ðức Phật, chí thành tiếp thọ lời dạy của Phật mà phát nguyện: “Lành thay lời dạy bảo! Con nay nguyện phụng trì Chính pháp, khiến cho đời vị lai được nhiều lợi ích, ngưỡng mong Thế Tôn chớ nên lo lắng”. Ðiều này có nghĩa là Ðại Ca Diếp đại biểu cho tiếng lòng của đại chúng, hòa với lòng từ bi của Ðức Phật, đã khẳng khái đảm đương không một chút đắn đo nghi ngờ gì cả, do vậy Phật mới an nhiên nhập diệt.

Sau khi Phật nhập Niết bàn, Tôn giả Ðại Ca Diếp lãnh đạo Tăng đoàn kết tập Tạng pháp của Phật, lưu bố nơi thế gian, khiến cho Chính pháp của Phật được truyền bá lưu chuyển không dứt. Cho đến khi tuổi ngày càng cao, không còn đủ sức đảm đương, Ðại Ca Diếp mới đem trách nhiệm lớn trụ trì Phật pháp giao cho Tôn giả A Nan lãnh đạo, tự mình đến núi Kê Túc tại Ấn Ðộ “dùng cỏ làm tòa, kiết già mà ngồi”, “lấy định trụ thân, đợi Ngài Di Lặc”. Sau khi ngài Ðại Ca Diếp nhập định tại núi Kê Túc, Tôn giả A Nan đối với sứ mạng trụ trì Phật pháp một lòng một dạ truyền bá, đến nơi nào cũng “du hành tuyên dương diệu pháp, giáo hóa chúng sinh khiến cho đều được độ thoát”. Một hôm, Tôn giả vào trong Trúc Lâm (rừng trúc) nghe một vị tân học Tỳ-kheo tụng bài kệ Pháp Cú: “Như người sống trăm tuổi, không thấy Thủy lão hạc, không bằng sống một ngày, mà thấy được hạc ấy”. Biết rõ đây là một sai lầm rất lớn, người sống được trăm năm không thấy được con hạc ấy đối với Phật pháp nào có liên hệ gì đâu? Không ngăn nổi thương tâm, Tôn giả liền đến trước vị ấy để chỉ bảo: “Lời tụng của nhân giả chẳng phải là bài kệ pháp của Phật, thật là lầm lẫn với lời tà giáo. Bài kệ Pháp Cú của Phật phải tụng như vầy: “Nếu người sống trăm tuổi, không hiểu pháp sinh diệt, không bằng sống một ngày, mà hiểu pháp sinh diệt”. Bởi vì người đời không biết được tính hư vọng sinh diệt của thế gian, bèn sinh khởi ái trước cho là chân thật mới tạo nghiệp rồi phải chịu sự thống khổ sinh tử, nếu như hiểu được tính hư vọng của pháp sinh diệt liền ngăn được ngã kiến tham ái chấp trước, khế nhập tính chân thật của pháp sinh diệt mới có thể giải thoát được thống khổ sinh tử, đây mới là chân Phật pháp, mới là mục đích trì tụng Phật pháp”.

Thế nhưng