- Thiền Định
với cuộc sống hôm nay
---o0o---
I.
Vào Đề :
Phật không
phải là một lý thuyết gia mà là thầy thuốc giỏi. Do đó,
lời dạy của Phật không phải là triết lý mà là đạo lý
về sự thật nơi con người và cuộc đời nhằm giúp con người
giác ngộ.
Trong khi hầu hết tôn giáo dạy con
người thờ kính thần linh và cầu xin ân huệ nơi tha lực thì
đạo Phật khuyên con người tự phát triển khả năng giác
ngộ giải thoát của chính mình. Nói cách khác, thần giáo
bảo chúng ta ngước mặt lên trời cầu xin thần linh ban ơn và
cứu rỗi, đạo Phật giúp chúng ta nhìn vào con người và xã
hội mà khai triển trí tuệ và từ bi với mục đích xây
dựng an lành cho mình cho người.
Có nhiều người, nhất là những người có sẵn thành kiến
về các tôn giáo không thấy được sự sai khác giữa thần
giáo và đạo Phật nên xem đạo Phật cũng là một thứ
thần giáo có những lý thuyết duy thần, nghi lễ duy tâm v.v...
Thật ra nguyên nhân của sự hiểu
lầm này không phải chỉ do sự hiểu sai và sự xuyên tạc
của những người không Phật tử mà còn do chính những người
theo đạo Phật gây nên.
Chính Phật đã tiên đoán rằng sau
khi Phật viên tịch độ 1000 năm thì đạo lý cao siêu của Ngài
bị những người kém cỏi làm cho hoen ố và sai lạc. Từ khi
Phật viên tịch đến nay đã hơn 2500 năm. Đạo lý của
Phật đã truyền từ Ấn độ sang các nước Trung Á, Đông
nam Á, Viễn đông, và bây giờ thì sang Âu Mỹ. Nhưng hiện tượng
"tam sao thất bổn", thêm
thắt, chắp vá, "phương tiện"...
làm cho đạo Phật mất rất nhiều tính chất nguyên thủy và
độc đáo của nó.
Phật đã bị thần hóa với những
quyền năng ban phước giáng họa mà Phật không hề có và không
cần có. Người ta đã sáng tạo thêm nhiều Phật khác có uy
quyền hơn Phật tổ, hoặc đặt thêm trên bàn thờ Phật
những tượng thần, để thỏa mãn nhu cầu tín ngưỡng của
những người ham chuộng lễ bái, cầu xin ân huệ hơn là tìm
đạo giác ngộ giải thoát.
Pháp, lời dạy trong sáng lợi ích
của Phật, bị bỏ quên. Người ta ưa thích tụng và giảng
những linh điển "tượng pháp"
hay "tà pháp" thích hợp
với sự hiểu biết thấp kém của "tín
đồ" và thuận lợi cho việc thương mãi hóa đạo
Phật.
Tăng, những người tu hành thanh
tịnh, lợi tha, không còn giữ được địa vị
"chúng trung tôn" của mình. Phần lớn đã
trở thành giáo sĩ làm trung gian giữa thần thánh oai quyền và
người cầu xin phước lộc. Một số khác, vì lý do kinh tế,
trở thành phù thủy, thầy bói, thày đoán xăm quẻ...
Nhiều tổ chức Phật giáo, vì
mục đích gây thanh thế cho tông phái mình, có xu hướng xây
dựng giáo quyền theo kiểu tòa thánh La Mã. Tệ hơn, có
những người, vì tự ti mặc cảm đối với các thần giáo
phương tây, muốn hiện đại hóa đạo Phật, từ giáo lý cho
đến phương pháp tu dưỡng, theo kiểu Tin lành Hoa kỳ hay Tân
tăng Nhật bản.
Những hiện tượng trên đã làm
cho đạo Phật bị hiểu sai, trong khi đó Phật không phải là
thần linh, pháp không phải là giáo lý thần khải hay tín điều
(dogmatisme) và tăng chỉ là người tu hành và hướng đạo cho
những ai muốn sống đạo.
Và một nguyên nhân khác nữa, cũng
làm cho người ta hiểu lầm đạo Phật, là sự không hiểu rõ
đạo Phật vốn chủ trương Tâm Vật, hai thành phần tuy khác
nhau song không thể hiện hữu một cách biệt lập, mà luôn luôn
hiện hữu cùng nhau và ảnh hưởng lẫn nhau. Tất cả những
phương pháp tu dưỡng trong đạo Phật đều là trung đạo, không
cực đoan về lý thuyết cũng như trong thực hành.
Trong một vài kinh, nhất là các
kinh điển phát triển (Đại thừa), thoảng hoặc có những
lời nói "có vẻ duy tâm"
song đó chỉ là nhấn mạnh để chận đứng sự "vong
thân" hay "đối trị căn
cơ" mà không phải là lý thuyết duy tâm, duy
thức toàn diện. Hơn nữa, chữ tâm (citta)
trong Phật học không có nghĩa như chữ
tâm của triết học Tây phương. Bởi vì toàn bộ giáo
lý của Phật dựa trên đạo lý Duyên khởi (Paticcasamuppada),
nghĩa là đạo lý chủ trương vạn pháp do nhân duyên sanh
chứ không do thần sanh, không do tiền định hay có ra một cách
ngẫu nhiên may rủi.
Trở lại vấn đề, mặc dù Phật
xem tâm ý, phần chủ động và sáng tạo nơi con người là
quan trọng, song không hề phủ nhận sự hiện hữu của cảnh
vật bên ngoài và chủ trương rằng cấu trúc và hoàn cảnh xã
hội cũng như diều kiện kinh tế có ảnh hưởng lớn đến
sự suy tư, tâm tình và ý chí con người.
Tâm ý vốn là phần chủ động
của sự sống và cuộc sống cho nên phương pháp tu dưỡng
trong đạo Phật thường được xem là phương pháp tu tâm, nghĩa
là phương pháp giáo dục cải tạo con người. Song người ta
cũng tìm thấy rất nhiều lời Phật dạy về vấn đề cải
tạo môi trường sinh sống, xây dựng xã hội an lành theo nguyên
tắc hướng về giác ngộ giải thoát.
Vì thế, ngay những vấn đề mà người
đời thường cho là quan trọng như Thượng đế hiện hữu
hay không hiện hữu, vật chất sinh ra tinh thần hay tinh thần
sinh ra vật chất,... đối với phật tử không phải là
những vấn đề quan trọng.
Quan trọng cho con người vẫn là
vấn đề thanh tịnh hóa tâm ý, nghĩa là gạn lọc và làm cho
phần sáng đẹp của tâm ý được phát triển trong mục đích
cải tạo con người và xã hội loài người. Trong phạm vi giáo
dục và cải tạo con người, Phật dạy chúng ta hãy nhìn
thẳng vào tâm ý. Vui buồn, sướng khổ chỉ là kinh nghiệm
của tâm ý. Quan niệm về tốt xấu, lợi hại, khôn dại cũng
chỉ là những kết quả của thái độ và cảm giác
cảm tình nơi con người. Kinh nghiệm cho thấy đời sống tinh
thần của con người chỉ là sự tiếp nối của dòng cảm giác,
nhận thức, tư tưởng và phân biệt dựa trên những kinh
nghiệm của quá khứ; qua chúng, chúng ta thấy nào là thương
ghét, sợ buồn, điên say, kiêu ngạo... Đó là thực tại
trong đời sống con người cần phải nhìn thấy, chuyển hóa,
còn sự hiện hữu hay không hiện hữu của thượng đế và
bản ngã không phải là vấn đề thiết yếu:
"Tâm dẫn
đầu các pháp
Tâm là chủ, tâm sử
Với tâm ý nhiễm ô
Nói năng hoặc hành động
Đau khổ theo liền ta
Như bánh xe theo bò.
Tâm dẫn đầu các pháp
Tâm là chủ, tâm sử
Với tâm ý thanh tịnh
Nói năng hoặc hành động
Hạnh phúc theo liền ta
Như bóng không rời hình."
(Pháp cú 1,2)
Vì thế trong đạo Phật chân
lý vi diệu thứ nhất là khổ (dukkha), chỉ cho sự
thiếu sót của cuộc đời như buồn lo, đau đớn, thất
vọng, thác loạn, mất quân bình, giả dối, mong manh...
Chân lý vi
diệu thứ hai là Nhân khổ (samudaya), chỉ cho tham ái
(tanhâ) hay là ba độc: tham, sân, si; hay là năm điều ngăn che
tâm trí: tham dục, nóng giận, hôn trầm, loạn động, lo âu,
nghi ngờ; hay là mười dây ràng buộc: chấp ngã, nghi ngờ, mê
tín nghi lễ và cố chấp vào giới điều, tham dục, tàn bạo,
tham sắc (vi tê), tham vô sắc, kiêu ngạo, loạn động, vô
minh.
Chân lý vi
diệu thứ ba là sự khổ diệt (nirodha) chỉ cho sự
an lành khi tham sân si bị tiêu diệt.
Chân lý vi
diệu thứ tư là con đường dẫn dến khổ diệt (magga) gồm
tám chánh đạo: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh
nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định
được quy tụ vào ba điều học: Giới
(sila), Định (samadhi) và Tuệ
(panna).
Có thể ví dụ bốn chân lý vi diệu như sau:
1 - Bệnh
2 - Nguyên nhân sinh bệnh
3 - Sự hết bệnh
4 - Phương thuốc chữa lành bệnh.
Như vậy, Phật, với giác ngộ
giải thoát, chủ trương rằng cuộc đời có khổ gây nên
bởi tham, sân, si và nếu muốn được an lành, con người
phải sống theo đạo. Sống đạo tức là tu dưỡng hay thực
hành Giới Định Tuệ. - đây không bàn đến Giới và Tuệ mà
chỉ bàn đến Định, tức là thiền định, có nghĩa là tu tâm
dưỡng tánh.
Người ta thường lầm lẫn Thiền
định (dhyâna) với Yoga của
Ấn giáo (Hindouisme) có mục đích luyện tập thân
thể cho dẻo dai khỏe mạnh, thôi miên, cầu phép lạ hay
xuất hồn và cuối cùng thông hợp với Đại ngã hay Thượng
đế. Tất cả những phương pháp tu dưỡng không hướng về
giác ngộ giải thoát đều không dính líu gì với thiền định
của đạo Phật. Người tu thiền định không bao giờ dùng các
thứ thuốc kích thích (drogue), không cầu mong sự điểm đạo
huyền bí hay thần thông phép lạ và không tụng đọc cả
những thần chú (mantra). Thiền định liên quan mật thiết đến
Tâm ý và cuộc sống con người, rất thích hợp cho những ai
muốn thăng hoa đời sống hướng về giác ngộ giải thoát.
II
. Mục Đích
"Người hãy
tự cố gắng
Như Lai chỉ dẫn đường
Ai vào đạo tu thiền
Giải thoát khỏi lưới ma." (Pháp cú
276)
Trước khi bàn phương pháp thiền
định, hãy nói đến mục đích thiền định: "Tại
sao tu thiền định?" hay "Tu
thiền định được ích lợi gì?"
Mục đích của thiền định cũng là
mục đích của đạo Phật. Ấy là thực hiện giác ngộ
giải thoát (nirvâna) hay diệt trừ đau khổ như Phật nói:
"Này các thầy, giống như bể cả chỉ có một vị, ấy
là vị mặn; cũng vậy, giáo pháp và giới luật của Như Lai
chỉ có một vị, ấy là vị giải thoát." (An, 205).
Rõ ràng, chúng ta đang bị đau khổ
dày vò bởi vì chúng ta có bịnh tật, như Phật dạy: "Con
người là kẻ có bịnh tật thân thể và tinh thần. Bịnh
tật nơi thân thể thì xảy ra lúc này khi khác nhưng sức
khỏe tinh thần thì không thể có được trong phút giây nên
con người chưa đạt được giải thoát." (An, II, 143).
Khổ ở đây không chỉ là những khổ đau thông thường như
đói cơm, rách áo, thiếu thuốc, không nhà, thương yêu mà
phải xa lìa, oán thù mà phải gặp nhau, mong cầu mà không
toại ý... mà còn là sự khổ đau triết lý cội gốc vì bị
ràng buộc trong vòng sanh già bệnh chết gây nên bởi vô minh,
không giác ngộ sự giả hợp và biến chuyển của sự vật (samkhâra
dukkha, viparinama dukkha).
Nói cách khác chữ Khổ trong kinh
Phật có nghĩa là cuộc sống không vừa ý, đầy khủng
hoảng, mâu thuẫn, mất quân bình vv... Câu chuyện sau đây có
thể nói thêm một phần nào nghĩa chữ Khổ (dukkha) trong đạo
Phật:
"Ngày xưa,
có một ông vua thông minh, hiếu học, lúc tuổi về già,
muốn tìm hiểu sự thật của con người và cuộc đời. Nhà
vua ra lệnh cho học giả trong nước đi khắp nơi để nhận
xét và ghi chép những gì đã xảy ra cho con người từ xưa
đến nay. Vâng lệnh vua, nhiều đoàn học giả ra đi và làm
việc suốt mấy mươi năm trời.
Một ngày kia,
thấy mình không còn sống được bao lâu nữa, nhà vua ra
lệnh gọi các học giả trở về. Số học giả ra đi thì
nhiều nhưng trở về thì rất ít. Phần đông đã chết vì
bệnh tật, già yếu. Trong lúc tiếp đón đoàn học giả, nhìn
thấy những xe bò chở đầy sách sử nhà vua rất mừng. Nhưng
bất giác nhà vua rưng rưng nước mắt vì thấy mình không còn
thì giờ để có thể đọc hết các sử sách ấy. Để làm
vui lòng nhà vua, các học giả già trẻ trong nước họp nhau
lại và cố gắng toát yếu tất cả sử sách ấy và mong
rằng vua có thể đọc được những điều hay việc lạ trước
khi chết. Sau mấy năm trời bàn luận, biên chép, các học
giả thâu tóm ý nghĩa của những xe bò sử sách trong một
quyển và đem trình vua. Lúc bấy giờ nhà vua đang nằm trên
giường bệnh. Nhìn quyển sách quý giá, nhà vua cảm động
rơi lệ và nói: "Trẫm làm sao còn có thì giờ để đọc."
Các học giả lại vội vàng họp nhau để toát yếu thêm
một lần nữa. Cuối cùng tất cả các học giả đều
bằng lòng cô đọng tinh hoa của bao nhiêu xe sử sách trong
một chữ: ấy là chữ Khổ (Dukkha), nghĩa là cuộc đời đầy
cả những điều không vừa ý, không chắc thật và luôn luôn
biến đổi."
Theo đạo Phật, đau khổ thông thường
hay đau khổ cội gốc đều do những nguyên nhân phát xuất
từ con người và xã hội loài người. Con người nếu muốn
và hội đủ điều kiện thì có thể diệt trừ được đau
khổ. Khác với các loài động vật hữu tình khác, con người
có thể ý thức được mình đau khổ và luôn luôn mong muốn
được an vui. Có điều tìm ra phương pháp và diệt trừ được
đau khổ không phải là dễ dàng và không phải ai cũng làm
được. Phật là người đã tìm ra nguyên nhân đau khổ và
chỉ dạy phương pháp diệt trừ đau khổ. Phật khuyên chúng
ta cố gắng tập trung trí tuệ và phương tiện cho mục đích
diệt khổ mà không nên miên man với những câu hỏi siêu hình
vô ích. Phật ví dụ người bị đau khổ dày vò phải mau mau
diệt trừ đau khổ, như người bị tên độc bắn phải mau
mau xin nhổ tên độc mà không nên mất thì giờ với những câu
hỏi vớ vẩn, xa vời: "Ai là người
bắn tên độc?", "Tên
độc làm bằng gì?" (xem Mn, 63).
Theo đạo Phật, đau khổ thông thường
có thể diệt trừ được bằng thay đổi cách sống, thăng
hoa điều kiện xã hội, kinh tế... Song đau khổ cội gốc
chỉ có thể bị diệt trừ với đạo lý giác ngộ giải thoát
mà thôi.
Tất cả phương pháp tu dưỡng của đạo Phật đều nhằm đến
giải thoát những đau khổ cội gốc trong đó có những khổ
đau thông thường: Thiền định là một trong ba điều học
quan trọng sau giới luật và trước trí tuệ. Chỉ sống theo
giới luật mà không tu tập thiền định để phát triển trí
tuệ thì người tu hành chỉ có thể trở thành người có tác
phong đạo đức nhưng vẫn chưa có căn bản để tiến tới
giác ngộ giải thoát. Hơn nữa, như Phật dạy, dù hiểu
biết đạo lý, có khả năng giáo hóa kẻ khác, từng đọc
nhiều kinh diển cũng không thể gọi là sống đạo. "Chỉ
khi nào tu tập thiền định mới gọi là sống đạo"
(xem An, III, 85). Bởi vì thiếu thiền định thì không thể có
trí tuệ. Mà không có thiền định và trí tuệ thì tham sân
si tuy bị đè nén song vẫn còn gốc rễ và có thể phát sinh
trở lại khi có điều kiện thuận lợi. Như vậy tu thiền định
là để giác ngộ giải thoát và lợi ích của tu thiền định
là an vui.
Thật là khó hiểu thế nào là
giải thoát an vui đối với những ai đang bị ràng buộc bởi
dục lạc và sống chết, cũng như thật là khó hiểu thế nào
là lành mạnh sung sướng đối với những ai đang bị ốm đau
bệnh tật. Muốn hiểu rõ giải thoát an vui, điều cần
thiết là nên tu tập Giới Định Tuệ chứ không nên bàn suông
về giải thoát, cũng như muốn hiểu rõ lành mạnh điều
cần thiết là nên áp dụng phương pháp dưỡng sinh chứ không
nên chỉ đọc sách thuốc. Nghe người khác giảng về giải
thoát tuy cần song chưa đủ để hiểu rõ giải thoát. Hơn
nữa có rất nhiều khó khăn trong việc diễn tả bằng ngôn
ngữ thông thường về một sự việc khác thường. Hãy bớt
đi những thắc mắc về bản thân giải thoát mà nên thêm lên
sức mạnh trong công việc thực hiện giải thoát. Nếu có
những chân trời mới lạ chưa có thể khám phá ngay được
thì hãy mở mắt nhìn xa và cố gắng bước tới. Đừng
nhắm mắt dậm chân phủ nhận một cách hẹp hòi bừa bãi để
rồi phải chịu lưu đầy trong ngục tù mê lầm thành kiến.
Cuộc nói chuyện giữa "rùa và cá"
sau đây cho chúng ta một vài suy nghĩ về thực tế của ràng
buộc đau khổ và thực tế của giải thoát an vui:
"Ngày xưa
có một con cá, vì nó là loài sống dưới nước nên chỉ
ở trong nước và ngoài nước ra nó không biết gì hết.
Một hôm nó đang nhởn nhơ bơi lội trong hồ tình cờ gặp
một con rùa mà nó đã quen từ trước, du lịch trên đất
liền mới về. Nó liền chào hỏi:
- Chào anh, lâu lắm tôi không gặp anh.
Vậy lâu nay anh đi đâu?
- -, tôi đi du lịch trên đất liền. Trên
ấy mặt đất rất khô ráo.
- Đất khô! Anh nói cái gì lạ vậy? Tôi
chưa bao giờ nghe nói điều lạ kỳ như vậy. Lẽ nào lại
có đất khô?
- Xin thề là tôi không nói đùa với
anh. Nhưng nếu quả tình anh không tin được thì tùy anh, không
ai ngăn cản được anh. Nhưng dù sao tôi vẫn từ trên đó
về.
- Này anh, anh hãy cố gắng diễn đạt
lại cho hợp lý hơn, tôi nghĩ rằng cách diễn đạt của
anh chưa rõ ràng lắm. Anh vui lòng cho tôi biết đất mà anh
nói giống như cái gì trong thế giới chúng ta? nó có ẩm ướt
không?
- Không, nó không ẩm ướt.
- Thế nó có mát dịu và lạnh không?
- Nó không mát, không dịu mà cũng
chẳng lạnh.
- Thế nó có trong suốt để cho ánh sáng
xuyên qua không?
- Không, nó không trong suốt và ánh sáng
không thể xuyên qua được.
- Thế nó có mềm và dễ bị ép để
cho tôi có thể quậy vi và bơi lội dễ dàng không?
- Không, nó không mềm, không bị dồn
ép dễ dàng và anh cũng không thể bơi lội trong đất được.
- Thế nó có lưu động và đổ thành
thác được không?
- Không, nó không lưu động và không đổ
thành thác được.
- Vậy thì nó có dâng lên để tạo thành
những mũi sóng bạc đầu được không?
- Không, tôi chưa bao giờ thấy nó dâng
lên thành làn sóng cả.
Đến đây con cá vênh váo tự đắc và
nói rằng:
- Tôi đã từng nói với anh rằng: Đất
mà anh nói không phải là cái gì cả. Tôi cũng vừa hỏi anh
về đất ấy và với câu hỏi nào anh cũng trả lời không.
Đất anh đã nói là không giống bất cứ cái gì tôi nêu ra,
vậy thì đất hẳn là "hư vô". Anh đừng bịp tôi
nữa!
- Tốt! Anh quả quyết rằng không có đất
liền. Tôi cũng không có cách nào hơn là cứ để anh tiếp
tục tin vào những điều anh đã nghĩ. Nhưng một mai, có ai
khác hơn tôi đủ sức phân biệt cho anh thấy sự sai khác
giữa đất và nước thì ngày ấy anh sẽ thấy rằng anh
chỉ là một con cá ngốc!"
Kể lại câu chuyện nầy không có
ý nói là phải đợi đến lúc nào giải thoát hoàn toàn người
ta mới hưởng thụ được an vui. Bởi vì giải thoát có thể
thực hiện từng phần cho đến toàn phần. Do đó người tu
tập thiền định có thể hưởng thụ an vui từng phần cho đến
toàn phần, cũng như kiến thức rộng rãi của nhà bác học là
cái gì do tích lũy lâu ngày; cứ một ngày học hỏi là một
ngày thêm được một ít hiểu biết. Cũng như lành bệnh hoàn
toàn là trạng thái sức khỏe được phục hồi qua nhiều ngày,
cứ mỗi lúc bớt ốm đau là một lúc thêm được an lành.
Người tu tập thiền định, trước
khi chứng đạt giải thoát hoàn toàn, có thể an vui nhờ sự
diệt trừ được những tâm lý tiêu cực như tham dục, nóng
giận, hôn trầm, loạn động lo âu, nghi ngờ..., phát triển
được những tình cảm tích cực như từ bi hỷ xả, tâm trí
trở nên thanh tịnh, dễ dàng tập trung và luôn luôn thức
tỉnh sáng suốt đối với hoàn cảnh bên ngoài cũng như hình
ảnh bên trong.
Tóm lại, mục đích
của thiền định là giải thoát. Có giải thoát thì có an vui.
Và giải thoát an vui có thể thực hiện lần lần ở đây và
bây giờ.
III.Với
Cuộc Sống Thác Loạn
"Vui cười
thế nào được
Khi biết mình đang cháy
Bị bóng tối phủ vây
Sao không tìm ánh sáng" ( Pháp
cú, 146 )
Thiền sư Kosho Uchiyama kể lại câu
chuyện như sau:
Hachiko mới
học cưỡi ngựa. Con ngựa khôn ranh biết người cưỡi nó
thuộc loại tồi. Khi đi ngang qua một quán rau bên đường,
nó tự dừng lại ngoặm lấy rau cải ăn ngay tại chỗ.
Chủ quán tức giận đánh cho mấy hèo. Nó kêu lên, nhẩy
dựng rồi phi nước đại. Hachiko hoảng hốt, cầm chặt
lấy cương và gáy ngựa để khỏi bị quăng ngã. Bấy
giờ, một người bạn của Hachiko cũng đi cùng đường.
Thấy Hachiko đang bối rối, lo sợ vì ngựa, người bạn
hỏi:
- Anh đi đâu mà vội vàng và nguy
hiểm thế?
- Tôi không biết... Hỏi con ngựa ấy!
Đây có thể là câu chuyện bịa
song ý nghĩa của nó là giúp chúng ta liên tưởng: Hachiko
bất tài không chế ngự được con ngựa khôn ranh hung hãn nên
bị nó "hành hạ", chẳng khác gì con người thiếu
khả năng, không điều khiển nổi và không sử dụng tốt
khoa học kỹ thuật nên phải chịu lắm tai ương.
Chúng ta đều đồng ý rằng khoa học kỹ thuật là cái gì
thật là kỳ diệu trong vài thế kỷ gần đây. Khoa học
kỹ thuật tân tiến đã thay đổi cuộc sống, đem lại cho
con người những kiến thức đúng đắn và nhiều tiện nghi
lợi ích. Khoa học kỹ thuật mở rộng không gian đưa con người
lên cao tận các hành tinh xa xôi, giúp con người kéo dài đời
sống bằng cách chữa trị những bệnh tật ngặt nghèo,
thay tim ghép phổi...
Điều đáng trách là con người phần đông chưa đủ khả năng
để có thể hướng dẫn khoa học kỹ thuật trong công
cuộc xây dựng hạnh phúc an lành. Không có gì quá đáng khi
chúng ta nói rằng ngày nay khoa học kỹ thuật phần lớn
nằm trong tay những kẻ quân phiệt tài phiệt và trở thành
khí giới độc hại, phương tiện nguy hiểm cho sự sống còn
của loài người.
Không cần phải bôi đen cuộc
sống hiện tại bởi vì thực tế nó đã không mấy tươi
đẹp rồi. Không kể bom đạn, thuốc độc giết hại con người
trong bao nhiêu cuộc chiến tranh đây đó, những tệ nạn xã
hội như trộm cướp, hãm hại, tai nạn lưu thông xe cộ, không
khí ô nhiễm, môi trường sinh sống bị hủy hoại, thất
nghiệp, đói thiếu... và những tai nạn cá nhân gây ra như
tự tử, rối loạn thần kinh, mất ngủ, áp huyết cao, đau
đầu kinh niên... càng ngày càng tăng, nhất là trong những
xứ khoa học kỹ thuật phát triển.
Sự thật, chúng ta, nhất là những người sống ở những
đô thị cao lớn rùng rợn, bệnh hoạn, đang sống trong
thời kỳ có rất nhiều ràng buộc đe doạ bên ngoài cũnh
như bên trong. Những sản phẩm thường dùng của xã hội tiêu
thụ như máy truyền hình, phát thanh, phim ảnh thay vì được
dùng để nâng cao, giải thoát con người, đã hạ thấp và
nô lệ hóa trí thức tình cảm con người. Người ta ăn
uống không phải để sống khỏe, sống vui mà để thỏa mãn
luyến ái về mùi vị; mặc áo quần không phải để khỏi
nóng lạnh mà để chưng diện kiêu hãnh; dùng xe cộ không
phải để đi lại mà để khoe khoang, lấn át kẻ khác. Người
ta bị lôi cuốn theo những thị hiếu thấp kém và chạy
theo những lối sống cầu kỳ xa xỉ để rồi phải mang
lấy xiềng xích và chịu lấy khổ đau.
Nói thế không có nghĩa là chỉ
trích khoa học hay khuyến khích từ bỏ kỹ thuật. Bởi vì
khoa học là những phát hiện phù hợp sự thật, có khả năng
nâng cao trí tuệ con người; kỹ thuật, trong chừng mực nào
đó là phương tiện thiện xảo có thể đem lại lợi ích
cho cuộc sống loài người.
Nguyên nhân chính của sự không
ổn không phải là khoa học kỹ thuật mà là con người. Con
người cho đến nay chưa đạt được trình độ văn hóa
tốt đẹp, xứng đáng. Đặc tính của nền văn minh hiện
đại là thác loạn và thiếu quân bình. Vì thế con người
dễ dàng bị "tha hóa" và khổ đau. Máy điện
thoại là một phương tiện liên lạc thông tin rất tiện
lợi, song thay vì dùng nó để thăm hỏi nói chuyện lại dùng
để chửi mắng nói xấu đe dọa nhau. Văn hóa là thành
quả của giáo dục nghiêm túc. Vốn là phương tiện đào
luyện con người, thế mà giáo dục học đường ngày nay
ở một số nơi đã trở thành phương tiện mua bán hay được
tổ chức trong tin thần hẹp hòi, vụ lợi để đáp ứng
nhu cầu thương mại quá thực dụng của xã hội tiêu thụ.
Người ta chỉ chú trọng việc đào tạo chuyên viên để phát
triển kỹ nghệ tiêu thụ, mà quên đi việc đào tạo con người
hiểu biết khoa học, yêu thích nghệ thuật và sử dụng
kỹ thuật cho hạnh phúc con người. Những người lỗi lạc
ngày nay phần lớn là những người biết nhiều nhưng hiểu
ít. Do đó con người mất đi rất nhiều khả năng suy tư phán
đoán cũng như phát biểu, choáng váng trước sự rầm rộ
của đám đông manh động, đơn giản hóa sự việc, chấp
nhận nhãn hiệu giả dối và giá trị áp đặt một cách
dễ dàng, đồng hóa mau chóng với sức mạnh mù quáng và
bạo tàn. Bởi yếu đuối và nghèo nàn như vậy nên con người
tự bằng lòng co rút trong vỏ ốc bản ngã nhỏ hẹp, trở
nên ích kỷ, thiếu tình thương, xem thường đạo đức, không
có lý tưởng, đầu hàng trước chủ nghĩa thực dụng; do
đó những đức tính cao thượng lần lần bị phá sản và
chỉ còn lại những ác tính thấp hèn. Giáo dục học đường
đã thế còn giáo dục gia đình cũng không có gì đáng kể.
Cha mẹ bận bịu với sinh kế khó khăn, thiếu khả năng và
nhất là không có thì giờ để dạy dỗ con cái. Có những
cha mẹ tuy có lưu tâm đến vấn đề nầy nhưng kết quả cũng
không được bao nhiêu vì ảnh hưởng của giáo dục học
đường quá lâu dài mạnh mẽ và ngôn ngữ hình ảnh thác
loạn mất quân bình của xã hội qua máy phát thanh, truyền
hình tràn ngập và ăn sâu vào đầu óc thơ ngây của trẻ
con.
Đến khi vào đời thì sự phát
triển khả năng tốt đẹp cá nhân lại càng khó thực
hiện. Là xã hội thương mại tiêu thụ thì mọi tổ chức
đều chú trọng vấn đề phát triển vật chất theo nguyên
tắc "phóng dục", "khôn sống bống chết"
hay "mạnh được yếu thua". Tình trạng không lành
mạnh này thể hiện qua hiện tượng quảng cáo tốn kém,
ồn ào, thấp kém trên các tường phố, màn ảnh và máy phát
thanh. Vì thế chỉ những người có ý chí vững vàng mới
biết "hòa mà không đồng" và có thể giữ gìn được
ít nhiều bản lãnh. Phần đông còn lại đều bị thua
thiệt và trở nên mất quân bình; dù được sống còn thì
cũng chỉ là những con ốc nhỏ bé trong guồng máy khổng
lồ phức tạp, không tình không nghĩa, bị điều kiện và
thao túng bởi những thế lực tham lam bóc lột, si mê bạo tàn.
Tóm lại, chúng ta không thể tin tưởng
hoàn toàn vào nền giáo dục của thời đại mới này để
phát triển con người toàn diện và thăng hoa cuộc sống riêng
chung. Lẽ dĩ nhiên chúng ta cũng không nên dại khờ buông
tay để rơi vào vực thẳm tiêu cực đen tối, mà phải tìm
lấy con đường sống: ấy là con đường tự giáo dục
bằng phương pháp thiền định, trong mục đích tu dưỡng
bản thân, nghĩa là chuyển đổi tham lam bạo tàn thành thương
yêu giúp đỡ (Bi), si mê lầm lạc thành giác ngộ sáng
suốt (Trí), hèn nhát thụ động thành tinh tấn quả cảm (Dũng);
giáo hóa gia đình nghĩa là khuyến khích giúp đỡ con cái thân
quyến tu dưỡng như mình, để gia đình có hạnh phúc, và
cải tạo xã hội nghĩa là xây dựng cuộc sống chung có hòa
bình hạnh phúc thật sự.
Có được trình độ giáo dục như
vậy tức là có văn hóa và xứng đáng là con người. Nói
khác đi, một khi chúng ta đã chọn lý tưởng đào luyện
theo tinh thần giác ngộ giải thoát và có đủ Bi, Trí, Dũng
thì tự nhiên khoa học kỹ thuật do chúng ta phát minh và
sử dụng sẽ là phương tiện quý báu để xây dựng hạnh
phúc an lành cho mình cho người.
IV .
Giá trị của an tịnh
"Như nước
hồ sâu thẳm
Trong xanh và yên lặng
Cũng vậy khi nghe pháp
Hiền đức được an tịnh" (
Pháp cú, 82 )
Ngày nay, ngay cả ở những nước
phương Đông có tiếng là trầm lặng, bảo thủ, cũng không còn
giữ được cuộc sống ngày xưa cách đây nửa thế kỷ. Quan
niệm về thiện ác, đạo đức cũng đã đổi thay. Lối nhìn
người, xét vật không còn như trước nữa.
Đặc tính chung của đời sống
mới chính là sự ồn ào, vội vàng. Không cần nói đến
tiếng động đau đầu nhức óc của xe điện, máy bay mà ngay
cả âm nhạc ca hát mới cũng làm cho người ta điếc tai mệt
óc. Không phải chỉ ở ngoài đường, mà ở trong nhà cũng
vậy, tiếng ồn ào bên ngoài vọng vào, tiếng xe rù, tiếng súng
nổ, tiếng la hét từ máy phát thanh, truyền hình inh ỏi
suốt ngày suốt đêm. Sống mãi trong không khí ồn ào, người
ta không còn để ý rằng sự ồn ào có hại rất nhiều cho
sức khỏe thân thể cũng như tinh thần. Sống mãi với ồn ào,
nên lúc nào thần kinh cũng căng thẳng, tâm trí đần đừ,
cộng thêm những lo âu về tài chính, nghề nghiệp, giao tế,
nên người ta dễ dàng mắc phải những chứng bệnh hiểm nghèo
như mất ngủ kinh niên, thần kinh rối loạn, áp huyết cao,
tim đập không đều, ung nhọt, lở loét, mệt nhọc thường
xuyên...
Cuộc sống không chỉ ồn ào mà còn
vội vàng. Cứ đứng yên vào một góc phố hay ngã tư nào
của Paris, Tokyo, New York vv... cũng thấy rõ sự rộn rịp,
gấp gáp của những làn sóng người qua lại vội vàng; mỗi
người mang theo mình một nỗi lo lắng, bất an, bơ phờ mệt
nhọc. Tất cả tạo cho thành phố vốn đã rộn rịp, hấp
tấp, lại thêm nặng nề khó thở. Ngày nay, những người ở
các thành phố lớn khó mà tìm được một khung cảnh xanh mát
an lành, cũnh như khó gặp được những người thoải mái vui
tươi điềm tĩnh. Hầu hết những thành phố lớn đều là
những tổng hợp của những tòa nhà cao ngất đen nghịt,
trong đó người ta chen chúc trong những gian phòng hộp quẹt
thiếu không khí và màu xanh, với những giòng xe cộ chạy như
thác đổ, thải ra những hơi khói cay mắt ngột ngạt, độc
hại. Có nhiều đô thị mà ở đó người ta phải mua dưỡng
khí để thở.
Đời sống mới ồn ào vội vàng,
cộng thêm những thú vui thấp kém, lại có sức hấp dẫn
rất mạnh với những người hời hợt. Người ta bị bắt
buộc chạy theo tốc độ của máy móc, tiền bạc để được
sống còn. Nhưng trong thực tế, có mấy ai được sống vui,
sống đẹp. Thật là kỳ quái khi người ta làm lụng quần
quật để sống, song ít có thì giờ để ăn ngủ, trò
chuyện, giao tiếp. Thật là lạ lùng khi người ta được khoa
học kỹ thuật cung cấp rất nhiều phương tiện sinh sống và
giải trí thì lại rất ít người được sống khỏe sống
vui. Sau một ngày làm việc và di chuyển, người ta thường
mệt nhoài, không còn tha thiết đến ăn uống, trò chuyện. Đó
là chưa nói đến tai nạn ồn ào vội vàng qua nẻo phát thanh
truyền hình, luôn luôn lôi cuốn và đe dọa con người. Cuộc
sống bên ngoài khó thở thác loạn được phim ảnh thu hẹp rút
ngắn. Loại phim ảnh diễn tả tình yêu vội vàng, rắc rối,
hành động giận dữ tàn bạo, ảnh hưởng rất mạnh những
tâm ý mệt nhọc của con người, ngay cả trong giấc ngủ.
Cuộc sống mới và phim ảnh rẻ tiền làm cho con người mất
đi sức suy nghĩ, phán đoán và quyết định, nhất là sức
tập trung của tâm trí ngày càng yếu, năng suất làm việc ngày
càng giảm đi. Người ta trở nên dễ dàng chấp nhận, nóng
nảy, cau có, la lối, gây gỗ. Người ta cũng dễ dàng đau đầu,
mệt mắt, tức ngực, giấc ngủ đầy ác mộng... Nghĩa là người
ta phải sống thường xuyên trong Stress.
Những triệu chứng sức khỏe hao mòn,
thần kinh suy nhược này, chứng tỏ rằng con người của
thời đại mới cần được nghỉ ngơi và tỉnh dưỡng. Như
vậy, sự an tịnh của cả tâm lẫn thân quả cần thiết và
rất quý báu. Do đó, các tổ chức xã hội và y tế cần lưu
ý đến vấn đề dưỡng sinh, bằng cách giúp con người xa
bớt sự ồn ào vội vàng, sống gần thiên nhiên. Điều quan
trọng vẫn là mỗi cá nhân phải biết quý trọng sự sống
của mình, bằng cách tự tạo cho mình một cuộc sống riêng,
an tịnh, quân bình. Hễ lúc nào có dịp tốt hãy cố gắng ra
khỏi thành phố, bớt thấy, nghe, những hình ảnh tiếng động
thác loạn, không la hét vô ích, bớt nói năng ồn ào, tập
sống theo nguyên tắc "yên lặng là vàng". Sự tĩnh
lặng nơi cảnh vật và trong tâm hồn giúp chúng ta tăng cường
sức khỏe, nghị lực. Nhờ sống trong tĩnh lặng chúng ta
mới có dịp xem xét rõ ràng và chế ngự tình cảm, tư tưởng,
và nhất là khám phá và phát triển khả năng sáng tạo. Nếu
phải sống trong thành phố với cuộc sống ồn ào vội vàng,
chúng ta cũng nên giữ gìn an tịnh và thanh thoát trong tâm ý dù
chỉ trong năm, mười phút, vài lần trong một ngày cũng quý.
Thiền định là phương pháp tu dưỡng
thích hợp giúp chúng ta sống trong an tịnh hoàn toàn.
"Người tâm
ý an tịnh
An tịnh cả ngôn, hành
Giải thoát bởi chánh trí
Luôn luôn được tĩnh lạc" (
Pháp cú, 96 ).
V. Chuẩn bị tinh thần
"Người hãy
tự cố gắng
Như Lai chỉ dẫn đường
Ai vào đạo tu thiền
Giải thoát khỏi lưới ma." ( Pháp
cú 276 )
Thiền định là phương pháp tu dưỡng
dành cho những ai muốn thực hiện giác ngộ giải thoát. Vì
thế, muốn đạt được mục đích cao đẹp ấy, hành giả
phải chuẩn bị thật chu đáo. Trước hết xin nói về chuẩn
bị tinh thần.
1 - Hướng
về giác ngộ.
Hành giả nên ý thức rằng tất
cả khổ đau phiền lụy trong cuộc đời mà con người
phải chịu, phần lớn do vô minh nơi chính mình gây nên. Vô
minh nghĩa là si mê lầm lạc đối với sự thật thông thường
cũng như đối với đạo lý. Nay muốn thoát khỏi khổ đau,
trước hết, tự mình phải hướng về giác ngộ rồi mới
tiến tới việc thực hiện giải thoát. Không nên đặt lòng
tin vào bất cứ người nào hay thần linh nào không giác
ngộ mà chỉ nên nương tựa vào các bậc giác ngộ hoàn toàn,
có đủ phẩm chất và giá trị lịch sử chứng minh. Phật
Gotama hay Thích Ca Mâu Ni là một người như chúng ta, nhưng
đã do tu tập thiền định mà trở thành bậc giác ngộ hoàn
toàn, và phương pháp thiền định do Phật chỉ dạy đã
được chứng nghiệm qua dòng lịch sử lâu dài hơn 2500 năm.
Xem Phật như hình ảnh lý tưởng giác ngộ tức là tự tin
vào khả năng giác ngộ chính nơi bản thân chúng ta. Tin
Phật tức là tự tin mà không hề bị tha hóa. Tin Phật cũng
còn có nghĩa tin rằng mình có thể giác ngộ như Phật. Và
do đó khả năng giác ngộ nơi mình được phát khởi và nâng
cao.
2 - Học
hỏi đạo lý như thật.
Thiền định là lối sống đạo
phù hợp với chân lý do Phật thuyết minh, cho nên muốn tu
tập thiền định một cách đúng đắn và rốt ráo chúng ta
cần phải học hỏi đạo lý của Phật, ít nhất là những
giáo lý căn bản. Nếu không gặp được minh sư chỉ dạy
trực tiếp thì có thể học hỏi qua kinh điển. Lẽ dĩ nhiên
nên đọc tụng các kinh điển nói về thiền định hay liên
hệ thiền định. Có người, nhờ tuệ căn đặc biệt, tuy
không biết văn tự song vẫn thông hiểu chân lý như tổ sư
Huệ Năng. Vì thế không nên lầm lẫn chân lý với văn tự.
Nếu dùng phương tiện văn tự để thấu triệt chân lý
rồi quên văn tự đi thì cũng không có gì trở ngại cho
việc tu tập thiền định. Ví dụ có thể nhờ tụng kinh
Chuyển Pháp Luân mà hiểu rõ Bốn chân lý vi diệu thì chúng
ta biết chắc rằng thiền định là một trong ba điều học
(Giới, Định, Tuệ) và thuộc về chơn lý vi diệu thứ tư
và cũng là Trung đạo sanh ra sự thấy sự hiểu và đưa đến
an tịnh, thắng trí giác ngộ, Niết bàn. Thiếu kiến thức
căn bản về đạo lý của Phật, chúng ta dễ lạc vào
thiền ngoại đạo với những lý thuyết có vẻ ly kỳ,
hấp dẫn song không có phẩm chất giác ngộ, có thể đưa hành
giả đến chỗ điên loạn.
Có người đã sáng tạo ra
"Zen catholique" để thích nghi với thời trang song không
thể xem đó là thiền định của đạo Phật vì nó không phù
hợp với đạo lý Duyên khởi, Vô ngã, Vô thường. Như
vậy, có hiểu đạo Phật thì mới có
thể hành thiền Phật, còn không thì chỉ hành
thiền phàm phu hay thiền ngoại đạo mà thôi.
3 - Cần
có minh sư thiện hữu.
Học hỏi kinh nghiệm về thiền
định qua kinh sách vở chưa đủ, hành giả còn cần phải
được các vị minh sư trao truyền và ấn chứng cho. Muốn
đi sâu vào thiền định, hành giả nên thân cận một
thiền sư vừa tinh thông đạo lý vừa chuyên tu thiền định
để cậy làm bổn sư. Trường hợp đã có bổn sư nhưng
bổn sư không chuyên tu thiền định thì có thể thân cận
một thiền sư khác. Nếu nơi mình sinh sống không có thiền
sư thì có thể nhờ sự giúp đỡ trực tiếp của đạo
hữu có kinh nghiệm về tu tập thiền định. Song cũng nên
cố gắng tìm cho được một thiền sư dể thỉnh thoảng
được tham vấn trực tiếp hoặc gián tiếp, chính thiền sư,
sau khi quan sát căn cơ của thiền sinh, giúp đỡ thiền sinh
lựa chọn phương pháp hay chủ đề thiền định, chỉ dạy
cách thức thực hành, thường xuyên nhắc nhở, giải quyết
những thắc mắc hay trở ngại trong lúc tu tập thiền định.
Với phương tiện truyền thông hiện đại, việc nầy có
thể thực hiện dễ dàng. Có thể tóm tắt các ý trên vào
những bài kệ do Phật nói ra sau đây:
"Ai nương
tựa đức Phật
Chánh pháp và Tăng đoàn
Thấy rõ bốn chơn lý
Bằng trí tuệ chơn chánh
Thấy khổ
và nhân khổ
Thấy khổ bị tiêu diệt
Và thánh đạo tám nẻo
Thì sẽ được hết khổ
Ấy là nơi
nương tựa
An ổn và cao nhất
Nếu nương tựa như thế
Mới giải thoát khổ đau"
( Pháp cú, 190-191-192 )
4 -Nếp sống đạo đức.
"Không làm
các điều ác
Thành tựu mọi việc lành
Thanh tịnh tâm ý mình
Là đạo lý các Phật" ( Pháp
cú, 183 )
Khi đã có lý tưởng Phật giáo
dẫn đạo, người muốn tu thiền định cần xây dựng cho mình
một nếp sống đạo đức. Đạo đức nhà Phật lấy giới
luật giải thoát làm nền tảng và đạo lý như thật làm
kim chỉ nam. Những quan điểm sau đây có thể tóm tắt được
tinh thần đạo đức nhà Phật:
a - Con người
vốn có tự do hay ý chí trong sự bỏ ác làm lành.
b - Sanh mạng sau
khi chết còn tái sanh và lưu chuyển, do đó dòng nhân quả
hay nghiệp báo vẫn tiếp tục diễn tiến.
c - Con người là
một tổng hợp tâm vật lý (năm uẩn) luôn luôn biến đổi
cho nên con người và cuộc sống có thể được thăng hoa
và thanh tịnh hóa.
d - Nơi mỗi chúng
sanh, khi phiền não bị tiêu diệt thì đau khổ không còn và
an vui tự tại hiện ra.
Tinh thần đạo đức như vậy
thật là vững chắc để cho chúng ta nương theo trên con đường
cao đẹp mà thăm thẳm của tâm linh.
Có người nói rằng tu thiền không
cần giới luật, đạo đức. Ấy là chủ trương sai lầm và
cũng là sự hạ giá thiền định. Tu thiền mà không bắt đầu
từ đời sống đạo đức là tu thiền ma chứ không phải
tu thiền Phật vì hầu hết phương pháp tu hành trong đạo
Phật bất cứ hệ phái nào, cũng căn cứ theo ba học:
Giới, Định, Tuệ. Giới bao giờ cũng là căn bản để tu
Định và phát Tuệ, như Phật dạy: "Bắt
đầu của các cảnh thiền cao hơn là gì? Sự thanh tịnh hoàn
toàn của giới." (Tương ưng bộ, V, 143).
Giới luật không phải là những
điều răn cấm của thần thánh, những sự kiêng cử mê tín
dị đoan mà là kỷ luật cao đẹp hướng dẫn chúng ta
sống theo đạo đức, nhằm xây dựng an lành cho mình và cho
người. Do đó muốn đạt được giác ngộ giải thoát
bằng phương pháp thiền định không thể không trừ bỏ
những tập quán xấu ác và phát triển những hành động lành
ích theo giới luật.
Như chơn lý vi diệu thứ hai
thuyết minh: Nhân khổ là ái dục, mà ái dục là lửa cháy
và hành động xấu ác là nhiên liệu. Ái dục lớn mạnh là
do sự tái phạm các tội ác. Do giận dữ người ta chửi
mắng, đánh đập kẻ khác. Sau mỗi lần chửi mắng, đánh
đập, các tâm không sân, hổ thẹn... (gọi tắt là lương tâm)
không còn phản ứng mạnh mẽ như lần đầu tiên và chúng
yếu dần. Một ngày kia, khi không còn tự chế được nữa
thì người ta có thể giết hại một người, rồi nhiều người.
Như vậy, không thể nào giải thoát
an vui nếu chúng ta không dập tắt lửa ái dục bằng cách
bớt dần rồi vứt bỏ nhiên liệu (nghiệp ác).
Giới luật có hai mặt: tiêu cực
- trừ bỏ những điều xấu ác, tích cực - thực hiện
những việc tốt lành. Ví dụ giới "không giết
hại" được diễn tả một các đầy đủ như sau: "Nó
không chém giết, quăng bỏ gậy và kiếm (tiêu cực), đầy
lòng từ bi, nó sống vì phúc lợi và hạnh phúc của tất
cả chúng sinh (tích cực)." (Trường bộ, I, 63).
Hầu hết giới luật nhà Phật đều
có mục đích giảm bớt hoặc diệt trừ những điều xấu
ác phát xuất từ tham lam, giận dữ, si mê, phát triển và tích
lũy những điều tốt lành phát xuất từ nhân từ, lợi
tha, giác ngộ.
Thật là khó cho những người đắm
say dục lạc, thích sống trong ác mộng mà trong phút chốc có
thể yên tâm tu thiền. Không nói đến sự loạn động,
bất an mà ngay hối hận, ray rứt cũng là trở ngại cho sự
tập trung tư tưởng trong bước đầu của chỉ quán. Giới
luật giúp chúng ta không những khỏi rơi xuống hố sâu,
vực thẳm của tội ác mà còn rửa sạch phiền não, đem
lại an vui. Giới luật cũng giúp chúng ta tránh khỏi tên độc
hối hận như Phật dạy: "Này
Ananda, ích lợi của giới hạnh là không hối hận." (Tăng
chi bộ, V, 1). Nếu không giải thoát tâm ý ra khỏi
ràng buộc của phiền não thì không thể nào nâng cao tâm trí
được.
5 - Giữ
gìn giới luật.
Có thể nói rằng tất cả lời
dạy của Phật liên hệ đến vấn đề giải thoát con người
đều là giới luật. Song vẫn có những giới điều đặc
biệt, cũng do chính Phật chế ra cho từng loại người có
trình độ dấn thân và kinh nghiệm tu dưỡng khác nhau.
Tổng quát thì có hai thứ giới luật: giới luật của người
xuất gia và giới luật của người tại gia. Giới luật
của người xuất gia, nhất là giới bổn của tỳ kheo và
tỳ kheo ni, với nhiều giới điều chi tiết rất thuận ích
cho việc tu thiền. - đây chỉ bàn đến giới luật cho người
tại gia liên hệ với thiền định vì nó là căn bản và điển
hình cho phần đông người muốn tu thiền nhưng phải
sống với đời. Giới luật của người tại gia thì có năm
giới và tám giới.
Năm giới:
- Không giết
hại
- Không trộm cướp
- Không tà hạnh
- Không dối trá
- Không dùng rượu và thuốc làm say
loạn.
Trong năm giới, bốn giới đầu là
những giới căn bản, nếu phạm tức là có "tội".
Còn giới thứ năm là giới có tính cách ngăn ngừa sự
phạm tội, song nếu không giữ gìn nó thì khó mà giữ gìn
các giới căn bản kia. Vả lại, nếu tâm ý say loạn thì không
thể nào tu thiền được. Thật khó cho những người quen
uống rượu mạnh và dùng các loại thuốc kích thích có
thể đạt được hiệu quả trong việc tu thiền. Hơn nữa,
một người luôn luôn phạm năm giới không phải là một người
bình thường. Chưa phải là người bình thường thì không
thể trở thành người "phi thường".
Trong thực tế, nếu một người bình thường sống theo năm
giới thì có thể dễ dàng tu thiền. Song nếu muốn chứng
đạt được hiệu quả trong sự tu thiền thì nên giữ gìn
tám giới, nhất là trong những ngày trai giới đặc biệt.
Tám giới:
- Không giết
hại
- Không trộm cướp
- Sống phạm hạnh
- Không dối trá
- Không dùng rượu và thuốc làm say
loạn
- Không ăn trái thời
- Không múa hát xem nghe và trang sức
- Không nằm giường cao đẹp
Trong tám giới, hai giới đầu
giống hai giới đầu của năm giới, giới thứ ba giúp cho
thiền sinh dồn năng lực vào việc thiền quán. Giới thứ tư
và thứ năm thì giống năm giới. Giới thứ sáu giúp thiền
sinh không bị đần đừ và hôn trầm vì ăn quá nhiều,
nhất là sau giờ ngọ. Giới thứ bảy giúp cho thiền sinh không
bị tán loạn tinh thần. Giới thứ tám giúp thiền sinh bớt
sự ngủ nghỉ buông lung.
Tám giới này là căn bản cho đời
sống tu dưỡng thanh tịnh. Chúng giúp cho thiền sinh, nếu chưa
xuất gia tạm thời trừ bỏ tham đắm dục lạc phiền
lụy, tán loạn để cho tâm ý an tịnh mà tu thiền.
VI. Hội đủ điều kiện
Khi đã có một nếp sống giới
luật thanh tịnh, người muốn tu thiền nên hội những điều
kiện vật chất thế nào để việc tu thiền được thuận ích.
Mỗi người mỗi cảnh do đó các bạn tùy theo khả năng và
hoàn cảnh tự quyết định lấy công việc chuẩn bị này. Dù
sao những chỉ dẫn đại cương sau đây vẫn là cần thiết:
1 - Nơi
chốn tu thiền.
"Vui thích
thay núi rừng
Phàm phu thì không ưa
Người giải thoát lại thích
Vì không tìm dục lạc" ( Pháp
cú, 99 )
"Làng
mạc hay rừng cây
Đồng bằng hay núi cao
Chỗ nào la-hán ở
Đều là nơi tịnh lạc." ( Pháp cú,
98 )
Thiền viện là nơi thích hợp
nhất, bạn có thể tìm những thiền viện gần nơi mình ở
và đến đó trong những dịp nghỉ để tu thiền. Cảnh trí
thanh tịnh, không khí an lành, sẵn thầy có bạn, bạn có
thể tinh tấn dễ dàng và thành tựu mau chóng.
Viện Phật học Nâlandâ (Bihar -
Ấn độ) nay chỉ còn lại những nền gạch, gồm có nhiều
thiền viện. Trong mỗi thiền viện, ở giữa là giảng đường,
nơi trao đổi kinh ngiệm giữa thiền sư và thiền sinh, chung
quanh là thiền phòng cá nhân. Lối xây dựng của thiền
viện này vừa tạo được cuộc sống hòa hợp giữa thầy
trò, bạn bè, vừa giữ được sụ yên tĩnh cho mỗi cá nhân.
Nhiều thiền viện ở Nhật bản, với những thiền đường
quá rộng lớn chỉ chú trọng đến những khóa thiền tập
thể cho hàng trăm, hàng ngàn người, trong khi đó các thiền
thất hay cốc riêng lẻ ở Việt nam thì quá chú trọng đến
cá nhân, không giúp thiền sinh có cơ hội lãnh thọ kinh
nghiệm nơi thầy bạn.
Điều cần lưu ý, ở Việt Nam
nhiều chùa được xây dựng với mục đích phục vụ lễ bái
cho thập phương nên không thích hợp cho việc tu thiền. Các
thiền sư thường khuyên các tăng sĩ chuyên tu thiền không nên
thường trú ở các chùa lớn, công việc bề bộn, nhiều người
lui tới rộn ràng.
Ở các nước vùng nhiệt đới, các
ẩn sĩ thường sống trong rừng và tu thiền dưới gốc cây.
Nhưng ở xứ lạnh việc tu thiền dưới rừng cây chỉ có
thể thực hiện trong những tháng hè thu. Các bạn có thể
lựa chọn một khu rừng khoảng khoát, không ruồi muỗi, ít
người lui tới, để thiền quán trong những ngày nắng ráo
đẹp trời. Cây cối xanh mát, không khí trong lành của núi
rừng giúp các bạn dễ dàng tịnh tâm và thiền quán. Chính
Phật tổ ngày xưa rất thích và ca ngợi cảnh núi non hùng
vĩ, xanh mát của núi Linh thứu ở Ấn độ. Trúc lâm (Veluvana)
dưới chân núi, bên suối nước nóng, ở ngoài thành Vương
xá cũng là nơi Phật đã sống với các đệ tử và tu
thiền ở đó nhiều năm. Trúc lâm vùng Paris cũng là một
cảnh đẹp thuận ích cho việc tu thiền. Do đó nhiều khóa
thiền dưỡng sinh đã được tổ chức tại đây.
"Dưới
rừng thông
Mấy mươi người ngồi
Không một tiếng động
Thiền"
(Thiện Châu 81)
Ngoài ra, các Phật tử tại gia
chuyên tu thiền nên sắp xếp thế nào để ngay nơi ở của
mình có một căn phòng nhỏ thanh tịnh trang nghiêm, trống
trải, giản dị để có thể thiền quán hằng ngày. Trong
thiền phòng không nên bày biện quá nhiều đồ thờ, tranh
ảnh. Một tượng hay tranh Phật, một bát hương, hai chân đèn
sáp và một lọ hoa là đủ. Các thiền sư thường nói: "Phật
trong nhà không thờ, thờ Thích ca ngoài đường."
Song hình tượng Phật tổ vẫn là một trong nhiều nhân duyên
phát khởi khả năng giác ngộ (phật tính) trong mỗi chúng
sinh. Do đó, thiền sinh nên thờ Phật và thường đọc
những kinh sách thuộc chánh pháp để học hỏi kinh nghiệm
giác ngộ giải thoát của Phật tổ.
Thiền sinh không những phải lựa
chọn nơi chốn thích hợp cho việc tu thiền mà còn phải
lựa chọn môi trường sinh sống. Môi trường sinh sống có
ảnh hưởng rất nhiều trên việc tu thiền. Trong nghĩa hẹp,
môi trường dinh sống là nhà ở của mình và của gia đình.
Một ngôi nhà trên mảnh vườn có cây cối, ao nước, xa
đường xe chạy nhiều, gần cảnh vật thiên nhiên, đó là
nơi ở lý tưởng của thiền sinh. Song nếu không có điều
kiện thực hiện được thì nên xếp đặt trong nhà thế nào
để được thoải mái và có nhiều hứng thú tu thiền. Đồ
đạc lộn xộn, trang trí rườm rà, không khí nặng nề, âm
thanh náo loạn là những trở ngại lớn cho việc tu thiền.
Môi trường sinh sống ở đây còn có nghĩa là xã hội hay
phạm vi sinh hoạt của thiền sinh. - những xứ phương đông,
nhất là những xứ có văn hóa Phật giáo, tuy vật chất có
thiếu thốn, song đời sống tâm linh được xem nặng là nơi
có nhiều thiền viện thanh tịnh, nhiều thiền sư giàu kinh
nghiệm, chánh pháp đuợc phổ biến và dân chúng thường bàn
đến thiền định. Nhờ thế mà thiền sinh được khuyến
khích và dễ tiến bộ.
Trái lại ở các nước Âu Mỹ,
phương pháp thiền định vẫn còn bị nghĩ sai, bị xuyên
tạc và bị xem như lối tu thần bí xa lạ có tính chất mê
tín dị đoan. Vì thế mà nhiều thiền sinh phải kín đáo
trong sự tu tập để khỏi bị người chung quanh hay trong gia
đình phê bình chỉ trích, nhạo báng.
Như vậy, nếu sống ở những nơi
không có thiền viện, thiền sư và thiền hữu thì thiền
sinh nên tạo cơ hội để được sống một thời gian ngắn
trong các thiền viện hay ít nhất được tham dự các khóa
thiền để được hướng dẫn đúng đắn và thấm nhuần
thiền phong, thiền vị.
"Xuyên lá,
nắng vàng reo
Chim hót, thông già reo
Người thiền trên lưng đá
Chung quanh giây hoa leo."
(Thiện Châu 81).
2- Thức
ăn và nước uống.
Người ta thường nói:
"Có thực mới vực được đạo." Phật cũng
minh xác rằng: "Tất cả hữu tình
đều nhờ thức ăn mà sống còn." Vì thế,
thiền sinh muốn sống còn để thực hiện lý tưởng cũng
phải ăn nhưng không tham ăn hay thích ăn. Tuy nhiên, thức ăn
không phải chỉ có một thứ mà có đến bốn thứ: Đoàn
thực: đồ ăn thức uống có chất dinh dưỡng, Xúc thực:
sự tiếp xúc của các giác quan đối với cảnh vật và con
người, Tư thực: ý chí muốn sống còn và vươn lên, Thức
thực: tâm thức gồm nghiệp lực. Những thức ăn này đều
có chức năng nuôi sống thân mạng.
Ở đây chúng tôi chỉ bàn về
thức ăn thứ nhất mà chính Phật, sau những năm khổ hạnh
ép xác bỏ ăn uống, thân thể tiều tụy, tinh thần suy
yếu, đã dùng trở lại và nhờ đó mới đủ sức khỏe và
tiến tới giác ngộ hoàn toàn. Như vậy, chủ trương tuyệt
thực lâu ngày để tu thiền và để đắc đạo là chủ trương
sai lầm và nguy hiểm.
Ngày xưa, Phật và các đệ tử
xuất gia sống theo lối khất thực nên ăn tất cả những gì
do dân chúng cúng dường, trừ thịt sống và đồ ăn nấu
bằng thịt cá mà mình thấy, nghe và nghi người khác giết
vì mình. Ngày nay, tăng sĩ Phật giáo ở các xứ theo đạo
Phật nguyên thủy như Tích lan, Miến điện, Thái Lan, Cam pu
chia, Lào... Phần lớn vẫn còn giữ lối sống khất thực.
Người cư sĩ ở các xứ này dùng tất cả thức ăn như dân
chúng ngay cả trong những ngày trai giới.
Chỉ có phật tử ở các xứ theo
đạo Phật đại thừa như Việt Nam, Trung Quốc, Triều tiên...
mới ăn chay. Vì phát triển lòng từ bi, nhất là các tăng sĩ
sống trong các tu viện, chùa chiền phần nhiều tự túc
lấy vấn đề ăn uống thì lại càng nên ăn chay để tránh
sát sinh và nhận thịt cá sống. Các phật tử tại gia thì
nên ăn chay kỳ tức là ăn chay 2, 4, 6 hay 10 ngày mỗi tháng
hoặc 1 hay 3 tháng mỗi năm.
Đối với thiền sinh, ăn mặn hay
ăn chay không phải là quan trọng lắm, mà quan trọng là
vấn đề "thanh tịnh hóa tâm ý".
Dù sao, ngày nay thiền sinh, nhất là tăng sĩ sống theo lối
tự túc trong tự viện chùa chiền và cư sĩ trong những ngày
trai giới đặc biệt thì thì ăn chay với tinh thần không
cực đoan như Devadatta (Devadatta chủ trương ăn chay vì phe phái
và để chống Phật) thì vẫn tốt hơn bởi vì ăn chay thì
dễ phát triển lòng từ bi, nhất là trong khi tu tập về
chủ đề "phát triển từ bi"
(mettâbhavana):
"Bỏ
gậy với chúng sanh
Yếu kém hay mạnh mẽ
Không giết, không bảo giết
Ấy là bậc hiền triết." (
Pháp cú, 405 )
Không những thế, trong các thức
ăn từ thực vật rất giàu các chất dinh dưỡng như gluci,
protit, chất xác cellulose và sinh tố. Hơn nữa chất đạm nơi
thức ăn chay ít độc hơn chất đạm trong đồ ăn mặn, và
chất đạm chay giúp thiền sinh có sức khỏe và dẻo dai.
Khi nấu chay không nên dùng nhiều đồ gia vị mạnh. Có
thể dùng sữa và các thức ăn làm từ sữa song chỉ nên dùng
vừa phải khi cần thiết.
Dù ăn chay hay ăn mặn cũng nên
tiết độ trong sự ăn uống: Không nên ăn quá nhiều lần và
quá no. Nên ăn nhẹ vào buổi sáng.Ăn đủ vào buổi trưa.
Về buổi chiều nên uống nước có có đường mật trái cây.
Nếu ở xứ lạnh chịu đói không nổi thì có thể dùng cháo,
xúp, trái cây hay các thứ hột. Buổi tối, nếu ăn quá no
thì thân thể nặng nề uể oải, tinh thần đần đừ, trì
trệ, dễ buồn ngủ khó mà tu thiền được.
Về thức uống thì tuyệt đối
không nên dùng nước uống có tửu tinh. Cà phê kích thích
rất mạnh nếu chưa ngừng được thì nên uống rất ít. Trà
nếu uống vừa phải thì tinh thần minh mẫn. Nếu có thể nên
uống một hai chén trà trước khi ngồi thiền.
Về thuốc lá thì nên bỏ hút
nếu muốn thâu hoạch kết quả tốt trong sự tu thiền. Ngoài
ra, tuyệt đối không nên dùng các thứ thuốc uống, hút hay
chích làm cho tinh thần tuy được sảng khoái trong một
thời gian ngắn nhưng sau đó thì lại bị mệt mỏi, đần
đừ, say loạn.
3- Cách
ngồi đứng đắn.
Phật ngồi thiền dưới gốc bồ
đề, lưng xây về phía thân cây, mặt hướng ra bên ngoài
do đó khi sao mai mọc thì Phật nhìn thấy và chứng Lậu
tận minh - giác ngộ hoàn toàn. Tổ sư Bodhidharma thì ngồi
trong động núi xoay mặt vào vách đá. Chúng ta có thể
ngồi thiền trong núi, giữa rừng, ở nhà, trước bàn thờ
Phật... Trước khi ngồi thiền hãy trải tọa cụ rồi
ngồi trên gối thiền và xếp chân lại theo kiểu hoa sen như
Phật. Không nên ngồi giữa gối thiền mà ngồi thế nào đề
hai đầu gối chạm trên tọa cụ và bàn tọa chạm trên
một phần gối thiền. Nếu chân mềm mại thì ngồi kiết
già: để chân phải trên vế trái và chân trái trên vế
phải. Cách ngồi này hơi khó cho người lớn tuổi, nhất là
người phương tây mới tu thiền. Lúc đầu mới ngồi thì
toàn thân đau rần, hai chân tê lạnh vì máu chảy không đều,
song về sau thì thoải mái, vững vàng, nhất là có thể
ngồi lâu mà thân thể không lay động và tâm ý dễ tập
trung.
Nếu chưa ngồi được kiết già
thì hãy tập ngồi bán già: để chân trái trên vế phải. Cách
ngồi này dễ tập hơn. Trong truường hợp hai chân vẫn còn
đau thì có thể chèn vào giữa hai chân một miếng vải
mềm nhẹ và thỉnh thoảng có thể thay đổi chân.
Sau khi đã xếp hai chân một cách
ổn thỏa, hãy thẳng lưng và đặt bàn tọa vững vàng trên
gối thiền. Giữ cổ cho thẳng và dựa cằm vào bên trong.
Ngậm miệng lại và đừng để một khoảng không khí nào
trong miệng. Đưa lưỡi lên đụng với hàm trên. Ngẩng đầu
về phía trần nhà. Buông hai vai cho thoải mái. Hai cánh tay
thõng xuống một cách tự nhiên. Để bàn tay phải lên trên
bàn tay trái sao cho hai ngón cái hơi ngẩng lên chạm vào nhau
(về cách để hai bàn tay có sự khác nhau tùy theo hệ phái
thiền. Song cách để tay trên đây là truyền thống Phật giáo
nguyên thủy. Hầu hết các tượng Phật xưa ở Ấn độ, Tích
Lan đều để bàn tay phải trên bàn tay trái.) Hai cổ tay
thẳng hàng với lỗ rốn. Mắt nhắm nhẹ hay mở vừa vừa
và nhìn xuống xa không quá 7 tấc hay nhìn vào tường. Làm
thế nào để có cách ngồi vững vàng xem từ bên ngoài như
trái núi nhưng bên trong thân thể thì các thớ thịt hoàn toàn
thư thái.
4- Gạn
lọc tâm ý.
Sau khi đã chuẩn bị đầy đủ
điều kiện, thiền sinh tiến tới việc giữ gìn tâm thức
an tĩnh, ít nhất là trong lúc ngồi thiền vào giờ nhất định
hằng ngày. Chỉ khi nào tâm thức không bị những cảm giác,
cảm tình không lành quấy nhiễu thì thiền sinh mới có
thể an tịnh và sáng suốt.
Những cảm giác cảm tình không lành
ẩn núp dưới đáy sâu của tâm thức và thường hiện
khởi một cách đột ngột mà lặng lẽ. Nếu không nhận
thấy và loại trừ ngay khi chúng mới hiện khởi thì chúng
nẩy nở mau chóng, bò lan khắp nơi và che lấp mặt đất tâm
thức, không để cho một loại hoa thơm cỏ đẹp nào có
thể mọc lên.
Khi tâm thức an tịnh sáng suốt
thì cảm giác, cảm tình không lành mạnh không hiện khởi;
ngược lại khi cảm giác, cảm tình không lành mạnh không
hiện khởi thì tâm thức an tịnh sáng suốt.
Những cảm giác cảm tình không lành
không những chỉ hoạt động tích cực trong phạm vi tâm
thức mà còn đi xa hơn: thúc đẩy lời nói và hành động
theo chiều hướng xấu mà kết quả là đem lại tai hại,
khổ đau cho người cho mình. Nếu bị chúng quấy nhiễu,
thiền sinh sẽ loạn động và trở nên tiêu cực. Hình ảnh
con "khỉ điên" tham ăn trái cây nhảy nhót hết cành
này sang cành khác và khi quá mệt thì nằm xoài xuống đất
để cho người thợ săn bắt giết có thể lấy làm một ví
dụ cho thiền sinh không thể chế ngự được sự quấy phá
của những cảm giác cảm tình không lành. Không biết rõ điều
này, người ta thường cho là hiện tượng "tẩu hỏa
nhập ma" hay "Ma vương thử thách".
Phật cho biết có năm thứ ràng
buộc và ngăn che đối với thiền sinh, thường gọi là 5
triền cái (Nirvarana). Nếu không diệt trừ chúng thì thiền
sinh không thể thành tựu được tĩnh chỉ (samatha) và tuệ
quán (vipassana):
" Vị ấy từ bỏ dục tham
ở đời, sống với tâm thoát ly dục tham, gột rửa tâm
hết tham dục. Từ bỏ sân hận, lòng từ mẫn thương xót
tất cả hữu tình, gột rửa tâm hết sân hận. Từ bỏ hôn
trầm thụy miên, hướng về ánh sáng, chánh niệm tĩnh giác,
gột rửa tâm hết hôn trầm thụy miên. Từ bỏ loạn động
lo lắng, vị ấy sống không trạo cử hối tiếc. Từ bỏ
nghi ngờ, vị ấy sống thoát ly khỏi nghi ngờ. Không phân
vân lưỡng lự, gột rửa tâm hết nghi ngờ đối với
thiện pháp." (Trung bộ kinh).
Như vậy có năm triền cái là
những trở ngại cần phải diệt trừ để tiến tới
thiền quán. Năm triền cái ấy là:
1- Tham
dục (kâmacchanda) : Đắm say những thứ vui qua các
giác quan và ý thức (mắt, mũi, tai, lưỡi, thân và ý),
nếu không chế ngự được nó thì thiền sinh không thể
thiền quán. Ví dụ trong khi ngồi thiền, sự đắm say mùi
thơm của hoa lôi kéo thiền sinh ra khỏi sự chú tâm vào hơi
thở rồi dẫn dắt vào cảnh giới ma vương. Do đó khi
nhận thấy sự có mặt của tham dục nơi tâm, thiền sinh
lập tức quán niệm về sự bất tịnh (không sạch, không
đẹp) của thân thể và của sự vật để đối trị.
2- Sân
hận (vyapâda) : Giận dữ thể hiện qua nhiều hình
thức như tức tối, hờn lẫy, hận thù... lúc ngồi thiền,
hoặc do nhớ lại những lời nhiếc mắng nào đó mà tức
giận; tức giận làm cho thiền sinh nóng nảy, bực bội, khó
chịu, và mất bình tĩnh để thiền quán. Khi biết sân hận
có mặt, hãy đề khởi từ bi quán (tư tưởng hiền lành,
thương yêu và giúp đỡ) để đối trị.
3- Hôn
trầm thụy miên (thana-middha) : Trạng thái đần đừ
ngây ngủ khi tâm thức quá mệt nhọc, làm cho thiền sinh có
thể trở nên biếng nhác, uể oải, tối tăm rồi ngủ
thiếp đi. Nếu nhận thấy mình không tỉnh táo, sáng suốt
và thiếu hứng thú thiền quán thì nên mở mắt hướng về
ánh sáng đồng thời đề khởi những tư tưởng tích cực,
sự vui thích thiền quán để đối trị. Nếu không thấy có
kết quả thì hãy đứng dậy rửa mặt, uống trà rồi đi
thiền hành, vừa đi chậm rãi vừa chú tâm và nhịp nhàng
với hơi thở ra hơi thở vào vừa tuệ quán.
4- Loạn động
lo lắng (uddhacca-kukkucca) : Phòng túng, giao động, tâm
ý chạy rong, nhảy từ đối tượng này qua đối tượng khác,
lo buồn tiếc nuối (có thể là hối hận). Bị loạn động
và lo lắng quấy nhiễu, thiền sinh không thể thiền quán
được cũng như con ong mải dao động và sợ sệt thì không
hút được mật hoa. Để đối trị loạn động, lo lắng nên
đề khởi sự an tịnh trong tâm thức, buông xả mọi cố
chấp.
5- Nghi ngờ (vicikicchâ)
: Phân vân lưỡng lự, không tin tưởng ở đạo lý
nói chung và hiệu quả của thiền quán nói riêng. Nghi ngờ
làm tê liệt mọi cố gắng hướng thượng. Nếu chưa chắc
chắn rằng thiền quán sẽ đưa đến giác ngộ giải thoát
và còn phân vân: không biết mình có đủ khả năng thiền
quán không thì khó mà tiến bộ được. Cũng như người đứng
bên bờ này, nếu cứ phân vân không tin rằng mình có đủ
sức bơi sang bờ bên kia thì khó mà vượt qua được dòng sông.
Do đó, khi nghi ngờ hiện khởi, hãy kiện toàn niềm tin.
Niềm tin có vững chắc thì thiền quán mới có kết quả.
Trong Tăng chi bộ, V, 193, Phật ví
dụ tham dục như là nước lẫn với nhiều màu sắc; sân
hận, nước sùng sục sôi; hôn trầm thụy miên, nước bị
rong rêu bao phủ; loạn động lo lắng, nước nổi sóng vì
gió; nghi ngờ, nước bị khuấy động và có bùn.
Như vậy, khi 5 trạng thái trên không
còn thì nước mới trở lại trong trẻo yên lắng và có ánh
trăng hiện ra. Khi 5 triền cái bị diệt trừ, thiền sinh không
những được an vui mà còn có nhiều thuận lợi trong việc
thiền quán giống như người
1) nhờ làm việc không những có
tiền trả nợ mà còn nuôi được gia đình và có thêm tài
sản
2) nhờ uống thuốc, không những được lành bệnh mà còn
có thêm sức khỏe
3) ra khỏi ngục tù, không những được tự do an vui, mà còn
được tự do đi lại, sinh hoạt thoải mái
4) qua khỏi sa mạc, không những yên ổn mà còn khỏi bị
mất mát tiền của.
VII. Hành thiền
Để đạt đến quả vị giác ngộ
giải thoát, chúng ta không có con đường nào khác hơn là tu dưỡng
theo con đường Phật chỉ dạy gồm 37 phẩm trợ đạo (bodhipakkhiya-dhamma):
1- Bốn niệm
xứ (Satipatthâna)
2- Bốn chánh cần (Padhâna)
3- Bốn như ý túc (Iddhi-pâda)
4- Năm căn (Indriya)
5- Năm lực (Bala)
5- Bảy giác chi (Bojjahanga)
6- Tám thánh đạo (Magga)
Trong 7 thành phần của 37 phẩm
trợ đạo này, thành phần thứ nhất Bốn niệm xứ là căn
bản phải được thực hành trước hết, nhất là đối với
những thiền sinh với mục đích giác ngộ giải thoát.
Bốn niệm xứ được Phật dạy
trong hai bản kinh quan trọng: Kinh số 10 thuộc Trung bộ (Majjahima
Nikâya) và kinh số 22 thuộc Trường bộ (Digha Nikâya). Kinh
thứ hai, có tên là kinh Đại niệm xứ (Mahâ-Satipatthana) dài
hơn kinh thứ nhất vì có thêm phần bốn chân lý vi diệu, dài
tất cả 15 trang. Các phật tử theo Phật giáo Nguyên thủy (Theravâda)
không kể người xuất gia hay tại gia đều thường tụng đọc
và thực hành kinh này, nhất là trong những ngày trai giới (uposatha).
Ngay những người không hiểu hết ý nghĩa của kinh cũng chú
tâm lắng nghe những lời Phật dạy qua nội dung của kinh. Chư
tăng nguyên thủy thường tụng kinh Đại niệm xứ này bên
cạnh người sắp lâm chung với mục đích giúp người gần
chết nghe được lời Phật dạy để tâm thức được thanh
tịnh. Mở đầu và kết thúc kinh, Phật tuyên bố:
" Đây là con đường duy
nhất, này các thầy, đưa đến thanh tịnh cho chúng sinh, vượt
qua khỏi sự sầu não, diệt trừ khổ ưu thành tựu chánh
trí, chứng ngộ đạt Niết bàn. Đó là 4 Niệm xứ." (Trung
bộ, 290, 315)
Nội dung bốn Niệm xứ là:
1- Quán niệm
về thân : Quán niệm hơi
thở vô hơi thở ra, về 4 cử động: đi, đứng, nằm,
ngồi; về 32 phần của thân như thịt, xương, máu... phân tích
4 yếu tố: đất, nước, gió, lửa và quán niệm thây chết
nơi nghĩa địa.
2- Quán niệm về thọ (vedanâ) :
quán niệm cảm giác, cảm tình vui buồn, không vui buồn nơi
thân và tâm, cảm giác có tham dục và cảm giác không tham
dục.
3- Quán niệm về tâm (citta) :
quán niệm tất cả trạng thái nơi tâm thức hoặc có ham
dục hay không, giận hờn hay không, đần đừ hay không, giao
động hay không, nghi ngờ hay không.
4- Quán niệm về pháp : quán
niệm các triền cái, về sanh diệt của 5 uẩn, sự sinh
hoạt của tâm thức qua 12 xứ (ayatana), về sinh diệt của các
kiết sử (samyojana), về sự hiện khởi của 7 yếu tố giác
ngộ (bojjahanga), về 4 chân lý vi diệu.
Bốn niệm xứ này cần được tu
tập một cách dung thông mà không riêng lẻ, nhất là trong lúc
vào thiền (jhâna).
Bốn niệm xứ là phương pháp duy
nhất để được giác ngộ giải thoát cần phải được tu
tập trong mọi thời gian và mọi hoàn cảnh, nghĩa là trong
cuộc sống hằng ngày, nhất là cuộc sống của những người
xuất gia. Chúng ta không thể nào tìm ra một phương pháp nào
khác hơn hay dễ hơn mà phù hợp với Phật pháp và có thể
đưa đến giác ngộ giải thoát. (Muốn hiểu rõ hơn về 4
Niệm xứ hãy đọc hai kinh trên trong bản dịch từ Pali ra
Việt văn của Hòa thượng Thích Minh Châu.)
Phương pháp tổng
hợp :
Ngoài hai kinh trên, còn có hai kinh
khác: kinh số 118 tên là "Quán niệm hơi thở vô hơi thở
ra" (Anâpânasatisuttam) và kinh số 62 tên là "Kinh Đại
Giáo Giới La-Hầu-La" (Mahâ-Rahulovâdasuttam) đều thuộc
Trung bộ (Majjhimanikâya), trong đó Phật dạy phương pháp
tổng hợp: vừa quán niệm hơi thở vào ra vừa quán niệm 4
Niệm xứ. Chính Phật cũng tu tập phương pháp này mà thành
tựu đạo quả.
Phương pháp đặc biệt này rất
thuận lợi cho người muốn ngồi tu thiền quán trong thời
gian nhất định như kinh nói:
" Ở đây, này các Tỳ kheo,
tỳ kheo đi đến khu rừng, đi đến gốc cây hay đi đến ngôi
nhà trống và ngồi kiết già, lưng thẳng và trú niệm trước
mặt. Chánh niệm vị ấy thở vô; chánh niệm vị ấy thở
ra." (Trung bộ, 221).
Quá trình của phương pháp là tu tập 16 chủ đề trong 4 nhóm:
1- Quán niệm
thân
2- Quán niệm thọ
3- Quán niệm tâm
4- Quán niệm pháp
Do đó thiền sinh, tùy theo căn tánh
và trình độ, có thể theo thứ lớp hay không, tu tập theo 16
chủ đề sau đây:
I
1-
Thở vô dài, vị ấy biết: Tôi thở vô dài
Thở ra dài,
vị ấy biết: Tôi thở ra dài
2- Thở vô ngắn, vị ấy biết: Tôi
thở vô ngắn
Thở ra ngắn, vị
ấy biết: Tôi thở ra ngắn
3- Cảm giác toàn thân, tôi
thở vô
Cảm giác toàn
thân, tôi thở ra
4- An tịnh thân hành, tôi
thở vô
An tịnh thân
hành, tôi thở ra
II
5-
Cảm giác hỷ thọ, tôi thở vô
Cảm giác hỷ
thọ, tôi thở ra
6- Cảm giác lạc thọ, tôi
thở vô
Cảm giác
lạc thọ, tôi thở ra
7- Cảm giác tâm hành, tôi
thở vô
Cảm giác tâm
hành, tôi thở ra
8- An tịnh tâm hành, tôi thở
vô
An tịnh tâm hành,
tôi thở ra
III
9-
Cảm giác tâm, tôi thở vô
Cảm giác tâm,
tôi thở ra
10- Với tâm hân hoan, tôi thở vô
Với tâm hân
hoan, tôi thở ra
11- Với tâm thiền định, tôi thở vô
Với tâm
thiền định, tôi thở ra
12- Với tâm giải thoát, tôi thở vô
Với tâm
giải thoát, tôi thở ra
IV
13- Quán niệm
vô thường, tôi thở vô
Quán niệm vô
thường, tôi thở ra
14- Quán niệm ly dục, tôi thở vô
Quán niệm ly
dục, tôi thở ra
15- Quán niệm khổ diệt, tôi thở vô
Quán niệm
khổ diệt, tôi thở ra
16- Quán niệm xả ly, tôi thở vô
Quán niệm
xả ly, tôi thở ra.
Về đặc điểm của phương pháp
nầy thì:
-Nhóm I đưa đến
tịnh chỉ (samatha)
-Nhóm II đưa vào ngưỡng cửa tuệ quán
-Nhóm III phát triển tuệ quán
-Nhóm IV thành tựu tuệ quán (vipassana)
Như vậy phương pháp trên có mục
đích phát triển tịnh chỉ mà chức năng là diệt trừ
triền cái và dẫn tới chánh định (samadhi) và tuệ quán mà
chức năng là đưa đến chánh kiến (sammaditthi) và chánh tư
duy (sammasankappa) và sau hết là đưa đến bốn đạo quả
Niết bàn.
VIII. Vào thiền
Phương pháp thiền định do Phật
truyền dạy khác hẳn với các phương pháp thiền định của
ngoại đạo. Ngày nay người ta thường nhắc đến phương pháp
"kiềm chế hơi thở" (prânâyâma) của Hathayoga. Đây
là phương pháp rất xưa thường được các ẩn sĩ Ấn độ
tu tập. Trong kinh Mahâsaccaka (Mn, I, 243), Phật có nhắc đến
phương pháp này với danh từ "thiền không thở" (appânaka
jhâna). Chính Phật có tu tập trước khi giác ngộ và nhận
thấy nguy hại của nó - thân thể đau đớn và không dẫn đến
giác ngộ. Do đó Phật từ bỏ và trở lại tu tập phương pháp
mà Phật đã thực hành lúc còn bé, khi ngồi dưới gốc cây
Jambu xem vua cha cày ruộng trong ngày lễ khai mùa, và chứng
được sơ thiền. Kinh nghiệm về phương pháp trên như Phật
cho biết :
"Các thầy, ta bèn thường tu
tập phương pháp quán niệm hơi thở này trong hầu hết
thời giờ của ta. Và nhờ sống trong tu tập phương pháp này
mà thân thể và đôi mắt ta không hề mệt nhọc; nhờ kết
quả ấy mà tâm ta giải thoát các lậu hoặc." (Sn, V,
317)
hay :
"Các thầy, phương pháp quán
niệm hơi thở, nếu được tu tập, dẫn đến bình an, cao
cả, ngọt ngào, hoan hỷ ; nó làm tiêu mất các tư tưởng
xấu ác và làm tâm ý an tịnh." (Mn, III, 82 ; Sn, V,
321-322 ; Vin, III, 70).
Hai đoạn kinh trên diễn tả những
nét đặc thù của phương pháp "quán niệm hơi thở
". Nó cũng khác hẳn với các phương pháp thiền định khác
do chính Phật truyền dạy như 10 đề mục bất tịnh, bất
tịnh nơi thân thể.v.v. . .
Các phương pháp thiền định khác, dù rất sâu sắc và có
khả năng điều trị tham dục song đồng thời gây nên sự nhàm
chán, ghê tởm nơi thiền sinh và có thể đưa đến tự hủy
diệt đau đớn, trong khi đó phương pháp quán niệm hơi thở
làm cho thiền sinh cảm thấy mát mẻ, khỏe khoắn, trầm tĩnh,
không giao động. Ngay từ khi mới tu tập, thiền sinh cả thân
và tâm được bình an, tĩnh lặng, phiền não tan biến, tuệ
quán phát triển một cách dễ dàng và cuối cùng là chứng đạt
an lành trọn vẹn của Niết bàn.
Phương pháp thiền định chú ý hơi
thở gồm 16 chủ đề, chia làm 4 phần, mỗi phần gồm 4 chủ
đề. Phần 1 là phần mở đầu của thiền quán, cần thiết
và thích hợp cho người mới tu thiền. Trong khi đó 3 phần
sau nhằm phát triển tuệ quán. Mục đích của phần một là
xây dựng sự chú ý để làm căn bản cho sự phát triển trí
tuệ. Bốn phần của toàn bộ phương pháp bao gồm tuần tự
4 niệm xứ : thân, thọ, tâm và pháp. Phần 1 có thể dẫn đến
chứng đạt 4 bậc thiền. Và sau đó, bằng phát triển
tuệ quán có thể chứng đạt A la hán với 4 vô ngại trí
(Patisambhidâ) : hiểu nghĩa, hiểu đạo, hiểu tiếng và biện
tài.
Phần
một
Như trong phần chuẩn bị đã nói,
thiền sinh nên sắm sửa hành trang cho cuộc đi xa, với đời
sống giản dị, lành mạnh, nơi chốn tu tập thích hợp,
dụng cụ và tư thế ngồi thiền đúng đắn, rồi bắt đầu
thực tập phương pháp " Quán niệm hơi thở ".
. Chủ đề 1
1- Hít vô dài,
vị ấy biết :" Tôi thở vô dài "
Thở ra dài, vị ấy
biết :" Tôi thở ra dài "
2- Hít vô ngắn, vị ấy biết :" Tôi
hít vô ngắn"
Thở ra ngắn, vị ấy biết :"
Tôi thở ra ngắn"
Trong thực tập phương pháp "Quán
niệm hơi thở", có hai hoạt động khác nhau về hơi thở
: hít vô và thở ra. Sự biết rõ và phân biệt này dẫn
thiền sinh đến sự chú ý. Theo Patisambhidâmagga, I, 177, có 9 cách
hít vô và thở ra mà thiền sinh biết rõ mình đang làm như
vậy.
1. Hít vô dài
2. Thở ra dài
3. Hít vô dài, thở ra dài, mỗi hơi thở choán một khoảng
thời gian.
Thực tập như thế, thiền sinh
cảm thấy hơi thở dần dần trở nên an hòa ; rồi sự ưa thích
tiếp tục khởi lên. Như thế, với sự ưa thích, thiền sinh
:
4. Hít vô dài
5. Thở ra dài
6. Hít vô và thở ra dài
và hơi thở trở nên an hòa hơn trước.
Trong giai đoạn này, thiền sinh trở nên hoan hỷ; với tâm ý
hoan hỷ, thiền sinh :
7. Hít vô dài
8. Thở ra dài
9. Hít vô dài và thở ra dài
và tâm ý trở nên an hòa một cách
tuyệt đối. Tâm ý thiền sinh lúc này không còn có quán
niệm về hơi thở dài nữa và như vậy được thanh thản
tự tại. Trong giai đoạn này, hơi thở trở nên nhẹ nhàng vi
tế; do đó không còn thấy có hơi thở thô tháo như lúc mới
bắt đầu. Hơi thở dài gồm 9 cách như trên gọi là Thân (kâya)