Trang tiếng Việt

 Trang Nhà Quảng Đức

Trang tiếng Anh

Thiền Định Phật Giáo


 

 


 

THIỀN TRONG SINH HOẠT NGHỆ THUẬT

GS. Kiêm Đạt

 

 

Trà đạo

Trong những sinh hoạt tinh thần của người Nhật, trà đạo đóng vai trò quan trọng.  Nghi thức dùng trà, tiếp khác tham dự trà đạo, tinh thần trà đạo (Chanoyu)  mang tình chất mỹ học và tôn giáo (Thiền tông) của Nhật Bản. Trà đạo mô tả quá trình pha và thưởng thức “Matcha” thứ trà  xanh bột, dùng riêng cho nghi lễ nầy. Mặc dù trà đạo được đưa vào từ Trung Hoa vào khoảng hậu bán thế kỷ VIII, (theo Lâm Ngữ Ðường), nhưng cho tới thế kỷ XVII, mới phổ biến trong các giới trí thức, tu hành cũng như những người muốn tu tâm dưỡng tánh. Từ đó, những tổ chức tham dự trà đạo  lan  rộng trong nhiều từng lớp, đặc biệt là giới thượng lưu. Sần dà, một trong các mục đích chính các cuộc gặp gỡ thường được tở chức trong các “shoin” (trà thất), trở thành việc đánh giá các công trình nghệ thuật, các đồ mỹ nghệ Nhật Bản, Trung Hoa và nhiều nước Ðông Phương khác, trong không khí thanh nhàn.

Chịu ảnh hưởng của phong cách sinh hoạt tinh thần  và lề lối đang chi phối hàng ngày của các samurai, tầng lớp thống lĩnh  xã hội Nhật bản từ thế kỷ XII đến giữa thế kỷ XIX, những nguyên tắc và tập tục nhất định đã được phát triển mả những khách tham dự trà đạo cần tuân thủ.

Hình thức trà đạo và nghgi lễ của nó được tuân thủ ngày nay đã hình thành trong nửa sau của thế kỷ XVI, dưới triều đại Monoyama, do công lao của  bậc thầy trà đạo – Sen no Rikyu. Do ảnh hưởng của Thiền Nhật Bản, nghi lễ trà đạo được phát triển với mục đích chính là: Làm thanh tịnh tâm hồn, bằng cách hoà mình vào thiên nhiên. Tinh thần thực sự của trà đạo được mô tả  bằng các từ như: điềm tĩnh, chất phác, phong nhã và “tính thẩm mỹ của cái đơn giản khắc khổ và cái nghèo tao nhã”.  Trà đạo  (Chanoyu) là một nét  đẹp và thuần khiết  nhất trong văn  hoá Nhật Bản cũng như Thiền Tông tại đây (tông phái nầy phát triển kể từ thế kỷ IX cho đến nay). Trà đạo được xem  như một thành phần  quan trọng trong đời  sống tâm linh  của người  Nhật, trong bình thường,  trong nghi lễ cũng  như tiếp   đãi người nước ngoài. Tuy nhiên, muốn đạt được mức thâm sâu của Trà đạo  đã không dễ. 

Thiền sư Suzuki viết về Trà đạo như sau: "Chế trà đã  khó,  hưởng được  tinh túy  của Trà  đạo lại  càng khó hơn. Người  thưởng thức trà  cũng như Thiền họa, Thư pháp,  Vườn đạo, phải có tâm chuyên nhất, siêu thoát, tĩnh lặng. Trà đạo là triết lý sống".   Theo Thiền sư,  để có thể thực sự lãnh  hội được nghệ thuật chính xác của Trà đạo, có khi phải tập trung tư duy trong suốt cuộc đời mình mới quán triệt. Có khi suốt  cả đời, vẫn chưa thành tựu. Cắm hoa, uống trà là chuyện bình  thường, tuy nhiên uống trà, cắm hoa theo phong cách  Thiền, gọi là Hoa đạo, Trà  đạo thì lại khác hẳn. Qua   hình ảnh của lọ hoa hay cách  uống trà, sẽ thể hiện được sức sống cao đẹp của người có tâm hồn an tĩnh tràn đầy thiền vị; những mẫu  sống nầy đã tạo nên bức tranh sống hấp dẫn người khác được an lạc theo mình.  

Phải là người có phong thái như Thiền sư, tức là người  có sức  sống Thiền, mới  có được khả  năng thể hiện  Hoa đạo, Trà  đạo, Thiền họa.  Còn người đời cắm hoa, uống  trà vẽ tranh không thể có Hoa đạo,  Trà đạo, vì họ chỉ làm theo  bản năng, theo công  thức, hay  theo ngẫu hứng  của các tâm  xao động, náo  loạn. Thực  chất trong họ làm  gì có sức sống Thiền để thể  hiện ra hành động  được.

Các loại trà ở Trung Hoa và  Triều Tiên được du nhập vào Nhật Bản vào khoảng  tiền bán thế kỷ  thứ VII. Nhưng ở  đây, cách trồng và chế biến cũng khác hẳn. Chẳng hạn như loại trà mà người Nhật vẫn dùng phổ biến nhất  cho đến ngày nay là loại trà  được tán nhỏ ra như bột, có màu  xanh như lá cây mà họ gọi  là "Matcha". Qua phân tách và trong thực dụng, người Nhật vẫn xem giống trà trồng thuần chủng trên đất mình như loại "tiên dược", "thần  dược", có khả năng giải bệnh hơn là giải  nhiệt, giải khát.  

Nhiều danh y Nhật  đã từng bỏ  công nghiên  cứu, chắt  lọc tinh túy, cải  thiện cách trồng, đạt  giá trị cao của loại "thần dược" nầy. Bản Thảo  Cương Mục ấn hành ở Nhật cũng  nhấn  mạnh điểm  nầy. Theo  họ trà  giúp cho  việc rèn luyện tinh thần, "thanh hoá" trí tuệ.  Trà là  phương thuốc trị bệnh hữu hiệu ở  các tịnh xá, thiền đường và như  thế, uống trà trở thành một thói  quen, đúng hơn là một nghi lễ  tôn giáo. Trong dân gian, thức uống  nầy dần  dà được ưa thích  và càng ngày càng  được phổ biến trong  đời sống sinh hoạt của họ.   

Căn cứ theo  sách "Thảo Mộc Đông Phương" (Nghệ  Lâm Ấn Thư Quán -  Bắc Kinh - 1999) thì trồng trà  và nghệ thuật uống trà được thông  dụng tại nơi trên đất nước Nhật  Bản chỉ được phát triển từ  thế kỷ XIV. Hằng năm,  để trau  dồi kỹ thuật này,  những trọng điểm trồng  trà thường tổ  chức những cuộc thi về  "Nhắm Trà" hay "Đấu Trà" (Tocha); do đó kỹ thuật càng được nâng cao từng  bước và người thưởng thức trà ngày  càng gia tăng.  Lúc đó, trà được phân chia làm bốn hạng: Vương trà  (trà  ngon nhất),  Bá trà  (trà hạng  nhì), Hương  trà (trà  thông  dụng), Dân trà  (trà nông thôn). Người Nhật  khoanh vùng để trồng  trà do  thổ nhưỡng quy định.  Vùng trồng trà danh  tiếng nhất tại  Nhật là  Uji, ngoại ô Tokyo,  kinh đô cổ của  Nhật. Tại đây, hàng  năm có tổ chức "Đại Hội Trà Vương".    Từ những tổ chức nầy, những nhà  nghiên cứu đã đề ra những nguyên  tắc về dọn  trà, pha trà và thưởng thức  trà. Trà trở thành nguồn   sống văn hoá  cung đình và dân gian.

Những  người đầu tiên đưa ra  những quy tắc sơ khởi nầy cho việc phát triển và biên soạn Trà đạo là Thiền sư  Murata Juko (1423  - 1502) và Thiền sư Takeno  Joo (1502 - 1555).   Trong thời gian nầy cách trồng trà  và chế trà, uống trà mang nội  dung mỹ học, đã  dần dà trở thành sản phẩm văn  hoá tinh thần dân  tộc độc đáo của người Nhật. Trong  việc nâng cao giá trị của trà,  đưa món giải khát  nầy lên hàng Trà đạo là thiền  sư Sen No Rikyu  (1522 - 1591).  Thiền sư  nầy có ảnh hưởng lớn  trong nền chính trị triều đình cũng như Phật Giáo. Trong những  sinh  hoạt tinh thần,  tư tưởng, Thiền sư  giữ vị thế trung tâm của giới nghệ  thuật thời đó. Với nhãn  quan sâu sắc,  với tâm  hồn  nghệ sĩ hết  sức  nhạy cảm,  Thiền sư nầy đã  giành trọn đời mình  trong việc chiêm nghiệm để hiểu biết thấu đáo giá trị mỹ thuật của Trà đạo.   Thiền sư đã ra công nghiên cứu tinh thần Thiền học ứng dụng trong  các dọn  trà, pha trà  và thưởng thức  trà, để từ  đó đúc kết nên  nguyên lý  Trà đạo. 

Nguyên  lý nầy tóm  tắt trong 4  ý niệm: Hoà,Kính, Thanh,  Tịch.

Giải thích về  nội dung của những  ý niệm nầy chính Thiền  sư Sen No  Rikyu nhấn mạnh:  Hoà đứng vào  hàng đầu."Hoà" là sự hoà hợp giữa con người và thiên nhiên, nội ngoại dung nhất,ứng dụng  vào cách sử dụng  những công cụ dùng  pha trà. Thao táccác dụng cụ phải mang tính chất Thiền.    Thứ đến là Kính. "Kính" làtỏ niềm kính  trọng đối với sự vật chung  quanh, nên cảm thụ trướcsự tồn tại của mọi sự vật trong khi pha, nấu và thưởng thức.  "Thanh" làbiểu tượng cho  sự thanh khiết của vạn vật  chung quanh ta về vậtchất lẫn  tinh thần.  "Tịch" là  bình yên, trầm lặng,  thanh thoátnội  tâm,  ngoại  cảnh. Mỗi khi  đạt được những  ý nghĩatrang trọng nầy thì 3 nguyên lý kể trên mới đầy đủ giá trị thưởngthức.

Như  vậy, 4 nguyên lý  (Hoà, Kính, Thanh, Tịch)  là kim chỉ nam cho  tất cả những nguyên  tắc Trà đạo. Ngoài  ra, nó thể hiện được những ý tưởng cao cả nhất  của Trà đạo. Trà đạo đã trở thành một lễ thức, lễ thức đẹp nhất  và tiêu biểu cho văn hoá Nhật Bản.  Những nhà khai sáng tinh thần và  lý luận của Trà đạo đã tìm thấy trong công việc dọn trà, pha trà  và thưởng thức trà là những giá trị  mỹ thuật,  cũng là  nghệ thuật  tu luyện  tinh thần  của con người.  Như thế, trải qua 400 năm, với  những công trình suy niệm của các Thiền sư về thuật uống trà, Trà đạo ngày càng được hoàn thiện các quy tắc chuẩn mực rất nghiêm ngặt, trở thành bất di bất dịch, đảm bảo cho  ý nghĩa thanh cao  của Trà đạo được  trường tồn theo mọi thời đại,  chiến tranh cũng như  hoà bình, hưng thịnh  cũng như suy  thoái.

Tinh  thần Trà đạo  phát triển song  hành với Thiền  Tông, nhất là Thiền Lâm Tế (Rinzai Sect)  và song song với thẩm mỹ quan sẵn có  trong tâm thức người  dân Phù Tang, để  lần hồi trở thành một nghi thức, một triết lý, đúng  hơn là một đạo giáo." Trong  tu hành, trên  đường giao tiếp,  vào thương trường, bao giờ người  Nhật cũng mở đầu sinh hoạt  bằng Trà đạo.

Như thế, óc sáng  suốt, thông minh,  tự chủ, trầm  tĩnh được nâng  cao mộtbực". (Murata Juko). Thoạt đầu  Trà đạo chỉ thịnh  hành trong giới tu  sĩ Phật Giáo và giới quý tộc,  thượng lưu; dần dà về sau  theo triết lý sống Nhật Bản, Trà đạo  được phổ cập trong quảng đại  quần chúng.

Tại những thành phố Nhật, có nhiều quán  trà, nhưng họ thường phải xác định là giải khát hay trà đường. Hiện nay, Trà đạo đã có ảnh  hưởng rất to lớn trong đời sống tinh thần, tôn giáo  và nghệ thuật, cung cách sống phong  lưu của người dân Nhật.     Mỗi một  chi tiết  trong trà  đạo đều  được thực hiện thận trọng; từ  cách kén chọn gian  phòng thích hợp cho  việc hành lễ, chọn một  hoa viên vừa  phải nhưng xinh  xắn, yên tĩnh,  chọn lựa những dụng cụ thích hợp; ngoài ra còn phải quan tâm đến: cảnh trí thích hợp,  thời gian xác đáng,  thời tiết thuận lợi,  cách trang trí, cắm hoa (Ikebana) sao cho  đúng phép; lại phải tùy thuộc vào nghi thức  Trà đạo, kiểu  thức cấu trúc  của gian phòng.  Mọi chi tiết đều thích hợp, không thể thiếu sót, sơ hở, tùy tiện. 

Điều căn  bản của Trà đạo là cung  cách tổ chức,  thao tác, trân trọng xem đó là một nghi lễ.  Nghệ thuật Trà đạo từ trước đến nay vẫn chú  trọng đến sự  giản dị và  khiêm cung, sự  giải thoát tâm linh. Tất cả  mọi cử chỉ, từ dáng điệu,  đi đứng, chào hỏi, những cử chỉ  xã giao hàng ngày  của người Nhật đều  chịu ảnh hưởng của Trà đạo,  mà người nước ngoài  thường kính nễ. Thanh  niên nam nữ  Nhật Bản trước  khi thành gia thất và cả  sau nầy nữa thường theo  họ và thực  hành các lớp Trà đạo  được mở ra rất hạn  chế và chọn lọc. Với  cung cách đó,  sẽ là cơ  hội để rèn  luyện tâm tính cẩn   trọng, ngay  ngắn, trang nhã,  thái độ cử  chỉ bao giờ  cũng nhẹnhàng, khéo léo, từ tốn.

Thông  thường nơi thưởng thức trà là một    "tam thất" (Sukiya), bao gồm một phòng uống trà (Cha - Shitsu), một phòng để pha trà (Mizuya), một phòng để khách đợi (Yoritsuki)   và một lối  đi nhỏ (Roji) để dẫn  khách qua một hoa viên  đến trà thất.

Tất  cả những  phòng ốc  nói trên  đều sạch  sẽ, thanh nhã, chung quanh trồng hoa, xa lánh nơi trần  tục, được thiết kế và xây dựng để bảo đảm tính chất văn hoá Nhật Bản. Nhiều báo chí Nhật viết về chuyên đề "Trà thất" và được mọi  người đón đọc. Cho dù đất đai các đô thị Nhật chập  hẹp, nhưng kỳ vọng của mọi người  là làm sao để có thể thiết trí trà thất, xem đó là nguồn hạnh phúc lớn lao nhất của đời họ. Những gì là tinh hoa của nền văn hoá nầy đều thể hiện rõ mọi khiá cạnh ở Trà đạo.  

 Những vấn đề  khác cũng được nghiên cứu kỹ.  Về những công cụ pha  trà đều  được chế tạo bằng  phương pháp thủ công,  tinh xảo, tuân thủ những  quy tắc nhất định  mang tính kinh điển.  Tất cả đều có giá trị  nghệ thuật cao.  Hộp  đựng trà (Chaire) thường  được chạm  khắc rất tinh xảo  và mạ vàng. Người Nhật xem đó  là của gia bảo,  truyền lại  cho con cháu. Những  nhà sưu tập nước  ngoài đến Nhật  chỉ mong sao tìm kiếm được  những chiếc hộp với phong cách truyền thống. Mọi vật  khác cũng được chọn lọc. Ấm  đun nước, bếp lò, tô để  pha trà  và uống  trà (Chawan)  đều làm  bằng loại gốm thượng hạng, được tạo  nên bởi những bàn tay khéo  léo của các nghệ nhân lão thành. Chiếc  muỗng để múc trà (Cha -  Shaku) được đẽo gọt từ những thanh tre già trồng trên 50 năm hay bằng gỗ Phi Lai, chỉ có ở Hokaido. Một cây cọ nhỏ (Cha - sen) chuốt bằng tre dùng để đánh trà cho mau tan.

Hầu hết dụng  cụ đều tránh làm bằng kim loại, vì theo người Nhật,  chất kim loại sẽ phá vỡ  tính chất tinh anh của Trà đạo.  Người thưởng thức  Trà đạo cũng tuân thủ một  số nguyên tắc. Cách ăn  mặc cũng  phải theo  đúng theo  Trà đạo,  áo quần  nghi lễ cổ truyền. Phải ăn mặc khiêm tốn,  nho nhã; người nam thì mặc Kimono may bằng  loại lụa chắc  dày, trên đó  có thêu danh  hiệu và biểu trưng phái tộc  mình, chân mang bít tất màu  trắng (Tabi). Phụ nữ mặc Kimono đơn sơ, có thêu dấu hiệu tộc phái và cũng mang bít tất  trắng.   Khách  đến dự, nam  hay nữ cũng  mang y phụ  như trên, một chiếc quạt giấy xếp và giấy  trải nhỏ (Kaishi). Tất cả những điều trên đây trở thành nghi thức chính. Người nước ngoài được mời đến tham dự Trà đạo  thì được loan báo trước một tuần  lễ và có những  chỉ dẫn rõ ràng. Những người phá  bỏ nguyên tắc sẽ không được thù tiếp. Phòng đợi mở ra để nhấn mạnh những nghi lễ sơ khởi đó.  Quan trọng nhất  trong Trà đạo là chọn trà;  điều mà bất cứ người Nhật nào trong  tuổi thành niên đều phải am  tường. Loại trà được xếp theo từng  hạng mục, tinh chế công phu.  Cách pha chế cũng làmột nghệ  thuật: lá trà chọn  xong phải đem ngâm  kỹ, tước bỏ hết phần xương lá, chỉ lấy phần thịt.  Sau đó mang đi sấy khô, nghiền thành một thứ bột màu xanh, hương trà thơm tự nhiên.  Nhờ vậy, khi   uống sẽ giữ được nguyên mùi vị của trà tươi. Trước khi uống  trà, mọi người đều phải rửa  tay, súc miệng, phải tĩnh tâm, từng cử chỉ điềm đạm  để thể xác lẫn tâm hồn tinh khiết của Thần đạo. 

Vào buổi lễ (Trà đạo), khi  khách đến đông đủ, chủ nhà trân  trọng bước ra cúi  mình chào  và  mời vào phòng trà. Cửa vào phòng thường nhỏ hẹp, từng người khom lưng bước vào, từng bước đi cung  kính, không lên tiếng một lời.  Bước vào phòng, mỗi quan khách  đều phải cúi đầu  trước khám thờ (Tokonoma).  Chủ nhà đáp lễ. Khách ngồi quây quần theo thứ tự trên sàn nhà bằng gỗ lát chiếu Tatami.

Những trang  trí thanh nhã của  trà thất gây cảm  giác tôn nghiêm cho mọi  người: bức thư  họa, tranh thủy  mạc, bình hoa  cắm đúng nghệ thuật. Chủ  nhà mời khách dùng vài thức  ăn nhẹ (Kaiseki) và vài chiếc bánh truyền thống đựng  trong chiếc hộp sơn. Dùng xong, chủ nhà mời khách trở ra phòng đợi. Giây lát sau, chủ nhà gióng 5 tiếng cồng nhỏ, báo hiệu đã chuẩn  bị xong cho buổi tiếp trà.  Chủ nhà thay đổi một  vài đồ vật trang trí: lư trầm  thay cho lọ hoa, tấm đại tự thay cho tranh thủy mạc. Chủ nhà cung kính đặt một bát sành hay bát sứ trước mặt khách,  dùng khăn trắng thật mịn lau đi lau lại nhiều lần;  đoạn cho bột trà vào bát và  dùng một giá cây múc nước sôi trong ấm thư thả pha trà. Pha xong, chủ nhà nâng bát mời khách nhận trà, cúi đầu chào rồi đưa lên môi uống. Khách uống  một ngụm nhỏ rồi hạ bát xuống,  khen ngon và cám ơn chủ nhà. Chủ nhà khiêm tốn  đáp lễ. Khách nâng bát lên  uống tiếp để tận hưởng   hương vị trà. Khi  chủ nhân dọn dẹp các dụng cụ  pha trà, cúi đầu  trước mặt quan khách, để báo hiệu cuộc trà đã chấm dứt.  

Như thế, Trà đạo ngoài giá trị  mỹ học và nghệ thuật, còn là phép tu luyện tinh thần người Nhật. Trà  đạo là biểu tượng 3 khiá cạnh trong tư duy Nhật: giải trí, chữa bệnh và liên kết nhau.

 

 

2-     Hoa đạo

 

Mặc dù được  truyền từ Trung Quốc sang, nhưng  nghệ thuật cắm hoa Nhật đã  được phát triển  ở mức  độ  cao tại Nhật,  trở thành một trong những hình  thức nghệ thuật mang đặc trưng  văn hoá dân tộc  Nhật Bản. Đó gọi là Hoa đạo. Hoa đạo Nhật bản phát triển mạnh mẽ, có nhiều  trường phái; mỗi trường  phái đề có nét  đặc sắc riêng. 

Muốn tìm  hiểu phải bắt  đầu từ việc  tạo hình cơ  bản trong nghệ  thuật cắm hoa. về nguyên tắc tạo  hình, cắm hoa Nhật Bản được cấu thành bởi ba cành chính; cành dài nhất gọi là cành số 1; tiếp đến  là cành số 2;  thấp nhất là cành số 3. Độ  cao của ba cành không  giống nhau và tác dụng của chúng  được thể hiện ở đoạn trên, đoạn giữa và đoạn  dưới; sau đó điểm thêm  vào các cành phụ, sẽ  tạo ra được  một hình  lập thể.  Ba cành  chính được  gọi là Thiên, Địa,  Nhân. Do vị trí và tác dụng của ba cành chính khác nhau, nên việc  tạo hình  trong việc cắm hoa  nầy được phân thành  ba loại: chân,  hành, thảo. "Chân" là ở thế  thẳng, thể hiện cảm giác nghiêm túc, đoan  trang. "Thảo"  là hình  thái tương  đối, thể  hiện sự tự do phóng  túng.  "Hành"  là  trạng  thái  trong  gian giữa "chân" và "thảo" thể hiện cảm giác thư thái, vui vẻ.

Tóm lại, nghệ thuật cắm hoa Nhật Bản lấy 3 cành  chính, tuợng trưng Trời, Đất, Người. Con người để tạo thành dáng hoa cơ  bản và hình thái của hoa thay đổi chung quanh 3 kiểu "chân", "thảo", "hành". Các trường phái cắm hoa của  Nhật  Bản  gồm:  trường  phái  Ikebana, trường phái Sougetu,  trường  phái  Tiểu  Nguyên,  trường  phái  Hoằng Đạo, trường phái Koryu, trường phái Viễn Châu, trường phái Syogetu, trường phái Vị  Sinh. Cách  gọi tên ba cành  chính của các trường  phái nầy có sự khác biệt nhau.

Kỹ thuật cắm hoa của người Nhật rất tinh vi, phức tạp, điêu luyện và tất cả đều  nhắm vào một chủ đích: tự nhiên.  Không bao giờ cótình trạng sắp xếp hoa cân đối;  theo họ thì cân đối chỉ thể hiện  "trong những đầu óc non nớt, sơ đặng trong nghề mà thôi”.  Theo họ,  phải gạt bỏ  tất cả  mọi  nguyên tắc trang  trí của Tây Phương, nếu  muôn hiểu được  vẻ đẹp của  nghệ thuật cắm  hoa Nhật Bản. Nghệ  thuật hoa cảnh không  phải như nghệ thuật  trang hoànghay chỉ đóng vai  trò thứ yếu.  Đó là nghệ thuật  hàng đầu, mang ý nghĩa triết lý cao, được xem là một thứ "đạo", cũng giống như Trà đạo, Kiếm đạo, Thư pháp.  Sách Tuyên Truyền  Thư đề cập 50 quy tắc  về ngôn ngữ tượng trưng của các loài hoa. Đó là sách nhập môn, không ai là không biết đến trước khi đi vào nghệ thuật cắm hoa cũng như thưởng thức hoa.

Bước khởi đầu học về hoa mai: Trong các môn phái hoa cảnh Nhật, phải khởi đầu học hỏi về đề tài cây mai. Nhưng đối với những  người được gọi là "ngoại đạo", việc cắm hoa mai  thường gặp nhiều khó khăn. Nhất  là tư duy của người nước ngoài  không hiểu biết  nhiều những quan  hệ gần gũi  và tạp tính của  hoa mai, cho  nên không thể  có được những  biểu cảm làloại cây nầy đã gợi cho người Nhật.

 Những người chuyên về cắm hoa Nhật thường nói đến con sông Nguyệt Vừng (Tsukigasa  = vầng trăng) gần  Kyoto nổi tiếng về  hoa mai:  các cánh hoa  rụng xuống trôi theo giòng nước  đầy cả mặt sông trong màu  xanh nhạt của sương  mai, khiến người ta  có cảm tưởng nhìn một con đường trải hoa đang di chuyển. Nhiều chim họa mi đến làm tổ trên những cành mai; người Nhật từ các nơi kéo về đây thức suốt đêm  để thưởng ngoạn cảnh  tuyệt vời hoa trôi,  chim hót.

 Vả  lại, hoa  mi là loài chim  ưa mai nhất. Một  trong những kiểu cắm hoa cổ điển nổi tiếng nhất của  Nhật có tên "Mai với họa mi" (Mai điểu). Ðó  cũng là cách  trình bày khó  nhất, cũng như  kiểu "Mai dưới làn nước" (Mai thủy). Đây là 2 kiểu siêu đẳng; còn như những loại thông thường khác, như "kiểu thực", "kiểu động", "kiểu trôi"  thì  rất nhiều  và đơn  giản hơn. 

Trong cách  thực hành nầy, các nhánh mai phải được  lựa chọn làm sao để khi cắm,  sẽ kết hợp với nhau một  cách tự nhiên  và hợp thành  một tổng thể  hài hoà. Khi nhìn vào,  ánh mắt sẽ  bất giác chú  ý đến chỗ  giao nhau của các cành làm nền cho toàn thể.  Đó là trọng điểm.

Hoa được đề cập  đến sâu rộng tại đất nước Phù  Tang từ triều đại Nara đệ  Nhất (710 -  793) rồi dần  dà đi vào  lịch sử Nhật. Nara ngày nay  là một thành phố  có nhiều đền đài  cổ kính, những vườn hoa, những khu đất linh thiêng, nhiều bi ký ghi chép từ thời xưa. Ngày  xưa, Nara  là thủ  đô đứng  hàng đầu  về phương  diện nghệ thuật, một thủ  đô thanh lịch, đầy chuyện  huyền thoại. Nara cũngđã từng chứng kiến nhũng thịnh suy của đất nước nầy.

Sách sử chép: Thời đó, giới tao  nhân mặc khác thường đến Nara để tổ chức những cuộc du ngoạn thưởng hoa, làm thơ. Họ đua nhau sáng chế những  thể loại cắm hoa  độc đáo. Thời đó  hoàng hậu Somedono diễm kiều  thường tự tay  mình cắm mấy  cành hoa để  đón tiếp nhà vua; để thắt chặt mói quan hệ giữa cung đình và thần dân, cứ lệ đầu năm, vua và hoàng hậu ra  trước thần dân thưởng thức món canh dân dã truyền  thống, nấu bằng 7 thứ cỏ,  tượng trưng cho sự hoà hợp của  vũ trụ. Đây là  thời đại hoàng kim  của nghệ thuật Nhật. 

Nhiều tác phẩm lưu truyền thời  nầy. Chẳng hạn như tập  "Vạn chiếc  lá" (Manyoshu)  là một cuốn sách  dày gồm những bài  thơ do nhiều người thuộc đủ giai tầng xã hội sáng tác. Đây là sự kết hợp tuyệt  vời của sáng tác  tập thể. Có đến 5,000 bài thơ,  mà phần lớn nói về  hoa. Một  tập khác  cũng nổi  danh không  kém có  nhan đề  là "Kokinshu" (Xưa nay) gồm những bài  thơ tả cảnh, tả tình tương tự như thế. Cả hai kết tinh nghệ thuật Nara.

   Các trường phái Hoa đạo gồm có:

 Trường phái Ikebana: Phái nầy gọi là kiểu "lập hoa". Trong mộthình thái cắm  hoa, phần cao nhất gọi là  "chân" phần giữa gọi là"phó", phần  dưới cùng gọi  là "thể". Điểm  đặc sắc của  trường phái nầy  là: chân thì  phải cường tráng,  đầy sức sống;  phó thì phải cắm vào từ góc đằng sau;  thể thì cắm vào đằng trước. Toàn bộ các  cành hoa tạo thành  một khối nhẹ nhàng,  thoải mái.

Ngoài ra, còn có thêm một số cành hoa  lá phụ, để bổ trợ cho 3 phần nói trên. Trường phái Ikebana dựa vào độ cong của cành "chân" để quyết định góc độ của  cành "phó" phía sau và cành  "thể" ở phía trước. Đồng thời, cũng dựa vào độ lớn nhỏ của góc mà phân thành 3 loại: chân,  hành, thảo. 

Trong 3 loại  đó, còn được  chi thành các  loại nhỏ;  "chân"  thì có:  chân chi  chân, chân  chi hành,  chân chi  thảo;"hành" thì có hành chi chân, hành chi hành, hành chi thảo; "Thảo"thì có thảo cho chân, thảo chi hành, thảo chi thảo. Cắm hoa theo kiểu "chân" thường sử dụng loại lọ hoa bình ống, lấyđường kính của  miệng lọ hoa và độ cong  của cành "chân" để quyết định cách  cắm hoa theo kiểu  chân chi chân, chân  chi hành, chân chi thảo. Cắm hoa theo kiểu "hành" thường sử dụng loại bình miệng rộng, cũng giống như  kiểu cắm hoa  chân, cắm hoa  kiểu "hành" cũng  dựa vào đường kính của miệng bình và độ  cong của cành "chân" để lựa chọn cách  cắm: hành  chi chân,  hành chi hành, hành  chi thảo; nhưng đường kính lọ của dạng nầy lớn hơn ở dạng chân một chút.

 Trường phái Sougetu: Đây là đại biểu của việc đại chúng hoá về nghệ thuật cắm hoa tại Nhật, đồng  thời cũng đã được hiện đại hoá theo xu thế  chung của nhiều nước. Theo trường  phái nầy, khi cắm  hoa phải chú  trọng đặc biệt đến trạng thái  tinh thần, hình dáng phải sinh động, màu sắc phải hài  hòa, bố cục phải hợp lý. Trường phái nầy được phân làm 2: cơ bản và hợp lý.

Một bình hoa được gọi"cơ bản" thì nguyên tắc cấu  được phân ra: Lập chân, khuynh chân,bình chân,  thủy chân. Lập chân  là cắm hoa thẳng;  khuynh chân là cắm hoa ngang,  bình chân là cắm hoa thủy  bình; thủy chân là cắm hoa thấp  so với mặt nước.  Cắm hoa theo Sougetu  thì dùng 3 cành hoa chính,  gọi là thiên, địa,  nhân. Cành thứ nhất  gọi là thiên;  cành thứ hai gọi là địa, cành thứ ba gọi là nhân.  "Thiên" là trung tâm điểm, nó quyết định độ lớn, nhỏ của các cành khác và  của cả tác phẩm,  độ dài của cành  "thiên" phụ thuộc vào đường kính của  lọ cắm hoa.

Về đại  thể, với các loại hoa  to thìcành sẽ cao gấp 3 chiều cao của lọ, các loại hoa vừa cao gấp 2 và  các  loại  hoa  nhỏ  thì  tương  đương.  Sau  khi quyết định được  "thiên", thì  "địa" sẽ có  độ dài bằng  3/4 cành "thiên",  "nhân"  bằng một nửa  hay 2/3 của "địa". Các cành  hoa khác thường gọi là những cành phụ thuộc, có tác dụng  hỗ trợ cho cành chính, làm cho tác phẩm có vẻ đẹp hoàn thiện. 

 Trường  phái Koryu: Trường  phái nầy gọi  cành cao là  "chân",càng iữa là "lưu", cành thấp là "thụ"; ngoài ra còn có cành "chân tiền", để  bổ trợ cho "chân",  "phó chân" để bổ  trợ cho "thụ" và tạo thành  hình sáng cơ bản  của trường phái cắm  hoa Koryu. Cành  "Chân" hình vòng cung, cắm ở giữa lọ, chếch về phía trước là cành  "lưu"; càng "thụ"  nằm ở phía bên kia, cành  "giữ" cắm ở phía đốidiện  của "lưu"  có tác  dụng giữ  cân bằng.  "Chân tiền" và "phó chân" thì lại  phân bố ở phía trước và  sau cành "chân". Kiểu cắm hoa Koryu có  thể biểu hiện cảm giác chuyển  động một cách rất rõ ràng; đây là  một đặc điểm của trường phái  nầy. các kiểu cắm hoa của trường  phái nầy được  chia thành 3  loại: chân, hành,  thảo. 

Phương pháp cắm hoa cũng được chia  làm 5 loại: bản thư, thụ lưu, trung lưu, giữ lưu và lưu.  Trong phương pháp cắm "bản lưu" thì  tỷ lệ về độ dài của các cành hoa lá  là: lấy "chân"  làm tiêu  chuẩn  là 100 thì  "lưu" là 80,  "thụ" là  50, "chân tiền" là 70, "giữ" là 40.  

So sánh giữa  phương pháp cắm "thụ lưu" và  "bản thư", trong "thụ lưu" cành "chân" là  80, "lưu" là 65, đều ngắn hơn  so với "bản thư"; còn "thụ" thì từ  50 đến 80, "giữ" 50 lại dài  hơn một chút. "thụ lưu" là biện pháp  cắm hoa nhằm nhấn mạnh yếu tố  địa trong 3 yếu tố thiên, địa, nhân. "thụ" và "lưu" trong phương pháp cắm "trung lưu" thì ngược lại so  với phương  pháp "thụ lưu"" cành  "thụ" ngắn lại, cắm  vào vị trí đáng ra là của cành "lưu", cành "lưu" thì lại dài ra. Đây là phương pháp cắm  hoa nhằm nhấn  mạnh yếu tố  Nhân trong 3  yếu tố thiên, địa, nhân. Biện pháp xử lý của "giữ lưu"  tương đối giống với "thụ lưu". chỉ hơi nhấn mạnh phần "giữ" hơn so với "thụ lưu".  Trong phương  pháp cắm hoa  "lưu", nếu lấy  cành "chân" là  100 thì cành "lưu" là 120, nó sẽ cao hơn  nhiều và thể hiện được vẻ đẹp củasự lưu loát, trôi chảy.

 Trường phái Viễn Châu: Cũng giống như những nguyên tắc  căn bản của trường phái Ikebana, trong phép  cắm hoa của  trường phái Viễn  Châu, cành nào  tượng  trưng cho trời thì gọi là "chân",  tượng trưng cho đất thì gọi là  "lưu", tượng trưng cho người thì  gọi là "hành".

Ngoài ra, còn có thêm một số cành bổ trợ để làm cho dáng hoa muôn hình muôn vẻ, đó là "chân thiêm" (tượng trưng  cho mặt trời), "phiến" (tượng trưng cho mặt  trăng), "nội đồng"  (tượng trưng cho  sao), "tiểu ngung" (tượng trưng cho thần),  những nhánh  hoa được tạo bởi 7 phần được gọi  là "thất  đoạn". Nếu  thêm vào  2 cành  gọi là  "ngoại đồng" (tượng trưng  cho càn) và "lưu  chân" (tượng trưng cho  khôn) thì  gọi chung là "cửu đoạn". "Thất đoạn" và "cửu đoạn" là hai dáng cơ bản của trường phái nầy.

 Trường phái Hoằng Đạo: Đặc điểm của trường phái nầy  là không dùng khái niệm thiên, địa, nhân. Cành cao  nhất thì gọi là "nhất chi",  cành thứ hai thì gọi là "nhị chi", cành thứ ba gọi là "tam chi". Ngoài ra, còn có thêm các  cành nhỏ  là "tiểu  giác", "khống",  "nguyệt đồng nội", "lưu nội" để tạo  dáng lập thể cho hoa. Dáng  hoa tiêu biểu cho trường phái  Hoằng Đạo  là "thanh  thao"; ngoài  ra còn  có "tương  ly","nhuận thúy", "trùng âm", "diễm dương" và một số loại khác.

Những dáng hoa nầy không phân chia theo "chân", "hành", "thảo", mà được quyết định  bởi sự đặc sắc  của hoa, thời gian,  vị trí, mục đích cắm hoa. Trong đó, "thanh thao" luôn  được coi là dáng hoa cơ bản của trường phái Hoằng Đạo. 

 Trường phái Vị Sinh: Trường phái nầy tượng trưng cho trời tròn và đất vuông; có 3 cành chính là "thể", "lưu" và "dụng".  "thể là cành cao nhất, tiếp đến là  "dụng" và  thấp nhất  là "lưu",  tượng trưng  cho Thiên, Địa,  Nhân. "Thể"  hình vòng cung, cắm  ở phía trước, đỉnh  của nó là ở gốc thẳng lên. "Dụng" men theo  đường vòng cung của "thể" và vươn tới chính giữa, cắm ở phía  trước cùng hướng với "thể". "Lưu" cắm ở phía đối diện với "dụng", nằm  ở phía dưới "dụng".

 Cắm hoa theo trường phái nầy  cũng có 3 dạng là "chân",  "hành" và "thảo", thể hiện 3  dáng vẻ khác nhau.  Hoa kiểu "chân" có  dáng vẻ như người đứng nghiêm,  độ cong của cành  "thể" rất bé. Hoa  kiểu "hành" có dáng vẻ như người đang đi, không gian hoạt động rộng hơn, độ cong của cành "thể" lớn hơn một chút so với "hành". Hoa kiểu "thảo" có dáng vẻ  như người đang chạy,  không gian hoạt động  được mở rộng hơn nữa, độ cong của cành "thể" cũng lớn hơn so với "hành".  Từ tốn, lịch  sự, ngắn gọn, mạch lạc, hơi  có cảm giác căng thẳng là đặc trưng của trường phái cắm hoa Vị Sinh.

 Trường phái Syogetu: Trường phái  nầy cũng gọi  cắm hoa  là  "lập hoa", do  5 cành tạo thành là "chính hoa", "tưong lệnh", "thông dụng", "thể" và "lưu". "Chính hoa" và "tương lệnh"  tương đương với "thiên; "thông dụng" tương đương với "Nhân";  "lưu" tương đương với Địa. Do vậy, có thể nói rằng trường phái cắm hoa nầy cũng không tách rời khỏi khái niệm trời, đất, người.

Cắm  hoa theo  trường phái  nầy cũng  được chia  ra thành "chân", "hành",  "tẩu" để  tượng trưng   cho sự  tròn khuyết  của trăng. "Chân" là chỉ  trăng tròn; "hành"  và "tẩu" là  chỉ trăng khuyết ở những quảng thời  gian khác nhau. "Chính hoa"  ở "hành" uốn cong, độ dài và đường cong của nó  đạt khoảng 1/8 đường kính hình tròn, cành "thông dụng" nghiêng 45 độ  về phía trước.  "Chính hoa"  trong "tẩu" cũng uốn cong, độ dài đường cong của nó đạt khoảng trên ¼ đường  kính hình  tròn; "thông  dụng" thì  nghiêng 40  độ về phía trước.

Nghệ thuật Hoa đạo được phát triển và nâng cao không ngừng, kể cả khi bành trướng ra nước ngoài.

 

 3-  Thư pháp

Thư  pháp (Calligraphy)  là nghệ  thuật viết  chữ đẹp  của người Trung  Quốc với  các công  cụ  gọi  là "văn  phòng tứ  bảo" (bút, nghiêng, giấy, mực). Thư pháp không  chỉ là nghệ thuật, mà còn là một "đạo  sống" (Thư pháp giả,  Đạo giả). Cổ nhân  cũng từng nói: "Học tập Thư  pháp khả dĩ tu thân, dưỡng  tính, đào dã tâm tình".   Nhận thấy chữ Hán có những nét khá độc đáo, cho nên có người muốn dùng trong hội họa. Đó là  thư pháp.

Người đầu tiên đưa ra sử dụng là Vương Hy Chi (321 - 379) đã định nghĩa như sau:    "Mỗi nét ngang là một đám mây  trong một thế trận, mỗi nét móc là một cây cung giương lên, có sức mạnh khác thường, mỗi nét chấm là một tảng đá  rơi xuống từ đỉnh núi  cao, mỗi nét phẩy là  một cái móc bằng  đồng, mỗi nét  sổ dài là  một thân cây  cổ kính, mỗi nét phóng khoáng mãnh  mai là một lực sĩ  chạy thì ở tư thế  sẵn sàng lao lên phía trước".

Thư pháp  chỉ là cách  vẽ. Chỉ  khi  nào đạt được  tư tưởng Thiền trong thư pháp thì mới phả vào đó một tinh thần, gọi là "thư pháp Thiền"; tâm  không ổn định,  thì không có  thư pháp hay  được.  Người Nhật Bản  từ thuở tiếp xúc với văn  hoá Trung Quốc, đã nhận  ra giá trị  ưu việt của bộ môn  nghệ thuật kỳ diệu nầy,  đã không  gọi  tên là  "thư pháp",  mà gọi  nó là  "thư đạo" (Shodo). Không những thế, nó là  một môn học hẳn hoi, với đầy  đủ cơ sở lý luận, từ đời nhà Hán đã từng gọi là "thư học". 

 Các đại gia  thư pháp trước khi thành danh  đã luyện tập viết mấy  chục năm trời ròng  rã. Danh từ "lâm trì" là thuật  ngữ ám chỉ sự khổ luyện nầy, được kể ra vô số  câu chuyện ẩn dụ về tính kiên trì hiếm có nầy.  Sài Ung đời nhà Hán  để lại một thiên lý luận về môn thư pháp, có tên là "bút pháp". Vỹ Đản đời Tấn đã ra công sưu tầm  được tài  liệu quý giá  nầy, xem là  trân bảo. Khi  đó Chung  Diêu cầu mãi mà không được, cho  nên uất ức phát bệnh trầm trọng, đến nỗi Ngụy Thái Tổ phải ban  cho ngũ linh đan mới cứu khỏi được.  Khi Vỹ Đản  qua đời, Chung Diêu âm  mưu lén quật mồ lên,  đánh cắp thiên "bút pháp"  và ngày đêm không rời, khổ  luyện rất công phu,  thậm  chí khi  nằm trên  giường cũng  lấy tay  viết lên chăn gối.  Trương Chi đời  nhà Hán mỗi lần tập  viết xong thì đem rửa  bút ở ao, lâu  ngày nước đen  như mực  (lâm  trì học thư,  trì thủy tận mạc).

  Từ  đó mới có  thuật ngữ "lâm  trì", có nghĩa  là khổ luyện cách  viết chữ.  Đời Tấn,   Vương  Hy Chi  phải trải  qua 15 năm chuyên tâm rèn  luyện thư pháp, bắt đầu một  chữ "vĩnh" (dũng tâm thập ngũ  niên, thỉ công nhất  "vĩnh" tự).  Đời Tùy,  nhà sư Thích  Trí Vĩnh (tục gọi  là Vĩnh Thiền Sư) cháu 7 đời  của Vương Hy Chi,  trụ trì ở  chùa Vĩnh Hân, ở huyện  Ngô Hân; ông lên lầu  chùa rồi không xuống, ở đó suốt 40 năm  để luyện thư pháp (đăng lâu bất hạ tú thập  niên). Ông dùng bút  cùn (thoái bút) chất  cao thành một  gò, gọi  là "thoái bút trủng"  (trủng là gò mả).

  Khi thành danh, người người đến  xin chữ, khiến cho ngạch cửa  nhà ông bị dẫm hư,  đến nỗi  phải lấy sắt  lá bao  lại,  gọi là "thiết  môn hạn". Vua Đường Thái  Tông (Lý Thế Dân)  lúc rỗi, tay không  viết chữ trong không khí (Trừu không luyện tự).  Nửa đêm tốc dậy, đốt đuốc luyện Lan Ðình  ký,  tức là  mặc tích của  Vương Hy Chi  (dạ bán khởi bá chúc học Lan  đình ký).  Nhà sư Thích Hoài  Tố đời Đường, thuở nhỏ nhà nghèo không tiền mua giấy,  chỉ còn biết khổ luyện trên những tàu lá  chuối mà thành công,  được người đời ca  tụng là bậc "thảo thánh" (bậc Thánh về lối chữ thảo), mực đẩm lâm ly, bút pháp tiêu sái, dường như cuồng phong, nhưng lại không hề rối loạn.

 Nổi tiếng về lối  chương thảo thì có  "Thảo thành nhị vương"  tức là hai cha con Vương  Hy Chi và  Vương Hiến Chi.  Nổi tiếng về  Cuồng thảo  phải kể  Trương Húc và Hoài  Tố, mà thế nhân  thường gọi là "điên Trương, túy Tố" (Trương Húc điên, Hoài Tố say"... 

Thư pháp Thiền  ở Nhật có kể  giai thoại như sau:  Khi một người bước chân lên  đền Obaku ở Tokyo,  sẽ nhìn thấy trên  cổng đền bằng gỗ chạm mấy chữ  "Đệ nhất đế". Chữ chạm to  lớn khác thường và những ai thích chữ đẹp đều luôn luôn  chiêm ngưỡng như là một kiệt tác.

 Những chữ nầy do thiền sư Kosen vẽ lên 200 năm về trước. Kosen vẽ trên giấy và người thợ chạm theo đó mà chạm lớn vào gỗ. Trong lúc Kosen phác họa trên giấy, chú đệ  tử nhỏ can đảm của Kosen đã mài mực cho Kosen đến  mấy lần để "viết cho đẹp mới  thôi". Chú nói với Kosen như thế. Kosen viết lần thứ  hai và quay lại hỏi đệ tử. Cậu bé lắc đầu: "Bức nầy lại còn tệ hơn bức trước kia nữa!" Kosen vẫn kiên nhẫn viết lần nầy qua lần khác lên đến 41 tấm và lần nào hỏi ý kiến cho đệ tử  mình, thì cậu ta vẫn chê chỗ  nầy, chê chỗ kia.  Sau đó chú đệ tử bước ra  ngoài. Khi đó Kosen thầm nghĩ: "Bây giờ  là lúc  ta tránh được  con mắt  sắc  bén của câu  bé". Kosen viết nhanh, với cái  tâm không lo lắng "Đệ nhất  đế". Chú bé bước vào,  reo to lên "một kiệt tác".   Những câu chuyện về thư pháp như  đã kể trên đây thì nhiều vô số.  Điều nầy cho thấy những công trình "trị thư" của ngưòi xưa chuyên  cần, trì chí đến mức độ nào!

Người Trung Hoa viết theo những thể dáng và bố cục khác nhau: chân thư, hành thư, thảo thư, triện thủ (đại triện và tiểu triện), Họa thư. Cũng có thể dưạ theo kiểu viết của từng tác giả nổi tiếng và có ảnh hưởng lớn, được gọi là các “thế” như Nhan thế (thế chữ của Nhan Chân Khanh), Liễu thế (thế chữ của Liễu Công Quyền), Âu thế (thế chữ của Âu Dương Tuần)... Trong cách viết thư pháp, tùy theo bút lực, tâm lực, trí lực, cũng như về nguồn cảm hứng thể hiện trong từng thời điểm khác nhau, người viết có thể dùng những động tác khác nhau: ức (nhấn xuống), dương (nâng cao lên), tốn (dè dặt, thận trọng trong từng đường nét), Tỏa (ha dần xuống), trì (khoan thai, chậm rãi), tốc (viết nhanh, thanh thoát), hoàn (vuốt lại), khẩn (viết gấp tùy hứng), khinh (nhẹ nhàng), trọng (nặng tay, nét đậm).

Chữ Hán theo lối tượng hình, ra đời rất sớm trong lịch sử nhân loại, cho nên thư pháp cũng được phát triển ngay từ đầu. Những di tích khảo cổ học khai quật ở Ðôn Hoàng đã cho thấy những loại chữ đầu tiên, theo kiểu tượng hình đó.   Vốn là một nghệ thuật viết chữ đẹp, sự phát triển của loại chữ Hán quan hệ mật thiết với sự diễn tiến không ngừng của những thế chữ khác nhau, cũng như những thay đổi của các dụng cụ về viết (bút, nghiên, mực, giấy...).

Về thế chữ, chữ Hán khởi đầu bằng loại giáp cốt (viết trên mu rùa), rồi sau đó, xuất hiện những loại chữ kiểu đại triện, tiểu triện, lệ thư; sau dẫn lại diễn biến thành loại khải thư như chữ thông dụng ngày nay. Nghệ thuật thư pháp Trung Quốc đã phát sinh và tiến triển từng bước theo những thay đổi trong quá trình đó, trở thành một tài sản  nghệ thuật quý báu trong kho tàng văn hoá cổ truyền Trung Quốc. Những nhà nghiên cứu về thư pháp ngày càng nhiều, nên có thêm nhiều khám phá mới lạ trong từng thời kỳ.

A- Giáp cốt văn là loại viết chữ cổ nhất của người Trung Hoa. Theo nghiên cứu, người xưa đã từng dùng dao (hay những dụng cụ sắc bén khác) để khắc vạch lên mai rùa, xương thú mà thành. Ngoài ra cũng dùng trong thuật bói toán. Loại chữ giáp cốt còn được lưu truyền trong sách sử ngày nay, đa phần xuất hiện vào đời nhà Thương; một số nhỏ thì thuộc Tây Chu (theo Lâm Ngữ Ðường). Giáp cốt văn được xem là thư pháp đầu tiên của Trung Quốc. Vào đời Tây Chu, loại chữ “đại triện” xuất hiên; một số nhà nghiên cứu cho rằng loại chữ nầy do vị quan Thái sử đời vua Chu Tuyên Vương là Trứu (Hoàng Trứu) nghiên cứu  để sáng tạo ra, biến đổi của giáp cốt văn. Loại chữ nầy còn được gọi là “Trứu văn”. Ða số những vương thất quý tộc vào đời nhà Thương và nhà Chu  thường sai người chế tác ra rất nhiều lễ vật dùng trong cúng bái, như chuông vàng bằng kim loại, mà trên đó bao giờ cũng khắc chữ; do đó, người đời gọi là “kim văn”.

Trên nguyên tắc bố cục và hình thành thì loại “kim văn” của đời nhà Thương có nhiều điểm giống như loại giáp cốt văn ngày trước; cho đến đầu đời nhà Chu, nhờ công trình của Quách Thế Giai, thể “kim văn” đã được chỉnh đốn lại, với khí thế mạnh mẽ; nét chữ mới nầy tương đối phóng khoáng hơn.

B-  Loại chữ triện:  Cho đến những năm cuối thời Chiến Quốc, (206 trước CN) thì lại có thêm những thay đổi thêm, tỏ rõ bước chuyển biến, để sau nầy trở thành loại chữ “triện” ( đại triện và tiểu triện). Tiểu triện là lối chữ được hai vị danh nho đời nhà Tần là Lý Tư và Triệu Cao sáng tạo ra, đã được giản lược khá nhiều so với loại đại triện, cho nên khi viết được tiện lợi hơn và nhanh chóng hơn nhiều. Bản thân vị Thừa tướng Lý Tư cũng là một nhà đại thư pháp đời Tần. Theo những di tích còn lại, thì thể viết tiểu triện của ông rất mềm mại, hoạt bát, cho nên được các danh nho thời đó mệnh danh là loại “ngọc cân triện”.

 

Cũng trong giai đoạn nầy, loại bút lông đã được phổ biến nhiều; vật liệu để viết nầy là những vải lụa và những thẻ tre, những bản gỗ mềm mại, cho nên những thể chữ viết đã có phong cách khác với loại chử khắc trên giáp cốt ngày xưa. Thư pháp được chỉnh đốn thêm nhiều.

C-  Loại chữ Lệ: càng ngày chữ Hán lại được canh cải thêm. Ðể cho việc viết sách được tiện lợi hơn, loại “chữ lệ” được ra đời sau đó. Loại chữ nầy đời Tần thì gọi là “Tần lệ”. Sau khi triều đại Tây Hán được kiến lập, chỉnh đốn mọi sinh hoạt văn hoá, quan thừa tướng Tiêu Hà ra quy định: Thư pháp là một trong những nội dung thi cử từ trung ương đến địa phương; những người đạt được những thành tích tốt thì có thể giao phó đảm nhiệm công việc văn thư trong các cơ quan chính quyền.

 Tuy trong giai đoạn nầy, vẫn còn dùng đến loại chữ đại triện và tiểu triện, nhưng loại chữ “lệ” được xem là quan trọng hơn và phổ biến hơn.  Trong nguyên tắc nầy, loại chữ “lệ thư” đã trở thành thói thời thượng trong cơ quan chính quyền khắp nơi trong xã hội.   Cho đến đời vua Thuần Ðế  nhà Ðông Hán, cách viết chữ theo hình giống như chữ “bát”, cho nên gọi đó là “bát phân thể”. Loại chữ lệ  vào đời nhà  Hán nầy nếu đem so sánh với cách viết của đời nhà Tần thì có những thay đổi khá lớn về cách thể hiện, bố cục, cũng như về ý nghĩa của từng chữ, trong thể tượng hình và hài thanh.  Chữ lệ đời nhà Hán (206 trước CN-24)  còn truyền lại cho đến nay đa phần đều được ghi khắc trên những bi ký vào hai thời Hoàn Ðế và Linh Ðế là giai đoạn hưng thịnh nhất của triều đại nầy.

 Nghiên cứu những văn bản nẩy (theo bản dập in), có những thể viết rất tinh tế, sắc bén, đạt được cái “thần vận  siêu dật” (theo Lương Khải Siêu), nét chữ chắc khoẻ, đều đặn, gân guốc, nổi tiếng về những tư thế kỳ lạ, phong túng; biểu hiện được phong cách đa dạng của loại chữ lệ được biến cách đời Hán.

Trong số những nhà thư pháp nổi tiếng trong thời đại nầy thì Thái Ung (cuối đời  Ðông Hán) được ca tụng nhất về cách tu dưỡng cao siêu và  đầy tính chất sáng tạo cho loại chữ Lệ Vào thời vua Linh Ðế, ông đã viết bản “lục kinh” trên bia đá: đó là tấm “thạch kinh” Hỷ Bình nổi tiếng trong lịch sử.   Khi tấm bia nầy hoàn thành và được dựng lên, người đếm xem đông đúc vô tả, mỗi ngày có hàng ngàn cỗ xe từ bốn phương đổ về đế kinh để thưởng ngoạn.

D-  Loại chữ chân:    Thời gian sau đó, chữ lệ lại biến cách dần; cho đến đời Tam Quốc, thì Hán lệ lại được phát triển lên thêm một bực nữa; nét chữ cũng như cách  kết cấu chữ lệ nghiêm chỉnh, đẹp đẽ thêm nhiều, hình thành chữ “chân” cũng được gọi là “chính khải”. Trong số những nhà thư pháp trong giai đoạn nầy, thì loại chữ “chân của Chung Do vào cuối đời nhà Hán được ca tụng là “cổ nhã tuyệt diệu” khó mấy ai sánh kịp.  Sau nầy, Lý Thái Bạch khen lối viết chữ “chân” của Chung Do là “Hạc múa trên trời; chim hồng giỡn sóng”.  Từ đó được nhiều người sao lục để truyền bá khắp nơi. Thư pháp thời nầy cũng  nở rộ.  Trong việc truyền bá, “lệ thư” được ra đời và tu chỉnh nhanh là do muốn sao chép cho nhanh chóng và tiện lợi, kể cả việc sử dụng trong trường thi. Nguyên tắc chính là: “lệ thư dùng để viết nhanh chữ tiểu triện”.

E-  Loại chữ Chương thảo:   Sau khi lệ thư được ra đời và hoàn chỉnh, thì trong học giới lại có thêm một loại chữ viết nhanh khác, gọi là “chương thảo”, nhưng chỉ được dùng trong dân gian mà thôi. Với những tiến bộ về cách viết chữ như vậy, nhiều tác phẩm nổi tiếng kiệt chúng cũng xuất hiện. Chẳng hạn như  vào thời Nguyên Ðế nhà Tây Hán, danh nho Sử Du đã viết “cấp tựu chương” bằng loại chữ mới, được xem là tác phẩm “chương thảo sớm nhất” trong lịch sử văn học Trung Quốc.

Như thế, loại chương thảo nầy vừa bảo tồn được những tinh túy của lệ thư trước kia, mà lại thêm những đường nét mới: nét chữ như sóng, không có sự nối liền giữa các chữ, vừa không  hoàn toàn căn cứ vào những quy củ viết chữ của lệ thư. Nhờ thế, đường nét vô cùng phóng khoáng, nhiều bản  văn thể hiện rất đặc sắc.

F-  Loại chữ Kim thảo và Hành thư:   Sự biến hoá của chữ Hán càng ngày càng phong phú thêm. Cũng trong đời nhà Hán, loại chữ “kim thảo” và chữ “hành thư” lần lượt ra đời, nhưng chỉ được truyền bá trong một số danh gia. Một số nhà nghiên cứu cho rằng:  nhân vật đầu tiên đã biết  sáng tạo ra chữ “kim thảo” là Trương Chi (?). Nhưng giả thuyết nầy   về sau nầy vẫn bị phản bác.

 Theo cách viết mới, loại chữ “kim thảo” khác với “chương thảo” là nét chữ không có sóng, giữa các chữ được kết  liền lại với nhau. “hành thư” là loại chữ viết nằm giữa loại “khải thư” và loại chữ “kim thảo”; tương truyền là do danh nho Lưu Ðức Thăng ra công sáng tạo nên. Những bản văn của ông lưu truyền lại cho thấy: chữ viết của ông bay bướm, mềm mại, vó những nét độc đáo, ít ai theo kịp được.

Như thế, cho đến đời nhà Hán thì cả ba thể viết “khải”, “hành” và “thảo” đã được phổ cập trong dân gian rất hoàn chỉnh, không còn những thay đổi khác nữa. Qua những chuyển biến của chữ Hán, có thể hiểu theo một hệ thống rằng: “lệ thư” là kế tục của “triện thư” và sau đó đã mở ra “thảo thư” và “khải thư”.

Cũng nên kể thêm đến việc sáng chế ra giấy trong giai đoạn nầy để thay thế cho những bảng gỗ, cho nên việc truyền bá văn học dễ dàng, nhanh chóng  và sâu rộng. Vào thời Ngụy Tấn, những cuộc tranh chấp triều chính không mấy khi xuất hiện, văn hoá cũng  phát triển. Trong thời nầy, nghệ thuật thư pháp Trung Quốc đã tiếp tục phát triển thêm nhiều, khởi đầu dùng thể “lệ thư”  của nhà Hán làm căn bản; sau lại được chuyển qua  thể “chân”, “hành”.  Nghệ thuật thư pháp đã đạt được mức độ cao nhất, với sự xuất hiện của vị “thư thánh” là Vương Hy Chi. Tài năng của ông là sự tập hợp tất cả tinh hoa của thư pháp ngày trước, lại thay đổi phong cách chất phác thời Hán và thời Ngụy, tạo ra thể thư pháp mới. Như đã trình bày, “Lan Ðình tự” được người đời tôn sùng, là tác phẩm tiêu biểu của ông.

         Hai trường phái:   Cho đến thời Nam Bắc Triều, do nhiều học phái khác nhau xuất hiện, cho nên thư pháp lúc nầy cũng được phân chia thành 2 trường phái khác nhau: trường phái phương Nam và trường phái phương Bắc..  Phong thổ  và sinh hoạt từng vùng đã ảnh hưởng đến thư pháp hai vùng.  Mỗi miền có đặc tính khác nhau: miền Nam thì nổi bật về những nét hoa mỹ; miền Bắc thì lại trội hơn về lối nghiêm chỉnh. Trong những tư liệu văn học về giai đoạn nầy, người ta thường kể đế những loại bia đá vốn được khai sinh từ thời Bắc Ngụy, vững chải vào thời Nam Bắc Triều, đều mang phong cách phong phú, đa dạng.

Những nhà phê bình đều khẳng định giá trị “Lệ khảo biến hoá, đa dạng, đa thể” của thư pháp thời nầy, chuẩn bị cho một giai đoạn khai triển lớn mạnh sau nầy. Vào đời nhà Tùy, Trung Quốc được thống nhất, do đó, thư pháp  tiến đến thời kỳ “hợp lưu”, để từ đó, mở đường cho sự phát triển mới của thư pháp đời Ðường.

Vào đời Ðường: (618-907)  Chưa có giai đoạn trước đó, mà thư pháp lại được giới văn học thưởng thức và sáng tạo phong phú cho bằng lúc nầy. Tất cả các thể “triện”, “lệ”, “chân”, “thảo” “hành” đều có những trường phái thư pháp riêng biệt, hoạt động trong những  lãnh vực khác nhau. Người ta thường nhắc đến tên tuổi của Lý Dương Băng sành về lối chữ “triện”, Trương Húc, Hoài Tố hai nhân vật xuất chúng về lối “cuồng thảo”. Chẳng những thư pháp được mến chuộng và được sưu tầm của hoàng thân, quốc thích, quan lại trong triều, mà ngoài dân gian cũng được  dấy lên một tư trào tìm kiếm không kém.

Vào thời Sơ Ðường, phong trào tôn sùng thư thánh Vương Hy Chi rất mạnh, thiên hạ đua nhau sao chép lại các bút tích hiếm hoi còn lưu lại của ông; rồi đến lượt các tác phẩm của Âu Dương Tuần, Ngu Thế Nam, Chữ Toại Lương, Tiết Tắc... của giai đoạn nầy cũng được mọi người ái mộ.

Tuy những phong cách của thư pháp gia Sơ Ðường vẫn chưa thoát ra khỏi thư pháp đời Tần, tuy nhiên, trong nét bút và thể chữ của họ đã có những biến dạng về hình thức, khuôn mẫu, khác với thể dẹt của lối “chữ lệ” vào đời Hán.

Một nhân vật khác chiếu sáng lên thời đó là Nhan Chân Khanh. Theo những nhà văn học thời đó, thư pháp họ Nhan được đánh giá là : “Ông đã đưa phương pháp cổ vào trong ý tưởng mới, đã tìm cách sáng tạo ra phương pháp mới bên ngoài ý cũ, đã sản sinh một phong cách mới: ngay ngắn mà không cẩu thả, trang trọng nhưng không bí hiểm, kỳ vĩ, đẹp đẽ mà pháp độ lại thung dung, phóng khoáng”.

Ðến đời Trung Ðường, lại có thêm một số biến chuyển mới. Tiêu biểu là thiên tài Liễu Công Nguyên, lập ra “Âu thế”, cùng với những bạn đồng liêu của mình  sáng tạo kiểu chữ mới: nét thanh tao hơn, tráng lới viết béo đậm ngày trước, thế chữ nghiêm mật, gân guốc, mạnh mẽ. Câu nói về hai thiên tài nầy đứng bên cạnh nhau  là “Nhan cân, Liễu cốt”, xứng đáng là những mẫu mực cần thiết cho những ai muốn luyện  thư pháp sau nầy.

Cho đến thời Vãn Ðường thì có Dương Ngưng Thức, cũng là một bậc kỳ tài trong ngành thư pháp Trung Quốc, có nét chữ vô cùng phóng khoáng, phiêu diêu. Phong cách nầy được xem là bước chuyển mình của thư pháp đời Ðường chuyển sang đời Tống. Chỉ tiếc là thời kỳ nầy gặp nhiều tao loạn, chính bản thân Dương Ngưng Thức cũng khó tránh tai ương, cho nên khó tìm được nhiều bút tích của ông. Ða phần là chữ được ghi trên bia đá.

 

 

Vào đời Tống: (960-1127)  Ðược dấy lên cao vào đời nhà Ðường, cho nên đến đời Tống, thư pháp lại nở rộ, Nhiều  nhà thư pháp phương Nam lẫn phương Bắc dồn dập xuất hiện. Bốn nhà thư pháp lớn trong tiêu ngữ “Tô, Hoàng, Mễ, Thái” dồn vang trong dân gian chính là Tô Thức (Ðông Pha), Hoàng Ðình Kiên, Mễ Phất (Mễ Phí hay Mễ Nam Cung) và Thái Tương.  Họ cũng là những thi sĩ khét tiếng.

Thuật viết chữ đẹp vào đời nhà Tống đã trở thành một công việc khắc chạm chữ đẹp trê đá và trên gỗ trong nghệ thuật trang trí. Về sau, lấy các chữ cà lên trên giấy và biên soạn các phần nầy thành tập bản sao lưu truyền trong các văn khố. Công việc nầy trở thành một phương pháp thịnh hành trong việc nghiên cứu, học hỏi các kiểu chữ đẹp khác

Thư pháp của Tô Ðông Pha (Tô Thức) thường đưa những ý mới vào trong pháp độ chữ viết của mình “có xương, có thịt”,  dấu kín sự khéo léo trong những nét thô sơ. Hoàng Ðình Kiên thì thường dùng những thế chữ bí hiểm, khó đọc, nhưng lại có sức hoành dật, toàn bài đều biến hoá vô cùng.

Vào đời Nguyên, (1271-1368)  thư pháp  Triệu Mạnh Phủ có dạng chữ rất đẹp trong toàn diện, bao gồm các loại chữ “lệ”, “chân”, “hành”, “thảo”.

Vào đời Minh (1368-1644) , các văn nhân thường sở trường về lai loại “hành” và “thảo”, mà tiêu biểu là Chúc Doãn Minh, Văn Trưng Minh, Ðổng Kỳ Xương, Thần Áng, Giang Tân, Văn Thành Minh, Vương Long, Chúc Ngôn Minh, Hưng Ðồng, Trương Thụy Ðồ, Trung Kỳ Xương, Tống Khắc, Thần Ðộ... Họ thường trở lại phong cách thư pháp đời Tấn và đời Ðường. Ảnh hưởng của họ truyền về những thế hệ sau nầy rất mạnh mẽ.

Vào đời Thanh, thư pháp ban đầu vẫn nối tiếp phong cách đời Tống và đời Nguyên, thịnh hành về “thiếp học”. Vào đời Khang Hy, Càn Long, thư pháp của Triệu Manh Phủ, Ðổng Kỳ Xương được kế thừa sâu sắc nhất.  Về sau, kim thạch văn khai quật được nhiều, người đều mến mộ, nẩy sinh ra lối “bi học” để thay thế cho “thiếp học”. Một thời, hai thể “bi” và “thiếp” cũng cạnh tranh nhau.  Thư pháp vào đời nhà Thanh có thể phân chia làm hai thời kỳ: Thời kỳ đầu kể từ đầu nhà Thanh cho đến triều vua Gia Khánh (1796-1820) và Ðạo Quang (1821-1850). Trong thời kỳ nầy, việc nghiên cứu các bản sao vẫn tiếp tục không sút giảm; những người viết chữ đẹp được ưa thích phải kể đến: Hoàng Từ Thành, Phù Sơn, Trương Triệu, Vương Văn Trị, Lưu Dung.

Còn thời kỳ sau bắt đầu với các triều vua Hàm Phong (1851-1861) và vua Ðồng Trị (1862-1874).  Cùng với sự quan tâm về việc khảo cổ nhiều nét chữ được khắc chạm trên đồ đồng và bia mộ đã được khám phá, người ta còn thu lượm được những nét chữ “từ văn” và “bắc văn”, và do đó, đã nảy sinh ra một trường phái thư pháp độc đáo nữa của đời Thanh, bước sang thời Dân Quốc. Những nhân vật hàng đầu của trường phái nầy phải kể đến: Ðặng Thạch Như, Hà Thiếu Tề, Trương Ngọc Lưu. Giới thư  pháp Trung Quốc  từ đời Tống  đến đời Thanh   đã xảy ra một cuộc tranh chấp; nguyên nhân là do sự đối chọi của các nhà thư pháp phía Hoa Bắc và phía Hoa Nam.  Lịch sử văn học  Trung Quốc gọi là "Bắc tính" và "Nam tính".

Một bên thiên về cách   viết thiếp,  còn một bên thì  hướng về cách viết  trên bia đá. Có thể đọc  những khác biệt nầy  trên những bài khảo  luận của Triệu Mạnh Kiên đời Tống hay của Nguyễn Nguyên đời Thanh thì mới rõ hai  chủ trương trái  ngược đều có nguyên nhân của  mỗi thể loại.  Theo hai nhà bình luận nầy thì: Hai cách "khắc trên bia" và "viết trên thiếp", bên  nào cũng có hệ  thống phát triển riêng  biệt, do bối cảnh từng vùng mà ra.

 Bắc phái:  Khắc bia là đặc  tài của những nhà  Thư pháp phía Hoa Bắc. Lối nầy vốn phát triển  qua các triều đại: Triệu, Yên, Ngụy,  Tề, Châu, Tùy. Những thiên tài trong cách viết khắc trên bia đá phải kể đến:  Chung Do, Vệ Quán, Sách Tịnh,  Lư Trạm, Thôi Duyệt.  Hai nhà  Thư pháp Âu  Dương Tuân và  Chử Toại Lương  cũng sành về  cách viết khắc trên bia.

 Nam phái: Nam  phái sành về cách viết thiếp.  Loại nầy bắt đầu  từ đời  Đông Tấn, được tiếp  nối qua Tống, Tề,  Lương, Trần. Tiêu biểu là Vương Hy Chi, Vương Hiến  Chi, Trí Vĩnh, Ngu Thế Nam. Cho đến nay vẫn có những ý kiến trái  ngược hẳn nhau về sự khác biệt và  tranh chấp của hai miền Bắc Nam nầy.

Trong thực tiễn, có người khởi  đầu từ  cách viết khắc  trên bia đá,  có người thì  khởi đầu bằng cách viết trên thiếp, nhưng sau thì thay đổi, với phong cách viết chữ khác nhau. Có người thì hợp chung cả hai lối viết thành một.

Như thiên tài Vu  Hữu Nhậm, thế kỷ XX, đã nhào nặn ra bút pháp chữ lệ, chữ khải (về loại hành),  đã sử  dụng chung cả  cách viết  trên  bia và trên  thiệp, trở thành  phong cách độc đáo của ông, mà  cả hai phái đều ngợi ca, tán tụng  là thuộc về môn phái của mình. Chính cách thử nghiệm nầy đã có nhiều  nhà thư pháp thực hiện một cách hoàn chỉnh.

Trong quá trình biến chuyển, chữ Hán cũng đã trải qua nhiều biến đổi  về kiểu chữ, đại cương có nhiều  thể loại.  Hán tự có  từ bao giờ? Cho đến  nay, dù dùng cả khoa  khảo cổ học,  vẫn còn là nghi  vấn! Những tư liệu có được về  những di tích, di chỉ khảo cổ  họ cũng chỉ là những truyền  thuyết và những cổ tịch. Người ta cho rằng: Những giai đoạn ban sơ của văn tự Trung Quốc là "thắt nút giây, để ghi nhớ sự  việc" (kết thằng thời đại); sau đó thì dùng đến những "khắc vạch"  (thư khế).

Giáp  cốt văn  thời Ân  Thương cũng  thuộc giai  đoạn dùng "kết thằng" như  đã trình bày. Bấy  lâu nay, người ta  thường cứ lầm  tưởng là Giáp cốt  văn là hệ quả của việc bói  toán thuần túy thời  Cổ đại Trung Quốc.  Thuật ngữ  "bốc phệ" gói trọn  hai phép bói: một  là "bốc" là bói giáp cốt và "phệ" là bói bằng  cỏ thi.  Bói Giáp cốt phổ biến thời Ân Thương,  cả hai phép  bói nầy phổ  biến vào đời  Chu.  Nhiều nhà  nghiên cứu  gần đây (trường  hợp Phùng Hữu  Lan trong Văn  học sử  Trung Quốc chẳng hạn) thì gọi chung cả hai loại nầy là "quy thi",  tức là  nhấn mạnh vào  công cụ bói  toán. Những phát  hiện di chỉ khảo cổ học gần đây (Tế Nam)  đã chứng minh rằng: Giáp cốt văn là hệ  văn tự  biệt lập,  nhưng việc  khắc chữ  lên những mảnh "quy giáp" (mai  rùa) và "thú cốt"  (xương thú) để ghi  chép những lời bói (bốc tự),  đã khiến người ta dễ  ngộ nhận sự bói toán  là căn nguyên của Giáp cốt văn.

Đây là dạng  chữ viết của đời nhà Thương,  được khắc trên mai rùa hay trên những xương thú. Vì  công dụng chính thời nguyên thủy là dùng vào việc ghi chép những điều bói toán là chính, cho nên, còn được gọi là  "bốc từ" (những lời giải về  bói toán) hay "khế văn"  (chữ khắc bằng loại "khế  đao",  một loại tiền cổ). Trên một lãnh  vực khác,  loại chữ nầy  đã được phát  hiện ở vùng  Ân Khư (cố đô  thời Hậu Thương,  nay thuộc huyện An Dương, tỉnh  Hà Nam) cho nên  cũng được gọi là "Ân Khư văn tự" (chữ viết tại Ân Khư).  Trong số bốn ngàn chữ giáp cốt đã thu thập được trên các loại bia văn, di chỉ  khảo cổ học, thì chỉ  có vào khoảng 1,000 chữ  là có  thể  đọc được  và cũng  giải thích  được phần  ý nghĩa.   Trên đại  cương, đây là  dạng chữ viết đã tương đối  hoàn chỉnh, tuy nhiên,  vẫn còn có nhiều nét viết và "thiên bàng" (bộ thủ) chưa hoàn toàn  ổn định, tạo  nhiều khó khăn trong nghiên cứu  sử liệu. Ngoài ra,  một số chữ  giáp cốt thuộc thời kỳ  đầu tiên của nhà Chu  cũng đã  được phát hiện. (Theo tài liệu Ngôn ngữ học Trung Quốc).   Trong lịch sử, thư  pháp lấy chữ Hán làm lý do  để tồn tại (reason for being); bởi vì không có chữ Hán thì không có thư pháp.

Người đời sau, cũng  có kẻ dùng mẫu tự  La tinh để viết thư  pháp, hay  dùng chữ  Ả Rập để  thư hoạ  kinh  Koran; tuy nhiên,  cũng chỉ là những cố gắng trong khả năng nhất định nào đó mà thôi.  Mỗi chữ Hán gồm có 3 thành  tố, biến đổi theo thời gian: hình, âm  và nghĩa.  Thành tố "hình" tức là thư thể. Nó rất đa dạng, từ thời  Tiền Tần  cho đến ngày nay.   Cùng là một chữ,  nhưng lại có nhiều lối thư thể; chẳng hạn: giáp  cốt văn, đại triện, tiểu triện, lệ,  khải (gồm  có hành và thảo)  nguỵ bi (bia đá) , giản, phồn.  Có những người tinh thông  Hán văn (kể  cả người Hoa)  nhưng chưa hẳn  là đã tinh thông các  thư thể, đặc biệt  là thảo thư, hành  thư, giáp cốt và  triện thư.   Do đặc tính nghệ thuật cao độ của thảo thư, cho nên sử  dụng máy móc không thể nào thay thế tay người; mà dù cho cố ý tạo ra đi chăng nữa, là  cũng chỉ là những xác chữ, vô hồn!

Giai đoạn  thư khê bao  gồm cả việc  khắc chữ lên  chuông và đỉnh  vạc; hệ văn tự nầy gọi là "chung đỉnh văn". Tiền thân của loại văn  tự thư khê là  "bát quái" do Phục Hy vẽ ra.  Còn chữ Hán văn, căn cứ theo truyền  thuyết là do Thương Hiệt, một  sứ quan của Hoàng Đế tạo ra.  Thuyết "Thương  Hiệt tác thư" của  thời Tam hoàng (Phục  Hy, Thần Nông, Hoàng Đế)  cho đến nay vẫn trong vòng  tranh cãi. Những nhà văn tự học hiện đại không cho  rằng Thương Hiệt là người sáng tạo ra Hán tự.  Họ  lý luận rằng: Người sáng tạo ra  phải là "nhân dân Trung Quốc", Thương Hiệt chẳng qua  chỉ là người có công hệ thống  lại cho có quy củ mà thôi!  (Nhân dân Nhật báo).

  Thời Xuân Thu  Chiến Quốc lưu hành nhiều thư  thể như "điểu trùng thư" (giống  dấu vết côn trùng,  chim chóc), chữ "khoa  đẩu” (giống con nòng  nọc), “lựu văn”  (thứ văn tự  do Thái sư  họ Lựu đời  Chu  Tuyên Vương sáng tạo, tức là chữ đại triện)...   Loại chữ khắc hay đúc trên  chuông đỉnh (chung đỉnh văn) cũng gọi là "kim  văn". Đời Đông  Chu, có  một  loại chữ gần  giống như chữ triện, chuyên khắc trên trống đá (thạch cổ),  nên gọi là "thạch cổ văn".  Ngô Xương Thạc (1844-1927) khởi đầu  luyện lối chữ thạch cổ văn, về sau thành  đại thư họa gia; mặc  tích thạch cổ văn của  ông là tác phẩm mẫu mực cho người học thư pháp hiện nay nghiêm tập.

----o0o---

 

Trình bày: Nhị Tường

Cập nhật: 6-2007


Webmaster:quangduc@quangduc.com

Trở về Trang Mục Lục

Đầu trang

 

Biên tập nội dung: Tỳ Kheo Thích Nguyên Tạng
Xin gởi bài mới và ý kiến đóng góp cho Trang Nhà qua địa chỉ: quangduc@tpg.com.au
Địa chỉ gởi thư: Tu Viện Quảng Đức, 105 Lynch Road, Fawkner, Vic. 3060. Tel: 61. 03. 9357 3544