XỨ
PHẬT-TÌNH QUÊ II
Thích
Hạnh Nguyện
Thích Hạnh Tấn
Chương
sáu
Sanchi
Tôi có dịp đến Sanchi ít nhất cũng đôi
ba lần, mỗi lần lại là mỗi chuyến đi khác biệt vì khi thì đi một
mình, khi lại đi với một vài phật tử hoặc một vài thầy bạn.
Lần đầu tiên đến đây vào năm 93 khi tôi
đảm nhận trách nhiệm dẫn ba vị phật tử từ bên Anh sang Aán để
đi chu du một vòng cho biết ?thế nào là Aán Độ??. Một già và
ba trẻ kể cả tôi đã đánh liều đi một vòng quanh xứ Aán, trên
là vùng Bắc kể cả những nơi có tuyết băng đóng thành núi tảng
cho đến miền trung và nam có khí hậu oi bức ngột ngạt vô cùng.
Cũng có thể nói lúc ấy là tôi thuộc dạng liều mạng vì chưa
đi và chưa từng trải mà dám xung phong dẫn đường, nhưng cũng may
khi ấy có ba người, lại là ba phật tử thuần thành nên việc hướng
dẫn cũng không trở thành một vấn đề to lớn.
Hồi đó các tài liệu tham khảo về những
di tích lịch sử Phật giáo không có, chỉ đôi cuốn hướng dẫn du
lịch tiếng Anh, nên sự hiểu biết của chúng tôi với những chốn
này trước khi đến thật là hạn hẹp. Tuy nhiên mang trong lòng một
tâm niệm duy nhất là đi chiêm bái các thánh tích Phật giáo, nên
nơi nào nghe tiếng, nơi nào biết qua dù lớn hay nhỏ, nổi tiếng
hay tầm thường chúng tôi cũng ráng mò mẫm tìm đến. Có lúc đến
nơi với một tâm trạng sung sướng sướng tuyệt vời, những cũng
có lúc chán nản và thất vọng vô cùng vì nơi đến viếng quá nổi
phủ phàng, chẳng còn gì ngoài một vài nền gạch so với hai ba
ngày đường bụi bặm, và lên xuống chờ đợi hàng chục chuyến xe
v.v...
Sanchi không làm chúng tôi thất vọng trong
lần đi đó, hơn thế nữa là khác di tích này cho chúng tôi cái
dịp mở mắt ra với những công trình văn hóa và điêu khắc tuyệt
mỹ của người xưa. Tuy nhiên cho đến nay tôi vẫn không hiểu nhiều
là một di tích rất đẹp và có giá trị dường ấy mà vẫn không
được thăm viếng nhiều, để nơi đây có thể biến thành một trong
những điểm hành hương quan trọng. Do giá trị khiêm nhường về mặt
lịch sử hoặc giả về tuyến đường không mấy thuận tiện nên sau
bao nhiêu năm, nơi đây cũng vẫn chỉ là một thôn làng nhỏ bé,
thiếu sót nhiều tiện nghi ăn ở cho khách bộ hành.
Lần ấy chúng tôi phải ngủ lại trong nhà
trọ của chùa Tích Lan với những chiếc giường gỗ ọp ẹp, căn phòng
đầy bụi bặm cùng những đàn muỗi bay lùng sục kiếm ăn ban đêm
đã để lại tôi
một vài kinh nghiệm nhớ đời.
Lần trở về khi rời khỏi Sanchi, tôi hỏi
đường đến nhà ga trước khi lấy tàu trở về thành phố Bhopal. Đứng
ngay nơi ngã ba đường (cách khoảng ga Sanchi 500 m, nhưng lúc ấy
tôi chưa biết), tôi hỏi thăm đường đến nhà ga Sanchi, một anh
bạn Aán đi đường sốt sắng chỉ về hướng tay phải và nói: cứ theo
đó mà đi sẽ tới ngay. Tôi thật thà tin lời, dẫn mấy người phật
tử mà đi. Trời nắng chang chang và chúng tôi cứ thế mà đi. Đi
và đi mãi đến cả một hai cây mà chẳng thấy tăm hơi, tôi sanh
nghi và kêu một chàng Aán khác hỏi lại. Anh ta đã chỉ tôi về
lại hướng cũ và khi đến đó hỏi lại sẽ tìm ra ngay nhà ga. Đôi
lúc cái sự thật làm người ta khó tin vì chính chúng ta đã đi khá
xa sự thật ấy rồi, ấy là trường hợp của tôi lúc bấy giờ vì
tôi chẳng bao giờ muốn đi trở lại con đường cũ ấy nữa, nhưng
rồi đành chịu chứ biết sao nếu vẫn muốn đến nhà ga. Lúc ấy phải
nói là tôi rất giận cái anh chàng Aán chỉ đường kia, không biết
mà bày đặt làm tài khôn chỉ đường!
Lần này khi đến chỗ cũ tôi hỏi lại đường
và để cho chắc ăn hơn, tôi đã hỏi đến hai người và được chỉ
đi về hướng con đường trước mặt. Ra đi kỳ này tôi có vẻ tin tưởng
hơn vì sự cẩn thận của mình. Hơn khoảng nữa cây số tôi hỏi lại
một lần nữa thì có người chỉ ngược về hướng tôi vừa đi. Lần
này tôi không biết phải tin ai, tin hai người chỉ đường lúc trước
hay tin anh chàng chỉ đường lúc này, sau đó hỏi thăm vài ba người
nữa (đến nổi vài người Aán bán hàng chung quanh trố mắt nhìn là
sao tôi vừa mới hỏi họ đường, lại quay sang người bên hỏi y như
vậy) mới rõ lẽ là phải quay lại lần hai. Kỳ này khi đến chỗ
cũ và hỏi đường xong, tôi nạt cho anh chàng chỉ đường là: ?biết
thì chỉ không biết thì nói không biết, chứ đừng chỉ bậy để người
ta đi lạc.? Tội nghiệp anh chàng chỉ đúng đường lần này lại vô
cớ bị tôi trách mắng, nhưng vốn bản tính hiền anh ta chỉ biết cười
xòa và cam đoan là sẽ đến nhà ga nếu tôi theo lời anh. Quả thật
là đứng giữa ngã ba đường, nếu không là hướng phải, hướng trước
mặt thì hướng trái chứ còn gì và tôi đã theo đó mà đi. Căn nhà
ga dễ thương sau cùng đã hiện ra mồn một làm tôi suýt không tin
tưởng vào đôi mắt của chính mình. Nơi ấy nào đâu xa, chỉ cách
nơi tôi đang hỏi đường lúc ban đầu độ trăm mét. Đây lại cũng
một kinh nghiệm nhớ đời về sự hỏi đường ở Aán Độ.
Bối
Cảnh Lịch Sử
Di tích Phật giáo Sanchi nằm trên một đỉnh
đồi với độ cao 91m, gồm có nhiều tháp đá, các nền móng chùa
viện, viện bảo tàng và một số di vật khảo cổ. Nổi bật nhất
ở đây là đại tháp Sanchi mà ngày nay được xem là còn tồn tại
với nhiều nét mỹ thuật và có lối kiến trúc đặc thù. Nơi đây
từng là một trung tâm Phật giáo quan trọng trong nhiều thế kỷ,
có thể bắt đầu vào triều đại Maurya của vua A Dục (273-236 trước
TL) khi vua cho xây ngôi đại tháp và đánh dấu một trụ đá nơi
đây. Đại tháp này sau bị phá hoại nặng, có lẽ bởi Pusyamitra,
vị vua đầu tiên của triều đại Sunga. Sau khi nhà vua Pusyamitra qua
đời, một vị vua Sunga khác là Agnimitra hoặc có thể là người kế
thừa sau đó đã cho trùng tu lại đại tháp. Ông ta cho xây những
vòng đai quanh tháp bằng đá và làm tháp này mở rộng đến gấp
đôi kích thước nguyên thủy của nó. Cả ngọn đồi được lát đá
vào thời gian này. Những cổng chạm trổ và các bức thạch điêu
được làm thêm khi vua Satavahana của Andhra cai trị phần lớn vùng
Avanti trong thế kỷ đầu trước Tây lịch. Những điêu khắc này miêu
tả về cuộc đời đức Phật, những hình ảnh của Vessantara, Sama và
những câu chuyện khác trong kinh Bổn sanh cùng với một số hình
tượng của các chư hộ thần.
Những nét hùng vĩ và to lớn của Sanchi
cũng tựa như Bharhut, cho thấy các tu viện nơi đây từng được hổ
trợ bởi hàng ngũ phật tử tại gia. Những bia ký nơi cổng vào
ghi rõ tên của những thí chủ cúng dường và làng phố sinh quán
của họ. Mặc dù phần lớn những vị thí chủ sống chung quanh vùng
Malwa, những cũng có một số khác sống xa hơn về hướng tây bắc
bên kia sông Indus. Phần ghi chú lời cảm tạ cho thấy những người
thí chủ gồm đủ mọi thành phần từ hoàng hậu cho đến người may
áo, đan dệt, từ quan viên đến thương gia, công thợ. Những đoàn
nhóm và phường hội cũng được liệt kê là những ân nhân cúng
dường.
Một số các bia ký khác được chạm ở Sanchi
trong triều đại Sunga với tên Sutamtika (Kinh lượng bộ), mặc dù
từ ngữ này không có ý nhắm đến trường phái triết học Phật
giáo phát triển vào thời gian sau ở vùng tây bắc. Một số các
bia ký khác xác nhận rằng, Haimavata, một chi nhánh của Sthaviravadin,
đã có một thời gian dài liên hệ với Sanchi.
Vào thế kỷ 11, người Hồi giáo xâm chiếm
Ấn Độ và cai trị toàn bộ vùng tây bắc Ấn, sau đó tấn công dần
xuống miền trung và tây Ấn. Mặc dù khu vực chung quanh Sanchi bị
phá hoại nhiều lần lúc ấy, di tích Sanchi sao đó vẫn không bị
động chạm đến. Di tích này dường như tồn tại và không bị sự đập
phá nào trong nhiều thế kỷ, cho đến khi nhà khảo cổ Cunningham
vào thế kỷ 19 khám phá ra Sanchi là một di tích lịch sử Phật giáo
quý báu. Lúc đó mái vòm trên của tháp còn nguyên vẹn và hàng
bao lơn chung quanh mái vòm cũng còn nguyên nơi ấy. Đại tháp có
bốn cổng chính và cổng phía nam lúc ấy bị sập xuống. Hai ngôi
tháp lớn khác cũng còn thấy nguyên vẹn, có 8 ngôi tháp nhỏ
và một số kiến trúc khác cũng còn gần đó.
Ngày nay đại tháp chính ở Sanchi có độ
cao là 54 feet từ đỉnh cao nhất trên mái vòm. Về hướng đông bắc
có một ngôi tháp với kiến trúc và các cổng tương tự nhưng có
kích thước nhỏ hơn. Về hướng đông nam có một chân tường bằng
đá cao với nhiều dãy cột đá và bực thang dẫn lên trên nền.
Tường đá này có thể được tạo từ thời vua A Dục, dường như để
chống đỡ cấu trúc sườn gỗ. Về hướng tây nam cũng có một chân
tường bằng đá hoang trống, và thấp hơn về phía dưới đồi còn có
một tháp đá khác với những bức phù điêu.
Đại tháp là một trong 20 tháp có thể
thấy ở Sanchi, tất cả đều trong tình trạng khá tốt. Tuy nhiên
các cuộc khai quật cho thấy đã từng có hơn 50 di tích đền tháp,
chùa viện, thạch trụ Phật giáo từng có mặt nơi đây, niên đại
từ thời vua A Dục cho đến thế kỷ 11. Tất cả hơn 900 bia ký cũng
được tìm thấy chung quanh khu vực này. Những bia ký ghi về 5 chiếc
bình được đào lên từ một ngôi tháp, đề cập về những xá lợi
được giữ trong các chiếc bình của các ngài Majjhima và một tôn
giả thuộc gia đình ngài Ca Diếp, cả hai vị đều từ vùng Hymalaya
trong thời vua A Dục. Một chiếc bình khác chứa xá lợi của ngài
Moggaliputta Tissa, một vị A La Hán cũng có sự quan hệ với vua A
Dục thời đó.
Không có một bia ký nào đề cập đến các
trường phái Phật giáo; tuy nhiên vùng này được biết đến như là
trung tâm chính của phái Sthavira, thời vua A Dục. Con vua A Dục
là Hoàng tử Mahinda có thời ở tại Vidisa trước khi sang Tích Lan
để truyền bá Phật pháp, Một giả thuyết cho rằng Pali, một ngôn
của kinh tạng nam tông rất gần giống nếu không nói đúng là tiếng
Prakrit, một ngôn ngữ nói xưa kia của vùng Vidisa.
Di tích của 8 ngôi tháp khác được tìm thấy
ở Sonari, 6 mile về hướng tây bắc của Sanchi. Những bia ký về
các chiếc bình chứa Xá lợi tìm thấy tên vị La hán Majjhima, Kassapakotta
và Dundubhissara thuộc truyền thống Haimavata. Về hướng tây trên
núi Satdhara có 7 ngôi tháp khác, một trong số đó có đường kính
hơn 90 feet. Trong một ngôi tháp nhỏ hơn ở nơi ấy có hai chiếc
bình trống được tìm thấy mang tên ngài Xá Lợi Phất và ngài Mục
Kiền Liên.
Tại Bhojpur, 7 mile về hướng tây nam của
Sanchi, là di tích của 33 ngôi tháp. Ba tháp nhỏ nhưng còn nguyên
vẹn tìm thấy gần bên Andher. Những bức bia ký tìm thấy trong những
chiếc hòm ở các tháp tại Andher có ghi tên hai vị La Lán Majjhima
và Kassapagotta, còn những chiếc bình tại Bhojpur có ghi tên thêm
của một số các bậc thầy khác. Về hướng nam của dòng sông Narmada,
gần thành phố cổ Mahismati, nơi ngày nay được biết là Itbardi,
núi gạch. Tại đây có 11 ngôi tháp làm bằng gạch được dựng từ
thế kỷ thứ 2 trước TL. Những bức bia ký và đồng tiền tìm thấy
ở đây có liên hệ với 11 ngôi tháp nhỏ và đại tháp ở Bharhut
về hướng đông bắc.
Những
Kỳ Quan Còn Lại.
Các di tích ở Sanchi có thể được chia ra
thành 2 nhóm; nhóm một bao gồm những công trình xây dựng lớn
nằm trên đỉnh đồi chính và nhóm hai nằm ở một nơi khác cách biệt
tọa lạc về hướng tây của dãy đồi.
Khu đất trên đồi có hình dáng tựa như
chữ nhật khoảnh, với kích thược 384 m từ hướng bắc đến nam và
201 m từ đông sang tây, bao gồm 3 khu vực. Dãy cấu trúc chính,
khu vực đông và khu vực nam. Cả ba khu vực này được bao quanh bởi
một dãy bao lơn bằng đá, xây dựng vào khoảng thế kỷ thứ 11 hay
12 sau TL. Trong dãy tường bao lơn này là những di tích của các
đền tháp, số 1 đến số 50 tìm thấy bởi nhà khảo cổ Marshall, và
ông vẫn giữ lại phần lớn các số ký tự được nhà khảo cổ Cunningham
đặt cho trước đó. Những bực thang dẫn từ dưới lên đến góc tây
bắc của đỉnh đồi nguyên thủy được tạo bởi Cole và sau mở rộng
ra bởi Marshall. Thời gian sau, con đường xe chạy cũng được xây
dựng nối liền bãi dưới đỉnh đồi với cổng chính để lên viếng
thăm các di tích.
Sau khi khách hành hương viếng thăm các
di tích nơi này, có thể đi xuống bãi dốc phía tây bằng một con
đường nhỏ từ cổng phía tây của tháp số 1, con đường này đi dần
xuống đồi ngang qua tu viện số 51 và tháp số 2. Đoạn đường sau
đó trùng với đoạn cuối của con đường cổ xưa được lát bằng những
phiến đá nặng to lớn. Bắt đầu gần tháp số 7 trên bãi đất và
theo sau một đường đi khúc khuỷu, hợp với con đường ngày nay và
trên đó một chút là tháp số 2. Những nền móng của một số di
tích có thể thấy từ cả hai phía ở con đường xưa.
Dãy
cấu trúc chính.
Tháp số I.
Đại tháp ngày nay mà chúng ta thấy bao
gồm một mái vòm hình bán cầu, có bao lơn bằng đá vuông vức trên
đỉnh tháp và giữa bao lơn có tháp nhỏ hình chiếc dù ba tầng. Mặt
nền tháp là bao lơn tường xây vòng chung quanh đại tháp tạo thành
một con đường kinh hành, và bực thang dẫn đến nơi tháp này từ
hướng nam. Đại tháp có đường kính là 36.60 m và độ cao của tháp
là 16.46 m (chưa kể bao lơn nhỏ bên trên và tháp hình dù cao).
Đại tháp do vua A Dục cho xây đã bị hư
hại nặng bởi những phá hoại và chiến tranh vào giữa thế kỷ
thứ 2 trước Tl và sau được trùng tu hoàn toàn với các phiến đá,
bao lơn và các con đường đi. Tất cả các vật liệu đều được làm
bằng loại đá Sa thạch lấy từ những mỏ đá địa phương hoặc dãy
đồi Nagauri cách đó không xa.
Tường bao lơn.
Gồm có một dãy dài các trụ đá hình bát
giác nối liền với phiến đá hình hạt được chà khá trơn nhẵn.
Các phiến đá nối liền những thạch thụ gồm có ba tầng với phần
trên cùng là một dọc các phiến đá dài nối liền, tạo bao lơn
thành một bức tường chắn khá cao, chắc chắn và đẹp. Lối kiến
trúc này người ta có thể thấy ở vài di tích Phật giáo khác nhau
tại Ấn Độ như ở Bồ đề Đạo tràng.
Cổng vào.
Chung quanh bốn phía đại tháp có bốn cổng
chính dẫn vào tháp. Các cổng này có nhiều công trình khắc chạm
trên các hướng khác nhau của cổng. Được biết các cổng này làm
vào thế kỷ thứ I trước TL nhằm triều đại của các vua Satavahana.
Một bia ký nơi cổng phía nam có ghi về sự cúng dường của một
người tên Ananda, một vị tướng của vua Satakarni từng là thành
viên của triều đại Satavahana. Những thạch trụ khác nối liền
bức tường bao lơn chính với một trụ đá của mỗi cổng, cũng được
cúng dường trong thời gian này.
Đại tháp được tiếp tục phát triển và
tô điểm thêm qua nhiều triều đại vua chúa theo Phật giáo lúc
bấy giờ, kéo dài cho đến 5 thế kỷ liên tiếp. Đến triều đại
Gupta, bốn tượng Phật, mỗi tượng ngồi dưới một mái che bằng đá,
được tạo dựng và đặt dựa vào tường bao lơn của ngôi tháp, mặt
hướng ra ngoài bốn cổng vào. Các tượng Phật đều tạc trong tư
thế tọa thiền với hai vị thị giả đứng hầu hai bên, sau đầu ngài
là hào quang tròn và lớn với nhiều đường nét chạm trổ công
phu các loài hoa. Phần trên và hai bên hào quang là hình chư thiên
hiện xuống cúng dường.
Cổng chính vào tháp là cổng hướng nam và
cũng là cổng xây dựng đầu tiên. Kế đó các cổng hướng bắc,
đông và tây mới được xây dựng. Các trụ cột nơi cổng hướng nam
và hướng tây đều là phần cúng dường của cùng một người, Balamitra,
đệ tử của Aya-Chuda. Cũng vậy một người Nagapiya sinh ở Kurara
đã cúng dường hai thạch trụ khác thuộc hướng đông và hướng tây.
Những thạch trụ của cổng hướng nam bị phá hoại nhiều nhất, trong
khi các cổng phía bắc được giữ gìn gần như nguyên vẹn với những
đường nét chạm trổ và các kiến trúc xưa. Tác giả của những
công trình nghệ thuật này dường như rất điêu luyện trong ngành
chạm trổ trên gỗ, ngà và kim loại. Giả thuyết này được chứng
minh bởi một bia ký của trụ đá về phía tây cổng hướng nam, ghi
nhận sự chạm trổ này được làm bởi những người thợ chuyên chạm
ngà voi ở Vidisa.
Mỗi một cổng vào có hai cột trụ vuông
vức, bên trên có một nhóm sư tử bốn con, một nhóm voi hoặc một
nhóm người lùn phệ bụng ngồi, đứng xoay lưng vào nhau. Tất cả
tượng vật và người này được tạc trong thế nâng đỡ những cột
trụ và những bức phù điêu có nhiều chạm trổ bên trên.
Những đề tài được chạm trổ trên các
cổng có thể phân chia ra như sau:
A. Những hình ảnh rút ra từ kinh Bổn sanh.
B. Hình ảnh về cuộc đời của đức Phật.
C. Những dữ kiện về lịch sử xảy ra sau
đó của Phật giáo.
D. Hình ảnh liên hệ đến chư Phật quá khứ.
E. Những hình ảnh hỗn hợp và hình ảnh
tô điểm, trang trí.
A. Những hình ảnh rút ra từ kinh Bổn sanh.
Những câu chuyện trong kinh Bổn sanh tập chú vào những đời sống
tiền thân hành hạnh Bồ tát của đức Phật, như những đời ngài
từng thọ thân chim, thọ thân súc sanh hay thọ thân người, hành
những hạnh khó làm như lục ba la mật (Bố thí, trì giới, nhẫn nhục,
tinh tấn, thiền định và trí tuệ) vì lợi ích chúng sanh, mong
cầu Phật quả. Không như những hình ảnh miêu tả ở Bharhut, sự
diễn đạt kinh Bổn sanh ở Sanchi tương đối ít hơn, phần lớn nhằm
miêu tả về cuộc đời của đức Phật. Chỉ có 5 câu chuyện trong
kinh Bổn sanh được xác nhận có khắc chạm trên cổng với nhiều
chi tiết liên hệ.
1. Kinh Bổn sanh Chhaddanta (số 514). Những
khắc chạm theo câu chuyện trong kinh Bổn sanh này được thấy ở
hai cổng, cổng hướng nam, phía sau và ở giữa; cổng hướng tây,
phía trước và bên dưới; cổng hướng bắc, phía sau và phần trên.
Câu chuyện kể về Bồ tát trong quá khứ thọ thân làm voi 6 ngà
(Chhanddanta), sống trong vùng núi Hymalaya với 2 vợ tên là Mahasubhadda
và Chullasubhadda. Vợ sau vì ghen tuông cho rằng chồng chỉ thương
cô vợ trước nên cầu nguyện Phật Ca Diếp, mong được sinh làm một
cô gái tuyệt đẹp và được cưới nhà vua của thành Ba La Nại, hầu
cô ta có thể trả thù. Buồn rầu ốm yếu, voi Chullasubhadda dần
dần mang trọng bệnh và qua đời. Theo phước đức tu tập và cầu
nguyện, voi ấy được sinh làm cô gái đẹp và sau đó như ý đã làm
hoàng hậu của vua xứ Ba La Nại. Hoàng hậu một lần nọ giả bệnh
và yêu cầu vua cho gọi người thợ săn, đi săn bắt cho được voi
chúa Chhanddanta và lấy những ngà voi ấy về thì mới khỏi bệnh.
Chhanddanta mặc dù bị thương nặng bởi giáo người thợ săn, nhưng
với lòng từ đã tự mình nhổ những chiếc ngà và đưa người thợ
săn. Hoàng hậu sau khi trông thấy những chiếc ngà, liền cảm thấy
hối hận và đau lòng về sự trả thù ác độc của mình.
Trong ba tác phẩm về câu chuyện này, thì
tác phẩm ở cổng phía nam là sống động và công phu nhất. Hình
ảnh voi chúa được tạc nơi đây bốn bức. Hai bức gần nơi trung tâm
của hình ảnh cây đa, một nơi phía trái giữa các cánh sen và một
tận phía phải, đứng một mình, là điểm nhắm mũi tên của người
thợ săn.
B. Hình ảnh về cuộc đời của đức Phật.
1. Đản sinh. Trong bốn sự kiện lớn của
cuộc đời đức Phật (đản sinh, thành đạo, chuyển pháp luân và
nhập Niết bàn), không có những hình ảnh trực tiếp giới thiệu
phần đầu này, mặc dù có thể tìm thấy những hình ảnh hoa sen,
biểu tượng cho sự đản sinh của thái tử, hoặc là một mình hoặc
với hình một người nữ được xem là mẫu hậu Maya, ngồi hoặc đứng,
được tắm bởi những con voi.
2. Thành đạo. Giác ngộ được biểu tượng
bởi Kim cang tòa dưới cây Bồ đề, nơi ấy đức Phật đã đạt giác
ngộ. Hình ảnh này xuất hiện nhiều lần, đôi khi trong nhóm hình
của các đức Phật quá khứ.
3. Chuyển pháp luân. Hình ảnh chuyển pháp
luân được biểu tượng qua bánh xe pháp, mà đức Phật giảng pháp
lần đầu cho năm anh em Kiều Trần Như tại vườn Lộc Uyển. Tuy nhiên
ở đây người ta không thấy hình ảnh năm vị Tỳ kheo trong số các
hình ảnh của những người phật tử.
4. Nhập Niết bàn. Sự kiện này xảy ra
tại Câu Thi Na giữa hai cây song thọ, nơi đức Phật nhập vào Niết
bàn. Hình ảnh này được biểu tượng bởi một ngôi tháp. Tuy nhiên
ở đây không thấy hình của hai cây Sala, nên có vẻ như hình ảnh
của những ngôi tháp này chỉ là biểu tượng của những ngôi tháp
để thờ mà không có sự liên hệ nào về việc Phật nhập Niết
bàn ở Câu Thi Na.
5. Mẫu hậu Maya nằm mộng. Cổng vào hướng
đông, trụ đá phía bắc, mặt xoay về nam với thanh đá thứ hai. Được
sự cầu thỉnh của chư thiên của cõi trời Đâu suất, Bồ tát thị
hiện điềm giáng trần trong hình dạng voi trắng 6 ngà nhập vào
thân Mẫu hậu Maya, vợ vua Tịnh Phạn thành Ca Tỳ La Vệ khi bà nằm
mộng thấy.
6. Bốn cổng thành. Cổng hướng bắc, trụ
phía tây, mặt trước và thanh đá thứ hai. Khi đi dạo ra ngoài thành
Ca Tỳ La Vệ, thái tử đã thấy bốn cảnh khác nhau, cảnh một người
già, một người bệnh, một người chết, một vị sa môn. Các hình
ảnh này đã làm ngài nghĩ ngợi sâu xa về những nổi khổ đau của
con người và sự cao thượng của đời sống xuất gia. Nó cũng làm
động cơ thúc đẩy ngài quyết chí khước từ đời sống cao sang và
ra đi tầm cầu giải thoát giác ngộ. Hình ảnh được chạm nơi đây,
chúng ta chỉ thấy qua một cỗ xe với chỗ ngồi trống, chiếc lọng
dù bên trên và xe ấy đang rời khỏi cổng thành. Phía trái là
hình đôi ngựa với người đánh xe là Xa nặc, tay cầm chiếc bình
với ý nghĩa sắp ra đi. Như vậy có hai hình ảnh dữ kiện được chạm
nơi thanh đá này.
7. Tầm đạo. Cổng hướng nam, mặt sau, khắc
chạm ở phần trên. Cổng hướng đông, mặt tiền, chạm khắc ở phần
giữa. Hình ảnh thái tử nửa đêm rời khỏi kinh thành ca Tỳ La Vệ
để tầm đạo giải thoát, trên con ngựa Kiền Trắc với người hầu
Xa Nặc. Sau khi vượt khỏi dòng sông Anoma, ngài bảo Xa nặc trở
lại cùng với con ngựa. Những hình ảnh chạm trổ nơi cổng hướng
đông rất phức tạp và tinh vi. Trong bốn hình ảnh các con ngựa,
có thể thấy sự ra đi của thái tử. Tận phía tay phải là hình ảnh
trở lại kinh thành của người hầu Xa Nặc. Hình ảnh cây Jambu nơi
bao lơn ở giữa ghi lại hình ảnh buổi tọa thiền đầu tiên của thái
tử khi còn nhỏ trong một mùa hội lễ gặt.
8. Tôn thờ búi tóc. Khi thái tử cắt tóc
cùng cởi bỏ những trang sức trên thân và ném đi, chư thiên cõi
trời tam thập tam thiên đã hứng lấy và đem về tôn thờ trên cõi
trời của mình.
9. Nàng Sujata cúng dường. Cổng
hướng bắc, mặt sau, thanh đá ở giữa. Vào buổi sáng ngài đang
tọa thiền tại làng Uruvela, nàng Sujata, một thôn nữ trong làng
đến bên ngài và dâng sữa cúng dường. Về phía trái, gần hình
ảnh của cây Bồ đề, có hình nàng Sujata tay cầm một chiếc mâm,
tay trái đưa lên và tay phải cầm chiếc bình đựng sửa. Một hình
ảnh tương tự cũng có thể thấy ở thanh đá thứ tư, mặt phía tây,
trụ phía đông và cổng hướng đông (trong viện bảo tàng).
10. Svastika cúng dường. Cổng
hướng nam, trụ đông, mặt tây, thanh đá thứ ba là hình ảnh, trước
khi ngài ngồi thiền định dưới cội Bồ đề, ngài thọ nhận một bó
cỏ Kusa (cát tường) của một em bé cắt cỏ tên là Svastika, để
trải cho chỗ ngồi thiền của ngài.
11. Thiền định và bị Ma vương quấy
phá. Cổng hướng bắc, mặt sau, thanh đá ở giữa. Cổng hướng tây,
mặt sau, thanh đá dưới cùng và trụ đá phía nam, mặt bắc, thanh
đá trên cùng. Khi thái tử an tọa dưới cội cây Bồ đề, phát nguyện
rằng sẽ không rời chỗ ngồi cho đến khi chứng thành đạo quả giác
ngộ, Ma vương đã hiện lên và tìm cách quấy phá ngài. Tuy nhiên
ngài vẫn an nhiên, bất động và gọi thần đất lên để chứng kiến
sự việc này. Thần đất đã trả lời lại cho Ma vương và sau đó
hắn cùng đồng bọn hổ thẹn biến mất. Sau khi hàng phục được quân
ma, hỷ lạc ngài khởi lên và cũng cùng trong đêm ấy, ngài đạt
được giải thoát giác ngộ. Những hình ảnh của cổng hướng tây
đặc biệt ghi rõ sự kiện này. Cây Bồ đề được chạm ở giữa trung
tâm thanh đá. Về phía tay phải là đoàn quân Ma vương bị đức Phật
đánh bại. Phía trái là đoàn diễu hành long trọng trang nghiêm
của các chư thiên và hình ảnh này trái ngược với hình ảnh của
các quân ma, mặt mày hung dữ và ác độc.
12. Đức Phật trầm tư. Cổng vào hướng nam,
trụ đông, mặt tây, thanh đá thứ 5 (trong viện bảo tàng). Cổng
hướng đông, trụ đá nam, mặt tiền, phần trên cùng. Sau khi đức
Phật giác ngộ, ngài đã trải qua 4 tuần thiền định trầm tư dưới
cội cây Bồ đề. Vào tuần thứ ba ngài đã đi kinh hành qua lại
nơi đó.
13. Bảo đình. Cổng hướng nam,
trụ đá đông, mặt tây, thanh đá thứ hai (trong viện bảo tàng),
đức Phật đã trải qua tuần thứ tư quán suy về các pháp trong một
ngôi đền, được chư thiên dựng lên gần cây Bồ đề.
14. Xà Vương Muchilinda. Cổng hướng
nam, trụ đá đông, mặt tiền, thanh đá trên cùng (trong viện bảo
tàng). Cổng hướng tây, trụ đá bắc, mặt nam, thanh đá thứ hai.
Đức Phật đã trải qua tuần thứ năm sau khi giác ngộ dưới cội
cây Nyagodha. Kế đó khi thiền định, ngài được Long vương hiện lên
che chở khi trời đổ mưa.
15. Trapusha và Bhallika ngang qua làng Uruvela.
Cổng hướng nam, trụ đông, mặt tiền (thanh đá thứ 3 -trong viện
bảo tàng). Vào ngày cuối của tuần thứ 7, đức Phật trong khi đang
ngồi dưới cây Rajayatana, có 2 người thương gia là Trapusha và Bhallika
đánh xe đi ngang và họ đã đến cúng dường thực phẩm cho ngài.
16. Cúng dường bình bát. Cổng hướng nam,
trụ đông, mặt tiền, thanh đá thứ 2 (trong viện bảo tàng). Đức
Phật lúc ấy không có gì để đựng thực phẩm của 2 thí chủ kia,
lúc ấy bốn vị thiên vương hiện ra và cúng dường bốn bình bát
cho ngài.
17. Adhyeshana. Cổng hướng đông, trụ bắc,
mặt nam, thanh đá trên cùng; Cổng vào hướng tây, trụ nam, mặt
tiền, thanh đá thứ 2. Từ cây Rajayatana, đức Phật trở lại cây
Banyan với tâm còn ngần ngại chưa muốn thuyết giảng diệu đế chân
thật cho chúng sanh. Chư thiên lúc ấy, đứng đầu là Phạm thiên
cầu thỉnh ngài hoằng pháp độ sanh, vì lợi ích cho muôn loài. Sự
kiện này được gọi là Adhyeshana. Thanh đá trên trụ bắc của cổng
vào hướng đông, ngay trên hình ảnh mẫu hậu Maya nằm mộng, và
gợi lại hình ảnh chư thiên cầu thỉnh Bồ tát giáng trần để cứu
độ chúng sanh.
18. Thần thông hàng phục rồng lửa tại
làng Uruvela. Cổng vào hướng đông, trụ nam, mặt bắc, thanh đá
thứ 2. Để hóa độ ba anh em Ca Diếp chuyên thờ thần lửa, sống
tại làng Uruvela với rất đông chúng đệ tử, đức Phật đã đến
nơi này nghỉ lại đêm và sau đó thị hiện thần thông hàng phục
rồng lửa, nhốt nó vào trong bình bát của ngài.
19. Thần thông củi và lửa tại Uruvela.
Cổng vào hướng đông, trụ nam, mặt bắc, thanh đá thứ 3. Sau khi
đức Phật hàng phục rồng lửa, có một buổi tế lửa của ba anh
em Ca Diếp gần đó. Nhưng đức Phật đã dùng thần thông làm cho
lửa không thể bắt ngọn, lễ cúng tế do đó không thể thành và
họ sau đó đã quy y và xuất gia theo Phật.
20. Đức Phật đi qua sông tại làng Uruvela.
Cổng vào hướng đông, trụ nam, mặt tiền, thanh đá thứ 3. Đây cũng
là một sự thị hiện thần thông khác của đức Phật khi ngài đi
qua sông Nairanjana và sau đó nước mới chảy.
21. Viếng thăm Ca Tỳ La Vệ. Cổng vào hướng
bắc, trụ tây, mặt đông, thanh đá thứ 2; Cổng vào hướng đông,
trụ bắc, mặt nam, thanh đá thứ 3. Theo sự mong cầu của vua cha
Tịnh Phạn vương, đức Phật sau 7 năm tu tập đã trở lại thăm viếng
thành Ca Tỳ La Vệ. Dòng họ Thích Ca dẫn đầu bởi vua Tịnh Phạn
đã làm cuộc diễu hành ra tận ngoài thành để đón tiếp đức Phật
và tăng đoàn. Để hóa độ và hàng phục tâm kiêu ngạo của một
số người dòng Thích Ca, đức Phật đã thị hiện thần thông đi đứng
trên không, vua Tịnh Phạn và quần thần kính phục lễ lạy. Thanh
đá ở cổng hướng đông só sự gợi tả rõ ràng hơn các nơi khác.
Trên cao là hình ảnh đoàn diễu hành ra đón tiếp đức Phật, dưới
là hình Phật đi trên không làm mọi người kinh ngạc. Tận dưới
cùng là hình cây Banyan, tượng trưng cho nơi chốn đức Phật nghỉ
tại Nyagrodharama.
22. Đức Phật thuyết pháp cho người dòng
họ Thích tại Nyagrodharama. Cổng vào hướng bắc, 3; Cổng vào hướng
tây, trụ nam, mặt bắc, thanh đá thứ 2.
23. Đức Phật ngự tại Kỳ Viên tịnh xá.
Cổng hướng bắc, trụ đông, mặt tiền, thanh đá thứ 2. Trưởng giả
cấp Cô Độc, người giàu có nhất kinh thành Xá Vệ được Phật hóa
độ. Sau đó trưởng giả đã mua khu vườn của Thái tử Kỳ Đà bằng
cách trải vàng khắp mặt đất và nơi đây ông cho xây dựng tịnh
xá Kỳ Viên để dâng lên cúng đức Phật và tăng đoàn. Ba nơi đức
Phật thường hay trú ngự là: Gandha-kuti, Kosamba-kuti và Karori-kuti
cũng được chạm trên thanh đá.
24. Hiển lộ thần thông tại
Xá Vệ. Cổng vào hướng bắc, trụ đông, mặt tiền, thanh đá thứ
3. Để hàng phục 6 nhà ngoại đạo lừng danh đương thời lúc bấy
giờ, đức Phật đã thị hiện thần thông trước vua Ba Tư Nặc cùng
đông đảo quần thần. Một trong những thần thông đó là ngài hiện
ra một con đường trên hư không và bay lên trụ ở đó.
25. Đức Phật giảng pháp dưới cây xoài
tại Xá Vệ. Cổng vào hướng bắc, trụ đông, mặt tiền, thanh đá
thứ 1. Cũng trong lúc thị hiện thần thông ấy, đức Phật đã làm
cho cây xoài cao lớn. Trong thanh đá hình đức Phật ngồi dưới cây
xoài, giảng pháp cho vua Ba Tư Nặc và quần thần.
26. Thần thông tại Sankasya. Cổng vào hướng
bắc, trụ tây, mặt tiền, thanh đá trên cùng. Tiếp theo cuộc thi
triển thần thông tại Xá Vệ, đức Phật biến mất và hiện lên
cõi trời Đao Lợi để giảng pháp cho mẫu hậu Maya nghe. Sau khi ở
đó 3 tháng, ngài giáng hạ bằng một chiếc thang tại Sankasya, tháp
tùng theo ngài có Phạm thiên và Đế thích.
27. Cúng dường bát mật bởi một con khỉ.
Cổng vào hướng bắc, trụ tây, mặt đông, thanh đá thứ 2. Hình ảnh
con khỉ dâng bát mật lên cúng dường đức Phật tại Tỳ Xá Li được
xem là một trong 8 điều hy hữu xảy ra trong cuộc đời đức Phật.
28. Đế thích thăm viếng. Cổng vào hướng
bắc, trụ đông, mặt tây, thanh đá trên cùng; Cổng vào hướng tây,
trụ nam, mặt tiền, thanh đá thứ 3. Vua trời Đế thích cùng chư thiên
viếng thăm đức Phật tại động Indrasaila gần Ma Kiệt Đà.
29. Cuộc diễu rước của hoàng gia. Có nhiều
cuộc viếng thăm và diễu rước của hoàng gia được miêu tả trên
các cổng vào. Cổng vào hướng bắc, trụ đông, mặt tiền, thanh
đá thứ 3 là hình ảnh vua Ba Tư Nặc cùng quần thần ra ngoài thành
để tiếp đón đức Phật. Cổng vào hướng bắc, trụ đông, mặt tây,
bên dưới hình vua trời Đế thích viếng thăm đức Phật tại động
Indrasaila là hình vua xứ Ma Kiệt Đà đi đến Trúc Lâm tịnh xá để
gặp Phật.
C. Những dữ kiện về lịch sử xảy ra sau
đó của Phật giáo. Một số các sự kiện lớn quan trọng được phân
loại như sau:
1. Tại Câu Thi Na và phân chia Xá lợi.
Cổng vào hướng nam, mặt sau, thanh đá dưới cùng; Cổng vào hướng
tây, mặt sau, thanh đá trên và giữa. Hình ảnh đức Phật nhập Niết
bàn tại Câu Thi Na, kinh đô của người Mallas, và những người này
đã làm cuộc diễu hành mang xá lợi đi sau lễ hỏa táng nhục thân
của đức Phật. Kế đó người của 7 vương quốc khác (Vua A xà thế
nước Ma Kiệt đà, người dòng Thích Ca thành Ca Tỳ La Vệ, người
Bulis nước Allakappa, người Koliyas nước Ramagrama, người Mallas nước
Pava, người Lichchhavi nước Tỳ Xá Li và người Brahmana nước Vethadvipa)
cũng đến để được phân chia Xá lợi của đức Phật. Người Mallas
ban đầu không muốn chia Xá lợi, nhưng sau nghe lời khuyên của Drona
nên đã chia đều xá lợi ra làm 8 phần. Các người của 8 quốc gia
ấy ra về với xá lợi và sau lập tháp để an trí tôn thờ Xá lợi
của Phật.
2. Tháp Ramagrama. Cổng vào hướng nam, mặt
tiền, thanh đá ở giữa. Trong 8 ngôi tháp nguyên thủy tàng chứa
Xá lợi của đức Phật, được biết vua A Dục đã mở ra 7 tháp trong
việc phân chia đều Xá lợi ra thành 84.000 tháp xây ở khắp Ấn
Độ. Tại tháp Ramagrama, nhà vua đã thất bại trong việc khai mở
tháp này để lấy xá lợi, do sự canh giữ và bảo vệ của thần
rắn. Trên hình về hướng phải của tháp là vua A Dục và đoàn tùy
tùng, bên trái là thần rắn với quân binh.
3. Vua A Dục chiêm bái cây Bồ đề tại
Bồ đề đạo tràng. Cổng vào hướng đông, mặt tiền, thanh đá dưới
cùng. Vua A Dục chiêm bái cây Bồ đề được biết qua các bia ký
của nhà vua còn để lại sau này. Hoàng hậu vợ vua A Dục nổi cơn
ghen khi thấy chồng quá say mê với cây Bồ đề nên qua sự bày
mưu của Tishyarakshita, bà đã chặt cây này và làm nó héo úa.
Sách Divyavadana có ghi về sự kiện này và vua A Dục sau đó đã
cho tưới cây bằng sửa tươi của 1000 con bò và cây đã sống lại.
D. Hình ảnh liên hệ đến chư Phật quá khứ.
Những hình ảnh biểu tượng cho 6 vị cổ Phật trước thời đức Phật
Thích ca Mâu ni. Phần lớn những vị cổ Phật này được tạc theo nhóm
nhưng có lúc riêng rẽ và các hình ảnh này là những đề mục rất
nổi tiếng của những nhà mỹ thuật Sanchi thời bấy giờ. Các chính
ảnh biểu tượng này đôi lúc mang hình dạng của những ngôi tháp
hay là cây Bồ đề và hình sau cùng khác biệt để giúp ta nhận
ra từng mỗi đức Phật một. Bảy vị cổ Phật là: Tỳ Bà Thi Phật,
Thi khí Phật, Tỳ Xá Phù Phật, Câu Lưu Tôn Phật, Câu Na Hàm Mâu
Ni Phật, Ca Diếp Phật và Thích Ca Mâu Ni.
E.
Những
hình
ảnh
hỗn
hợp
và
hình
ảnh
tô
điểm,
trang
trí.
Ngoài
những
hình
trên,
còn
có
nhiều
hình
ảnh
miêu
tả
về
những
sự
kiện
khác
xảy
ra
trong
cuộc
đời
đức
Phật.
Trong
số
đó
có
thể
đề
cập
đến
sự
tôn
thờ
đức
Phật
qua
biểu
tượng
của
một
pháp
tòa
hay
một
ngôi
tháp.
Và
điều
này
không
phải
chỉ
bởi
loài
người
hay
chư
thiên
mà
cũng
qua
các
loài
vật,
như
ta
có
thể
thấy
ở
cổng
vào
hướng
đông,
mặt
sau,
thanh
đá
ở
giữa.
Một
vài
thanh
đá
ở
trụ
phía
bắc
của
cổng
hướng
đông,
các
nhà
học
giả
đã
nhận
ra
nhiều
hình
ảnh
của
các
cảnh
trời:
tả
đời
sống
vui
đẹp
trên
cảnh
trời,
là
do
tạo
các
thiện
nghiệp
và
điều
này
phải
chăng
là
để
khuyến
khích
mọi
người
bỏ
ác
làm
thiện.
Tiếp
đến
là
những
hình
ảnh
con
người
và
xã
hội
thế
tục
và
người
nam
và
người
nữ
vui
sống
sinh
hoạt
với
nhau.
Kế
đến
là
loài
vật
cả
hình
thực
và
hình
tưởng
tượng
được
thấy
một
số
trên
các
khắc
chạm.
Cuối
cùng
là
hình
các
loại
hoa
và
chồi
nụ
với
sự
chạm
trổ
tinh
vi
và
thanh
nhã.
Đặc
biệt
đáng
chú
ý
là
hình
các
loài
vật
như
chim
muôn,
thú
vật
và
con
người
liên
hệ
với
nhau
như
là
một
hình
thức
hòa
hợp
và
tiếp
nối
của
sự
sống.
Những
ngôi
tháp
khác.
Ngoài
hai
ngôi
tháp
chính
nổi
bậc
nhất
trên
đồi,
còn
có
rất
nhiều
những
tháp
nhỏ
khác
trong
khu
vực
sân
chính
ở
chung
quanh
hướng
đông
bắc,
đông
nam
và
một
phần
tư
góc
tây
nam
của
đại
tháp.
Những
tháp
này
hoặc
là
làm
đá
nguyên
khối
hoặc
kếu
cấu
nhiều
phần
ráp
lại.
Sau
ngôi
tháp
số
3
là
tháp
số
4,
được
tạo
dựng
từ
thế
kỷ
thứ
2
trước
TL,
chỉ
tồn
tại
trên
một
đống
đá
lỏng
lẽo,
không
dấu
vết
về
một
bao
lơn
nào
có
xây
dựng
chung
quanh
như
tháp
số
1
và
2.
Một
thanh
đá
làm
mái
trên
tường
với
những
khắc
chạm
hình
hoa
sen,
nụ
hoa,
lá
và
chim
được
tìm
thấy
gần
bên
tháp.
Có
thể
nó
là
phần
của
một
bao
lơn
chung
quanh
nào
đó.
Tháp
số
5
tọa
lạc
ở
hướng
nam
của
tháp
số
3,
được
biết
đến
bởi
có
một
tôn
tượng
Phật
trong
thế
tọa
thiền
trên
một
phiến
đá,
tượng
tạc
vào
thế
kỷ
thứ
6
sau
TL.
Về
hướng
đông
của
tháp
số
5,
còn
có
các
tháp
số
28
và
29
và
nơi
này
đối
diện
với
nền
chùa
số
31.
Hai
tháp
này
đều
có
nền
vuông
vức
với
những
lối
kiến
trúc
mái
tua
và
đặc
điểm
nền
của
thời
đại
Gupta.
Cách
hướng
nam
61m
từ
tháp
số
5
còn
có
các
tháp
số
12,
13,
14
và
16
với
những
đặc
điểm
chân
tháp
vuông
vức
tạo
thánh
một
thế
móng
vững
mạnh.
Tháp
xây
vào
khoảng
thế
kỷ
thứ
6
và
7
sau
TL,
và
trong
số
này
có
một
vài
tháp
tàng
chứa
xá
lợi.
Trong
đống
gạch
vỡ
vụn
của
tháp
số
12,
một
hộp
chứa
Xá
lợi
đã
bị
bể
nát
trước
khi
cuộc
khai
quật
đào
ra.
Một
hình
tượng
Phật
khác
được
làm
bằng
bột
đá
Mathura
tạc
từ
các
triều
đại
Gupta
được
tìm
thấy
dựng
ngay
bức
tường
phía
tây
của
hộp
Xá
lợi
tháp
số
14.
Do
đó
người
ta
cho
rằng,
hộp
Xá
lợi
đã
được
an
trí
trong
chùa
vào
thời
Gupta
trước
đó
trước
khi
đem
vào
an
trí
trong
tháp
này.
Hướng
nam
của
tháp
này
là
tháp
số
6.
Trung
tâm
điểm
của
tháp
được
tạo
bởi
những
khối
đá
lớn
và
nặng,
có
rãi
rác
các
mảnh
vở
như
tháp
số
3
và
4.
Tháp
này
có
từ
thế
kỷ
thứ
7
hoặc
8
sau
TL.
Khoảng
30
m
phía
tây
nam
của
cổng
hướng
tây
đại
tháp
số
1
là
ngôi
tháp
số
7.
Tháp
này
có
cùng
một
điểm
cấu
tạo
như
các
tháp
số
12,
13,
14
và
16.
Trụ
đá.
Trụ
số
10.
Gần
cổng
vào
hướng
nam
của
tháp
số
1.
Trụ
này
do
vua
A
Dục
cho
xây
và
được
xem
là
trụ
có
thời
gian
xưa
nhất
ở
nơi
đây.
Trụ
có
hình
dạng
tròn
và
hơi
cao
dù
không
bằng
trụ
ở
Lộc
Uyển.
Đây
cũng
là
một
trụ
đá
đẹp,
bóng
nhẵn
như
soi
gương
và
được
tạc
thành
từ
nguyên
một
khối
đá.
Phần
trên
trụ
gồm
có
hình
chuông
và
hình
hoa
sen
nở
với
đầu
cột
được
đỡ
bởi
hình
bốn
con
sư
tử
quay
lưng
vào
nhau.
Đỉnh
trụ
nổi
bậc
với
hình
bốn
con
thiên
nga.
Ở
đây
người
ta
hình
tượng
sư
tử
biểu
thị
cho
sức
mạnh
tinh
thần
và
chân
giá
trị
của
đời
sống
tâm
linh.
Bia
ký
ghi
trên
thân
trụ
mờ
nhạt
ghi
lại
sắc
lệnh
của
vua
A
Dục
cho
trừng
phạt
vị
tăng
hoặc
ni
nào
cố
làm
phá
sự
hòa
hợp
trong
tăng
đoàn.
Trụ
số
25.
Nằm
không
xa
lắm
từ
phía
nam
của
tháp
số
5.
Trụ
này
được
xây
vào
triều
đại
sunga
qua
sự
suy
đoán
về
kỹ
thuật
và
kiểu
trụ.
Trụ
cao
4m6,
có
hình
dạng
8
cạnh
bên
dưới
và
16
cạnh
ở
phần
trên.
Đỉnh
gồm
có
hình
chuông
với
hoa
sen
thon
dài,
bao
phủ
bởi
một
đỉnh
vuông
có
khắc
chạm
hình
bao
quanh.
Những
bia
ký
rời
rạc
cho
thấy
rằng
trụ
làm
vào
khoảng
thế
kỷ
thứ
5
sau
TL.
Trụ
số
26.
Trụ
này
lấy
mô
phỏng
của
trụ
đá
A
Dục,
nằm
ở
hướng
bắc
của
trụ
số
25.
Trụ
có
niên
kỷ
vào
thế
kỷ
thứ
5
sau
TL
và
nay
đã
bị
gãy
vỡ,
hai
mảnh
vụn
nằm
trong
sân.
Một
mảnh
có
hình
vuông
vức
và
bóng
nhẵn,
mảnh
khác
có
hình
chuông
hoa
sen,
đỉnh
tròn,
tạc
không
cân
xứng
với
những
khắc
chạm
vụng
về
các
hình
chim
và
hoa
sen.
Trụ
số
35.
Trụ
đá
Kim
Cang
Tạng
Bồ
tát
(trụ
đá
tạc
toàn
thân
hình
ngài
Kim
Cang
Tạng)
rõ
ràng
là
nhắm
đến
trụ
số
35
nằm
gần
cổng
vào
hướng
bắc
của
tháp
số
1.
Về
trụ
đá
to
lớn
này,
chỉ
có
phần
đứng
phía
dưới
là
tròn
và
bóng,
phần
trên
gồm
hoa
sen
dạng
chuông,
trên
đỉnh
khắc
chạm
với
một
bao
lơn
bên
ngoài.
Hình
ngài
Kim
Cang
Tạng
Bồ
tát
với
y
phục
ngắn
che
phủ
và
cổ
trang
sức
một
chiếc
vòng,
hai
tai
có
khuyên
và
ngay
cả
nơi
cổ
tay.
Đầu
được
trang
sức
với
những
châu
báu,
và
tượng
được
tạc
theo
thế
đứng
với
tay
trái
cầm
chiếc
khăn
quàng,
tay
phải
-đã
bị
gãy-
cầm
chiếc
chùy
Kim
cang.
Các
ngôi
chùa.
Chùa
số
9.
Chân
tường
chùa
gồm
có
nền
và
một
cổng
vào
có
thể
thấy
gần
nơi
góc
hướng
tây
bắc
của
chùa
số
18.
Kiểu
chùa
và
tài
nghệ
kiến
trúc
ở
đây
kể
cả
các
trụ
và
tường
cho
thấy
chùa
nguyên
thủy
được
tạo
vào
thời
tiền
Gupta.
Chùa
số
17.
Nằm
gần
hướng
góc
đông
bắc
của
chùa
số
18
và
tọa
lạc
trên
một
khoảng
đất
thấp.
Chùa
có
chánh
điện
kiến
trúc
mái
bằng,
vuông
vức
với
cổng
vào
được
hổ
trợ
bởi
4
trụ
cốt
ở
phía
trước,
cho
thấy
kiến
trúc
này
vào
thời
Gupta.
Mỗi
đầu
cột
mang
hình
bốn
sư
tử,
mỗi
bên
hai
thân.
Giữa
những
sư
tử,
ở
góc
là
hình
cây.
Chùa
số
18.
Xây
trên
nền
của
một
chánh
điện
trước
đây
thuộc
vào
các
triều
đại
Maurya
hoặc
Sunga,
khoảng
thế
kỷ
thứ
7
sau
TL.
Kiến
trúc
chùa
hơi
có
vẻ
giống
những
ngôi
chùa
hang
ở
miền
tây
Ấn
Độ,
gồm
có
một
chánh
điện
ở
giữa
và
hai
bên
là
hai
gian
lớn
kéo
dài
song
song
với
điện
thờ.
Tuy
nhiên
điện
thờ
và
các
gian
này
không
được
chống
đỡ
bởi
các
dãy
các
trụ
mà
bởi
một
bức
tường
dài.
Ở
nơi
đây
người
ta
đã
tìm
thấy
một
số
đồ
sành,
các
đồ
vật
cúng
và
một
số
hình
tượng
Phật
có
thời
gian
được
ước
định
vào
thế
kỷ
thứ
7
và
8
sau
TL.
Điện
thờ
cũng
có
tu
bổ
thêm
vào
thế
kỷ
thứ
10
hoặc
11
khi
nền
chùa
của
đại
điện
chính
được
tô
đáp
thêm
đá
trong
lần
trùng
tu
ấy.
Các
thanh
dọc
của
khung
cửa
phía
đông
có
khắc
chạm
nhiều
hình
tượng
thần
Ganga
với
những
thị
tỳ
của
bà.
Chùa
số
31.
Nằm
về
hướng
đông
của
tháp
số
5
và
chùa
này
cũng
có
mái
bằng
qua
các
trụ
đá
ở
trên
nền.
Ở
đây
có
một
tượng
Phật
được
chạm
trổ
tinh
vi
với
một
vầng
hào
quang
tròn
rộng
chung
quanh
đầu
ngài
và
tượng
tạc
ngồi
trên
một
tòa
sen
hai
tầng.
Chùa
nguyên
thủy
được
tạo
vào
thế
kỷ
thứ
6
hoặc
7
sau
tây
lịch
và
sau
đó
đến
thế
kỷ
thứ
10
đã
được
mở
rộng
ra
thêm.
Toàn
bộ
cấu
trúc
chùa
được
xây
trước
đó,
ngoại
trừ
hai
dãy
cột
chính
giữa
chánh
điện
là
thuộc
thời
gian
sau
này.
Tôn
tượng
mặc
dù
là
được
tạc
vào
những
thế
kỷ
trước
đó,
và
không
hợp
với
bệ
thờ
nên
có
thể
được
dời
từ
một
ngôi
chùa
khác
và
đưa
về
chùa
này
trong
thời
gian
trùng
tu
lại.
Khu
vực
hướng
Nam.
Lối
đi
ở
trước
kiến
trúc
số
44
dẫn
về
khu
vực
hướng
nam.
Cấu
trúc
đầu
tiên
trên
lối
đi
này,
bên
ngoài
kiến
trúc
43
là
chùa
số
40.
Chùa
số
40.
Di
tích
này
gồm
có
phần
nền
trong
3
thời
kỳ.
Đầu
tiên
là
từ
các
triều
đại
Maurya,
có
thể
cùng
thời
với
những
tháp
đá
của
vua
A
Dục.
Chánh
điện
chùa
đã
bị
cháy
sập,
có
lẽ
vào
thời
gian
giữa
thế
kỷ
thứ
2
trước
TL,
để
lại
dấu
vết
của
than
và
gỗ
cháy.
Nền
đất
được
dùng
để
xây
phòng
một
thời
gian
sau
đó,
và
người
ta
thấy
khoảng
50
móng
của
các
trụ
chia
đều
ra
5
hàng,
mỗi
hàng
10
trụ
và
hiện
còn
tồn
tại.
Sự
phát
hiện
nhiều
mảnh
vỡ
của
các
trụ
ở
đây
cho
thấy
ngoài
50
trụ
cột
khi
trước,
có
thể
còn
có
thêm
nhiều
dãy
trụ
khác
nữa
và
dường
như
là
chúng
cũng
bị
đổ
sập.
Những
trụ
cột
này
lớn,
có
hình
bát
giác,
nhiều
đoạn
ngay
cả
một
số
có
khắc
ghi
thời
gian
cúng
dường
vào
thế
kỷ
thứ
2
trước
TL.
Vào
thế
kỷ
thứ
7
hoặc
8
sau
TL,
một
đền
thờ
nhỏ
có
cổng
xây
với
nấc
thang
từ
cổng
chính
vào,
mắt
hướng
về
tây-
đã
được
kiến
tạo
trên
bề
mặt
phía
đông
của
điện
thờ.
Vào
thời
gian
này,
dường
như
là
có
sự
dựng
lại
những
dãy
trụ
cột
bị
gãy
sập
trước
đó.
Các
trụ
ấy
dù
nhỏ
và
ốm
hơn
trước,
nhưng
rõ
ràng
và
qua
các
ghi
chú,
có
thể
là
cùng
một
dạng
như
các
trụ
cột
trước.
Tu
viện.
Tu
viện
số
38,
37
và
36.
Cả
ba
tu
viện
nhỏ
này
có
thể
được
cho
từ
thế
kỷ
thứ
7.
Xây
dựng
theo
một
đồ
án
tu
viện
thông
thường
trên
một
khoảng
sân
vuông
rộng,
bao
quanh
bằng
sự
sắp
xếp
xây
cất
một
số
phòng
với
một
dãy
trụ
và
hiên
ở
phía
trước.
Tu
viện
số
38.
Đến
từ
ngôi
chùa
số
40
bởi
cùng
một
con
đường.
Tu
viện
nằm
nơi
góc
hướng
đông
nam
của
bức
tường
vòng,
khoảng
39
m
về
hướng
đông
nam
bức
tường
đông
của
chùa
số
40.
Chùa
được
xây
trên
phần
nền
của
cấu
trúc
trước
đó,
và
sau
này
mở
rộng
thêm
với
bờ
tường
bằng
gạch
nơi
phòng
trung
tâm
ở
dãy
hướng
bắc.
Tu
viện
số
37.
Nằm
khoảng
27
m
về
hướng
tây
của
tu
viện
số
38.
Đây
là
nhóm
sau
nhất
nên
cấu
trúc
có
phần
phát
triển
hơn
hai
tu
viện
kia.
Tu
viện
có
đặc
điểm
xây
thêm
nhiều
phòng
ở
hướng
nam
và
tây.
Tu
viện
số
36.
Nằm
khoảng
40
m
về
hướng
bắc
của
tu
viện
số
37
và
tu
viện
này
là
tu
viện
đầu
tiên
nhất
trong
3.
Khu
vực
hướng
Đông
Nấc
thang
nơi
bức
tường
chắn,
đối
diện
cổng
hướng
đông
của
đại
tháp
số
1,
dẫn
mọi
người
đi
vào
sân
của
khu
vực
phía
đông.
Tu
viện
số
46
và
47.
Đường
đi
từ
các
nấc
thang
dẫn
thẳng
đến
hai
sân
lớn,
thuộc
cùng
một
quần
thể
tu
viện
với
những
nền
móng
còn
mang
âm
hưởng
một
kiến
trúc
tu
viện
to
lớn
được
xây
dựng
trước
đó.
Nền
dưới
cùng
được
cho
rằng
đã
xây
dựng
từ
các
triều
đại
Gupta.
Quần
thể
tu
viện
này
được
thành
lập
bởi
một
nhóm
các
kiến
trúc
xây
dựng
vào
thời
gian
sau
này
mà
người
ta
tin
rằng
không
có
trước
thế
kỷ
thứ
11.
Sân
lớn
hơn
(47)
có
những
trụ
đá
với
những
phòng
nhỏ
và
một
căn
phòng
dài
phía
sau.
Dẫn
đến
một
sân
nhỏ
khác
và
cao
hơn
(46),
chung
quanh
cũng
được
bao
bọc
bởi
nhiều
phòng
nhỏ,
còn
có
một
cổng
vào
ở
hướng
đông
của
sân
phía
bắc.
Chùa
và
tu
viện
số
45
Tọa
lạc
hướng
đông
bắc
của
kiến
trúc
số
43
là
nền
của
một
ngôi
chùa
nối
liền
với
một
tự
viện,
mà
ta
có
thể
thấy
từ
tận
phía
đông.
Kiến
trúc
chùa
có
thể
được
xây
dựng
trong
hai
giai
đoạn.
Giai
đoạn
một
xây
dựng
vào
thế
kỷ
thứ
7
hoặc
8
và
sau
những
cuộc
xung
đột
nơi
này
bị
tàn
phá
và
một
kiến
trúc
chùa
khác
được
xây
dựng
lại
trên
nền
cũ
này
vào
thế
kỷ
thứ
9
hoặc
10
sau
TL.
Trong
chánh
điện
tôn
thờ
một
tượng
Phật
an
tọa
trên
một
tòa
sen
hai
tầng,
có
ghi
lại
những
nét
về
tín
ngưỡng
Phật
giáo
vào
thế
kỷ
thứ
10
và
bên
dưới
là
tòa
sư
tử
có
nhiều
khắc
chạm.
Để
Viếng
Sanchi
Nhà
ga
Bhopal
là
trạm
gần
nhất.
Từ
đây
có
thể
thuê
xe
taxi
(khoảng
500
Rs),
đoạn
đường
xe
độ
khoảng
tiếng
rưỡi
mới
đến
Sanchi.
Ga
Bhopal
là
tuyến
đường
và
là
trạm
ga
chính
nối
liền
từ
bắc
xuống
nam,
do
đó
hầu
hết
các
xe
lửa
đều
dừng
lại
nhà
ga
này.
Xin
liên
hệ
văn
phòng
du
lịch
để
hỏi
thêm
về
tuyết
đường
Delhi-Bhopal,
tuy
nhiên
chuyến
tàu
tốc
hành
nhanh
nhất
chúng
tôi
gợi
ý
đi
là
Shatabdi.
Tàu
chạy
mỗi
ngày,
khởi
hành
từ
ga
New
Delhi
lúc
6
giờ
sáng
và
đến
Bhopal
lúc
14.00
.
Nghỉ
đêm
ở
Sanchi
Tại
đây
không
có
các
khách
sạn
lớn
mà
chỉ
có
một
số
nhà
trọ
với
giá
căn
bản
cho
một
chỗ
ngủ
vừa
tầm.
Travellers
Lodge.
Tel:
62723.
Nằm
trên
con
đường
chính
dẫn
về
Bhopal,
không
gần
tháp
lắm.
Giá
250/300
Rs
hay
phòng
Deluxe
từ
350/450.
Tourist
Cafeteria.
Tel:
62743.
Giá
từ
200
đến
290
Rs.
Sri
Lanka
Mahabodhi
Society
Guest
house.
Tel:
62739.
Nhà
trọ
nằm
gần
ga,
không
xa
lắm
từ
đại
tháp,
khoảng
20
phòng
và
giá
từ
100
Rs
đến
150
Rs.
Nhà
hàng
Quanh
khu
vực
hẻo
lánh
này
chỉ
có
vài
quán
ăn
nho
nhỏ
nơi
trạm
xe
buýt.
Tốt
nhất
nên
về
thành
phố
Bhopal
để
có
được
những
bữa
ăn
ngon
lành
hơn.
Nghỉ
đêm
ở
Bhopal.
Khách
sạn
hạng
sang.
Jehan
Numa
Palace.
Tel:
540100,
Fax:
540720.
Nguyên
là
một
dinh
thự
cũ
sửa
lại,
nằm
đối
diện
khách
sạn
Ashok.
Giá
phòng
2499/2999
Rs,
và
phòng
Deluxe
4399
Rs
cộng
thêm
10%
thuế.
Hotel
Lake
View
Ashok.
Tel:
541600,
Fax:
541606,
cũng
là
một
khách
sạn
khá
nằm
bên
bờ
hồ
thơ
mộng.
Giá
phòng
Rs
1400/2000
Rs
và
phòng
Deluxe
2600
Rs
thêm
10%
thuế.
Khách
sạn
hạng
trung.
Hotel
Sonali.
Tel:
533880,
Fax:
510337.
Nằm
trên
đường
Radha
Talkies
Rd.
Giá
phòng
khoảng
từ
185/250
Rs.
Phòng
Deluxe
250/325
Rs
và
nếu
có
máy
lạnh:
400/475
Rs.
Hotel
Taj.
Tel:
533162.
Nằm
trên
đường
Hamidia.
Giá
phòng
150/300
Rs
hay
có
máy
lạnh
450/600
Rs,
thêm
20
%
thuế.
Hotel
Ramsons.Tel:
535298.
Nằm
trong
một
hẻm
nhỏ
trên
đường
Hamidia.
Phòng
giá
từ
240/310
hay
có
máy
lạnh
450/550
Rs.
Khách
sạn
hạng
thấp.
Hotel
Ranjit.
Tel:
533511.
Số
3
đường
Hamidia.
Phòng
giá
từ
150/200
Rs,
có
máy
lạnh
từ
325/375
Rs.
Hotel
Rama
International.
Tel:
535542,
trên
đường
Hamidia.
Phòng
có
giá
từ
150/200
Rs.
Nhìn
chung
trên
đường
Hamidia
có
rất
nhiều
khách
sạn
để
chúng
ta
có
thể
đi
dọ
giá.
Nếu
quý
vị
nào
đi
theo
lối
tự
túc
thì
có
thể
khu
vực
này.
Nhà
hàng.
Nếu
muốn
chọn
nhà
hàng
sang
thì
khách
sạn
Jehan
Numa
Palace
là
nơi
có
nhà
hàng
lý
tưởng,
còn
những
nhà
hàng
bình
dân
thì
dọc
theo
đường
Hamidia
cũng
có
rất
nhiều.
Bagicha
Bar
&
Restaurant.
Trên
đường
Hamidia.
Nhà
hàng
trong
khách
sạn
Ranjit.
|
Mục
Lục
||
Tập
III
|
---o0o---
| Thư
Mục Tác Giả |
Cập nhật ngày : 01-01-2002