XỨ
PHẬT-TÌNH QUÊ II
Thích
Hạnh Nguyện
Thích Hạnh Tấn
Chương
ba
Phật Giáo ở Mạn Đông
Từ Bangalore tận nam Aán, phái đoàn 4 người
chúng tôi bằng chiếc xe Jeep trước đó đi ngược trở lên lại
vùng bắc Aán xuyên qua các thành phố Gooty, Kurnool, Atmakur và đến
Guntur, một thành phố khá quan trọng cũng là điểm giao lưu giữa các
di tích Phật giáo vùng nam Aán. Sau khi viếng thăm một vài di tích Phật
giáo quanh vùng, chúng tôi tiếp tục theo con đường quốc lộ đi dần
lên mạn đông bắc để viếng thăm những khu di tích ở đây.
Thành thật mà nói, sách vở và tài liệu tham khảo ghi chú quá
nhiều về các di tích, tuy nhiên trên đoạn đường đi tôi không mấy
thỏa mãn. Có những lúc lần mò theo sự chỉ dẫn của các bài tham
khảo, chúng tôi đi hàng bốn năm tiếng xe nhọc nhằn và khi đến nơi
chỉ thấy có cái đồi thô sơ hoang dã, tấm bảng ghi chú và vài
nét lược sử cũng không; lại có lúc dọ dẫm một hai tiếng vậy
mà khi đến lại không tìm ra chỗ hay là đi lạc đường. Phần lớn
các đoạn đường đi dù là quốc lộ vẫn xấu và lắm ổ gà, có
đôi lúc kẹt xe hàng tiếng tưởng chừng như phải ngủ lại giữa
đường. Có lần trong tài liệu ghi về một nhóm thạch động ở
Junnar, lên đến 150 thạch động nên chúng tôi cũng lần dò gắng lê
lết tới. Đến địa điểm rồi mà loanh quanh lẫn quẩn một hồi vẫn
không tìm ra các thạch động ấy; may sao trong lúc xe chạy qua lại lớ
ngớ liền gặp một anh chàng tốt bụng đang đi cùng đám bạn. Thế
là quá sốt
sắng đến đổi anh bỏ đám bạn mà lên xe dẫn đường
chúng tôi. Đi ngược trở lại đoạn đường chúng tôi đã qua
hàng năm bảy cây số, tới một đám ruộng dưới triền núi đầy
ắp đám cỏ lau xanh dờn, anh kêu xe ngừng và lấy tay chỉ lên núi:
đó, các thạch động ở trên cao kia kìa. Tôi lấy làm lạ và
hỏi là tại sao không ngừng ngay một chỗ đàng hoàng có lối đi mà
lại ngừng ngang đây rồi sao mà đi. Anh đáp tỉnh queo: phải trèo
xuyên qua đám cỏ này thôi!, chẳng có con đường nào khác
cả.
Anh trèo trước dẫn đường, chúng
tôi bốn người thuộc loại công tử thành phố dọ dẫm trèo theo,
lòng vừa sợ gai góc cào xước, lại cũng sợ lớ ngớ hụt chân
lăn nhào xuống núi là bể mình, tuy nhiên cái cảm giác thú vị vui
vui gì đó cũng len lỏi trong tâm. Thế đấy! chúng tôi trèo mãi
mới lên được đến sân bên ngoài của một số thạch động. Bên
trong đa phần dường như là phòng ở của chư tăng thuở xưa, phòng
nhỏ, trống trơn và lặng ngắt; chỉ có một hai thạch phòng là có
tượng Phật bên trong. Định lấy máy ra chụp nhưng anh chàng Aán lại
dặn: đừng chụp hình trên này, chụp hình lên flash, mấy đàn
ong núi bay ra chích là chết! Vậy là thôi, chúng tôi lại mò mẫm
lần xuống núi.
Như vậy có phải là may không khi tình cờ chúng tôi tìm được một
hướng dẫn viên dẫn đường giỏi như vậy. Không có anh ta, làm sao
có thể lên đến được các thạch động dù rằng trên đó cũng
chẳng có gì. Các bảng hướng dẫn của chính phủ không có, tin tức
cũng không, đường lên thạch động cũng không; vậy làm sao đi
được nếu không trèo xuyên qua đám cỏ rừng và không có người
dẫn đường.
Đi dần lên trên nữa xuyên qua các địa danh Anakapalle, Sankaram,
Visakhapatnam và tiếp đến chúng tôi đến tiểu bang Orissa, vương quốc
nước Kalinga thuở xưa. Các khu vực mạn đông ngày nay cũng là
những vùng giàu có. Một vài nơi chúng tôi đi qua thấy có đường
xa lộ thẳng tắp với hai ba lane mỗi bên, dọc theo xa lộ lại có các
trụ đèn dài đến hàng mấy mươi cây số. Phố xá sầm uất và
còn có những siêu thị khá lớn.
Vương
Quốc Phía Đông
Khu vực phía đông kể cả các tiểu bang Tây
Bengal, Assam, Tripura, Orissa và Bangladesh hiện nay. Những vùng miền đông
này bao gồm nhiều nền văn hóa khác nhau, từ các phong tục và
truyền thống Bà La Môn giáo đến từ hướng tây cho đến những
tục lệ cổ truyền của nhóm dân bản xứ ở miền bắc và đông nam
như Nepal và Miến Điện. Vào thời đức Phật, phần lớn các tỉnh
phía đông của sông Hằng cũng sinh sống với những bộ tộc miền
núi, xen lẫn nhiều nền văn hóa, ngôn ngữ và truyền thống khác
biệt.
Ngược lại với miền tây và tây bắc Aán, nơi Phật pháp đã nhanh
chóng hòa nhập vào đời sống của con người và xã hội lúc bấy
giờ, Phật giáo phát triển một cách chậm chạm ở những vùng phía
đông, dù cho trước đó tổ Dhitika có đến và hoằng pháp nhưng
cũng không mấy gây ảnh hưởng. Tuy nhiên đạo Kỳ na được sáng
lập bởi giáo chủ Mahavira, -một bậc giáo chủ cùng thời với
đức Phật- lại phát triển nhanh và được hậu thuẩn bởi các
vương tộc trong vùng.
Kalinga & Vanga
Mặc dù Bengal hiện nay bị chia ra làm hai phần, tây (thuộc Aán Độ) và
đông (thuộc Bangladesh), tuy nhiên theo sử liệu thì hai vương quốc cổ
xưa: Vanga -phía nam và Gauda -phía bắc đã nhập lại và hình thành
tiểu bang Bengal ngày nay. Vương quốc cổ Vanga có liên hệ với một
nửa phần phía nam của tây Bengal hiện nay, và vương quốc Kalinga chiếm
trọn một vùng, nay gọi là Orissa. Biên giới của những vương quốc
cổ xưa thay đổi nhiều qua hàng thế kỷ. Đã nhiều lần miền bắc
Kalinga trở thành Utkala, Odra và Orissa, trong khi miền nam Kalinga, khu vực
giữa Mahanadi và sông Godavari giữ lại tên nguyên thủy của nó.
Phần lớn vương quốc cổ Kalinga ngày nay thuộc tiểu bang Orissa, và
tận phía nam tiểu bang này thì thuộc về tiểu bang Andhra Pradesh. Những
di tích Phật giáo ở miền duyên hải đông Aán theo thứ tự bắc
xuống nam, bắt đầu với Vanga (tây Bengal) và xuống dần phía nam qua
Utkala (bắc Orissa) và Kalinga (nam Orissa và cũng là bắc của Andhra
Pradesh).
Các vùng miền đông Aán dường như đã cô lập với các vương
quốc rộng lớn Madhyadesa cho đến giữa thế kỷ thứ 3 trước TL, khi
vua A Dục thôn tính nước Vanga và chinh phục nước Kalinga trong một
cuộc xâm lăng đẫm máu. Có thể qua sự tang thương đau đớn của
người dân xứ Kalinga mà sau đó vua A Dục đã cai trị xứ này một
cách nhân từ. Thời gian trị vì của vua cùng với những hậu thuẩn
trong việc xiển dương Phật giáo đã tạo cơ hội cho chư tăng đến
nơi hẻo lánh này để hoằng truyền đạo Phật.
Những vị vua kế thừa A Dục, thuộc triều đại
Mauryan về sau bị các vua Sunga lật đổ. Khi những vị vua Sunga lên cầm
quyền (khoảng năm 50 trước TL), Kalinga và các vùng phía nam (tức
Andhra ngày nay) cũng trở thành những trung tâm Phật giáo quan trọng
thuộc miền duyên hải đông Aán Độ. Khi các vị vua xứ Madhyadesa mất
quyền ở phía đông, thì Phật giáo từ nam cũng dần dần ảnh
hưởng và bắt đầu được truyền bá rộng rãi vào Kalinga. Những
tăng sĩ ở Andhra và Tích Lan được gởi đến đây và Tamralipt để
hoằng pháp. Một bia ký tìm thấy ở Nagarjunakonda có nói đến một vị
tăng người Sinhalese hóa độ được nhiều người Kalinga ở Tosali
và Palura. Vanga, Orissa và Kalinga đã trở thành những quốc gia tự
trị cho đến thế kỷ thứ 3 sau TL. Giữa năm 385-413 sau TL, Kalinga triều
cống các lễ vật cho những vị vua thuộc triều đại Gupta, nhưng dù sao
vẫn giữ được sự tự trị trong quốc gia của mình.
Mặc dù Kalinga thoát khỏi ảnh hưởng của các thế lực miền bắc,
tuy nhiên vào thế kỷ thứ 8, những vị lãnh đạo vùng Bengali hợp
nhất dưới sự lãnh đạo của Gopala hình thành triều đại Pala,
thống nhất tất cả vùng Vanga, -kể cả khu vực phía bắc của Orissa-
thành một quốc gia duy nhất. Với sức mạnh ấy triều đại Pala đã
mở rộng bờ cõi của mình đến tận Varanasi cùng toàn bộ vùng thung
lũng sông Hằng từ Varanasi đến vịnh Bengal. Những cộng đồng Phật
giáo ở Vanga và Orissa có dịp liên hệ trực tiếp với chư tăng và
các trường đại học ở Madhyadesa. Phật giáo được lưu truyền
dưới sự che chở và bảo hộ của các vua thuộc triều đại Pala,
và Phật giáo đại thừa đặc biệt phát triển trong việc nối liền
các bang này. Riêng những vùng hẻo lánh ở Orissa thì Phật giáo Kim
cang thừa được truyền bá và thực hành rộng rãi hơn.
Từ thế kỷ thứ 8 đến 12, các vị vua Pala tiếp tục hậu thuẩn
những tu viện lớn của Phật giáo trong vùng. Vua cho lập các trường
đại học và tài trợ phát triển ngành mỹ thuật Phật giáo mà sau
này triều đại Pala đã nổi danh trên thế giới là có những tác
phẩm tuyệt vời về ngành mỹ thuật. Để hổ trợ cho tôn giáo, văn
chương và mỹ thuật, những vị vua Pala đã luyện cho người dân
Bengali đoàn kết mạnh mẽ về văn hóa. Trong những trung tâm đặc
biệt được dựng lên dưới triều đại này có tu viện Traikutaka,
nơi ngài Haribhadra -đệ tử của ngài Santarasikta trước tác luận
phẩm Bát nhã ba la mật Astasahasrika-. Tu viện Traikutaka tọa lạc trong
vùng Radha thuộc phía tây Bengal hiện nay.
Bengal (thế kỷ thứ 7) là quê hương của các vị
đạo sư nổi tiếng như Chandragomin, -một bậc học giả nổi tiếng nhất
Aán Độ thời bấy giờ, ngài Atisha, Vikramasila người có công làm
sống lại Phật giáo ở Tây Tạng vào thế kỷ thứ 11. Nơi đây vào
thế kỷ thứ 10 cũng được nể vì bởi những chương trình tu học
về Kim Cang Thừa và ngài Ananda-Garbha sau khi học xong ở tu viện
Vikramasila đã đến Bengal để học về Mật tông với ngài Prakasacandra,
vị đứng đầu trong các Thành tựu giả và cũng là đạo sư của
ngài Subhutipalita. Danh tiếng của ngài đã thu hút Prajnapalita từ Ma
Kiệt Đà đến cũng như nhiều người khác nữa.
Các Thành tựu giả xuất hiện nhiều ở Bengal từ thế kỷ thứ 8
trở về sau. Theo ngài Abhayadatta, người kết tập tiểu sử của các
vị Thành tựu giả vào thế kỷ thứ 11 hoặc đầu thế kỷ 12, thì
ngài Jayananda một bậc Thành tựu giả và trước đó cũng là một
tướng của vua Bengali. Thành tựu giả Putali, Mekhopa một người bán
hàng cũng là người Bengali; rồi các ngài Goraksa người chăn cừu,
Caurangi một hoàng tử và Thành tựu giả Thagana đều là những
người từ miền Đông Aán, phần lớn là ở Bengal.
Các vị vua Sena, người xâm chiếm Pala vào thế kỷ 12 đã phục hồi
lại truyền thống Aán giáo và cắt đứt các hậu thuẩn đối với
những trung tâm Phật giáo. Không thể duy trì toàn bộ triều đại,
các vị Sena dời xuống vùng phía nam của Bengal, và sau đó sự tiếp
nối của họ chấm dứt vào giữa thế kỷ thứ 13. Trong khi đó phần
lớn các trung tâm tu viện Phật giáo bị phá hủy vào thế kỷ 13, và
dường như truyền thống Kim Cang Thừa do vì không dựa vào các trung
tâm tu viện nên vẫn tiếp tục tồn tại sau khi các đại học Phật
giáo lớn bị phá hủy. Còn khu vực giữa Vanga và Kalinga, Phật giáo
được tồn tại có thể do vì không bị ảnh hưởng bởi sự xâm
chiếm của những người Hồi giáo.
Tamralipti
Thành phố Tamralipti (hiện nay là Tamluk) nằm trong vùng Midnapur thuộc
tây Bengal. Tuy nhiên khi xưa, tên gọi Tamralipti không phải chỉ nói
đến sự phồn vinh bến cảng ở đây và được xem là thủ phủ
chính trong vùng, mà nó còn được mang tiếng tốt đẹp đến toàn
vùng tây nam sông Hằng. Thời đó Tamralipti là một trung tâm thương
mại quốc tế rất thịnh vượng được nối liền bằng đường biển
đến các quốc gia như Miến Điện, Tích Lan, Trung Hoa và triều đại Sri
Vijaya (nay là Nam Dương). Ở đây cũng được biết đến qua ngài
Mahasamghika từ miền nam Andhra lên hoằng pháp ở vùng này. Từ nơi
cảng ngài đã đi tiếp đến các nước đông nam châu á, đến cả
bờ biển Trung hoa, dù rằng chuyến đi ấy rất dài và hiểm nguy.
Phật giáo có thể được truyền đến Tamralipti vào khoảng thế kỷ
thứ 5 sau TL, khi ngài Pháp Hiển dừng lại và ở đây trong 2 năm,
sao chép hết những bản kinh trước khi khởi hành đi về Tích lan.
Lúc bấy giờ ngài ghi nhận có tất cả 24 tu viện trong vùng. Riêng
ngài Huyền Trang đến đây vào thế kỷ thứ 7 sau TL thì lại ghi nhận
rằng, lúc ấy có khoảng 10 tu viện với 1000 tăng sĩ đang tu
học. Ngày nay những cuộc khai quật ở Kurahar và Bulandibagh trong
vùng đã tìm ra nền móng của một số trụ đá, sảnh đường, tu
viện và tịnh xá có niên đại vào các triều đại Mauryan.
Kalinga/Orissa
Vương quốc Kalinga trải dài dọc theo bờ biển phía đông, từ châu
thổ sông Hằng đến sông Godavari. Bộ luật Pali Mahavagga ghi rằng tỉnh
Ukkala chiếm trọn phần phía bắc của vùng này, mặc dù Mahavastu, một
luận bản thuộc Mahasamghika cho rằng Utkala ở vùng phía bắc của
Uttarapatha. Vào thời ngài Huyền Trang đến đây, vùng đất phía bắc
của con sông Mahanadi được gọi là Odra hoặc là Orissa, và Kalinga
trải dài dọc theo bờ biển phía đông từ Mahanadi kéo dài về nam
đến sông Godavari. Phần trong của những vương quốc bờ biển phía
đông còn được gọi là Daksinakosala (nam Kosala) hoặc là Mahakosala
(Kosala to lớn), ngày nay là phần đất của Andhra Pradesh.
Vào thời vua A Dục, Kalinga chỉ gồm có phần đất
mà nay gọi là Puri, Ganjam, và một phần vùng Cuttack của Orissa. Người
dân ở đâỵ hung dữ và chống lại những ảnh hưởng của các
nền văn hóa bên ngoài, đã duy trì sự tự trị của họ cho đến khi
vua A Dục đến đánh chiếm xứ này. Trong cuộc chiến ấy đã có
hàng trăm ngàn người tử vong và điều này làm động tâm vị vua
khát máu để sau đó ông trở thành một trong những vị vua nhân
từ bậc nhất trong lịch sử Aán Độ. Chiếm được Kalinga, vua cho xây
14 trụ đá có chạm các sắc lệnh, và nay 2 trong số 14 trụ đã
được tìm thấy trên một ngọn đồi gần ngôi làng Dhauli, cách
hướng tây nam của Bhuvaneswar một vài dặm. (Dhauli được xác nhận
chính là thành phố cổ Tosali khi xưa, nơi một tăng sĩ Tích Lan từng
đến đây để hoằng pháp). Sắc lệnh của vua A Dục cũng được tìm
thấy ở Jaugadha, trong vùng Ganjam thuộc Orissa ngày nay.
Theo ngài Huyền Trang thì vua A Dục xây lên 10 ngôi tháp đánh dấu nơi
đức Phật giảng pháp, và dựng nên một ngôi tháp phụ bên cạnh
để kỷ niệm 4 đức Phật quá khứ. Kalinga nhận được Xá lợi
răng đức Phật và tôn trí trong một ngôi tháp tại Dantapura.
(Dantapura nghĩa là Sĩ thành thành răng, và dường như tên thành
phố này được đặt là do sự kiện này).
Trước thời vua A Dục, phần lớn người Kalinga
theo truyền thống Kỳ na và sau khi vua sát nhập Kalinga vào lãnh thổ
của mình, Phật giáo đã ảnh hưởng mạnh mẽ nơi đây. Luận bản
về Theragatha (Atthakatha) ghi rằng, ngài Mogalliputta Tissa lui về ở ẩn
tại Kalinga và vua A Dục đã cho xây tu viện Bhojakagiri cho ngài. Theo
Samantapasadika của ngài Phật Minh, 8 gia đình Kalinga là đoàn tùy tùng
của công chúa con vua A Dục, một người sau đó xuất gia làm ni lấy
tên là Sanghamitta và cô đã mang nhánh cây Bồ đề từ Aán sang Tích
Lan để trồng. Nhiều thế kỷ sau, Phật giáo ở Kalinga đã dần dần
có nhiều liên hệ với Tích Lan. Theo một bức bia ký tìm thấy tại
Nagarjunakonda, những vị tăng người Sinhalese đã lập tu viện ngay ở
Tosali và Palura, trung tâm của Kalinga, cũng như ở Tamralipti vùng phía
bắc.
Một vài thế kỷ sau triều đại vua A Dục, Phật pháp đã cắm rễ
vững vàng ở các vùng phía bắc của Kalinga. Taranatha cho rằng trong
thời đại của cháu vua A Dục là Vigatasoka, một đại trưởng giả
Bà la môn tên là Raghava, người quy y theo Phật, thỉnh ý ngài La Hán
Posada triệu tập một đại hội nghị gồm các vị A La Hán. Posada y lời
cung thỉnh các vị La Hán đến và Ragvada đã cúng dường tứ sự
vật đến chư La Hán này trong ba năm.
Vào cuối triều đại Sunga (khoảng năm 75 trước
TL), Kalinga được tự trị trong một thời gian. Kế đến năm 50 trước
TL, Kharavela, một chiến tướng của bộ tộc Cedi lên làm vua và sát
nhập Kalinga vào lãnh thổ của mình. Trong lịch sử Aán Độ, Kharavela
nổi danh là người đã phát huy và truyền nền văn hóa Aán ra
nước ngoài, đặc biệt là Suvarnadiva, một vùng đất vàng thuộc
miền nam Miến Điện. Thời gian ấy Kharavela từng là sự đe dọa lớn
đối với những vương quốc thuộc miền bắc Aán. Mở rộng thế lực
của mình sang tận Madhyadesa, Kharaveda đã đánh chiếm Rajagrha vào khoảng
năm 50 trước TL. Ông cũng đánh bại vua Pandya tận phía nam và tiến
đến vùng đất của các vua Satavahana ở phía tây.
Mặc dù vua Kharaveda hổ trợ cho tất cả truyền thống tôn giáo lúc
bấy giờ, nhưng dường như nhà vua là một vị vương quân thuần
thành với đạo Kỳ na và được mọi người gọi là vị tăng
vương. Tiếp đến những nhà cầm quyền Kalinga từ khoảng thời gian
350 sau TL trở về sau có vẻ rất nhiệt thành với đạo Kỳ na và
các truyền thống Aán giáo. Đến thế kỷ thứ 7, tất cả người cầm
quyền thời đó đều theo đạo Kỳ na.
Ngài Huyền Trang ghi trong Tây vực ký rằng, Odra (Orissa) và Kalinga
là hai vương quốc khác biệt. Vào thời ngài Huyền Trang viếng
thăm, vua Harsa đã mở rộng bờ cõi cho đến tận phía bắc Aán Độ.
Mặc dù Orissa đúng ra nằm trong sự cai trị của vua Harsa, nhưng vua Orissa
là Sailodbhava vẫn tiếp tục giữ được quyền hành và sự tự chủ
trong vương thổ của mình. Ngài Huyền Trang ghi rằng, người dân,
văn hóa và ngôn ngữ của Orissa đặc biệt khác những người vùng
Vanga phía bắc. Nhiều người rất siêng năng học tập, phần lớn
người ở đây đều theo đạo Phật.
Mặc dù trong vương quốc Orissa, ngài Huyền Trang chỉ tìm thấy 10 ngôi
tháp có niên đại từ thời vua A Dục, nhưng ngài ghi rằng, lúc
ngài viếng thăm nơi đây Phật giáo đang rất thịnh hành. Chỉ
riêng ở Orissa đã có khoảng 100 tự viện và 10.000 tăng chúng và
phần lớn theo Phật giáo đại thừa. Nhiều thế kỷ trước đó,
Phật giáo đại thừa đã phát triển mạnh ở Orissa. Ngài Long Thọ,
Thế Thân -những triết gia của Phật giáo đại thừa cũng đều có
lập nhiều ngôi chùa ở nơi này.
Orissa nằm hẻo lánh, tách mình ra khỏi sự lấn chiếm của các triều
đại thuộc miền bắc Aán, và dường như được xem là nơi để các
bậc tu hành về tĩnh tu nơi đây. Luận sư Trần Na (thế kỷ thứ 5 sau
TL) cũng lui về Orissa để chuyên tu và viết những tác phẩm luận lý
lừng danh của ngài là Pramana-Samuccaya. Ngài Huyền Trang cũng có ghi
về Puspagiri hay là tu viện Hoa sơn; tại đây có ngôi tháp được
nhiều người biết đến vì phật tử thường đến để dâng hoa cúng
dường và đốt nhang.
Theo Taranatha, có một sự biến động lớn ở cả
Bengal và Orissa vào khoảng thời gian đầu thế kỷ thứ 8, trước khi
Gopala, vị vua Pala đầu tiên thành lập triều đại Pala của mình. Các
vị vua Kara nắm được quyền hành ở Orissa cùng thời gian với Gopala
lên làm vua ở Bengal. Các vị này cho rằng mình sanh ra từ đất (khác
biệt với Aán giáo cho rằng được Phạm Thiên tạo ra), nên gọi mình
là Bhaumas của đất và thường được gọi là Bhaumakara. Ba
vị vua đầu của triều đại Bhaumakara hậu thuẩn mạnh mẽ những cộng
đồng Phật giáo qua việc kiến tạo chùa viện, đúc tượng và điêu
khắc về Phật giáo. Jaipur thành phố kinh đô của các vị vua này về
sau đã trở thành một trung tâm Phật giáo quan trọng dưới các
triều vua Bhaumakara và triều đại Gupta. Nhiều hình tượng của Phật
giáo đại thừa có niên lịch từ thế kỷ thứ 8 được tìm thấy
ở đây. Trong số này có tượng Bồ tát Liên Hoa Tạng cao 16 feet và
tượng Kim Cang Tát Đỏa tìm thấy ở Salempur. Xa hơn về phía nam, trên
bờ phía bắc dòng sông Virupa, những hình tượng Bồ tát: Bát nhã
Ba la mật và Quán Âm được tìm thấy nơi nền của thành phố cổ
Cauduar.
Sử liệu Taranatha, Cuộc đời 84 vị đại Thành tựu giả của
Abhayadatta, và một số các tài liệu khác ghi nhận Orissa là quê
hương của nhiều bậc thầy Thành tựu giả vĩ đại, kể cả Luyi-pa và
Darika, người đã từng là vua của Orissa. Từ thế kỷ thứ 10 trở
về sau, Orissa thu hút nhiều bậc thầy đến từ Tây Tạng để cầu tu
học và nhận sự truyền thừa từ những bậc thành tựu giả. Các
cuộc khảo cổ tìm thấy dãy đồi Asia cho biết, Phật giáo đại thừa
thịnh hành nơi đây từ thế kỷ thứ 8 đến thế kỷ 12, khi Phật
giáo Kim Cang Thừa lan rộng và biến vùng này thành một trung tâm
chính yếu trong việc truyền thừa Mật tông. Các cuộc nghiên cứu
sâu hơn về những di tích Phật giáo ở Orissa đã làm sáng tỏ ra
nhiều điều giá trị về sự phát triển sau này của Phật giáo đại
thừa tại Aán Độ.
Ratnagiri, Udayagiri
& Latitagiri.
Phật giáo được hoằng truyền qua nhiều thế kỷ ở những ngọn
đồi Á châu dọc theo sông Virupa, nơi đây người ta đã tìm ra nền
của 3 trung tâm Phật giáo chính là Ratnagiri, Udayagiri và Latitagiri. Các
tu viện này dường như từng là trung tâm quan trọng cho sự học và
hành trì giáo pháp Kim cang thừa. Tọa lạc về hướng đông bắc của
thành phố hiện nay là Cuttack, Ratnagiri đã là một trung tâm Phật
giáo chính từ thế kỷ thứ 5 sau TL và có thể trước đó nữa.
Những văn tự dùng trong triều đại Gupta được tìm thấy trên
nhiều phiến đá ở đó, có phiến mang hình tượng đức Quán Âm
và có phiến ghi lại bản kinh Pratityasamutpada. Đại tịnh xá Ratnagiri và
tu viện thứ hai xây dựng về hướng tây của ngọn đồi, các ngôi
tháp thì được tạo dựng về hướng đông. Đại tịnh xá Ratnagiri
được xác nhận chính xác trên những dấu ấn bằng đất nung tìm
thấy nơi ấy và nền tu viện này gần như vuông vức, đo được 181 x
180 feet, trong khi tu viện thứ hai thì nhỏ hơn, khoảng 95 feet mỗi bề.
Phần còn lại của những bức chạm trổ tìm thấy nơi đây đều ít
nhiều có liên hệ đến Phật giáo Đại thừa và Kim Cang Thừa.
Truyền thống cũng ghi lại rằng, ngài Bodhisri,
ngài Naropa và những vị đại Thành tựu giả khác đã sống và tu
tập tại Ratnagiri này, ngọn đồi báu. Thời gian sau, khi các viện
đại học lớn ở Madhyadesa bị quân Hồi phá hủy, vùng này có thể
được xem là chốn trú ẩn sau cùng cho các hành giả và học giả
Phật giáo lúc bấy giờ.
Viện bảo tàng ở Bhubanneswar hiện lưu giữ 7 công trình điêu khắc
tìm thấy ở khu vực Orissa, đó là những hình tượng đức Phật,
Bồ tát Quán Âm, Văn Thù, Liên Hoa Tạng và Tara. Một số tượng
tìm thấy ở Orissa đã được gởi đến viện bảo tàng Calcutta và
những nơi khác ở Aán Độ.
Ngôi tháp chính ở Ratnagiri xây dựng vào khoảng thế kỷ thứ 8,
dường như xây trên nền của một ngôi tháp cũ trước đó, có
thể xây vào thế kỷ thứ 5. Những nền móng của các ngôi tháp
lớn và nhỏ khác đều có chạm trổ nhiều hình ảnh của đức
Phật, Quán Âm và Tara cũng như những hình ảnh biểu trượng trong
truyền thống Kim Cang Thừa.
Hàng trăm ngôi tháp nhỏ khác đều có chạm trổ biểu tượng các
chư hộ thần trong Mật tông cùng với những tấm thẻ khắc các bài
thần chú được tìm thấy gần nơi tháp chính.
Ngoài những di tích và kiến trúc Phật giáo tìm thấy trên ngọn
đồi Ratnagiri, chứng minh nơi đây từng là trung tâm quan trọng của
Phật giáo đại thừa; những ụ đất gần bên cũng cho thấy là có
nhiều hình tượng Phật và những vị đại Bồ tát có niên lịch từ
thế kỷ thứ 8.
Udayagiri, nằm tận ở miền nam có thể từng là
trung tâm của truyền thống Kim cang thừa. Ngài Huyền Trang miêu tả hai
ngôi tháp trong vùng này, được dựng nơi có những sự kiện
nhiệm mầu xuất hiện. Một từng là tu viện Puspagiri và cái kia trên
ngọn đồi về hướng tây bắc. Sự mô tả có thể đề cập đến
hai ngọn đồi Udayagiri và Khandagiri nằm cạnh bên nhau, chia cắt bởi con
đường nối liền Bhubanneswar và Chandka. Các di tích còn lại với một
số hình tượng Phật và Bồ tát, kể cả tượng Bồ tát Bát nhã ba
la mật đa 12 tay và một nữ hộ thần Marici 8 tay cũng được tìm thấy
tại Udayagiri. Hai ngọn đồi Udayagiri và Khandagiri cũng là nơi có hai
quần thể thạch động rất lớn liên hệ với nhà vua Kharavela. Tuy
nhiên không chắc rằng những thạch động này có nguồn gốc gì với
Phật giáo hoặc Kỳ na giáo.
Caritrapura.
Ngài Huyền Trang ghi lại hải cảng Caritra có đầy những thương gia
ngoại quốc. Bên ngoài thành phố ngài thấy, một nhóm 5 tu viện
với lối kiến trúc cao ngất và nhiều hình tượng rất mỹ thuật.
Ngài ghi rằng từ khu đất cao nơi bờ biển, ngài có thể thấy về
hướng của vương quốc Sinhala, tháp đá thờ Xá lợi răng Phật
chiếu sáng ngời và lóng lánh như một ánh đèn cháy giữa hư
không.
Caritrapura dường như gần thành phố Puri hiện nay, nơi có ngôi chùa
Jagganatha mà một số nhà học giả tin rằng, khi xưa chính là một trung
tâm Phật giáo.
Kalinganagara.
Nhiều bậc đạo sư vĩ đại thuộc truyền thống Đại thừa có liên
hệ với thủ đô của người Kalinga là Kalinganagara và những vùng
nam của dòng sông Mahanadi. Một học giả Trung quán vào thế kỷ thứ 5
là Buddhapalita được cho rằng đã giảng dạy Phật pháp ở Dantapuri;
Ngài Dharmakirti (Pháp Xứng thì xây một ngôi chùa ở Kalinga vào thế
kỷ thứ 7; và thế kỷ thứ 8 ngài Santideva (Bình Thiên) sống ở gần
Kalinganagara sau khi rời đại học Nalanda. Tất cả ba bậc đạo sư vĩ
đại này được biết đều thị tịch trong vùng đất của Kalinga.
Ngài Huyền Trang ghi về Kalinganagara như sau: Con đường hướng tây
nam dẫn đến Kalinganagara đi xuyên qua một bãi sa mạc và rừng rậm.
Cây cối cao đến chọc trời và che hết ánh nằng. Thời tiết nơi
đây nóng cháy và tính khí con người sôi động, dữ dằn.
Khu phố nhỏ vùng ven biển giữa hai sông Mahanadi và Godari hơi thưa
người, và có ít người tu theo đạo Phật. Phần lớn họ tin theo
các đạo giáo khác, đặc biệt là Kỳ na giáo. Có khoảng 10 tu viện
với độ 500 tăng sĩ tu theo Đại thừa giáo, và truyền thống Sthavira
lúc bấy giờ. Miền nam Kalinganagara, có một trụ đá A Dục cao 100 feet,
dựng lên để kỷ niệm sự viếng thăm của 4 đức Phật quá
khứ.
Sự khai quật một số các mô đất trong vùng có thể một ngày nào
đó sẽ cho thấy thêm nhiều dữ kiện về tăng đoàn ở miền ven
biển hướng đông.
Salihundam.
Hướng bắc Kalinganagara, ngài Huyền Trang ghi: một ngôi tháp đá
cao khoảng 100 feet, xây trên đỉnh của một núi đá thẳng đứng. Nơi
đây vào đầu hiền kiếp, tuổi thọ con người bấy giờ rất cao, có
một vị Độc Giác Phật nhập niết bàn. Người ta cho đây
là núi Salihundam, nằm trong vùng Ganjam, về bờ phía nam của dòng sông
Vamsadhara, 6 dặm phía tây Kalingapatnam. Toàn bộ khu di tích Phật giáo
được khai quật và tìm thấy ở đây vào giữa năm 1943 và 1947.
Một số ghi chú trên chiếc bình tìm thấy, có niên lịch vào thế kỷ
thứ 2 sau TL, cho biết chiếc bình thuộc về Kattaharama, một tu viện
được cúng bởi những người truyền thừa Rastrapalaka Hamkudeyika.
Nền những ngôi tháp, tượng và tịnh xá tìm thấy nơi đây và trong
làng Salihudam kể cả những miêu tả về Bồ tát Tara và Marici, cho
thấy nơi đây từng là trung tâm của truyền thống Phật giáo Đại
thừa và Kim Cang Thừa. Dường như Phật giáo đã thịnh hành ở
đây ít nhất là đến thế kỷ thứ 7.
Những chiếc hộp tìm thấy nơi nền ngôi tháp
tại Salihundam gồm có 3 chiếc tháp Pha lê. Một tháp hình tròn như
ngôi tháp cổ ở Sanchi; tháp thứ hai có hình trống và tháp thứ ba
có hình dạng thon dài, chung quanh có nhiều chạm trổ tinh xảo. Qua
những chiếc tháp pha lê này tượng trưng cho 3 giai đoạn phát
triển tháp ở Salihundam: cấu trúc tháp nguyên thủy và sự trùng tu
sau đó, kết quả sau cùng cho thấy, lối kiến trúc này giống như các
tháp ở Amaravati và Nagarjunakonda.
Vùng nội địa:
Mahakosala (Daksinakosala).
Hướng tây bắc khu vực bên trong, giữa hai sông Mahanadi và Godavari,
ngài Huyền Trang đi đến vùng đất Mahakosala, có lẽ ý nói đến
miền đông nam của Madhya Pradesh. Mahakosala cũng còn được gọi là
Daksinakosala, hoặc nam Kosala để phân biệt với vương quốc Kosala ở
nước Ma Kiệt Đà. Ngài Huyền trang tả lại, vùng núi bao quanh
rộng 1800 lý, hay ít nhất là 300 dặm từ nội địa cho đến hướng
tây bắc của Kalinganagara, có một ngôi tháp của vua A Dục đánh dấu
kỷ niệm nơi đức Phật thị hiện thần thông. Vào thời gian này
(thế kỷ thứ 7), Mahakosala đã là một trung tâm Phật giáo Đại
thừa rất thịnh với hàng trăm ngôi tự viện và đến cả trăm
ngàn tăng sĩ.
Ngài Huyền Trang kể thêm, núi Brahmaragiri nằm khoảng 50 dặm về
hướng tây nam, nơi đây vua Sadvaha đã cho xây một tu viện rất lộng
lẫy trên núi cho ngài Long Thọ. Cả thảy 5 tầng, mỗi tầng đều có 4
sảnh đường nối liền với tịnh xá, mỗi tịnh xá có một tượng
đức Phật cao bằng người thật, được trang sức với nhiều loại
đá quý. Một dòng suối nhỏ chảy qua nơi đây, và ánh sáng từ
những lỗ hỗng trên cao của thạch động đã chiếu sáng vào bên
trong.
Nhà vua triệu tập 1000 vị tăng sĩ và thỉnh họ
lưu lại tu viện. Ngài Long Thọ cũng thỉnh về tất cả kinh điển và
tôn thờ ở tầng trên cùng. Tầng trệt là nơi ở của hàng Bà la
môn tham dự công việc trong tu viện, tầng hai, ba và bốn là nơi chư
thượng tọa và tăng chúng ở. Một lần nọ chư tăng tranh cãi nhau
vấn đề gì đó và sau trình lên vua để xét, thừa dịp ấy những
người Bà la môn đã phá chùa và ngăn không cho tăng chúng trở
về. Theo ngài Huyền Trang thì sau đó ở trong vùng họ đã không để
cho ai ra vào con đường ấy.
Di tích Mahakosala ngài Huyền Trang ghi lại khó nắm
vững. Một vài nhà học giả cho đó là Warangal, một thành phố về
hướng phải nằm sâu trong nội địa, tây bắc của Kalinganagara. Tuy
nhiên không có một di tích Phật giáo nào được tìm thấy nơi đó
đưa đến giả thuyết khác chỉ về hướng tây nam, cho rằng Mahakosala
là Amaravati và Nagarjunarkonda, những nơi có nhiều liên hệ với ngài
Long Thọ.
Tuy nhiên một số bia ký, các mẩu vật có đường nét mỹ thuật
Phật giáo, những nền móng chùa viện được tìm thấy trong vùng
nội địa dọc theo sông Mahanadi, gần Sripura (nay là Sirpur, cạnh Rajpur ở
miền đông nam Madhya Pradesh). Một tượng Phật lớn bằng đá cũng
được tìm thấy nơi nền một tu viện. Các bức bia ký cho rằng, vua
Saivite trong vùng là Mahasivagupta Balarjuna là một vị vua hậu thuẩn quan
trọng cho Phật giáo, và dường như những chùa viện ở Sripura đều
được kiến tạo trong triều đại vị vua này. Cuộc nghiên cứu các
hình tượng kim loại rơi rớt nơi đây cho biết, vua chúa đã hậu
thuẩn Phật giáo trong một thời gian dài, bắt đầu khoảng cuối thế
kỷ thứ 7 hoặc thứ 8. Những hình tượng này rất tương tự với
các hình tượng được làm từ giữa thế kỷ thứ 7 đến thứ 9
tìm thấy ở khu vực Nalanda, cho thấy có một sự liên hệ nào đó
rất gần giữa Phật giáo ở Mahakosala và Ma Kiệt đà.
Một hình tượng ngài Tara bằng kim loại được
làm rất tinh xảo ngồi trên tòa sư tử và hầu bên có hai hóa
thân của ngài, cùng với một số đồ vật tương tự cho thấy
truyền thống Phật giáo đại thừa đã rất thịnh hành trong vùng.
Tại đây do sự thoát ngoài các cuộc biến động xâm lăng của
người Hồi giáo nên Phật giáo được tồn tại khá an toàn cho
đến qua thế kỷ thứ 12.
Gần đây những cuộc khai quật tiếp theo tại Sripura đã hé mở thêm
nhiều chứng liệu liên hệ đến Phật giáo.
Pundravardhana &
Samatata.
Tỉnh lî Pundravardhana cổ xưa về hướng bắc và Samatata về hướng nam
bao gồm một khu vực tương đương với Bangladesh hiện nay và các vùng
biên giới của Aán Độ. Tỉnh thứ ba đôi khi tính luôn cả vùng tự
trị Karnasuvarna. Thuở xưa con đường đi qua khu vực phía đông buộc
phải xuyên qua thành phố Kajughira (còn gọi là Kajangala), nằm đầu
nguồn con sông Hằng. Về hướng bắc giữa sông Hằng và sông
Brahmaputra là Pundravardhana, vùng đất của bộ tộc Pundra. Hướng đông
nam, miền hạ châu thổ sông Hằng là khu vực Samatata, vùng đất bằng
đặt tên cho dòng nước phẳng chảy đều hai bên sông. Samatata gồm
khu vực Chittagong hiện nay, một dải đất ven biển hình cung từ đông
nam đến bắc Miến Điện.
Những tài liệu của ngài Huyền Trang đã đưa ra ánh sáng toàn bộ
các dữ kiện Phật giáo vùng đông Aán. Các tài liệu bổ sung có
thể tìm thấy Lịch sử Phật giáo tại Aán Độ của Taranatha
và một số tư liệu của những nhà nghiên cứu khảo cổ hiện nay.
Đáng tiếc là vì xu hướng chính trị thay đổi và sự thiếu thốn
tài chánh đã làm trở ngại nổ lực phục hồi các di sản Phật
giáo cổ xưa tại Bangladesh. Khi ích lợi của những di tích khảo cổ
này không gây được ảnh hưởng về phía các khoa học gia, thì tài
sản to lớn ấy sẽ mãi mãi bị vùi lấp. Tuy nhiên một số được
bảo tồn và xác nhận là có nhiều trung tâm Phật giáo đã một
thời hưng thịnh tại Bangladesh cho đến thế kỷ 12.
Những kinh bổn Phật giáo ghi rằng, đức Phật đã từng viếng thăm
vùng đất phía đông này. Ngài giảng dạy ở Samatata và Karnasurvana
trong 7 ngày cũng như lưu lại ba tháng ở Pundras. Trong nhiều thế kỷ,
có rất ít tài liệu cho biết về sự phát triển Phật giáo trong khu
vực; có thể không đi xa hơn thành phố Kajughira, cửa ngõ của các
tỉnh phía đông và vịnh Bengal. Ngài Huyền Trang chỉ ghi một số trụ
đá A Dục tại Karnasuvarna, Pundravardhana và Samtata.
Vào thế kỷ thứ 5 sau TL và có thể trước
đó, những người hành hương từ Trung Hoa, Sri Vijaya (hiện nay là Nam
Dương), Tích Lan và Miến Điện đã bằng đường biển đổ bộ lên
Tamralipti và đi ngang Kajughira trên đường đi đến thánh địa Bồ đề
Đạo tràng và Lộc Uyển. Tu viện đại học Nalanda là một đại học
danh tiếng vào thế kỷ thứ 5, cũng thu hút rất nhiều sinh viên từ
bên ngoài Aán Độ. Nhiều nhà du hành đi từ Tamralipti đến Kajughira,
đã dừng lại tu viện trên đường đi. Vào thế kỷ thứ 7 ngài
Huyền Trang và ngài Nghĩa Tịnh trước đó đều đến nơi vùng châu
thổ sông Hằng này. Một số phật tử sống ở mạn đông hoặc từ
nước ngoài đến có thể ở lại Somapuri, Vikramasila hoặc là Nalanda.
Kajughira (Kajangala).
Ngài Huyền Trang miêu tả vùng đất giữa Kajughira (gần Rajmahal hiện
nay) và Satamana là giàu có và nhiều hoa màu, khí hậu ấm áp và
dân chúng mến chuộng khách, họ cũng ưa thích học hành và giỏi về
nghệ thuật. Vào thời gian ngài Huyền Trang viếng thăm, dòng hoàng
tộc Kajughira đã mất, và vương quốc bị cai trị bởi nước lân cận.
Thị thành gần như bị sa mạc lấp và phần lớn dân chúng sống trong
các làng. Những đàn voi rừng lang thang nơi biên giới phía nam. Ngài
Huyền Trang ghi nhận có 6 hoặc 7 tu viện với khoảng 300 tu sĩ và có
ít nhất là 10 ngôi chùa của nhiều tông phái Aán giáo khác nhau,
nhưng ngài không cho biết thêm chi tiết về nguồn gốc và lịch sử
của các ngôi tự viện này. Gần sông Hằng ngài thấy một ngôi
tháp lớn làm bằng gạch và đá, với nhiều chạm trổ hình chư
thiên, đức Phật và các vị thánh Bà là môn trong những hóc
tường.
Karnasuvarna.
Ngài Huyền Trang thuật về Karnastuvarna như sau: nằm về hướng
đông của Kajughira, Karnastuvarna là một quốc gia thịnh vượng, dân
cư đông đúc và ưa chuộng sự học vấn. Các khu vực chung quanh
có khoảng 10 tu viện với 2000 tăng sĩ, phần lớn thuộc tông phái
Chánh Lượng Bộ. Ngoài ra cũng có ba tu viện khác tu hành theo lối
khắc khổ do Đề Bà Đạt Đa sáng lập. Raktaviti, một tu viện lớn
với nhiều tầng là nơi thường hay tổ chức, triệu tập các cuộc
hội nghị và tranh luận về tư tưởng Phật giáo giữa các bậc đạo
sư với nhau. Truyền thống này được thành lập sau khi có một cuộc
tranh luận lớn giữa hai người từ miền nam Aán đến vùng này: một
là triết gia ngoại đạo và bên kia là một Sa di học giả.
Ngoại đạo sư đưa ra một luận đề và thách đố những bậc thầy
khác trong vùng dám ra tranh luận với ông ấy, nhưng đã không có ai
dám đứng ra tranh luận. Sau cùng một học giả nhớ đến chú Sa di
sống bí mật và thầm lặng trong làng nên đến mời. Vị Sa di chấp
thuận ra tranh luận với điều kiện là nếu ngài thắng, vua sẽ xây
một tu viện và cung thỉnh chư tăng về đó để tu tập. Cuộc tranh
luận bắt đầu và sau đó vị Sa di đã đánh bại nhà ngoại đạo sư
kia bằng khả năng và những lý luận sắc bén của mình. Thán phục,
nhà vua cho xây tu viện Raktaviti như đã hứa và hậu thuẩn tất cả
những Phật sự trong vương quốc của mình.
Thời gian gần đây nền của thành phố cổ này được tìm thấy tại
Rangamati trong vùng Murshidabad thuộc tây Bengal. Nơi này được xác nhận
là thành phố cổ Karnasuvarna, và người ta cũng còn thấy rất nhiều
hình tượng Phật ở đây.
Pundravardhana.
Theo ngài Huyền Trang thì Pundravardhana nằm khoảng 100 dặm hướng đông
của Kajughira. Như đã đề cập ở trên, đức Phật đã giảng pháp
tại Pundravardharna trong 3 tháng, sau một thời gian dài đi ra khỏi nước
Ma Kiệt Đà. Sumagadhavadanan ghi rằng, đức Phật viếng thăm Pundravardhana
theo lời cầu thỉnh của Sumagadha, con gái trưởng giả Cấp Cô Độc,
một đại thí chủ của tăng đoàn tại thành Xá Vệ. Thành hôn với
một thương gia vùng Pundravardhana, nàng Sumagadha cảm thấy buồn khổ về
niềm tin và tập quán của gia đình chồng nên cầu nguyện và thỉnh
đức Phật đến thuyết pháp để độ người trong gia đình chồng
mình. Đáp lại lời thỉnh cầu ấy, đức Phật và tăng chúng đã
đến khu vực hẻo lánh này để độ sanh.
Những bia ký tại Sanchi có niên kỷ từ thời
các triều đại Sunga (187-75 trước TL) có đề cập về sự cúng
dường của một số phật tử tại Pundravadharna, cho thấy Phật pháp
đã được biết đến và tôn kính nơi khu vực này từ những
thời kỳ trước tây lịch. Ngài Huyền Trang thuật rằng, Pundravardhana
là một vương quốc thịnh vượng, có khoảng 20 tu viện với trên 3000
tăng sĩ tu học cả về Tiểu thừa lẫn Đại thừa thời bấy giờ.
Hướng tây là thành phố chính Pundravardhana có một tu viện lớn
với nhiều tên khác nhau như: Vasibhasamgharama, Bhasa Vihara hoặc Vasu Bihar.
Vào thời ngài Huyền Trang viếng thăm, tu viện có khoảng 700 tăng sĩ
Đại thừa kể cả nhiều tăng sĩ nổi tiếng từ miền đông Aán. Gần
bên là một trụ đá của vua A Dục, đánh dấu nơi đức Phật đến
viếng và giảng pháp ở Pundravardhana. Thông thường tháp đá này
được thấy phát ra ánh sáng. Một ngôi tịnh xá trong vùng có tôn
tượng Quán Âm đặc biệt mà khách hành hương từ các nơi xa và
lân cận thường hay đến chiêm bái.
Từ thế kỷ thứ 8 trở về sau, phần lớn Pundravardhana chịu dưới
quyền cai trị của các vua Pala, những vị vua này cũng ủng hộ việc
xây cất và phát triển các trung tâm Phật giáo trong vùng sau thời
ngài Huyền Trang. Có ít nhất là ba khu vực tu viện chính tại
Pundravardhana được tìm thấy ngày nay, đó là: Bhasa Vihara (ngài Huyền
Trang miêu tả), đại tịnh xá Somapuri và tu viện Sitakot.
Bhasa Vihara.
Năm 1879, nhà khảo cổ Cunningham khai quật ra khu nền Bhasa Vihara, nằm
cách nhà ga Mahasthan 4 dặm phía tây bắc. Các cuộc khai quật đã tìm
ra hai tu viện và một ngôi chùa lớn trên một số các đồi và nền
xưa trong thành phố Pundranagara cũng như ở các khu vực chung quanh. Các
nền tự viện đo được 800 x 700 feet, bao gồm 3 đồi lớn và 2
nhỏ. Trước cuộc khai quật đồi lớn nhất có chiều cao 31 feet.
Cuộc khai quật cho thấy một vòng đai bao bọc xung quanh tu viện. Trong số
42 hình đồng tìm thấy ở đây, nhiều tượng mang hình dáng Phật và
cácvị Bồ tát khác nhau như: Phật Thích ca, A Súc Bệ, và chư Bồ tát
Liên Hoa Tạng, Kim Cang Tạng, Văn Thù và Tara. 90 ấn triện bằng đất,
37 bảng thẻ đất nung và 60 tượng đồng khác cũng được tìm thấy
trong những cuộc khai quật nơi này.
Somapuri.
Đại học tu viện Somapuri (Nguyệt thị) nằm về hướng đông trong một
khu vực hẻo lánh cách xa trung tâm. Somapuri ngày nay được ghi nhận
với một số di tích đáng chú ý được khai quật (năm 1936) gần
Paharpur trong địa hạt Rajshahi thuộc Bangladesh. Trong cuộc đào bới năm
đó người ta tìm thấy một bia ký bằng đồng có niên kỷ năm 478
sau TL, nói rõ sự liên hệ khu di tích này với khu đất xây dựng
một tịnh xá đạo Kỳ na. Những bia ký tìm thấy nơi nền cho biết,
ngôi chùa Kỳ na sau đã trở thành một phần của tu viện Phật giáo
Somapuri. Nguồn gốc tu viện này có thể khởi nguyên từ thế kỷ
thứ 8.
Sự duy trì một tu viện lớn trong vùng đất hẻo
lánh tất nhiên phải có sự hổ trợ hoặc hậu thuẩn nào đó của
các hàng vua chúa. Điều này cho thấy đã có sự liên hệ trực
tiếp nào đó giữa sự hưng thịnh của các triều vua Pala và sự
thịnh vượng trong vùng. Tu viện Somapuri hiện tại và những di tích
Phật giáo quan trọng khác trong khu vực cũng cho thấy Phật pháp lưu
hành rất mạnh ở vùng phía đông từ giữa thế kỷ thứ 8 đến 12.
Vào cuối thế kỷ 11 hoặc đầu thế kỷ 12, ngài Abhayadatta có đề
cập đến Somapuri như là: một chiếc nôi Phật giáo với hàng
ngàn tăng sĩ.
Mặc dù chúng ta đã biết qua một số các bậc đạo sư lớn từng
sống ở đây, tuy nhiên Abhayadatta người ghi biên sử và là một
trong những học giả lớn của Phật giáo Aán Độ cho biết, có hai
bậc đạo sư nổi tiếng là ngài Krsnacarya và Virupa sống tại Somapuri
vào khoảng thế kỷ thứ 8. Krsnacarya cũng được tôn xưng là Thành
tựu giả Krsna-pa hay Kanhapa, thụ lễ điểm đạo Hevajra tại Somapuri bởi
bậc đạo sư Jalandhari. Krsnacarya được ghi là một bậc học giả về
Mật thừa; có ít nhất là 72 tác phẩm của ngài đã dịch sang Tạng
ngữ và được lưu giữ trong Tangyur. Virupa một Thành tựu giả nổi
tiếng khác và ngài Vidyadhara thuộc dòng Hevajra, bắt đầu đời sống
tu hành tại Somapuri và chứng đạo qua thời gian sống và tu tập tại
tu viện Somapuri.
Triều đại Pala bị suy yếu trầm trọng vào thế
kỷ thứ 10, tiếp theo là triều đại Mahipala trong cùng thế kỷ. Là
một phật tử thuần thành, Mahipala đã giúp đỡ hàng ngàn tăng sĩ
và học giả tại Odantapuri ở Bihar và bảo trợ các cuộc lễ ở
Nalanda cũng như ở Somapuri. Trong triều đại vị vua này, hay một thời
gian ngắn sau, tu viện chính của Somapuri được trùng tu lại hoàn tất
và những ngôi tháp cũng được xây cất thờ phượng ngài Tara.
Sau triều đại Mahipala và người con kế là Nayapala, nhiều cuộc xâm
lăng ở các nơi xảy ra; vua Karna ở miền trung Aán Độ, Vua Cola
Rajendra miền nam và những loạn tướng trong vùng đã làm triều đại
Pala suy yếu thêm. Somapuri có thể chịu nhiều sự phá hoại trong giai
đoạn này, mặc dù Ramapala khôi phục lại sự cai trị của Pala vào
khoảng thời gian cuối thế kỷ 11; tu viện đại học Somapuri cũng không
được phục hồi lại hoàn toàn như trước.
Somapuri tiếp tục suy đồi dưới triều đại của các vua Sena, người
thay thế triều đại Pala vào thế kỷ thứ 12. Cũng có thể Phật giáo
bị phá hoại bởi Varman, một bộ tộc Ksatriya Aán giáo mạnh cai trị
vương quốc nhỏ ở miền nam. Nhưng dường như Somapuri còn tồn tại
như một trung tâm Phật giáo bề thế cho đến khi quân đội Hồi giáo
dưới sự chỉ đạo của Mohammad Bhakhtyar Khalji xâm lăng vùng này vào
năm 1204. Là một cấu trúc cao và rộng hàng cây số trong vùng, tu
viện đại học Somapuri đã là mục tiêu đầu tiên cho các cuộc đập
phá của quân Hồi. Các chùa và tu viện bị hoàn toàn tàn phá chỉ
một thời gian ngắn sau đó.
Vào thế kỷ 19, một ngọn đồi lớn được khai quật gần Paharpur,
khoảng 29 mile hướng tây bắc của Mahasthan (tên ngày nay cho kinh đô
cổ xưa Pundranagara). Ngọn đồi nối liền với một ngôi làng nhỏ
với tên vẫn còn được gọi Dharmapuri. Ngôi làng này được cho
là đã phát triển cùng thời với đại học tu viện Somapuri và
được đặt tên bởi người bảo trợ là vua Dharmapala.
Vào thời gian khai quật, khu đồi Paharpur là một
đống gạch bao la cao đến 80 feet từ mặt nền ruộng chung quanh. Hoàn
toàn bị che phủ bởi bụi rậm, cây dại và những cây đa to lớn
với nhiều thú dữ qua lại. Các cuộc khai quật khảo sát đầu tiên
chưa tìm thấy gì, nhưng vào năm 1919, khu đồi này đã được sự
chiếu cố và bảo vệ của viện bảo tồn khu vực di tích
cổ, và trách nhiệm khai quật nơi đây bàn giao cho phân khoa khảo
cổ. Cuộc khai quật đầu tiên của bộ này thực hiện vào năm 1923
bởi các nhà khảo cổ từ viện đại học ở Calcutta và hội nghiên
cứu Varendra. Công trình này hé mở cho thấy một số phòng ở nơi
góc tu viện. Khi công việc tiếp tục vào năm 1925-26, các bực thang
chính và khu vực bên dưới được dọn sạch. Sau đó một số các
cuộc khai quật mỗi năm đã dời từng lớp đất và những mãnh
vụn đá gạch ra ngoài. Phần còn lại là ngôi chùa trung ương to
lớn từ từ hiện ra như một phép lạ từ nơi một đồi cây cỏ
hoang dại.
Tu viện Somapuri đo được 919 X 922 feet, là một tu
viện riêng biệt lớn nhất ở Aán Độ. Những bức tường ngoài cao
hơn 12 feet thật ra là bờ thành bao bọc vuông vức của 117 phòng vây
quanh một khuôn viên rộng lớn. Ngôi chùa nằm trung tâm khu vực
với cổng chính dẫn vào sân từ hướng bắc. Những chạm trổ của
bục thờ nằm ở giữa một gian phòng lớn cao 92 feet, và đây không
phải là kiến trúc nguyên thủy dưới thời xây dựng của vua
Dharmapala mà là thời gian sau này trong đợt trùng tu. Những bục
thờ này có thể để tôn trí các hình tượng quan trọng trong những
dịp lễ lớn hoặc dùng trong các thời khóa tu tập.
Kiến trúc gần gũi nhất với tu viện Somapuri là các chùa thấy ở
trung tâm Java, nơi kiểu kiến trúc này được phát triển mạnh. Miền
đông Aán Độ có sự quan hệ gần gũi với Miến Điện và các
quần đảo Mã Lai tạo sự du nhập thuận tiện nền kiến trúc và mỹ
thuật có ảnh hưởng từ triều đại Pala vào các ngôi chùa và cung
điện của những nước láng giềng miền đông Aán. Sau thế kỷ 11,
các chùa Miến Điện cũng lấy kiểu kiến trúc của tu viện Somapuri
để xây dựng, và tạo thêm một số cấu trúc nữa ở trung tâm
đồ hình. Người ta cho rằng kiểu trang trí của các chùa Miến Điện
với những thanh đá bằng đất nung vuông vức là ảnh hưởng bởi
các kiến trúc chung quanh ngôi chùa Somapuri. Nghệ thuật điêu khắc
tượng tìm thấy ở Somapuri kể các loại tượng bằng khoáng chất
Bazan đen tạc hình ngài Hevajra 16 tay và Prajna 6 đầu cùng một dãy, và
một đầu khác trên cùng của tượng. Tượng này cùng một số
tượng khác với câu chuyện về các Thành tựu giả chứng nhập
pháp Hevajra cho thấy rằng Somapuri từng là một trung tâm tu học và
thực hành về Mật thừa.
Sitakot.
Năm 1967, những nhà khảo cổ Bangladesh đã chú ý đến một nhóm
các dãy đồi phía đông Sitakot, thuộc vùng Dinajpur, hướng nam Fatehpur
Marash. Có tất cả khoảng 50 cụm nền được tìm thấy trong các ngọn
đồi này sau khi bị đào xới bởi những người đi tìm quý vật và
đám thợ lấy trộm gạch đá về xây dựng. Cuộc khai quật tiếp theo
của những nhà khảo cổ đã tìm ra một tu viện với 4 cánh cùng
một khoảnh sân lớn. Cánh phía đông là lối dẫn vào sảnh
đường; cánh phía bắc có 8 phòng ở; hai cánh phía nam và tây, mỗi
cánh có 11 phòng ở. Bức tường bên ngoài bao bọc chung quanh có
độ dày 8 feet và toàn bộ đo được 139 X 135 feet. Hai bức tượng
đồng, một là ngài Liên Hoa Tạng và tượng kia là ngài Văn Thù
được tìm thấy và sau đem vào viện bảo tàng Dinajpur. Những tượng
này cùng với một số các tượng đồng khác tìm thấy ở Bangladesh
sau đã bị mất.
Devikota.
Các nền thành phố Devikota được ghi lại trong cuộc đời 84 vị
đại Thành tựu giả của Abhayadatta, được tìm thấy ở vùng
phía bắc thuộc tây Bengal gần Bangarh, một ngôi làng khoảng 18 dặm
hướng nam của phố Dinajpur. Tu viện Kotivarsa một thời từng phát
triển tại đây. Devikota là quê hương của hai vị nữ hành giả Mekhala
và Kanakhala, những người thực chứng Đại thủ ấn qua pháp giảng
của ngài Kanhapa, và họ đã đem lợi lạc cho người dân trong vùng
Devikota trong nhiều năm trường. Thành tựu giả Udheli là một người
vọng tộc giàu có ở Devikota và có nhiều sở đắc về những năng
lực thượng thừa.
Jagaddala.
Tu viện Jagaddala được sáng lập bởi nhà vua Ramapala dưới triều
đại Pala, người cai trị vương quốc Varendra từ kinh đô Ramavati của
mình vào khoảng năm 1084 đến 1130. Mặc dù các tài liệu tiếng Tây
Tạng cho rằng, tu viện Jagaddala ở Orissa có liên hệ với Ramapala và
kinh đô Ramavati, phía bắc Bengal. Tuy nhiên theo sự ghi chép lại của
Nandi (một nhà thơ dưới triều Ramapala) thì dường như Phật giáo
thịnh hành ở Varendra khoảng thời gian đầu thế kỷ 12. Tu viện nằm
gần Ramavati và từng là một trung tâm Phật giáo lớn nhất trong
vùng Varendra.
Jagaddata thu hút những bậc đạo sư lớn vào
thời đó, kể cả nhà luận học Moksakaragupta và Sakyasribhadra. Một vị
học giả khác người Kashmir, từng là viện trưởng sau cùng của
đại học Vikramasila đã tìm cách lánh nạn ở Jagaddata sau khi Vikramasila
bị tàn phá. Theo lời ghi trong phần cuối của Tarkabhasa một tác phẩm
luận lý, Moksakaragupta viết tác phẩm này khi ở tại Jagaddata. Sakyasri
cùng với hai đệ tử là Vibhuticandra và Danasila cũng đã dịch nhiều
bản kinh sang tiếng Tây Tạng tại nơi này, và sau đó đi từ Jagaddata
sang Nepal rồi tiếp lánh nạn ở Tây Tạng sau biến nạn của quân Hồi
Mohammad Khalji, người cho phá hủy tất cả những trung tâm Phật giáo
lớn ở vùng Ma Kiệt Đà và tiến quân về Vahendra.
Những người xâm lăng Hồi giáo đã tàn phá và cướp bóc thành
phố Ramavati, nhưng người ta không biết là họ có tiêu diệt Jagaddata
hay nơi này bị suy đồi và tan rã sau sự hủy diệt những trung tâm
Phật giáo lớn ở các vùng lân cận. Dường như thành phố Ramavati
đã hồi cư lại sau cuộc xâm lăng của quân Hồi và tiếp tục có
đông người sinh sống vào thế kỷ 15 và 16.
Samatata.
Du hành về miền nam qua Samatata, ngài Huyền Trang tính có khoảng 30 tu
viện với 2000 tăng sĩ, phần lớn thuộc truyền thống Sthavira. Trong
một tu viện ngài thấy có tượng Phật cao 8 feet, làm bằng loại ngọc
bích và tương truyền có sự nhiệm mầu. Ngài ghi lại rằng, có
nhiều vị tăng sĩ trong vùng và một số người thuộc gia đình giàu
có đã từng tòng học ở Nalanda. Trong đó có thầy của ngài Huyền
Trang là ngài Giới Hiền, con dòng vương tộc tại Samatata và người
đã trụ trì tu viện đại học Nalanda trong thời gian ngài Huyền Trang
viếng thăm. Vùng này cũng là quê hương của một số lớn các vị
tu khổ hạnh đạo Kỳ na.
Ngày nay qua sử liệu và các cuộc khai quật, người ta được biết
Phật giáo ở Samatata đã rất thịnh vào thời đó. Phần lớn các tu
viện tìm thấy cho biết là có từ thế kỷ thứ 5 đến 12. Cho đến
thế kỷ này, sự tìm thấy tu viện Pattikera là chỉ qua sự ghi chú ở
phần cuối bản kinh Astasahasrika -Prajnaparamita tồn giữ trong thư viện
đại học Cambrige và một vài sử liệu ghi lại của Miến Điện. Mặc
dù các nhà khảo cổ từ lâu đã biết những gò đồi rừng rậm
gần Comilla có thể che đậy nhiều sử liệu của Bangladesh, nhưng do sự
tàn phá và các biến động chính trị cũng như vấn đề kinh tế, nên
chỉ gần đây các cuộc khai quật mới được bảo trợ và thực
hiện.
Pattikera
(Pattikeraka).
Các sử biên Miến Điện ghi rằng, vào thế kỷ 12, Miến Điện
đã có sự liên hệ tốt đẹp với vương quốc Pattikera, một nơi
chưa được xác định chính xác cho đến khi gần đây một số bia ký
khắc trên kim loại được tìm ra nơi thành phố Comilla, biên giới
Bangladesh và Assam. Các bia ký khắc trên kim loại ghi lại sự hiến
tặng một khu đất rộng của Ranavankamalla Sri Harikaladeva cho một tịnh xá
Phật giáo ở Pattikera vào năm 1220. Bia ký còn ghi Pattikera là một
thành phố lớn với nhiều thành ấp và tự viện, cũng có đề
cập đến tên các vị vua của triều đại Khadga và Deva từng cai trị
vùng này từ thế kỷ thứ 7 đến 13 đã làm sáng tỏ thêm một số
sử liệu quan trọng mà Bangladesh đã bị thất lạc.
Một cuộc khai quật khác nhắm vào khu đồi Mainamati bắt đầu năm 1955
đã tìm thấy các nền của hai tịnh xá Salban và Anandaraja. Những nhà
khảo cổ đã đánh giá khu vực di tích Mainamati có tầm cở giống
như Taksasila hoặc Nalanda.
Công trình Phật giáo đầu tiên khám phá ra nơi đây là tịnh xá
Salban, dường như được xây dựng trước cả tu viện ở Somapuri và
có sinh hoạt từ thế kỷ thứ 7 đến thế kỷ 12. Một số lớn các
dấu ấn mang tên tịnh xá Salban được tìm thấy cùng nơi. Từ nền
các nhà khảo cổ định hướng ra bốn giai đoạn kiến tạo và sửa
sang. Tất cả các kiến trúc và tháp ở đây đều làm bằng gạch.
Trong giai đoạn thứ ba, một ngôi chùa lớn tương tự như chùa ở
Somapuri đã được xây ở giữa. Chùa Salban có kiến trúc tương
tự như chùa Somapuri. Một nhóm ba ngôi tháp xây gần bên tại Kutila
Mura. Có thể ba ngôi tháp này là biểu tượng của Phật, pháp, tăng
và nhóm kiến trúc này là đền thờ Tam bảo.
Sự khám phá lớn nhất ở Mainamati cho đến nay là tịnh xá Anandaraja,
nằm trên một ngọn đồi với diện tích độ khoảng 10 cây số vuông.
Nơi này được đặt nhiều tên qua nhiều vị vua khác nhau như:
Anandadeva, vị vua thứ ba của triều đại Deva và người con kế thừa
là Bhavadeva. Tu viện bao gồm một đại điện chính ở trung tâm, tương
tự như kiến trúc ở Somapuri. Gần bên là một hồ nước khô cạn
với những bờ thành cao, có thể chứa một số lượng nước rất
lớn. Kiến trúc các nền cùng với những chạm khổ điêu khắc và
những mảnh đất nung mang hình tượng đức Phật và ngài Liên Hoa
Tạng tìm thấy nơi đỉnh đồi cho biết, tu viện đã được xây dựng
trong triều đại Pala, khoảng từ thế kỷ thứ 8 đến thứ 10 sau TL.
Gần Pattikera có những khu đồi khác, hai trong số
đó đã khai quật vào năm 1982. Khu đồi khoảng 400 feet vuông, cao 15
feet được biết là Rupban-Kanya. Khi tìm thấy, khu đồi còn nguyên các
nền gạch vuông vức mang kiến trúc một tu viện với sảnh đường
và các trụ chung quanh đại điện. Đồi này cũng như những đồi
khác ở Bangladesh bị các công trình xây dựng quân sự chiếm dụng,
và các cuộc nghiên cứu về khảo cổ đã không được tiến hành.
Chụp hình nơi đây bị cấm đoán và đất đai bị san bằng; các nhà
khảo cổ chỉ nhìn sự phá hoại này từ xa mà không làm gì được.
Chỉ một vật nghệ thuật có giá trị lấy được là chiếc chuông
bằng đồng cao 3 feet, hiện lưu giữ ở viện bảo tàng Mainamati.
Rupban Mura là một khu đồi lớn hơn nhiều nằm
cách 6 dặm về hướng nam, có lối kiến trúc như tu viện Somapuri. Ở
đây người ta tìm thấy nhiều hình tượng đức Phật nhỏ, tạc ngồi
trên tòa Kim cang với tay bắt ấn Chuyển pháp luân. Một ngọn đồi
nhỏ hơn bên cạnh còn lưu lại nền của một số tháp thờ. Những
sự kiện như vậy cho thấy tu viện này có thể được xây từ
giữa thế kỷ thứ 9 và 11.
Gần bên là một hồ nước khô, các nhà khảo cổ tìm thấy hai tôn
tượng lớn, một là hình đức Phật và tượng khác là một hóa
thân của Bồ tát Văn Thù. Những cuộc khai quật tiếp theo tại
Mainamati và các khu đồi chung quanh đã đưa ra ánh sáng và làm rõ
nên tầm quan trọng của khu vực di tích Phật giáo tại Samatata, điều
ấy có thể giúp lấp đầy khoảng trống vắng về một nền lịch sử
cổ xưa của Bangladesh.
Cattagrama.
Theo những tài liệu tiếng Tây Tạng thì tịnh xá Pandita, một trung tâm
tầm cở của Phật giáo Mật tông có liên hệ với vị Thành tựu
giả Tailapada, thầy của Nadapala người sống ở miền đông nam Bengal.
Tịnh xá Pandita nay được cho là nằm gần Jhewari, tọa lạc tại khu
đồi Chittagong. Hiện nay các hình tượng tìm thấy chung quanh Cattagrama,
trong vùng Chittagong của Bangladesh cho thấy rằng vùng này đã từng là
một trung tâm của Phật giáo đại thừa trong thời gian dài sau khi
những trung tâm khác bị tiêu diệt hoặc suy đồi. Lịch sử Phật giáo
vùng này cho biết như vậy.
Rõ ràng là Phật giáo chưa từng bị tiêu diệt trong vùng Chittagong.
Ngài Samgaraja Saramitta ở Arakan đã đến Cattagrama vào thế kỷ 18 và
chấn hưng lại cộng đồng Phật giáo nơi này. Tu viện Phật giáo Borua
ở Chittagong là tu viện trọng yếu của dân Borua, một cộng đồng
thiểu số người Bengali, và bộ tộc Chakma của vùng đồi Chittagong
đã giữ vững truyền thống Phật giáo của họ. Mặc dù những báo
cáo gần đây cho biết bộ tộc Chakma đã chịu nhiều sự ngược đãi
và đàn áp từ chính quyền, họ vẫn giữ được tịnh xá Chakma Raj,
trung tâm Phật giáo tại Rangamati và họ vẫn tiếp tục quy hướng,
thực hành giáo pháp đức Phật trong đời sống hàng ngàỵ. Năm
1984, ngài Sadhana Mahasthavir, một vị ẩn tu trong rừng ở vùng đảo quê
hương của ngài đã chấp nhận lời mời ra hoằng pháp cho cộng
đồng Chakma ở đây.
Tripura.
Tripura khi xưa là biên giới phía bắc của Pundravardhana và nay là tỉnh
lî vùng đồi thuộc chính phủ Aán Độ, nằm giữa Bangladesh và Assam.
Các trung tâm Phật giáo đã có mặt tại vùng phía nam biên giới
Tripura, giữa Comilla và Chittagong từ thế kỷ thứ 6 trở về sau. Phật
giáo ở Tripura dường như chịu ảnh hưởng và được nuôi dưỡng
bởi hai tu viện Anandaraja và Pandita, cũng như một số trung tâm Phật
giáo khác trong vùng Comilla và Chittagong.
Theo một bia ký bằng đồng ghi lại, vào thế kỷ
thứ 6 đất ở vùng nam Tripura được cấp phát để xây dựng một
trung tâm Phật giáo và tôn thờ đức Bồ tát Quán Aâm. Những
cuộc nghiên cứu khác đã tìm thấy một số công trình điêu khắc
Phật giáo ở Pilak và Jolaibari có niên đại từ giữa thế kỷ thứ
9 đến 12. Một bức tượng Hevajra có đường nét điêu tạc phức
tạp tìm thấy tại Dharmanagar cho biết, Phật giáo Kim Cang Thừa đã
được truyền bá sâu rộng đến các vùng hẻo lánh Tripura này. Theo
Abhayadatta, Virupa vị Thành tựu giả rất nổi tiếng về giáo pháp
Hevajra vốn có sinh quán ở Tripura.
Kamarupa.
Tổ thứ 5 là ngài Dhitika, cũng là đệ tử của Upagupta là vị tổ
duy nhất trong bảy vị tổ có sự quan hệ đến vùng phía đông này.
Theo Taranatha, thì khi ngài Dhitika đến Kamarupa, một Bà la môn giàu có
tên Sidda lầm tưởng ngài là thần mặt trời nên đến lễ bái. Khi
ngài Dhitika giới thiệu mình là đệ tử của Phật, Bà la môn
trưởng giả bèn xây cúng dường ngài một tịnh xá lớn trong vùng.
Theo ngài Huyền Trang thuật lại: nước Kamarupa có chu vi là 1600
dặm. Người dân ở đây thờ phượng các thần linh, ngoại đạo
đầy dẫy nhiều nơi. Phật giáo dường như chỉ được thực hành
một cách bí mật.
Tuy nhiên Kamarupa cũng là quê hương của hai vị
đại Thành tựu giả Rahula và Minapa. Ngài Rahula gặp thầy mình trong
một khu nghĩa trang, nơi ngài đang dự tính tự tử sau khi phải chịu
đựng cảnh đau yếu của tuổi già. Minapa là một người đánh cá
ở Kamarupa. Ngài đã nghe pháp khi sống trong bụng một con cá lớn vì
con cá này nuốt trửng ngài. Sau khi thiền định trong bụng cá 12 năm,
ngài đạt được giác ngộ.
Người