XỨ
PHẬT-TÌNH QUÊ II
Thích
Hạnh Nguyện
Thích Hạnh Tấn
Chương
hai
Đất Nước-Tôn Giáo-Lịch Sử
I. ĐẤT NƯỚC.
Ấn Độ có thể được phân ra thành ba vùng.
Hướng Bắc có sự bao bọc hình cung của dãy Hy mã lạp sơn, hướng
nam được bồi đắp phù sa bởi con sông Hằng và tận miền nam là
bán đảo Tích Lan.
Đất đai nguyên thủy của Aán
Độ.
Chỉ 100 triệu năm về trước bán đảo Aán Độ vẫn còn nối liền
với vùng đất lớn mà các nhà địa chất học gọi là
Pangaea. Nhiều đất đá tạo thành bán đảo Aán Độ được
bồi đắp dọc theo những vùng đất lân cận ở nam Phi, nam Mỹ, Úc
và nam cực. Do đó dãi đất vĩ đại ấy thuộc phần đất phía nam
lục địa bị vỡ ra và mảnh đất Aán Độ từ từ di chuyển về
hướng Bắc và có thể va vào các dãi đất ở Á châu. Sự va
chạm vẫn còn tác động và dãi đất Aán Độ vẫn tiếp tục bị
đẩy dưới vùng cao nguyên Tây Tạng, và dãy Hy mã lạp sơn vẫn
còn tiếp tục vươn lên.
Hy mã Lạp sơn.
Chế ngự toàn bộ các dãy biên giới hướng bắc của nam Á châu,
dãy Hy mã Lạp sơn trải dài 2500 km từ tây bắc đến đông nam,
giữa 150 và 400 km từ bắc đến nam. Những dãy núi này tạo thành
một bức chắn vững chãi giữa khu vực nam Á châu và Trung quốc.
Trong số những ngọn núi cao trên 7300 m ở Á châu, có hai ngọn ở
Hy mã lạp sơn thuộc Ấn. Các dãy Hy mã lạp sơn kéo dài từ Pamir
ở Pakistan đến tận hướng bắc của Brahmaputra ở Assam, có thể
được chia ra làm ba khu vực chính. Dãy hướng nam là Shiwalik hay
còn gọi là dãy ngoài. Hướng bắc có dãy giữa chạy song song Pir
Panjal và Dhauladhar, và tận cùng miền bắc nữa là khu vực thứ ba,
bên trong Hy mã lạp sơn, có những đỉnh cao nhất mà phần lớn ở
Nepal.
Thời gian hình thành của các dãy này có thể khởi đầu từ
Karakoram, hiện ở Pakistan, khoảng 100 triệu năm về trước. Khu vực
trung tâm của dãy Hy mã lạp sơn không thể quá thời gian 35 triệu
năm, kế đến những dãy khác người ta ước độ có khoảng tuổi
từ 25 đến 5 triệu năm trở lại.
II. TÔN
GIÁO
Ấn Giáo.
Có thể được hiểu là tôn giáo của người Ấn mà ở đây tôn
giáo đã có ảnh hưởng và chế ngự vào đời sống của người
dân Ấn từ ngàn xưa, do nơi một pháp môn tu tập nào đó. Tôn
giáo ấy theo các nhà nghiên cứu, học giả thì nó được hình
thành dần dần qua thời gian và niềm tin của quảng đại quần chúng,
khởi thủy từ sự sùng bái thiên nhiên và tế tự các ngẫu
tượng. Những hiện tượng ấy khởi nguyên và bắt nguồn từ nền
văn minh khu vực Ấn Độ cách đây khoảng 2300 năm trước TL. Trải
qua thời gian các tín ngưỡng ấy được hình thành, và hệ thống
hóa để phù hợp và ổn định với mô hình cấu tạo phức tạp
của xã hội lúc bấy giờ. Đó là khoảng thời gian 1000 năm trước
TL, và từ những định hướng ấy Ấn giáo đã đi sâu vào đời
sống, văn hóa và phong tục của xã hội, gia đình và con người bấy
giờ. Họ đã không còn cảm thấy mình tách rời ra khỏi tôn giáo
qua chính gia đình và xã hội mà họ đang sống.
Sau đây trình tự qua sách vở và nền văn học Ấn giáo, chúng ta
sẽ dần dần đi sâu và biết rõ hơn về tôn giáo khá đặc biệt
này.
Vệ Đà
Thời đại Vệ Đà kéo dài từ khoảng thời gian 1200 năm trước TL
đến 800 năm sau TL, là một thời gian dài phát triển và có nhiều
đổi thay. Xã hội của người Arian, một bộ tộc Âu-Ấn xuống đến
tiểu lục địa này vào thời gian đầu và hình thành một nền tảng
xã hội ở đây dựa trên tôn giáo, mà tầng lớp lãnh đạo trên
hết là giới tu sĩ, còn được gọi là Bà la môn. Các kinh sách
được hình thành, trọng yếu nhất là bộ kinh Vệ Đà gồm bốn
quyển: Rig, Yajur, Sama và Atharva Vệ Đà. Khởi đầu các bộ kinh này
chỉ là sự truyền miệng qua nhiều thế hệ bởi những lời ca giọng
tụng, và kinh ấy chỉ được chép xuống vào khoảng thời gian 100 năm
trước TL. Kinh Vệ Đà thật ra là những vần thơ thường được ca
và tụng trong các buổi lễ.
Rig Vệ Đà Tập là tập kinh thơ sớm nhất và quan trọng nhất trong
bốn bộ Vệ Đà. Tập này được xuất hiện chủ yếu trong vùng
Punjab, sớm nhất khoảng 1500 năm trước TL và hoàn tất trọn vẹn
khoảng 900 năm trước TL, mặc dù cũng có vài giả thuyết cho rằng
tập kinh thơ này đã có vào thời gian 5000 năm trước đó. Tập kinh
thơ này gồm có 1500 vần thơ ca ngợi và cúng tế các thần linh, chủ
yếu là Vishnu, Indra (trước là thần chiến tranh của người Arian,
nhưng giờ được xem là thần mưa), Rudra (sau này trở thành thần
Shiva) và Agni, thần lửa; và chia ra từng đoạn hoặc tám hoặc
mười vần.
Tập kinh thơ Yajur Vệ Đà được sáng tác khoảng giữa thời gian 700
và 300 năm trước TL. Tập kinh thơ này đặt trọng tâm nơi bộ Rig Vệ
Đà, nói rõ hơn về các phương pháp, nghi thức cúng hiến và tế
tự. Ở đây cũng nhấn mạnh đến những quyền lực của giới
tăng lữ, và những ảnh hưởng của giai cấp này trong xã hội.
Tập kinh thơ Sama Vệ Đà cũng được sáng tác vào khoảng cùng
thời gian trên, với khoảng 1500 bài thi kệ thánh ca, phần lớn có
những ngữ âm, điệu riêng biệt để ngâm và tán trụng trong các
buổi lễ hiến linh tế tự. Đặc biệt được dùng trong các buổi lễ
cúng tế thần mặt trăng Soma.
Tập kinh thơ Atharva Vệ Đà cũng là những vần thơ tán tụng dùng
trong các buổi lễ tế tự, và nói rõ hơn về vai trò của hàng
tăng lữ Bà la môn trong xã hội. Ở đây cũng nói đến các
phương pháp về y dược thuốc nam, công thức pha chế, trị nhiều
chứng bệnh, ngay cả bệnh bất lực của người nam.
Áo Nghĩa Thư
Được sáng tác trong khoảng một thời gian dài, bắt đầu từ năm
700 trước TL cho đến sau thời trung cổ. Áo Nghĩa Thư có nghĩa là
ngồi gần, ý nói đến những buổi giảng đạo của hàng
tăng sĩ và những tín đồ đến ngồi lắng nghe.
Bộ Áo Nghĩa Thư này ra đời đã đem lại những đổi thay to lớn
trong tư tưởng và sự hành trì của người theo Ấn giáo. Họ không
còn phải cúng thờ, sùng bái và tin tưởng suông qua các nghi lễ
mà hàng tăng lữ lúc bấy giờ thường chủ động và đặt nặng,
thay vào đó bắt đầu đi vào phương pháp hành trì, tu tập; tìm cách
hợp nhất bản ngã về lại với đại ngã là đấng Phạm Thiên. Có
tất cả hơn 100 tập Áo Nghĩa Thư khác nhau trình bày về cách thức
và phương pháp tu hành. Ngôn ngữ bên trong rất siêu hình, trừu
tượng và thật khó hiểu.
Bộ Áo Nghĩa Thư là biểu tượng căn bản và quan trọng nhất trong
Ấn giáo. Các bộ kinh trước chủ yếu nói nhiều về nhất ngã cùng
đại ngã Phạm Thiên. Nhưng các bộ Áo Nghĩa Thư về sau này thường
đề cập trực tiếp hướng về ca tụng Thượng đế Rudra.
Trong Áo Nghĩa Thư cũng nói về phương pháp tu hành và quán chiếu
chữ Om, âm thanh của đấng Phạm Thiên. Có bộ Áo Nghĩa Thư ngắn
nhất gồm chỉ có 12 bài kệ, nói về các thế giới vĩnh cữu của
đấng sáng tạo.
Hai sử thi lớn trong
Ấn giáo.
Mahabharata
Thi kệ này gồm có 100,000 bài kệ kể cả những thiên hùng ca khoảng
16,375 kệ. Thi kệ Mahabharata này được xem là thi kệ dài nhất trên
thế giới. Được sưu tập khoảng thời gian bắt đầu từ 300 năm
trước TL và hoàn tất năm 500 sau TL. Thi kệ này kể lại những trận
chiến dữ dội thời xưa giữa hai gia đình Pandava (biểu tượng hóa
thân của các thần linh) và Kaurava (biểu tượng hóa thân của các
loài quỷ). Những dữ kiện lịch sử nguyên thủy là một câu chuyện
thế tục và dần dần được đưa vào trong tôn giáo bởi những tu
sĩ Bà la môn. Mahabharata cũng có một ý nghĩa đặc thù trong việc
đưa vào hình ảnh Krishna, người xem là hiện thân của thần Vishnu.
Krishna là một vị thần rất phổ cập trong Ấn giáo. Theo truyền thuyết
thì khi Krishna còn trẻ, vị ấy thường rất thích bơ, sửa và thường
lén lút đi trộm những thứ này. Nổi danh nhất của Krishna là thời
niên thiếu và kinh điển Aán giáo ghi lại rằng, Krishna có 16,108 bà
vợ và 180,008 người con.
Người ta cũng thấy rằng chuyện kể về Krishna được ghi thuật trong
Puranas với sự phê bình, xem đó là chuyện phi luân trong quan hệ con
người.
Bhagavad Gita
Được xem là một tác phẩm triết học nổi tiếng của Mahabharata, và
cũng được xem là tác phẩm có ảnh hưởng và phổ biến nhất trong
các bản kinh của Ấn giáo, nói lên tư cách và mô phạm cuả Krishna
đối với Arjuna, một trong năm anh em Pandava, khi họ đang chờ một trận
đánh lớn ở Mahabharata. Arjuna bị đặt những câu hỏi về đạo
đức khi giáp trận, và đâu là điều đúng để thực hiện, ngay
cả lý do khi phải dự mình vào các cuộc giết hại. Krishna nói rằng,
người ta phải lưu tâm đến hành động mình làm chứ không phải
là kết quả. Krishna cũng nói đến những bổn phận và lòng sùng
tín cần có của một con người đối với đạo. Nói đến các hành
động đúng và sai, thiện và ác, công đức của việc làm, niềm tin
đối với đại ngã và biệt ngã của riêng mình.
Tóm lại Bhagavad Gita được xem là một phần của Áo Nghĩa Thư, đặc
biệt là nói đến phần thanh lọc và chuyển hóa biệt ngã của mình
thành đại ngã của Phạm Thiên. Bhagavad Gita đã có những ảnh
hưởng lớn trong nền tảng triết học Ấn giáo và phổ biến sâu
rộng trong quần chúng vào thời gian sau này.
Ramayana
Có lẽ được kết tập vào khoảng thời gian sau này, 350 trước TL
và 250 sau TL. Cũng giống như Mahabhrata, nguyên bản của Ramayana gồm có
nhiều điểm thế tục và được hình thành ngôn ngữ Prakrit, và chỉ
sau đó mới được chuyển dịch sang Phạn ngữ và đưa vào tôn giáo
bởi những hàng Bà la môn. Tất cả gồm có 24,000 thi kệ và được
chia thành 7 cuốn sách. Khác với Krishna, Rama được miêu tả trong
hình ảnh một vị vua, sống với trách nhiệm và tình yêu.
Quyển đầu nói về thời gian lúc thơ ấu của Rama (mấy thế kỷ sau
được người ta tin sùng Rama là hóa thân của thần Vishnu). Quyển hai
nói đến hôn nhân của nhà vua với công chúa Sita (con của vua Janak).
Tập ba kể lại chuyện hoàng hậu Sita bị quỷ vương Ravana bắt cóc đem
đi. Tập bốn nói về nhà vua sống chung với khỉ vương, người giúp
vua xây một chiếc cầu và trong tập năm, vua tiếp tục đi đến xứ
sở Lanka. Tập sáu kể về chi tiết trận chiến giữa vua Rama và quỷ
vương Ravana. Nhà vua đã thắng sau khi giết được quỷ vương và đưa
hoàng hậu trở về Ayodhya. Tập bảy kể về cuộc ghen tương của nhà
vua và hình phạt đối với hoàng hậu bằng cách đày bà vô rừng.
Tại đây bà đã sanh được đứa con trai và phần cuối câu chuyện
là sự đoàn tụ trùng phùng giữa nhà vua Rama, hoàng hậu và tiếp
theo là cái chết của bà.
Ấn giáo thời trung cổ
Vào khoảng thời gian đầu thời hoàng kim thứ hai sau Tây lịch, Ấn
giáo bắt đầu chia rẽ ra làm hai bộ phái chính, một bên tôn thờ
thần Shiva và bên kia tôn thờ thần Vishnu. Tiến trình phân chia này
được tiếp diễn trong nhiều thế kỷ, mà bên trong còn có những
chia rẻ ra thành các nhánh nhỏ khác nữa.
Một trong những phát triển nhất ở thời đại trung cổ là sự nổi
lên niềm tin sùng bái vào một đấng mà trong Ấn giáo gọi là
Bhakti. Một sự kết nối các tư tưởng dẫn đến những thay đổi
đã được tìm thấy trong Purana và Áo Nghĩa Thư.
? Purana
Là một tập gồm 18 bộ thi kệ chỉ bày những hướng dẫn về lễ nghi
tôn giáo và truyền thuyết, được kết tập vào khoảng giữa thời
gian thế kỷ thứ 6 và 16 sau TL. Purana nghĩa là cổ xưa. Mỗi bộ gồm
những diễn giải về sự hình thành của vũ trụ, lịch sử của nó,
sự hủy diệt và tái tạo lại, theo dòng truyền thừa của các vị
thần thánh. Tất cả những bản văn ghi lại này theo dạng đối
thoại, và giống như bộ Áo Nghĩa Thư, ở đây cũng nhấn mạnh về
sự tu tập chuyển hóa thức ngã của mình để trở về hợp cùng
đại ngã của đấng sáng tạo. Trong phần sử lược có ghi lại rất
nhiều điều quan trọng về các huyền thoại cũng như trình bày sự
phát triển về những mặt kiến trúc và nghệ thuật. Các bản văn
này đồng tán thán các vị thần linh được xem là tối cao lúc bấy
giờ, Vishnu, Shiva và Brahman (Phạm Thiên).
Vishnu Bộ nói về thần Vishnu như một đấng sáng tạo và duy trì vũ
trụ này, nhấn mạnh đến pháp môn Bhakti, ghi về chuyện thần Krishna,
giải thích những nghi lễ và tiến trình về sự chết. Chủ trương về
ngành thiên văn và việc tôn thờ mặt trời, giải thích về sự
hình thành của thế giới.
Shiva Bộ gồm có những phần luận bàn được quy về thần Shiva, và
về triết học tôn thờ dương vật, cũng như nói sâu về những
niên địa lịch sử, về vũ trụ học và về y học.
Phần đầu Brahma Bộ viết về Surya, thần mặt trời. Những phần khác
nói về hôn nhân giữa Krishna và Radha (trong Bhagavata Purana) để nói
lên hình ảnh của linh tượng Thiên mẫu.
Tất cả gồm có 18 bộ được đề cập đến và xem đó như là một
đại bộ, và để phân biệt với những Tiểu bộ khác thường
được sáng tác và kết tập vào các thời gian sau này.
Ấn Độ giáo
thời hiện đại.
Một trong những triết gia cũng là vị tổng thống tiền nhiệm của Ấn
Độ có nói: Tôn giáo đối với người Ấn Độ không phải
là ý tưởng mà là quyền lực, không phải là những triển vọng
và kiến thức mà là niềm xác tin cuộc đời. Tôn giáo là linh
hồn của thực tại tuyệt đối, không phải là lý thuyết về
Thượng đế.
Điều ấy không nhất thiết phải nói đến niềm tin vào đạo dựa
trên các kinh tập. Vì những bộ Vệ Đà vẫn được người Ấn xem
là bộ kinh tối linh thiêng. Tuy nhiên ngày nay không phải tất cả
những người Ấn đồng có một niềm tin chung vào một Thượng đế
tối linh. Trong bối cảnh như vậy nhiều người có thẩm quyền tranh
luận rằng, như vậy là đã đưa dẫn người ta nghĩ sai lạc về Ấn
giáo như là một tôn giáo.
Riêng Ấn giáo thì vẫn có những ảnh hưởng, và ngự trị trong
đời sống của người dân. Đối với Phật giáo nó vẫn có những
liên hệ và các ảnh hưởng mập mờ, nên đôi khi khó mà phân
biệt được đâu là một người theo Ấn giáo thuần thành và là
người phật tử thuần thành.
Những pháp tu trong
Ấn Độ giáo. Darshana.
Trong Ấn giáo còn được hiểu là linh ảnh, cái
thấy, ánh sáng trí tuệ được áp dụng cho tất cả
các hệ thống triết học. Cũng như Du già Vedanta, Darshana được dùng
để diễn tả ánh sáng của thần linh mà tín đồ tôn thờ mong cầu
đạt được khi họ viếng thăm một ngôi chùa hay đền thờ. Cũng
giống như vậy khi người ta mong đạt được ánh sáng trí tuệ qua
các buổi cầu nguyện hoặc thiền định.
Bốn mục tiêu con người
Nhiều người theo Ấn giáo cũng chấp nhận rằng, có bốn mục tiêu
chính mà con người mong cầu đạt được, đó là: thành tựu vật
chất, thỏa mãn các dục ý, làm tròn phận sự trong cuộc đời, và
mục tiêu sau cùng là mong muốn đạt được sự giải thoát khỏi
vòng sống chết luân hồi. Tầm cầu sự giải thoát chính là điểm
chính yếu của phần lớn các trường phái triết học Ấn Độ ngày
nay hướng về. Song song vào đó là nguồn đạo, và đây là những
gì căn bản trong tư tưởng Ấn giáo ngày nay.
Đạo
Kinh bộ Mahabharata có lập ra 10 sự thể hiện của đạo, đó là:
tiếng tốt, sự thật, kiểm soát ngã, trong sạch thân và tâm, đơn
giản, sự chịu đựng, quyết tâm, bố thí và chia sẽ, sự nghiêm
khắc và trinh tiết. Trong lối suy nghĩ đạo này, có năm phẩm hạnh
làm gương không thể thiếu được, đó là: bất bạo động, tâm ý
bình đẳng, an lạc và thư thái, không hung bạo và tàn nhẫn, và
tránh đố kî. Đạo là biểu hiện những nguyên tắc sống trong đời
sống con người. Đây là những điểm căn bản thuộc về thế gian
hơn là tôn giáo, vì nó không tùy thuộc vào bất cứ sự mặc
khải hay truyền phán nào từ đấng Thượng đế.
Nghiệp.
Thuyết nghiệp báo này có liên hệ đến những việc làm đời
trước, trọng tâm hiểu về nghiệp báo này cũng chính là sự mong
cầu cởi bỏ để tìm về giải thoát. Thuyết này giống thuyết nghiệp
báo trong đạo Phật, nói về nhân đã gây tạo, và những kết quả
sau đó mà người ta sẽ thọ lãnh.
Tái sinh.
Là niềm tin về sự chuyển đổi của linh hồn và linh hồn ấy
thường hay thay đổi tùy theo nghiệp báo mà người ấy đã tạo, và
sẽ không bao giờ linh hồn ấy chấm dứt. Thuyết tái sinh này cũng
là một thuyết đặc biệt và quan trọng, đóng góp lớn cho nền văn
hóa Ấn giáo ở toàn vùng châu á. Niềm tin về thuyết tái sinh
được tìm thấy đầu tiên trong bộ Áo Nghĩa Thư, khoảng từ thế kỷ
thứ 7 trước TL. Thuyết về nghiệp báo cũng được thấy khoảng
cùng thời gian ấy. Trong những bộ Áo Nghĩa Thư về sau, thuyết này
được hoàn toàn chấp nhận và ngay cả Phật giáo hay Kỳ na giáo
cũng không có hồ nghi hay phủ nhận về thuyết tái sinh này.
Sáu trường phái triết học
trong Ấn giáo
Yoga.
Là một phương pháp thiền định tập làm chủ tâm ý để hướng
mình về giải thoát, vượt ra khỏi vòng sống chết luân hồi. Ở
đây có thể đi ngược lại hệ thống tư tưởng và pháp tu này
để biết rằng nó hình thành sớm nhất là khoảng từ thế kỷ thứ
3 sau TL. Đây chỉ là một phần của hệ thống Vedanta, những phần sau
cùng của kinh văn Vệ Đà và Áo Nghĩa Thư. Những kinh văn căn bản
của trường phái Yoga cũng có cả trong kinh Phạm Thiên của Badrayana,
viết vào khoảng thế kỷ thứ nhất sau TL. Và quan trọng hơn hết là
Bhagavad Gita, một phần của thiên hùng ca Mahabharata.
Vedanta.
Có nhiều sự diễn giải về các bản kinh văn căn bản này. Ba
trường phái chính của Vedanta đặc biệt quan trọng là: Advaita Vedanta.
Theo như trường phái này thì không có sự phân chia giữa các năng
lực vũ trụ và các nguyên lý, đấng Phạm Thiên và linh hồn bản
ngã con người. Cái thấy khác biệt chúng ta thường thấy ở mỗi
người chỉ là kết quả của cái nhìn vô minh. Ở đây đôi khi còn
được dịch là huyễn hoặc mê mờ, nhưng triết học Vedanta không cho
rằng thế giới mà chúng ta hiện đang sống là huyễn hoặc mê mờ.
Hơn thế nó chỉ cho rằng, bởi vì chúng ta còn bị giới hạn trong cái
nhìn trí tuệ nên sự thấy biết của chúng ta bị ngăn che, không thấy
được hoàn toàn thực tại tuyệt đối của tiểu ngã và đại ngã
Phạm Thiên.
Shakaracharya sống vào thế kỷ thứ 7 sau TL và được xem là nhà
thông thái nhất trong triết học Ấn giáo, luận rằng, thật ra không
có ngã hoặc linh hồn tách biệt khỏi năng lượng sáng tạo của vũ
trụ, còn gọi là Phạm Thiên. Ông cho rằng, hoàn toàn không thể có
sự giải thoát với bất cứ việc tu hành nào kể cả thiền định,
cúng tế và cầu nguyện. Ở đây ông ta nói, những dấu hiệu ấy
cho thấy, người ta đang còn ở mức độ thấp, và chưa thật sự
chuẩn bị cho sự giải thoát chân thật.
Vishishtadvaita.
Sự tin tưởng của Shankaracharya bị bác bỏ bởi trường phái Vadanta,
cùng với nhà triết gia Ramanuja thế kỷ thứ 12. Ông ta đã chuyển ý
tưởng Thượng đế từ một năng lực thuộc ngoài phạm vi con
người sang Thượng đế của con người. Trường phái triết học của
ông ta được biết dưới tên là Vishishtadvaita, có cái nhìn về ngã
và thế giới này là thật, nhưng chỉ là một phần của toàn thể.
Ngược lại với tư tưởng Shankaracharya, sự sùng kính là điểm
thiết yếu để đạt đến giải thoát, và phục vụ Thượng đế trở
thành mục tiêu cao nhất trong đời.
Thờ phượng.
Những sự trừu tượng của triết học không có nghĩa gì nhiều
đối với hàng triệu tín đồ Ấn giáo ở nhiều khu vực nam á châu
ngày nay, hoặc là trong quá khứ. Ông Radhakishnan đã đưa ra một cái
nhìn rất phổ thông đối với những người theo Ấn giáo: bất
luận khái niệm nào về Thượng đế mà chúng tôi được thừa
hưởng, chúng tôi vẫn không ngừng đi tìm kiếm chân lý của sự
thật.
Huyền bí trong thiên nhiên.
Một số người Ấn giáo tin rằng, có một vị Thượng đế tối cao
tạo ra những vị trời thần nhỏ hơn và vũ trụ này. Những vị thần
Ấn giáo kể cả những vị được kể trong Vệ Đà vào thời gian
Aryan ban đầu; những vị ấy thường đi cùng với các năng lực
thiên nhiên và người ta sùng bái các đối tượng thiên nhiên
ấy. Các đỉnh núi, cây, đá và sông được xem là những nơi chốn
thiêng liêng, huyền bí. Công viên quốc gia Khaptad ở miền tây Nepal
cũng được xem như vậy, và đây là một thí dụ điển hình. Tất
cả những nơi đó đều có các thần linh riêng biệt canh giữ. Chúng
ta có thể thấy những tin tưởng, những thờ phượng, lễ bái các
thần linh, ma quỷ này còn tồn tại ở bất cứ nơi nào trên đất
nước Nepal.
Qua các dữ kiện lịch sử phát triển trong Ấn giáo, những vị thần
linh cũng đã trải qua nhiều giai đoạn đổi thay. Rudra, một vị thần
hủy diệt trong Vệ Đà đã trở thành thần Shiva, một trong hai vị
thần linh được thờ phượng nhiều nhất trong Ấn giáo ngày nay. Có
lúc nhiều vị thần khác đã biến mất, nhưng rồi sự tồn tại của
Ấn giáo đã dẫn đến sự xuất hiện tên của nhiều vị thần mới
và người ta đã sùng bái cho đến ngày nay.
Hành hương
Nhiều người Ấn giáo cho rằng, sẽ hưởng được những lợi ích
rộng lớn khi đi hành hương đến thăm và chiêm bái những nơi mà
các vị thần linh đã từng khai phá và sống ở đó. Không phải chỉ
ở nơi nổi tiếng như Pashupatinath, mà là những đền chùa, những
đỉnh đồi và các con sông trải dài khắp xứ sở Nepal. Nhiều
người hành hương còn đi đến vùng Ba la nại để chiêm bái, nơi
có nhiều đền thờ thiêng liêng và con sông Hằng huyền bí.
Hành lễ.
Thờ phượng, lễ bái và cầu nguyện là những gì mà mỗi tín đồ
Ấn giáo thường thực hành trong đời sống hàng ngày. Trong nhà
mỗi gia đình theo Ấn giáo, mọi người đều có một bệ thờ riêng
để mỗi sáng và tối họ có thể làm lễ. Họ cũng thường hay đi
đến các đền thờ hay đi hành hương mỗi khi có lễ lược lớn
trong năm.
Thông thường các việc lễ bái và cầu nguyện thường hay nhắm
đến những ước vọng thường nhật trong đời sống như: cầu
được mạnh khoẻ, có được người vợ hiền, chồng tốt, sinh
được con trai, buôn may bán đắt. Và có thể đây cũng là những
điều cầu nguyện chung của mọi người, dù đó là một tín đồ Ấn
giáo hay Phật giáo thì cũng vậy.
Khi hành lễ thông thường người ta dâng cúng các phẩm vật lên
chư thần linh, mặc dù cũng có những nghi thức khác như nhảy múa,
ca hát cúng dường. Sự lễ bái thường cũng là những phép tắc
tôn kính căn bản khi làm lễ của mỗi người. Các đền thờ, chùa
chiền Ấn giáo nhiều lúc chỉ là những ngôi đền, miếu nho nhỏ nằm
nơi một góc hoặc trên các đường phố, bên trong có đặt tượng
một vị thần nào đó và đền ấy chịu sự trông coi của một tu sĩ
lâu lâu ghé thăm để lo chuyện dâng cúng và làm lễ.
Những hình tượng.
Hình tượng của các vị thần linh có thể được thấy trong nhiều
hình dạng khác nhau. Có thể chùa này thờ thần Vishnu, và chùa kia
thì thờ thần Shiva. Một số các chùa khác thì thờ thần Parvati, vợ
của thần Shiva, hay thờ thần Lakshmi vợ của thần Vishnu. Những hình
tượng của các thần này là đối tượng của các sự tôn thờ,
lễ bái và cầu nguyện. Người tín đồ sùng đạo thường đến cầu
nguyện và làm lễ nhiều lần trong ngày và trong năm. Những vị tu sĩ
thì làm các lễ cầu thỉnh chư vị thần linh, tắm rửa, mặc y áo cho
tôn tượng và dâng cúng cả thức ăn cho tượng. Người đến làm
lễ thường cúng tiền, nhang đèn, hương hoa và để trước tôn
tượng. Những vật cúng và tiền bạc ấy sẽ được vị tu sĩ hoặc
người có trách nhiệm cất giữ để dùng chi phí vào các dịp lễ
lược lớn sau này.
Các phái thờ của Ấn giáo.
Có ba vị thần được xem là chính yếu trong Ấn giáo, Brahma, Vishnu và
Shiva. Những công năng và đặc điểm của các vị thần ấy không
phải khác biệt lắm. Trong khi Brahma (Phạm Thiên) được xem là khơi
nguồn tuyệt đối của sự sáng tạo, thì Shiva cũng được xem có vai
trò sáng tạo trong ấy, cùng lúc là vai trò hủy diệt. Thần Vishnu
thì ngược lại, là vị thần duy trì và bảo vệ vũ trụ này.
Có rất ít hình ảnh thần Brahma được thờ phượng, nhưng các thần
Shiva và Vishnu thì được người ta sùng bái và thờ phượng ở
khắp mọi nơi.
Các thần linh
Brahma.
Trong những bộ Vệ Đà sớm nhất có ghi về Brahma như một vị thần
sáng tạo, và đầy quyền năng thống trị cả vũ trụ. Dần dần sau
đó triết học Vệ Đà hướng đến sự diễn giải về thuyết độc
thần, nói về vũ trụ và khởi nguyên của nó, và quyền năng
thiêng liêng của vị thần sáng tạo ấy dần dần được nhân cách
hóa thêm.
Một vài truyền thuyết sớm nhất về Brahma mà về sau được đưa gá
vào cho thần Vishnu. Ví dụ như trong một câu chuyện về Brahma mà
người ta tin rằng đã cứu thoát trái đất khỏi cơn nước lũ khi
Brahma hiện thân làm một con cá hay một con rùa. Trong một câu chuyện
khác Brahma đã hóa thân làm một con heo. Tất cả câu chuyện này về
sau có nhiều điểm tương tự với các hóa thân của Vishnu.
Vào thế kỷ thứ 4 và thứ 5 sau TL, Brahma lúc ấy lại được xem là
một trong ba vị có quyền năng cao tột nhất trong Ấn giáo cùng với
Vishnu và Shiva. Từ Brahma mà vũ trụ học trong Ấn giáo được hình
thành. Chu kỳ căn bản mà toàn bộ vũ trụ này trải qua được
diễn đạt như một ngày trong đời của Brahma một kiếp. Ở đây
đồng như 4,320 triệu năm, tương đương với một đêm dài. Một năm
trong cuộc đời Brahma một năm của vũ trụ- dài 360 ngày và
đêm. Vũ trụ này được cho là tồn tại đến 100 năm của đời
sống Brahma, mà hiện tại người ta tin rằng đã được 51 tuổi.
Vào thế kỷ thứ 6 sau TL, sự tôn thờ Brahma đã dần dần mất hẳn,
trước khi người ta bắt đầu xây nhiều đền chùa. Tuy nhiên ngày
nay cũng còn một số chùa thờ Brahma ở Pushkar và Rajasthan. Hình ảnh
Brahma được thấy với bốn mặt và bốn tay. Trong các tay cầm nhiều
vật khác nhau, thường là bộ kinh Vệ Đà, một cây trượng, một
bình nước và một cái cung. Brahma được một con ngỗng đi theo,
tượng trưng cho tri thức.
Sarasvati.
Là quyền năng của Brahma, cũng thường được xem là người phối
ngẫu. Sarasvati vẫn còn tồn tại trong thế giới Ấn giáo ngày nay, và
có tầm quan trọng còn hơn chính cả Brahma. Trong sự sùng bái thông
thường, Sarasvati là biểu tượng của thần nữ tri thức và học
vấn. Sự phát triển đặc tính của Sarasvati nói lên điều xuất hiện
về khái niệm một vị thần nữ, có đặc điểm mạnh mẽ vào thời
gian văn minh nơi vùng thung lũng Ấn Độ vào khoảng 1000 năm trước
đó. Điều ấy có thể là sự kéo dài về ý tưởng tôn thờ vị
nữ thần bấy giờ đang thịnh hành. Có thể nguồn gốc của Sarasvati
liên hệ đến truyền tích làm khô cạn dòng sông Sarasvati ở
Rajasthan, nhưng không như Brahma, thần nữ Sarasvati vẫn còn đóng vai
trò quan trọng trong sự sùng bái của người Ấn giáo mãi cho đến
ngày nay. Hình ảnh Sarasvati thường thấy là màu trắng, cỡi trên
lưng con thiên nga, tay cầm một cuốn sách. Sarasvati có thể được
thấy với nhiều đầu và nhiều tay, biểu tượng cho sự gia hộ tất
cả các môn học về khoa học và nghệ thuật. Sarasvati được tôn
sùng nhiều nhất ở các trường và đại học.
Vishnu.
Có hình ảnh là vị thần với khuôn mặt người. Từ thế kỷ thứ
hai sau tây lịch, phong trào sùng bái thần Vishnu trở nên thịnh hành
ở miền nam Ấn. Năm 1000 sau tây lịch, phái thờ thần Vishnu lan rộng
đến các vùng và cùng nhập chung với các phái Ấn giáo khác.
Cũng vào thời gian ấy, người ta cho rằng các truyền thuyết về 10
hóa thân của Vishnu được dựng lên.
Mười hóa thân
của thần Vishnu
1. Tên vị thần: Matsya.
Hóa thân: Cá.
Truyền thuyết: Thuở xưa khi trái đất này còn bị che phủ bởi
nước. Thần Vishnu đã hiện thân làm một con cá để cứu Manu
(người đầu tiên), gia đình ông ấy và Vedas. Câu chuyện này cũng
giống như câu chuyện Noah Ark.
2. Tên vị thần: Kurma. Hóa
thân: Rùa.
Truyền thuyết: Cũng vào thời nước dâng tràn ngập ấy, Vishnu hóa
thân làm một con rùa lớn để vớt lấy tất cả những bảo vật bị
mất trong cơn nước lũ. Trong đó kể cả nước cam lồ linh dược mà
các vị thần thánh dùng để giữ sự trẻ đẹp của mình. Lúc ấy
có một vị thiên nữ Lakshmi giúp đặt ngọn núi (Kailash) lên lưng
rùa thần Kuma, để rùa có thể lặn sâu xuống lòng đại dương mà
tìm bảo vật. Nó gặp rắn thần và rắn ấy quấn mình quanh ngọn núi.
Thiên nữ bèn làm biển nổi sóng lớn, đẩy dạt ngọn núi đi và
kéo theo cả rắn thần. Bấy giờ những chất cam lồ và linh dượt
nổi lên mặt nước cùng với các bảo vật. Sau đó thiên nữ
Lakshmi trở thành vị phối ngẫu của thần Vishnu.
3. Tên vị thần: Vahara.
Hóa thân: Heo.
Truyền thuyết: Thần Vishnu lại hiện thân xuống để cứu trái đất
khỏi cơn nước lũ, do sự sai khiến của quỷ vương Hiranyaksa. Câu
chuyện có lẽ bắt nguồn từ huyền thoại của người Aryan về một
con heo thần.
4. Tên vị thần: Narasimha.
Hóa thân: nửa người nửa sư tử.
Truyền thuyết: Quỷ vương Hyranyakasjpu đã làm cho Phạm thiên phải
hứa rằng, hắn sẽ không bị giết, dù là ngày hay đêm, bởi trời,
người hay thú vật. Kế đó hắn làm cho tất cả mọi người kinh
sợ. Tuy nhiên khi các vị trời hứa sẽ giúp đỡ trong việc tiêu
diệt quỷ vương, thần Vishnu lên tiếng từ một chiếc trụ trong cung
điện của quỷ vào lúc chạng vạng tối. Khi ấy không phải là ngày
cũng chưa phải là đêm, trong hóa thân nửa người nửa sư tử,
Vishnu liền giết quỷ vương.
5. Tên vị thần: Vamana.
Hóa thân: người lùn.
Truyền thuyết: Bali, một con quỷ khác đạt được những phép tắc
thần biến rất ghê sợ sau khi đã thực hành những pháp tu khổ
hạnh. Để che chở cho thế giời này, thần Vishnu hiện thân ra trước
quỷ trong hình dạng của một người lùn và hỏi xin hắn một ân
huệ. Quỷ Bali đồng ý và Vishnu hỏi xin một khu đất lớn bằng ba
bước dài. Quỷ hứa cho và khi ấy thần Vishnu bèn hiện thân thật
khổng lồ, bước ba bước che khắp cả mặt đất. Không còn lại gì
hết ngoại trừ địa ngục cho quỷ.
6. Tên vị thần: Parasurama. Hóa
thân: Rama với chiếc búa.
Truyền thuyết: Vishnu hiện thân người, làm con của một Bà la môn
có tên là Jamadagni. Khi cha bị tên ác vương cướp hết của cải,
Parasumara bèn đi giết tên vua gian ác này. Kế đó người con của vua
lên ngôi và giết lại Jamadagni để trả thù cha mình. Parasumara bèn
trả thù lại giết hết tất cả người nam trong thành.
7. Tên vị thần: Rama.
Hóa thân: Thái tử.
Truyền thuyết: Vishnu hóa thân làm một vị thái tử để cứu thế
giới này ra khỏi sự đen tối của quỷ vương Ravana. Câu chuyện này
được kể trong Ramayana, qua đó người ta thấy được lòng sùng tín
và sự chịu đựng khổ nhọc của thái tử, cùng với lòng thủy
chung của vợ là nàng Sita. Ở thiên sử thi này người ta cũng
thấy được sự tạo dựng của Hanuman, khỉ thần, một biểu tượng
của sức mạnh và lòng trung thành, hiện nay vẫn còn được xem là
một vị thần linh rất được biết đến và đang còn tôn thờ ở
Nepal và Ấn Độ.
8. Tên vị thần: Krishna.
Hóa thân: có nhiều hóa thân.
Truyền thuyết: Những câu chuyện về các hóa thân của Krishna, thời
thơ ấu và trưởng thành trong ngữ từ Basham, đều là cứu giúp
tất cả cho mọi người. Khi còn bé Krishna đã làm cho mọi bà mẹ
yêu thương. Lớn lên trong tình yêu, Krishna đã phá vỡ những lề
lối cấm đoán cổ xưa của xã hội, và đưa tình yêu lên đến tột
đỉnh của những khát khao và thỏa mãn qua sự tự do và phá rào
những ràng buộc của xã hội. Khi làm người đánh xe ngựa của anh
hùng Arjuna trong chiến trận Kukukshetra, Krishna là người giúp tất cả
những ai đến với mình và cứu họ thoát khỏi sự tái sanh vào
những cảnh giới ác, nếu kẻ ấy có đủ niềm tin vào đấng thiêng
liêng.
9. Tên vị thần: Đức Phật.
Truyền thuyết: Có lẽ người Ấn lấy đức Phật đưa vào tên các
vị thần trong Ấn giáo để làm mất thể diện Phật giáo, một tôn
giáo rất lớn đã làm ảnh hưởng toàn vùng nam á châu. Theo
những sự diễn giải sớm nhất của người Ấn giáo, họ cho rằng
Vishnu hóa thân làm đức Phật để tỏ lòng từ bi đối với các
loài vật và cứu loài thú này khỏi những nạn chết vì tế lễ.
10. Tên vị thần:
Kalki.
Hóa thân: Cỡi
trên một con ngựa.
Truyền thuyết: Khi Vishnu đến sẽ kéo theo sự hủy diệt sau cùng của
thế giới này, để phán xét những điều xấu ác, và tưởng
thưởng những điều tốt.
Hanuman.
Là con khỉ trung thành phụ giúp Rama trong cuộc tìm kiếm nàng Sita.
Hanuman được tôn thờ khá phổ biến đối với những người Ấn
giáo thuộc nam á châu. Trong Ramayana có kể về chuyện Hanuman trở
thành khỉ chúa và dẫn đàn khỉ đi tìm ở khắp Ấn Độ khi nàng Sita
bị bắt cóc. Sau cùng nó đã tìm thấy nàng trong một khu rừng của
quỷ vương Ravana ở Tích Lan. Qua bao cuộc chiến đấu và mưu mô, Hanuman
đã cứu được công chú Sita cho chủ mình. Bất cứ thân tướng gì
mà Hanuman hiện ra, người ta đều dễ dàng nhận được vì Hanuman
thường được tô điểm với màu đỏ.
Shiva.
Được tôn thờ như là một vị thần sáng tạo lẫn hủy diệt, có
đầy đủ sức mạnh và quyền năng đối với vũ trụ này. Thần
Shiva ngự trên núi Kailash với vợ và hai con là nàng Parvati, thần
đầu voi Ganesh và thần 6 đầu Kartikkeya. Shiva thường được thấy đi
cùng với chiếc cỗ xe bò.
Shiva thường ít được thấy hơn là thần Vishnu nhưng trong các chân
dung và điêu khắc thì có nhiều, nổi tiếng là Natraj, hoặc Nataranjan
với hình ảnh vũ múa trong vầng lửa tròn. Shiva cũng được họa
theo hình một vị tu khổ hạnh, ngồi thiền định trên đỉnh núi Kailash
cùng với vợ là nàng Parvati.
Được phổ biến hơn cả những hình ảnh trước là Shiva với biểu
tượng nơi chùa Shaivite trong hình tượng dương vật, tượng trưng cho
năng lực, có khả năng sinh sản và sự hiệu nghiệm. Hình ảnh này
đã trở thành hình ảnh quan trọng bậc nhất đối với sự sùng
bái tôn thờ thần Shiva. Giáo sư Wendy OFlaherty cho rằng, sự tôn
thờ dương vật của Shiva ở các xã hội thời tiền Vệ Đà đã
có trong nền văn minh thung lũng Ấn Độ (2000 năm trước TL), nhưng
điều ấy chỉ thấy xuất hiện sớm nhất khoảng thế kỷ thứ hai
trước TL.
Từ thời gian ấy đi, có rất nhiều truyền thuyết khác nhau xuất
hiện để giải thích về nguồn gốc tôn thờ dương vật. Những huyền
thoại đó tựu chung là về 12 loại dương vật, được tìm thấy ở
những trung tâm như Ujjanin tại Aán; khoảng thế kỷ thứ 2 trước TL,
và dần dần phát triển để giải đáp và phù hợp với việc tôn
thờ dương vật. OFlaherty đã dịch câu chuyện về sự tranh đua
giữa các vị thần, trong đó Shiva (lúc ấy hóa thân là thần Rudra)
đã làm cho những vị thần khác kinh sợ và phải tôn thờ mình
với lòng sùng kính qua hình ảnh dương vật. Bản dịch về truyền
thuyết Paranic được tổng kết như sau: biết rằng các vị thần
đã hóa hiện làm nhiều thân tướng khác nhau: Shiva làm Rudra, Sambha
làm Sankara, Vishnu làm Hari, và Phạm Thiên làm Ka.
Ganesh.
Ganesh là một trong những vị thần được biết đến nhiều nhất trong
Ấn Độ giáo, với sự phù trợ và độ thoát qua mọi ách nạn.
Thần Ganesh được hiển thị với hình ảnh thân người đầu voi và
hình ảnh này đã được tôn thờ ở khắp Nepal lẫn ở Ấn Độ.
Trong những cuộc họp mặt, tổ chức hoặc những lúc gia đình tụ
hội về, người ta thường bắt đầu bằng những bài kinh cầu nguyện
đến thần Ganesh. Và cũng trong các cuộc làm ăn nào, mở tiệm hoặc
khánh thành một cơ sở nào, người ta cũng cho rằng sẽ không thành
tựu nếu không có những buổi lễ cầu nguyện thần Ganesh. Vào dịp
lễ đăng quang của nhà vua Nepal, ông cũng đến đền thờ thần Ganesh
ở công trường Dubar tại Kathmandu để đảnh lễ và cầu nguyện thần
Ganesh này.
Shakti Thần nữ.
Một trong những sự sùng bái phổ cập khác là sự sùng bái Thần
nữ Shakti, một vị thần cũng được tôn thờ trong hình dạng của
Durga. Thờ phượng Thần nữ đã trở thành khá phổ biến và dần
dần được đưa cả vào trong mật giáo. Vị thần nữ Kali khác cũng
trở thành điểm chính yếu của sự tôn thờ, và thường liên hệ
đến những việc làm có tánh luân lý và hợp pháp. Các lễ tế
thú vật, ngay cả con người, và những nghi thức giao hợp tình dục
với nhau cũng là một phần thực hành trong các mật pháp Ấn giáo.
Những phương pháp và hình ảnh ấy ngày nay cũng còn được thấy
khá phổ biến trong các nghệ thuật và điêu tạc tượng ở những
ngôi chùa Ấn giáo cổ tại Nepal cũng như tại Ấn Độ.
Rama và Krishna.
Bởi chịu nhiều ảnh hưởng về truyền thuyết hóa thân của thần
Vishnu, mà người ta tin về thần Rama và Krishna. Là một thái tử của
vương quốc Ayodhya, lịch sử và truyền thuyết cho rằng , Rama có thể
được sinh vào khoảng thế kỷ thứ 8 và 7 trước TL. Trong những
câu chuyện sớm nhất kể về Rama, ông ấy không được xem là một
vị thần linh. Dù rằng hiện tại Rama được xem là có hóa thân
trước cả Vishnu và Shiva. Có thể câu chuyện đó được người ta
cho thêm vào sau này, khoảng thời gian người Hồi giáo sang xâm
chiếm Ấn Độ vào thế kỷ 12 sau TL.
Rama (hoặc là Ram, được phát âm với chử a dài như là arm) là
một hình ảnh đầy quyền uy trong Ấn giáo hiện đại, đặc biệt ở
Ấn Độ, vùng Ayodhya nơi được tin tưởng là chốn sinh ra thần Rama.
Những điều cố tín như vậy đã tạo ra những tranh luận và xung
đột gay gắt giữa những người Ấn giáo và người Hồi giáo đa
phần sống ở vùng ấy. Người Ấn giáo cho rằng, đền thờ của
người Hồi ngày nay là xây trên khu đất sinh ra thần Rama ngày xưa.
Luận cứ này không được minh xác cho lắm, theo như nhà sử gia
hàng đầu của Ấn là ông Romila Thapar: Theo quan điểm ấy thì
chẳng có một chứng tích lịch sử nào để chứng minh điều ấy
cả.
Tuy nhiên tranh chấp vẫn là tranh chấp một khi người ta đã tin vào
những điều mà người ta đã nhận định và cho là đúng. Vào ngày
6 tháng 12 năm 92, một cuộc xung đột đẫm máu xảy ra khi những
người Ấn giáo kéo đến và phá sập ngôi đền Hồi giáo. Những
tranh chấp này đã xảy ra dữ dội và kéo dài đến nhiều tháng
trời, đến nổi sau đó chính phủ Ấn phải lên tiếng giảng hòa và
sau cùng đưa đến giải pháp, chính phủ đền bù cho xây lại thánh
đường Hồi giáo, cùng lúc cho xây một đền thờ thần Rama gần
đó.
Krishna được tôn thờ rất rộng rãi ở Nepal và Ấn Độ. Những
lời khuyên bảo của Krishna trong chiến trận Mahabharata là những lời
chỉ dạy chủ yếu, hướng dẫn tín đồ tu tập và là những mực
thước đạo lý căn bản cho hàng tín đồ nương theo trong cuộc sống
hàng ngày.
Phật Giáo.
Theo thống kê năm 1951 cho thấy, Phật giáo ở Aán Độ chỉ có 181,000
người. Tuy nhiên năm 1956, sau sự quy y hướng về Phật giáo của
tiến sĩ Br Ambedkar, số lượng người nghèo theo Phật giáo tăng lên
đến 200,000 người. Sự phát triển Phật giáo theo đó ngày càng
tăng. Theo thống kê mới nhất thì hiện nay tại Aán Độ có 7 triệu
tín đồ Phật giáo.
Phật giáo nói chung thường được hiểu là có ba thừa chính: Tiểu
thừa, Đại thừa và Kim cang thừa. Tiểu thừa Phật giáo được
hiểu như là một con đường nhỏ, cổ xe nhỏ, hay còn được gọi là
Phật giáo Nam truyền; có ảnh hưởng lớn ở các nước như: Thái
Lan, Miến Điện, Tích Lan, Lào, Miên.v.v... Truyền thống Phật giáo này
đặt trọng về những giới luật và phương pháp tu hành trong chùa
viện, để chuyên tâm tự cầu giải thoát.
Đại thừa Phật giáo được hiểu như một con đường lớn, một cỗ
xe lớn và còn được gọi là Phật giáo Bắc truyền. Tinh thần Phật
giáo Đại thừa phóng khoáng hơn với hình ảnh Bồ tát đi vào cuộc
đời để độ sanh và những lời phát nguyện vĩ đại của các vị
ấy: Nếu địa ngục còn một chúng sanh, tôi nguyện sẽ không
thành Phật- lời nguyện ngài Địa Tạng. Đời năm trược
con xin vào trước, một chúng sanh quả Phật chưa thành, con nguyện sẽ
không chứng vào cõi Niết bàn- lời nguyện ngài A Nan.v.v...
Đại thừa Phật giáo không nhắm đến sự tự giải thoát cho mình
bên ngoài chúng sanh mà ngược lại. Truyền thống này có ảnh
hưởng lớn rộng đến các nước thuộc phương Bắc như: Trung Quốc,
Nhật Bản, Triều Tiên, Việt Nam.v.v..
Phật giáo Kim cang thừa được hiểu là con đường bất hoại, hay
còn được gọi là Mật tông Phật giáo và cũng thuộc trong Đại
thừa Phật giáo. Kim cang thừa là sự vận dụng để hội nhập và
làm hài hòa các năng lượng trong thân và những năng lượng bên
ngoài. Khởi đầu vào khoảng thế kỷ thứ 4 sau TL ở Aán Độ, sau lan
truyền sang và có ảnh hưởng lớn mạnh ở Tây Tạng, Mông Cổ,
Brutan và Nepal.
Ngày nay Phật giáo nói chung gồm nhiều thừa, nhiều tông khác nhau
đã có những ảnh hưởng lớn mạnh hầu như ở khắp nơi trên thế
giới, đặc biệt là những nước phương Tây.
Đức Phật
Sĩ Đạt Ta Gautama là tên ban tặng cho đức Phật khi ngài giáng trần
tại vườn Lâm tỳ ni vào khoảng năm 563 trước TL. Sau khi thái tử
được sinh ra bảy ngày thì hoàng hậu mất và vua Tịnh Phạn lúc bấy
giờ lập thứ hậu là bà Ma-Ha-Ba-Xà-Ba-Đề để trông coi thái tử.
Năm 16 tuổi, thái tử thành hôn với công chúa Da Du Đà La và sau
có con là La hầu La. Năm 29 tuổi, nửa đêm lén rời khỏi kinh thành
để xuất gia tầm đạo.
Sau khi thay đổi y phục với một người hành khất, ngài đi vào
rừng và tầm tu khổ hạnh. Sau 6 năm tu hành ép xác đến độ cùng
cực mà vẫn không tìm ra chân lý, ngài rời bỏ lối sống ấy và
đi dần đến làng Uruvela, nay là Bồ đề Đạo tràng để chuyên tâm
thiền định. Trải qua 49 ngày đêm ngồi tọa thiền dưới cội cây Bồ
đề, sau cùng ngài đã đạt giác ngộ, thành Phật hiệu là Thích ca
(lấy theo dòng họ).
Nhớ đến những bạn đồng tu thuở xưa là năm anh em Kiều Trần Như,
ngài đi tìm để hóa độ họ. Đến Ba la nại và nơi vườn nai, ngài
gặp họ và thuyết bài pháp đầu tiên về Tứ diệu đế. Đây cũng
là một điểm mốc lớn trong cuộc đời của đức Phật sau khi ngài
đản sinh nơi vườn Lâm tỳ ni, thành đạo dưới cội cây Bồ đề
và chuyển Pháp luân tại vườn nai. Sau 45 năm đi khắp nơi hoằng
pháp và độ sanh, ngài sau cùng về đến Câu Thi Na và thị tịch nhập
Niết bàn tại đó.
Sau khi Phật Niết bàn.
Một năm sau khi đức Phật nhập Niết bàn, đại hội kiết tập kinh
điển lần đầu được tổ chức để trùng tuyên lại giới luật
và các giáo pháp ngài giảng trong thời gian 45 năm. Sau đó vào năm
390 trước TL, đại hội kiết tập kinh điển lần thứ hai được tổ
chức và lần này hai bộ phái lớn được phân ra: Thượng tọa bộ
và Đại chúng bộ, hay sau này được hiểu là Tiểu thừa và Đại
thừa. 48 năm sau, lần kiết tập kinh điển thứ ba được hình thành
và tổ chức tại Ma Kiệt Đà. Đại hội kiết tập lần thứ tư
được tổ chức tại Kashmir vào năm 120 sau TL và lúc bấy giờ,
tông phái Phật giáo đã được chia ra đến 20 tông khác nhau.
Phật giáo suy tàn ở Aán
Độ.
Sự suy tàn Phật giáo ở Aán Độ có lẽ một phần bắt nguồn từ
sự phát triển tương tự của Aán giáo trong việc muốn đồng hóa
Phật giáo. Thật vậy tư tưởng Phật giáo Đại thừa với tinh thần
Bồ tát đã càng ngày càng thấy khó phân biệt với những cải
cách và thay đổi có tính cách gốc rễ của Aán giáo. Tại nam Aán,
triều đại Chola ra sức hủy diệt Phật giáo, thêm vào đó trên
miền Bắc với sự xâm chiếm của quân Hồi giáo từ khoảng thế
kỷ 11 đã đưa Phật giáo nhanh chóng đến suy đồi và mất hẳn vào
những thế kỷ sau đó.
Hồi Giáo
Là một tôn giáo lớn hàng thứ nhì sau Aán giáo và hiện nay có
khoảng 105 triệu tín đồ. Theo sử ghi lại thì tôn giáo này đặt
những bước truyền giáo đầu tiên khi cuộc xâm lăng của quân Hồi
từ trung đông đổ xuống, và xâm chiếm toàn cõi Ấn Độ vào năm
1192 do một vị vua Hồi giáo tên là Turk Mahmud Ghanzni. Năm 1200 đội
quân đó đánh chiếm đến Bihar, miền đông Aán Độ, ở đây quân
Hồi đã cho tiêu diệt toàn bộ Phật giáo qua những cuộc tàn sát
đẩm máu ở Nalanda và Ba La Nại.
500 năm sau các triều đại Hồi giáo mới bị sập đổ, và Ấn Độ
dành được độc lập và sau một thời gian khác lại rơi vào tay
thuộc địa của người Anh.
Niềm tin.
Hồi giáo đặt niềm tin vào Thượng đế qua một đấng tiên tri là
Mohammed. Họ có những tín điều căn bản, đó là: Không có
Thượng đế nhưng Thượng đế và Thượng đế của họ ở
đây là qua tiên tri Mohammed và cuốn kinh Koran, một thánh điển của
giáo lý và niềm tin đầy quyền uy tối thượng. Hồi giáo giảng dạy
người ta tin về một sự phục sinh thân xác này ở cõi thiên
đường hoặc địa ngục sau khi chết. Trong đạo không có giới tu sĩ
và mọi quyền y bắt nguồn từ các truyền thống và định chế xã
hội mà phần lớn từ chính quyền. Đạo hồi cũng cấm đoán mọi
sự phân biệt chủng tộc.
Các phái Hồi giáo.
Trong thời gian đầu, Hồi giáo bị phân chia thành hai nhóm khác nhau
(Shiis và Sunnis); một bên nghiêng về chính trị, bên kia nghiêng
về phía tôn giáo. Phái Sunnis có số đông tín đồ sống ở nam á
châu tin rằng, Mohammed đã không chỉ định người kế thừa, và rằng
Abu Bakr, Omar và Othman là một trong ba vị nhiếp chánh sau khi Mohammed
chết. Ali người mà phái Sunnis cho rằng là vị nhiếp chánh thứ tư,
lại được phái Shiis tin tưởng rằng là người kế thừa thứ
nhất sau Mohammed, và chính Abu Bakr, Omar và Othman mới chính là
những kẻ cướp ngôi.
Bốn tín điều phải tuân.
Có bốn tín điều cần phải triệt để tuân hành trong đạo Hồi, đó
là: Cầu nguyện hàng ngày trong các thời như, nghỉ ngơi, trưa, chiều,
mặt trời lặn và tối. Người Hồi phải bố thí cho người nghèo.
Phải tuân giữ nghiêm ngặt tháng Ramadan, và trong thời gian đó
không được ăn hoặc uống giữa thời gian mặt trời mọc và lặn.
Sau cùng phải tham dự những chuyến đi hành hương đến Kaaba ở
Mecca. Ai đã thực hiện được những điều ấy thì trước tên gọi
còn được có thêm chữ hajji.
Những giới luật và cách thức thực hành của người theo đạo
Hồi có nhiều phần khác biệt với người theo đạo Ấn. Đạo Hồi
cấm ngặt việc uống các loại bia rượu kể cả những loại nước
trái cây có chất men. Cấm ăn thịt heo và bất cứ loại thịt nào
mà không được giết bằng cách làm mất hết máu khi còn sống.
Thịt được dọn bày đàng hoàng được gọi là Halal. Cuối cùng cho
vay nặng lãi và cờ bạc là những điều cũng bị cấm kî.
Đạo Kỳ Na.
Còn được gọi là đạo lõa thể vì các tu sĩ phái này hành hạnh
lõa thể, trét tro và đất lên người và tu các hạnh khổ. Cũng
như Phật giáo đạo này khởi đầu vào khoảng thế kỷ thứ 6
trước TL. Được sáng lập bởi một thánh giả tu khổ hạnh tên là
Mahavir. Ngài Mahavir cũng được sinh ra nơi biên giới Aán và Nepal (50
km hướng bắc của Patna ngày nay) như là đức Phật vào năm 599
trước TL. Như vậy Mahavir lớn hơn đức Phật 35 tuổi. Gia đình ngài
Mahavir cũng là một gia đình hoàng tộc tu hành theo gương vị thánh
giả khổ hạnh, Parvanatha, một người theo truyền thống Kỳ Na giáo
sống khoảng 200 năm trước đó.
Đạo Kỳ Na hiện nay chỉ có 4 triệu tín đồ, và tự cho rằng chính
họ mới là những tín đồ thuần túy của Bà La Môn giáo và
được nhiều người kính nghưỡng. Đạo Kỳ Na chủ trương ăn chay
và tôn trọng sinh mạng của tất cả mọi sinh loài.
Từ triều đại Chandragupta Maurya vào thế kỷ thứ 3 trước TL, đạo
Kỳ Na này đã có những hoạt động chung với vương quyền và phát
triển mạnh nhất vào miền tây và nam Aán.
Niềm tin.
Đạo Kỳ Na tin vào hai nguyên tắc căn bản của sự sống, đó là
các loài hữu tình và vô tình. Họ tin rằng tất cả mạng sống đều
có sự thiêng liêng mầu nhiệm, ngay cả mạng sống của những loại
côn trùng nhỏ nhất. Đạo này phát triển tinh thần bất tổn hại,
và đây có thể được xem là điều tối căn bản trong luân lý và
giáo pháp đạo Kỳ Na. Đây cũng là pháp tu của hàng tu sĩ và
thiện hạnh cần làm của những tín đồ tại gia.
Ngũ giới.
Được thọ trì bởi những người tu sĩ lẫn cư sĩ đạo này. 1)
Không sát sanh và cần phải tuyệt đối ăn chay trường. 2) Không nói
dối và phải nói lời chơn thật. 3) Không trộm cắp. 4) Không
tà dâm và thực hành sự trong sạch. 5) Từ bỏ mọi tài sản.
Sống độc thân là cần thiết để điều phục mọi ham muốn của thể
xác. Đạo Kỳ Na cũng xem cái chết là điều quan trọng, cũng như
đạo Phật họ cấm chỉ việc tự sát. Mục tiêu tu hành của những tu
sĩ và cư sĩ có phần giống nhau. Người cư sĩ sau một thời gian lo
xong công việc của người thế tục, sẽ chấp nhận những lối sống
và tu theo những tu sĩ. Cũng giống như Phật giáo và Aán giáo, Kỳ na
giáo tin vào nghiệp và thuyết luân hồi.
Tông phái đạo Kỳ Na.
Gồm có hai phái chính Svetambaras và Digambaras, một phái chuyên tu hạnh
lõa thể. Không như Phật giáo, Kỳ Na giáo tin có Thượng đế, nhưng
không phải là đấng tạo thiên lập địa. Cho Thượng đế là một
trong 24 vị tiên tri của họ, là những bậc giáo chủ của đạo Kỳ Na
như ngài Mahavir và ngài này được xem là vị tiên tri, vị giáo chủ
sau cùng của họ. Hình ảnh những vị này có thể được xem như hình
ảnh các vị Bồ tát trong đạo Phật vậy.
Đạo Sikh.
Là một đạo khá phổ biến ở Aán Độ được biết qua dạng các
tín đồ buộc quấn khăn đóng trên đầu và để râu quai nón.
Người theo đạo Sikh này có mặt hầu hết ở các thành phố lớn
ở Aán Độ. Đạo Sikh có số tín đồ đông hàng thứ tư sau Bà La
Môn giáo, khoảng 15 triệu và 90% số tín đồ này sống ở tiểu bang
Punjab, Haryana và Delhi.
Không như Aán giáo tin vào nghiệp và luân hồi, đạo Sikh chỉ tin vào
một đấng Thượng đế, phủ nhận sự tôn thờ cúng bái các thần
linh, hình tượng.
Giáo chủ đạo này là Guru Nanak, sinh năm 1469 tại miền tây Lahore
thuộc Pakistan ngày nay. Đã từng nghiên cứu và học nhiều tôn giáo
khác nhau kể cả sang tận Mecca trung đông để học về đạo Hồi. Guru
Nanak chủ trương về sự hợp nhất thiêng liêng với Thượng đế,
nên người ta cho rằng giáo thuyết đạo này rất gần gũi với phái
thần bí Sufis đạo Hồi. Theo Guru Nanak thì Thượng đế là một,
vô hình tướng, vĩnh cữu và vượt ngoài tất cả sự miêu tả. Tuy
nhiên ông đã thấy Thượng đế ở khắp nơi, và ai ai nếu thành
tâm với ngài cũng sẽ được thấy như vậy, vì Thượng đế là
bậc có đầy lòng từ bi. Guru Nanak cũng cho rằng sự cứu rỗi của
Thượng đế tùy thuộc vào niềm tin chấp nhận Thượng đế của
người ấy và đưa ra ba pháp tu để hợp nhất cùng ngài, đó là:
thiền định và trì niệm danh hiệu của Thượng đế, bố thí và tẩy
tịnh thân thể.
Lễ bái.
Thiền định là một phần trong đời sống sinh hoạt tâm linh của đạo
Sikh ngày nay. Nhiều người theo đạo Sikh ở nhà thường có phòng
riêng tôn thờ hình tượng Guru Granth và người trong gia đình sẽ thay
phiên nhau với những thời khóa thiền định riêng, đọc tụng những
bài kệ thiền định Japji của chính Guru Nanak. Tuy nhiên vào thời gian
vị giáo chủ Sikh thứ ba, những tín đồ đạo này cũng đã bắt
đầu làm lễ tôn thờ tất cả những vị giáo chủ Sikh kể từ
thời Guru Nanak cho đến vị kế thừa sau này là Gobind Singh.
Đạo Tin lành.
Có khoảng 23 triệu tín đồ Tin Lành giáo tại Aán Độ, như vậy là
tín đồ đạo này đứng hàng thứ ba sau Aán giáo và Hồi giáo.
Phần lớn sự phát triển của đạo Tin lành lan rộng ở miền nam
Aán, và ngày nay Hội thánh Tin lành có mặt ở khắp Aán Độ.
Đạo Tin lành được truyền vào Aán Độ vào thế kỷ thứ 18 khi
người Aâu châu chiếm nước này làm thuộc địa. Tuy nhiên một số
cho rằng đạo này lần đầu tiên du nhập vào Aán thế kỷ thứ nhất
sau TL. Người ta cho rằng một trong những tông đồ của Christ Apostles
là Thomas đã đến Aán năm 52 sau TL, chỉ 20 năm sau khi chúa Jesus bị
đóng đinh. Thomas ở Malabar và sau đó tiếp tục đi truyền giáo sang
Trung Hoa. Người ta còn cho rằng Thomas đã trở lại Aán vào năm 72 sau
TL và ở vùng tamil Nadu, sau đó chết rồi được chôn cất ở
Mylapore gần Madras. Ngày nay vẫn còn một nhà thờ lấy tên Thomas ở
Kerala.
II. LỊCH
SỬ
Ấn Độ ngày nay.
Với dân số 940 triệu vào năm 1996, Aán Độ trở thành quốc gia có
đông dân đứng hàng thứ hai sau Trung Quốc. Mặc dù chỉ ngạch thống
kê sinh sản đã giảm đi nhiều, nhưng cũng vẫn còn ở mức độ 2%,
độ khoảng 18 triệu người được sinh ra thêm mỗi năm. Ngày nay có
khoảng 30% dân số ở các thủ phủ tiểu bang và những thành phố
lớn. Năm 1971 có 109 triệu người sống tại các thành phố, đến
năm 1996 đã tăng lên đến 245 triệu người. Đông nhất là tập
trung ở Bombay với 13 triệu người, kế đến Calcutta 11 triệu, Delhi 8.5
triệu, Madras 5.5 triệu, Hyderabad 4.5 triệu và Bangalore 4 triệu người.
Chính trị và hiến pháp.
Khi Aán Độ dành được độc lập vào ngày 15 tháng 8 năm 1947,
nước này đã gặp ba cuộc khủng hoảng lớn. Một phần là cũng do
các mâu thuẩn và bất đồng giữa ba tôn giáo lớn trong nước là
Aán giáo, Hồi giáo, đạo Sikh và tình trạng chống đối này đã gần
như đưa đến việc phân chia quốc gia lúc ấy. Giữa hai quốc gia Aán
Độ và Pakistan đã có 13 triệu người di dân qua lại và trong đó
có cả triệu người bị tàn sát trong những cuộc di dân này. Sau
đó lại xảy ra chiến tranh trong 15 tháng trường với Pakistan về vụ
tranh chấp Kasmir
Kinh tế.
Ngành nông nghiệp chiếm khoảng 30% nền kinh tế quốc gia và được xem
là nguồn kinh tế quan trọng nhất. Hơn nữa dân số sống lệ thuộc
trực tiếp vào ngành này; những vụ mùa trong năm đã có ảnh
hưởng lớn vào đời sống và nền kinh tế trong xứ.
Giữa thời kỳ độc lập và thời gian cuối năm 60, ngành nông
nghiệp phát triển qua sự khai khẩn thêm nhiều vùng đất mới. Hơn 57
% khu vực đất đai nay đã được khai phá, và trong 20 năm sau này
những kỷ thuật tưới nước và phân bón đất đai cũng được
áp dụng rộng rãi làm cho ngành nông nghiệp khởi sắc, và phát
triển ở mức khá lạc quan. Các khu đất tưới nước tăng hơn 35 %
trong khi việc xử dụng phân bón cũng tăng 25 lần kể từ năm 1961.
Kế hoạch ngũ niên.
Trong những năm đầu 1950, Aán Độ dùng kế hoạch ngũ niên của Liên
Xô để áp dụng cho việc phát triển kinh tế ở xứ sở mình. Kiểm
soát chặt chẽ toàn bộ công tư, kể cả những vốn liếng nước
ngoài đầu tư ở Aán Độ. Tư nhân chỉ được hé mở chút ít về
ngành nông nghiệp và một số khu vực không thuộc công nghiệp.
Dù có thành tựu được một ít qua hai kỳ ngũ niên (1951-56, 1956-61),
nhưng đến thời kỳ thứ ba đã bị thất bại nặng. Ngành nông
nghiệp bị hư hại nặng qua ba kỳ mưa lũ. Sau thời kỳ nhận sự viện
trợ của nước ngoài vào cuối năm 60, nền kinh tế bắt đầu lên
lại. Cuộc cách mạng xanh nhắm mạnh về ngành nông nghiệp
được đưa ra đã làm cho ngành này phát triển thấy rõ, vượt
mức chỉ tiêu.
Ngành công nghiệp cũng có những phát triển và năm 96, kế hoạch
ngũ niên lần thứ 9 vẫn tiếp tục được thi hành. Tuy nhiên phần
kiểm soát từ trung ương đã nới lỏng dần. Indra Gandhi bắt đầu
chuyển hướng sang tự do hóa hàng nhập cảng và đầu tư nước
ngoài. Rồi Rajiv Gandhi càng đẩy mạnh thêm chính sách vào những năm
sau đó trong thời ông ta cầm quyền. Đến thời thủ tướng Narasimha
Rao vẫn tiếp tục các chính sách kể cả những cố gắng làm giảm
lạm phát đồng Rúpi. Chi phí quốc phòng bị cắt giảm từ 3.8% xuống
đến 2.8% tổng sản lượng quốc gia. Năm 1996 nền kinh tế được phục
hồi mạnh trở lại với mức lạm phát ở con số thấp nhất so
nhiều năm trước, nguồn dự trữ ngoại tệ tăng cao và phần đầu
tư nước ngoài cũng thấy đạt nhiều khả quan.
Những thành quả và vấn
đề.
Cho đến nay có thể nói Aán Độ đã tiến một bước khá dài qua
các thành tựu về mặt công kỹ nghệ. Các hàng hóa từ bom nguyên
tử, máy bay, phi đạn cho tới đồng, máy điện toán, xe cộ đều có
thể chế tạo được và hàng hóa sản phẩm này toàn được dùng
trong nước mà rất ít nhập từ nước ngoài. Hàng hóa cũng được
phân rất đều đến các làng mạc thôn quê xa xôi. Tuy nhiên dù cho
có phát triển một số mặt như vậy, Aán Độ vẫn còn là một quốc
gia rất chậm tiến với hơn phân nữa dân số còn nằm trong cảnh
nghèo cùng.
|
Mục
Lục
||
Chương
ba
|
---o0o---
| Thư
Mục Tác Giả |
Cập nhật ngày : 01-01-2002