XỨ
PHẬT-TÌNH QUÊ I
Thích
Hạnh Nguyện
Thích Hạnh Tấn
---o0o---
Lộc Uyển [Sarnath ]
Trời tiết đông bắt đầu trở lạnh vào tháng
mười một, mười hai và tháng một. Cái lạnh căm căm làm buốt da,
tê rét mọi người dù cho họ cố ủ mình trong những chiếc khăn
choàng dày cộm. Mùa đông ở đây là vậy, đến nhẹ nhàng tĩnh
lặng và từ tốn mỗi năm như cái từ tốn đến lạ lùng của
những người dân Ấn. Sau tháng nóng bức đến lột da thì mùa
đông đến với những làn gió mát và từ từ cỉ sau một vài
tuần lễ đã chuyển sang rét mướt.
Chúng tôi những người từ Châu âu đến mà cũng cảm thấy
tê tái mặc dù đang mang những chiếc áo lạnh miền xứ tuyết.
Thời tiết ở vùng này thật khắc nghiệt vì cái nóng muà hè ở
đây không thể mà tả hết. Mới tháng sáu tháng bảy đây cái
nóng hầm hập lên đến 50 độ thiêu rụi mọi cây trái cảnh vật
trong vùng, vậy mà chỉ một vài tháng sau thời tiết đã trở nên
lạnh lẽo khó chịu và cái lạnh ở đây có khi đến năm bảy độ
về đêm.
Tội nghiệp các em bé nhỏ trong những gia đình
nghèo nát tả tơi đang run mình trong những chiếc chăn đen đầy bụi
bám; tội nghiệp những người phu khuân vác, người thợ đạp xích
lô vì họ là những người bất chấp cái khó của cuộc đời cố
xâm mình bươn chải vào cái lạnh cái nóng để nhọc nhằn kiếm
được những đồng xu trong ngày hầu che chở cho gia đình. Cái khổ
đau lam lũ chồng chất của kiếp người như bày ra trọn vẹn ở nơi
họ và nơi cuộc sống của chính họ. Quanh năm suốt tháng quần quật
mà được gì đâu ngoài những đồng xu kiếm được vừa đủ mua
một vài bó rau, ký gạo. Rồi những nơi họ ở thường vỏn vẹn
đơn sơ như chính cuộc đời của họ; một mái nhà tranh dựng nghiên
nghiên trên bốn bờ tường đất sét, một hai cái giường bằng
dây thừng bện lại, một lu nước và một vài con bò con. Căn chòi
tranh bé nhỏ ấy lại phải bao trọn cả gia đình năm bảy người và
đôi khi cũng phải dành chỗ cho những chú bò, chú bê con chung
sống.
Vậy đó cái cuộc sống của người dân ở đây đa phần là
vậy. Nhưng trong một hoàn cảnh sống như thế, có lẽ người ta cũng
tìm đâu ra chút hạnh phúc, lạc thú của cuộc đời để tiếp tục
vươn lên mà sống. Hoặc giả chăng trong một đời sống bần cùng
đến độ đó, họ tìm thấy một chút tình bé bỏng nơi các con vật
trong nhà, trong vườn dù là một con bò hay con bê nhỏ. Có lẽ do
đó mà tôi thấy người dân Ấn rất thích và thân thiện với các
loài vật. Người và vật thắm thiết với nhau lắm nhất là với
những người dân quê. Các con vật ấy là bạn, là ân nhân của
mọi người: nó giúp người cày cấy, cho sửa để nuôi sống cả
gia đình, cho phân để đốt lò thế củi, cho niềm vui bạn hữu với
con người. Bản tính của người Ấn thường yêu chuộng loài vật,
không thích sát hại nên ở đây các loài vật bạo dạn hơn nơi
nào khác trên thế giới.
Tôi nhớ có một thời sống ở tại New Delhi
trong một ngôi nhà trọ. Nhà tôi ở lầu trên và có một mái hiên
vừa tạm đủ cho chỗ hóng mát. Thế mà mấy con chim sẽ ở đâu
không biết cứ bay đến làm tổ và xả rác rơm bừa bãi. Không
chịu được cái cảnh tượng mới sạch lại dơ nên chúng tôi đem
tổ chim bỏ vào sọt rác, vậy mà thoáng chốc cái tổ ấy lại
được hình thành nơi chỗ cũ. Có lúc lại có cả những con chim bay
vào trong phòng chúng tôi để làm tổ nữa. Thật là bạo dạn và
lì lợm như vậy là cùng.
Sau một thời gian ở Bồ Đề Đạo Tràng, chúng tôi chuẩn bị
lên đường đi Ba La Nại để viếng thăm vườn Lộc Uyển. Dõi theo
bước chân Phật khi xưa để tìm lại một chút gì hương vị, thanh âm
của bậc giác ngộ. Là những người con Phật, chúng tôi cố gắng
noi theo gương những gì ngài đã làm và đã sống nhưng quả thật
là khó. Một khoảng thời gian dài xa cách đã đưa chúng tôi đi xa
dần con đường thánh thiện của các bậc hiền thánh thuở trước;
và nay nếu có chúng tôi chỉ đang có thể bắt đầu lần theo bước
chân người để tưởng nhớ, ghi tạc lại những hạnh lành của
các ngài thuở ấy mà cố noi theo.
Xe buýt chạy hướng về thành phố Ba La Nại,
chạy suốt và lâu lắm mới có một chặng dừng cho mọi người
xuống làm vệ sinh cá nhân. Nhu cầu giải quyết vệ sinh ở đây thật
đơn giản, bình dị (nghĩa là ngồi bên lề đường, cạnh xe hoặc núp
sau một gốc cây nào đó) đến nổi lúc đầu mọi người còn e
ngại mắc cở nhưng sau một thời gian ở Ấn Độ nó đã trở thành
chuyện tất nhiên, phải vậy. Chúng tôi thì chẳng lạ gì nhưng mỗi
lần có dịp đi chung với mọi người trong đoàn thì lúc ấy là một
dịp sôi động bàn cãi. Có đủ chuyện để bàn ra tán vào cho
được, có người thích, có người không, có người muốn có kẻ
thẹn thùng và lại có những người tinh quái đem máy hình xuống
chụp quang cảnh đi vệ sinh độc đáo này nữa. Quả là có chuyện vui
và khôi hài để nói.
Tôi thích cảnh đồng quê này lạ: sao giống cảnh
quê hương Việt Nam tôi. Cũng những đồng lúa bạt ngàn chạy suốt
theo những con đường quê ngoằn nghèo xập xũng. Cũng những hàng
dừa xanh, những ngôi nhà đất và những mái rơm gập ghềnh xiêu
vẹo. Rồi một cảnh cày ruộng nào đó có con trâu con bò bước song
song cày chung với nhau. Tôi không rõ cảnh này có ở quê mình
không, chỉ biết thầy bổn sư của tôi thì cho đó là chuyện lạ chỉ
xứ Ấn Độ này mới có. Còn những con đường quê ở Ấn Độ
thì đẹp và nên thơ chi lạ vì hai bên đường lúc nào cũng có
những tàng cây to che bóng. Đôi khi ở một vài nơi tôi còn thấy
những hàng phượng vĩ phơi tàng đỏ ối và rơi vãi trên đất
những cánh hoa màu ướm sắc. Cây cối tỏa ra một màu xanh tươi, che
mát cả một đoạn đường dài và thường thì được trồng thẳng
tắp chạy dọc mãi theo hai bên đường trông dường như vô
tận.
Trồng cây dĩ nhiên là một việc làm rất tốn
kém vì phải được chăm sóc coi ngó khi còn nhỏ, ngoài ra người ta
còn phải cho xây chung quanh những rào cản bằng gạch che đậy lên cao
cả một mét. Đôi lúc thấy những hàng rào cản này chạy dài cả
một đoạn đường mà tôi khâm phục cho chính phủ và người dân
ở đây biết cách bảo vệ môi trường. Quê hương Việt Nam tôi thì
ít có sự hiểu biết và ý thức về cây trồng nên thường khi
phá phách nhiều mà quên gây trồng thêm. Nhớ có lần về vào dịp
tết tôi thấy người ta thi nhau bức cây bẻ cành để hái lộc vào
dịp tết, thấy cảnh cây trái xác xơ vứt bỏ lung tung mà tôi cảm
thấy đau lòng. Mong có một ngày nào đó về lại quê hương và khi
điều kiện cho phép tôi cũng muốn lập ra những tổ chức hổ trợ
trồng cây rừng để đất nước ngày càng xanh tươi và đẹp thêm
hơn.
Có lẽ đoạn đường gần đến Ba La Nại là đoạn đường
thường bị kẹt xe nhiều nhất. Xe từng đoàn, từng đoàn nối tiếp
nhau dường như vô tận. Gần như chẳng có xe nào khác hơn là những
chiếc xe vận tải ù lì thô tháo. Và hình như chẳng có loại xe nào
khác hơn là hai loại xe quen thuộc do Ấn Độ chế tạo: Tata và Ashok
Leyland. Đã mấy năm rồi sống ở đây tôi gần như chẳng thấy một
chiếc xe vận tải nào mang nhãn hiệu ngoại quốc. Người Ấn bảo thủ
và chỉ dùng đồ chế tạo từ nước mình, tôi nghĩ đâu đó cũng
là một cách hay để tự cường mà khỏi phải lệ thuộc vào hàng
hóa nước ngoài nhập vào. Việt Nam ta thì lại khác vì chỉ thích
dùng và nhập cảng hàng từ nước ngoài mà không chú trọng đến
hàng hóa phẩm chất của nước mình để đến nổi khi ai nghe nhắc
đến sản phẩm Việt Nam cũng đều lắc đầu thối thác. Biết đến bao
giờ dân tôi và nước tôi mới có được một tinh thần dân tộc
và tự cường như Ấn Độ này đây.
Người ta thường bực mình vì nổi kẹt xe ở
Paris, London hay Hamburg nhưng nếu đem so với nổi kẹt xe ở một vài
đoạn đường tại Ấn thì có thể người ta sẽ dễ mỉm cười chấp
nhận. Mà không cười sao được khi sống trên một đất nước mà
ai nấy đều cười, cười một cách thoải mái và hồn nhiên và
chúng ta nếu nhăn mặt đáp lại thì có lẽ thật là quái gỡ. Có
thể nói họ cười dễ dàng trong mọi trường hợp dù rằng đôi khi
chuyện đó chẳng đáng cười. Tôi không hiểu có phải họ học
cười ngay từ khi mới sinh ra hay là cái cười đã tự có sẳn
trong mái huyết của họ. Nhiều người Âu mỹ thắc mắc nói chuyện
với tôi như vậy. Cười không là một điều khó đối với con
người thế nhưng con người ta ở những xứ Tây phương dường như
không thể cười được mỗi lúc gặp mặt nhau nên do vậy mà họ
thường đến Á đông để tìm thấy một nụ cười, một vẻ mặt
thanh thản. Và có lẽ một phần là do ở những nụ cười thoải
mái và hồn nhiên này mà Ấn Độ có sức thu hút hàng mấy mươi
triệu du khách đến đây mỗi năm?
Chúng tôi may chưa từng bị những buổi kẹt xe
không tiền khoáng hậu đó mà chỉ thấy trên đường, chỉ biết
người khác bị. Lạ lùng là thường những vụ kẹt xe như vậy
duyên cớ chẳng đáng ra gì, hoặc do trạm thuế làm việc nửa vời
nửa ghi chép tính thuế, nửa uống trà sửa tán dóc chuyện cà kê
hoặc bỏ đi chơi nghỉ mát cho khỏe một chút. Lại đôi khi kẹt xe do
vì một vài người tài xế không chịu nhường nhau, tới không
được lui cũng không xong thế là hai bên xuống đất cãi nhau rồi
chờ cho đến khi bên kia nhường mình. Lại cũng có đôi lúc một
vài chiếc xe chương chướng đậu ngang xương giữa đường rồi bác
tài đi chơi hoặc vào nhà trọ nào đó ngủ nghĩ làm cho một vài
trăm chiếc xe sau sắp hàng chờ đợi. Vậy mà các bác tài xế ở
những dãy xe sau cũng chẳng nôn chi, chờ thì chờ bực bội chi cho
mệt và rồi họ bèn lấy nồi niêu soong chảo ra nấu nướng, thậm
chí tắm giặt ở giữa đường cho vui: một số các bác tài khác
thì sẳn trong buồng lái có chiếc ghế dài, phách mình ra ngủ mặc cho
trời đất xoay quanh đêm ngày ra sao thì ra. Chừng vài chục bác tài
như trên và cách làm việc kiểu đó của các nhân viên phòng thuế
thì kẹt xe ít cũng dài ra vài mươi cây số, tốn khoảng vài mười
phút giải quyết thì kéo dài ra khoảng vài mươi giờ.
Gặp những trường hợp như vậy nếu gặp anh tài lanh lẹ thì anh
có thể cho xe lách mé đường lết lết mà đi (chẳng kể luật lệ
nào cả và hình như ở Ấn không có một luật lệ nhất định thì
phải), vậy mà cũng qua mặt hàng trăm chiếc xe chứ! Đôi lúc men
sát lề mương xe nghiêng nghiêng như muốn lật. Năm vừa rồi đi cùng
phái đoàn ai nấy đều trải qua một phen hoảng vía như vậy. Và
thường thì qua cơn hốt hoảng ai ai cũng một mực khen anh tài là
giỏi và hứa sẽ cho anh nhiều tiền khi xong cuộc hành trình. Riêng
chúng tôi nghĩ không biết mấy anh tài người Ấn này có muốn biểu
diễn tài năng lái xe nguy hiểm của mình trước bà con để được
thêm tiền không? Dám lắm chứ, ở Ấn điều gì cũng có thể xảy
ra được kia mà.
Ba La Nại [Varanasi ]
Ba La Nại "thành phố vĩnh cửu" là một
trong những thành phố lớn của tiểu bang Uttar Pradesh thuộc miền trung
bắc Ấn Độ với số dân hơn một triệu người. Thành phố này
cũng nổi tiếng vì nền văn minh tâm linh của vùng này đã siêu
suốt hơn 2000 năm qua trong tính cách thiêng liêng của những đền
thờ Ấn giáo nguy nga đồ sộ, của con sông Hằng thần bí ngày đêm
tuôn chảy mang nước thiêng đến cho khắp mọi người tắm gội tìm
ân phước. Với người dân Ấn thì đây là một nơi lý tưởng cho
sự ra đi vào lúc cuối cuộc đời, nơi này là nấc thang, là cửa
ngỏ duy nhất để được thác sinh lên cõi trời. Ngày nay nơi đây
cũng là một trung tâm nghiên cứu tu học tốt về các loại cổ
ngữ, Phạn ngữ, Hindi v.v... Thành phố này cũng quan trọng không kém
vì vai trò lịch sử của nó dính liền với với việc hình thành và
phát triển một tôn giáo mà sau hai mươi thập kỷ đã có mặt khắp
nơi trên thế giới.
Vết lăn đầu
của bánh xe pháp.
Sau khi đức Thế tôn giác ngộ dưới cội bồ đề, bằng tuệ
nhãn thuần tịnh ngài quán sát đến những người đáng được độ
để đi cứu độ họ. Nhớ đến đạo sĩ Alara Kalama một bậc hiền trí
khi xưa dạy đạo ngài lúc ban đầu, ngài tính đi đến độ họ nhưng
lại quán sát thấy Alara Kalama mất bảy ngày trước đó và đã
thác sanh về cõi trời phi tưởng phi phi tưởng xứ. Rồi đức Thế
tôn quán đến ngài Uddaka và bậc hiền trí ấy cũng mất trước
đó. Ôi! thật là không may cho họ vì họ đã mất và sẽ sinh về
các cõi trời để hưởng phước báu. Một ngày kia họ sẽ rơi
đọa vào lại các cõi trong tam đồ ác đạo. Hình ảnh của những
người từng có nhân duyên với ngài lần lượt hiện lên và sau
cùng ngài quán đến năm người bạn đạo thuở xưa, những người
đồng tu khổ hạnh đã giúp đỡ ngài nhiều trên con đường đạt
đến tri kiến, và thấy rằng họ hiện vẫn còn sống và đang ở tại
Lộc Uyển thuộc thành phố Ba La Nại.
Hướng về Ba La Nại ngài ra đi. Ngày lại ngày trôi qua, buổi
trưa ngài đi vào xóm khất thực và những buổi tọa thiền sau đó
ngài quán sát thế gian, rải tâm từ bi đến mọi loài trước khi
tìm nhân duyên cứu độ họ. Một hôm trên đường tình cờ ngài
gặp một ẩn sĩ khổ hạnh tên là Upaka, ông ta khi thấy ngài đầy
đủ những tướng hảo trang nghiêm bèn nói những lời tán thán
như vầy:
Này bạn hữu, da của người thật là tốt đẹp và sáng lạng,
hiện bạn đang tu pháp môn gì? Thầy của bạn hữu là ai?
Đáp lại đức Phật nói lên một bài kệ:
Ta là người
vượt qua tất cả, thông suốt các pháp.
Đã dứt bỏ mọi phiền não trói
buộc.
Người thoát ly bỏ lại tất cả sau
lưng.
Ta không thầy, tự tri giác ngộ biết
khắp cả.
Thấu suốt hết
mọi pháp, ai là thầy của ta.
Ngoài ta không thể tìm thấy trên thế
gian này.
Các hàng trời người khắp trong ba
cõi.
Cũng không thể sánh được với ta,
đấng Như lai.
Ta là vị A La Hán
trên thế gian này.
Là bậc thầy, trên tất cả các bậc
thầy.
Chỉ có ta người giác ngộ viên mãn.
Đoạn diệt hết phiền não, đạt đến
Niết bàn.
Chuyển giáo pháp
độ chúng sinh,
Ta giờ đây đến thành Ba La Nại.
Giữa thế gian si mê mờ tối,
Ta sẽ gióng lên hồi trống Vô sanh
bất diệt.
Upaka lúc ấy
hỏi lại rằng: Này bạn hữu, phải chăng người tự nhận là A La
Hán, bậc siêu xuất đã tận diệt mọi phiền não. Đức Phật ôn
tồn đáp kệ rằng:
Ta bậc siêu xuất
hơn cả
Đã diệt hết mọi phiền não.
Chinh phục mọi xấu xa tội lỗi.
Này Upaka, ta là bậc chiến thắng.
Tuy nghe đức Phật nói như vậy nhưng nhà
khổ hạnh Upaka không mấy tin tưởng lời ngài vì ông cho rằng không
thể có con đường dẫn đến tri kiến, đoạn diệt phiền não mà
không đi theo phương pháp ép xác khổ hạnh. Nghĩ thế nên Upaka đáp
lại lời Phật rằng: Bạn hữu có thể đạt được tất cả những
điều như vậy chăng? Rồi xây lưng rẻ sang một con đường nhỏ khác
bỏ đi.
Đức Phật bình thản và tiếp tục cuộc
hành trình. Những khó khăn và mê tối của con người khó độ lúc
ban đầu không làm ngài phải chán nản thất vọng. Chúng sanh là
vậy; có kẻ trí người mê, kẻ chấp trước tà kiến người tịnh
tín có trí tuệ hoặc sẽ có những người khi trông thấy ta, nghe ta
giảng liền đắc pháp nhãn, thoát ly sanh tử và có người khi thấy
ta sinh ưu phiền ngoảnh mặt làm ngơ thậm chí chưởi mắng ta. Quán
sát biết các pháp là như vậy, đức Phật mỉm một nụ cười và
thanh thản nhẹ bước mà đi.
Một ngày kia ngài đi đến Lộc Uyển. ở đây
lúc bấy giờ là một vùng hoang sơ nơi chỉ có các bậc thánh nhân
tìm đến tu tập và chia sẽ tri kiến giác ngộ với nhau. Đó đây
những bụi cây gai góc hoang dại và xa kia là những mỏm đá cheo leo
của một vài sườn núi bị thời gian sói mòn đổ vụn. Một vài
tháp đá kỷ niệm nơi các bậc thánh xưa kia tu tập vẫn còn đó và
có nơi chỉ còn lại những chiếc nền hoang vắng. Những khu rừng cây
xa xa thường là nơi vui đùa của bầy nai tơ hiền lành ngơ ngác. Nai
chạy nhảy biến hiện ở khắp mọi nơi và đôi khi dạn dĩ đến bên
những ẩn sĩ gầy đét nhìn ngó như lạ lùng kinh ngạc. Cảnh giới
thanh tao nhàn hạ của muôn thú và cảnh nặng nề bi thảm của các
pháp tu ép xác luyện tâm của những người ẩn sĩ đi cầu giải
thoát quả là một hình ảnh thần kỳ làm sao. Con người trong cảnh
trạng ấy quả là một linh vật phi thường biết sống có ý nghĩa
giữa thiên nhiên và muôn thú vô tư lự bao la đầy màu sắc.
Trong khu Lộc Uyển xinh đẹp ấy, lúc bấy giờ
năm người bạn đồng tu của đức Phật vẫn một lòng đi theo con
đường thuở trước bằng cách ép xác luyện mình đến hồi tàn
tạ. Thân thể họ chỉ còn lấy da bọc xương, tuy nhiên ý chí mong cầu
giải thoát của những người đi tầm chân lý vẫn không lay chuyển.
Trước đây tại Bồ Đề Đạo Tràng khi thấy Tất Đạt Đa từ bỏ
con đường diệt dục bằng cách ép xác khổ hạnh, họ cho rằng ngài
đã thối thất bỏ tu và tìm về dục lạc nên bỏ ngài ra đi rồi tìm
về Lộc Uyển cùng chúng bạn khác đồng tu ở đây.
Sáng hôm ấy khi thấy đức Phật từ đàng xa đi
lại, năm vị ẩn sĩ này bàn tính quyết định không đảnh lễ ngài,
không tỏ lòng tôn kính như xưa. Này các bạn, đạo sĩ Cồ đàm
đang đi đến chúng ta đó. Hãy đừng nên đảnh lễ, cung kính và
hầu hạ ông ấy như xưa. Đừng trải chỗ cho Cồ đàm ngồi, đừng
đỡ bát và y cho ông ấy và khi ông ấy đến muốn ngồi thì cứ
ngồi, chúng ta đừng nên quan tâm. Cồ đàm là một người nhu
nhược, không bền chí, không gắng công tu tập và đã trở lại
với đời sống xa hoa ô nhiễm. Ông ấy thật chẳng đáng cho ta niềm
nở và tôn kính.
Vậy mà khi đức Phật đến gần, tướng hảo quang minh và phong
thái của ngài đã làm cho năm đạo sĩ này bỗng trở nên lúng
túng. Bị cảm hóa và thu phục ngay từ phút giây ấy, họ quên mất
những lời dặn dò nhau khi trước mà lại kẻ đem nước đến cho
ngài rửa chơn, người đến cầm đở giúp những y áo và bình bát
cho ngài. Những người kia lại quét dọn nơi chốn và trải y cụ
thỉnh ngài ngồi. Tuy nhiên chưa hiểu rõ được hết câu chuyện, họ
vẫn gọi ngài là đạo hữu và chê trách việc từ khước lối
sống khổ hạnh khi trước của ngài.
Đức Phật lúc ấy mới ôn tồn kể lại cho họ
nghe câu chuyện của ngài kể từ khi ngài nhận chân ra con đường
trung đạo và quyết tâm lìa bỏ những kiến chấp sai lạc thuở
trước. Con đường trung đạo ấy là con đường xa lìa những kiến
chấp cực đoan thường dẫn đến những khổ đau và hủy diệt. Ngài
cũng trình bày cho họ biết là ngài không trở lại đời sống lợi
dưỡng và xa hoa; ngài đã không ngừng dụng công tu tập và thiền
định sau khi rời bỏ đời sống khổ hạnh và cuối cùng sau những
chiến đấu cam go với Ma vương dưới gốc cây Bồ Đề ngài đã
giác ngộ hoàn toàn, chứng được quả Phật.
Đức Phật từ đó cũng nói những người bạn đồng tu rằng
từ đây đừng gọi ngài bằng tên hay bằng danh từ bạn hữu vì
ngài hiện đã là một vị Phật, một đấng toàn giác. Này các
thầy, do sự nỗ lực không ngừng mà ta giờ đây đã giác ngộ,
thành đạo vô sanh bất diệt và hôm nay vì lợi ích của các thầy,
ta sẽ giảng nói giáo pháp ấy cho các thầy nghe. Nếu các thầy thực
hành đúng theo lời dạy đó, các thầy cũng sẽ sớm được chứng
ngộ, có được tuệ giác và dứt bỏ hẳn con đường sinh tử.
Năm đạo sĩ khi ấy chẳng tin lời Phật, họ cùng nhau đồng nói:
Này đạo sĩ Cồ đàm, trước kia người từng sống khắc khổ,
nghiêm trì giới luật, tinh tấn tu hành mà còn chưa đạt được trí
tuệ siêu thoát nào; thì làm sao khi người trở về đời sống xa hoa
lợi dưỡng lại có thể đạt được trí tuệ siêu phàm, chứng
ngộ quả vị Phật.
Một lần nữa đức Phật lại nói rằng,
ngài không hề sống xa hoa trở về với lợi dưỡng mà luôn luôn
dụng công tinh cần tu tập và đã đạt được quả Vô thượng
Chánh đẳng Chánh giác sau khi thiền tọa dưới cội cây bồ đề. Cả
ba lần họ đều từ chối không tin ngài nhưng thấy sự xác quyết
nhiều lần của đức Phật, họ cũng tin theo và xin ngài giảng pháp
cho họ nghe.
Cách đó không xa là nơi chư Phật trong nhiều
đời trước thường chuyển bánh xe pháp và độ cho những người
đệ tử ban đầu. Nương theo truyền thống của chư Phật từ ngàn xưa,
đức Phật cũng đến nơi ấy và đi kinh hành chung quanh ba lượt. Lúc
ấy trên hư không muôn ngàn tiếng nhạc trời trổi dậy và các
loại hương, loại hoa Chiên Đàn, Mạn Thù Sa đồng rơi xuống cúng
dường ngài. Trong hư không cũng có một ngàn pháp tòa xuất hiện
chiếu đầy màu sắc khắp cả không gian.
Khi đức Phật cất tiếng thuyết giảng bài
kinh Chuyển Pháp Luân thì lúc ấy hào quang và ánh sáng quanh mình
ngài bỗng chói chang chiếu ra muôn ngàn tia màu sắc, cùng lúc ấy
cả thảy ba ngàn thế giới đều rúng động. Chư thiên từ các cõi
trời giáng xuống và trải thêm đầy các loài hoa quý cúng dường
ngài. Mọi loài trong chúng sanh giới lúc ấy cũng cất tiếng cầu
thỉnh ngài chuyển pháp. Pháp âm vừa xong, người trưởng thượng
trong năm người là ngài A Nhã Kiều Trần Như liền đắc
thánh quả A La Hán. Một lần nữa đức Phật thuyết lại bài kinh
Chuyển Pháp Luân này và tánh chất vô thường của vạn pháp,
lần này bốn người bạn khác của ngài đồng chứng quả A La
HánẠ.
Mở đầu bài pháp này đức Phật nói đến con đường tu Trung
Đạo xa lìa các kiến chấp cực đoan bằng lời mở đầu như sau:
Này các Tỳ kheo có hai điều thái quá mà người tu không nên
theo. Thế nào là hai. Một là mê đắm dục lạc, đó là thấp hèn,
phàm tục, không xứng phẩm hạnh của bậc thánh nhơn và vô ích. Hai
là tu khổ hạnh, đó là khổ đau, không xứng phẩm hạnh của bậc
thánh nhơn và vô ích. Này các Tỳ kheo chính là nhờ từ bỏ hai
điều thái quá này mà Như Lai giác ngộ con đường Trung Đạo, con
đường đem đến pháp nhãn, trí tuệ, đem lại an tịnh, thượng trí
và giác ngộ Niết bàn.
Đức Phật kế đó giảng giải bài kinh và
được tóm tắt lại như sau:
I. Chân lý về khổ. (Khổ đế). Ngài nói
lên đầy đủ các sự khổ não của thế gian mà phàm phu do vì si mê
không thể thấy được, đó là: Sanh là khổ, già là khổ, bệnh là
khổ, tử là khổ, sống chung với người mình không ưa là khổ, xa
lìa những người thân yêu là khổ, mong muốn không được là khổ
và năm uẩn không thường là khổ.
II. Chân lý về các nguyên
nhân của khổ. (Tập đế).
Đề cập đến những nguyên nhân
gây khổ đau đức Phật nhấn mạnh đến ái dục, vì ái dẫn đến
sự tái sanh, ái làm đau khổ vì tâm tha thiết khao khát, bám víu
các trần cảnh trong cuộc sống. Chính ái dục kéo theo nhục dục của
ngũ trần, ái kéo theo các sự sinh tồn, sanh ái, luyến ái trong tư
tưởng, hành động lầm lạc cho rằng thế gian là trường cữu vĩnh
cữu. Và cũng chính ái kéo theo các ý tưởng không sinh tồn, đoạn
diệt vì lầm lạc cho rằng sau khi chết là hết, là hư vô.
III. Chân lý về các trạng
thái hỷ lạc sau khi dập tắt ái dục. (Diệt đế).
Tại đây
đức Phật đã miêu tả một cách chi tiết các cảnh giới an tịnh hay
con gọi là Niết bàn, một trạng thái vắng lặng các ái dục và
phiền não. Phiền não do ái dục sinh và khi ái dục đã hết thì
phiền não cũng không còn. Trong các trạng thái hỷ lạc này đức
Phật nói đến các quả chứng ngộ mà nơi đó hỷ lạc và an tịnh
phát sinh.
1. Tu Đà Hoàn, một trạng thái chứng ngộ sơ quả, đã hết mê lầm
nhưng còn chấp ngã nên phải trở lại dục giới nhiều nhất là 7
lần để thành tựu quả A La Hán.
2. Tư Đà Hàm, chứng bực cao hơn Tu Đà Hoàn và phải một phen trở
lại sanh tử sau mới dứt hẳn.
3. A Na Hàm, đã dứt hẳn mê lầm, hết phải tái sanh trở lại.
4. A La Hán, quả vị cao nhất, có đầy đủ phước đức trí tuệ và
hết phiền não sanh tử luân hồi.
IV. Chân lý về các pháp tu
đưa đến sự hỷ lạc, an tịnh. (Đạo đế).
Đức Phật trình
bày thứ lớp các con đường tu để dập tắt các nguyên nhân của
khổ đau. Các pháp đó là, A) Tứ Niệm XứẠ, B) Tứ Chánh CầnẠ,
C) Tứ Như Ý TúcẠ, D) Ngũ CănẠ, E) Ngũ LựcẠ, F) Thất Bồ Đề
PhầnẠ và G) Bát Chánh ĐạoẠ.
Sau khi đức Phật độ xong năm người bạn
đạo, ngài cùng đi với họ đến bờ sông Naci. Lúc ấy trời sập
tối và có một người Bà La Môn trẻ tuổi tên Yasa đến bờ sông
để cầu nguyện.
Yasa nguyên là một con trai cưng trong một gia đình trưởng giả
giàu có ở Ba La Nại. Anh sống trong sự huy hoàng giàu sang nhưng vẫn
không cảm thấy được hạnh phúc. Ý chí tìm cầu một đời sống
nội tâm luôn luôn thao thức trong anh và anh vẫn chưa tìm ra được
một lối thoát. Nổi khao khát tìm đạo trong anh bỗng bừng cháy khi
một hôm thức dậy vào buổi tối, anh trông thấy những nàng hầu
nằm vất vưởng ngủ quanh phòng và nơi khóe miệng họ nước dãi
chảy đầy ô uế, cảm thấy xót xa, xúc động và bức rức anh đi
lang thang trên những con đường phố hướng dần ra bờ sông.
Khi đến bờ sông và trông thấy đức Thế Tôn đứng bên kia
bờ anh ta xúc động òa lên khóc và cất tiếng than van rằng: Ngài
ôi! con thấy khốn khổ và đọa đày quá. Con không tìm ra được
một con đường an tịnh cho chính con. Xin ngài hãy giúp đỡ và cứu
độ con. Đức Phật chậm rãi nói giọng từ hòa rằng: Này
đạo hữu, nơi đây không có sự khốn khổ và không có sự đọa
đày. Đạo hữu hãy đến và ngồi đây, Như Lai sẽ giảng giáo pháp
cho ngươi nghe. Nghe xong Yasa quá đổi vui mừng bèn vứt bỏ đôi dép
trên bờ sang sông để gặp đức Phật.
Tại đây đức Phật giảng giải Phật pháp cho
Yasa nghe, ngài trình bày những nổi khổ đau của cuộc đời, nơi đó
thật không có một hạnh phúc thật sự, tất cả đều chỉ là huyển
ảo, tạm bợ và đem lại cho con người nhiều bất mãn. Hạnh
phúc thật sự không thể có được nơi những tài sản, danh vọng
hay quyền lực thế gian, vậy mà chúng sanh lại đắm say vào các thứ
này để từ đó tạo ra vô số các ác nghiệp. Họ theo đuổi hạnh
phúc trong ái ân nhục dục và cho rằng đây là hạnh phúc bậc nhất
nhưng đáng thương thay đâu là hạnh phúc thật sự khi tất cả chỉ
là một sự thỏa mãn ước vọng nhất thời do tác động bởi ngã
và vô minh si ám. Chỉ có hạnh phúc chân thật và cao thượng hơn
hết là hạnh phúc của sự vươn mình vượt ra khỏi ái dục và
những khoái lạc vật chất. Đức Phật cũng giảng cho Yasa nghe
về hạnh xả ly, trì giới và các cõi trời, về hạnh tri túc và con
đường đạt đến chánh trí. Nghe xong Yasa giác ngộ được chân lý
và xin quy y với đức Phật, trở thành người phật tử tại gia
đầu tiên trong Phật giáo.
Cùng đêm ấy người hầu của Yasa phát hiện ra chủ mình bỏ
nhà ra đi và sợ rằng chủ mình sẽ gặp tai nạn nào đó nên báo
cáo lên cha của Yasa. Hai người hốt hoảng đi khắp nơi tìm kiếm,
cuối cùng hai người ra bờ sông và gặp Yasa cùng đức Phật ở
đây. Nhân đó ngài đã giảng cho cha của Yasa nghe về những diệu
đế trên. Nghe lần thứ hai này Yasa liền đắc thánh quả A La Hán và
để tán thán nhân duyên hy hữu này đức Phật nói lên một bài
kệ như sau:
Kẻ sắc phục huy
hoàng, bước vào con đường thánh.
Cảm động ân đức này Yasa xin cha mời
đức Phật đến thọ trai nơi nhà vào ngày hôm sau và giảng pháp cho
mọi người trong gia đình nghe. Cha Yasa ưng thuận và thỉnh cầu lên
đức Phật, ngài hoan hỷ nhận lời. Sau khi cung thỉnh được đức
Phật đến nhà thọ trai vào hôm sau, Yasa cùng cha mình trở về
nhà. Sáng hôm sau đức Phật đến nhà Yasa thọ thực và nhân
đó giảng pháp cho toàn thể gia đình Yasa nghe. Sau khi lãnh thọ giáo
pháp xong cả gia đình Yasa đồng tỉnh ngộ và để trình bày lòng tin
kiên cố của mình đến với giáo pháp mà ông vừa nhận được,
cha của Yasa bạch cùng đức Thế tôn rằng:
"Thật là hy hữu thay! đức Thế tôn, cũng
như có người dựng lại ngay ngắn một vật gì bị lật đổ, hay khám
phá ra điều gì bị giấu kín từ lâu, hay vạch đường chỉ lối cho
người lạc bước, hay rọi đèn soi sáng trong đêm tối cho người,
giáo pháp mà đức Thế Tôn giảng bằng nhiều phương tiện cũng
dường như thế" .
Bạch đức Thế Tôn, chúng con xin được quy y Phật, Pháp và
Tăng. Xin ngài thâu nhận con vào hàng thiện tín. Xin ngài cho phép con
nương tựa nơi Tam Bảo từ ngày này cho đến giờ phút cuối cùng
của đời conẠ.
Riêng Yasa sau khi đắc thánh quả bèn xin đi xuất gia. Lúc bấy
giờ trong làng, Yasa có bốn người bạn thân tên là Vimala, Subhabu,
Punnaji và Gavampati nghe tin Yasa đắc thánh quả xuất gia nên cũng đến
tìm gặp và thỉnh pháp với đức Phật. Yasa dẫn họ vào tiếp kiến
ngài và do tuệ nhãn quán sát biết căn cơ họ đã thuần thục,
đức Phật giảng các pháp vi diệu cho họ nghe và ngay sau khi thời
pháp chấm dứt cả bốn người đồng đắc thánh quả A La Hán xin
được xuất gia. Lúc đó trên cõi này có tất cả là mười vị A
La Hán.
Nghe những chuyện kỳ lạ này, năm mươi người
thanh niên trong hoàng tộc bèn đến gặp đức Phật và xin được nghe
ngài giảng pháp. Sau khi nghe xong họ liền được độ và xin xuất gia
tu học với ngài. Chẳng lâu sau tất cả họ cũng đều chứng quả A
La Hán.
Đức Phật lưu lại Lộc Uyển trong mùa mưa đầu tiên trước khi
đi ngược trở lại về hướng Bồ Đề Đạo Tràng và đến thành
Vương Xá. Trước khi ra đi ngài tập hợp sáu mươi vị A La Hán lại
ân cần dặn dò và giao phó họ trách nhiệm hoằng pháp. Ngài dạy
rằng:
Này hỡi các Tỳ kheo, Như lai đã thoát ra khỏi
mọi sự trói buộc, dầu ở cảnh trời hay cảnh người. Các con
cũng vậy, các con cũng đã thoát ra được những trói buộc của
cảnh trời cảnh người. Hãy ra đi các Tỳ kheo để đem lại sự tốt
đẹp và hạnh phúc cho nhiều người. Vì lòng từ bi hãy đem lại
sự tốt đẹp, lợi ích và hạnh phúc cho chư thiên và nhơn loại.
Mỗi người hãy đi mỗi ngã. Này hỡi các Tỳ kheo, hãy hoằng dương
giáo pháp tốt đẹp trong ba thời. Hãy công bố đời sống thiêng
liêng cao thượng, toàn thiện và trong sạch của các vị.
Có những chúng sanh vướng ít nhiều cát bụi
trong mắt và nếu không nghe được giáo pháp họ sẽ bị sa đọa.
Cũng sẽ có những người am hiểu được giáo pháp. Chính Như lai
cũng ra đi hướng về Uruvela để hoằng dương giáo pháp. Hãy phất
lên ngọn cờ của bậc thiện trí. Hãy truyền dạy giáo pháp cao
siêu. Hãy mang lại sự tốt đẹp cho người khác. Được vậy là
các con đã hoàn tất nhiệm vụĻ.
Tiếp tục cuộc hành trình chuyển hóa, một hôm trên đoạn
đường đi lúc ngồi nghỉ dưới một gốc cây ngài gặp 60 người
thanh niên đang chơi đùa chọc ghẹo mấy cô thiếu nữ. Khi một trong
mấy cô ấy chạy mất nên cả đám họ đi tìm và gặp đức Phật
lúc ấy đang ngồi dưới một gốc cây. Thấy đức Phật các chàng
thanh niên lại gần và hỏi ngài có thấy một cô thiếu nữ đi ngang
qua đây không?
Đức Phật hỏi lại:
- Theo ý các anh thì nên tìm một cô gái là hơn hay nên tự tìm mình là hơn?
- Thưa ngài dĩ nhiên tìm mình là hơn. Càc chàng thanh niên kia đáp.
Đức Phật nói: nếu các anh ngồi lại đây một chốc, ta sẽ giảng
cho các anh nghe sự thật.
Tất cả họ đều quỳ xuống cung kính đảnh lễ và ngồi sang một
bên im lặng lắng nghe lời Phật dạy. Đức Phật giảng giải đạo lý
cho họ nghe và nhơn đây mọi người đều phát được lòng tin trong
sạch, họ xin được quy y với ngài làm những người đệ tử tại
gia của đức PhậtẠ.
Ba La Nại và Lộc
Uyển ngược thời gian
Tính chất thiêng liêng của thành phố này
đã đóng một vai trò lịch sử trong chiều hướng phát triển đời
sống tâm linh cho cả người dân Ấn thời xưa và mãi cho đến ngày
nay. Vào thời kỳ đức Phật Ba La Nại có lẽ là một thành phố
rất lớn vì ngài A Nan khi thỉnh cầu đức Phật nhập diệt nơi một
trong 6 thành phố lớn này có đề cập đến thành phố Ba La Nại mà
lúc bấy giờ tên là Kasi: "Bạch đức Thế tôn sao ngài không
chọn chỗ nhập diệt ở các thành phố lớn như: Sravasti, Campa,
Rajagrha, Saketa, Kausambi và Kasi mà ngài lại chọn nơi một ngôi làng
nhỏ bé hẻo lánh này.Ạ"
Trong cuốn Tây Vực Ký ngài Huyền Trang (thế kỷ thứ VII) cũng
ghi một số nét về thành phố Ba La Nại này. Ghi rằng, Ba La Nại
tọa lạc về hướng tây sông Hằng rộng khoảng 4000 lý, dân chúng
sống đông đúc ở vùng này, rất nhiều gia đình giàu có và nơi
họ ở thường có nhiều bảo vật quý giá. Người dân tại vùng
này rất nhân ái, thanh nhã và ham học. Đa số họ là người không
có tín ngưỡng tuy nhiên họ cũng rất tôn kính giáo pháp đức
Phật. Thời tiết dễ chịu, mùa màng phong nhiêu, cây cỏ xum xê và
rừng rậm có ở khắp mọi nơiẠ.
Đối với Phật giáo thì tính chất thiêng
liêng ở đây được thiết lập kể từ khi đức Phật cất tiếng
rống sư tử khởi chuyển pháp luân tại Lộc Uyển (cách Ba La Nại
khoảng 7 dặm) vào khoảng 25 thế kỷ về trước. Lộc Uyển được
khởi sự biết đến kể từ thời gian đó. Theo như kinh truyện
ghi chép thì Lộc Uyển không chỉ là nơi đức Phật Thích Ca thị hiện
chuyển bánh xe pháp trong hiện tại mà cả 1000 chư Phật trong hiền
kiếp này cũng đã và sẽ chuyển bánh xe pháp tại đây.
Lộc Uyển có một chuyện tích kỳ thú như
sau: Thuở xa xưa Bồ tát trong một kiếp phải thọ sanh làm nai và
được cả bầy nai 500 con bầu làm nai chúa tại vùng này. Cũng trong
khu rừng ấy có một đàn nai 500 con khác do nai chúa Đề Bà Đạt Đa
(Devadatta) dẫn đầu. Vào lúc bấy giờ trong vương quốc nọ có một
vị vua chuyên thích thú việc săn bắn và thường săn đuổi đốt
rừng giết hại các bầy nai và bắt về ăn thịt. Thấy tình cảnh như
vậy nên một hôm trong cuộc săn bắn của nhà vua, nai chúa một mình
đi đến và thưa thỉnh với nhà vua như sau:
Đại vương! ngài đã thiêu đốt, săn bắn và giết chóc bao
nhiêu là nai chúng trong khu rừng này. Trước khi mặt trời lên
nhiều con phải chết, nhiều con đói không tìm ra thức ăn. Vậy từ
nay xin Đại vương cho phép chúng tôi mỗi ngày được dâng nạp một
con nai và như vậy Đại vương sẽ có được một món thịt tươi tốt
và chúng tôi nhờ đó cũng kéo dài được mạng sống. Nhà vua vui
vẻ đồng ý và rút đoàn quân săn bắn trở về.
Thế là hai đàn nai trong khu rừng ấy cứ thay phiên dâng nạp
sinh mạng một con nai mỗi ngày cho nhà vua. Một hôm có con nai mẹ trong
đàn của Đề Bà Đạt Đa mang thai. Con nai cái ấy đến Đề Bà Đạt
Đa và tâu lên rằng: Thưa ngài, nay đến phiên tôi dâng nạp mình cho
nhà vua nhưng tôi đang có mang, con tôi không thể theo đó mà hy sinh
luôn. Vậy xin ngài cho tôi khất hẹn cho đến khi sinh nở xong.
Nai chúa Đề Bà Đạt Đa bấy giờ rất giận dữ và la lên
rằng: Ai cũng quý sinh mạng mình, làm sao có thể tìm sinh mạng ai thay
thế cho ngươi đây. Ngươi phải đi chịu chết.
Con nai mẹ ấy rất buồn rầu than khóc và đi
tìm phương giúp đỡ. Nghe có tin đồn rằng nai chúa của đàn kia rất
có lòng từ bi nên nai mẹ ấy đến gặp và trình bày hoàn cảnh
của mình. Nghe xong Bồ tát nai nói rằng: Câu chuyện đáng buồn nhưng
ngươi với tình thương yêu của một người mẹ thật cao cả, ta sẽ hy
sinh cứu mạng cho nhà ngươi.
Nai chúa một thân một mình đi đến cổng thành
của nhà vua và mọi người trên đường phố khi ấy đều lấy làm
lạ và nói lên rằng: lạ thay, lạ thay hôm nay nai chúa đi đến kinh
thành. Dân chúng trong thành ai nấy chạy ra xem.
Nghe mọi người đồn nói như vậy, nhà vua chẳng
tin nên sai người hầu chạy ra xem và quả thật người hầu cũng
trình bày lại như vậy. Vua bấy giờ mới cho vời nai chúa vào và
hỏi: Tại sao hôm nay nhà ngươi đến kinh thành?
Nai chúa trả lời: Lẽ ra hôm nay có một con nai mẹ đến phiên
nạp mình nhưng vì đang thời mang thai nên xin được thay thế. Tôi
không thể cầm lòng được khi thấy nai mẹ ấy phải bị chết khi chưa
được sinh con nên đến đây nạp mình thay cho nai mẹ ấy.
Nhà vua nghe xong câu chuyện rất lấy làm cảm động và nói lên
rằng: Hay thay! nai chúa, ngươi tuy là loài vật nhưng lại mang tâm
người, còn ta thật xấu hổ thay tuy là người lại mang tâm thú.
Nói xong nhà vua cho thả nai chúa ra và truyền lệnh rằng, kể từ nay
những con nai không còn phải mỗi ngày nạp mạng cho nhà vua nữa. Vua
cũng hiến tặng khu vườn ấy cho loài nai và kể từ đó khu vườn
này được đặt tên là là Lộc Uyển.
Nơi Lộc Uyển này có nhiều câu chuyện khác
liên quan đến những vị Độc Giác Phật đã bỏ thân nhập diệt tại
đây khi hay tin đức Phật Thích Ca sắp hạ sanh từ cung trời Đâu
Suất. Một vài kinh sách ghi rằng khi các vị Độc Giác Phật này nhập
diệt họ bay lên hư không và Xá lợi họ rơi xuống vùng này nên
khu đất này được gọi là Risipatana, nghĩa là: 'nơi các vị ẩn sĩ
rơi xuống'. Lúc ngài Huyền Trang đến đây ngài cũng còn trông thấy
ngôi tháp đánh dấu nơi 500 vị Độc Giác Phật nhập diệt. Gần đó
cũng có ba ngôi tháp khác đánh dấu nơi ngồi và đi thiền hành
của ba vị Phật trước đức Phật.
Sau thời gian đức Phật nhập Niết bàn, Lộc Uyển vẫn còn là
một trung tâm tu học thuần tịnh tuy rằng không còn được phồn thịnh
như khi đức Phật còn tại thế. Vua A Dục vào thế kỷ thứ III
trước TL có đến đây chiêm bái đảnh lễ nơi ngài chuyển pháp
luân và cho xây một số tháp tôn thờ đức Phật.
Thời đại vua A Dục cũng là thời đại mà
nền nghệ thuật đạt đến điểm cao nhất. Những nhà nghệ thuật
thuộc Mathura đã cung cấp nhiều mẫu tượng độc đáo và trang trí cho
những đền tháp tại Lộc Uyển này. Khi vua Kanishka trùng tu những
tự viện ở Lộc Uyển và xây dựng những tu viện mới vào thế
kỷ thứ nhất sau Tây lịch thì ảnh hưởng của nghệ thuật Mathura vẫn
còn tiếp tục. Năm 87 sau Tây lịch, vị tăng Bala người Mathura đã
tạc và cúng dường một pho tượng Bồ tát to lớn được chạm
khắc bằng cát đỏ. Nhưng có thể nói truyền thống nghệ thuật này
đạt được những đường nét thẩm mỹ cao nhất là vào triều
đại của những hoàng đế Gupta (thế kỷ thứ IV đến thứ VI sau Tây
lịch). Trong thời đại này ngôi điện thờ trung tâm được mở
rộng và bề mặt của tháp Dharmekkha được làm lại bằng đá có
chạm khắc một cách thanh nhã.
Ngài Pháp Hiển từ Trung Hoa sang học tại Ấn Độ vào thế kỷ
thứ V có ghi lại rằng, vào thời gian ngài đến Lộc Uyển lúc ấy
có hai tự viện và 4 ngôi tháp lớn, cũng có một số đông tăng
sĩ tu học tại đâyẠ. Rải rác đó đây trong Lộc Uyển có một số
ngôi tháp đánh dấu nơi mà vạn ức năm xa xưa đức Phật Thích ca
và ngài Di Lặc được thọ ký về sự giác ngộ của họ trong tương
lai.
Trong các ký sự ghi lại những di tích Phật giáo
ở Ấn Độ thì tập ký sự của ngài Huyền Trang được đánh giá
cao hơn hết vì ngài đã ghi chép lại đầy đủ và chi tiết mọi sự
kiện trong thời gian ngài viếng thăm Ấn Độ kể cả phong tục, văn
hóa, thời tiết, và tinh thần của người dân bản xứ. ở nơi Lộc
Uyển này ngài cũng tả chi li về các di tích tại đây: nội trong
khuôn viên của nó mà thôi cũng đã có nhiều di tích đánh dấu
sự hiện hữu của đức Phật và ba trăm điện thờ cùng với
tháp. Nào nơi đây đức Thế tôn đã tắm, nơi kia đức Thế tôn
rửa chiếc bình bát khất thực. Một nơi khác là nơi ngài thường
giặt y áo. Rồi những tháp lớn nhỏ xung quanh đánh dấu các truyền
tích về những đời tái sanh trước của ngài. Nơi đây trong một
kiếp quá khứ Bồ tát đã từng làm con voi sáu ngà, rồi một kiếp
khác làm con chim, nơi kia ngài đã từng làm một con nai chúa và một
chỗ khác có tháp đánh dấu ngài trong một kiếp làm thỏ đã bố
thí thân mạng mình làm thức ăn cho một người đi đường đang
đói khác.
Khi chúng tôi (ngài Huyền Trang) đến viếng nơi này thì Lộc Uyển
có khoảng 30 tự viện và 3000 tăng sĩ tu theo truyền thống Samatiya
(Chánh Lựợng Bộ). Cũng có hàng trăm ngôi đền thờ Deva thuộc
Ấn giáo và 10.000 du sĩ ngoại đạo. Họ tôn thờ đấng Đại Thiên
và thực hành các pháp tu khổ hạnh như cắt tóc, buộc tóc, thân
không mặc quần áo và trét tro đầy người. Bằng những pháp tu ấy
họ mong cầu được giác ngộ giải thoát khỏi sinh tửẠ.
Vào thời gian đó Lộc Uyển đã trở thành một
trung tâm quan trọng của những tu sĩ Samatiya, một trong 18 tông phái
Phật giáo rất đang thịnh hành tại Ấn Độ lúc bấy giờ. Phía đông
bắc thành phố, mạng tây của dòng sông Varana có một ngôi tháp cao
100 feet do vua A Dục xây dựng với một trụ đá dựng ở trước
mặt. Trên bề mặt trụ đá chói lọi và sáng như gương, phẳng và
láng như nước đá. Trên đó người ta cũng thường thấy hình
bóng của đức Phật.
Cách dòng sông Varana về hướng đông bắc
khoảng 10 lý, có một tự viện rất lớn khác. Tự viện này gồm
có tám dãy phòng nối nhau với những bức tường bao quanh. Tại
đây những tháp lớn với các lan can được xây dựng với một
kiến trúc rất tinh vi. Gần đó có một tịnh xá khác cao khoảng 200
feet. Tất cả kiến trúc này được xây bằng đá nhưng những tháp
bên trong thì xây bằng gạch. Chính giữa tịnh xá có đặt một
tượng Phật bằng đồng theo tư thế đang chuyển pháp luân.
Hướng tây nam của tịnh xá có một tháp đá
được xây dựng bởi vua A Dục (Ashoka). Mặc dù nền tháp bị hư
tháp vẫn còn cao 100 feet hoặc hơn với bờ tường còn sót lại.
Trước kiến trúc này có một trụ đá cao 70 feet. Chính nơi này
đức Phật đã đến đây và chuyển pháp luân lần đầuẠ.
Không xa lắm từ nơi này là một nền tháp khác đánh dấu nơi
ở của năm người bạn đồng tu với đức Phật và khi thấy ngài
từ xa đi lại, họ đã bàn với nhau là không nên đứng dậy chào
và cung kính ngài.
Phật giáo thịnh đạt và phát triển trong
một thời gian dài ở Lộc Uyển là do sự ủng hộ của các hàng vua
chúa và những tầng lớp trung lưu giàu có. Đến thời gian cực
thịnh Lộc Uyển đã trở thành một trung tâm nghệ thuật và giáo
dục cũng như những hoạt động tín ngưỡng. Tuy nhiên các ảnh
hưởng này đã mất dần kể từ cuối thế kỷ thứ XII sau khi quân
đội Hồi giáo sang xâm chiếm Ấn Độ. Sử liệu ghi lại rằng Lộc
Uyển bị phá hoại và điêu tàn nặng nhất trong thời gian này. Cuộc
tấn công đầu tiên do một ông vua Hồi giáo tên là Mohamet và trong
lần đánh chiếm này ông ta đã cho phá tan hàng trăm ngôi chùa tại
Ba La Nại và Lộc Uyển, giết đức vua và phá tan thành phố. Lịch
sử ghi lại rằng cả một trung tâm thánh địa Phật giáo rộng lớn
đã trở thành đỏ thắm bởi màu máu. Sau khi cướp bóc ông ta
đã cho chở về nước hơn 1400 con lạc đà chứa đầy châu báu.
Lần đánh cướp thứ hai của một ông vua Hồi giáo khác tên là
Kutubuddin xảy ra vào năm 1194 đã biến thành phố Ba La Nại và Lộc
Uyển thành bình địa hoang tàn.
Kể từ thời gian đó Lộc Uyển đã dần dần
trở thành một nơi của lãng quên, của hoang tàn đổ nát. Lịch sử
Lộc Uyển và thành phố Ba La Nại đã chìm vào quên lãng trong suốt
những thế kỷ sau đó. Ánh sáng của nơi thiêng liêng này hé dần
bắt đầu vào thế kỷ XIIX năm 1794 khi một quan viên của thành phố Ba
La Nại do xây cất dinh thự đã sai những người thợ vào khu vực
Lộc Uyển để lấy gạch đá đem về. Khi đống gạch nơi tháp bị kéo
sập người ta tìm thấy một hộp đá trong có chứa xương và một
tấm thẻ bài ghi chú. Không biết đây là Xá lợi của Phật người
ta đem vứt xuống sông HằngĻ.
ở phần này có nhiều tài liệu ghi khác nhau.
Theo cuốn "The Holy places of Buddha" thì lúc những người thợ
kéo sập đống gạch đá nơi ngôi tháp, họ tìm thấy một hộp bằng
đá nằm rất sâu bên trong cùng với nhiều mảnh tượng và các
tấm thẻ bài, một hình tượng đức Phật được chạm khắc với
niên đại Samvat 1083. Bên trong hộp này có một chiếc hộp khác bằng
cẩm thạch trong có chứa xương Xá lợi Phật, một số ngọc trai,
hồng ngọc, vòng tai bằng vàng và bạc. Hộp cẩm thạch được giao cho
một viên chức hành chính Ronathan Dunkan, nhưng ông ta không nhận
được hộp bằng đá. Cunningham nhà khảo cổ học người Đức đã
tìm cách xác định vị trí của hộp bằng đá này nhưng không tìm ra
các sử liệu nào ghi chép về nó. Những hình tượng, các thẻ bài
và pho tượng Phật cũng biến mất. Người ta tiến hành việc tìm
kiếm pho tượng Phật và sau cùng nó được tìm thấy bị bể
bên trong những tảng đá khác bị dời khỏi ngôi tháp. Trong nỗ
lực truy tìm chiếc hộp bằng đá, Cunningham đã đến một người
công nhân già và theo lời ông ta kể thì ông ta đã để lại chiếc
hộp ấy nơi chỗ cũ của nó. Theo sự hướng dẫn của ông ta cuối
cùng Cunnningham đã đào lại được chiếc hộp đá đó Ạ
Các cuộc khai quật do nhà khảo cổ học Cunningham
đưa ra ánh sáng hầu hết các di tích của Phật giáo mà trong suốt
nhiều thế kỷ qua đã bị quân đội Hồi giáo tàn phá và vùi lấp.
Cũng trong các cuộc khai quật này người ta đã đào bới được
nhiều nền móng tháp và tự viện cổ xưa. Một số tháp có niên
đại vào thời đại vua A Dục trong khi một số hàng rào bao lơn có
niên đại vào thời kỳ Sunga, xác định rằng các tháp Dharmarajika,
Dhamekkha đã từng được bao quanh bởi những bao lơn có hình dáng
giống như đại tháp ở Sanchi. Những bia ký được tìm thấy nơi
đây cũng ghi nhận rằng tháp Dharmarajika và Dharmachakra đã được
sửa sang bởi Sthirabala và Vasantabala trong năm 1026 theo lời yêu cầu
của nhà vua Mahibala.
Tiếp theo sau các cuộc khai quật và nghiên cứu
của nhà khảo cổ học Cunningham là một loạt các công trình khảo cổ
và nghiên cứu tại những thánh tích Phật giáo khác ở Ấn Độ.
Tuy nhiên Lộc Uyển có thể được xem là một địa điểm khảo cổ
quan trọng vì những mẫu vật mang tính chất rất nghệ thuật được
tìm thấy ở đây. Trong khi các công trình khai quật đang được tiến
hành thì Lộc Uyển cũng dần được sáng tỏ nổi bậc lên trong lịch
sử tôn giáo ở Ấn Độ. Tuy nhiên công trình nghiên cứu vùng này
đến quá trể nên không thể cứu vãn được ngôi tháp Dharmarajika,
và giờ đây do bị tàn phá và hư hại nặng nề trong cuộc đào
bới tìm vật liệu xây dựng năm 1794 mà tháp này hiện chỉ còn là
một nền móng phẳng lì rộng lớn.
Trong các cuộc khai quật ở Lộc Uyển người ta
tìm thấy tổng cộng hơn 300 tượng Phật tại đây. Điều này đã
xác định tầm quan trọng của Lộc Uyển như là một trung tâm nghệ
thuật từ những thời đại Gupta cho đến thế kỷ XI. Trong các pho
tượng được khám phá có những pho tượng Phật rất mỹ thuật
đã từng đánh động các nhà sử học và những sinh viên ngành
nghệ thuật Phật giáo quan tâm. Đó là bức tượng đá tạc hình
đức Phật đang kiết ấn Chuyển Pháp Luân. Một số các tượng Heruka
và Tara cũng được tìm ở đây cho thấy rằng truyền thống Phật
giáo Tantra đã từng có mặt tại đây. Hầu hết các pho tượng này
có thể được nhìn thấy tại Bảo tàng viện Lộc UyểnẠ.
Theo Cunningham thì hầu hết các cuộc khai quật cho
thấy Lộc Uyển đã từng bị những nạn hỏa tai lớn. Phần lớn các
kiến trúc được ghi nhận là đã bị cướp phá và đốt cháy
nhiều lần. Những di vật, các mẫu gạch, các nền móng tháp, chùa
viện được tìm thấy trong màu xám đen của tro đốt. Một vài tháp
lớn như tháp Dharmekkha còn lại ngày nay là do nhờ những chiếc
kiềng bằng sắt chắn trên những viên đá của mặt tháp Dharmekkha
và có thể do đó mà tháp khỏi bị sụp đổ và tiêu hủy như
những đền tháp tự viện khác.
Kế bên đại tháp là khu vực khảo cổ gồm nhiều nền móng
các tự viện xưa được khai quật lại. Khu vực này mang tên Kittoe
vì do ông Kittoe đào bới từ 1934 đến 1937. Khu vực này nguyên mỗi
bề dài 33m và có tất cả gần 28 tăng phòng.
Các cuộc khai quật gần đây đã tìm ra một mảnh
của một trụ đá vĩ đại được vua A Dục cho xây tại Lộc Uyển
để đánh dấu nơi đức Phật gởi 60 người đệ tử A La Hán đầu
tiên đi khắp nơi để hoằng truyền giáo lý đức Phật. Trụ đá
được tìm thấy gãy gần sát đất, có lẽ do bị sấm sét và nền
của nó được bao quanh bởi một hàng rào bằng thép. Trụ đá này
nguyên thủy cao 15.24m được làm bằng đá nguyên khối và thân trụ
được chà bóng lưỡng. Đầu trụ có hình sư tử bốn đầu mỗi
đầu quay về mỗi hướng tượng trưng cho giáo lý hòa bình của
đức Phật sẽ truyền rộng khắp bốn phương thế giới. Dưới chân
của tượng sư tử bốn đầu là bốn con vật cùng với bốn bánh xe
pháp, mỗi bánh xe có 24 căm tượng trưng cho 24 pháp của đức Phật.
Bốn con thú là: ngựa, bò, voi và sư tử. Ngựa tượng trưng cho
sự xả bỏ của đức Phật, bò tượng trưng cho dấu hiệu xuất thế
của đức Phật, voi tượng trưng cho sự uy dũng của đức Phật và
sư tử tượng trưng đức Phật thuộc dòng dõi này. Nền bên dưới
là những cánh sen liên hệ đến sự đản sinh của đức Phật khi
ngài bước đi bảy bước và dưới chân ngài những đóa sen hiện
ra.
Về trụ đá của vua A Dục thì ngài Huyền Trang
có tả rõ như sau: Phía tây nam ngôi chùa có một ngôi tháp do vua A
Dục dựng lên dù bị đổ nát nhưng cũng còn ba bức tường dài
độ 30m rất trơn láng chẳng khác gì ngọc thạch... Phần dưới trụ
đá có khắc hàng chữ bằng mẫu tự Bramin theo lệnh của vua A Dục:
"Đấng thiên nhơn sư đã dạy rằng, Giáo hội Tăng Ni không
được chia rẽ. Nếu có vị Tỳ kheo nào phá hoại giáo hội, vị ấy
phải mặc đại y và phải ở một chỗ thanh tịnh chí thành sám hối.
Chỉ thị này phải được tuyên bố khắp nơi cho giáo hội Tăng chúng
và Ni chúng được biết. Hoàng đế ban rằng một chỉ thị như vậy
được chạm khắc vào chỗ hội họp, chỉ thị ấy phải được triệt
để thi hành...Ạ"
Có hai bia ký nữa được chạm bằng chữ Kushana có niên đại
vào thời kỳ vua Kanishka (thế kỷ thú I sau TL). Những bia ký này đang
được lưu giữ tại bảo tàng viện Lộc Uyển.
Di tích lịch sử.
Tháp Chaukhandi:
Nằm gần con đường tẻ đi vào Lộc Uyển và cách không xa từ viện
bảo tàng khảo cổ Lộc Uyển. Tháp này đánh dấu nơi đức Phật
gặp lại năm người bạn khổ hạnh đồng tu. Theo các tài liệu ghi
chép lại thì tháp này được xây dựng trong thời đại Gupta tức
là vào khoảng thế kỷ thứ V sau TL. Trong những thời gian sau này khi
Lộc Uyển bị tàn phá và rơi vào quên lãng thì tháp này cũng như
những nơi khác ở Lộc Uyển đã bị dân làng đến lấy gạch đá
đem về xây dựng. Tháp hiện chẳng còn gì ngoài một mô đất cao
với những phần gạch còn sót lại. Phần trên của ngọn tháp là
một kiến trúc hình bát giác do vua Humayun cho xây dựng vào thế kỷ
thứ XVI để tưởng niệm nơi ông đã từng lánh nạn cùng với
sự cứu giúp của một sư cô tên là Mamta.
Ngày nay ngôi đền hình bát giác ấy vẫn còn, đứng chơ vơ
trên một nền gạch rộng lớn với các bụi cỏ hoang dại rải rác
khắp nơi thiếu người chăm sóc.
Dharmekhastupa (Tháp chuyển pháp
luân):
Đại tháp này nổi bậc trong khuôn viên rộng lớn của Lộc Uyển.
Đây là một trong những kiến trúc to lớn còn sót lại sau thời
gian bị tàn phá. Nhà khảo cổ Cunningham khi cho đào bới phần trên
cùng của ngôi tháp thì tìm thấy một tấm bản đá ghi
"Dharmekkha" nói rằng đây là nơi đức Phật thuyết giảng bài
pháp đầu tiên. Dharmekkha dường như bắt nguồn từ "Dharma
Chakra" nghĩa là chuyển bánh xe pháp. Tấm bảng đó cũng đề cập
rằng đây là nơi mà năm anh em Kiều Trần Như sống và tu khổ hạnh
sau khi họ từ bỏ đức Phật tại Bồ Đề Đạo Tràng.. Đại tháp
này nguyên được vua A Dục cho xây vào khoảng năm 300 trước TL.
Kích thước hiện tại của tháp này với chiều cao là 31,3m và
đường kính là 28.3m. Phần dưới của đại tháp được bao quanh
với những phiến đá có đường nét chạm trỗ xinh đẹp về những
loại hoa kiết tường, hoa sen. Trên những đường nét chạm trổ đó
có 8 khám thờ bằng đá kích cỡ vừa đủ cho một tượng Phật như
người thật ngồi bên trong. Nhưng ngày nay thì các pho tượng ấy đã
không còn nữa.
Các nền tháp tự viện:
Từ bên ngoài đi vào và mặt sau của đại tháp Dharmekkha là một
vùng rộng lớn gồm nhiều nền móng tháp và các tự viện khi xưa.
Theo ngài Huyền Trang thì nơi đây trong thời ngài có khoảng 30 tự
viện và 3000 tăng sĩ tu học. Có lẽ sự hưng thịnh của Phật giáo
tại nơi đây thật sự bắt đầu chấm dứt vào thời gian người
Hồi giáo xâm chiếm và tàn sát vùng này.
Năm 1794 trong các cuộc khai quật của nhà khảo cổ Col.
C. Mc Kenji và Cunningham sau đó các xương Xá lợi Phật đã được
tìm thấy từ tháp Dharmarajika. Theo sự ghi lại của ngài Huyền Trang
thì trước đại tháp này có một trụ đá của vua A Dục.
Ashoka Pillar (Trụ đá vua A
Dục):
Kế bên khu vực khảo cổ, bên trong một hàng rào sắt là một phần
của trụ đá vua A Dục. Nhà vua cho xây trụ đá này vào khoảng 250
trước TL trong dịp đi chiêm bái các thánh địa Phật giáo tại vùng
này. Trụ đá nguyên thủy cao 21.33m trên đỉnh có tạc tượng sư tử
bốn đầu. Thời gian sau trụ đá bị gãy và trong các cuộc khai quật
sau này người ta đã tìm thấy được phần trên của trụ đá, phần
này được đưa vào trưng bày trong bảo tàng viện khảo cổ ở Lộc
Uyển. Phần dưới thân trụ đá vua A Dục cho khắc những hàng chữ
Bramin khuyến bảo các đệ tử Phật nên sống hòa hợp trong tăng
đoàn. Theo các ký sự ghi lại thì trụ đá này đánh dấu nơi đức
Phật sai phái 60 người đệ tử A La Hán đầu tiên trong giáo đoàn
đi khắp nơi để tuyên dương Phật pháp.
Vườn nai:
Mặt bên của khu vực đào bới khảo cổ trong phạm vi Lộc Uyển là
một khu vườn nai rộng lớn. Tại đây người ta có thể trông thấy
nhiều loại nai khác nhau. Cách đó không xa là một số chuồng khác
và một vài hồ nhỏ nơi người ta nuôi một số chim đủ loại.
Những thắng tích thời
đại:
Bảo tàng viện khảo cổ: Bảo tàng viện này
được thành lập vào năm 1910, trong có cất giữ nhiều tượng Phật
cổ xưa quý báu. Một số các tượng Bồ tát, tượng hộ thần theo
truyền thống Kim Cang Thừa cũng được thấy tại đây. Trong bảo tàng
viện này có hai vật thật đặc biệt một là tượng Phật được
tạc theo tư thế chuyển Pháp luân, diện mạo trông thật sống động
và đầy nét an tĩnh tự tại của một bậc giác ngộ. Hai là
phần trên của trụ đá A Dục gồm có tượng sư tử bốn đầu quay
về 4 hướng khác nhau. Tượng đầu sư tử này trông còn nguyên
vẹn và bóng lưỡng. Chính phủ Ấn Độ cũng lấy dấu hiệu này làm
quốc huy của mình cũng như cho in biểu tượng này trên các tờ giấy
bạc. Hầu hết các tượng đá Phật giáo đều bị đẽo cả mắt tai
trông thật đau lòng.
Mulgandha Kuti.
(Tịnh xá Hội Đại Bồ Đề): Từ cổng chính đi vào Lộc Uyển là
ngôi tịnh xá Mulgandha Kuti cao lớn sừng sững. Ngôi tịnh xá này
nguyên được Hội Mahabodhi cho xây dựng vào năm 1931 với c
|
Mục
Lục
||
Chương
tiếp
theo
|
---o0o---
|