Tiếng Việt

Trang nhà Quảng Đức

   Tiếng Anh 

qd.jpg (8936 bytes)

Thánh Tích Phật Giáo


...... ... .

 

 

NHỮNG DI TÍCH PHẬT GIÁO NỔI TIẾNG

KIÊM ĐẠT

---o0o---

 

Bồ Đề Đạo Tràng 

Bồ Đề Đạo Tràng  là di tích Phật Giáo đánh dấu  nơi Phật Thích Ca thành đạo. Đến chiêm bái thánh tích nầy, trước tiên là đến lễ bái tháp Đại Bồ Đề (Maha Bodhi). Đây là ngôi tháp chính mà tất cả các Phật tử đến chiêm bái  đều phải ghé vào.  Tháp nầy bên dưới  vuông vức mỗi bề 15m và ngọn  dần lên đỉnh theo hình Kim  tự tháp, cao khoảng 52m. Bốn cạnh tháp còn có bốn tháp nhỏ tô điểm thêm phầm mỹ thuật. 

Hiện nay tháp chỉ có hai tầng. Tầng dưới gồm  một hành lang, tiền sảnh và  hậu sảnh. Bên trái và bên phải của hành lang dẫn vào tiền sảnh là hai hộc thờ tượng đức Quan Thế Âm Bồ Tát và Đương Lai Hạ Sanh Di Lặc Tôn Phật ở hai bên lối vào.  Bước vào tiền  sảnh hai bên  là cầu thang  dẫn lên tầng trên, bên  trong có một bục  đá ngăn giữa tiền  sảnh và hậu sảnh. Bên trong hậu sảnh đặt một bức  tượng Phật ngồi thế kiết già, tay trái gác  trên đùi, tay  phải buông xuống  trong ấn Xúc  Địa. Bức tượng nầy tương truyền đã hơn 1,700 năm và ngồi hướng mặt về phía đông giống y  tử thế của đức Thế  Tôn đã ngồi khi thành  đạo. Bức tượng nầy đã được  đức Đạt Lai Lạt Ma cúng dường  để thếp vàng vàkẻ mặt, cho nên phảng phất đường nét Tây Tạng. Tuy nhiên,  đường nét chính của  bức tượng còn hiễn  lộ rõ ràng,nhất là  sự cấu trúc đặc  biệt của pho tượng,  kiến cho khách đến chiêm  bái khi  nhìn vào  phải phát  tín tâm  của mình.

Ngay phía trước bàn thờ Phật, trên nền đá  có một vòng tròn tượng trưng cho Argha, một biểu tượng của thần Shiva (tượng trưng sinh thực khí). Bên tằng trên của tháp cũng có một tiền sảnh, một hậu sảnh và một hành lang  bọc chung quanh.  Tiền sảnh của  tầng trên chỉ  có một tượng Phật  đứng, khi Ngài còn  là vị Thái tử.  Những Phật tử Tây Phương thường đến  thiền định nơi nầy, vì  không khí trang nghiêm và thanh tĩnh hơn những nơi khác. Dọc theo hành lang bên ngoài, có thể đi vòng ra phía sau chỗ bên trên cây bồ đề. Nơi bốn góc thấp có những hộc nhỏ thờ tượng Phật. Kiến trúc  đặc thù của tháp  là mô hình của  hai ngôi tháp Chiang Mai Thái  Lan và Miến Điện.  Hai nơi nầy cũng  có những ngôi tháp kiến tạo giống như tháp Đại Giác tại Bồ Đề Đạo Tràng. Bên ngoài  tháp được trang trí  những hoa văn trong  các hình vòm của tháp. Chung quanh vách tháp,  phía trên đỉnh đầu có khắc hình tượng Phật, chư Bồ Tát và những vị Thánh. Những tượng nầy do Phật tử Tây Tạng cúng dường nên phong cách đậm nét Tây Tạng. Những pho tượng các vị Tara, Bồ Tát... đều  mang những đường nét đặc thù của Mật Tông.

Trong  số những pho tượng nầy, nổi  tiếng nhất là tượng đức Quan  Thế Âm Bồ tát;  theo truyền thống Mật  Tông thì ngài là người nam và trang phục như một vị Pháp Vương Tử. Ngôi tượng được dựng phía bên trái của ngôi tháp. Cây Bồ đề: Khi bước vào  khuôn viên của ngôi tháp đi  theo phía phải, sẽ dẫn đến cây bồ đề. Tương truyền cội cây nầy đã trải qua phen đốn chặt và thiêu hủy nhưng  vẫn mọc lên một chồi mời để  thay cho cây cũ. Nhà khảo cổ  học Cunningham cho biết: cây bồ  đề tồn tại hiện nay chỉ chừng 100  tuổi, nhưng lại mọc chính xác  tại nơi cây cũ. Cây bồ đề hầu như xanh tươi bốn mùa.

Kim Cang Toà: Bên dưới giữa cội  bồ đề và ngôi tháp là một  toà bằng sa thạch, chiều dài  2,28m, chiều rộng  1,5m, chiều cao  0,9m, trên mặt  có khắc hoa văn.  Theo tài liệu của những  sử gia thì đây là  toà do vua A  Dục (Asoka) tạc để  cúng dường. Thời xa  xưa, toà nầy đượctrang hoàng bằng những loại đá quý như mã nảo, san hô, hồng ngọc, bích ngọc,  lưu ly, hổ phách,  trân châu... nhưng những  loại nầy theo thời gian đã  mất dần. Tòa đá nầy và cội  cây bồ đề ngày nay được bảo quản  bởi một hàng rào xi  măng và một hàng rào  trụ kimloại mạ vàng do Sri Lanka cúng dường.

 

Chùa hang Phật Giáo Ajanta

Ajanta là tên một ngôi làng nhỏ  vùng quê nằm trong vùng Trung Ấn(nay  thuộc tiểu  bang Mahastra).  Quàn thể  của những  chùa hàng Ajanta gồm  có 30 ngôi chùa  hang Phật Giáo Tiểu  Thừa, được kiến tạo từ thế kỷ thứ II trước  Công Nguyên, tiếp tục xây cho đến thếkỷ thứ IX (sau Công Nguyên). Những  nhà kiến  trúc thời  xưa đã  khéo léo  trong việc lựa chọn những hang đá to nhỏ khác nhau,  những vách đá dựng đứng, đục đẽo công phu, để  sau nầy trở thành những ngôi  chùa Phật Giáo.

Trước vòm hang có hàng cột đá cao từ nền hang lên đến đỉnh hang, để tạo phần  tiền sảnh  của chùa.  Những cột  nầy mới  nhìn quan thì hệt giống nhau, nhưng khi nhìn kỹ lại thì thấy khác nhau về những thể loại hình  tượng điêu khắc.  Có đến hàng  trăm cột như  vậy, được trình bày  cân đối nhịp  nhàng, tuy nhiên  vẫn không trùng  nhau, thành ra không rườm rà .Trong số 30 chùa hang nầy, có  5 chùa hang (các ngôi chùa mang số9, 10, 19,  26, 29) là những điện thờ  hay lễ đường (Chaitrya) và 25 chùa  hang còn lại là  những Tịnh xá (Vihara).  Cấu trúc chungcủa các đền thờ hay lễ đường  (Chaitrya) rất đơn giản, chỉ gồm một phòng hình chữ nhật, trần điện uốn cong hình chữ "U", có một cổng vòm hình  móng ngựa thông  ra bên ngoài;  bàn thờ Phật  đặt ở hậu cung.

Tịnh xá  (Vihara) gồm một gian phòng lớn  hình vuông để hội họp, mặt trước giáp với một hành  lang, ba mặt kia thì mở vào các buồng nhỏ làm nơi ở cho các nhà sư. Các chùa hang ở Ajianta đặc biệt nổi tiếng với những bức bích họa trên các vách  đá và trên trần hang. Tổng  cọng có 498 bức bích họa. Toàn bộ nội dung của những  bức tranh đều tập trung thể hiện cuộc đời và  những chuyện tiền kiếp của đức  Phật Tổ, trong đó có nhiều kiếp của Ngài là những con  vật, nhà quý tộc hay người bình dân. Vì thế, tuy  gần với đề tài Phật Giáo,  nhưng các bức họa không chỉ giới hạn trọng cuộc sống của  nhà tu hành, mà bao trùm cả một thế giới rộng lớn, một xã hội muôn màu, muôn vẻ, từ con người đến chim, thú, hoa,  cỏ, từ cuộc sống ở chung  đình đến cuộc sống của người bình dân ở thành thị và nông thôn, từ thế giới trần thế đến thế giới Thiên  đình (cách vị Thần linh, các  tiên nữ)...

Nét vẽ, nét chạm khắc ở đây rất sắc  sảo và rất hiện thực. Những thiếu nữ trong tranh ở Ajanta được thể hiện rất quyến rũ, với những đường cong mềm  mại, thần thái sinh  động trong từng ánh  mắt, từng nét môi, vừa  đắm say, vừa  e lệ.  Đặc  biệt, trang phục  và những đồtrang sức của  các nhân vật đều được miêu  tả với nhiều chi tiết. Chẳng hạn, ở  các nhân vật nữ, từ  đầu tóc đến quần áo,  đồ trangsức, tư thế... đều thật hoàn hảo. Các bức  tranh đều được tô  bằng phẩm màu làm  từ các loại khoáng chất và các màu có nguồn gốc thực vật, nên vừa hài hoà, vừa tương phản, mà vẫn giữ được màu sắc cho đến ngày nay. Các nghệ nhân còn khéo lợi dụng sự phân bố ánh  sáng thiên nhiên trong hang động đểlàm cho những hình ảnh được mô tả trở nên sống động.

Tùy theo góc độ  xem tranh  mà người  xem lúc  thì thấy  nét mặt  Phật rất  uy nghiêm, có  vẻ trầm tư mặc  tưởng, lúc thì thấy  trên mặt của Ngài dường như đang nở một nụ cười hiền hoà và kín đáo. Di tích văn hoá  nghệ thuật cổ có một không hai  của Ấn Độ nầy đã bị chìm trong  quên lãng trong suốt hơn chục  thế kỷ vừa qua, cho đến năm 1819, do tình cờ, mấy  ngưòi lính Anh đi săn trong núi đáđã phát hiện được. Để bảo vệ những bức tranh màu không bị hư hại. Hội đồng  Khảo cổ học Ấn  Độ đã nghiêm cấm  việc chiếu sáng, chụp ảnh  bằng ánh  sáng. Nhà  nhiếp ảnh  Boney Bell  đã bỏ  ra 10 năm nghiên cứu phương pháp chụp ảnh  trong bóng tối mới thành công và giới thiệu cho toàn thế giới những bức tranh "gần như nguyên tác" của hang động Ajianta để cho nhân loại được chiêm ngưỡng ngày hôm  nay.

 

Những bảo tháp Phật Giáo tại Sanchi

 

Dựa vào những truyền thuyết được  lưu truyền cho đến nay, thì khiđức Phật Thích Ca  Mâu Ni nhập diệt, những đại đệ  tử của ngài đãvận động để xây  các bảo tháp để thờ Ngài. Các  bảo tháp nầy được xây trên những nền cao, trên đỉnh có đài hình vuông. Những bảo  tháp đầu tiên  được xây dưới  triều vua Asoka  (A Dục) (236 - 187 trước Công Nguyên) và cũng là vị vua cuối cùng của  triều đại Morya chính thống. ông làmột vị vua rất sùng đạo Phật  của Vương triều Maurya; đây là vương triều bản địa đầu tiên của người Ấn, chấm dứt thời kỳ cai trị của người Hy Lạp.

Trong những năm tháng trị vì đất  nước, vua Asoka đã cho dựng lên khoảng 84,000 tháp Phật tại vùng Sanchi bên bờ sông Nacmada thuộc vùng Trung Ấn, nay thuộc tiểu bang Madya Prades và có thể nói đâylà những công trình kiến trúc thuần  túy tôn giáo đầu tiên của Ấn Độ còn lại cho đến ngày nay.Cho đến nay, người ta chưa lý  giải tại sao vua Asoka lại cho xây nhiều tháp Phật như vậy. Theo  truyền thuyết, trong giai đoạn đầu trị vì,  vua Asoka đã giết  hại rất nhiều người,  để mở mang lãnh thổ.

Nhưng sau vì hối hận những tội ác tàn bạo của mình trước đó, trở thành một tín đồ ngoan đạo,  tỏ lòng khoan dung với nhân dân.nhà  vua từng  nói "Nhất  định  sẽ  lấy sự  chinh phục  bằng tình thương, thay  thế cho chinh phục  bằng sức mạnh của  vũ khí". Ông cho phá bỏ nhà  tù, hủy bỏ cực hình, cho xây  nhiều chùa chiền vàbảo tháp. Tuy nhiên trong giai  đoạn đó, nhiều tôn giáo chống đối nhau và cũng gây cho nhà vua nhiều khó khăn. Thậm chí ông bị chết một cách thê  thảm do những kẻ cuồng  tín của đạo Bà La  Môn. Tuy vậy, nhà  vua cũng đã  lưu lại cho  Sanchi những công  trình kiến trúc Phật Giáo cổ kính và tuyệt mỹ. Sanchi  trải rộng  trên một  cao nguyên  nối liền  với những đỉnh  tháp, miếu mạo, chùa chiền và cả  những nhà tù.

 Trong số đó, ngôi bảo tháp  lớn nhất phải  kể đến bảo  tháp Sanchi. Đó  là một công trình kiến trúc độc đáo, kết hợp nhuần nhuyễn với nghệ thuật điêu khắc, tô vẻ cho công trình kiến trúc càng thêm lộng lẫy. Đầu tiên người ta xây bảo tháp nầy bằng  gạch; đến thế kỷ thứ II, các tháp  được ốp đá. Tháp có chiều cao  15 mét, đường kính 35 mét. Tháp gồm có 3 phần chính: một bán cầu,  trên có một vọng lâu hình vuông và một hàng rào bao quanh.  Nằm trên một nền hình vuông (tượng  trưng cho áo cà sa gấp 4 của đức Phật) là một bán cầu khối  đặc khổng lồ bằng gạch và đá, hình một bát  úp sấp, tượng trưng  cho chiếc bát khất  thực. Trên chỏm xây vọng lâu  hình vuông, đặt Xá Lợi của  đức Phật. Trên tận cùng nóc tháp là  một cột có gắn ba  phiến đá lớn hình đĩa,  tạo thành một chiếc dù nhiều tầng, biểu hiện sự tôn nghiêm. Chung quanh bán cầu có một hàng rào đá bao bọc gồm 120 thanh cột chống, có 4 chửa mở ra bốn hướng. Ngôi tháp nầy  trải qua nhiều giai đoạn lịch  sử đã được trùng tu không  ngừng. Ảnh  hưởng điêu  khắc của  Ấn Độ  Giáo khá đậm nét:  những hình trang trí trên các  phù điêu có hình chim thần Garuda, rắn thần Naga, nhữg tiên nữ ca múa.  Những đặc điểm  kiến trúc và điêu khắc tại  Sanchi đã tạo nên một phong cách nghệ  thuật độc đáo Ấn Độ. Trường  phái Mathura đã chi phối những đường nét trong kiểu dáng kiến trúc nầy.

 

Quần thể các hang động  tại Ellora

Những hang động  kỳ bí trong vùng Ellora nằm  cách thành phố tôn giáo và lịch sử  Aurangabad khoảng 32km về phía  đông nam. Những hang nầy trở  nên nổi tiếng trong  những công trình kiến  trúc và điêu khắc Ấn Độ được thế giới ngưỡng  mộ là do những bàn tay thiên tàicủa những  điêu khắc gia  từ trung tâm  Ajanta tham gia  sáng tạo liên tiếp. Quần thể những hang động nổi tiếng nầy mang tính cách đa văn hoá,  vì những hang ở đây đã được  kết hợp một cách tài tình nghệ thuật Phật Giáo, Ấn Độ Giáo và đạo  Jain.

Quan trọng nhất là những hang động  Phật Giáo  xuất hiện  ở đây  trước tiên  vào khoảng năm 500 trước Công  Nguyên; tiếp theo  đó là những  công trình của  Ấn Độ Giáo và của đạo Jain xuất  hiện khoảng 200 năm trước Công Nguyên. Ngoài ra còn những di tích của đạo Silk nữa. Vào cuối  thế kỷ VII, Phật  Giáo đã bành trướng  mạnh mẽ, vượt ra khỏi lãnh  vực Trung Ấn.  Có thể thấy  rõ điều này  qua những bức tranh trong khu hang động nầy, phần lớn biểu hiện sự phân chia hệ phái Phật Giáo.

Trong đó những  hình ảnh của Tiểu Thừa (Hinayana)dần dà  đã nhường chỗ  cho Đại Thừa  Phật Giáo (Mahayana).  Những hang động Phật Giáo là những nơi cúng lễ, cầu nguyện, có cấu trúc đơn giản. Kiến  trúc đa phần theo kiểu  tháp (Stupa) truyền thống Ấn Độ. Phật Giáo Đại Thừa thường thể hiện  bằng nhiều vị Phật, Bồ tát, A La Hán.  Những ngôi tháp đều  được trang trí đồ  họa rất công phu, nhưng vẫn in dấu ấn của Ấn Độ Giáo qua những đường nét. Tại đây, về  điêu khắc, hình tượng chư Phật  và chư Bồ Tát thường được mô  tả với những biểu  tượng cao quý trong  kiểu dáng. Những biểu tượng  rõ nét của  đức Bổn Sư  Thích Ca Mâu  Ni với 32 tướng tốt, là tai dài, tay dài, tóc xoắn, hào quang trên đầu. Những hang động Phật Giáo (Vihara) đon giản tương phản với những nét mộc  mạc của hang Ấn  Độ Giáo (Chaityas). Ngôi  đền nổi tiếngKailas được xếp vào 1 trong những  ngôi đền điển hình của Ấn hiệnnay.Trong ngôi  đền nầy, đặc  sắt nhất là  vô số những  bức phù điêu,những  bức chạm  khắc nổi  trên bề  mặt những  vách đá dựng đứng.Kailasa được  xem là ngôi nhà  của thần Siva nằm  trong dãy Hy MãLạp Sơn là địa điểm chiêm bái  nổi tiếng nhất. Những bức chạm nổitiếng ở đây được  xem là tác phẩm điêu khắc lớn  của thế giới. Đaphần đều xuất hiện vào thời đại đồ đá giữa và đồ đá mới. Ngôi đềnđược kiến  tạo và trang  trí dưới triều  đại vua Chalukya  và vua Rashtrakuta.

Những nhà nghiên cứu nghệ thuật xem đây là những công trình phục  sinh toàn diện của  nghệ thuật Ấn Độ  Giáo. Những pho tượng Brahma, Vichnou, Siva, chim  thần Garuda, rắn Naga với kiểu thức đa dạng và mỹ lệ được xem  là di sản văn hoá nổi tiếng Ấn Độ được bảo  lưu cho đến ngày  nay. Sử thi Ramayana  là đề tài phong phú nhất để thực hiện những bức phù điêu và chạm khắc nầy. Tuy dù nhà vua Aurangzeb của Mông Cổ đã tìm cách triệt hạ những kho tàng quý  giá nầy  nhưng những  phần còn  lại hiếm  hoi cũng biểu hiện những giá trị độc đáo đó. Những đan xen điêu khắc của Phật  Giáo và Ấn độ Giáo đã không mâu thuẫn với nhau, mà còn cho thấy  sức phong phú của những tác phẩm kỳ tài nầy.

Khi Phật  Giáo suy thoái  tại Ấn Độ  để rồi lớn  mạnh trong nhiều quốc gia khác, thì ngôi đền  Daulatabad đã là chứng tích của giai đoạn tàn  tạ: đơn giản, biến  chất, pha tạp nhiều  lối tín ngưỡng dân gian khác.Ngày nay,  những tín đồ Phật  Giáo hành hương đến  vùng Thánh địa nầy vẫn không quên đến Ellora để  có thể chứng kiến được mỹ thuật Phật Giáo  Ấn vào thời hưng  thịnh nhất, dưới triều  vua Asoka (A Dục).

 

Thành Vương Xá (Rajgir)

Thành Vương Xá là một trong những  di tích Phật Giáo tại Ấn Độ mà khách hành hương  đến đây không ai là không  biết tới. Thành Vương Xá là một trung tâm Phật Giáo  quan trọng và là một trong những kinh thành  cổ xưa nhất thế  giới. Vua Ma Kiệt  Đà (Maghada) từnglên ngôi tại đây và cũng là  một trong những đệ tử hàng vương giả đầu tiên của đức Phật Thích Ca. Đức Phật  lúc còn tại thế  cũng đã dừng lại  thành Vương Xá trong nhiều năm để an  cư và thuyết pháp. Đỉnh Linh Thứu  Sơn là nơi mà nhiều Pháp hội được khai mở, như  Hội Pháp Hoa, Hội Kim Cang, Hội Lăng Nghiêm...

Vườn Trúc Lâm hãy còn lưu lại nhiều kỷ niệm củathời xa  xưa. Những bụi  trúc vẫn xanh  và hồ nước  vẫn trong như thời trước. Động Thất Diệp là nơi kết tập kinh điển lần thứ nhất. Suối nước nóng cạnh Trúc Lâm Tịnh  Xá vẫn còn lưu lại nhiều bi ký chép những sự cố của lịch sự Phật Giáo.Đức Phật đã an cư tại thành Vương  Xá cả thảy là 6 lần. Nhiều khi Ngài ở tại Trúc Lâm Tịnh Xá; đôi khi Ngài ở núi Linh Thứu. Những khi ngài  lưu lại trên  ngọn núi nầy,  vua Tần Bà  Sa La muốn lên thăm Ngài đều xuống ngựa trước khi lên núi và khi gần đến nơi thì vua ra lệnh  cho đoàn tùy tùng ở  lại trong khi vua tiếp  tục lênnùi để học  đạo. Để tiện việc đi  lại cho đức Phật cũng  như tăngđoàn, nhà vua đã  cho làm một con đường từ chân  núi lên đến đỉnh của núi Linh Thứu.Những điều ghi chép trên đây có thể giúp cho chúng ta hiểu được một số chi tiết khi đến chiêm bái, hành  hương và nghiên cứu.   Sau đây là những nét chính của những danh thắng Phật Giáo nầy:

  Núi Linh Thứu  (Gridhrakuta) là một trong những  ngọn núi cao bao bọc chung quanh  Vương xá Thành. Tuy nhiên,  Linh Thứu Sơn lại là ngọn đồi  nhỏ hơn thuộc  dãy núi nằm  về phía bắc.  Nơi đây tưong truyền đức  Phật đã dừng chân  lại sáu lần. 16  năm sau khi thành đạo,  một lần  nữa, Ngài  đã chuyển  pháp luân  tại đây để thuyết giảng  những bộ  kinh đại  thừa: Diệu  Pháp Liên  Hoa Kinh, Lăng Nghiêm Đại Định, Bát Nhã Ba La  Mật Đa Tâm kinh. Ngài Đại Ca Diếp đã đứng ra chủ trì kết tập kinh  điển sau đó. Ngọn núi nầy có thể đi từ dưới lên theo con đường bộ  hay đi từ trên xuống sau khi đã viếng thập tháp Hoà Bình. 

Tháp Hoà  Bình (Shanti stupa): Kế  bên đồi Linh Thứu  là ngọn Bảo Sơn, với ngọn tháp Hoà Bình tuyệt đẹp. Đường kính của tháp nầy là 144m, cửa vòm mái là 72m, chiều cao 125m. Bốn bên tháp có 4 tượng bằng vàng,  tả 4 cảnh  trong đời đức  Phật: đản sinh,  thành đạo, thuyết pháp và nhập diệt.

  Động Thất diệp  (Saptapani Cave):  Phía tây nam  của Trúc Lâm Tịnh Xá trên  đỉnh núi Baibhara có  một động đá. Nó  có một dường hành lang dài  nhân tạo, những tàn  tích của bức tường  cho ta thấy nó được cấu tạo bởi những tảng đá  chồng lên nhau nhưng không có hồ. Tương truyền  nơi đây đã  tụ họp 500  vị tỳ kheo  để kết tập kinh điển, sau khi  đức Phật thị tịch sáu tháng.  Nơi đây cũng có ngôi tháp kỷ niệm  sự kiện ngài A Nan  đã chứng quả vào đêm  trước khi đại hội khai mạc.

Về sau, vua A Dục đã dựng lên ngôi tháp về phía tây nơi đây  để đánh dấu kỳ kết  tập kinh điển nầy. Nơi  tháp nầy cũng là nơi mà một đại hội trên  100,000 bậc hữu học và vô học đãkết tập đồng thời với 500 vị A la hán. Ngài Long Thọ còn cho biết một đại hội kết tập của các vị Bồ tát cũng đã được triệu tập trênđồi Vimalasvabhava, nằm phía nam của Vương Xá Thành.

 Trúc Lâm Tịnh  Xá (Veluvnan): Cách suối nước  nóng khoảng 300m và một vườn  trúc xanh tươi. Những  khóm trúc được chăm  sóc nên rất rậm rạp. Vườn nầy ngày xưa là  vườn thượng uyển của vua Tần Bà SaLa  đã cúng  dưòng đức  Phật. Trong  vườn có  một hồ  nước do ông Karanda cúng để chư tăng tắm giặt.

 Suối nước nóng (Tapoda nadi): cách  Linh Thứu Sơn khoảng 2km về phía Gaya.  Từ Linh Thứu Sơn  trở về, nó nằm  bên trái đường. sau khi vượt qua  một sân rộng và mấy  bậc thang, ta lên đến  1 trong nhiều suối nước nóng trong vùng nầy. Nước suối nơi đây khoảng 105 độ F  (Faraday), có phóng  xạ nguyên tử.  Người ta cho  rằng nước suối nầy  có thể chữa nhiều  thứ bệnh. Tương truyền  ngày xưa đức Phật cũng thường đến đây để tắm.

 

Con đường tơ lụa

Con đường  tơ lụa hay chính  xác hơn là "những  con đường tơ lụa" được hình thành từ những thế kỷ  đầu Công Nguyên. Đó là những con đường do các thuơng  nhân mở ra để vận chuyển buôn  bán tơ lụa và những hàng hoá khác giữ Ấn Độ,  Trung Quốc ở phía đông, đế chế La Mã ở phía tây. Ngoài sự hấp dẫn do những lợi  nhuận trong buôn bán mang lại tính ưa thích phiêu  lưu mạo hiểm và khát vọng  tìm hiểu là những động cơ mãnh  liệt thúc giục  các thương nhân  sẵn sàng mở  ra một con đường khác thay thế cho con đường bị ách tắc bởi lý do chính trị,quân sự hay tôn giáo.

Những con đường tơ lụa được mở về phía đông hay phía  tây, trên bộ  hay dưới nước  với nhiều hành  trình khác nhau đều tạo  thành những mối liên hệ bền  chặt giữa các dân tộc,  thúc đẩy  sự giao lưu giữa  các xã hội và  các nền văn hoá  về tư tưởng, khoa học kỹ thuật, văn học nghệ thuật, thiết lập tinh thần dung nạp và cùng tồn tại, phát triển. Đời Tần (221 - 206 trước Công  Nguyên), Tần Thủy Hoàng đã cho xây đắp thêm  và hoàn chỉnh công  trình Vạn Lý Trường  Thành, một bức tường vĩ đại che chắn các đường biên giới phía tây, ngăn chận các bộ lạc ở phương bắc. Đời Hán (206 trước CN - 220) đã mở ra con đường đầu tiên về Trung Á, duy trì các mối liên hệ  với đế quốc Kushan hùng mạnh, trải từ biển  Caspien ở  phía bắc,  qua lưu  vực các  sông Indus, Oxus ,Gange đến vùng biển  Ả rập ở phía nam.

Và đế  chế Kushan lúc nầy cũng có quan hệ với đế chế la Mã ở phía tây.Như thế, những con đường tơ lụa đông - tây được hình thành từ đó. Ngày  nay  trong  phế  tích  của  các  phố  cổ  thuộc  trung tâm Afghanistan dễ  dàng tìm thấy những  biểu hiện về sự  giao lưu đa dạng giữa các  dân tộc. Những hình nhân với  các loại y phục khác nhau được khắc  trên đá. Trường An, kinh đô  của nhà Đường là nơi gặp gỡ, trao  đổi Phật Pháp giữa các nhà  sư Nhật Bản, Triều Tiên  với  Ấn Độ,  Sri Lanka,  Trung  Á.  Hàng trăm  hang đá  ở Bamiyan(Afghanistan) có  khắc những bức  bích hoạ với  đường nét và  nộidung rất giống  những bức họa trong các hang  động vùng Tân Cương cùng thời gian đó.Người ta  cũng tìm thấy những  chiế bình đồng từ  thời Chiến Quốc trong nhiều  di tích ở  La Mã. Các  nghệ nhân của  Trung Quốc vàothời đó đã cho mang đến Ai Cập những tấm lụa trang trí chữ Ả Rập.  Tượng thần  bằng đồng từ thế  kỷ I tại đế  chế La Mã cũng  đã tìmthấy tại  Afghanistan, một di tích của đế chế Kushan.Trong khi ấy từ phía tây Trung  Quốc, người Hung Nô đã tràn xuống trung tâm châu  Á và châu Âu, đến  Ấn Độ. Họ đã xây  dựng một đế chế rộng lớn  từ Trung Quốc đến Ba  Tư. Tiếp đó, các bộ  lạc người Thổ Nhĩ Kỳ đã thành lập những  "tiểu quốc" ở giữa châu Á, cản trởlưu  thông trên  các con  đường tơ  lụa lúc  ấy. Tuy nhiên, người Trung Quốc  vẫn mở được những  con đường khác và  vận chuyển hàng hoá sang phương Tây.Thực  ra, những  cuộc tiếp  xúc đầu  tiên giữa  phương Đông  và phương Tây  đã được Alexandre Đại  Đế tạo điều kiện  thuận lợi từ thế kỷ IV trước Công Nguyên  bằng những cuộc chinh phạt của mình, lật đổ  đế chế Achéménide, chiếm  Hy Lạp vá tiến  quân đến tận Ấn Độ.

Từ đó, nền văn hoá Hy Lạp được truyền sang châu Á, đặc biệt là văn  chương, tư tưởng,  ngôn ngữ, triết  học, kiến trúc.  Đồng thời Alexandre và  các nhà thông thái Hy Lạp  cũng tiếp nhận tư tưởng của các nhà triết học châu Á cũng như các sản phẩm vật chất và văn hóa. Maurya chiếm ngôi vương  quốc Ấn Độ, thành lập đế chế Maurya,  thừa  hưởng  di  sản  văn   hoá  của  người  Hy  Lạp  và Archéménide. đến đời  cháu của vua Maurya là Asoka  (A Dục) kế vị (274 - 237  trước Công Nguyên) họat động truyền  bá Phật Giáo rất mạnh, lan  đến Trung Á  và Viễn  Đông,  giao lưu với  Hy Lạp dưới triều  vua Alexandre  đại Đế  dù  lục  nầy đế  quốc rộng  lớn của Alexandre  đã  bị  chia  nhỏ  thành  đất  đai  của  các  dân  tộc Bactriance, Sogdiane...

Những con  đường tơ lụa mở  ra cho hoạt động  thương mải cũng như việc truyền  bá Phật Giáo,  đạo Mani, đạo  Zoroastre lúc nầy  rất phát triển,  đặc biệt ở dọc  lưu vực các con  sông vùng Lưỡng Hà,  Trung Á và Ấn Độ. Ngoài những đoàn lạc đà lầm lủi,  việc khám phá ra hiện tượng gió mùa từ  một thế kỷ  trước Công  Nguyên  đã cho phép  con tàu viễn dương vượt Ấn Độ Dương từ tây  sang đông trong mùa xuân rồi ngược trở về vào mùa đông khí gió đổi chiều. Những con tàu chở hàng nầy đã biến Ấn  Độ Dương thành một hành lang  hàng hải nối liền La Mã với các hải cảng Ấn Độ và bờ biển Trung Quốc. Khoảng thế kỷ thứ VII, người Ai Cập bành trướng sang châu Á, châuÂu, châu  Phi. Họ tìm hiểu  những tri thức khoa  học và triết học vốn rất phát triển của người Hy Lạp chứa trong những bản văn chéptay.

Người Ai Cập cũng tiếp xúc với Trung Quốc, Ấn Độ và tiếp thu những khám  phá mới về y  học, toán học, thiên  văn học, nghề làm giấy, thuốc súng, đồ gốm, vải lụa. Người Ai Cập  trở thành môi giới trong cuộc  đối thoại mở rộng từ Trung Quốc  đến các nước Châu  Âu. Họ truyền bá  khoa học và triết học Hy Lạp sang  châu Âu cùng với môn toán học  của Ấn Độ, các ký hiệu viết số và hệ thập phân làm nền tảng cho khoa học hiện đại. Họ cũng đưa ra những quan niệm mới về vũ trụ và sư hình thành của vũ trụ,  kết hợp truyền thống  với những tri thức  khoa học, toán học mới trong lĩnh vực nghệ thuật và kiến trúc. Đến nay, tinh thần của những con  đường tơ lụa vẫn tồn tại. Đó là những sợi dây bền chắc thắt chặt mối quan hệ Đông Tây, duy trì sự hiểu biết  lẫn nhau giữa các  dân tộc. Như thế,  con đường tơ lụacũng là con đường tri thức.

 

 

Đền đài Ấn Độ Giáo và Phật Giáo nguyên thủy

Khadjuraho là một trong những thành  phố cổ còn sót lại hiện nay nằm  trong vùng  trung tâm  của miền  Trung Ấn  (thuộc tiểu  bang Madhya Praseh), nơi có rặng núi  Vindya ngăn cách miền bắc Ấn với cao nguyên Décan  của miền Nam Ấn. Đây là  một trung tâm Ấn Độ Giáo quan trọng vào bậc nhất trong thế kỷ VIII sau Công Nguyên. Và vào khoảng thế kỷ  thứ XII sau đó, tại  nơi đây đã kiến tạo  một quần thể 85 kiến trúc đền đài Ấn Độ Giáo và đạo Giaina, thu hút nhiều cư dân nhiều  vùng khác tập trung  đông đảo tại đây.

  Những ngôi đền toạ lạc ở phía đong của thành  phố nầy là do những thương nhân và những nhà  truyền giáo của  giáo phái Giaina  xây dựng; còn  những ngôi đền  vĩ đại toạ  lạc ở phía  tây thành phố  gần hồ Sicaga do hoàng tộc Chandela, chúa tể của  vùng nầy tiến hành xây dựng liên tiếp trong nhiều năm. Những ngôi đền của hoàng tộc  Chandela là những ngôi đền độc đáo, tiêu biểu cho  nghệ thuật kiến trúc và điêu  khắc Ấn Độ Giáo, trở thành nổi tiếng và được ghi vào  Danh Mục Di Sản Thế Giới vào năm 1988.

Vào đầu  thế kỷ XI,  vua Dhanga đã  cho xây dựng  lên ngôi đền vĩ đại,  nổi  tiếng  nhất  bằng  loại  đá  sa  thạch  ở  tại kinh đô Khagiuraho, đặt  tên là Visvanatha  đẻ thờ Thần  Siva. Trong ngôi đền thờ quan trọng nầy, có đặt một chiếc Linga khổng lồ bằng ngọc bích, mà  trong tín ngưỡng của  tôn giáo nầy tượng  trưng cho Thần Siva. Cũng dó  đó, ngôi đền nầy được mệnh  danh là "Đền thờ Linga Ngọc bích".

Bình  đồ tổng  thể của  ngôi đền  Visvanatha gồm  có bốn cấu trúc chính như sau:  1- Một hậu cung  hay thánh điện nằm ở trong cùng,  cũng là vị trí trang trọng nhất của hậu cung có đặt Linga (sinh thực khí của nam giới), biểu tượng của Thần Siva,  cũng là năng lực sáng tạo thế giới của Thần Siva.  2- Một tiền  sảnh (phòng bên ngoài của hậu  cung) là nơi những tu sĩ cấp  cao của Ấn  Độ Giáo chuẩn  bị những lễ  phục và trang phục trước khi hành lễ.  3- Một đại  sảnh (không gian lớn nhất của  ngôi đền nầy) dành cho những tín đồ trong vùng và những  người hành hương tụ tập để theo dõi nghi lễ hay chiêm ngưỡng những ảnh tượng thờ bên trong đền.  4- Một tháp rộng lớn bên ngoài có mái che.  Tất cả  bốn cấu trúc nầy  được nối liền với  nhau bằng những mảnh tường được trang  trí bằng những bức phù điêu  và những pho tượng chạm khắc trong đá tầng nọ chen  vào tầng kia, trình bày những sự tích tiền thân của các vị thần Brahma, Vichnou và Siva. Phía trên hậu  cung có dựng lên một tháp  thờ trung tâm (Kikhara) hình trụ,  càng lên cao chừng  nào thì càng thon  dần lại, khi lên đến trên  đỉnh tháp là  mái hình Parabol và  kết lại một hình nhọn như búp sen. Trên các tiền sảnh, đại sảnh, cổng có má che là các tháp thấp dần từ tháp trung  tâm trở ra. Tất cả  tọa lạc trên một nền  cao hình chữ nhật, có một con đường nhỏ đi vòng quanh ngôi đền.

Trải qua  thời gian lâu dài,  quần thể những đền  đài và bảo tháp đang trong  giai đoạn suy thoái  trầm trọng vì những  tín đồ phân tán đi kiếm  sống những vùng đất phì nhiên  hơn; hiện nay cơ quan UNESCO đang  có một kế hoạch  trùng tu từng phần,  đồng thời cũng kêu gọi những  tổ chức Ấn Độ Giáo trong  toàn quốc tham gia trùng tu  thêm những  phần khác.  Những phù  điêu là  thành phần hư hại nhiều nhất cũng  là công trình xuất sắc nhất  trong quần thể điêu khắc nầy  thì khó thực  hiện được  vì  những vết tích  xưa nay đã không còn là bao nhiêu nữa.

 

 

Công trình số 1 tại Ấn Độ  của thiên tài Le Corbusier

Những nhà  nghiên cứu về  kiến trúc  và  điêu khắc của  thế kỷ XX  thường xem kiến trúc sư người Thụy Điển Le Corbusier (1887 - 1965) là một thiên tài độc nhất vô nhị với hàng chục công trình độc đáo của thế kỷ nầy. Tuy nhiên, vẫn có một số khác đã đem toàn bộ công trình của ông để quy trách những  sai lầm lớn. Theo ông, khen hay chê là  thái độ cần thiết  của mọi người nhưng  con đường đã chọn thì ông quyết đi cho hết.

Tên thật  của ông là  Edouard Jeanneret, nhưng  ông tự xưng  là Le Corbusier  trong mọi  công trình.  Cũng như  nhiều nhân vật khác, phải trải qua những thất bại  trong những bước đầu lập nghiệp của ông. Vào năm  1950. Le Corbusier sang Ấn độ  và cũng tìm được cơ hội tiến  hành thiết kế toàn  bộ thành phố; từ  đó ông quyết thực hiện cho bằng được những gì ao ước từ bé. Từ năm  1947, khi đại  lục Ấn Độ  tuyên bố độc  lập nhưng trong  tình trạng phân hoá  thành hai nước Ấn  và Pakistan, thủ phủ Lahore  của vùng bắc Pendjab cắt  nhập vào Pakistan. Nh7ađương cục  hy vọng trong phần  đất còn lại của  Penjab trong lãnh thổ Ấn sẽ xây dựng thành một thủ phủ.  Nền mỹ thuật Phật Giáo và Ấn Giáo đã thu hút ông.

Le Corbusier đến đây chỉ là du khách,  nhưng cũng trong  khi đó một  công trình sư  đảm nhiệm chương trình xây dựng kẻ trên chết trong một tại nạn má5y bay thìông được  mời vào thay  thế. Thoạt đầu,  ông chỉ chú  trọng trong việc thiết  kế những toà  nhà lớn, nhưng  về sau, qua  những công trình hợp tác và thực hiện đồng  bộ, chính quyền đã đồng ý để ôngsửa đổi toàn bộ kế hoạch.  Địa điểm ông chọn là thành phố dưới dãy núi Sivarizi, giữa khoảng hai bờ sông.  ở đây, đã tạo một hồ nhântạo rất lớn, những con đường chung quanh trồng nhiều cổ thụ, chia thành phố  ra thành nhiều khu  vực. le Corbusier đã  thiét kế toàlầu lớn và Toà Án. Bố cục thiết kế của le Corbusier  như sau: lấy một con đường rộnglàm tuyến trục chính, một bên là  toà lầu dùng làm văn phòng, còn bên kia là Toà  án. Những vật kiến trúc và bố  cục bị phê bình là thiếu tỷ  lệ và cân đối. 

Tuy nhiên, ông vẫn  kiên trì theo khiếu thẩm mỹ  và chiều hướng kiến trúc  của mình cho đến  khi thực hiện toàn cục mới thôi. Thiết  kế toà  lầu lớn  văn phòng  Chandigarth là  trọng điểm của chương trình. Vật kiến trúc khiến người ta chú ý  hơn cả là Toà án do ông thiết kế,  trong đó  bao gồm  một  Tòa  án trung  ương và  8 tòa  án địa phương. Quan điểm kiến trúc quy mô của  Le Corbusier là làm thế nào để có thể cung  cấp đủ mọi  tiện nghi trong  một công trình  kiến trúc,đồng  thời theo  kịp đà  tién hoá  của công  nghiệp mới, xây dựng nhanh, thời trang và thực tiễn.

Rút kinh nghiệm trong những công  trình xây dựng tại Pháp, Nantes Rezé, Briey  La Forêt... kể từ  sau đệ nhị thế  chiến của ông, Le Corbusier đã đem lại sanh khí  mới cho những công trình kiến trúc Đông Phương. hong cách Chandigarth trở thành cấu trúc điển hình để các đô thị lớn tại Tokyo, Manila, Hongkong, Bangkok  đã nương theo để có thể cung ứng cho những tiện nghi của thế giới mới.

 

Những công trình  PG ở Bangkok

Bangkok tiếng Thái Lan là Phra Nakhon có nghĩa là "Thành phố kinh đô", là thủ đô của vương quốc  Xiêm La (bây giờ là Thái Lan), bắt đầu từ năm 1772 cho đến ngày nay.  Bangkok nằm ở vùng châu thở con sông Ménam, bờ bên  trái của con sông nầy. Diện  tích là 1,560km2, dân số hiện nay khoảng 6 triệu người. Ngày trước  Bangkok có nhiều  kênh rạch, cho  nên được mệnh  danh là "Venise của Phương  Đông", ngày nay phần lớn đều  được lấp và trở thành những đường phố khang trang,  rộng rãi.  

Sau hơn 200 năm xây dựng, Bangkok đã  để lại nhiều công trình kiến  trúc to lớn, như: "Cung điện  lớn", "Thánh đường Vạt  Pho", "Chùa Vạt Pra  Keo" (chùa Phật Ngọc). Cung Điện Lớn  được bắt đầu xây dựng năm  1782, vào triều đại của vua Rama I (tức Chao Phya Chakri) (1782 - 1809), nhà vua sáng lập ra triều đại Chakri.   Sau đó, hầu hết các vị vua Thái Lan đều xây dựng thêm  nhiều công trình mới  trong khu vực Cung  Điện Lớn, vì thế Cung điện nầy trở thành một phức thể gồm nhiều công trình lớn nhỏ và cũng không được đồng nhất  do sự pha trộn của những phong cách nghệ thuật khác nhau qua  từng triều đại, từ phong cách TháiLan cho đến  phong cách Italy. Sau vụ mưu  sát vua Aranda Mahidonnăm 1946, nhà vua Bumnibon Adundadet đã cho chuyển hoàng cung đếncung điện Chi  Tralada.

Cung Điện Lớn được dùng  để trưng bày cácđồ quý giá  của hoàng gia, những bộ  sưu tầm nghệ thuật và  để tổchức những yến tiệc quốc gia, nhận  trình quốc thư của các đại sứnước ngoài và những nghi thức hoàng gia khác.Cả khu cung  điện được bao bọc bằng  vòng tường cao và mở  lối rabằng một cổng lớn. Công trình lớn  nhất và cũng được xây dựng sau cùng trong Cung Điện Lớn là  "Hoàng cung Chakri Maha Trasad".

 Tòa hoàng cung  nầy nằm trên  một nền cao  được xây dựng  từ thời vua Rama V (Chulalongkrorn 1868 - 1910)  để kỷ niệm 100 năm thành lập Vương triều Chakri.  Về mặt  kiến trúc, Chakri  Prasad là sự  hoà hợp khá  tinh vi của kiến trúc Thái  Lan với kiến trúc kiểu Tây  Phương. Phần lớn công trình do kiến trúc sư người Anh  thiết kế; các đỉnh mái hình tháp lại là  những hình tượng  kiểu Thái Lan.  Tầng thứ hai  nằm dưới đỉnh tháp trung  tâm là nơi cất giữ những  bình hài cốt bằng vàng của  các vua  thuộc Vương  triều Chakri.

  Những phòng khánh tiết lớn được trang trí bàng những  hình vẽ, những pho tượng bán thân của các vị vua đã quá cố.  Phòng trung tâm là Phòng Ngai vàng, nơi nhà vua tiếp đại sứ các nước.  Ở đây có chiếc ngai vàng được khảm men huyền nằm dưới chiếc ô chín lớp màu trắng.Công trình nằm  về phía tây của hoàng cung  Chakri Prasad là Cung điện Dusit Maha  Prasad, do vua Raman I xây  dựng vào năm 1789 để thay thế  cho cung điện bằng  gỗ trước đó. Dusit  Prasad, một mẫu hình kiến trúc  truyền thống Thái Lan tuyệt đẹp,  là một toà nhà với bộ mái bốn lớp và một đỉnh tháp nhọn chín bậc trang nhã. Hiện nay Dusit Prasad dùng làm nơi quàng xác các vua và Hoàng hậu trước khi đem đi hoả táng ở Sanam Luang.  Ngay đối diện  với Dusit Prasad là một đình  tạ thanh tú nhất của Thái  Lan,  được  gọi  là  "Đình  Tạ  Thay  Y Phục" (Arpom Phinok Prasad).

Tại đây,  vua xuống voi, thay vương miện  và áo hoàng để vào phòng khánh  tiết. Ở bên trái của Chakri  Prasad có một chiếc cổng mở vào khu cấm nơi ở của  các hoàng hậu và phi tần của nhà vua.Trong khuôn viên  Cung điện lớn còn có nhiều  kiến trúc khác như:  Thánh đường Vat Pho, thư viện  chùa Vat Prakeo... Thánh đường Vat Pho là  một đền thờ  rộng và cổ  kính nhất tại  Bangkok, dài 46m, trong đó có một pho tượng Phật  cao 15m khoác áo bằng vàng lá và có tới 394 tượng Phật mạ vàng. Chung quanh toà nhà chính có những kiến trúc  tôn giáo đẹp và  trang trí lộng lẫy  khác. Vạt Pho cònđược coi  là trường Đại Học  đầu tiên của Thái  Lan. Phía sau đền thờ là toà Thư Viện, được bao  quanh bằng hình các con voi trắng, biểu hiện cho quyền  uy quốc gia. Bên cạnh đó có  một mô hình lớn đền Angkor Wat của Kampuchia do vua Rama IV (Mongkut 1851 - 1868) dựng lên.

 Chiêng Mai

Chiêng Mai trước kia là kinh đô  của Vương Quốc Lanna, nay là một thành phố lớn có  nhiều di tích lịch sử ở miền  bắc của Thái Lan.Vương quốc Lanna  (có nghĩa là: một triệu thửa  ruộng) do vua của xứ Chiêng Ray là  Mang Ray tập họp các tiểu quốc  Thái ở miền bắc Thái Lan, xâm chiếm vương quốc  Haripungiaya của người Môn lập ra vào năm 1292. Năm 1296, thành phố Chiêng Mai (có nghĩa là: đô thị mới) được thành lập, đặt làm kinh đô của Vương Quốc Lanna. Thành phố Chiêng Mai nằm trên vùng đồng  bằng của con sông Peng, đã cómột thời  kỳ rất thịnh  đạt.

Nhưng vì  Chiêng Mai nằm  giữa những quốc gia  lớn mạnh thời bấy  giờ như Lianma, Lan  Xang, Ayuthya cho nên đã trở thành vùng tranh  chấp của những quốc gia nầy. Năm 1767, Chiêng Mai bị quân xâm  lược Mianma chiếm đóng. Từ năm 1775  cho đến nay, Chiêng Mai bị sát nhập vào Vương quốc Xiêm La (ngàynay là Thái Lan). Nhiều công trình nghệ thuật có giá  trị đã được xây dựng ở ChiêngMai. 

 Công trình  đầu tiên gắn liền với lịch  sử Chiêng Mai là Vat  (chùa) Chiêng Mai,  trong đó có Chedi Siliem do  nhà vua Mang Ray xây dựng  vào năm 1297. Hình  dáng và cấu trúc  của kiến trúc nầy rất gần với tháp Kukut của  người Môn ở Lampun.  Chedi Siliem cũng là một tháp vuông gồm 5 tầng,  nhỏ gần khi lên trên đỉnh. Mỗi mặt của mỗi  tầng có ba khám  lớn, có những tượng  Phật lớn. Hai hiện vật cổ nhất và có giá trị nhất  ở Vat Chiêng Mai là hai pho tượng Phật, một pho bằng pha lê, một pho bằng đá.

 Một ngôi  chùa cổ khác ở Chiêng Mai  là Vat Prathat Doi Suthet  có ngọn  tháp Chedi dát vàng  cao 24m, ngự trên  quả đồi Suthep - đỉnh cao  nhất của thành phố  nầy.  Cách Vat Prathat  chừng 5km là cung điện Phuning, dinh thự mùa hè của Hoàng gia Thái Lan. 

  Một  trong những ngôi chùa  kỳ diệu khác ỏ  Chiêng Mai là Vat (chùa) Chedi Luang, được xây vào  năm 1401. Ngôi tháp nầy lúc đầu cao 86m, nhưng một  trận động đất mạnh xẩy ra năm  1545 đã làm đổ  mất phần đỉnh tháp, cho nên hiện nay chỉ còn lại 42m. 

Ở đây trước kia có giữ pho tượng Phật Ngọc, sau đó Vương quốc Lan Xang đã đưa sang Vientiane (Lào). Kiến trúc Viharn  ở bên cạnh Chedi Luang cũnglà một kiệt tác bằng gỗ của nghệ thuật Lanma, ô cửa của Viharn có hình con công tuyệt đẹp.

 Bên  ngoài tường thành  Chiêng Mai có  chùa Vat Chedi  Cherlot (chùa bảy đỉnh) do vua Trailoka  Ragia xây dựng lên vào năm 1455,nhân dịp  lễ Phật Đản  năm 2000. Ngôi  chùa nầy còn  được gọi là"chùa Maha  Harama" được kiến tạo  mô phỏng theo chùa ở  Maha Bodhi  (Bồ Đề Đạo Tràng) tại Ấn Độ, nơi Phật Thành đạo. Truyền thuyết kể lại rằng: Những hình Thiên nhân  tuyệt đẹp được đắp bằng vữa của ngôi chùa  đều có nét mặt  của các thành viên  trong gia đình củavua Trailo Ragia.

 Ở ngôi chùa nhỏ Vat Koa  Tao, nổi bật lên ngọn tháp Chedi kỳ lạ có hình thù trông giống như  một loại quả bí ngô xếp chồng lên với nhau và được trang trí khảm sành sứ thành những hình hoa lárực rỡ.

 Một trong những tổng thể ấn tượng nhất ở Chiêng Mai là chùa Vay Suan Dok. Tại  góc tây bắc của ngôi chùa  nầy là những tháp Chedi trắng toát, chứa giữ các bình hài cốt của hoàng gia Chiêng Mai ngày trước.  

 Người  ta còn truyền tụng  là trong ngôi tháp  Chedi trung tâm khổng lồ có chứa 8 xá lỵ của đức Phật.

 Sau cùng hết là Vat Chedovan, nơi nầy có 3 ngôi tháp Chedi lợp ngói và  một dãy hình những  con vật trong huyền  thoại và sử thi Thái Lan. Ngôi  chùa yên tĩnh nhất và đường  đi vào khó khăn nhất nhưng nổi tiếng là linh thiêng nhất là chùa Vat Umong, do nhà vua Mang Ray xây  lên trong rừng để làm  nơi tu hành cho những  vị sư vào tham thiền nhập định.

 

That Luông

That Luông  là ngôi tháp lớn  chứa dựng thánh tích  Phật Giáo tại thủ đô  Vạn Tượng (Lào). Theo  những nguồn sử liệu  ghi chép lạiđến ngày  nay thì vua Setthathilat  của Vương quốc Lan  Xang, saukhi dời  đô từ Luang  Prabang về Vạn  Tượng năm 1566,  đã cho xây dựng That Luông trên một ngôi chùa  cũ cách Vạn Tượng vào hai cây số.

That Luông là một công trình đồ sộ gồm một tháp lớn hình quả bầu, đặt trên một cái đế là một  đài sen hình vuông với những cánh sen nở tung  ra bốn phiá,  bên dưới là  một cái bệ  khổng lồ hình bán cầu, nhưng lại tạo thành bốn múi có đáy vuông. Trên miệng quả bầu đỡ một ngọn  tháp, chóp nhọn của ngọn tháp  được dát vàng và bốn mặt cong  của tháp thì được  quét sơn trắng xoá,  trông ngọn tháp rất rực  rỡ. Tất cả  nằm trên một  nền cao ba  bậc, có tường  bao  chung quanh. Ngoài  cùng là một đường hành lang  có mái, giới hạn cho khuôn viên  vuông vức và rộng lớn của  That Luông với bốn cửavào nằm chính giữa mỗi mặt.  Tháp chính  hình quả bầu không  phải đứng một mình,  mà đứng giữa một khu có 30 tháp nhỏ bao  chung quanh.

Các tháp nhỏ nầy có hình dáng tương tự  như ngọn tháp ở giữa, đỉnh  các tháp nhỏ cũng được dát vàng  và thân tháp  quét sơn trắng.  Tuy kích thước  của các tháp đều gần  bằng nhau, nhưng bốn tháp  ở bốn góc có bệ  cao hơn nên nhô  cao hơn một  chút so với  các tháp nhỏ  bên cạnh. Ở  mặt chính của  các tháp nhỏ  có ghi một  câu kệ Phật  Giáo, viết bằng tiếng Pali.  Chạy quanh các  tháp nhỏ là hồi lang vuông  rộng lộ thiên, có lan can cao ở phía ngoài. Trên dẫy  lan can là 228 hình lá nhọn, giữa mỗi lá có một khám nhỏ,  trong đặt tượng Phật đứng, nhỏ, bằng đất nung. Mỗi mặt lan can có trổ một ô cửa hình cánh cung và bên trên có trang trí  hình tháp nhọn.

Trong bốn cửa,  cửa phía đông là cửa giả, còn ba cửa kia có tam cấp dẫn xuống khu hồi lang bên dưới. Ở bốn góc lan can cũng có bốn tháp nhọn, cao.  Hồi lang tiếp  theo ở phía dưới rộng  hơn và có hai bậc.  Lan can bao quanh cũng được  trang trí ở trên các hình lá  nhọn và tháp ở góc. Trên bốn trục chính có bốn ngôi đền nhỏ lợp bằng bộ mái ngọn hai lớp làm  cổng thông giữa hồi lang với  khu sân rộng bên dưới. Mỗi  đền cổng  đề có  dãy tam  cấp trang  trí bằng  hình quái vật Makara hay hình rắn Naga. Ngôi tháp được  ngăn cách với không gian bên  ngoài bằng một dãy hồi lang vuông  lớn lộ thiên như cái sân,  có tường bao bọc chungquanh và có bốn cổng. Các tường  hồi lang của That Luông đều đượctô màu xám.

That Luông  cũng như các tháp  Phật Giáo ở các  nơi khác, là hình ảnh tượng trưng cho hình núi vũ  trụ Tu Di (Meru): đỉnh trung tâm  là Núi Thần  Meru; các tháp nhỏ bao quanh  là các vòng núi; những bậc tam cấp hình thủy quái Makara  và rắn Naga biểu trưng cho nước của Đại  Dương. Theo quan niệm  của Phật Giáo Tiểu  Thừa mà người Lào tôn thờ, thì  chỉ có một đức Phật duy nhất  trên cõi Niết Bàn (chứng quả ở  tháp chính hay trên ngọn Núi  Thần Meru; những nhà tu hành chứng quả cũng chỉ đạt  đến A La Hán (Arahat) (chứng quả ở các tháp nhỏ có ghi câu kệ Ba La Mật). Ba vòng hồi lang là hình ảnh tam giới (dục giới, sắc giới,  vô sắc giới) mà những người tu hành phải trải qua.

Cấu trúc mô hình của That Luông tuy là một hình tháp Phật có nguồn gốc Ấn  Độ, nhưng được  kết hợp với  tỉ lệ phân  bố hài hoà  giữa những đường nét và màu sắc đã tạo cho ngôi tháp nầy có một sắc thái  riêng của  nước Lào, không  giống như những  ngôi tháp Phật  Giáo khác ở Ấn Độ hay tại vùng Đông  Nam Á. Kiến trúc đồ sộ và độc đáo của That Luông  đã thể hiện tài năng sáng  tạo của người Lào sống cách đây 450 năm.

 

Khu bảo ttháp PG  Borobudur

Borobudur tại  Java (Indonesia) được  xây dựng vào  khoảng năm 800trước Công Nguyên.  Những nhà kiến trúc ngôi đền  vĩ đại nầy muốn trên bán đảo Java một công trình kiến tạo mô phỏng theo hình núi  Tu Di (Muri)  trong thần thoại Ấn Độ Giáo;  trên một ngọn núi mà vàng kim đặt toàn thể vũ trụ.  Theo nhận  định của nhiều  tác giả thì  Borobudur là một  trong những kỳ quan nghệ thuật Á Đông gây ấn  tuợng mạnh nhất do bàn tay của con người tạo dựng. Tuy được kiến tạo  năm 800 nhưng rồi đến năm 1000 trở về sau,  đã bị lãng quên; mãi  cho đến đầu thế kỷ  XX (1904) thì mới được phục  hồi từng phần cho đến khi có  sự hưởng ứng của cơ quan UNESCO sau nầy. Nhìn về tổng  thể về cơ cấu thì  Borobudur hiện nay hiện ra  như một đàihình vuông khổng lồ (đường hành lễ),  trên đó là 5 hồi lang vuông nhỏ dần, kiểu Mạn Đà La của Mật Tông. Bình đồ của các hành lang vuông nhô ra ba cấp, tính từ đầu cạnh đi vào điểm giữa. 

Trên hồi lang  thứ sáu là một loạt  gồm 3 dãy hồi lang  hình tròn nhỏ dần  với đỉnh chóp là  một Stupa (tháp) tròn  và lớn. Từ điểm giữa của mỗi mặt, từ chân lên  đến đỉnh công trình là một dãy tam cấp dài. Không tam  cấp nào biểu lộ ra có vẻ  như là lối đi chính cả. Cũng không  tìm thấy ở đây những  ngôi đền thờ có phòng  ốc ở bên trong. Về mặt tôn thờ,  Borobudur được coi như là một tháp  Phật Giáo nhưng lại theo tinh thần Ấn Độ.  Mỗi  hồi lang  hình vuông  đền có  tương cao  vây quanh. Dọc theotưởng có  nhiều các khám  các buồng.

Toàn  bộ các hồi  lang vuôngđược phủ kín  bằng phù điêu; còn các khám  các phòng thì có nhiều pho tượng Phật.  Ba hồi lang tròn trên cùng  thò mở tung ra ngoàitrời, chẳng có  tường vây. Cũng không có một  hình chạm khắc nào. Thay vào đó, chỉ có 72 Stupa  nhỏ bằng đá có thờ những tượng Phậtở bên trong.  Những nhà Phật  học khi nghiên cứu hình đồ  Borobudur, đã giải thích như sau: Toàn bộ  thể hiện quá trình  đi đến giác ngộ  theo kinh điển Phật Giáo, từ dục giới, đến sắc giới, rồi vô sắc giới.

Những tín đồ đó khi đã lên tới  đỉnh thì về mặt tâm linh là  đã trở thành một con người khác hẳn, nếu đem so với khi còn ở dưới đáy.  Như vậy, hồi lang trên đỉnh với ngôi tháp tròn có chứa tượng Phật bên trong là biểu tượng cho Chân lý tối thượng. Còn 72 ngọn tháp  mở ra ở trên những lộ đài  trộn với những hình tượng Phật khó thấy ở bên trong là biểu trưng cho những giai đoạn của quá trình đại giác của một vị chân tu. Ở bốn mặt của hồi lang vuông bên dưới có rất nhiều hình tượng của các  Thiền Na Phật (theo  Mật Tông Tây Tạng)  trong các khám, được xem như là sự dẫn dắt tín  đồ lên những bậc cấp giác ngộ cao hơn nữa.

Việc biến chuyển  từ hình vuông sang hình tròn  cũng mang ý nghĩa tương tự  như thế. Hình  vuông có nghĩa  là giới hạn,  không phép nhất định, ràng buộc theo phương hướng và quan hệ với không gian. Nhưng khi sang đến hình tròn, tức  là bước sang cảnh trí vô biên, sang con đường tuyệt đối, tức là biểu tượng cho sự bất diệt.  Thông thường  khi một tín  đồ đến tháp  Phật Giáo như  tại Borobudur thì phải đi  vòng, từ bên  trái sang bên  phái (không thể  đi ngược). Toàn bộ  các hành lang  vuông đều được  phủ kín bởi  hệ thống của  những bức phù điêu rất mỹ  thuật, tinh xảo. Theo những nhà nghiên cứu, đây chính là trọng điểm về  nghệ thuật của Borobudur. Những cổng lên xuống các  tầng đều theo  kiểu vòm cổng  "Kala Makara".

Hơn  thế nữa, ở hai bên cánh gà còn  có những hình tượng của các vị Thánh, với cử  chỉ đưa tay lên  vén màn ra, tưởng  chừng như đón khách. Những bức phù điêu ở phần cuối cùng bị lấp kín bởi đường hành lễ. Những  cảnh trí  nầy thể  hiện vòng  sinh tử,  luân hồi  của kiếpngười, theo quan điểm Phật Giáo.

Nhìn chung lại,  phong cách kiến trúc và  điêu khắc của Borobudur được xem  là một trung  tâm hành hương  nhiều ý nghĩa  nhất trong vùng. Đây là  biểu trưng cho vũ trụ, đồng  thời cũng là dạng kiến trúc kiểu Stupa. về Mật Tông thì đây là hình Mandala. Những bi ký khai quật trong  những năm gần lại đây  cho biết thêm: Borobudurcòn là di tích của Vương  triều Sailendra. Chín hành lang là hình  ảnh 9 vị tổ sáng lập ra triều đại nầy. Trong lịch  sử kiến trúc, phong  cách của Borobudur đã  ảnh hưởng không nhỏ trong kiến trúc Angkor (Khmer) và kiến trúc Pagan (Miến).

 

 Những chùa tháp Pagan

 

Trong lịch sử kiến trúc vùng Đông Nam Á, sau Borobudur và Angkor,  thì phải kể đến khu vực những đền tháp Pagan (Vạn Phật Tự). Chínhnhững công  trình kiến trúc và  điêu khắc nầy đã  đem lại niềm tựhào của nền nghệ thuật kiến trúc Á Đông tiêu biểu.  Không ở đâu trên đất Á Châu, kể cả đất Ấn Độ, chỉ tại một khu vực nhỏ thôi  mà mật độ  các di tích  chùa tháp lại  dày dặc như  tạiPagan.

Thành  phố có diện  tích khoảng 40km2,  quy hoạch bình  đồ vuông, nằm trên bờ sông Iraouaddhi. Theo những  truyền thuyết kể  lại thì vua  Anaoratha bắt đầu  theo  Phật Giáo, liền sai sứ thần sang nước láng giềng Thaton của người Môn vốn  theo đạo Phật  để cung thỉnh  một số kinh  sách về phiên dịch. Nhưng vua nước Thaton khước từ. Vua Anaoratha đem binh sang chinh  phạt Vương  quốc Thaton,  không những  thu hồi được nhiều kinh sách và  tượng Phật Giáo, mà còn bắt  nhiều thợ thủ công của Thaton đưa  về Pagan, để  tham gia ngày  đêm trong việc  xây dựng chùa tháp Pagan.  Lúc nầy có trên 5,000 chùa  tháp, nhưng qua thời gian và chinh chiến hiện nay chỉ còn khoảng 2,300 ngôi chùa tháp. Hầu hết những chùa tháp Pagan được  kiến tạo vào khoảng thế kỷ XI - XII, dưới triều đại Pagan.

Những nhà khảo cổ UNESCO cho rằng: "Pagan là cả một rừng kiến trúc Phật Giáo Tiểu  Thừa".  Cũng tại đây, đã chứng  minh rõ nét nhất về tinh hoa và  tài năng của dân tộc Miến Điện  được thể hiện qua các đền  tháp, biểu hiện phong  cách kiến trúc truyền  thống Miến Điện trong giai đoạn hình thành và phát triển. Phật Giáo phát triển tại Miến Điện bởi những sắc dân người Môn và người Piuk, vốn từ Ấn Độ sang. 

Cho đến năm 1001, triều đình Miến Điện đã  thừa nhận vị  Tăng Thống  của  Phật Giáo là  Đại Lão Hoà Thượng tại  Pagan. Pagan một thời  là  kinh đô của  triều đình vua Anoratha. Pagan được kiến tạo từ đó. Pagan  có tên cổ là Arimadda Napura có nghĩa là "Thành  phố đạp chân lên kẻ thù",  ám chỉ sự chiến thắng những bộ tộc người Môn tại Thatôn.Đi từ  cổng đền vào,  có hai ngôi  đền thờ, khắc  chạm hình những Maha Girinat. Đây  là vết tích của đạo Nak  có từ trước của người dân Miến.  Đi vào trung  tâm của khu vực nầy,  tất cả những đền tháp  đều có tên (phần  đuôi) là "Cetiya"  hay là "Gu"  (tháp hay chùa).  Theo danh từ  Phật học, "Cetiya" biểu  trưng cho Phật và  Pháp. Cetiya gần với khái  niệm "Stupa" (Tháp) của Ấn Độ.  Tất cả có đến 2,289 Cetiya.

Những ngôi tháp  ở Pagan được phân chia ra  làm 4 loại khác nhau, tùy tầm cỡ và tùy phong cách:  Loại thứ nhất là  loại stupa (tháp)  hình bầu, hơi giống  như kiểu tháp Chorten của Tây  Tạng, Boutan. Ngôi tháp có niên  đại sớm nhất của loại nầy xuất hiện vào thế kỷ VIII có tên là Pupaya, do những thổ dân người Piuk xây lên. Loại thứ nhì là một  loại Stupa hình quả chuông, ở  giữa có những đường gờ nổi lên, trang trí bằng những hoa  văn. Chóp của loại tháp nầy là đỉnh cao nhất  của những đường gờ bao quanh.  Không xác định được niên đại của loại tháp nầy, nhưng nhiều tư liệu cho biết là triều  đình  vua Aniruddha  rất tán  thưởng phong  cách kiến  trúc nầy.

Những Stupa loại  này có nền hình bát giác,  có 1 hay nhiều tầng,  với những hồi lang bao quanh.  Thông thường thì Stupa và nền được xây dựng lên trên một hình Kim tự tháp khổng lồ.  Loại thứ ba cấu  tạo theo kiểu hình  chuông và cũng có  những đường gờ ở giữa. Nền hình tròn hay hình  bát giác. Trên đỉnh vòm chuông được kiến trúc  theo hình bát giác.  Tất cả được trang  trí hài hoà và cân đối. Loại thứ tư  cũng cấu trúc  hình chuông, có nền tròn, nhiều  bậc, không có hành lang rộng, không có những đường gờ.

Nhìn chung  lại, cách loại Ceytiya  kể trên không giống  như kiểu kiến trúc châu Âu cùng thể loại  nầy. Chức năng của những tháp nầy cũng  hoàn toàn  khác, vì  toàn bộ  dùng cho  những hoạt động tôn giáo. Họ muốn nêu lên biểu trưng  của Niết Bàn, mục đích cao nhất trên con đường tu  hành. Nền Kim tự tháp gợi lên  hình ảnh của vũ trụ, không gian hiện đang sống.  Nhìn chung  lại những đền  tháp ở đây  đều dựa theo  mô hình kiến trúc Tích Lan và Ấn Độ. Người Miến Điện thường xây đền tháp trên những đỉnh  đồi, vì họ quan  niệm càng lên cao  chừng nào thì tâm hồn càng thanh thoát và xa trần tục bấy nhiêu. Tại Pagan còn có một loại hình  kiến trúc Phật Giáo khác nữa: loại đền Gru.  Những  loại đền nầy được thiết kế  trong những hang động và những giả sơn (Gru có nghĩa là hang). Phần bên trong của những đền hang nầy là một hệ thống hang động và các phòng vòm. Kiểu vòm nầy rất  phổ biến trong những  kiến trúc Phật Giáo  tại Miến.

 Đây không phải  khuôn rập theo kiến  trúc Ấn Độ, mà  thực chất là của người Piuk thường xây.  Đa số những  ngôi đền tại Pagan được xây  dựng trên những khu vực đất bằng  phẳng và có  nguồn gốc từ  những Stupa. Quá  trình hoàn thành các công trình nầy là do  người Ấn, người Môn và người Piuk  hợp tác.

 

Ngôi chùa cổ nhất  Nhật Bản

Ngôi chùa  nầy có tên  là Horyu -  Gi (Pháp Long  Tự) tọa lạc tại Ikaruga, cách cố đô Nara chừng 10km, về hướng Tây Nam. Trong lịch sử  truyền bá Phật Giáo, vào thời  Asoka (552 - 645), khi Phật Giáo từ Triều Tiên du  nhập vào đất Nhật, được hoàng gia khuyến khích và nâng đỡ trong bước đầu, đã có nhiều ngôi chùa lớnnhỏ được  kiến lập.

Qua  sử sách ghi  chép về thời  đó có 46 ngôi chùa lớn và 423 ngôi chùa nhỏ chung quanh vùng Nara. Pháp Long Tự được xây  sớm nhất và  cũng là kiểu  thức kiến trúc  và điêu khắc tiêu biểu Phật Giáo Nhật thời kỳ du nhập nầy.  Ngôi chùa  có gồm có:  cổng Trung Môn,  toà tháp năm  tầng và toà Phật điện  vàng (gọi là  Kindo, tức Kim  Đường), các cột  lớn đều bằng bằng loại gỗ bách quý giá trong vùng. Cổng Trung Môn ở chính  giữa mặt  nam. Đối diện cổng  Trung Môn là toà  Giang Đường ở mặt bắc. Các hành lang bao quanh khuôn viên trên đó tọa lạc Kim Đường và tháp năm tầng.Toà Kim Đường dựng trên nền đá  hai bậc, cao 32 mét. Tiền đình có năm gian, mặt bên có bốn gian,  lớp ngói kiểu bốn mái. Những hàng cột cao  đỡ lấy các  con-sơn hình mây  cuộn, điêu khắc  khá thanh  nhã. Chính  giữa là điện  thờ, xây  một  bệ bằng đất  nung đặt batượng Phật  bằng đồng. Pho tượng  Phật thứ nhất đặt  ở chính giữa ngồi xếp bằng, chiều cao 1,37 mét;  hai vị Bồ Tát (Quan Thế Âm Bồ Tát và Đại Thế Chí Bồ Tát)  đứng hai bên. Phía sau ánh hào quang có khắc bài nguyện về Phật Pháp  (Tứ nguyện). Pho tượng thứ hai ở bên cạnh là đức Bổn Sư Thích Ca  Mâu Ni Phật; pho tượng thứ ba là Dược Sư Lưu  Ly Quang Vương Phật.

 Tất  cả ba pho tượng nầy  là do điêu khắc gia nổi tiếng Nhật Bản,  ông Tori sáng tác. Phía sau ba bức tượng nầy  là bức tượng A Di  đà có niên đại sớm  nhất trong những công trình điêu khắc Phật Giáo Nhật.  Bốn góc  bệ thờ có Tứ  Đại Thiên Vương đứng  trấn giữ theo truyền thuyết Phật Giáo.  Đó là bốn pho tượng làm  bằng gỗ long não, mỗi pho tượng  cao 1,33 mét.   Trên  các bức tường của  Kim Đường trang trí nhiều bức hoạ  nổi tiếng thể hiện cuộc đời của  đức Bổn Sư và chư vị Bồ Tát, sáng tác vào thế kỷ thứ VIII.  Toà tháp năm tầng  đặt trên hai bậc đá, cao khoảng  32 mét. Ở giữa tầng một, có xây một bệ thờ  bằng đất sét nung. trên bốn mặt có phù điêu thể hiện bốn cảnh, có liên quan đến cuộc đời của đức Thế Tôn: ở phía bắc  là đức Phật nhập diệt; phía nam  là Phật Di Lặc; phía đông là Phật Duyma; phía tây là cảnh phân chia Xá Lợi Phật. Ngôi chùa được kiến tạo năm 607,  dưới sự trông nom trực tiếp của Thái Tử Sokhutu.

Trong số  các bức tượng  Phật ở ngôi  chùa nầy, điển  hình là pho tượng  bằng đồng  mạ vàng  do Curasucuri  Notori chế  tác, để cầu nguyện cho Thái tử Sokhutu khi  ngài mắc bệnh nặng. Bức tượng nổi bật với tư thế tĩnh tại, đầu nhìn thẳng, nét mặt trầm tư. Vào giữa  thế kỷ VII, ngôi  chùa bị hỏa hoạn  phá hủy nhưng chẳng bao lâu thì chùa  lại được tái tạo theo hình đồ  và trang trí nhưcũ. Cho nên, đến ngày nay, ngô chùa Horyu - Gi vẫn tồn tại và lưu giữ được  hơn 100 hiện vật,  có giá trị nghệ  thuật cao, được xếp vào hàng bảo vật của quốc gia. Trong số đó, có khá nhiều hiện vật có từ khi Phật Giáo mới du nhập vào đất Nhật. Chùa Horyu - Gi  là niềm tự hào của nền văn  hoá Nhật và được xếpvào danh mục Di sản Văn hoá Thế giới năm 1967. 

Ngoài ra,  trong số những  ngôi chùa đầu  tiên, cũng phải  kể đến ngôi chùa  vĩ đại Todaiji do  Thiên Hoàng Somu kiến  tạo năm 745 tại Nara.  Trong chùa nầy, phần  hoành tráng và nguy  nga nhất là  ngôi Đại  Phật Điện. Ở  Đại Phật Điện  nầy, có đặt  pho tượng Đại Phật (daibutsu) bằng  đồng to lớn, uy nghiêm,  nổi tiếng thế giới về tầm cỡ, kích thước, trọng lượng và kỹ thuật (cao 17m, nặng 500tấn). Tuy  to lớn như  thế, nhưng tượng  Đại Phật trông  rất đẹp,duyên dáng, tinh xảo. Đây là mô hình điêu khắc tiêu biểu nhất của thời đại Nara.

 

Cung Potala

 

Cao nguyên Thanh Tạng là cao  nguyên trẻ nhất, cao nhất, lớn nhất trên thế giới, với diện tích  vào khoảng 2,5 triệu km2, bình quân cao hơn mặt  biển trên 4,500 mét; do  đó, có tên là "nóc  nhà của thế giới". Cao nguyên  nhấp nhô trùng trùng  điệp điệp từ nam  lên bắc, từng dãy  núi dài  liên miên  tưởng chừng  không bao  giờ dứt. Dãy núi Hymalaya  nguy nga  uốn lượn  phía  tây  nam; ở  giữa là  dãy núi Gandice và  Tancula; phía bắc là  núi Côn Lôn, núi  Ankin, núi Kỳ Liên rộng  mênh mông bát  ngát. Rất nhiều  ngọn núi phủ  đầy băng tuyết. Giữa các dãy núi là những sông băng màu bạc trượt dần theo dốc núi. Phía  dưới cùng của sông băng Lubay  có độ cao 5,029 métso với  mặt biển là con  sông băng cao nhất  thế giới. Sông băng Incukaiti ở sườn  bắc ngọn Chéquari thuộc dãy  núi Kakaconlon dài 42 mét là con sông băng dài nhất của Trung Quốc. Sông băng đỉnh bằng Ikhasaha  Lunquala thuộc núi Kỳ  Liên có diện tích  55km2 là sông băng đỉnh bằng lớn nhất của Trung Quốc.

Các con sông băng là "mẹ" của  các dòng sông lớn,  cung cấp nguồn nước  phong phú. Các sông nổi tiếng  thế giới như Trường Giang, Hoàng  Hà, Hằng Hà, Ấn Hà đều bắt nguồn từ đây. Lòng chảo  Saitamu thuộc cao nguyên  Thanh Tạng có địa  thế thấp, chỉ  cao  khoảng  2,500  mét  so  với  mặt  biển. Thung lũng sông Yazangbu có thể coi là thấp nhất  của ao nguyên nầy. Vậy mà thành phố Lhasa nằm  trong thung lũng vẫn nằm  ở độ cao gấp đôi  độ cao Thái Sơn là núi đứng đầu trong Ngũ Nhạc. Trên cao  nguyên có những đồng  cỏ rộng lớn, xen  kẻ những đầm hồtrong xanh,  quanh hồ có  nhiều cây liễu  đỏ, núi trắng  tuyết in bóng xuống  hồ đậm đà  phong cảnh đặc  thù của cao  nguyên.  Nhiều ngọn suối nước nóng phun ra từ  các khe hở vách đá, hơi nóng ngùn ngụt tương phản với núi tuyết lạnh giá bên cạnh.

Trên cao nguyên  nầy có hiện tượng đặc biệt:  do không khí loãng, khí áp thấp, nên nước sôi ở 81  độ C, vấn đề hô hấp của con người cũng trở nên khó khăn hơn. Cao nguyên Thanh Tạng có đường bộ  dẫn vào thành phố cao nhất thế giới. Đường ô tô Thanh Tạng nằm  ở độ cao 4,500 mét đến 5,400 méts o với  mặt biển; đó  là điểm cao  nhất của đường  giao thông thế giới. Thị trấn Hắc Hà nằm trên con đường giao thông Thanh Tạng có độ cao 4,604  mét so với mặt biển,  cao hơn 954 mét so  với thành phố  thủ đô  cao nhất  thế giới  - thủ  đô Lapaz  (3,650 mét) của Bolivia.

Tuy cao nguyên  Thanh Tạng có địa thế cao,  khí hậu tương đối khô hạn rét mướt, những cũng chính do địa thế cao, diện tích lớn, cho nên nhiệt lượng  của mặt trời nhận được tương  đối phong phú. Như thế, đã tạo điều kiện tốt cho  hoạt động của con người và sự phát triển của những sinh vật tại đó. Tại nơi đây, chỉ cần trời không  mưa, phần lớn các khu vực đều có ánh nắng mặt trời chiếu tới khoảng 12 tiếng trong ngày. Thành phố Lhasa có số giờ nhận ánh sáng trong năm lên tới 3,000 giờ; vì thếcó tên là "Thành phố ánh sáng".

 Câu hỏi thường được đặt ra:  Tại sao cao nguyên Thanh Tạng lại cao đến như vậy?  Căn cứ vào hàng loạt hoá thạch khủng long, hoá thạch ngựa 3 móng,  hoá thạch sinh vật biển và  hoá thạch thực vật trêncạn... từng khai quật được ở  vùng cao nguyên Thanh Tạng, các nhà khảo cổ học  chứng minh rằng:  Khoảng 230 triệu  năm về trước, cao nguyên nầy  vẫn còn là  một vùng biển  dài nối liền  với Thái Bình Dương và Đại  Tây Dương.

 Về sau, vỏ  trái đất xẩy ra sự  vận động mãnh liệt, hình thái núi non gấp lại; biển đã biến mất, xuất hiện núi Kỳ Liên cổ. Lục địa Saitama cổ lún xuống biến thành lòng chảo hồ hội  địa.  Qua thời kỳ  Trung Đại kéo dài  150 triệu năm, những núi cao đó  đã bị phong hoá và  san bằng dần. đất cát  bị bào mòn trầm tích lại trong hồ. Đến thời kỳ Tân Sinh, lại có thêm đột vận động của vỏ trái đất, các dãy  núi già cổ lại vươn lên, trở thành những dãy  núi Hymalaya có hơn  30 triệu năm lại  đây. Cao nguyên nầy trở thành "nóc nhà của thế giới".

 

Trên những kiến trúc kỳ vĩ của nhân loại thì cung Potala được xem là cung điện cao nhất so với mực nước biển của thế giới, là trung tâm của Thánh thành Lhasa, Tây Tạng, được kiến tạo vào năm 1694 -1696. Từ bất cứ phương  hướng nào ở bên ngoài vài cây  dố, cũng có thể nhìn toàn  cảnh của cung điện  Potala. Cung điện cao  đến 13 tầng lầu, giống như một vách đá lớn,  có tường màu trắng, từng dẫy cửa sổ, mái  nhà cao thấp  mỗi cái khá  nhau.

 Cung nầy  được xây trên ngọn núi Mabuge  (có nghĩa là Núi Đỏ); núi  nầy nhiều đá, cao hơn thành phố Lhasa chừng 95 mét.  Cung Potala, theo  tiếng Sanskrit là "Thánh địa  của Phật". Otala được âm  dịch tiếng Sanskrit là  "Pudala" (Phổ đà la)  có nghĩa:  Thế giới Quan Âm Thánh địa Phật Giáo. Tương truyền vào thế kỷ thứ  VII sau Công nguyên, quốc vương nước nầy là Songzan Ganbu sau khi cưới công chúa Văn Thành, đã cho xây dựng một  cung điện tại  đây. Nhà vua  lại còn tạo  tại đây ngôi chùa "Đại Chiêu  Tự".

Quanh năm suốt tháng Phật  Giáo đồ khắp nơi trong  nước tây  Tạng đến  đây để  lễ bái  cúng dường tưởng chừng không bao  giờ vắng người.  vào khoảng năm  1645, nhân vật  thống trị Tây  Tạng là đại Lai  lạt Ma đời thứ  V đã hạ lệnh  dựng cung  điện  cho mình  trên cung  điện của  Sonzan Ganbu.  Khi Ngài viên tịch (1682),  cung điện nầy vẫn  chưa hoàn tất, cho  nên tin viên tịch của Ngài  vẫn giữa bí mặt không tuyên  bố. Mãi đến năm 1694, khi cung  điên Potala xay  xong, mới công  bố cho thần  dân trong  nước được biết. Nơi nầy vẫn là trung tâm của Tây Tạng. Toàn thể cung điện trong giai đoạn xây cất đầu tiên chỉ dùng những vật liệu bằng đá, gỗ và đất. 

Phương tiệnn vận chuyển thời đó còn thô  sơ cho  nên chỉ  có thể  vận dụng  sức người  và loài vật để chuyên chở từ nhiều nơi trong nước đến.  Tòa nhà lớn nầy có hơn 1,000  gian phòng, hơn 10,000 Phật điện và 20,000 tượng điêu khắc. đây cũng  là "cung 4iện Mùa đông" của đức  Đạt Lai Lạt Ma.  Sau khi đức Đại  Lai Lạt Ma đời thứ XIV (đương  kim) rời khỏi Tây  Tạng sang tị nạn tại Ấn độ (năm 1959), thì toà thành nầy được dân chúng bảo  toàn khá hoàn hảo,  trong khi những lực  lượng quân sự của Trung Cộng tấn công khắp mọi nơi để xâm chiếm.Về phương diện  kiến trúc, những vật liệu  xây dựng cung Potalacó thể  chia ra làm  hai bộ phận  chính:  Trên tường  trát đất sét trắng gọi là "bạch Cung", chính giưa trát đất sét đỏ gọi là "Hồng Cung". Tòa  nhà Cuokin, cung đien  lớn nhất của bạch  Cung là nơi ngày trước  đức Đạt Lai  Lạt Ma  cử  hành những nghi  lễ tôn giáochính trong năm, cũng như những  nghị sự chính trị quan trọng của Tây tạng. Kiến  trúc chủ thể của hồng Cung  là điện Linh Tháp của đức Đại Lai Lạt Ma và những  Niệm Phật Đường.

Hiện nay vẫn còn cóthể nhìn thấy Linh Tháp của những  đức Đạt Lai Lạt Ma đời thứ V,  đời thứ VII và đời thứ XII. Những linh tháp nầy đều được dát vàng lộng lẫy.  Lhasa nằm  ở trong rặng  núi Himalaya, cao  3650 mét, so  với mực nước biển, không khí loãng.  Nổi  tiếng nhất trong những trung tâm Phật giáo là  Đại Chiêu Tự.   Trong ngôi chùa  nầy hiện nay còn bảo lưu được nhiều tượng Phật dát  vàng nổi tiếng. Những tượng này do Văn Thành Công Cúa, vợ của  vua Songzan Ganbu, tặng cho chồng khi thành hôn. Ngoài  ra, còn có cung điện Robulinca,  ở tây Thành có nghiã là  "Vườn Bửu Bối".

 

---o0o---

Trình bày: Nhị Tường
Cập nhật: 06-2007

 

Webmaster:quangduc@quangduc.com

Trở về Thư Mục Thánh Tích

Đầu trang

 

Biên tập nội dung: Tỳ Kheo Thích Nguyên Tạng
Xin gởi bài mới và ý kiến đóng góp đến ban biên tập qua địa chỉ: quangduc@tpg.com.au

Ghi rõ nguồn "Trang nhà Quảng Đức" khi bạn phát hành lại thông tin từ website này.