NHỮNG DI TÍCH PHẬT
GIÁO NỔI TIẾNG
KIÊM ĐẠT
---o0o---
Bồ Đề Đạo Tràng
Bồ Đề Đạo Tràng là di tích Phật Giáo đánh dấu nơi Phật Thích Ca thành
đạo. Đến chiêm bái thánh tích nầy, trước tiên là đến lễ bái tháp Đại Bồ Đề
(Maha Bodhi). Đây là ngôi tháp chính mà tất cả các Phật tử đến chiêm bái
đều phải ghé vào. Tháp nầy bên dưới vuông vức mỗi bề 15m và ngọn dần
lên đỉnh theo hình Kim tự tháp, cao khoảng 52m. Bốn cạnh tháp còn có bốn
tháp nhỏ tô điểm thêm phầm mỹ thuật.
Hiện nay tháp chỉ có hai tầng. Tầng dưới gồm một hành lang, tiền sảnh và
hậu sảnh. Bên trái và bên phải của hành lang dẫn vào tiền sảnh là hai hộc
thờ tượng đức Quan Thế Âm Bồ Tát và Đương Lai Hạ Sanh Di Lặc Tôn Phật ở
hai bên lối vào. Bước vào tiền sảnh hai bên là cầu thang dẫn lên tầng
trên, bên trong có một bục đá ngăn giữa tiền sảnh và hậu sảnh. Bên
trong hậu sảnh đặt một bức tượng Phật ngồi thế kiết già, tay trái gác
trên đùi, tay phải buông xuống trong ấn Xúc Địa. Bức tượng nầy tương
truyền đã hơn 1,700 năm và ngồi hướng mặt về phía đông giống y tử thế của
đức Thế Tôn đã ngồi khi thành đạo. Bức tượng nầy đã được đức Đạt Lai
Lạt Ma cúng dường để thếp vàng vàkẻ mặt, cho nên phảng phất đường nét Tây
Tạng. Tuy nhiên, đường nét chính của bức tượng còn hiễn lộ rõ ràng,nhất
là sự cấu trúc đặc biệt của pho tượng, kiến cho khách đến chiêm bái
khi nhìn vào phải phát tín tâm của mình.
Ngay phía trước bàn thờ Phật, trên nền đá có một vòng tròn tượng trưng
cho Argha, một biểu tượng của thần Shiva (tượng trưng sinh thực khí). Bên
tằng trên của tháp cũng có một tiền sảnh, một hậu sảnh và một hành lang
bọc chung quanh. Tiền sảnh của tầng trên chỉ có một tượng Phật đứng,
khi Ngài còn là vị Thái tử. Những Phật tử Tây Phương thường đến thiền
định nơi nầy, vì không khí trang nghiêm và thanh tĩnh hơn những nơi khác.
Dọc theo hành lang bên ngoài, có thể đi vòng ra phía sau chỗ bên trên cây
bồ đề. Nơi bốn góc thấp có những hộc nhỏ thờ tượng Phật. Kiến trúc đặc
thù của tháp là mô hình của hai ngôi tháp Chiang Mai Thái Lan và Miến
Điện. Hai nơi nầy cũng có những ngôi tháp kiến tạo giống như tháp Đại
Giác tại Bồ Đề Đạo Tràng. Bên ngoài tháp được trang trí những hoa văn
trong các hình vòm của tháp. Chung quanh vách tháp, phía trên đỉnh đầu
có khắc hình tượng Phật, chư Bồ Tát và những vị Thánh. Những tượng nầy do
Phật tử Tây Tạng cúng dường nên phong cách đậm nét Tây Tạng. Những pho
tượng các vị Tara, Bồ Tát... đều mang những đường nét đặc thù của Mật
Tông.
Trong số những pho tượng nầy, nổi tiếng nhất là tượng đức Quan Thế Âm
Bồ tát; theo truyền thống Mật Tông thì ngài là người nam và trang phục
như một vị Pháp Vương Tử. Ngôi tượng được dựng phía bên trái của ngôi
tháp. Cây Bồ đề: Khi bước vào khuôn viên của ngôi tháp đi theo phía
phải, sẽ dẫn đến cây bồ đề. Tương truyền cội cây nầy đã trải qua phen đốn
chặt và thiêu hủy nhưng vẫn mọc lên một chồi mời để thay cho cây cũ. Nhà
khảo cổ học Cunningham cho biết: cây bồ đề tồn tại hiện nay chỉ chừng
100 tuổi, nhưng lại mọc chính xác tại nơi cây cũ. Cây bồ đề hầu như xanh
tươi bốn mùa.
Kim Cang Toà: Bên dưới giữa cội bồ đề và ngôi tháp là một toà bằng sa
thạch, chiều dài 2,28m, chiều rộng 1,5m, chiều cao 0,9m, trên mặt có
khắc hoa văn. Theo tài liệu của những sử gia thì đây là toà do vua A
Dục (Asoka) tạc để cúng dường. Thời xa xưa, toà nầy đượctrang hoàng bằng
những loại đá quý như mã nảo, san hô, hồng ngọc, bích ngọc, lưu ly, hổ
phách, trân châu... nhưng những loại nầy theo thời gian đã mất dần. Tòa
đá nầy và cội cây bồ đề ngày nay được bảo quản bởi một hàng rào xi măng
và một hàng rào trụ kimloại mạ vàng do Sri Lanka cúng dường.
Chùa hang Phật Giáo Ajanta
Ajanta là tên một ngôi làng nhỏ vùng quê nằm trong vùng Trung Ấn(nay
thuộc tiểu bang Mahastra). Quàn thể của những chùa hàng Ajanta gồm có
30 ngôi chùa hang Phật Giáo Tiểu Thừa, được kiến tạo từ thế kỷ thứ II
trước Công Nguyên, tiếp tục xây cho đến thếkỷ thứ IX (sau Công Nguyên).
Những nhà kiến trúc thời xưa đã khéo léo trong việc lựa chọn những
hang đá to nhỏ khác nhau, những vách đá dựng đứng, đục đẽo công phu, để
sau nầy trở thành những ngôi chùa Phật Giáo.
Trước vòm hang có hàng cột đá cao từ nền hang lên đến đỉnh hang, để tạo
phần tiền sảnh của chùa. Những cột nầy mới nhìn quan thì hệt giống
nhau, nhưng khi nhìn kỹ lại thì thấy khác nhau về những thể loại hình
tượng điêu khắc. Có đến hàng trăm cột như vậy, được trình bày cân đối
nhịp nhàng, tuy nhiên vẫn không trùng nhau, thành ra không rườm rà
.Trong số 30 chùa hang nầy, có 5 chùa hang (các ngôi chùa mang số9, 10,
19, 26, 29) là những điện thờ hay lễ đường (Chaitrya) và 25 chùa hang
còn lại là những Tịnh xá (Vihara). Cấu trúc chungcủa các đền thờ hay lễ
đường (Chaitrya) rất đơn giản, chỉ gồm một phòng hình chữ nhật, trần điện
uốn cong hình chữ "U", có một cổng vòm hình móng ngựa thông ra bên
ngoài; bàn thờ Phật đặt ở hậu cung.
Tịnh xá (Vihara) gồm một gian phòng lớn hình vuông để hội họp, mặt trước
giáp với một hành lang, ba mặt kia thì mở vào các buồng nhỏ làm nơi ở cho
các nhà sư. Các chùa hang ở Ajianta đặc biệt nổi tiếng với những bức bích
họa trên các vách đá và trên trần hang. Tổng cọng có 498 bức bích họa.
Toàn bộ nội dung của những bức tranh đều tập trung thể hiện cuộc đời và
những chuyện tiền kiếp của đức Phật Tổ, trong đó có nhiều kiếp của Ngài
là những con vật, nhà quý tộc hay người bình dân. Vì thế, tuy gần với đề
tài Phật Giáo, nhưng các bức họa không chỉ giới hạn trọng cuộc sống của
nhà tu hành, mà bao trùm cả một thế giới rộng lớn, một xã hội muôn màu,
muôn vẻ, từ con người đến chim, thú, hoa, cỏ, từ cuộc sống ở chung đình
đến cuộc sống của người bình dân ở thành thị và nông thôn, từ thế giới
trần thế đến thế giới Thiên đình (cách vị Thần linh, các tiên nữ)...
Nét vẽ, nét chạm khắc ở đây rất sắc sảo và rất hiện thực. Những thiếu nữ
trong tranh ở Ajanta được thể hiện rất quyến rũ, với những đường cong mềm
mại, thần thái sinh động trong từng ánh mắt, từng nét môi, vừa đắm say,
vừa e lệ. Đặc biệt, trang phục và những đồtrang sức của các nhân vật
đều được miêu tả với nhiều chi tiết. Chẳng hạn, ở các nhân vật nữ, từ
đầu tóc đến quần áo, đồ trangsức, tư thế... đều thật hoàn hảo. Các bức
tranh đều được tô bằng phẩm màu làm từ các loại khoáng chất và các màu
có nguồn gốc thực vật, nên vừa hài hoà, vừa tương phản, mà vẫn giữ được
màu sắc cho đến ngày nay. Các nghệ nhân còn khéo lợi dụng sự phân bố ánh
sáng thiên nhiên trong hang động đểlàm cho những hình ảnh được mô tả trở
nên sống động.
Tùy theo góc độ xem tranh mà người xem lúc thì thấy nét mặt Phật
rất uy nghiêm, có vẻ trầm tư mặc tưởng, lúc thì thấy trên mặt của Ngài
dường như đang nở một nụ cười hiền hoà và kín đáo. Di tích văn hoá nghệ
thuật cổ có một không hai của Ấn Độ nầy đã bị chìm trong quên lãng trong
suốt hơn chục thế kỷ vừa qua, cho đến năm 1819, do tình cờ, mấy ngưòi
lính Anh đi săn trong núi đáđã phát hiện được. Để bảo vệ những bức tranh
màu không bị hư hại. Hội đồng Khảo cổ học Ấn Độ đã nghiêm cấm việc
chiếu sáng, chụp ảnh bằng ánh sáng. Nhà nhiếp ảnh Boney Bell đã bỏ
ra 10 năm nghiên cứu phương pháp chụp ảnh trong bóng tối mới thành công
và giới thiệu cho toàn thế giới những bức tranh "gần như nguyên tác" của
hang động Ajianta để cho nhân loại được chiêm ngưỡng ngày hôm nay.
Những bảo tháp Phật Giáo tại Sanchi
Dựa vào những truyền thuyết được lưu truyền cho đến nay, thì khiđức Phật
Thích Ca Mâu Ni nhập diệt, những đại đệ tử của ngài đãvận động để xây
các bảo tháp để thờ Ngài. Các bảo tháp nầy được xây trên những nền cao,
trên đỉnh có đài hình vuông. Những bảo tháp đầu tiên được xây dưới
triều vua Asoka (A Dục) (236 - 187 trước Công Nguyên) và cũng là vị vua
cuối cùng của triều đại Morya chính thống. ông làmột vị vua rất sùng đạo
Phật của Vương triều Maurya; đây là vương triều bản địa đầu tiên của
người Ấn, chấm dứt thời kỳ cai trị của người Hy Lạp.
Trong những năm tháng trị vì đất nước, vua Asoka đã cho dựng lên khoảng
84,000 tháp Phật tại vùng Sanchi bên bờ sông Nacmada thuộc vùng Trung Ấn,
nay thuộc tiểu bang Madya Prades và có thể nói đâylà những công trình kiến
trúc thuần túy tôn giáo đầu tiên của Ấn Độ còn lại cho đến ngày nay.Cho
đến nay, người ta chưa lý giải tại sao vua Asoka lại cho xây nhiều tháp
Phật như vậy. Theo truyền thuyết, trong giai đoạn đầu trị vì, vua Asoka
đã giết hại rất nhiều người, để mở mang lãnh thổ.
Nhưng sau vì hối hận những tội ác tàn bạo của mình trước đó, trở thành một
tín đồ ngoan đạo, tỏ lòng khoan dung với nhân dân.nhà vua từng nói "Nhất
định sẽ lấy sự chinh phục bằng tình thương, thay thế cho chinh phục
bằng sức mạnh của vũ khí". Ông cho phá bỏ nhà tù, hủy bỏ cực hình,
cho xây nhiều chùa chiền vàbảo tháp. Tuy nhiên trong giai đoạn đó, nhiều
tôn giáo chống đối nhau và cũng gây cho nhà vua nhiều khó khăn. Thậm chí
ông bị chết một cách thê thảm do những kẻ cuồng tín của đạo Bà La Môn.
Tuy vậy, nhà vua cũng đã lưu lại cho Sanchi những công trình kiến trúc
Phật Giáo cổ kính và tuyệt mỹ. Sanchi trải rộng trên một cao nguyên
nối liền với những đỉnh tháp, miếu mạo, chùa chiền và cả những nhà tù.
Trong số đó, ngôi bảo tháp lớn nhất phải kể đến bảo tháp Sanchi. Đó
là một công trình kiến trúc độc đáo, kết hợp nhuần nhuyễn với nghệ thuật
điêu khắc, tô vẻ cho công trình kiến trúc càng thêm lộng lẫy. Đầu tiên
người ta xây bảo tháp nầy bằng gạch; đến thế kỷ thứ II, các tháp được ốp
đá. Tháp có chiều cao 15 mét, đường kính 35 mét. Tháp gồm có 3 phần
chính: một bán cầu, trên có một vọng lâu hình vuông và một hàng rào bao
quanh. Nằm trên một nền hình vuông (tượng trưng cho áo cà sa gấp 4 của
đức Phật) là một bán cầu khối đặc khổng lồ bằng gạch và đá, hình một bát
úp sấp, tượng trưng cho chiếc bát khất thực. Trên chỏm xây vọng lâu
hình vuông, đặt Xá Lợi của đức Phật. Trên tận cùng nóc tháp là một cột
có gắn ba phiến đá lớn hình đĩa, tạo thành một chiếc dù nhiều tầng, biểu
hiện sự tôn nghiêm. Chung quanh bán cầu có một hàng rào đá bao bọc gồm 120
thanh cột chống, có 4 chửa mở ra bốn hướng. Ngôi tháp nầy trải qua nhiều
giai đoạn lịch sử đã được trùng tu không ngừng. Ảnh hưởng điêu khắc
của Ấn Độ Giáo khá đậm nét: những hình trang trí trên các phù điêu có
hình chim thần Garuda, rắn thần Naga, nhữg tiên nữ ca múa. Những đặc
điểm kiến trúc và điêu khắc tại Sanchi đã tạo nên một phong cách nghệ
thuật độc đáo Ấn Độ. Trường phái Mathura đã chi phối những đường nét
trong kiểu dáng kiến trúc nầy.
Quần thể các hang động tại Ellora
Những hang động kỳ bí trong vùng Ellora nằm cách thành phố tôn giáo và
lịch sử Aurangabad khoảng 32km về phía đông nam. Những hang nầy trở nên
nổi tiếng trong những công trình kiến trúc và điêu khắc Ấn Độ được thế
giới ngưỡng mộ là do những bàn tay thiên tàicủa những điêu khắc gia từ
trung tâm Ajanta tham gia sáng tạo liên tiếp. Quần thể những hang động
nổi tiếng nầy mang tính cách đa văn hoá, vì những hang ở đây đã được kết
hợp một cách tài tình nghệ thuật Phật Giáo, Ấn Độ Giáo và đạo Jain.
Quan trọng nhất là những hang động Phật Giáo xuất hiện ở đây trước
tiên vào khoảng năm 500 trước Công Nguyên; tiếp theo đó là những công
trình của Ấn Độ Giáo và của đạo Jain xuất hiện khoảng 200 năm trước Công
Nguyên. Ngoài ra còn những di tích của đạo Silk nữa. Vào cuối thế kỷ VII,
Phật Giáo đã bành trướng mạnh mẽ, vượt ra khỏi lãnh vực Trung Ấn. Có
thể thấy rõ điều này qua những bức tranh trong khu hang động nầy, phần
lớn biểu hiện sự phân chia hệ phái Phật Giáo.
Trong đó những hình ảnh của Tiểu Thừa (Hinayana)dần dà đã nhường chỗ
cho Đại Thừa Phật Giáo (Mahayana). Những hang động Phật Giáo là những
nơi cúng lễ, cầu nguyện, có cấu trúc đơn giản. Kiến trúc đa phần theo
kiểu tháp (Stupa) truyền thống Ấn Độ. Phật Giáo Đại Thừa thường thể hiện
bằng nhiều vị Phật, Bồ tát, A La Hán. Những ngôi tháp đều được trang trí
đồ họa rất công phu, nhưng vẫn in dấu ấn của Ấn Độ Giáo qua những đường
nét. Tại đây, về điêu khắc, hình tượng chư Phật và chư Bồ Tát thường
được mô tả với những biểu tượng cao quý trong kiểu dáng. Những biểu
tượng rõ nét của đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni với 32 tướng tốt, là tai
dài, tay dài, tóc xoắn, hào quang trên đầu. Những hang động Phật Giáo
(Vihara) đon giản tương phản với những nét mộc mạc của hang Ấn Độ Giáo
(Chaityas). Ngôi đền nổi tiếngKailas được xếp vào 1 trong những ngôi đền
điển hình của Ấn hiệnnay.Trong ngôi đền nầy, đặc sắt nhất là vô số
những bức phù điêu,những bức chạm khắc nổi trên bề mặt những vách đá
dựng đứng.Kailasa được xem là ngôi nhà của thần Siva nằm trong dãy Hy
MãLạp Sơn là địa điểm chiêm bái nổi tiếng nhất. Những bức chạm nổitiếng ở
đây được xem là tác phẩm điêu khắc lớn của thế giới. Đaphần đều xuất
hiện vào thời đại đồ đá giữa và đồ đá mới. Ngôi đềnđược kiến tạo và
trang trí dưới triều đại vua Chalukya và vua Rashtrakuta.
Những nhà nghiên cứu nghệ thuật xem đây là những công trình phục sinh
toàn diện của nghệ thuật Ấn Độ Giáo. Những pho tượng Brahma, Vichnou,
Siva, chim thần Garuda, rắn Naga với kiểu thức đa dạng và mỹ lệ được xem
là di sản văn hoá nổi tiếng Ấn Độ được bảo lưu cho đến ngày nay. Sử thi
Ramayana là đề tài phong phú nhất để thực hiện những bức phù điêu và chạm
khắc nầy. Tuy dù nhà vua Aurangzeb của Mông Cổ đã tìm cách triệt hạ những
kho tàng quý giá nầy nhưng những phần còn lại hiếm hoi cũng biểu hiện
những giá trị độc đáo đó. Những đan xen điêu khắc của Phật Giáo và Ấn độ
Giáo đã không mâu thuẫn với nhau, mà còn cho thấy sức phong phú của những
tác phẩm kỳ tài nầy.
Khi Phật Giáo suy thoái tại Ấn Độ để rồi lớn mạnh trong nhiều quốc gia
khác, thì ngôi đền Daulatabad đã là chứng tích của giai đoạn tàn tạ: đơn
giản, biến chất, pha tạp nhiều lối tín ngưỡng dân gian khác.Ngày nay,
những tín đồ Phật Giáo hành hương đến vùng Thánh địa nầy vẫn không quên
đến Ellora để có thể chứng kiến được mỹ thuật Phật Giáo Ấn vào thời
hưng thịnh nhất, dưới triều vua Asoka (A Dục).
Thành Vương Xá (Rajgir)
Thành Vương Xá là một trong những di tích Phật Giáo tại Ấn Độ mà khách
hành hương đến đây không ai là không biết tới. Thành Vương Xá là một
trung tâm Phật Giáo quan trọng và là một trong những kinh thành cổ xưa
nhất thế giới. Vua Ma Kiệt Đà (Maghada) từnglên ngôi tại đây và cũng là
một trong những đệ tử hàng vương giả đầu tiên của đức Phật Thích Ca. Đức
Phật lúc còn tại thế cũng đã dừng lại thành Vương Xá trong nhiều năm để
an cư và thuyết pháp. Đỉnh Linh Thứu Sơn là nơi mà nhiều Pháp hội được
khai mở, như Hội Pháp Hoa, Hội Kim Cang, Hội Lăng Nghiêm...
Vườn Trúc Lâm hãy còn lưu lại nhiều kỷ niệm củathời xa xưa. Những bụi
trúc vẫn xanh và hồ nước vẫn trong như thời trước. Động Thất Diệp là nơi
kết tập kinh điển lần thứ nhất. Suối nước nóng cạnh Trúc Lâm Tịnh Xá vẫn
còn lưu lại nhiều bi ký chép những sự cố của lịch sự Phật Giáo.Đức Phật đã
an cư tại thành Vương Xá cả thảy là 6 lần. Nhiều khi Ngài ở tại Trúc Lâm
Tịnh Xá; đôi khi Ngài ở núi Linh Thứu. Những khi ngài lưu lại trên ngọn
núi nầy, vua Tần Bà Sa La muốn lên thăm Ngài đều xuống ngựa trước khi
lên núi và khi gần đến nơi thì vua ra lệnh cho đoàn tùy tùng ở lại trong
khi vua tiếp tục lênnùi để học đạo. Để tiện việc đi lại cho đức Phật
cũng như tăngđoàn, nhà vua đã cho làm một con đường từ chân núi lên đến
đỉnh của núi Linh Thứu.Những điều ghi chép trên đây có thể giúp cho chúng
ta hiểu được một số chi tiết khi đến chiêm bái, hành hương và nghiên
cứu. Sau đây là những nét chính của những danh thắng Phật Giáo nầy:
Núi Linh Thứu (Gridhrakuta) là một trong những ngọn núi cao bao bọc
chung quanh Vương xá Thành. Tuy nhiên, Linh Thứu Sơn lại là ngọn đồi
nhỏ hơn thuộc dãy núi nằm về phía bắc. Nơi đây tưong truyền đức Phật
đã dừng chân lại sáu lần. 16 năm sau khi thành đạo, một lần nữa, Ngài
đã chuyển pháp luân tại đây để thuyết giảng những bộ kinh đại thừa:
Diệu Pháp Liên Hoa Kinh, Lăng Nghiêm Đại Định, Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm
kinh. Ngài Đại Ca Diếp đã đứng ra chủ trì kết tập kinh điển sau đó. Ngọn
núi nầy có thể đi từ dưới lên theo con đường bộ hay đi từ trên xuống sau
khi đã viếng thập tháp Hoà Bình.
Tháp Hoà Bình (Shanti stupa): Kế bên đồi Linh Thứu là ngọn Bảo Sơn, với
ngọn tháp Hoà Bình tuyệt đẹp. Đường kính của tháp nầy là 144m, cửa vòm mái
là 72m, chiều cao 125m. Bốn bên tháp có 4 tượng bằng vàng, tả 4 cảnh
trong đời đức Phật: đản sinh, thành đạo, thuyết pháp và nhập diệt.
Động Thất diệp (Saptapani Cave): Phía tây nam của Trúc Lâm Tịnh Xá
trên đỉnh núi Baibhara có một động đá. Nó có một dường hành lang dài
nhân tạo, những tàn tích của bức tường cho ta thấy nó được cấu tạo bởi
những tảng đá chồng lên nhau nhưng không có hồ. Tương truyền nơi đây đã
tụ họp 500 vị tỳ kheo để kết tập kinh điển, sau khi đức Phật thị tịch
sáu tháng. Nơi đây cũng có ngôi tháp kỷ niệm sự kiện ngài A Nan đã
chứng quả vào đêm trước khi đại hội khai mạc.
Về sau, vua A Dục đã dựng lên ngôi tháp về phía tây nơi đây để đánh dấu
kỳ kết tập kinh điển nầy. Nơi tháp nầy cũng là nơi mà một đại hội trên
100,000 bậc hữu học và vô học đãkết tập đồng thời với 500 vị A la hán.
Ngài Long Thọ còn cho biết một đại hội kết tập của các vị Bồ tát cũng đã
được triệu tập trênđồi Vimalasvabhava, nằm phía nam của Vương Xá Thành.
Trúc Lâm Tịnh Xá (Veluvnan): Cách suối nước nóng khoảng 300m và một
vườn trúc xanh tươi. Những khóm trúc được chăm sóc nên rất rậm rạp.
Vườn nầy ngày xưa là vườn thượng uyển của vua Tần Bà SaLa đã cúng dưòng
đức Phật. Trong vườn có một hồ nước do ông Karanda cúng để chư tăng
tắm giặt.
Suối nước nóng (Tapoda nadi): cách Linh Thứu Sơn khoảng 2km về phía
Gaya. Từ Linh Thứu Sơn trở về, nó nằm bên trái đường. sau khi vượt qua
một sân rộng và mấy bậc thang, ta lên đến 1 trong nhiều suối nước nóng
trong vùng nầy. Nước suối nơi đây khoảng 105 độ F (Faraday), có phóng xạ
nguyên tử. Người ta cho rằng nước suối nầy có thể chữa nhiều thứ bệnh.
Tương truyền ngày xưa đức Phật cũng thường đến đây để tắm.
Con đường tơ lụa
Con đường tơ lụa hay chính xác hơn là "những con đường tơ lụa" được
hình thành từ những thế kỷ đầu Công Nguyên. Đó là những con đường do các
thuơng nhân mở ra để vận chuyển buôn bán tơ lụa và những hàng hoá khác
giữ Ấn Độ, Trung Quốc ở phía đông, đế chế La Mã ở phía tây. Ngoài sự hấp
dẫn do những lợi nhuận trong buôn bán mang lại tính ưa thích phiêu lưu
mạo hiểm và khát vọng tìm hiểu là những động cơ mãnh liệt thúc giục các
thương nhân sẵn sàng mở ra một con đường khác thay thế cho con đường bị
ách tắc bởi lý do chính trị,quân sự hay tôn giáo.
Những con đường tơ lụa được mở về phía đông hay phía tây, trên bộ hay
dưới nước với nhiều hành trình khác nhau đều tạo thành những mối liên
hệ bền chặt giữa các dân tộc, thúc đẩy sự giao lưu giữa các xã hội và
các nền văn hoá về tư tưởng, khoa học kỹ thuật, văn học nghệ thuật, thiết
lập tinh thần dung nạp và cùng tồn tại, phát triển. Đời Tần (221 - 206
trước Công Nguyên), Tần Thủy Hoàng đã cho xây đắp thêm và hoàn chỉnh
công trình Vạn Lý Trường Thành, một bức tường vĩ đại che chắn các đường
biên giới phía tây, ngăn chận các bộ lạc ở phương bắc. Đời Hán (206 trước
CN - 220) đã mở ra con đường đầu tiên về Trung Á, duy trì các mối liên hệ
với đế quốc Kushan hùng mạnh, trải từ biển Caspien ở phía bắc, qua lưu
vực các sông Indus, Oxus ,Gange đến vùng biển Ả rập ở phía nam.
Và đế chế Kushan lúc nầy cũng có quan hệ với đế chế la Mã ở phía tây.Như
thế, những con đường tơ lụa đông - tây được hình thành từ đó. Ngày nay
trong phế tích của các phố cổ thuộc trung tâm Afghanistan dễ dàng
tìm thấy những biểu hiện về sự giao lưu đa dạng giữa các dân tộc. Những
hình nhân với các loại y phục khác nhau được khắc trên đá. Trường An,
kinh đô của nhà Đường là nơi gặp gỡ, trao đổi Phật Pháp giữa các nhà sư
Nhật Bản, Triều Tiên với Ấn Độ, Sri Lanka, Trung Á. Hàng trăm hang
đá ở Bamiyan(Afghanistan) có khắc những bức bích hoạ với đường nét và
nộidung rất giống những bức họa trong các hang động vùng Tân Cương cùng
thời gian đó.Người ta cũng tìm thấy những chiế bình đồng từ thời Chiến
Quốc trong nhiều di tích ở La Mã. Các nghệ nhân của Trung Quốc vàothời
đó đã cho mang đến Ai Cập những tấm lụa trang trí chữ Ả Rập. Tượng thần
bằng đồng từ thế kỷ I tại đế chế La Mã cũng đã tìmthấy tại
Afghanistan, một di tích của đế chế Kushan.Trong khi ấy từ phía tây Trung
Quốc, người Hung Nô đã tràn xuống trung tâm châu Á và châu Âu, đến Ấn
Độ. Họ đã xây dựng một đế chế rộng lớn từ Trung Quốc đến Ba Tư. Tiếp
đó, các bộ lạc người Thổ Nhĩ Kỳ đã thành lập những "tiểu quốc" ở giữa
châu Á, cản trởlưu thông trên các con đường tơ lụa lúc ấy. Tuy nhiên,
người Trung Quốc vẫn mở được những con đường khác và vận chuyển hàng
hoá sang phương Tây.Thực ra, những cuộc tiếp xúc đầu tiên giữa phương
Đông và phương Tây đã được Alexandre Đại Đế tạo điều kiện thuận lợi từ
thế kỷ IV trước Công Nguyên bằng những cuộc chinh phạt của mình, lật đổ
đế chế Achéménide, chiếm Hy Lạp vá tiến quân đến tận Ấn Độ.
Từ đó, nền văn hoá Hy Lạp được truyền sang châu Á, đặc biệt là văn
chương, tư tưởng, ngôn ngữ, triết học, kiến trúc. Đồng thời Alexandre
và các nhà thông thái Hy Lạp cũng tiếp nhận tư tưởng của các nhà triết
học châu Á cũng như các sản phẩm vật chất và văn hóa. Maurya chiếm ngôi
vương quốc Ấn Độ, thành lập đế chế Maurya, thừa hưởng di sản văn
hoá của người Hy Lạp và Archéménide. đến đời cháu của vua Maurya là
Asoka (A Dục) kế vị (274 - 237 trước Công Nguyên) họat động truyền bá
Phật Giáo rất mạnh, lan đến Trung Á và Viễn Đông, giao lưu với Hy Lạp
dưới triều vua Alexandre đại Đế dù lục nầy đế quốc rộng lớn của
Alexandre đã bị chia nhỏ thành đất đai của các dân tộc
Bactriance, Sogdiane...
Những con đường tơ lụa mở ra cho hoạt động thương mải cũng như việc
truyền bá Phật Giáo, đạo Mani, đạo Zoroastre lúc nầy rất phát triển,
đặc biệt ở dọc lưu vực các con sông vùng Lưỡng Hà, Trung Á và Ấn Độ.
Ngoài những đoàn lạc đà lầm lủi, việc khám phá ra hiện tượng gió mùa từ
một thế kỷ trước Công Nguyên đã cho phép con tàu viễn dương vượt Ấn Độ
Dương từ tây sang đông trong mùa xuân rồi ngược trở về vào mùa đông khí
gió đổi chiều. Những con tàu chở hàng nầy đã biến Ấn Độ Dương thành một
hành lang hàng hải nối liền La Mã với các hải cảng Ấn Độ và bờ biển Trung
Quốc. Khoảng thế kỷ thứ VII, người Ai Cập bành trướng sang châu Á, châuÂu,
châu Phi. Họ tìm hiểu những tri thức khoa học và triết học vốn rất phát
triển của người Hy Lạp chứa trong những bản văn chéptay.
Người Ai Cập cũng tiếp xúc với Trung Quốc, Ấn Độ và tiếp thu những khám
phá mới về y học, toán học, thiên văn học, nghề làm giấy, thuốc súng, đồ
gốm, vải lụa. Người Ai Cập trở thành môi giới trong cuộc đối thoại mở
rộng từ Trung Quốc đến các nước Châu Âu. Họ truyền bá khoa học và triết
học Hy Lạp sang châu Âu cùng với môn toán học của Ấn Độ, các ký hiệu
viết số và hệ thập phân làm nền tảng cho khoa học hiện đại. Họ cũng đưa ra
những quan niệm mới về vũ trụ và sư hình thành của vũ trụ, kết hợp truyền
thống với những tri thức khoa học, toán học mới trong lĩnh vực nghệ
thuật và kiến trúc. Đến nay, tinh thần của những con đường tơ lụa vẫn tồn
tại. Đó là những sợi dây bền chắc thắt chặt mối quan hệ Đông Tây, duy trì
sự hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc. Như thế, con đường tơ lụacũng
là con đường tri thức.
Đền đài Ấn Độ Giáo và Phật Giáo nguyên thủy
Khadjuraho là một trong những thành phố cổ còn sót lại hiện nay nằm
trong vùng trung tâm của miền Trung Ấn (thuộc tiểu bang Madhya
Praseh), nơi có rặng núi Vindya ngăn cách miền bắc Ấn với cao nguyên
Décan của miền Nam Ấn. Đây là một trung tâm Ấn Độ Giáo quan trọng vào
bậc nhất trong thế kỷ VIII sau Công Nguyên. Và vào khoảng thế kỷ thứ XII
sau đó, tại nơi đây đã kiến tạo một quần thể 85 kiến trúc đền đài Ấn Độ
Giáo và đạo Giaina, thu hút nhiều cư dân nhiều vùng khác tập trung đông
đảo tại đây.
Những ngôi đền toạ lạc ở phía đong của thành phố nầy là do những thương
nhân và những nhà truyền giáo của giáo phái Giaina xây dựng; còn những
ngôi đền vĩ đại toạ lạc ở phía tây thành phố gần hồ Sicaga do hoàng
tộc Chandela, chúa tể của vùng nầy tiến hành xây dựng liên tiếp trong
nhiều năm. Những ngôi đền của hoàng tộc Chandela là những ngôi đền độc
đáo, tiêu biểu cho nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc Ấn Độ Giáo, trở
thành nổi tiếng và được ghi vào Danh Mục Di Sản Thế Giới vào năm 1988.
Vào đầu thế kỷ XI, vua Dhanga đã cho xây dựng lên ngôi đền vĩ đại,
nổi tiếng nhất bằng loại đá sa thạch ở tại kinh đô Khagiuraho,
đặt tên là Visvanatha đẻ thờ Thần Siva. Trong ngôi đền thờ quan trọng
nầy, có đặt một chiếc Linga khổng lồ bằng ngọc bích, mà trong tín ngưỡng
của tôn giáo nầy tượng trưng cho Thần Siva. Cũng dó đó, ngôi đền nầy
được mệnh danh là "Đền thờ Linga Ngọc bích".
Bình đồ tổng thể của ngôi đền Visvanatha gồm có bốn cấu trúc chính
như sau: 1- Một hậu cung hay thánh điện nằm ở trong cùng, cũng là vị
trí trang trọng nhất của hậu cung có đặt Linga (sinh thực khí của nam
giới), biểu tượng của Thần Siva, cũng là năng lực sáng tạo thế giới của
Thần Siva. 2- Một tiền sảnh (phòng bên ngoài của hậu cung) là nơi những
tu sĩ cấp cao của Ấn Độ Giáo chuẩn bị những lễ phục và trang phục
trước khi hành lễ. 3- Một đại sảnh (không gian lớn nhất của ngôi đền
nầy) dành cho những tín đồ trong vùng và những người hành hương tụ tập để
theo dõi nghi lễ hay chiêm ngưỡng những ảnh tượng thờ bên trong đền. 4-
Một tháp rộng lớn bên ngoài có mái che. Tất cả bốn cấu trúc nầy được
nối liền với nhau bằng những mảnh tường được trang trí bằng những bức
phù điêu và những pho tượng chạm khắc trong đá tầng nọ chen vào tầng
kia, trình bày những sự tích tiền thân của các vị thần Brahma, Vichnou và
Siva. Phía trên hậu cung có dựng lên một tháp thờ trung tâm (Kikhara)
hình trụ, càng lên cao chừng nào thì càng thon dần lại, khi lên đến
trên đỉnh tháp là mái hình Parabol và kết lại một hình nhọn như búp
sen. Trên các tiền sảnh, đại sảnh, cổng có má che là các tháp thấp dần từ
tháp trung tâm trở ra. Tất cả tọa lạc trên một nền cao hình chữ nhật,
có một con đường nhỏ đi vòng quanh ngôi đền.
Trải qua thời gian lâu dài, quần thể những đền đài và bảo tháp đang
trong giai đoạn suy thoái trầm trọng vì những tín đồ phân tán đi kiếm
sống những vùng đất phì nhiên hơn; hiện nay cơ quan UNESCO đang có một
kế hoạch trùng tu từng phần, đồng thời cũng kêu gọi những tổ chức Ấn Độ
Giáo trong toàn quốc tham gia trùng tu thêm những phần khác. Những
phù điêu là thành phần hư hại nhiều nhất cũng là công trình xuất sắc
nhất trong quần thể điêu khắc nầy thì khó thực hiện được vì những vết
tích xưa nay đã không còn là bao nhiêu nữa.
Công trình số 1 tại Ấn Độ của thiên tài Le Corbusier
Những nhà nghiên cứu về kiến trúc và điêu khắc của thế kỷ XX thường
xem kiến trúc sư người Thụy Điển Le Corbusier (1887 - 1965) là một thiên
tài độc nhất vô nhị với hàng chục công trình độc đáo của thế kỷ nầy. Tuy
nhiên, vẫn có một số khác đã đem toàn bộ công trình của ông để quy trách
những sai lầm lớn. Theo ông, khen hay chê là thái độ cần thiết của mọi
người nhưng con đường đã chọn thì ông quyết đi cho hết.
Tên thật của ông là Edouard Jeanneret, nhưng ông tự xưng là Le
Corbusier trong mọi công trình. Cũng như nhiều nhân vật khác, phải
trải qua những thất bại trong những bước đầu lập nghiệp của ông. Vào năm
1950. Le Corbusier sang Ấn độ và cũng tìm được cơ hội tiến hành thiết kế
toàn bộ thành phố; từ đó ông quyết thực hiện cho bằng được những gì ao
ước từ bé. Từ năm 1947, khi đại lục Ấn Độ tuyên bố độc lập nhưng
trong tình trạng phân hoá thành hai nước Ấn và Pakistan, thủ phủ
Lahore của vùng bắc Pendjab cắt nhập vào Pakistan. Nh7ađương cục hy
vọng trong phần đất còn lại của Penjab trong lãnh thổ Ấn sẽ xây dựng
thành một thủ phủ. Nền mỹ thuật Phật Giáo và Ấn Giáo đã thu hút ông.
Le Corbusier đến đây chỉ là du khách, nhưng cũng trong khi đó một công
trình sư đảm nhiệm chương trình xây dựng kẻ trên chết trong một tại nạn
má5y bay thìông được mời vào thay thế. Thoạt đầu, ông chỉ chú trọng
trong việc thiết kế những toà nhà lớn, nhưng về sau, qua những công
trình hợp tác và thực hiện đồng bộ, chính quyền đã đồng ý để ôngsửa đổi
toàn bộ kế hoạch. Địa điểm ông chọn là thành phố dưới dãy núi Sivarizi,
giữa khoảng hai bờ sông. ở đây, đã tạo một hồ nhântạo rất lớn, những con
đường chung quanh trồng nhiều cổ thụ, chia thành phố ra thành nhiều khu
vực. le Corbusier đã thiét kế toàlầu lớn và Toà Án. Bố cục thiết kế của
le Corbusier như sau: lấy một con đường rộnglàm tuyến trục chính, một bên
là toà lầu dùng làm văn phòng, còn bên kia là Toà án. Những vật kiến
trúc và bố cục bị phê bình là thiếu tỷ lệ và cân đối.
Tuy nhiên, ông vẫn kiên trì theo khiếu thẩm mỹ và chiều hướng kiến trúc
của mình cho đến khi thực hiện toàn cục mới thôi. Thiết kế toà lầu lớn
văn phòng Chandigarth là trọng điểm của chương trình. Vật kiến trúc
khiến người ta chú ý hơn cả là Toà án do ông thiết kế, trong đó bao
gồm một Tòa án trung ương và 8 tòa án địa phương. Quan điểm kiến
trúc quy mô của Le Corbusier là làm thế nào để có thể cung cấp đủ mọi
tiện nghi trong một công trình kiến trúc,đồng thời theo kịp đà tién
hoá của công nghiệp mới, xây dựng nhanh, thời trang và thực tiễn.
Rút kinh nghiệm trong những công trình xây dựng tại Pháp, Nantes Rezé,
Briey La Forêt... kể từ sau đệ nhị thế chiến của ông, Le Corbusier đã
đem lại sanh khí mới cho những công trình kiến trúc Đông Phương. hong
cách Chandigarth trở thành cấu trúc điển hình để các đô thị lớn tại Tokyo,
Manila, Hongkong, Bangkok đã nương theo để có thể cung ứng cho những tiện
nghi của thế giới mới.
Những công trình PG ở Bangkok
Bangkok tiếng Thái Lan là Phra Nakhon có nghĩa là "Thành phố kinh đô", là
thủ đô của vương quốc Xiêm La (bây giờ là Thái Lan), bắt đầu từ năm 1772
cho đến ngày nay. Bangkok nằm ở vùng châu thở con sông Ménam, bờ bên
trái của con sông nầy. Diện tích là 1,560km2, dân số hiện nay khoảng 6
triệu người. Ngày trước Bangkok có nhiều kênh rạch, cho nên được mệnh
danh là "Venise của Phương Đông", ngày nay phần lớn đều được lấp và trở
thành những đường phố khang trang, rộng rãi.
Sau hơn 200 năm xây dựng, Bangkok đã để lại nhiều công trình kiến trúc
to lớn, như: "Cung điện lớn", "Thánh đường Vạt Pho", "Chùa Vạt Pra Keo"
(chùa Phật Ngọc). Cung Điện Lớn được bắt đầu xây dựng năm 1782, vào
triều đại của vua Rama I (tức Chao Phya Chakri) (1782 - 1809), nhà vua
sáng lập ra triều đại Chakri. Sau đó, hầu hết các vị vua Thái Lan đều
xây dựng thêm nhiều công trình mới trong khu vực Cung Điện Lớn, vì thế
Cung điện nầy trở thành một phức thể gồm nhiều công trình lớn nhỏ và cũng
không được đồng nhất do sự pha trộn của những phong cách nghệ thuật khác
nhau qua từng triều đại, từ phong cách TháiLan cho đến phong cách Italy.
Sau vụ mưu sát vua Aranda Mahidonnăm 1946, nhà vua Bumnibon Adundadet đã
cho chuyển hoàng cung đếncung điện Chi Tralada.
Cung Điện Lớn được dùng để trưng bày cácđồ quý giá của hoàng gia, những
bộ sưu tầm nghệ thuật và để tổchức những yến tiệc quốc gia, nhận trình
quốc thư của các đại sứnước ngoài và những nghi thức hoàng gia khác.Cả khu
cung điện được bao bọc bằng vòng tường cao và mở lối rabằng một cổng
lớn. Công trình lớn nhất và cũng được xây dựng sau cùng trong Cung Điện
Lớn là "Hoàng cung Chakri Maha Trasad".
Tòa hoàng cung nầy nằm trên một nền cao được xây dựng từ thời vua
Rama V (Chulalongkrorn 1868 - 1910) để kỷ niệm 100 năm thành lập Vương
triều Chakri. Về mặt kiến trúc, Chakri Prasad là sự hoà hợp khá tinh
vi của kiến trúc Thái Lan với kiến trúc kiểu Tây Phương. Phần lớn công
trình do kiến trúc sư người Anh thiết kế; các đỉnh mái hình tháp lại là
những hình tượng kiểu Thái Lan. Tầng thứ hai nằm dưới đỉnh tháp trung
tâm là nơi cất giữ những bình hài cốt bằng vàng của các vua thuộc
Vương triều Chakri.
Những phòng khánh tiết lớn được trang trí bàng những hình vẽ, những pho
tượng bán thân của các vị vua đã quá cố. Phòng trung tâm là Phòng Ngai
vàng, nơi nhà vua tiếp đại sứ các nước. Ở đây có chiếc ngai vàng được
khảm men huyền nằm dưới chiếc ô chín lớp màu trắng.Công trình nằm về phía
tây của hoàng cung Chakri Prasad là Cung điện Dusit Maha Prasad, do vua
Raman I xây dựng vào năm 1789 để thay thế cho cung điện bằng gỗ trước
đó. Dusit Prasad, một mẫu hình kiến trúc truyền thống Thái Lan tuyệt
đẹp, là một toà nhà với bộ mái bốn lớp và một đỉnh tháp nhọn chín bậc
trang nhã. Hiện nay Dusit Prasad dùng làm nơi quàng xác các vua và Hoàng
hậu trước khi đem đi hoả táng ở Sanam Luang. Ngay đối diện với Dusit
Prasad là một đình tạ thanh tú nhất của Thái Lan, được gọi là "Đình
Tạ Thay Y Phục" (Arpom Phinok Prasad).
Tại đây, vua xuống voi, thay vương miện và áo hoàng để vào phòng khánh
tiết. Ở bên trái của Chakri Prasad có một chiếc cổng mở vào khu cấm nơi ở
của các hoàng hậu và phi tần của nhà vua.Trong khuôn viên Cung điện lớn
còn có nhiều kiến trúc khác như: Thánh đường Vat Pho, thư viện chùa Vat
Prakeo... Thánh đường Vat Pho là một đền thờ rộng và cổ kính nhất tại
Bangkok, dài 46m, trong đó có một pho tượng Phật cao 15m khoác áo bằng
vàng lá và có tới 394 tượng Phật mạ vàng. Chung quanh toà nhà chính có
những kiến trúc tôn giáo đẹp và trang trí lộng lẫy khác. Vạt Pho
cònđược coi là trường Đại Học đầu tiên của Thái Lan. Phía sau đền thờ
là toà Thư Viện, được bao quanh bằng hình các con voi trắng, biểu hiện
cho quyền uy quốc gia. Bên cạnh đó có một mô hình lớn đền Angkor Wat của
Kampuchia do vua Rama IV (Mongkut 1851 - 1868) dựng lên.
Chiêng Mai
Chiêng Mai trước kia là kinh đô của Vương Quốc Lanna, nay là một thành
phố lớn có nhiều di tích lịch sử ở miền bắc của Thái Lan.Vương quốc
Lanna (có nghĩa là: một triệu thửa ruộng) do vua của xứ Chiêng Ray là
Mang Ray tập họp các tiểu quốc Thái ở miền bắc Thái Lan, xâm chiếm vương
quốc Haripungiaya của người Môn lập ra vào năm 1292. Năm 1296, thành phố
Chiêng Mai (có nghĩa là: đô thị mới) được thành lập, đặt làm kinh đô của
Vương Quốc Lanna. Thành phố Chiêng Mai nằm trên vùng đồng bằng của con
sông Peng, đã cómột thời kỳ rất thịnh đạt.
Nhưng
vì Chiêng Mai nằm giữa những quốc gia lớn mạnh thời bấy giờ như
Lianma, Lan Xang, Ayuthya cho nên đã trở thành vùng tranh chấp của những
quốc gia nầy. Năm 1767, Chiêng Mai bị quân xâm lược Mianma chiếm đóng. Từ
năm 1775 cho đến nay, Chiêng Mai bị sát nhập vào Vương quốc Xiêm La
(ngàynay là Thái Lan). Nhiều công trình nghệ thuật có giá trị đã được xây
dựng ở ChiêngMai.
Công trình đầu tiên gắn liền với lịch sử Chiêng Mai là Vat (chùa)
Chiêng Mai, trong đó có Chedi Siliem do nhà vua Mang Ray xây dựng
vào năm 1297. Hình dáng và cấu trúc của kiến trúc nầy rất gần với tháp
Kukut của người Môn ở Lampun. Chedi Siliem cũng là một tháp vuông gồm 5
tầng, nhỏ gần khi lên trên đỉnh. Mỗi mặt của mỗi tầng có ba khám lớn,
có những tượng Phật lớn. Hai hiện vật cổ nhất và có giá trị nhất ở Vat
Chiêng Mai là hai pho tượng Phật, một pho bằng pha lê, một pho bằng đá.
Một ngôi chùa cổ khác ở Chiêng Mai là Vat Prathat Doi Suthet có
ngọn tháp Chedi dát vàng cao 24m, ngự trên quả đồi Suthep - đỉnh cao
nhất của thành phố nầy. Cách Vat Prathat chừng 5km là cung điện
Phuning, dinh thự mùa hè của Hoàng gia Thái Lan.
Một trong những ngôi chùa kỳ diệu khác ỏ Chiêng Mai là Vat (chùa)
Chedi Luang, được xây vào năm 1401. Ngôi tháp nầy lúc đầu cao
86m, nhưng một trận động đất mạnh xẩy ra năm 1545 đã làm đổ mất phần
đỉnh tháp, cho nên hiện nay chỉ còn lại 42m.
Ở đây trước kia có giữ pho tượng Phật Ngọc, sau đó Vương quốc Lan Xang đã
đưa sang Vientiane (Lào). Kiến trúc Viharn ở bên cạnh Chedi Luang cũnglà
một kiệt tác bằng gỗ của nghệ thuật Lanma, ô cửa của Viharn có hình con
công tuyệt đẹp.
Bên ngoài tường thành Chiêng Mai có chùa Vat Chedi Cherlot
(chùa bảy đỉnh) do vua Trailoka Ragia xây dựng lên vào năm 1455,nhân dịp
lễ Phật Đản năm 2000. Ngôi chùa nầy còn được gọi là"chùa Maha Harama"
được kiến tạo mô phỏng theo chùa ở Maha Bodhi (Bồ Đề Đạo Tràng) tại Ấn
Độ, nơi Phật Thành đạo. Truyền thuyết kể lại rằng: Những hình Thiên nhân
tuyệt đẹp được đắp bằng vữa của ngôi chùa đều có nét mặt của các thành
viên trong gia đình củavua Trailo Ragia.
Ở ngôi chùa nhỏ Vat Koa Tao, nổi bật lên ngọn tháp Chedi kỳ lạ có hình
thù trông giống như một loại quả bí ngô xếp chồng lên với nhau và được
trang trí khảm sành sứ thành những hình hoa lárực rỡ.
Một trong những tổng thể ấn tượng nhất ở Chiêng Mai là chùa Vay Suan Dok.
Tại góc tây bắc của ngôi chùa nầy là những tháp Chedi trắng toát, chứa
giữ các bình hài cốt của hoàng gia Chiêng Mai ngày trước.
Người ta còn truyền tụng là trong ngôi tháp Chedi trung tâm khổng lồ
có chứa 8 xá lỵ của đức Phật.
Sau cùng hết là Vat Chedovan, nơi nầy có 3 ngôi tháp Chedi lợp ngói và
một dãy hình những con vật trong huyền thoại và sử thi Thái Lan. Ngôi
chùa yên tĩnh nhất và đường đi vào khó khăn nhất nhưng nổi tiếng là linh
thiêng nhất là chùa Vat Umong, do nhà vua Mang Ray xây lên trong rừng để
làm nơi tu hành cho những vị sư vào tham thiền nhập định.
That Luông
That Luông là ngôi tháp lớn chứa dựng thánh tích Phật Giáo tại thủ đô
Vạn Tượng (Lào). Theo những nguồn sử liệu ghi chép lạiđến ngày nay thì
vua Setthathilat của Vương quốc Lan Xang, saukhi dời đô từ Luang
Prabang về Vạn Tượng năm 1566, đã cho xây dựng That Luông trên một ngôi
chùa cũ cách Vạn Tượng vào hai cây số.
That Luông là một công trình đồ sộ gồm một tháp lớn hình quả bầu, đặt trên
một cái đế là một đài sen hình vuông với những cánh sen nở tung ra bốn
phiá, bên dưới là một cái bệ khổng lồ hình bán cầu, nhưng lại tạo thành
bốn múi có đáy vuông. Trên miệng quả bầu đỡ một ngọn tháp, chóp nhọn của
ngọn tháp được dát vàng và bốn mặt cong của tháp thì được quét sơn
trắng xoá, trông ngọn tháp rất rực rỡ. Tất cả nằm trên một nền cao ba
bậc, có tường bao chung quanh. Ngoài cùng là một đường hành lang có
mái, giới hạn cho khuôn viên vuông vức và rộng lớn của That Luông với
bốn cửavào nằm chính giữa mỗi mặt. Tháp chính hình quả bầu không phải
đứng một mình, mà đứng giữa một khu có 30 tháp nhỏ bao chung quanh.
Các tháp nhỏ nầy có hình dáng tương tự như ngọn tháp ở giữa, đỉnh các
tháp nhỏ cũng được dát vàng và thân tháp quét sơn trắng. Tuy kích
thước của các tháp đều gần bằng nhau, nhưng bốn tháp ở bốn góc có bệ
cao hơn nên nhô cao hơn một chút so với các tháp nhỏ bên cạnh. Ở mặt
chính của các tháp nhỏ có ghi một câu kệ Phật Giáo, viết bằng tiếng
Pali. Chạy quanh các tháp nhỏ là hồi lang vuông rộng lộ thiên, có lan
can cao ở phía ngoài. Trên dẫy lan can là 228 hình lá nhọn, giữa mỗi lá
có một khám nhỏ, trong đặt tượng Phật đứng, nhỏ, bằng đất nung. Mỗi mặt
lan can có trổ một ô cửa hình cánh cung và bên trên có trang trí hình
tháp nhọn.
Trong bốn cửa, cửa phía đông là cửa giả, còn ba cửa kia có tam cấp dẫn
xuống khu hồi lang bên dưới. Ở bốn góc lan can cũng có bốn tháp nhọn,
cao. Hồi lang tiếp theo ở phía dưới rộng hơn và có hai bậc. Lan can
bao quanh cũng được trang trí ở trên các hình lá nhọn và tháp ở góc.
Trên bốn trục chính có bốn ngôi đền nhỏ lợp bằng bộ mái ngọn hai lớp làm
cổng thông giữa hồi lang với khu sân rộng bên dưới. Mỗi đền cổng đề có
dãy tam cấp trang trí bằng hình quái vật Makara hay hình rắn Naga. Ngôi
tháp được ngăn cách với không gian bên ngoài bằng một dãy hồi lang
vuông lớn lộ thiên như cái sân, có tường bao bọc chungquanh và có bốn
cổng. Các tường hồi lang của That Luông đều đượctô màu xám.
That Luông cũng như các tháp Phật Giáo ở các nơi khác, là hình ảnh
tượng trưng cho hình núi vũ trụ Tu Di (Meru): đỉnh trung tâm là Núi
Thần Meru; các tháp nhỏ bao quanh là các vòng núi; những bậc tam cấp
hình thủy quái Makara và rắn Naga biểu trưng cho nước của Đại Dương.
Theo quan niệm của Phật Giáo Tiểu Thừa mà người Lào tôn thờ, thì chỉ có
một đức Phật duy nhất trên cõi Niết Bàn (chứng quả ở tháp chính hay trên
ngọn Núi Thần Meru; những nhà tu hành chứng quả cũng chỉ đạt đến A La
Hán (Arahat) (chứng quả ở các tháp nhỏ có ghi câu kệ Ba La Mật). Ba vòng
hồi lang là hình ảnh tam giới (dục giới, sắc giới, vô sắc giới) mà những
người tu hành phải trải qua.
Cấu trúc mô hình của That Luông tuy là một hình tháp Phật có nguồn gốc Ấn
Độ, nhưng được kết hợp với tỉ lệ phân bố hài hoà giữa những đường nét
và màu sắc đã tạo cho ngôi tháp nầy có một sắc thái riêng của nước Lào,
không giống như những ngôi tháp Phật Giáo khác ở Ấn Độ hay tại vùng
Đông Nam Á. Kiến trúc đồ sộ và độc đáo của That Luông đã thể hiện tài
năng sáng tạo của người Lào sống cách đây 450 năm.
Khu bảo ttháp PG Borobudur
Borobudur tại Java (Indonesia) được xây dựng vào khoảng năm 800trước
Công Nguyên. Những nhà kiến trúc ngôi đền vĩ đại nầy muốn trên bán đảo
Java một công trình kiến tạo mô phỏng theo hình núi Tu Di (Muri) trong
thần thoại Ấn Độ Giáo; trên một ngọn núi mà vàng kim đặt toàn thể vũ
trụ. Theo nhận định của nhiều tác giả thì Borobudur là một trong
những kỳ quan nghệ thuật Á Đông gây ấn tuợng mạnh nhất do bàn tay của con
người tạo dựng. Tuy được kiến tạo năm 800 nhưng rồi đến năm 1000 trở về
sau, đã bị lãng quên; mãi cho đến đầu thế kỷ XX (1904) thì mới được
phục hồi từng phần cho đến khi có sự hưởng ứng của cơ quan UNESCO sau
nầy. Nhìn về tổng thể về cơ cấu thì Borobudur hiện nay hiện ra như một
đàihình vuông khổng lồ (đường hành lễ), trên đó là 5 hồi lang vuông nhỏ
dần, kiểu Mạn Đà La của Mật Tông. Bình đồ của các hành lang vuông nhô ra
ba cấp, tính từ đầu cạnh đi vào điểm giữa.
Trên hồi lang thứ sáu là một loạt gồm 3 dãy hồi lang hình tròn nhỏ dần
với đỉnh chóp là một Stupa (tháp) tròn và lớn. Từ điểm giữa của mỗi mặt,
từ chân lên đến đỉnh công trình là một dãy tam cấp dài. Không tam cấp
nào biểu lộ ra có vẻ như là lối đi chính cả. Cũng không tìm thấy ở đây
những ngôi đền thờ có phòng ốc ở bên trong. Về mặt tôn thờ, Borobudur
được coi như là một tháp Phật Giáo nhưng lại theo tinh thần Ấn Độ. Mỗi
hồi lang hình vuông đền có tương cao vây quanh. Dọc theotưởng có
nhiều các khám các buồng.
Toàn bộ các hồi lang vuôngđược phủ kín bằng phù điêu; còn các khám các
phòng thì có nhiều pho tượng Phật. Ba hồi lang tròn trên cùng thò mở
tung ra ngoàitrời, chẳng có tường vây. Cũng không có một hình chạm khắc
nào. Thay vào đó, chỉ có 72 Stupa nhỏ bằng đá có thờ những tượng Phậtở
bên trong. Những nhà Phật học khi nghiên cứu hình đồ Borobudur, đã giải
thích như sau: Toàn bộ thể hiện quá trình đi đến giác ngộ theo kinh
điển Phật Giáo, từ dục giới, đến sắc giới, rồi vô sắc giới.
Những tín đồ đó khi đã lên tới đỉnh thì về mặt tâm linh là đã trở thành
một con người khác hẳn, nếu đem so với khi còn ở dưới đáy. Như vậy, hồi
lang trên đỉnh với ngôi tháp tròn có chứa tượng Phật bên trong là biểu
tượng cho Chân lý tối thượng. Còn 72 ngọn tháp mở ra ở trên những lộ đài
trộn với những hình tượng Phật khó thấy ở bên trong là biểu trưng cho
những giai đoạn của quá trình đại giác của một vị chân tu. Ở bốn mặt của
hồi lang vuông bên dưới có rất nhiều hình tượng của các Thiền Na Phật
(theo Mật Tông Tây Tạng) trong các khám, được xem như là sự dẫn dắt tín
đồ lên những bậc cấp giác ngộ cao hơn nữa.
Việc biến chuyển từ hình vuông sang hình tròn cũng mang ý nghĩa tương
tự như thế. Hình vuông có nghĩa là giới hạn, không phép nhất định,
ràng buộc theo phương hướng và quan hệ với không gian. Nhưng khi sang đến
hình tròn, tức là bước sang cảnh trí vô biên, sang con đường tuyệt đối,
tức là biểu tượng cho sự bất diệt. Thông thường khi một tín đồ đến
tháp Phật Giáo như tại Borobudur thì phải đi vòng, từ bên trái sang
bên phái (không thể đi ngược). Toàn bộ các hành lang vuông đều được
phủ kín bởi hệ thống của những bức phù điêu rất mỹ thuật, tinh xảo.
Theo những nhà nghiên cứu, đây chính là trọng điểm về nghệ thuật của
Borobudur. Những cổng lên xuống các tầng đều theo kiểu vòm cổng "Kala
Makara".
Hơn thế nữa, ở hai bên cánh gà còn có những hình tượng của các vị Thánh,
với cử chỉ đưa tay lên vén màn ra, tưởng chừng như đón khách. Những bức
phù điêu ở phần cuối cùng bị lấp kín bởi đường hành lễ. Những cảnh trí
nầy thể hiện vòng sinh tử, luân hồi của kiếpngười, theo quan điểm Phật
Giáo.
Nhìn chung lại, phong cách kiến trúc và điêu khắc của Borobudur được
xem là một trung tâm hành hương nhiều ý nghĩa nhất trong vùng. Đây là
biểu trưng cho vũ trụ, đồng thời cũng là dạng kiến trúc kiểu Stupa. về
Mật Tông thì đây là hình Mandala. Những bi ký khai quật trong những năm
gần lại đây cho biết thêm: Borobudurcòn là di tích của Vương triều
Sailendra. Chín hành lang là hình ảnh 9 vị tổ sáng lập ra triều đại nầy.
Trong lịch sử kiến trúc, phong cách của Borobudur đã ảnh hưởng không
nhỏ trong kiến trúc Angkor (Khmer) và kiến trúc Pagan (Miến).
Những chùa tháp Pagan
Trong lịch sử kiến trúc vùng Đông Nam Á, sau Borobudur và Angkor, thì
phải kể đến khu vực những đền tháp Pagan (Vạn Phật Tự). Chínhnhững công
trình kiến trúc và điêu khắc nầy đã đem lại niềm tựhào của nền nghệ
thuật kiến trúc Á Đông tiêu biểu. Không ở đâu trên đất Á Châu, kể cả đất
Ấn Độ, chỉ tại một khu vực nhỏ thôi mà mật độ các di tích chùa tháp
lại dày dặc như tạiPagan.
Thành phố có diện tích khoảng 40km2, quy hoạch bình đồ vuông, nằm trên
bờ sông Iraouaddhi. Theo những truyền thuyết kể lại thì vua Anaoratha
bắt đầu theo Phật Giáo, liền sai sứ thần sang nước láng giềng Thaton của
người Môn vốn theo đạo Phật để cung thỉnh một số kinh sách về phiên
dịch. Nhưng vua nước Thaton khước từ. Vua Anaoratha đem binh sang chinh
phạt Vương quốc Thaton, không những thu hồi được nhiều kinh sách và
tượng Phật Giáo, mà còn bắt nhiều thợ thủ công của Thaton đưa về Pagan,
để tham gia ngày đêm trong việc xây dựng chùa tháp Pagan. Lúc nầy có
trên 5,000 chùa tháp, nhưng qua thời gian và chinh chiến hiện nay chỉ còn
khoảng 2,300 ngôi chùa tháp. Hầu hết những chùa tháp Pagan được kiến tạo
vào khoảng thế kỷ XI - XII, dưới triều đại Pagan.
Những nhà khảo cổ UNESCO cho rằng: "Pagan là cả một rừng kiến trúc Phật
Giáo Tiểu Thừa". Cũng tại đây, đã chứng minh rõ nét nhất về tinh hoa
và tài năng của dân tộc Miến Điện được thể hiện qua các đền tháp, biểu
hiện phong cách kiến trúc truyền thống Miến Điện trong giai đoạn hình
thành và phát triển. Phật Giáo phát triển tại Miến Điện bởi những sắc dân
người Môn và người Piuk, vốn từ Ấn Độ sang.
Cho đến năm 1001, triều đình Miến Điện đã thừa nhận vị Tăng Thống của
Phật Giáo là Đại Lão Hoà Thượng tại Pagan. Pagan một thời là kinh đô
của triều đình vua Anoratha. Pagan được kiến tạo từ đó. Pagan có tên cổ
là Arimadda Napura có nghĩa là "Thành phố đạp chân lên kẻ thù", ám chỉ
sự chiến thắng những bộ tộc người Môn tại Thatôn.Đi từ cổng đền vào, có
hai ngôi đền thờ, khắc chạm hình những Maha Girinat. Đây là vết tích
của đạo Nak có từ trước của người dân Miến. Đi vào trung tâm của khu
vực nầy, tất cả những đền tháp đều có tên (phần đuôi) là "Cetiya" hay
là "Gu" (tháp hay chùa). Theo danh từ Phật học, "Cetiya" biểu trưng
cho Phật và Pháp. Cetiya gần với khái niệm "Stupa" (Tháp) của Ấn Độ.
Tất cả có đến 2,289 Cetiya.
Những ngôi tháp ở Pagan được phân chia ra làm 4 loại khác nhau, tùy tầm
cỡ và tùy phong cách: Loại thứ nhất là loại stupa (tháp) hình bầu, hơi
giống như kiểu tháp Chorten của Tây Tạng, Boutan. Ngôi tháp có niên đại
sớm nhất của loại nầy xuất hiện vào thế kỷ VIII có tên là Pupaya, do những
thổ dân người Piuk xây lên. Loại thứ nhì là một loại Stupa hình quả
chuông, ở giữa có những đường gờ nổi lên, trang trí bằng những hoa văn.
Chóp của loại tháp nầy là đỉnh cao nhất của những đường gờ bao quanh.
Không xác định được niên đại của loại tháp nầy, nhưng nhiều tư liệu cho
biết là triều đình vua Aniruddha rất tán thưởng phong cách kiến trúc
nầy.
Những Stupa loại này có nền hình bát giác, có 1 hay nhiều tầng, với
những hồi lang bao quanh. Thông thường thì Stupa và nền được xây dựng lên
trên một hình Kim tự tháp khổng lồ. Loại thứ ba cấu tạo theo kiểu hình
chuông và cũng có những đường gờ ở giữa. Nền hình tròn hay hình bát
giác. Trên đỉnh vòm chuông được kiến trúc theo hình bát giác. Tất cả
được trang trí hài hoà và cân đối. Loại thứ tư cũng cấu trúc hình
chuông, có nền tròn, nhiều bậc, không có hành lang rộng, không có những
đường gờ.
Nhìn chung lại, cách loại Ceytiya kể trên không giống như kiểu kiến
trúc châu Âu cùng thể loại nầy. Chức năng của những tháp nầy cũng hoàn
toàn khác, vì toàn bộ dùng cho những hoạt động tôn giáo. Họ muốn nêu
lên biểu trưng của Niết Bàn, mục đích cao nhất trên con đường tu hành.
Nền Kim tự tháp gợi lên hình ảnh của vũ trụ, không gian hiện đang sống.
Nhìn chung lại những đền tháp ở đây đều dựa theo mô hình kiến trúc
Tích Lan và Ấn Độ. Người Miến Điện thường xây đền tháp trên những đỉnh
đồi, vì họ quan niệm càng lên cao chừng nào thì tâm hồn càng thanh thoát
và xa trần tục bấy nhiêu. Tại Pagan còn có một loại hình kiến trúc Phật
Giáo khác nữa: loại đền Gru. Những loại đền nầy được thiết kế trong
những hang động và những giả sơn (Gru có nghĩa là hang). Phần bên trong
của những đền hang nầy là một hệ thống hang động và các phòng vòm. Kiểu
vòm nầy rất phổ biến trong những kiến trúc Phật Giáo tại Miến.
Đây không phải khuôn rập theo kiến trúc Ấn Độ, mà thực chất là của
người Piuk thường xây. Đa số những ngôi đền tại Pagan được xây dựng
trên những khu vực đất bằng phẳng và có nguồn gốc từ những Stupa. Quá
trình hoàn thành các công trình nầy là do người Ấn, người Môn và người
Piuk hợp tác.
Ngôi chùa cổ nhất Nhật Bản
Ngôi chùa nầy có tên là Horyu - Gi (Pháp Long Tự) tọa lạc tại Ikaruga,
cách cố đô Nara chừng 10km, về hướng Tây Nam. Trong lịch sử truyền bá
Phật Giáo, vào thời Asoka (552 - 645), khi Phật Giáo từ Triều Tiên du
nhập vào đất Nhật, được hoàng gia khuyến khích và nâng đỡ trong bước đầu,
đã có nhiều ngôi chùa lớnnhỏ được kiến lập.
Qua sử sách ghi chép về thời đó có 46 ngôi chùa lớn và 423 ngôi chùa
nhỏ chung quanh vùng Nara. Pháp Long Tự được xây sớm nhất và cũng là
kiểu thức kiến trúc và điêu khắc tiêu biểu Phật Giáo Nhật thời kỳ du
nhập nầy. Ngôi chùa có gồm có: cổng Trung Môn, toà tháp năm tầng và
toà Phật điện vàng (gọi là Kindo, tức Kim Đường), các cột lớn đều bằng
bằng loại gỗ bách quý giá trong vùng. Cổng Trung Môn ở chính giữa mặt
nam. Đối diện cổng Trung Môn là toà Giang Đường ở mặt bắc. Các hành lang
bao quanh khuôn viên trên đó tọa lạc Kim Đường và tháp năm tầng.Toà Kim
Đường dựng trên nền đá hai bậc, cao 32 mét. Tiền đình có năm gian, mặt
bên có bốn gian, lớp ngói kiểu bốn mái. Những hàng cột cao đỡ lấy các
con-sơn hình mây cuộn, điêu khắc khá thanh nhã. Chính giữa là điện
thờ, xây một bệ bằng đất nung đặt batượng Phật bằng đồng. Pho tượng
Phật thứ nhất đặt ở chính giữa ngồi xếp bằng, chiều cao 1,37 mét; hai vị
Bồ Tát (Quan Thế Âm Bồ Tát và Đại Thế Chí Bồ Tát) đứng hai bên. Phía sau
ánh hào quang có khắc bài nguyện về Phật Pháp (Tứ nguyện). Pho tượng thứ
hai ở bên cạnh là đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật; pho tượng thứ ba là
Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật.
Tất cả ba pho tượng nầy là do điêu khắc gia nổi tiếng Nhật Bản, ông
Tori sáng tác. Phía sau ba bức tượng nầy là bức tượng A Di đà có niên
đại sớm nhất trong những công trình điêu khắc Phật Giáo Nhật. Bốn góc
bệ thờ có Tứ Đại Thiên Vương đứng trấn giữ theo truyền thuyết Phật
Giáo. Đó là bốn pho tượng làm bằng gỗ long não, mỗi pho tượng cao 1,33
mét. Trên các bức tường của Kim Đường trang trí nhiều bức hoạ nổi
tiếng thể hiện cuộc đời của đức Bổn Sư và chư vị Bồ Tát, sáng tác vào thế
kỷ thứ VIII. Toà tháp năm tầng đặt trên hai bậc đá, cao khoảng 32 mét.
Ở giữa tầng một, có xây một bệ thờ bằng đất sét nung. trên bốn mặt có phù
điêu thể hiện bốn cảnh, có liên quan đến cuộc đời của đức Thế Tôn: ở phía
bắc là đức Phật nhập diệt; phía nam là Phật Di Lặc; phía đông là Phật
Duyma; phía tây là cảnh phân chia Xá Lợi Phật. Ngôi chùa được kiến tạo năm
607, dưới sự trông nom trực tiếp của Thái Tử Sokhutu.
Trong số các bức tượng Phật ở ngôi chùa nầy, điển hình là pho tượng
bằng đồng mạ vàng do Curasucuri Notori chế tác, để cầu nguyện cho Thái
tử Sokhutu khi ngài mắc bệnh nặng. Bức tượng nổi bật với tư thế tĩnh tại,
đầu nhìn thẳng, nét mặt trầm tư. Vào giữa thế kỷ VII, ngôi chùa bị hỏa
hoạn phá hủy nhưng chẳng bao lâu thì chùa lại được tái tạo theo hình đồ
và trang trí nhưcũ. Cho nên, đến ngày nay, ngô chùa Horyu - Gi vẫn tồn tại
và lưu giữ được hơn 100 hiện vật, có giá trị nghệ thuật cao, được xếp
vào hàng bảo vật của quốc gia. Trong số đó, có khá nhiều hiện vật có từ
khi Phật Giáo mới du nhập vào đất Nhật. Chùa Horyu - Gi là niềm tự hào
của nền văn hoá Nhật và được xếpvào danh mục Di sản Văn hoá Thế giới năm
1967.
Ngoài ra, trong số những ngôi chùa đầu tiên, cũng phải kể đến ngôi
chùa vĩ đại Todaiji do Thiên Hoàng Somu kiến tạo năm 745 tại Nara.
Trong chùa nầy, phần hoành tráng và nguy nga nhất là ngôi Đại Phật
Điện. Ở Đại Phật Điện nầy, có đặt pho tượng Đại Phật (daibutsu) bằng
đồng to lớn, uy nghiêm, nổi tiếng thế giới về tầm cỡ, kích thước, trọng
lượng và kỹ thuật (cao 17m, nặng 500tấn). Tuy to lớn như thế, nhưng
tượng Đại Phật trông rất đẹp,duyên dáng, tinh xảo. Đây là mô hình điêu
khắc tiêu biểu nhất của thời đại Nara.
Cung Potala
Cao nguyên Thanh Tạng là cao nguyên trẻ nhất, cao nhất, lớn nhất trên thế
giới, với diện tích vào khoảng 2,5 triệu km2, bình quân cao hơn mặt biển
trên 4,500 mét; do đó, có tên là "nóc nhà của thế giới". Cao nguyên
nhấp nhô trùng trùng điệp điệp từ nam lên bắc, từng dãy núi dài liên
miên tưởng chừng không bao giờ dứt. Dãy núi Hymalaya nguy nga uốn
lượn phía tây nam; ở giữa là dãy núi Gandice và Tancula; phía bắc
là núi Côn Lôn, núi Ankin, núi Kỳ Liên rộng mênh mông bát ngát. Rất
nhiều ngọn núi phủ đầy băng tuyết. Giữa các dãy núi là những sông băng
màu bạc trượt dần theo dốc núi. Phía dưới cùng của sông băng Lubay có độ
cao 5,029 métso với mặt biển là con sông băng cao nhất thế giới. Sông
băng Incukaiti ở sườn bắc ngọn Chéquari thuộc dãy núi Kakaconlon dài 42
mét là con sông băng dài nhất của Trung Quốc. Sông băng đỉnh bằng
Ikhasaha Lunquala thuộc núi Kỳ Liên có diện tích 55km2 là sông băng
đỉnh bằng lớn nhất của Trung Quốc.
Các con sông băng là "mẹ" của các dòng sông lớn, cung cấp nguồn nước
phong phú. Các sông nổi tiếng thế giới như Trường Giang, Hoàng Hà, Hằng
Hà, Ấn Hà đều bắt nguồn từ đây. Lòng chảo Saitamu thuộc cao nguyên Thanh
Tạng có địa thế thấp, chỉ cao khoảng 2,500 mét so với mặt biển.
Thung lũng sông Yazangbu có thể coi là thấp nhất của ao nguyên nầy. Vậy
mà thành phố Lhasa nằm trong thung lũng vẫn nằm ở độ cao gấp đôi độ cao
Thái Sơn là núi đứng đầu trong Ngũ Nhạc. Trên cao nguyên có những đồng
cỏ rộng lớn, xen kẻ những đầm hồtrong xanh, quanh hồ có nhiều cây liễu
đỏ, núi trắng tuyết in bóng xuống hồ đậm đà phong cảnh đặc thù của
cao nguyên. Nhiều ngọn suối nước nóng phun ra từ các khe hở vách đá,
hơi nóng ngùn ngụt tương phản với núi tuyết lạnh giá bên cạnh.
Trên cao nguyên nầy có hiện tượng đặc biệt: do không khí loãng, khí áp
thấp, nên nước sôi ở 81 độ C, vấn đề hô hấp của con người cũng trở nên
khó khăn hơn. Cao nguyên Thanh Tạng có đường bộ dẫn vào thành phố cao
nhất thế giới. Đường ô tô Thanh Tạng nằm ở độ cao 4,500 mét đến 5,400
méts o với mặt biển; đó là điểm cao nhất của đường giao thông thế
giới. Thị trấn Hắc Hà nằm trên con đường giao thông Thanh Tạng có độ cao
4,604 mét so với mặt biển, cao hơn 954 mét so với thành phố thủ đô
cao nhất thế giới - thủ đô Lapaz (3,650 mét) của Bolivia.
Tuy cao nguyên Thanh Tạng có địa thế cao, khí hậu tương đối khô hạn rét
mướt, những cũng chính do địa thế cao, diện tích lớn, cho nên nhiệt lượng
của mặt trời nhận được tương đối phong phú. Như thế, đã tạo điều kiện tốt
cho hoạt động của con người và sự phát triển của những sinh vật tại đó.
Tại nơi đây, chỉ cần trời không mưa, phần lớn các khu vực đều có ánh nắng
mặt trời chiếu tới khoảng 12 tiếng trong ngày. Thành phố Lhasa có số giờ
nhận ánh sáng trong năm lên tới 3,000 giờ; vì thếcó tên là "Thành phố ánh
sáng".
Câu hỏi thường được đặt ra: Tại sao cao nguyên Thanh Tạng lại cao đến
như vậy? Căn cứ vào hàng loạt hoá thạch khủng long, hoá thạch ngựa 3
móng, hoá thạch sinh vật biển và hoá thạch thực vật trêncạn... từng khai
quật được ở vùng cao nguyên Thanh Tạng, các nhà khảo cổ học chứng minh
rằng: Khoảng 230 triệu năm về trước, cao nguyên nầy vẫn còn là một
vùng biển dài nối liền với Thái Bình Dương và Đại Tây Dương.
Về sau, vỏ trái đất xẩy ra sự vận động mãnh liệt, hình thái núi non gấp
lại; biển đã biến mất, xuất hiện núi Kỳ Liên cổ. Lục địa Saitama cổ lún
xuống biến thành lòng chảo hồ hội địa. Qua thời kỳ Trung Đại kéo dài
150 triệu năm, những núi cao đó đã bị phong hoá và san bằng dần. đất
cát bị bào mòn trầm tích lại trong hồ. Đến thời kỳ Tân Sinh, lại có thêm
đột vận động của vỏ trái đất, các dãy núi già cổ lại vươn lên, trở thành
những dãy núi Hymalaya có hơn 30 triệu năm lại đây. Cao nguyên nầy trở
thành "nóc nhà của thế giới".
Trên những kiến trúc kỳ vĩ của nhân loại thì cung Potala được xem là cung
điện cao nhất so với mực nước biển của thế giới, là trung tâm của Thánh
thành Lhasa, Tây Tạng, được kiến tạo vào năm 1694 -1696. Từ bất cứ phương
hướng nào ở bên ngoài vài cây dố, cũng có thể nhìn toàn cảnh của cung
điện Potala. Cung điện cao đến 13 tầng lầu, giống như một vách đá lớn,
có tường màu trắng, từng dẫy cửa sổ, mái nhà cao thấp mỗi cái khá nhau.
Cung nầy được xây trên ngọn núi Mabuge (có nghĩa là Núi Đỏ); núi nầy
nhiều đá, cao hơn thành phố Lhasa chừng 95 mét. Cung Potala, theo tiếng
Sanskrit là "Thánh địa của Phật". Otala được âm dịch tiếng Sanskrit là
"Pudala" (Phổ đà la) có nghĩa: Thế giới Quan Âm Thánh địa Phật Giáo.
Tương truyền vào thế kỷ thứ VII sau Công nguyên, quốc vương nước nầy là
Songzan Ganbu sau khi cưới công chúa Văn Thành, đã cho xây dựng một cung
điện tại đây. Nhà vua lại còn tạo tại đây ngôi chùa "Đại Chiêu Tự".
Quanh năm suốt tháng Phật Giáo đồ khắp nơi trong nước tây Tạng đến đây
để lễ bái cúng dường tưởng chừng không bao giờ vắng người. vào khoảng
năm 1645, nhân vật thống trị Tây Tạng là đại Lai lạt Ma đời thứ V đã
hạ lệnh dựng cung điện cho mình trên cung điện của Sonzan Ganbu.
Khi Ngài viên tịch (1682), cung điện nầy vẫn chưa hoàn tất, cho nên tin
viên tịch của Ngài vẫn giữa bí mặt không tuyên bố. Mãi đến năm 1694, khi
cung điên Potala xay xong, mới công bố cho thần dân trong nước được
biết. Nơi nầy vẫn là trung tâm của Tây Tạng. Toàn thể cung điện trong giai
đoạn xây cất đầu tiên chỉ dùng những vật liệu bằng đá, gỗ và đất.
Phương tiệnn vận chuyển thời đó còn thô sơ cho nên chỉ có thể vận
dụng sức người và loài vật để chuyên chở từ nhiều nơi trong nước đến.
Tòa nhà lớn nầy có hơn 1,000 gian phòng, hơn 10,000 Phật điện và 20,000
tượng điêu khắc. đây cũng là "cung 4iện Mùa đông" của đức Đạt Lai Lạt
Ma. Sau khi đức Đại Lai Lạt Ma đời thứ XIV (đương kim) rời khỏi Tây
Tạng sang tị nạn tại Ấn độ (năm 1959), thì toà thành nầy được dân chúng
bảo toàn khá hoàn hảo, trong khi những lực lượng quân sự của Trung Cộng
tấn công khắp mọi nơi để xâm chiếm.Về phương diện kiến trúc, những vật
liệu xây dựng cung Potalacó thể chia ra làm hai bộ phận chính: Trên
tường trát đất sét trắng gọi là "bạch Cung", chính giưa trát đất sét đỏ
gọi là "Hồng Cung". Tòa nhà Cuokin, cung đien lớn nhất của bạch Cung là
nơi ngày trước đức Đạt Lai Lạt Ma cử hành những nghi lễ tôn giáochính
trong năm, cũng như những nghị sự chính trị quan trọng của Tây tạng.
Kiến trúc chủ thể của hồng Cung là điện Linh Tháp của đức Đại Lai Lạt Ma
và những Niệm Phật Đường.
Hiện nay vẫn còn cóthể nhìn thấy Linh Tháp của những đức Đạt Lai Lạt Ma
đời thứ V, đời thứ VII và đời thứ XII. Những linh tháp nầy đều được dát
vàng lộng lẫy. Lhasa nằm ở trong rặng núi Himalaya, cao 3650 mét, so
với mực nước biển, không khí loãng. Nổi tiếng nhất trong những trung tâm
Phật giáo là Đại Chiêu Tự. Trong ngôi chùa nầy hiện nay còn bảo lưu
được nhiều tượng Phật dát vàng nổi tiếng. Những tượng này do Văn Thành
Công Cúa, vợ của vua Songzan Ganbu, tặng cho chồng khi thành hôn. Ngoài
ra, còn có cung điện Robulinca, ở tây Thành có nghiã là "Vườn Bửu Bối".
---o0o---
Trình bày: Nhị Tường
Cập nhật: 06-2007