Vọng cố nhân lầu
Thích
Như Điển
Lời mở đầu
▲
Hôm nay là ngày 25
tháng 12 năm 1999, là ngày lễ Giáng Sinh của Âu Mỹ. Ngồi tại thư phòng
chùa Khuông Việt - Na-Uy, tôi bắt đầu viết tác phẩm thứ 28 trong đời
mình và là tác phẩm thứ hai viết về chuyến hành hương Trung Quốc từ ngày
2.10 đến 21.10 năm 1999 vừa qua.
Kể ra thì chuyến đi
đã kết thúc hơn 2 tháng rồi; nhưng 2 tháng ấy ở tại chùa Viên Giác -
Hannover có bao nhiêu chuyện để phải làm. Do vậy mà tác phẩm nầy được bắt
đầu viết tại Na-Uy trong khóa tu học mùa Đông của Tăng Ni Âu Châu và mọi
người đã vân tập về chùa Khuông Việt nầy.
Trời mùa Đông Na-Uy
đã 10 giờ sáng rồi mà bầu trời vẫn mờ mịt tuyết giăng, mây kéo. Nếu không
có ánh điện đường và điện trong phòng thì người ta cũng nghĩ rằng đêm cũng
như ngày chứ không có điều gì khác lạ. Tất cả đều trụi lá, chỉ còn những
cây tùng xanh vẫn còn đang đứng đó để chịu đựng với gió buốt mà thôi.
Tổ Qui Sơn trong
phần Cảnh Sách há đã chẳng nói sao: Đời người xưa sự tu học của chư vị Tổ
Sư vững vàng như thân của cây tùng cây bách. Còn người đời nay chúng ta
không có được những chí hướng như vậy thì hãy làm những dây leo, tùng cao
đến đâu thì dây leo cứ bám chặt vào đó mà vươn lên vậy. Chỉ đơn giản thế
thôi cũng đáng cho chúng ta suy nghĩ và thực hiện suốt cả một cuộc đời
rồi.
Ngày mai 26.12.99 là
ngày húy kỵ Thượng Tọa Thích Quán Không, người đã khai sơn phá thạch chùa
nầy và cũng là người đã tạo nên chứ không thọ hưởng gì cả. Vì chùa xây gần
xong thì Thầy lại ra đi. Ôi! đời là một cõi tạm, có đó rồi mất đó. Đâu có
gì vĩnh cửu ngoại trừ chân lý tối thượng của Đấng Toàn Giác đã dạy cho
chúng ta tự ngàn xưa.
Tôi bây giờ cũng đã
quá cái tuổi ngũ tuần rồi. Cái tuổi mà phải tri thiên mệnh, cái tuổi mà
phải biết mình nhiều hơn biết người. Cái tuổi phải mang kính cận. Cái tuổi
phải đi Nha-sĩ và Bác-sĩ nhiều hơn cái tuổi 40. Ở vào lứa tuổi nầy người
ta thường cảm nhận gần gũi với sự chết nhiều hơn là sự sống; nên mỗi người
trong chúng ta phải tự tạo một con đường, để rồi một ngày nào đó có nhắm
mắt xuôi tay cũng không còn gì để hối hận nữa.
Nhìn ra phía bên
ngoài cửa sổ, tuyết vẫn vần vũ rơi, như bám chặt vào nhau, như xen kẽ vào
nhau. Hình như những vật vô tình như thế cũng có một sự sống. Mùa Giáng
Sinh nơi đây buồn tẻ. Mọi người đều sống trong phạm vi gia đình và đặc
biệt người Na-Uy, nhà của người nào, mặt chính vẫn xây vào phía bên trong,
chứ ít có nhà nào xây mặt chính ra ngoài đường cái lớn, ngoại trừ những
cửa tiệm. Họ xây lưng lại với thế giới, xây lưng lại với những người chung
quanh. Đây cũng là nét văn hóa đặc thù của những người sanh ra và lớn lên
tại xứ băng tuyết nầy.
Cả một xứ Na-Uy rộng
hơn nước Việt Nam, có tài sản thiên nhiên như điện lực, dầu mỏ, khoáng sản
như thế mà chỉ có gần 5 triệu dân và có gần 15.000 người Việt Nam sinh
sống tại nơi đây. Quả thật mọi người đang hưởng một bầu trời quang đãng,
không có sự ô nhiễm môi trường và không có ai chung quanh đây đòi hỏi về
vấn đề phải cải thiện cuộc sống cả.
Không biết tại những
giáo đường lớn người ta có tổ chức gì không? chứ chung quanh đây im lặng
như tờ. Trong khi đó, nếu ở Á Châu cũng trong giờ phút nầy, người ta đang
chạy đua xe gắn máy. Mọi người đang tràn ra ngoài đường để cuộn vào dòng
người mà vui lây với cái vui của ngày Giáng Sinh nầy. Ở Phi Luật Tân dĩ
nhiên là họ đón Giáng Sinh lớn. Vì nước nầy đa phần theo Thiên Chúa Giáo,
trong khi đó tại Nhật Bản chỉ có 0,01% là tín đồ của đạo nầy; nhưng ngày
Giáng Sinh có không biết bao nhiêu thứ bánh ngọt bày bán khắp nước, để
mừng ngày Giáng Sinh chỉ nằm trong ý nghĩa thương mại mà thôi.
Tôi sống tại Âu Châu
nầy; nhưng cũng ít nhiều đã hành xử theo lối Nhật trong cuộc sống. Nghĩa
là những gì cần cù nhẫn nại, siêng năng, chăm chỉ thì học theo và ứng dụng
vào cuộc sống tu học của mình. Cái gì quá cực đoan, lập dị thì đãi lọc đi,
để tâm mình khỏi bị phiền não trói chặt vào.
Kỳ nầy sang Na-Uy có
ông Giáo sư người Nhật tên là Harada cũng cùng đi với tôi để tham gia
những thời công phu sáng và công phu chiều bằng tiếng Việt. Năm rồi ông ta
đã đi hành hương Ấn Độ với phái đoàn từ Âu Châu sang chiêm bái Phật tích
và năm nay thì đi Bắc Âu. Ông ta sinh ra trong một gia đình giàu có tại
Nhật. Có tín tâm đối với ba ngôi Tam Bảo. Ông bà nội theo Phật Giáo thuộc
Tịnh Độ Chơn Tông. Đến đời cha mẹ của ông tu theo Mật Giáo và hiện tại ông
ta đang thờ Đức Quan Thế Âm Bồ Tát tại nhà.. Ông ta sinh ra và lớn lên tại
Nhật, nhưng thành trưởng sự học tập tại Ba Lan, Mỹ Quốc và Đức Quốc. Hiện
giờ là Giáo sư đàn Piano tại Đại Học Hildesheim gần cạnh Hannover. Ông ta
có tất cả; nhưng phủ nhận tất cả. Vì biết rằng cuộc đời vốn vô thường,
chẳng có gì khả tin bằng giáo lý của Đức Phật; nên đã từ chối nhận gia tài
của cha mẹ để lại, mà chỉ nhận một niềm tin nơi Phật Pháp mà thôi. Điều ấy
cũng rất là hy hữu đối với nhiều người Nhật ở lứa tuổi 42 như ông ta.
Người Việt Nam chúng
ta cũng thế, tôi biết có rất nhiều gia đình gồm nhiều thế hệ khác nhau. Ví
dụ như thế hệ của ông bà thì làm quan lại cho triều đình nhà Nguyễn. Đến
thế hệ con cái thì đi du học nước ngoài. Cho đến thế hệ cháu nội, cháu
ngoại được sinh ra và lớn lên ở nước ngoài thì chỉ lo đi trộm cướp và bài
bạc. Như vậy những sự hy sinh của cha mẹ đối với con cái có được ích lợi
gì? khi tiền bạc thì kiếm ra nhiều, trong khi đó tri thức thì không có gì
cả... quả là một điều đáng lo, vì không biết rằng thế hệ tiếp theo sẽ sống
và hành xử với cuộc đời nầy như thế nào đây?
Hôm qua tôi đã hướng
dẫn cho quý Cô, quý Chú trong lớp học nầy bằng một đoạn trong truyện Bản
Sanh, Đức Phật đã dạy rằng:
Học là ngọn đèn
Xua tan bóng đêm
Là tài sản quý nhất
Trộm không đoạt được
Là khí giới đánh bại
kẻ thù
Sự ngu tối về mọi sự
Học là bạn tốt nhất
Dạy cho bạn các
phương tiện
Là một người quyến
thuộc
Không bỏ bạn khi bạn
khó nghèo
Là phương thuốc giải
sầu
Không làm hại bạn
Là đạo quân công
việc tốt nhất
Phái đi dẹp giặc tà
hạnh
Là vốn tối thượng
của
danh tiếng và vinh
quang
Không gì quý hơn là
có học
Khi bạn gặp những
người giỏi
Bạn sẽ làm cảm kích
những học giả
Trong bất cứ hội
chúng nào.
Sự học như ngọn đèn
xua tan bóng tối vô minh
(Ni Sư Thích Nữ Trí
Hải dịch
"Giải Thoát Trong
Lòng Tay" trang 123-124)
Phật dạy như thế tự
ngàn xưa và vẫn có giá trị cho ngày nay và mãi mãi cho đến ngàn sau, sự tu
và sự học như thế, bao giờ cũng rất cần thiết cho mọi người, kể cả giới
xuất gia lẫn tại gia vậy.
Nhớ có lần tôi ngồi
trên xe Bus với nguời thông dịch tiếng Việt từ tiếng Trung Hoa, tôi có kể
cho anh ta nghe rằng tôi rất bận rộn và tôi bây giờ cái gì cũng có; nhưng
không có thì giờ. Anh ta bảo rằng: tại Trung Quốc có một câu tục ngữ nói
rằng: "Tôi bây giờ chỉ có tiền, ngoài ra tôi không có gì cả". Câu nầy kể
ra cũng hay, dùng để mai mỉa những người chỉ có tiền, mà trí tuệ và sự học
thì không có gì cả. Điều ấy không biết tương lai sẽ bị dẫn dắt đi về đâu?
Ở những thế hệ của
các bậy Thầy đã dày công xây dựng chùa chiền; hội đoàn; nhưng nếu không
lưu tâm đến để xây dựng một đoàn thể Tăng Già đầy đủ đức tin nơi Tam Bảo
thì không biết rằng thế hệ thứ hai ấy sẽ ra sao, đừng nói gì đến thế hệ
thứ ba hay thứ tư nữa. Vì những thế hệ kế tục nầy đâu có học, có hạnh và
ngay cả việc có công cũng không, do đó dễ đi vào con đường suy thoái. Nếu
ngay từ lúc nầy Giáo Hội không trang bị cho người Tăng Sĩ một sự tu và sự
học cho tương lai, chắc rằng những khó khăn sẽ không chừa một ai cả.
Tôi đã đến và đi
thong dong tự tại trong cuộc đời nầy của một kiếp nhân sinh đầy đủ ý nghĩa
của nó. Do vậy chỉ muốn ghi lại một vài hình ảnh đã đi qua nhân chuyến
hành hương vừa rồi tại Trung Quốc để cho trọn bộ sách về Tứ Đại Danh Sơn.
Dĩ nhiên viết về Trung Quốc đã có rất nhiều người viết; nhưng viết về Phật
Giáo thì rất ít. Do đó tôi phải dành thì giờ để viết về Nga Mi Sơn; nơi
thị hiện của Đức Phổ Hiền Bồ Tát. Cửu Hoa Sơn; nơi thị hiện của Đức Địa
Tạng Vương Bồ Tát và một số nơi khác quen thuộc tại Trung Quốc để giới
thiệu đến với quý độc giả xa gần; nhất là với những người muốn đi mà chưa
đến được.
Còn mấy ngày nữa thì
thế kỷ thứ 20 sẽ trôi qua. Cả một ngàn năm của thiên niên kỷ thứ 2 nầy và
cả 100 năm của thế kỷ thứ 20 nầy có không biết bao nhiêu là vấn đề để phải
tường thuật lại, nhằm nhắc nhở cho đàn hậu học biết đến mà tiến thân. Đồng
thời cũng là cơ hội tốt nhất để chúng ta sửa soạn bước vào thế kỷ mới; một
thế kỷ có nhiều hứa hẹn; nhưng đồng thời cũng là một thế kỷ nhiều lo âu
toan tính nhất, so với những thế kỷ đã trôi qua. Người ta lo toan, người
ta tính toán, người ta dự định, đồng thời người ta cũng buông xả... để tất
cả sẽ đi đến một sự chấp nhận. Điều ấy có nghĩa tốt hay xấu, chúng ta cũng
phải có trách nhiệm với những thành quả sẽ xảy ra vào đầu thế kỷ thứ 21
nầy.
Đợt đầu đi Trung
Quốc cũng 21 ngày vào tháng 10 năm 1997. Sau khi về chúng tôi đã chấp bút
để viết thành tác phẩm "Theo Dấu Chân Xưa" để gởi đến quý độc giả khắp
nơi. Tác phẩm nầy cũng được mọi người đón tiếp một cách rất hoan hỷ và hôm
nay với tác phẩm nầy mang tên "Vọng Cố Nhân Lầu" để nhớ lại người xưa.
Người xưa đây cũng là những người đã đến trước và đi trước và cũng có thể
đã trở lại trong kiếp nầy. Người xưa đây là những vị Đại Sư đã có công với
Đạo, đã khai sơn phá thạch một thời. Người xưa đây cũng có thể là những
vua chúa, công hầu khanh tướng ở vào một thuở xa xôi nào đó trên xứ Trung
Nguyên nầy.
Dĩ nhiên Trung Quốc
cũng còn có nhiều cái giới hạn của nó. Vì lẽ một đất nước rộng rãi cũng
như dân đông như thế, quả thật không phải là một chuyện đơn thuần để sửa
đổi trong một thời gian ngắn mà thành tựu viên mãn được. Sau khi đi Trung
Quốc về tôi đã nhận xét rằng: "Xứ Mỹ là xứ có văn minh mà không có văn
hóa. Trong khi đó xứ Trung Quốc là xứ có văn hóa mà nhiều nơi chẳng có
văn minh". Điều nầy cũng không phải là tất cả; nhưng là một phần trong tất
cả mọi phần vậy.
Tác phẩm nầy chỉ
viết bằng tiếng Việt, sau đó Chú Sanh lại đánh máy, Hiền dò bài, anh Như
Thân layout, Hải + Hiền lại cặm cụi in ấn và mọi người lại cắt, đóng, xếp
để trở thành một quyển sách phải cần có nhiều thời gian và công sức. Vậy
nhân đây chúng tôi cũng xin bày tỏ một tấm lòng tri ân đối với những vị
vừa nêu tên ở phía trên. Riêng quý độc giả có nhiều người đã đợi tác phẩm
nầy hơi lâu vì nhiều lý do thời gian cũng như hoàn cảnh khác nhau; nên mới
ra chậm như thế. Kính mong quý vị niệm tình hỷ thứ cho.
Nếu tác phẩm nầy có
mang đến một sự hiểu biết và giúp đỡ phần nào đối với quý vị sắp đi hành
hương Trung Quốc, thì quả đó là một nguồn động viên lớn cho người viết
cũng như người đọc vậy.
Lời cuối xin chắp
tay nguyện cầu cho bồ câu trắng hiện nơi cõi nầy, để người người sống
trong một không khí tự do, bình đẳng thực sự giữa người với người vậy.
Tác phẩm nầy bắt đầu
viết tại Na-Uy; nhưng chấm dứt ở đâu thì chưa biết; cũng có thể là tại Ý
hay tại Đức hoặc tại Úc cũng không chừng? Nhưng dầu tại đâu đi chăng nữa
vấn đề nội dung mới quan trọng, chứ vấn đề hình thức cũng không nên lưu
tâm làm gì.
Văn tôi vốn bình
dân, do vậy mà phần triết học siêu nhiên ít được diễn tả nơi nhiều tác
phẩm của tôi. Vì tôi nghĩ, nên đầu tư những tư liệu đơn giản vào tâm thức
dễ dàng hơn là những từ Phật Học điển tích, khô khan, khó nhớ.
Đọc văn tức đọc
người. Vì tôi là một người vốn được sinh ra từ quê hương, đồng ruộng; nên
những ý nghĩ của tôi khi phơi bày trên giấy trắng mực đen nó cũng chỉ đơn
thuần như con trâu, chiếc cày, cái cuốc, con cò lặn lội nơi khoảng không
gian vô tận của ruộng đồng ấy mà thôi.
Viết sách không phải
nhằm phô trương kiến giải thô thiển của mình thấy, nghe và biết; nhưng
viết sách riêng tôi có mục đích là ghi lại những gì mắt thấy, tai nghe;
những gì chính mình đã kinh qua và bây giờ chỉ còn có bổn phận phải ghi
lại để cho chính mình và mọi người nếu một mai có quên đi, hãy dở sách ra
để tìm lại những gì mà mình muốn kiếm, thì nơi sách đã đầy đủ lắm rồi.
Lạy Phật cho con làm
tròn những bổn phận mà tự mình giao phó cho mình vậy.
Tại thư phòng chùa Khuông Việt - Na-Uy
Ngày 25 tháng 12 năm 1999
Thích Như Điển
Những ngày ở tại Bắc Kinh
▲
Lẽ ra phái đoàn của
chúng tôi khởi hành từ Đức vào ngày 1 tháng 10 năm 1999; nhưng năm nầy Bắc
Kinh kỷ niệm 50 năm thành lập Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa nhân lễ Quốc
Khánh vào 1 tháng 10 mỗi năm; nên chính quyền đã không cho người ngoại
quốc vào đây trong buổi lễ ấy và ngay cả những người Trung Quốc ở ngoài
Bắc Kinh cũng không được phép vào. Mãi cho đến ngày 3 tháng 10 họ mới cho
vào. Có lẽ họ sợ một cuộc biểu tình lớn sẽ được tổ chức lúc nầy; nên mọi
sự giao thông từ bên ngoài đến Bắc Kinh đều bị cấm ngặt.
Ngay cả những du
khách ngoại quốc đến Trung Quốc trước đó cũng không được phép có mặt tại
Bắc Kinh vào ngày 1 và 2 tháng 10 mà phải dời chỗ ở đi nơi khác. Vì họ sợ,
nhân ngày lễ kỷ niệm 50 năm nầy sẽ có biến cố lớn và người ngoại quốc sẵn
sàng tiếp tay; nên họ đề phòng trước vẫn hơn thì phải ?
Việc xin Visa đi
Trung Quốc không khó ngay cả những người có giấy tờ tỵ nạn, hay quốc tịch
Việt Nam. Nếu là quốc tịch Đức hay Mỹ lại càng dễ dãi hơn, không như Ấn
Độ. Mỗi lần đi Ấn Độ là một cực hình. Vì họ làm khó dễ đủ điều trong khi
xin Visa. Có lẽ họ không cần thêm người nữa. Vì Ấn Độ dân số quá đông ?
hay họ có thành kiến với Phật Giáo ? Việc nầy chẳng ai biết, chỉ có người
Ấn Độ và nhất là những quan chức ngoại giao mới có thể trả lời rành mạch
mà thôi! Trong khi đó xin Visa đi Trung Quốc không khó mấy; nhưng lần nầy
với tôi và quý Ni Sư, Sư Cô khác đi cùng đoàn phải làm một giấy cam đoan
đặc biệt, mặc dầu tôi cũng có quốc tịch Đức từ lâu. Nội dung của giấy cam
đoan như thế nầy:
"Họ và Tên - Nghề
nghiệp - Sinh ngày tháng năm - Hiện là Tăng sĩ Phật Giáo và cam đoan rằng
đến Trung Quốc không được phép truyền bá giáo lý Phật Giáo."
Sau đó ký tên vào.
Kể ra thì cũng nực cười.
Đoàn hành hương đi
kỳ nầy cốt cũng để đến thăm các chùa tại Trung Quốc, mà dẫu có không cấm
đi nữa thì việc truyền đạo đâu phải chỉ một vài giờ hay một vài ngày mà
làm được đâu? Có lẽ họ sợ ảnh hưởng của Phật Giáo mạnh lại chăng? Nhưng
tại sao chính quyền lại cho xây tượng Địa Tạng bằng đồng cao 99 thước tại
Cửu Hoa Sơn? Tại sao chính quyền cho đúc cả một tượng Di-Đà cao hơn núi
tại Vô Hi? Dĩ nhiên không phải vì truyền bá chánh pháp như các thời vua
chúa trước. Nhưng có lẽ vì mối lợi vào cửa của khách hành hương chăng? Hay
đây cũng là hình thức để chứng tỏ cho bên ngoài biết rằng nước Cộng Sản
Trung Hoa cũng có tự do tôn giáo, chứ có cấm đoán đâu? Quả thật chính sách
nầy người Cộng Sản Việt Nam đã rập theo y mẫu.
Trước khi tôi và
phái đoàn đến, phái Pháp Luân Công cũng đã hoạt động rất tích cực tại đây,
có hơn cả triệu tín đồ và đặc biệt là bổn bộ đặt tại Mỹ Quốc. Chính quyền
sợ họ mạnh hơn số đảng viên họ đang có nên cuối cùng cho bắt lần hồi những
ai hoạt động theo phái nầy. Nhiều lúc nghĩ cũng nực cười. Trong khi những
người có súng đạn, quân đội, bạo lực mà lại sợ những người tay không và
chỉ có một lòng tin duy nhất là mục đích mà họ hướng tới; thì những người
có thế lực đương quyền lại sợ. Như vậy chứng tỏ rằng bạo lực không là tất
cả, mà chỉ có niềm tin mới mang mọi người đến những điểm nhứt định mà họ
đã lựa chọn. Có đức tin là có tất cả. Vì vậy trong kinh Hoa Nghiêm mới có
câu: "Niềm tin là mẹ sinh ra mọi công đức" vậy.
Cũng vì lý do như đã
nêu trên mà phái đoàn của chúng tôi ngày 2 tháng 10 năm 1999 mới bắt đầu
đi từ Đức đến Hòa Lan và từ Hòa Lan sang Bắc Kinh. Phái đoàn đi kỳ nầy có
18 vị. 5 Tăng Sĩ và 13 Cư Sĩ, trong 13 vị nầy có 2 vị là Bác sĩ; nên cả
đoàn ai cũng an tâm. Trong 18 người đó có 5 quốc gia và nhiều quốc tịch
khác nhau. Ví dụ như từ Đức đi có 9 người. Từ Mỹ có 3 vị. Từ Hòa Lan có 4,
từ Ý có 1 và từ Pháp cũng có 1 người. Như vậy là một phái đoàn tương đối
nhỏ; nhưng rất lý tưởng. Vì dưới 15 người, xem như tổ chức bất thành. Còn
trên 40 người lại quá đông, làm sao lo cho xuể. Thế mà cách đó một tháng
chùa Khánh Anh tại Paris đã tổ chức cho phái đoàn đi Trung Quốc gần 100
người. Quả là khiếp vía thật !
Dĩ nhiên tôi cũng đã
có những chuyến hành hương đông người hơn thế nữa, nhưng đi người đông,
thì người trưởng phái đoàn phải cực nhọc nhiều. Ví dụ năm 1996 tôi cũng đã
đến Ấn Độ với một phái đoàn 40 người và nhập chung với phái đoàn bên Mỹ
qua, tổng cộng lên đến 120 người. Phải đi 3 xe Bus mới đủ chở người và
hành lý; nhưng lúc ấy đã có Thầy Hạnh Tấn, Thầy Hạnh Nguyện và Thầy Minh
Tánh lo. Do vậy tôi đỡ phải vất vả; nhưng khi đến, khi đi, khi vào chuyện
rồi mới thấy phái đoàn nào có tu nhiều và phái đoàn nào ít tu sẽ rõ ràng
ngay. Rõ ràng qua việc cư xử. Rõ ràng qua việc phát tâm và rõ ràng qua
việc tín tâm đối với Đạo v.v...
Đi hành hương không
phải là đi du lịch. Vì đi du lịch người ta lấy tiền để đổi lại những tiện
nghi của đối phương. Còn ở đây đi hành hương là lấy tâm nhẫn nại để cầu sự
thực tu, thực học và cầu giải thoát; nên hai đàng cũng đi; nhưng lại có
nhiều sự khác biệt như thế. Có nhiều người không chịu đựng nổi cái dơ, cái
trễ giờ, cái làm việc tắc trách của Ấn Độ: nhưng cuối cùng rồi cũng huề cả
làng. Vì ngoài sự chờ đợi ra, chúng ta biết làm sao hơn? Ở tại Trung Quốc
thì khá về phương diện nầy; nhưng cũng có nhiều nơi còn lạc hậu lắm; nhứt
là những phương tiện công cộng tại miền quê.
Từ Amsterdam của xứ
Hòa Lan lúc đi đến Bắc Kinh chỉ cần 9 tiếng đồng hồ; nhưng lúc về từ Hồng
Kông phải cần đến 11 tiếng. Mặc dầu nhìn trên bản đồ thấy không có gì cách
xa mấy. Chúng tôi đến phi trường Bắc Kinh vào lúc 8 giờ 40 phút sáng ngày
3.10.1999. Phái đoàn sau khi nhận hành lý đã ra khỏi cổng gác liền gặp anh
thông dịch viên tiếng Đức. Đầu tiên chúng tôi ngỡ là sẽ có thông dịch viên
tiếng Việt; nhưng không sao. Vì những người đến từ Đức, ai cũng hiểu tiếng
Đức cả. Anh ta cũng có thể nói được một ít tiếng Anh, nên phái đoàn bên Mỹ
cũng rất hài lòng. Tại những thành phố lớn như thế nầy, những người thông
dịch viên rất giỏi. Vì họ có cơ hội trau giồi ngoại ngữ. Trong khi đó, ở
những nơi xa vắng ánh sáng thị thành thì những thông dịch viên giỏi ít có
mặt tại đây. Quả thật đây cũng là một sự thiếu sót đối với những người
sống tại nông thôn vậy.
Phi trường Bắc Kinh
ngày 2.10.1999
Anh thông dịch viên
đón phái đoàn chúng tôi về khách sạn Thiên Luân Hoàng Triều, một khách sạn
4 sao mới xây vào thập niên 90 nên rất hiện đại, không thua gì các khách
sạn tại Âu Mỹ mấy. Nếu chỉ ở trong khách sạn, đừng nhìn ra cảnh sinh hoạt
của dân chúng bên ngoài, người ta cứ tưởng rằng đang ở tại một xứ Âu Mỹ
nào đó. Quả thật sau 2 năm trở lại Trung Quốc thấy tại đây, nhất là Bắc
Kinh thay đổi quá nhiều; ngay cả tại Thiên An Môn. Nếu 10 năm sau mới trở
lại, chắc rằng những ngôi nhà cũ kỹ từ đời nhà Minh, nhà Thanh không còn
tồn tại nữa quá !
Phái đoàn đã đến
phi trường Bắc Kinh
Xe cộ giao thông
càng ngày càng nhiều mà đường sá thì mở rộng chưa kịp. Nếu cứ độ nầy 10
năm sau nữa thì người đi bộ trong thành phố sẽ nhanh hơn người đi xe
chăng? Trước khi đi Trung Quốc tôi có đọc một thống kê về độ ô nhiễm trên
thế giới đáng báo động gồm 12 thành phố, mà trong đó Trung Quốc đã chiếm
kỷ lục là 8 thành phố rồi. Đi đến đâu cũng chỉ thấy người, khói và bụi.
Nhìn lên bầu trời thấy khói lan tỏa như những đám mây, không khí thật
nghẹt thở. Có nhiều người đến từ Âu Châu bị bịnh hoạn cũng tại lý do nầy
là chính. Đồng thời những nước không bị ô nhiễm và sạch sẽ được xếp thứ tự
như sau: Na-Uy về đầu, sau đó đến Úc, thứ 3 là Canada, thứ 8 là Mỹ, thứ 14
là nước Đức và thứ 148 là nước Việt Nam. Như vậy nghèo đói Việt Nam vẫn
dẫn đầu, mà môi sinh cũng kém thua xa các nước khác trên thế giới. Quả là
một cái nghiệp quá nặng nề mà chính cả một dân tộc phải cấp thời sám hối,
chứ không phải chỉ sám hối cho từng người riêng lẻ.
Năm nay tôi trở lại
Trung Quốc thấy đường sá sạch hơn 2 năm trước. Xe hơi cũng nhiều hơn và xe
đạp lại ít đi; những tiệm tạp hóa tư nhân mở ra nhan nhản khắp các phố
phường và giá cả thì rẻ gần như cho và tại Bắc Kinh không cần trả giá cũng
không lầm; nhưng nếu vào những cơ quan thương mại của chính phủ thì chúng
ta có quyền nầy, mặc dầu những người hướng dẫn viên du lịch luôn luôn bảo
đảm rằng: mua trong những cửa hàng chính phủ không bị lầm, mà mua bên
ngoài thì không phải đồ thật. Nhiều người cũng nghĩ rằng nếu giá rẻ thì cứ
mua chứ, dầu có thật hay giả gì đi chăng nữa, đến khi bị hư hại đâu có ai
mang đến Trung Quốc để đổi lại làm gì nữa mà lo?
Tôi đôi khi lại góp
ý vào với mọi người rằng: "Nhưng ở đời nầy cái gì cũng giả hết, chứ đâu có
cái gì thật ngoại trừ chân lý!". Thế là cả đoàn đều cười òa lên, như để
chứng minh rằng mình hiểu lẽ vô thường và thành trụ hoại không của sự vật
vậy.
Cả đoàn ai cũng đừ
nên trông cho khách sạn dọn phòng xong là mang đồ lên, nghỉ một chút, sau
đó đi ăn cơm trưa phía ngoài và buổi chiều thì phái đoàn đi thăm Thiên An
Môn cũng như Cố Cung hay nói đúng hơn là Tử Cấm Thành. Mọi người đều theo
sau anh hướng dẫn viên tiếng Đức và lúc nào anh ta cũng lưu ý là phải nhìn
theo cây cờ của anh ta, kẻo đi lạc. Thế mà cũng đã có người trong đoàn bị
lạc, khiến cho cả đoàn lại ngóng cổ chờ trông. Vì nhìn người Hoa cũng như
người Việt. Người Việt cũng như người Nhựt, biết đâu mà dò.
Hình Bác sĩ Tôn Dật
Tiên tại quảng trường Thiên An Môn ngày 3.10.99
Tôi nhớ rằng 2 năm
trước cũng có người trong đoàn lạc tại đây và năm nay cũng có người lạc;
nên tôi tự nghĩ rằng đúng là chúng ta con cháu của Lạc Việt; nên đã trôi
nổi trên khắp mọi chân trời góc biển của quả địa cầu nầy. Tại quảng trường
Thiên An Môn lần nầy cũng treo hình của Bác sĩ Tôn Dật Tiên đối diện với
hình của Mao Trạch Đông. Các tỉnh từ xa về đã trang hoàng những xe hoa,
trên đó diễn tả lại sự sinh hoạt của tỉnh mình như đập thủy điện, công
nghiệp, dệt vải, kỹ nghệ v.v... Có thể là mỗi tỉnh có một xe hoa giới
thiệu như thế; nên quảng trường Thiên An Môn trở nên chật hẹp lạ thường.
Mặc dầu đây là một quảng trường rộng nhất thế giới, nghe đâu mỗi lần tập
họp có thể lên đến cả triệu người.
Đi thăm Cố Cung lần
nầy tôi không hứng khởi mấy, vì lần trước đã được cô Lộ, thông dịch viên
tiếng Việt hướng dẫn tường tận rồi. Tuy nhiên phái đoàn cũng chụp hình
trước lầu kia phủ nọ để mang về làm kỷ niệm. Sau đó thì ra thăm vườn Ngự
Uyển của nhà vua. Anh hướng dẫn viên cũng định dẫn đi thăm chỗ ở của Tam
Cung, Lục Viện thời vua chúa; nhưng không ngờ đã đến giờ đóng cửa, cho nên
phái đoàn chẳng được vào.
Sau đó phái đoàn trở
về lại khách sạn thì gặp thông dịch viên tiếng Việt đến từ Quảng Tây thuộc
thủ phủ Nam Ninh, cách đó hơn 36 tiếng đồng hồ xe lửa. Đầu tiên anh ta
chào chúng tôi bằng một loại tiếng Việt khó quên. Nghĩa là: Chào các Bác,
các Bác có mạnh khỏe không? Đó có lẽ là một câu chào hỏi thông dụng được
học nơi trường. Cả đoàn ai cũng cười. Vì lẽ trong đoàn của chúng tôi không
những chỉ có các Bác, mà còn quý Thầy, quý Cô và nhiều anh chị khác nữa;
nhưng ai cũng vui, vì lẽ đã có người thông dịch quốc gia bằng tiếng Việt
sẽ đi cùng đoàn suốt 21 ngày còn lại.
Phái đoàn tối đó đi
phố, còn tôi thì ở lại khách sạn để điện thoại đi vài nơi và tối đó cũng
đã được điện thoại của Sư Cô Tịnh Nghĩa đang du học tại Trung Quốc qua học
bổng của chùa Viên Giác cung cấp, cô muốn đến thăm tôi và phái đoàn vào
sáng hôm sau. Trước đây Sư Cô học tại trường Đại Học Sư Phạm Quế Lâm; nơi
có phong cảnh tuyệt vời của xứ Trung Quốc; nhưng vì trường học thay đổi
sao đó, nên Sư Cô đã dời về Hoa Nam cách Bắc Kinh chừng 12 tiếng đồng hồ
xe lửa. Mới 6 giờ sáng Sư Cô và một cô sinh viên Việt Nam nữa đã tìm tới
khách sạn nơi chúng tôi ở, cùng dùng điểm tâm chung và sau đó mọi người
cùng lên xe Bus để đi thăm Thập Tam Lăng triều nhà Minh cũng như thăm Vạn
Lý Trường Thành.
Nhà Minh trị vì
Trung Quốc từ năm 1368 đến 1644, gần 300 năm ấy triều đại nầy đã xây dựng
Bắc Kinh trở thành một thủ đô văn hóa như ngày hôm nay. Triều đại nhà
Thanh được kế tục từ năm 1644 đến 1911 cũng gần 300 năm lịch sử và cả hai
triều đại nầy đều đóng đô ở Bắc Kinh. Như vậy Bắc Kinh là thủ đô lâu dài
nhất của hai triều đại nầy; nên họ mới có cơ hội để xây dựng đền đài cung
điện, lăng tẩm đồ sộ đến như thế.
Nội Cung
Đến thăm Thập Tam
Lăng lần nầy vào ngày 4.10.1999 cũng không có gì đặc biệt như lần trước
tôi đã đi qua và đã có lần viết trong quyển "Theo Dấu Chân Xưa" rồi; nên
lần nầy không viết lại nữa. Chỉ có một điều duy nhất và không quên là tôi
luôn luôn lưu ý đến quý vị trong đoàn nên mua trái lê tại nơi nầy. Vì lê
đây rất lớn, rất giòn, rất ngon và lại rất rẻ. Mà quả thật thế, suốt 21
ngày còn lại Thầy Thông Trí, đến từ Hòa Lan, là người chịu khó nhọc nhất
để quảy những trái lê nầy cho đến Quảng Châu mới hết vai mang tay xách
nữa.
Tử Cấm Thành
Đào lộn hột ở đây
trái rất lớn, rất ngọt và rất rẻ; nhưng ngặt nỗi đào nầy giữ gìn không
được lâu; chỉ hôm trước đến hôm sau phải dùng. Nếu không sẽ bị ủng hư thối
mất, rất uổng công. Nếu quý vị nào đó có nhân duyên đi thăm Trung Quốc vào
mùa thu cỡ tháng 9 đến tháng 11 dương lịch mỗi năm, khi ghé thăm Thập Tam
Lăng đừng bao giờ quên mua những trái lê tình nghĩa tại xứ nầy. Tôi quảng
cáo không công cho những người nhà nông, có lẽ vì tôi có nhân duyên với
người chân bùn tay lấm nầy chăng?
Hai năm trước chúng
tôi đến Vạn Lý Trường Thành ở ngõ khác, hai năm sau trở lại chẳng biết đi
hướng nào là hướng cũ, chỉ biết rằng hướng nầy không phải hướng lần trước
mà thôi. Tuy nhiên nhiều người cũng leo lên đến đỉnh. Riêng Thầy Thông Trí
thì không những leo lên đến đỉnh mà còn đi vòng qua đỉnh để đi xuống dưới,
khiến phái đoàn phải chờ đợi bên nầy tường thành; nhưng ai cũng đoán là
Thầy đã đi ngõ khác. Vì Thầy còn thanh niên, mạnh khỏe.
Cùng với quý Sư Cô
Việt Nam tại Bắc Kinh
Tại đây có nhiều
người Pháp, người Đức đến viếng thăm. Họ mở sâm-banh (champagne) nghe nổ
chát chúa tai. Có lẽ vì họ đã đạt được mục đích rồi chăng? Mọi người nói
cười vui vẻ. Có lẽ họ không để ý đến sự có mặt của tôi và họ nói tiếng
Pháp, nhiều câu hiểu ra nghe ngồ ngộ. Dĩ nhiên là khen cũng có, mà chê thì
cũng không ít. Tôi lẳng lặng tập nghe để hiểu một dân tộc Âu Châu nói về
một dân tộc Á Châu có 4.000 năm văn hiến như xứ Trung Hoa nầy.
Vạn Lý Trường
Thành
Bất đáo Trường Thành
phi hảo Hán
Ngày hôm sau,
5.10.1999, phái đoàn ra phi trường Bắc Kinh vào lúc 7 giờ 30 phút sáng, có
cô Tịnh Nghĩa và cô sinh viên Việt Nam tiễn chân, để rồi hai cô cũng về
lại nơi trọ học của mình. Còn chúng tôi chuẩn bị cho chuyến bay 10 giờ 35
phút nhưng mãi tới 13 giờ 10 phút phái đoàn mới lên được máy bay để đi
Hefei (Hợp Phì) và sau gần 2 giờ bay thì đến đích. Đoạn đường nầy có lẽ xa
như từ Kiel đến München. Trưa hôm đó phái đoàn phải ăn mì gói; nhưng rất
ngon. Tại đây, phái đoàn chúng tôi cũng đã gặp những Phật Tử Đài Loan đi
hành hương đến Cửu Hoa Sơn và họ cũng đã đi cùng chuyến máy bay với chúng
tôi để đến Hợp Phì và sau đó đi xe Bus để đến Cửu Hoa Sơn.
Dưới chân Vạn Lý
Những
ngày tại Cửu Hoa Sơn ▲
Từ Hefei (Hợp Phì)
đi Cửu Hoa Sơn đường dài 272 cây số; nhưng toàn là đường làng, do vậy đến
9 giờ đêm phái đoàn mới đến được khách sạn. Lần nầy chúng tôi gặp một anh
thông dịch tiếng Anh, mới đầu anh ta nói còn hiểu; nhưng nói lâu thì chỉ
đoán để mà dịch thôi, vì chẳng biết anh ta muốn nói cái gì. Có nhiều lúc
tôi muốn anh ta nói tiếng Tàu để Lương Nghị, người thông dịch tiếng Việt,
dịch thẳng ra tiếng Việt nhanh hơn; nhưng có lẽ anh ta cũng muốn chứng tỏ
rằng tại miền thánh địa nầy vẫn có người nói tiếng Anh được, cho nên anh
ta cứ tiếp tục giải thích bằng tiếng Anh và tôi cũng như Thầy Thông Trí cứ
đoán mà dịch.
Dọc hai bên đường
tôi trông thấy những ruộng lúa trải dài như những tấm thảm có màu xanh
vàng, đậm lợt khác nhau, dệt nên những gấm hoa của thiên nhiên và tạo vật,
trông đẹp mắt vô cùng. Thỉnh thoảng thấy có những vồng khoai lang được
trồng sát lề đường, có nơi được đào lên có màu đỏ tươi, trông mà mát mắt.
Ai trong đoàn cũng thích ăn rau tươi, nhất là rau lang và củ lang; nhưng
phải đợi đến mấy ngày sau mới thực hiện được, chứ trong lúc nầy chả ai dám
mơ tưởng gì hơn là sớm về khách sạn để nghỉ lưng. Nhưng hỡi ơi, là một
khách sạn bình dân, hôi hám, dơ dáy, nước chảy cùng phòng khiến ai cũng
sinh ra bực bội; nhưng ai trong đoàn cũng nghĩ là mình đang đi hành hương
chiêm bái các thánh tích của Phật Giáo, do vậy mọi chuyện lại cũng trôi
qua đi.
Cửu Hoa Sơn là một
trong bốn thánh tích của Phật Giáo, là nơi thị hiện của Đức Địa Tạng Vương
Bồ Tát.
Ngũ Đài Sơn là nơi
thị hiện của Đức Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát.
Nga Mi Sơn là nơi
thị hiện của Đức Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát.
Phổ Đà Sơn là nơi
thị hiện của Đức Quan Thế Âm Bồ Tát.
Ngũ Đài Sơn và Phổ
Đà Sơn chúng tôi đã đi lần trước. Lần nầy là chủ yếu đi hai nơi còn lại.
Tương truyền rằng
vào thế kỷ thứ 8 có Ngài Kim-Kiao-Kak (Kim- Kiều-Giác) người Đại Hàn, xuất
thân từ Hoàng tộc đã vượt biển để đến núi Cửu Hoa tu hành và Ngài đã ở núi
nầy tổng cộng là 75 năm. Trong 75 năm đó lúc nào Ngài cũng đi tìm Hóa thân
của Ngài Địa Tạng; nhưng cuối cùng Ngài đã viên tịch ở tuổi 99 và hào
quang đã tỏa rạng khắp nhục thân của Ngài; nên mọi người đã xưng tụng Ngài
là hóa thân của Địa Tạng Vương Bồ Tát. Tại đây cũng có 99 ngọn núi rất nổi
tiếng và rất cao; nên năm nay vào lúc 9 giờ sáng ngày 9 tháng 9 năm 1999
Hội Phật Giáo Trung Quốc được sự bảo trợ của chính quyền và Ủy Ban Tôn
Giáo Nhà Nước nên đã bắt đầu xây dựng một tượng Địa Tạng (Ksitigarbha) cao
99 thước trên một khu đất với diện tích 100.000 thước vuông và dự tính xây
cất tốn khoảng 400 triệu nhân dân tệ (tiền Trung Quốc), tức nhằm vào
khoảng 100.000.000 Đức Mã.
Tượng Địa
Tạng cao 99 thước tại Cửu Hoa Sơn đang xây dựng
Tượng nầy ở tại núi
Cửu Hoa thuộc tỉnh An Huy (Anhui). Không những tại đây chỉ xây tượng Địa
Tạng mà còn xây ngôi chùa Dajue (Đại Giác) gồm có 27 tòa nhà, điện đường
được liệt kê như sau:
1. Ngõ chính vào
chùa
2. Ngũ môn
3. Sơn môn điện
4. Thủy tạ đài
5. Thiên vương điện
6. Đại Hùng Bửu Điện
7. Chung cổ lầu
8. Giảng kinh đường
9. Tạng kinh lầu
10. Tôn tượng Địa
Tạng cao 99 thước
11. La Hán đường
12. Thiền đường
13. Giới đường
14. Vân Thủy đường
15. Tổ Sư điện
16. Tiếp Dẫn điện
17. Công Đức đường
18. Khách đường
19. Niệm Phật đường
20. Phương Trượng
liêu
21. Phật Giáo Nghiên
Cứu Viện
22. Diên Thọ đường
23. Tăng liêu
24. Trai đường
25. Thượng khách
đường
26. Đại liêu
27. Thoái cư liêu.
Trong 27 nơi nầy,
mỗi nơi bằng một chùa lớn của Việt Nam chúng ta, còn đa phần các chùa
chiền tại Trung Quốc đều cấu tạo như thế cả. Có lẽ vì dân đông, hay vì đầu
óc của người Trung Quốc to lớn nên mới làm được những chuyện vĩ đại như
vậy. Riêng Phật Giáo Việt Nam chúng ta cũng có hành trì pháp môn bố thí
đấy; nhưng tất cả còn giới hạn. Có lẽ quê hương ta còn nghèo chăng nên
những công trình của Phật Giáo tại quốc nội cũng như hải ngoại ít có công
trình nào đáng kể.
Tiện thể tôi xin
giải thích một vài danh từ khó hiểu trong 27 công trình trên:
11. La Hán đường là
nơi thờ 500 vị A-La-Hán
13. Giới đường là
nơi để tổ chức các kỳ thọ giới Sa Di, Sa Di Ni, Thức Xoa, Tỳ Kheo, Tỳ Kheo
Ni, Bồ Tát v.v...
14. Vân Thủy đường
để làm gì tôi không rõ, ngay cả tra tự điển Hán-Việt Phật Học tự điển cũng
không thấy có. Có thể để làm lễ phóng sanh chăng?
16. Tiếp Dẫn điện là
nhà quàng những người chết.
17. Công Đức đường
là nơi ghi tên cúng dường vào các Phật sự khác nhau của chùa.
19. Niệm Phật đường
là nơi Phật Tử đến tu theo Pháp Môn Niệm Phật.
20. Phương Trượng
liêu là nơi ở của vị Hòa Thượng.
22. Diên Thọ đường
là nơi cầu an hoặc cầu sống lâu.
23. Tăng liêu là nơi
ở của Tăng chúng.
24. Trai đường là
nơi dùng cơm.
25. Thượng khách
đường là nhà nghỉ đêm của khách.
26. Đại liêu là liêu
lớn có thể cho những vị Cư Sĩ giúp việc ở.
27. Thoái cư liêu là
nơi ở cho những vị đã quá tuổi làm việc. Đây giống như nhà dưỡng lão tại
Tây Phương.
So ra một ngôi chùa
Đại Giác tại Cửu Hoa Sơn như vậy cũng lớn hơn 50 đến 100 lần các ngôi chùa
Việt Nam của chúng ta, đó là chưa kể tượng Địa Tạng cao 99 thước. Một công
trình như thế được gọi là một công trình lịch sử được xây dựng bằng tiền
của cúng dường vào cuối thế kỷ thứ 20 nầy tại Trung Quốc. Dĩ nhiên chính
phủ, mặc dầu là Chính phủ Cộng Sản; nhưng họ hưởng được mối lợi trong công
trình qua việc thu vé vào cửa và nộp thuế cho nhà nước, nên dại gì mà họ
cản ngăn. Họ còn khuyến khích nữa là đằng khác.
Đêm đó chúng tôi ngủ
với một giấc ngủ chập chờn, rồi vẳng nghe đâu đây tiếng chuông chùa vào
canh năm. Thế là mọi người đều lục tục thức dậy dùng điểm tâm rồi lại lên
đường với những dụng cụ leo núi.
Đầu tiên chúng tôi
lên chùa "Hồi Hương Các" nơi đây có gặp Pháp Sư Huệ Quang, trụ trì ngôi
chùa. Ngài có giới thiệu sơ qua về Cửu Hoa Sơn. Phái đoàn đã cúng dường
xây chùa và Ngài đã trao quà lưu niệm.
Hồi Hương Các tại
Cửu Hoa Sơn.
Rời Hồi Hương Các,
phái đoàn đã lên đến "Phi Hoằng Kiều", nơi đây sơn thủy hữu tình. Tại đây
chúng tôi đã chụp nhiều hình lưu niệm. Cảnh vật tại đây y hệt như những
tranh thủy mạc của các họa sĩ tài hoa Trung Quốc phóng bút. Trên thì trời,
mây lồng lộng gió. Dưới chân núi có những cụm mây là đà lảng vảng dưới
chân khách trần ai, cảm như mình đã thoát tục. Đến đây tôi lại nhớ đến nhà
thơ Chu Mạnh Trinh đi thăm Chùa Hương đã tức cảnh sinh tình và đã có thơ
rằng:
Bầu trời cảnh Bụt
Thú Hương Sơn ao ước
mấy lâu nay
Kìa non non, nước
nước, mây mây
Đệ nhất động hỏi là
đây có phải
Thỏ thẻ rừng mai
chim cúng trái
Lững lờ khe yến có
nghe kinh
Thoảng đâu đây một
tiếng chày kình
Khách tang hải giật
mình trong giấc mộng
Này suối Giải Oan,
nầy đền Cửa Võng
Này hang Phật tích,
nầy động Tuyết Khuynh
Nhác trông lên ai
khéo vẽ nên hình
Đá ngũ sắc long lanh
như gấm dệt
Thấp thoáng một hang
lồng bóng nguyệt
Chập chờn uốn khúc
mấy thang mây
. . . . .
Lần tràng hạt niệm
Nam Vô Phật
Cửa Từ Bi công đức
biết là bao
Càng xem phong cảnh
càng yêu.
Nếu mà Chu Mạnh
Trinh còn sống, ông đã đến Cửu Hoa Sơn và đến Phi Hoằng Kiều nầy để thăm,
chắc rằng ông ta có nhiều bài thơ hay hơn thế nữa.
Đoạn đường cuối cùng
chúng tôi phải leo dốc sáng nay là chùa có ứng thân Bồ Tát Hải Ngọc. Ngài
đã tịch từ đời nhà Đường; nhưng hiện tại nhục thân vẫn còn tại đây. Điều
ấy chứng tỏ rằng trước khi Ngài Kim-Kiều-Giác đến đây năm 719 cũng đã có
nhiều vị Đại Sư đã tu chứng tại núi nầy rồi. Sau khi đảnh lễ nhục thân của
Ngài Hải Ngọc, phái đoàn chúng tôi xuống núi bằng đường bộ, dọc đường đi
thấy rất nhiều người đi kiệu lên núi để lễ Phật. Nhìn dáng thấy giống các
công tử từ Hồng Kông hay Đài Loan đến đây để thăm viếng nơi thánh tích
nầy; nhưng không đi bộ nổi, nên mới ngồi lên kiệu vậy. Kiệu là một cái ghế
làm bằng mây hoặc tre, hai bên có tay cầm, phía sau có chỗ dựa. Có hai cây
gỗ hoặc tre cột dài hai bên thành ghế và cứ thế hai người phu kê hai vai
vào khiêng. Nhiều lúc lên dốc cao trông rất ngộp; nên có nhiều người không
dám đi nữa. Đôi khi phải đổi thế ngồi. Ví dụ khi đi lên thì người ngồi
xoay mặt xuống, khi đi xuống thì xoay mặt lên chẳng hạn.
Thỉnh thoảng trên
đường đi xuống chúng tôi cũng gặp những người phu gánh sạn cát lên chùa.
Hỏi ra mới biết mỗi gánh nặng như thế chỉ được trả 4 Yuan, tức khoảng 1
Đức Mã. Đa phần những người hành hương cho thêm tiền và nói rằng shinku ne
(tân khổ = cực nhọc). Tiếng Nhựt thì nói gokurosama desu (khổ lao = cực
khổ lao nhọc) để tạo thêm sức mạnh cho người gánh, đồng thời cũng để động
viên cũng như cảm ơn họ nữa.
Nơi thờ nhục thân
của Ngài Kim-Kiều-Giác
Buổi chiều cả phái
đoàn đi bộ, chống gậy lên thăm Nhục Thân Bảo Điện; nơi đây có chôn Ngài
Kim-Kiều-Giác sau khi tịch. Cảnh trí nơi đây thật hùng vĩ; đúng là vị thế
của một vị Địa Tạng hiển thân vào đời Đường. Chúng tôi có vào chánh điện
và đi nhiễu chung quanh tháp của Ngài. Tháp nầy chôn ngay trong chùa. Có
lẽ trước đây tháp bên ngoài; nhưng sau nầy người ta xây chùa lên để tháp
đỡ chịu mưa nắng cũng nên. Cũng có nhiều người Đại Hàn đến đây hành hương.
Vì vậy thông dịch viên tiếng Đại Hàn ở đây cũng có nữa. Vì là quê hương,
là chốn của Tổ, mà vị ấy đến từ Đại Hàn; nên họ cũng đã được ảnh hưởng
lây.
Từ chùa nầy đi xuống
chùa Địa Tạng phải qua một tam cấp thẳng đứng gồm 99 nấc. Nếu ai đi không
lưu tâm, dễ bị vấp té. Chung quanh thang đá là những cây tùng, cây bách
sống cả ngàn năm vẫn còn trơ gan cùng tuế nguyệt. Có lẽ những cây nầy là
nhân chứng khi Ngài Kim-Kiều-Giác còn tu nơi đây, mà người xưa thì bây giờ
còn tìm đâu ra nữa. Nên lời kinh xưa vẫn còn vang vọng bên tai của tôi
rằng:
"Sơn trung tự hữu
thiên niên thọ
Thế thượng nan lưu
bá tuế nhơn"
Nghĩa là:
"Trong núi kia có
cây sống cả hằng ngàn năm
Nhưng đời người mấy
ai sống được trăm tuổi"
Quả đúng như vậy.
Con người qua sự biến đổi của cuộc đời, của nhân duyên nên giai đoạn
thành, trụ, hoại, không, nhiều lúc ngắn hơn là cây cỏ hay những động vật
khác nữa. Nhưng tất cả rồi cũng phải trở về không thôi. Tại chùa Địa Tạng
có an trí nhục thân của Ngài Từ-Minh Lão Sư. Ngài tịch cho đến nay đã được
8 năm. Sau khi chôn 4 năm thì đào lên và nhục thể của Ngài đang ngồi theo
lối liên hoa tọa và được thờ tại chánh điện chùa Địa Tạng nầy. Nghe đâu
tại toàn Cửu Hoa Sơn có đến 10 nhục thân của các vị Hòa Thượng. Chứng tỏ
rằng nơi đây đã có nhiều vị tu hành đã đắc đạo.
Phía trước Địa-Tạng
tự là Di-Lặc Đường. Chùa nầy đang xây cất, trông rất hùng vĩ. Mới chỉ nhìn
cái cổng Tam Quan không thôi đã thấy Việt Nam mình không có được ngôi chùa
nào như thế rồi. Quả là điều đáng suy nghĩ vậy. Trước Di-Lặc Đường có thờ
một tượng Di-Đà phóng quang, bằng đồng, cao 5 thước, trông rất uy nghi.
Tiếp theo chúng tôi viếng thăm Đại-Bi lầu. Nơi đây gặp các vị Sư đang Chẩn
Tế Cô Hồn.
Chùa nào tại Trung
Quốc trông cũng rất đồ sộ; nhưng chánh điện không rộng mấy. Vì ở giữa phần
tôn trí các tôn tượng đã chật hết cả ngôi chùa rồi. So ra với các chánh
điện chùa Việt Nam, chúng ta vẫn có cái đẹp hơn và rộng rãi hơn. Ví dụ vào
bất cứ chùa nào của Việt Nam cũng không được mang giày dép vào; nhưng ở
các chùa Trung Quốc thì ngược lại. Việc lễ Phật cũng không thoải mái bằng
các chùa của Việt Nam. Hình thức bên ngoài và cách điêu khắc tượng gỗ của
Trung Quốc, thì Phật Giáo Việt Nam chúng ta không bằng; nhưng bên trong
chùa, nhất là cách bày trí, Phật Giáo Việt Nam chúng ta khá hơn.
Tối đó quý Thầy, quý
Cô và một số quý Phật Tử đi thỉnh tượng tại các cửa tiệm. Tiện đây cũng
xin mở ngoặc để quý vị tường. Nếu quý Phật Tử đi hành hương tại Trung Quốc
chỉ có 2 nơi có tượng nhiều và tương đối đẹp, rẻ; đó là Phổ Đà Sơn và Cửu
Hoa Sơn. Nên cố gắng mang đeo gì đó; nhưng không nên tậu nhiều. Vì sẽ khổ
sở đèo bồng trên tuyến đường còn lại; nhưng nếu đã định thỉnh tượng; thì
nên thỉnh tại 2 nơi nầy, còn những nơi khác có rất ít tượng, mà tượng lại
không đẹp nữa.
Chùa Thiên
Thai
Ngày hôm sau
7.10.1999 cả đoàn lên xe Bus và sau đó ngồi lên thang máy treo (Cable car)
để lên núi cao 1.350 thước ở phía Đông và cũng là ngọn chính của Cửu Hoa
Sơn nầy. Hãng thang máy của Áo đã đầu tư vào những công trình xây dựng
thang máy treo nầy. Có lẽ vì xứ nầy có kỹ thuật xây dựng cao trong vấn đề
thang máy treo để đi trượt tuyết, nên nhà nước Trung Hoa đã gọi thầu vậy.
Đoạn đường thang máy đi bằng dây treo nầy là 476 thước, có nghĩa là gần
nửa cây số, độ chừng 12 phút thì tới đỉnh. Đỉnh nầy gọi là đỉnh Thiên
Thai. Không biết ngày xưa người ta di chuyển như thế nào mà có thể khuân
những khúc gỗ và đá cũng như gạch ngói để xây những ngôi chùa đồ sộ trên
chót núi cao hơn 1.300 thước ấy; nhưng ngói, xi-măng, sắt, vôi v.v... chắc
chắn phải mang từ dưới lên trên rồi, mà những ngày tháng xa xôi ấy làm gì
có thang máy hiện đại như ngày nay. Quả thật cái ý chí của người xưa đáng
thán phục biết bao! Trong khi đó đời nay người ta có đầy đủ phương tiện;
nhưng chẳng mấy ai quan tâm đến sự khổ nhọc nầy cả. Kể cũng hững hờ thật.
Từ trong xe Cable
nầy người ta có thể trông ra hai bên để nhìn cảnh vật chung quanh mình.
Những cây mây rừng cao vút; những bụi tre lồ-ồ thẳng ngọn; những cây tùng,
cây bách vươn cao vào không gian vô tận, để rồi chìm nghỉm vào các cụm mây
là đà bên chân lữ khách, thật xứng với một đoạn trong bài thơ Nhớ Chùa của
Huyền Không như sau:
"Có những cây mai
sống trọn đời
Bên hàng tùng trúc
mãi xanh tươi
Nhìn lên phảng phất
hương trầm tỏa
Đức Phật từ bi mỉm
miệng cười"
Đạo là thế, chùa là
vậy, chỉ đơn giản thôi; nhưng sao mà nó lại đẹp lạ lùng. Có lẽ thiên nhiên
đã ưu đãi cho những người muốn lánh cảnh trần ai tục lụy; nên đã trang bị
cho những nơi nầy một khung cảnh đẹp tuyệt trần.
Chánh điện chùa
Thiên Thai đang xây dựng
Qua khỏi trạm dây
Cable trên đỉnh Thiên Thai chúng tôi đã gặp một ngôi chùa rất hùng vĩ nằm
cheo leo trên triền núi gọi là Thiên Thai Phùng. Chùa bên trong gọi là Bái
Kính Đài; nơi đây chúng tôi đã gặp được vị trụ trì. Sau khi đàm đạo cũng
như cúng dường xây chùa, phái đoàn đã được Hòa Thượng đích thân hướng dẫn
vào đảnh lễ 2 bàn chân thật lớn của Ngài Kim-Kiều-Giác được in sâu vào
dưới đá và ngày nay khách hành hương ai đến đây cũng đều gục đầu vào để
tưởng nhớ đến người xưa và cầu nguyện. Có lẽ bàn chân của Ngài không lớn
đến thế; nhưng để diễn tả cái ý chí cao thượng của người xưa "đầu đội
trời, chân đạp đất" để làm nên nghiệp lớn; nên mới tạo ra phiến đá nầy để
mọi người hướng về những chuyện cao thượng trong quá khứ vậy.
Tại Bồ Đề Đạo Tràng
nơi gần cây Bồ Đề người ta cũng tạo nên 2 bàn chân như vậy. Dĩ nhiên Đức
Phật có phước tướng riêng; nên bàn chân có thể to lớn như vậy; nhưng vì
người đời sau nhân cách hóa ra nhiều lần; nên người bây giờ cũng khó hình
dung nổi là vậy.
Cạnh chùa Thiên Thai
Bây giờ mọi người
trong phái đoàn lại chống gậy đi lên trên đỉnh Thiên Thai. Đường đi cheo
leo, dốc núi thăm thẳm. Trông lên thấy ngộp; nhìn xuống thấy lo âu. Thế mà
chung quanh đoàn hành hương chúng tôi có không biết bao nhiêu người gánh
gồng, đội, mang, xách... nào đồ ăn, thức uống, rau cải, cát, xi-măng
v.v... nên ai cũng động lòng. Cứ thế mà dúi vào tay những người làm công
việc nặng nhọc nầy 1 Yuan, 2 Yuan v.v... Vì nghĩ đến thân mình đi còn
không nổi có cả cây gậy để chống nương thân. Trong khi đó những người làm
công việc nặng nhọc nầy cho chùa, công đức không biết sao mà kể cho xiết.
Bởi vậy khi Chu Mạnh Trinh thăm Chùa Hương cũng đã nói:
"Lần tràng hạt niệm
Nam Vô Phật
Cửa Từ Bi công đức
biết là bao
Càng xem phong cảnh
càng yêu"
Khi những người gánh
những gánh nặng nầy muốn nghỉ trên dốc bậc thang cấp, họ có một cây đòn
bằng gỗ chống phía sau nửa đòn gánh để nâng gánh đồ lên cho cân bằng với
nửa gánh phía trước; đoạn họ sẽ tiếp tục cuộc hành trình bằng cái khom
lưng đơn giản, có thể đưa gánh lên một cách nhẹ nhàng. Trong đoàn cũng có
nhiều người kê vai vào gánh thử; nhưng chẳng ai nhấc lên nổi, làm gì có
chuyện gánh lên núi. Duy chỉ có Bác Diệu-Cao ở Hamburg đã có thể nhấc lên
rồi để xuống mà thôi. Nên ai trông thấy những gánh cát như thế cũng lè
lưỡi ra cả. Có hai người gánh rau cải đi theo lên tới đỉnh và yêu cầu
chúng tôi mua cúng vào chùa cho Tăng chúng. Chúng tôi đã làm điều đó trong
một ý nghĩa thật chơn thành. Trong gánh rau lên núi ấy nào củ sen, nào cải
bẹ, nào mướp, nào bí v.v... có cả đậu nành tươi, khoai lang đỏ nữa. Trông
món nào cũng nặng tình nặng nghĩa của cửa từ bi cả; nên chúng tôi đã chẳng
so đo gì để tiến cúng vào chùa cho chư Tăng có cái tươi mát của Vitamin.
Kỳ nầy cả đoàn đi
nhiều núi, mà leo dốc nhiều nhất có thể nói là tại Cửu Hoa Sơn. Tuy
Emeishan (Nga Mi Sơn) cao hơn Cửu Hoa Sơn (Jiuhuashan) đấy; nhưng đi dây
Cable nên đỡ mệt hơn tại đây. Nếu làm con số tính nhẩm, cả kỳ nầy đi bộ
chừng 8.000 bậc thang dốc thoai thoải lên các núi cao. Riêng tôi phải dùng
2 cây gậy. Một tại Cửu Hoa Sơn và một tại Nga Mi Sơn. Có nhiều người mệt
đã phải đi kiệu; có nhiều người nghĩ rằng mình sẽ không bao giờ leo lên
hết núi được; nhưng cuối cùng nhờ tự lực và tha lực cũng như câu niệm Phật
A-Di-Đà; nên ai ai cũng tròn ước nguyện.
Từ trên núi Thiên
Thai cao ngất người ta đang xây dựng lại chùa và từ đây nhìn xuống bên
dưới thấy mây, thấy trúc ẩn hiện với nhau, chẳng khác những gì như nhà thơ
Huyền Không đã diễn tả trong bài thơ "Nhớ Chùa" :
Thấp thoáng đâu đây
cảnh tượng làng
Có con đường nhỏ
chạy thênh thang
Có hàng tre gợi hồn
sông núi
Im lặng chùa tôi
ngập ánh vàng"
Trên đỉnh Thiên Thai
Chúng tôi dừng chân
dưới triền núi để dùng cơm trưa. Cơm trưa hôm ấy gồm những củ khoai lang
nướng; những trái lê mang từ Bắc Kinh đến và uống nước suối; nhưng ngon
miệng lạ lùng. Có lẽ vì núi cao, cảnh rộng; nên lòng người cũng dễ chịu
hơn chăng? nên đã chấp nhận những thức ăn như thế rất dễ dàng.
Đông Nhai Thiền Tự
Những người hành
hương qua lại trông thấy chúng tôi lạ nên hỏi từ đâu tới và họ cũng tò mò
hỏi xem cách phục sức của những Sư Cô người Việt Nam mình. Vì cách phục
sức của quý vị Sư Ni tại Trung Quốc khác hơn người Việt mình.
Cả đoàn từ từ xuống
núi. Bây giờ không ai còn than gì khó nhọc như lúc leo lên nữa; nhưng ai
cũng phải để ý đến những độ dốc thoai thoải khi hạ sơn. Quả thực đường lên
cảnh giới giác ngộ cũng không phải dễ, mà đường xuống núi độ sanh cũng đâu
có đơn giản chút nào. Vậy mà đã có không biết bao nhiêu đôi giày rách qua
lại, lại qua ở ngưỡng cửa Ta Bà nầy để cứu khổ độ mê đây. Quả là tâm Bồ
Tát của chư vị đã trải dài đến cõi vô biên thế giới hữu hình nầy. Điều ấy
đáng để cho chúng ta quy mệnh, đảnh lễ biết là dường bao!
Trên núi Cửu Hoa Sơn
nhìn xuống
Dưới sát chân núi có
một cây "Phượng Hoàng Tùng" đã tồn tại nơi đây hơn 1.400 năm kể từ thời
Nam Bắc Triều mà vẫn còn xanh mướt với thời gian. Có cả đầu, cánh, đuôi,
chân. Nhìn xa, nhìn gần gì cũng thấy giống như một con Phượng Hoàng to lớn
đang giương cặp mắt hướng vào khoảng không gian vô tận để nhìn đời qua bao
lẽ biến thiên của lịch sử vậy.
Phái đoàn lại tiếp
tục chống gậy leo núi để thăm chùa Huệ Cư do Hòa Thượng Thích Ngộ Thiền
trụ trì. Sau khi dùng trà nước và giới thiệu, Ngài Hòa Thượng trụ trì đã
hướng dẫn phái đoàn lên thăm chùa "Cửu Thiên Huyền Nữ Thánh Mẫu Điện".
Chùa nầy được một vị Công chúa Thái Lan mới đây đã bỏ tiền ra để xây dựng.
Theo Ngài trụ trì bảo rằng đây là hóa thân của Đức Quan Thế Âm Bồ Tát. Tôi
thì không nghĩ như vậy. Vì trong 32 hóa thân bình thường của Đức Quan Thế
Âm không có hóa thân Cửu Thiên Huyền Nữ, mà ngay cả 500 hóa thân của Đức
Quan Thế Âm cũng không có nữa. Có lẽ đây do tập tục của người Trung Hoa
còn sót lại chăng? Dẫu sao đi nữa vẫn là một điềm tốt; nhưng đừng biến mọi
người vào mê tín dị đoan là hay rồi.
Bên cạnh
Phượng-Hoàng Tùng, 1.500 năm tồn tại
Sau đó phái đoàn
xuống chùa Địa Tạng đảnh lễ nơi Ngài Kim-Kiều-Giác tu suốt 49 năm tại chùa
nầy trong thời gian tổng cộng 75 năm Ngài đã ở tại núi Cửu Hoa. Sau khi
đảnh lễ, chiêm bái và cúng dường mọi nơi, phái đoàn lên xe Bus về chân
núi, tìm đến văn phòng đại diện xây tượng Địa Tạng cao 99 thước để cúng
dường. Người Trung Quốc có cách cúng dường cũng hay và mới lạ so với người
Việt Nam. Ví dụ số tiền đến bao nhiêu là được khắc tên bên dưới cùng. Số
tiền bao nhiêu là tên mình được khắc lên những cánh sen và cứ thế nhân lên
cho đến trên đầu, trên tóc của Đức Phật. Chỉ có cách nầy mới mong công
trình to lớn như vậy sớm hoàn thành.
Tôi nhớ không lầm ở
Nhật cũng thế. Các vị Đại Sư của Nhật xây chùa xong; nhưng không đủ tiền
lợp ngói bằng đồng; nên đã có sáng kiến là ai muốn cúng ngói thì ghi tên
vào sổ lưu niệm để sau nầy người ta sẽ khắc tên vào ngói và để đời đời tại
chùa đó. Quả là một cách cúng dường tự nguyện nhưng rất cao cả và dễ thành
công.
Nhìn chung phong
cảnh tại Cửu Hoa Sơn rất là hùng vĩ đáng ca ngợi là một trong bốn danh sơn
lớn của Trung Quốc. Quả thật người xưa chọn mặt gởi vàng không sai một mảy
may nào cả. Nhất là một mai đây khi chùa Đại Giác hoàn thành thì cảnh trí
tại Cửu Hoa Sơn còn đẹp đẽ hơn xưa rất nhiều. Vì chùa nầy có đầy đủ phương
tiện hơn các chùa khác tại bản địa nầy.
Đến Nam Kinh
▲
Khi còn học Giáo Dục
tại Đại Học Đế Kinh (Teikyo) ở Đông Kinh, tôi và Yamada Yukio học cùng
phân khoa; nên hay gần gũi nhau để chỉ bài cho nhau. Thời gian ấy từ
73-77. Mới đó mà cũng đã 25 năm trôi qua rồi. Yamada đến từ tỉnh Nigata,
nằm về phía Đông-Bắc của Tokyo. Có nhiều lúc chúng tôi đố chữ với nhau. Ví
dụ như cà chua tiếng Nhựt gọi là gì? Anh ta bảo rằng cà Tomato. Tôi bảo
sai. Vì lẽ tiếng Nhựt không có chữ đó. Tôi bảo rằng có. Đó là Akai Nasu
(cà đỏ). Nếu không tin hãy dở tự điển ra mà xem. Đúng là như thế. Ngày nay
người Nhựt dùng tiếng ngoại quốc rất nhiều để chua vào nhiều chữ trong
câu; nên những thế hệ sau không hiểu nguyên ngữ của nó là gì nữa!
Một hôm tôi hỏi
Yamada rằng:
- Bắc Kinh tiếng
Nhựt gọi là gì?
- Anh ta bảo rằng:
Peking.
- Nam Kinh gọi là
gì?
- Nanking.
- Tây Kinh gọi là
gì?
- Seiking.
- Còn Đông Kinh gọi
là gì?
- Tongking.
- Có phải như thế
không đó? Tôi hỏi lại.
- Anh ta hỏi. Chứ
gọi là gì?
- Hãy gọi là Tokyo.
Vì Đông Kinh không
có nơi bản đồ Trung Quốc. Chẳng biết tại sao, mà hình như Tây Kinh cũng
không thông dụng mấy. Chỉ có Nam Kinh và Bắc Kinh là nổi tiếng mà thôi.
Vào lúc 6 giờ 30
phút ngày 8.10.1999 phái đoàn rời khách sạn, lên xe Bus để đi Nam Kinh. Từ
Cửu Hoa Sơn đến Nam Kinh xa lộ rất tốt. Tuy xe chạy hơi chậm, khoảng 12
giờ 30 phút thì phái đoàn đã đến Nam Kinh. Chúng tôi sau khi dùng trưa đã
đến thăm lăng của Bác sĩ Tôn Dật Tiên. Tôn Dật Tiên là người có công lật
đổ triều nhà Thanh vào ngày 10.10.1911 để lập nên Chính phủ Cộng Hòa Trung
Hoa với 3 chủ trương chính là: Dân Sinh, Dân Tộc và Dân Quyền. Ông ta là
người ảnh hưởng tân học và những chủ trương như thế thời bấy giờ đã gặp
được nhiều người hưởng ứng. Người Trung Hoa gọi Tôn Dật Tiên là Tôn Trung
Sơn. Vì đây là hiệu của ông ta và nơi chôn ông ta gọi là lăng, như lăng
vua để chỉ sự cung kính của người Trung Hoa đối với ông lúc bấy giờ.
Chúng tôi đến thăm
lăng của ông thấy bên ngoài đề bốn chữ Hán thật lớn : Thiên hạ vi công,
có nghĩa là Trời Đất là của chung. Có lẽ đây cũng là một chủ trương cải
cách lúc bấy giờ. Vì lẽ vua chúa chủ trương ngược lại. Họ là con trời; nên
muốn xử sự đối với thần dân như thế nào, thì nhân dân phải cam phận chịu.
Tất cả đều được tóm thâu quyền hành vào một mối; nhưng ở đây thì không.
Vì: Của là muôn sự của chung. Tiếp đi vào trong thấy 2 chữ :
.......... Bác Ái, và bước lên nhiều thang cấp cao trên một ngọn đồi thấy
có ghi 4 chữ ...................: Thiên hạ chánh khí. Phía dưới bên giữa
ghi ......... : Dân Sanh; bên tay phải có ghi ......... : Dân Tộc và bên
tay trái có ghi ........ : Dân Quyền. Đây là 3 chủ trương chính của Tiên
sinh. Trước mả của Tiên sinh có ghi Hạo Khí Trường Tồn và hai bên tường tả
hữu có khắc lại bản Tuyên Ngôn của Quốc Dân Đảng và những lời nhắn nhủ
của Tiên sinh với các đồng chí của ông ta rằng: Hãy
Phái đoàn chụp hình lưu niệm trước mộ Bác sĩ Tôn Dật Tiên ở Nam Kinh
thực hiện những gì còn lại mà ông đã chưa làm được. Điều đặc biệt ở đây là
trên vòm của lăng có cẩn lá cờ Trung Hoa Quốc Dân Đảng mà cho đến ngày hôm
nay (1999) vẫn còn. Mặc dầu cách mạng văn hóa đã là cơ hội để đập phá biết
bao nhiêu là chùa chiền và cơ sở khác; nhưng nơi đây nhờ ông Chu Ân Lai
cản ngăn nên mới còn lại đến ngày hôm nay. Lá cờ nầy hiện Trung Hoa Dân
Quốc (Đài Loan) đang xử dụng. Năm 1949 Mao Trạch Đông đã thắng Nhựt và
Quốc Dân Đảng; nên Tưởng Giới Thạch đã chạy ra Đài Loan lập quốc tại đây;
trở thành nước Cộng Hòa Trung Hoa mà Trung Cộng sau khi lấy lại Hồng Kông
vào năm 1997 cũng như Macao vào năm 1999 sau 442 năm làm thuộc địa của xứ
Anh và Bồ Đào Nha, họ có ý đồ muốn sáp nhập Đài Loan để trở thành một quốc
gia và 2 thể chế; nhưng liệu điều nầy có sáp nhập được hay không, hãy chờ
thời gian phân giải. Vì gần 50 năm lập quốc tổng sản lượng của Đài Loan 18
triệu người đã hơn tổng sản lượng của hơn 1 tỷ người Trung Quốc trong hiện
tại. Vậy mới thấy chủ nghĩa nào ưu việt hơn, người dân họ cũng đã tự biết
rồi.
Phía chính giữa có
để một cỗ quan tài bằng đá, trên đó có tạc hình của Tôn Dật Tiên; nhưng
người hướng dẫn du lịch cho biết rằng xác đã được chôn sâu dưới 5 thước.
Dẫu sao thì sự thành, trụ, hoại, diệt, của thế gian cũng không làm cho
người tu như tôi nao núng. Bây giờ có còn chăng chỉ là cái tinh thần của
Tiên sinh để lại mà thôi. Còn vào đây chỉ để xem tượng đá và xác chết, đâu
có ý nghĩa gì; nhưng nếu đã đến mà không xem, thì sẽ không biết thực tế
như thế nào; nên chúng tôi đã cố gắng đến đây để thăm lại cuộc bể dâu và
biến thiên của lịch sử.
Chùa Kim Sơn
Người thông dịch
viên bằng tiếng Đức nơi đây rất sành sõi, sau khi hướng dẫn chúng tôi thăm
lăng mộ Bác sĩ Tôn Dật Tiên đã cho mọi người lên xe Bus để qua thăm lăng
vua Minh Hiếu. Trên thực tế thì lăng nầy đang được khai quật nên du khách
chưa được vào. Từ ngoài đường phố chính, khách lữ du thấy phía trước có
một cổng nhỏ dẫn vào và bên trong là một cái gò cao. Nơi ấy đã an trí vị
Hoàng đế Minh Hiếu. Minh Hiếu Hoàng Đế chính là Chu Nguyên Chương, ông nầy
lúc nhỏ cũng ở chùa như Lý Công Uẩn của Việt Nam chúng ta. Ông ta là một
nông dân, tập họp quân lính lại để đánh quân Mông Cổ. Mông Cổ cai trị
Trung Hoa từ năm 1271-1368, gần 100 năm ấy quân Mông Cổ cũng đã 3 lần đến
xâm lăng nước ta vào đời nhà Trần; nhưng cả 3 lần đều thua. Lúc bấy giờ
nước ta có những tướng tài như Trần Hưng Đạo, Yết Kiêu, Dã Tượng và 4
người con trai của Hưng Đạo Vương và nhất là tinh thần của Hội Nghị Diên
Hồng là tinh thần Bi-Trí-Dũng của Phật Giáo, nhờ thế mới thắng được quân
Nguyên Mông. Trong khi đó quân Mông Cổ đã chiếm đến Thổ Nhĩ Kỳ và Âu Châu;
nhưng đến Việt Nam thì bại trận, để rồi những năm của thế kỷ thứ 20 Mông
Cổ lại bị lệ thuộc Trung Hoa. Cho hay ở đời, thắng bại là lẽ thường, chẳng
có gì để lo toan cả. Vì khi được thì vui, khi thua thì buồn. Đó là lẽ
thường tình của thế nhân vậy.
Người xưa chết chôn
cả lính đá, ngựa đá, sư tử, lạc đà bằng đá theo cùng để tượng trưng cho
sức mạnh đương quyền và chứng tỏ cho lịch sử là đời vua chúa không bao giờ
băng hoại; nhưng có cái gì tồn tại mãi với thời gian đâu. Đúng quả là sự
lẩm cẩm của con người. Mỗi con vật như vậy tượng trưng cho một ý nghĩa. Ví
dụ:
- Con sư tử tượng
trưng cho sức mạnh của vua.
- Con lạc đà tượng
trưng cho sự an ổn.
- Con ngựa tượng
trưng cho sự hòa bình.
- Con voi tượng
trưng cho sự trung thành
- và mỗi con đứng
tượng trưng cho Dương
- những con ngồi
hoặc nằm tượng trưng cho Âm
Đây là âm dương ngũ
hành hay âm dương hòa hợp như Đạo Lão đã chủ trương.
Phái đoàn đã lên xe
Bus đi tham quan thành phố. Dọc đường có những cây phong rất đẹp. Mùa
Xuân, phong ra lá xanh tươi, mùa Hạ cho bóng mát, mùa Thu có lá vàng rơi.
Đồng thời khi cây phong nở hoa và ra trái cũng là lúc cây phong làm cho
nhiều người bị dị ứng; nên đã bị cảm, bị bịnh rất nhiều.
Đường phố tại Nam
Kinh rất rộng, thoáng mát và văn minh có thể nói trước cả Âu Mỹ. Ví dụ như
cách dùng đèn xanh đỏ ở ngoài phố như sau: Trước mỗi ngã tư có đèn tự động
có ghi 40 sao cho cả xanh và đỏ. Nếu người lái xe đến thấy đèn đỏ còn 15
sao, điều ấy có nghĩa là còn 15 sao nữa thì bắt đầu đề máy chạy. Ngược lại
khi đèn xanh cũng vậy, khi thấy ở đèn xanh còn 2 sao nữa phải bắt đầu dừng
lại là vừa, kẻo chạy thêm sẽ bị đèn đỏ. Tổ chức như vậy thật là khéo, ai
cũng an tâm để lái xe, cả xe hơi lẫn xe đạp. Ở đây có đường cho xe đạp
chạy riêng như ở Đức, không giống như Bắc Kinh hoặc một số thành phố khác.
Trước đệ nhị thế
chiến thành phố nầy bị Nhật chiếm với tư cách là Châu Á của người Á Châu
qua sự kiện chiến tranh Nha Phiến ở Mãn Châu và họ cũng nhân cớ nầy mà xâm
lăng đến Việt Nam cũng như toàn cõi Đông Nam Á. Cuối cùng vào năm 1945 hai
quả bom nguyên tử của Mỹ cho nổ tại Nagasaki và Hiroshima khiến Nhật phải
đầu hàng và thế giới sau đệ nhị thế chiến (1939-1945) đã bước vào một kỷ
nguyên mới.
Thành phố nầy là
thành phố kết nghĩa với Tiểu bang Baden Würtenberg và Nordrhein Westfallen
của Đức nên cũng đã có một chút ảnh hưởng của văn hóa Đức tại đây. Nghe
đâu ông Thủ Tướng Schröder của Đức cũng đang ở Trung Cộng lúc phái đoàn
chúng tôi đang hành hương tại đây và ông ta cũng dự định sẽ đến thăm thành
phố Nam Kinh nầy.
Chiều đó phái đoàn
về khách sạn Tân Thế Kỷ để nghỉ ngơi và chờ ngày mai sẽ lên đường đi đến
nơi khác. Đúng là tâm lý của con ngưòi - đến chỗ nào khổ ai cũng lo toan,
khó chịu, khi đến chỗ đầy đủ tiện nghi mặt mày ai cũng hớn hở vui cười.
Nếu cuộc đời chỉ bị lệ thuộc như vậy thôi, thì vòng luân hồi nầy chắc sẽ
quay không bao giờ ngừng nghỉ. Ở đây chúng ta phải làm sao, nhất là những
người Phật Tử, phải tự hiểu rằng cuộc đời nầy khổ vui không có gì là thực
tướng cả. Vì tất cả đều bị biến đổi bởi vô thường, khổ, không và vô ngã
nên không có gì để trói buộc tâm ta và cố gắng làm sao vượt ra khỏi sự đối
đãi nầy thì mới hiểu được chơn tinh thần của Đạo Phật vậy.
Khi đến các thành
phố Nam Kinh, Thượng Hải, Quảng Châu v.v... nhất là càng đi về phía Nam
của Bắc Kinh thì người ta không còn cảm nhận nhiều ảnh hưởng chính trị của
phương Bắc nữa; nên đời sống của người dân ở đây rất thoải mái tự do. Nhà
cửa sạch sẽ, mới mẻ; những cao ốc vươn lên đến tận bầu trời... là những
biểu hiệu của sự tiến bộ và mong rằng Nam Kinh sẽ là nơi có nhiều du khách
đặt chân đến.
Tại chùa Kim Sơn và Vô Hy
▲
Trên đường đi đến
Vô Hy phái đoàn chúng tôi ghé thăm chùa Kim Sơn. Đây là một ngôi chùa khá
nổi tiếng ở vùng nầy. Chùa nầy còn gọi là Giang Thiên Thiền Tự
....................... . Có lẽ nằm gần con sông Dương Tử và cảnh trí
thiên nhiên trời đất bao la hùng vĩ; nên gọi là Giang Thiên cũng nên. Tên
nầy do vua Khang Hy đổi ra, sau khi đến chùa thăm phong cảnh tại đây.
Hầu hết các chùa của
Trung Quốc đều xây về hướng Nam. Chỉ có duy nhất chùa nầy xây về hướng Tây
mà thôi. Lý do xây về hướng Tây được giải thích rằng: Trước đây chùa cũng
xây về hướng Nam; nhưng thường hay bị hỏa hoạn. Khi cháy thì không có nước
để dập tắt ngọn lửa. Do vậy mà chùa đổi lại xây về hướng Tây; nếu hỏa hoạn
có xảy ra, lấy nước sông Dương Tử để chữa cháy cho kịp thời; nhưng lạ
thay, từ khi thay đổi hướng đến bây giờ, chùa không bị cháy nữa.
Tháp chùa Kim Sơn
Tại chùa n