Tiếng Việt

Trang nhà Quảng Đức

   Tiếng Anh 

qd.jpg (8936 bytes)

Thánh Tích Phật Giáo


...... ... .


Pháp Tạng 79

 PL. 2547 - 2003

 

Lịch Sử Chùa Tháp Trung Quốc

 

Chủ biên: Trương Mạn Ðào

Việt dịch: Tuệ Khai cư sĩ

Hiệu đính: Thích Ðỗng Minh

Chú thích: Thích Tâm Nhãn

---o0o---
 

HÌNH TƯỢNG CÙNG SỰ PHÁT

TRIỂN CỦA “A-DỤC VƯƠNG THÁP” QUAN HỆ VỚI TRUNG QUỐC

 

Nguyên tác: Trương Ngự Hoàn

Việt dịch: Tuệ Khai Cư Sĩ  

 

Tháp Phật của Trung Quốc thì theo sự truyền bá của Phật giáo mà phân bố ở các vùng đất trên toàn quốc, số lượng rất nhiều, lớn nhỏ chẳng đồng. Về kết cấu, kiểu dáng, phong cách sẽ nói đến thì thật là phong phú, đa dạng mà tài tình ở sự biến hóa.

Nguyên hình cơ bản của tháp Phật từ Ấn Ðộ sau khi truyền vào Trung Quốc, hình thức kiến tạo ấy hướng theo bốn phương diện mà phát triển: Một là đem hình thức kiến tạo ấy cùng với lối kiến trúc lầu các đời Hán dung hợp với nhau làm thành tháp Phật kiểu lầu các Trung Quốc1. Ðây là dòng chủ lưu trong sự phát triển tháp Phật Trung Quốc. Ở trong hệ thống của cái hình thức ấy có thiên biến vạn hóa. Một hệ thống khác là đem kiểu bát úp hình bán cầu tiếp tục mở rộng, độc lập kiến tạo một thứ tháp hình cái bình mà thời Bắc Ngụy trở đi đã bắt đầu phát triển. Từ thế kỷ mười ba, từ Tây Tạng qua Thanh Hải, Nội Mông Cổ cho đến đông bắc, các vùng đất Hoa Bắc đa số đều kiến tạo kiểu tháp ấy mà quen gọi là “Tháp Lạt Ma”. Loại thứ ba là chịu ảnh hưởng Ðại Tháp Phật Ðà Già Gia mà tháp Kim Cương Bảo Tòa sản sinh ra, loại này ở Trung Quốc kiến tạo rất ít, chỉ riêng ở Bắc Kinh và Hô-hòa-hạo-đặc (?) cộng có ba tòa. Loại thứ tư tựu trung là “A-dục Vương Tháp”, vấn đề bàn luận chủ yếu của bài văn này. Tháp tức là mộ phần chôn cất linh cốt Xá-lợi của bậc Thánh hoặc là di vật của bậc Thánh.

Sự tạo hình của tháp A-dục Vương là đắp nền tháp cao thêm, bát úp hình bán cầu dần dần co nhỏ lại, rồi loe ra hình hoa mà bên trên lập “sát hãn”2. Một hạng là cất giữ Xá-lợi Phật, cung phụng ở bên trong tháp lớn, hoặc là cung phụng ở bên trong tháp điện được kiến tạo độc lập.

Riêng về tháp A-dục Vương đã trải qua sự hình thành một hệ thống thể chế riêng biệt trong tháp Phật của Trung Quốc. Về phương diện thời gian mà bàn luận thì hầu như sớm hơn đối với những tháp Phật thuộc hình thức khác mà trải qua hàng ngàn năm được trí tuệ của nhân dân sáng tác. Tuy ở trong loại hình Phật tháp bất dồng nhưng thủy chung vẫn có thể bảo trì được phong thái đặc thù của chúng.

 “Tháp A-dục vương” cái danh xưng ấy, căn cứ vào sử ghi chép của sử tịch Phật Giáo thì thời kỳ thống trị của vua A-dục ở Ấn Ðộ, trong thời kỳ cổ đại vào khoảng năm 270 đến năm 60 trước Công Nguyên. Sử tịch cho rằng nhà vua vì cúng dường Xá-lợi đức Phật nên xây dựng tám muôn bốn ngàn ngôi tháp. Ðó là mở đầu việc xây dựng tháp A-dục Vương. Từ khi ấy, việc xây dựng chùa được gọi là chùa A-dục Vương, việc tạo lập tháp được gọi là tháp A-dục Vương. “Pháp Uyển Châu Lâm - Cố Tháp Bộ” ghi chép việc Tam Tạng An-pháp-khâm người An Tức, đời Tây Tấn theo lệnh vua dịch “A-dục Vương Truyện”, đều nói là vua A-dục đã tạo lập tám muôn bốn ngàn ngôi tháp mà tại Trung Quốc có mười chín tòa. Trung Quốc có tháp A-dục Vương bắt đầu vào khoảng niên hiệu Xích Ô nhà Ngô thời Tam Quốc. Khoảng năm ấy, Khương-tăng-hội đến Ðông Ngô với Xá-lợi của đức Phật, xây dựng chùa Kiến Sơ ở Kim Lăng và lập tháp A-dục Vương. Như chứng cớ nói là “Năm thứ tám niên hiệu Ðại Ðồng nhà Lương (năm 542 TL), vua Võ Ðế cải tạo tháp Phật A-dục Vương (tức là nền cũ chùa Ðại Báo Ân ở Nam Kinh ngày nay), đào ra bên dưới ngôi tháp cũ được Xá-lợi và móng, tóc của Phật...”3 thì tháp này là một trong mười chín tòa tháp của Trung Quốc. Những Phạm tăng Ấn Ðộ đến từ phương tây truyền Kinh điển, phần nhiều họ có mang theo Xá-lợi Phật Thích Ca hoặc của Bích Chi Phật, đến nơi họ tạo lập tháp cúng dường. Những tháp ấy đều noi theo gọi là tháp A-dục Vương, kỳ thật thì vượt ra ngoài mười chín ngôi tháp ấy xa lắm, chỉ trên phương diện hình thức kiến tạo còn tương tợ mà thôi.

Về sau, thế kỷ thứ mười Tây lịch, Ngô Việt Vương Tiền Hoằng Thúc thời Ngũ Ðại ở Trung Quốc, tạo lập “tám muôn bốn ngàn tòa tháp” chôn cất ở các danh sơn trong nước, độ lớn nhỏ của tháp không bằng nhau, có cái cao năm tấc. Về hình trạng của tháp ấy thì theo chứng cứ nói là phỏng theo tháp A-dục Vương, bên trong tháp khắc ghi đề mười chín chữ: “Ngô Việt Vương Tiền Hoằng Thúc Kính Tạo Bát Vạn Tứ Thiên Bảo Tháp Ất Mão Tuế Ký”4. Xem xét sự ghi chép từ các thứ văn hiến thì tuy niên đại tạo tác chẳng đồng nhưng thường những tháp theo loại hình này đều nhất trí xưng là tháp A-dục Vương. Hiển nhiên nó cùng với những tháp của loại hình khác là có sự khu biệt. Ngoài đây ra, ở trong một số ít văn hiến thường thường gọi loại tháp này là Kim đồ tháp, Vương đồng tháp, Tiểu đồng tháp, Kim đồ thiết tháp, Phúc Bát thức tháp v.v... thật ra là tên khác của tháp A-dục Vương5.

Nguyên lai hình chế của tháp A-dục Vương đồng dạng từ nguyên hình cơ bản của những mộ phần Ấn Ðộ trong thời cổ đại, rồi trong quá trình phát triển lại chịu ảnh hưởng của nghệ thuật Kiền-đà-la6 mà hình thành. Bộ phận dưới của mộ phần lộ bày ra tòa nền bằng và cạn, thân tháp hình bán cầu, hướng về trước phát triển trở thành hình trạng phúc bát (bát úp) ngày nay, bên trên ấy tăng thêm một cái đỉnh đài bằng làm thành “sát hãn”, “tướng luân”. Tòa nền về sau tăng cao mà trở thành thân tháp hình vuông. Hình thức cơ bản của tháp A-dục Vương do Trung Quốc đúc tạo thì trên đại thể vẫn còn cùng với đó tương cận. Hình tượng tháp A-dục Vương điêu khắc ở ngôi Ðại tháp “Bố-lạc-bố-đa-nhỉ” (Burobudor) nơi đảo Trảo Oa (Java) tại Ni Tây Á - Ấn Ðộ và dạng thức tháp A-dục Vương thời kỳ sau của Trung Quốc rất giống nhau (Bố-lạc-bố-đa-nhỉ). Lại như trên bình đài của đỉnh tháp tăng thêm cánh hoa thì giống như hình thức “tiêu diệp” “sơn hoa” (lá chuối, hoa núi) ở trên trướng đạo Phật từ đời Tống trở về sau. Ngoài đây ra, một số ít tháp của Việt Nam, Lão Qua (Lào), Miến Ðiện cũng có loại dạng thức tương tợ.

Hình tượng tháp A-dục Vương, mặt bằng vuông vức, độ cao từ một tầng đến ba tầng không đồng đẳng, là một loại tháp đặc ruột (thật tâm tháp). Tháp do ba bộ phận tòa nền, thân tháp, sát tháp tổ hợp thành. Tháp làm ra để chôn cất Xá-lợi, pháp vật có tính chất kỷ niệm của các bậc Thánh Phật Giáo - Phật Ðà, Bồ-tát, Bích Chi Phật, La-hán. tạo hình nhỏ thì tháp có thể được chưng bày ở ngôi điện thờ tháp hay bên trong khám thờ Phật. Tạo hình lớn thì có thể xây dựng tháp độc lập ở trong khuôn viên chùa, viện làm thành một tổ hợp kiến trúc chùa viện.

Tháp A-dục Vương không luận là tạo hình lớn hoặc giả là hình nhỏ, cứ một mực mà xem thì nền đài, tòa đài của nó đều có mấy lớp, bề mặt điêu khắc tượng Phật hoặc lan can, hoặc giả là làm tòa Tu Di, làm cho thân tháp đạt đến tác dụng vững chắc ngấm ngầm. Thân tháp là một cá thể hình vuông, mỗi mặt chạm khắc mặt khám thờ, tượng Phật. Ðầu khám thờ làm bức ngăn hình vòm theo kiểu nguyên thỉ, ở chung quanh chỗ ấy chạm khắc hoa văn hoa sen, hoa văn mây trời v.v... tỉ mỉ kín đáo. Trên bình đài ở phần mở lớn trên thân tháp của ngọn tháp làm thành “sơn hoa, tiêu diệp”, hình thức tàu lá cao mạnh mẽ, ngọn chót lá hướng ra ngoài, xiên ngước lên, phía sau đường cung tròn của “phúc bát” co nhỏ lại làm lộ bàn nhỏ xuất hiện, “sát hãn” đặt ở trung tâm “phúc bát”, trên “sát hãn” “tướng luân” tầng tầng liền suốt.

Vật liệu của tháp A-dục Vương sử dụng là dùng Kim loại (kim thuộc ) chế tác và gạch đá cấu tạo. Tháp hình nhỏ cúng dường ở nội bộ điện thờ tháp thì phần nhiều dùng vàng, bạc, đồng, sắt mà đúc tạo. Như tháp trát vàng chế tạo bằng sắt thì hình thức chế độ tạo tượng Phật cùng tháp trát vàng hoàn toàn tương đồng (hiện còn), vật thật rất ít, đáng quí trọng, nhiều hơn số tháp đồng bội phần”7. Việc kiến tạo tháp độc lập thì toàn bộ vật liệu sử dụng để xây dựng là gạch hoặc đá.

Ngoại trừ tháp A-dục Vương thời Tam Quốc ở Kim Lăng, thời Tây Tấn, huyện Trịnh vùng Cối Kê tức là huyện Ngân tỉnh Chiết Giang ngày nay có chùa và tháp A-dục Vương. Về chùa thì cách chợ Ninh Ba về phía đông bốn mươi dặm có chùa Quảng Lợi A-dục Vương. Chùa được sáng lập năm đầu niên hiệu Nghĩa Hy đời Ðông Tấn (năm 405 TL), Lương Võ Ðế ban cho tên là chùa A-dục Vương8. Căn cứ “Ngân Huyện Chí” (Năm Mậu Thân Triều Long khắc bản) thì bên trong chùa ấy thờ cúng tháp Xá-lợi đức Phật kiểu A-dục Vương. Tháp là do vị tăng tên là Lưu Tát Ha phát hiện ở Khai Châu (nay là chợ Thái Nguyên ở Sơn tây) vào năm Thái Khang thứ ba đời Tây Tấn (năm 282 TL). Tháp màu xanh, cao bốn tấc, rộng bảy tấc, năm tầng hình tứ giác. Khoảng niên hiệu Nghĩa Hy đời Ðông Tấn vua An Ðế bắt đầu cho xây dựng đình để bảo hộ9. Kiến trúc hiện hữu của chùa A-dục Vương ở Ninh Ba, qui mô rộng lớn mà tráng lệ. Ðiện Xá-lợi phụng thờ tháp Xá-lợi là một kiến trúc rất trang nghiêm, rất phú lệ của Phật Giáo hiện đại bên trong nước Trung Quốc mà từ trước đến nay Phật Giáo đồ chiêm bái Phật Xá-lợi suốt năm chẳng dứt. Mười chín tòa tháp A-dục Vương được truyền đến Trung Quốc sớm đã bị hủy hoại, duy chỉ có tháp A-dục Vương của chùa A-dục Vương ở Ninh Ba vẫn còn cho đến nay thôi.

Hình tượng cụ thể của tháp A-dục Vương - Từ trong mẫu vật thật của các thời kỳ chúng ta có thể biết được sự hình thành và phát triển của nó. Ở tại mặt vách hang thứ 11 động Vân Cương, chạm khắc tháp kiểu lầu các sớm nhất. Từ bộ phận “sát tháp” ta thấy được hình thức non nớt của thời kỳ đầu phát triển ở Trung Quốc của nó. Tòa nền của một tòa tháp trên phù điêu vách hang của hang thứ 14 động Vân Cương có “thọ hoa” (một kiểu trang trí kiến trúc xưa) rõ ràng phi thường, đồng thời thấy được tòa nền cao dần lên trở thành thân tháp, “thọ hoa” mở lớn ra làm thành “sơn hoa, tiêu diệp” hướng ra ngoài nghiêng chếch qua, khoảng giữa bày ra một cái “phúc bát” lớn, ở mặt trên “phúc bát” xuất hiện ba cái “sát hãn” mà ở chỗ khác ít thấy. Thân tháp tầng thứ nhất của tháp chùa Tung Nhạc ở núi Tung Sơn tỉnh Hà Nam thì trên tường vách của mỗi mặt đều xây lên tháp A-dục Vương, thân tháp rất cao, cửa vòm rất hẹp, trên chót tháp cùng bình đài đều có “sơn hoa, tiêu diệp” làm thành kiểu thẳng đứng. Ngoài đây ra, ở tại hang thứ 14 động Vân Cương, hang thứ 20 động Long Môn đều có chạm khắc tháp A-dục Vương kiểu cây đuốc đứng (Chúc Lập). Những bộ phận nhỏ của chúng tuy cách xử lý chẳng đồng nhưng hình tượng tổng thể của chúng có qui luật thống nhất. Từ đây rút ra được là tháp A-dục Vương ở thời kỳ Bắc Ngụy phát triển về hình tượng. Một dặm về phía nam chùa Bạch Mã xây dựng tháp A-dục Vương tại thành Lạc Dương đời Bắc Châu có, phía đông thành Sơn San cách hai trăm dặm về phía đông Cam Châu (huyện Trương Dịch - Cam Túc) có tháp A-dục Vương, bên trong thành Sa Châu (huyện Thổ Lỗ Phiên tỉnh Tân Cương) có tháp A-dục Vương, những vùng đất Qua Châu (huyện An Tây - Cam Túc), Kỳ Châu (huyện Phụng Tường - Thiểm Tây), Lương Châu (huyện Võ Oai - Cam Túc), Tấn Châu10 (Tiền thân của tháp Phi Hồng chùa Quảng Thắng ở Triệu Thành tỉnh Sơn Tây) v.v... đều có xây dựng tháp A-dục Vương.

Tháp A-dục Vương đến thời kỳ Tùy, Ðường trên nghệ thuật tạo hình chuẩn xác lại phát triển tiến một bước. Phía đông thành Tinh Châu đời Tùy có chùa A-dục Vương (tức là nền cũ của tháp Tịnh Minh chùa Huệ Minh huyện Tấn Nguyên cũ, huyện Thái Nguyên tỉnh Sơn Tây ngày nay). Góc đông bắc thành Ðại Châu (huyện Ðại tỉnh Sơn Tây ngày nay), Du Xã (tức là bên trong thành huyện Du Xã ngày nay) cũng có nền cũ tháp A-dục Vương (Tháp Lạt Ma hiện còn cho đến nay vẫn gọi tên là tháp A-dục Vương). Vật thật thời kỳ sớm của tháp A-dục Vương đến nay tuy chẳng dễ có được nhưng mà hình tượng của nó đã lưu lại ở trên phù điêu động đá hoặc trên hội họa, như hình tháp điêu khắc trên khám thờ Phật ở vách trái hang thứ nhất của hang đá núi Nam Hưởng Ðường thì mỗi bộ phận đều tăng thêm hoa văn chạm khắc ở trụ, mặt khám thờ, đẩu củng v.v... nhiều lắm, “Sơn hoa, tiêu diệp” xuất hiện nhiều hoa văn mây cuốn, “phúc bát” lại chưa co nhỏ lại lắm.

Ðời Ðường, ngoại trừ tháp đá ba tầng và tháp đá kiểu bốn cửa của bích họa Ðôn Hoàng, trở lại từ phù điêu vách ngoài hang thứ 12 núi Thiên Long, ta vẫn phải xem đến tháp A-dục Vương, hình ảnh chạm khắc của tháp sát cùng phúc bát, thọ hoa, thân tháp, tòa nền của tòa tháp ấy và vật thật còn lưu lại đến nay rất giống nhau, đã ấn chứng cho sự đồng dạng gián tiếp.

Thời kỳ mười nước11 thời Ngũ Ðại ở Trung Quốc, tháp kiểu A-dục Vương có sự sáng tạo và phát triển trọng đại. Chủ yếu là do ở Ngô Việt Vương Tiền Hoằng Thúc mô phỏng chiếu theo vua A-dục của Ấn Ðộ tạo ra tám muôn bốn ngàn ngôi tháp là một sự tích đột xuất. Chẳng thể khẳng định là Tiền Hoằng Thúc có tạo đủ số tám muôn bốn ngàn tòa tháp hay không, nhưng từ những vật thật đào ra được dưới đất trải nhiều đời thì số lượng chẳng phải ít. Từ trong văn hiến còn có thể thấy được: “Tiền Trung Ý Vương dùng năm thứ kim loại đúc mười vạn ngôi Bảo tháp, lấy năm trăm cái sai sứ giả đem ban cho Nhật Bản...”, như trước mắt vật thật còn tồn tại chỗ Tế Xuyên Hộ Lập Hầu nước Nhật Bản, có khả năng là vật thật lưu truyền đi của thời Ngũ Ðại bấy giờ12. Lại nữa, “việc xây dựng chùa tháp, riêng Ngô Việt Võ Túc Vương (xây dựng) bội phần hơn chín nước kia, xét Hàm Thuần Lâm An Chí chép: Chín sương bốn vách (ý nói trong cả nước) trong cảnh giới các huyện, một mình vua xây dựng... hợp hết số (chùa tháp) trong mười bốn châu chẳng thể phóng tầm mắt đếm xuể vậy. Ngày ấy (nhà vua) từng ở trong cung đúc Ô Kim (vàng đen) làm ngói, vẽ chuyện xưa trong Kinh Phạn, tô đắp chúng bằng vàng để hợp thành tháp. Khương Nghiêu Chương ở Bà Dương (tỉnh Giang Tây) được một bản ấy, vẽ cảnh Như Lai xả thân... Tưởng Nhĩ Linh cũng được một bản vẽ tướng trạng, “Phóng hạ đồø đao, lập địa thành Phật” để bày ở chùa Bạch Liên phía đông thành”13. Tiền Trung Ý Vương đã tạo tháp nhỏ đều dùng hợp kim vàng đồng nấu chảy làm thành, rồi đem tám muôn bốn ngàn tòa bảo tháp ấy chôn cất ở các danh sơn trong nước14. Tháp cao, thấp, lớn, nhỏ chẳng đồng đẳng. Ở bên trong tháp hoặc chỗ mặt bằng có khắc ghi đề. Về hình chế của tháp theo Nguyễn Nguyên gọi là: Kim đồ tháp (tháp tô vàng) của Ngô Việt Vương Tiền Hoằng Thúc, từ bốn góc đến đáy cao nay đo được một thước bốn tấc hai phân; còn theo “Biểu Trung Ðồ Phổ” thì trên có tháp cao ba tấc, “tướng luân” bảy cấp, trừ bốn góc cùng thân tháp thì đồng dạng cao ba tấc, nên thống kê cao sáu tấc, nay đem cân thì đều nặng ba mươi lăm lượng15. Trong số ấy đã phát hiện có tháp cao sáu tấc, nặng ba mươi lượng, bên trong tháp đúc đề ký là Ngô Việt Vương Thúc Tạo Bát Vạn Tứ Thiên Bảo Tháp”16.

Việc Ngô Việt Vương chế tạo phỏng theo tháp A-dục Vương thì ở trên nhiều Văn Hiến đều đã có ghi chép, tại những vùng đất của Chiết Giang, của Ðại Hưng ở Hà Bắc đã từng phát hiện qua nhiều vật thật. Từ Tống, Nguyên trở lại đây một số trí thức theo Kim Thạch17mà ca vịnh, ghi chép, làm lời bạt và nâng niu v.v... Hiện tại chùa Quốc Thanh núi Thiên Thai, chùa A-dục Vương ở Ninh Ba đều sắp bày vật báu thời Ngũ Ðại. Năm 1957, “Văn Vật Bảo Quản Ủy Viên Hội” của tỉnh Chiết Giang khi thanh lý nền tháp Vạn Phật ở chợ Kim Hoa, đã phát hiện được mười lăm tòa Kim đồ tháp, trong số ấy có bốn tòa làm bằng sắt, đáy tháp có khắc “Ngô Việt Quốc Vương Tiền Hoằng Thúc Kính Tạo Bát Vạn Tứ Thiên Bảo Tháp Ất Mão Tuế Ký”18. Xét về hình tượng tháp do Ngô Việt Vương tạo thì do tòa nền cùng với nền đài hợp thành, nền đài cạn bằng là mặt nghiêng bốn mươi lăm độ, ở trên mặt nghiêng chạm khắc cánh hoa sen, trên dưới tòa đều đắp thêm nhiều tầng lớp phụ chồng chất dính vào nhau, bộ phận “thắt lưng” (vòng đai) khắc tượng Phật. Thân tháp hình vuông, mỗi mặt khắc khám thờ hình nửa hình tròn, bên trong khám khắc tượng Phật, bộ diềm mái ở chỗ bốn góc của bộ phận nóc tháp thì đồng với kiểu cách xây dựng đời Tống như “Phật đạo trướng”, “Sơn hoa”, “Tiêu diệp” tương tợ. Kỳ thật thì bộ phận “thọ hoa” của “sát tháp” mở lớn ra biến thành hình này, có khả năng là kiểu cách xây dựng theo mô hình cùng xuất xứ từ “Phật đạo trướng, sơn hoa, tiêu diệp”. Tại trung tâm có “phúc bát”, trên phúc bát lập ra “sát”, “sát hãn” to và ngắn, khoảng giữa là sáu lớp tướng luân liền suốt, bộ phận đầu nóc lại bày bảo châu hình dài thu đuôi lại.

Riêng căn cứ vào “tháp Thụy Hiện A-dục Vương”, “tháp diềm mái đơn chùa Ðại Thanh Lương” trong bức tranh Ngũ Ðài Sơn vẽ hang Mạc Cao động Ðôn Hoàng thì có thể thấy được dạng thức tháp A-dục Vương từ đời Tống trở về trước.

Bên cầu Lạc Dương ở Tuyền Châu tỉnh Phúc Kiến, tiền viện của Ðại Hùng Bảo Ðiện chùa Khai Nguyên ở Tuyền Châu, chính viện chùa Nam Sơn ở Chương Châu đều bảo tồn được vật thật về tháp A-dục Vương của kiến trúc đời Tống. Bên cầu Lạc Dương có vài ngôi tháp A-dục Vương mà độ cong góc cạnh tầng đá đơn hổn độn, dưới cùng tòa nền tháp của một ngôi tháp trong số ấy rất lớn hợp với tầng đá hoa sen cùng bộ phận “thắt lưng” v.v... đều chẳng điêu khắc cánh hoa sen, mỗi mặt bên trên lại làm khám thờ Phật cửa hình hồ lô, bên trong khám chạm tượng Phật, kén chọn tầng đá. “Sơn hoa, tiêu diệp” của ngọn tháp gọi là kiểu “trực lập” (đứng thẳng) làm thành đường gấp khúc (khúc tuyến), đường thẳng trụ sát thêm lớn hợp ở “phúc bát” cùng chỗ tiếp cận “tướng luân” ngang nhau. So sánh với Kim tháp ngắn nhỏ thì rất thô to, ngọn tháp lớn hơn thân tháp. Từ sự cân bằng lại sự chỉnh thể tạo hình thì tỷ lệ trên dưới chẳng tương xứng lắm. Tiền viện Ðại Hùng Bảo Ðiện chùa Khai Nguyên ở Tuyền Châu, có hai tòa tháp A-dục Vương kiến tạo đời Tống. Nền đài ngôi tháp phía đông là hình vuông, trên ấy có “Cầm thối’ (vế đàn - một danh từ chỉ một bộ phận trong kiến trúc) và đài vuông hợp thành tòa nền; thân tháp tầng thứ nhất, mỗi mặt khắc bốn pho tượng Phật, bên trên che diềm mái bằng, thân tháp tầng thứ hai, mỗi mặt khắc khám thờ Phật hình nửa hình tròn, chạm đắp tượng Phật, “sơn hoa, tiêu diệp, sát hãn, tướng luân” và tháp nhỏ trên cầu Lạc Dương mô phỏng theo nhau.

Tháp A-dục Vương kiến lập đời Tống tại chùa Nam Sơn ở Chương Châu thì ở trên tòa nền cao một mét, bằng cách đem tầng đá đơn hổn độn gia cố cao thêm, đồng thời làm tòa nền đài tầng một, thân tháp làm cửa vòm hình tròn đầu trên, xây thân tháp hình vuông. “Sơn hoa, tiêu diệp” hướng ra ngoài bốn phía ngước lên, mặt “tiêu diệp” có đường gấp khúc. Ở bên dưới “bảo châu” ngọn tháp tăng thêm một tầng ngọn tháp nhỏ, ngắm nhìn thân tháp, ngọn tháp ấy có cảm giác nhỏ mà cao. Từ đây được biết là tháp A-dục Vương đời Tống, ở trên qui mô kiến trúc, điêu khắc lại có sự phát triển.

Việc kiến tạo tháp A-dục Vương đời Nguyên mà vật thật hiện còn lưu lại cho chúng ta chẳng nhiều. Tháp thái Tử ở núi Phổ Ðà mà chúng ta đã biết, có thể nói là cái vật mẫu lẻ loi. Nó chính là do sự phát triển đem lại trên cơ sở hình chế của tháp A-dục Vương đời Tống, đời Ngũ Ðại. Mặt bằng tháp Thái tử hình vuông xây dựng ở trên nền đài vuông lớn của hai cái tứ diện có chân nghiêng. Bốn mặt đài, ở trên đá áp lan can đá và đá góc, đồng thời ở tại mép nghiêng cho chạm trổ mài giũa đẹp đẽ tinh xảo. Thân tháp của tầng thứ nhất đến tầng thứ ba khắc khám thờ Phật kiểu cửa hồ lô (hình quả bầu), mỗi tầng lại làm lan can tòa bằng, chỉ có lan can tầng thứ nhất là sử dụng trụ tròn nối nhánh, dưới trụ làm nền đá hình núi cùng với bộ phận trên tòa nên kết hợp nhau khiến cho toàn ngôi tháp lại ẩn chứa sự vững chắc. Bộ phận trên cùng của tháp có bình đài (đài bằng), hình tượng “sơn hoa, tiêu diệp” so với trước có lược nhỏ đi, ở trên “phúc bát” bằng thấp đặt để “sát hãn”, ở trên “sát hãn” bỏ “thọ hoa” không tướng luân, bộ phận đầu vẫn dùng bảo châu làm mũ đội đầu. Khoảng giao thời Minh - Thanh, ở trong chùa Sùng Thánh núi Tuyết Phong tỉnh Phúc Kiến có kiến tạo tháp nhỏ A-dục. Nền đài của tòa tháp xây theo kiểu chồng dính vào nhau, thâu nhỏ dần lại theo hướng lên trên, bên trên xây tòa nền, trên tòa nền lại xây đắp tầng đá kiểu hàm răng, bốn góc bộ phận “thắt lưng” có trụ đỡ. Thân tháp làm khám thờ Phật hình vòm tròn; đỉnh tháp sử dụng “sơn hoa, tiêu diệp” và thạch sát (đỉnh tháp đá). Bốn đời Tống, Nguyên, Minh, Thanh, một giải kiến trúc ở vùng Mân, Việt, số lượng tháp A-dục Vương là chẳng ít, như tháp A-dục Vương ở trong đình Bán Sơn của chùa Dũng Tuyền núi Cổ Sơn tỉnh Phước Kiến, đem tháp kiến lập ở trên đài cao; lại như tháp “Y Ðình Bảo Khiếp Ấn”, tháp “Thần Yến Quốc Sư” đều là những mẫu vật chứng thật tế. Tháp chùa Vạn Niên núi Nga Mi tỉnh Tứ Xuyên thì phong cách tạo hình riêng biệt tỉ mỉ. “Sơn hoa, tiêu diệp” lại có hình thái biến chuyển mới lạ.

Khoảng năm Quang Tự cuối đời Thanh, bên trong chùa A-dục Vương ở Ninh Ba có mô phỏng Kim Ðồ Tháp của Ngô Việt Vương thời Ngũ Ðại, kiến tạo tháp A-dục Vương hình thể lớn dùng để thờ phụng tháp A-dục Vương nhỏ, tháp xây dựng ở trong điện Xá-lợi. Ngoài đây ra, ở trước điện ngôi chùa ấy còn có một tấm bia tháp Xá-lợi, trong bia có khắc một bức tranh tháp A-dục Vương, hình thể của nó sử dụng lối khắc chìm, đường nét khắc ra cực kỳ tinh xảo, tòa tháp chọn cách sử dụng tòa Tu Di, khắc cửa hồ lô, tượng Phật, giữa khắc cái chuông lớn mà cái buông xuống chính giữa miệng chuông chính là một viên Xá-lợi của Phật Thích Ca Mâu Ni. Các bộ phận ngọn tháp đều chạm trổ trang trí mà thợ khắc tinh xảo mỹ lệ lạ thường. Như mặt biểu hiện của “sơn hoa, tiêu diệp” đều có khắc “tượng Phật, tướng luân, phúc bát” v.v... các bộ phận đều thi triển dạng hoa văn đầy đặn.

Tháp A-dục Vương của điện Xá-lợi chùa Hải Tràng ở Quảng Châu có “tháp sát” rất cao, ước chừng nó chiếm hết một phần hai toàn bộ thân tháp. Toàn nền tháp là kiểu “Cầm thối”, bên trên bố trí hai lớp hoa sen úp; bốn góc khắc “sơn hoa, tiêu diệp” rộng, thấp, mặt đứng của đường nét hoa sen úp và mặt “tiêu diệp” giao kết bằng hoa văn sen cùng hoa văn mây; bốn mặt thân tháp chạm nổi tượng đức Quan Âm. “Sơn hoa, tiêu diệp” của bộ phận ngọn tháp phân làm ba múi đường gấp khúc mà mặt biểu hiện (bày ra) chạm trổ hình lực sĩ, “sát hãn” liền suốt bảy lớp tướng luân, tột đầu đỉnh dùng “thọ hoa” đặt hồ lô. Từ đây cùng với bốn góc kéo nối lại bằng sắt luyện. Mẫu tháp đã nêu trên có thể thấy được một hạng hình tượng tháp A-dục Vương đời Thanh.

Nhìn chung, vấn đề có “tháp A-dục Vương” của Trung Quốc thì ở trên lịch sử kiến trúc và đúc tạo đã có lịch sử hơn một ngàn tám trăm năm rồi. Chúng từ nhỏ đến lớn, từ điêu khắc đến kiến tạo độc lập đều dần dần phát triển lên; ngày nay, từ toàn bộ tháp Phật của Trung Quốc đem ra phân tích thì bất luận là căn cứ vào loại hình, dạïng thức của chúng hoặc từ tính chất phân loại của chúng thì tháp A-dục Vương ở trên lịch sử kiến trúc tháp Trung Quốc đã “trồng một ngọn cờ hiệu” riêng cho mình, chúng là một loại hình chủ yếu trong tháp Phật Trung Quốc. 

Bản thảo viết xong tháng ba năm 1962.

San định bản thảo cùng năm.

        Tuệ Khai cư sĩ dịch xong

chiều ngày 12-8-2002.


 

1 Lương Tư Thành, Lâm Vi Âm, Lưu Ðôn Trinh: “Vân Cương Thạch Quật Trung Sở Kiến Ðích Bắc Ngụy Kiến Trúc”, “Trung Quốc Doanh Tao Học Xã Vựng San” quyển thứ tư hợp san thứ ba thứ tư năm 1934 (cht. Tác giả). 

2 Sát hãn : Một kiểu kiến trúc thờ cúng dựng độc lập, hoặc bên trên tháp hay chùa - Nó còn chỉ cho chùa hoặc tháp thời xưa của Phật Giáo (cht. Dịch giả).

3 Nam Sử quyển 68, chuyện nước Phù Nam (cht. Tác giả).

4 Trương Yến Xương: “Kim Thạch Khế” năm Càn Long thứ 36 kinh đô Lưu Ly “Cận Văn Trai khắc gỗ. Kim Ðồ Tháp, căn cứ đồng sách lại ghi chép: Ðầu năm Vạn Lịch nhà Minh, Di Cảnh Quan người Thường Thục tạo cho cha mình là Hiến phó Nhất Giang Công Oánh, đào được trong đất ra ngôi tháp nhỏ bằng đồng, cao năm tấc, như kiểu tháp A-dục vương...” Ðây là lời ghi của sa-môn Ðức Thanh ở Hàm Sơn năm Vạn Lịch thứ bốn mươi lăm đời Minh (cht. Tác giả). 

5 “Kim Thạch Tụy Biên” của Vương Vịnh “Hữu Ngô Việt Vương Tạo Tháp Ký Văn nói rằng: Ngô Việt Quốc Vương Tiền Hoằng Thúc tạo tám muôn bốn ngàn ngôi bảo tháp, ghi năm Ất Mão. Tức là cái mà Chu Tấn Tiên gọi là Kim Ðồ Tháp vậy... (cht. Tác giả)

6 Nghệ thuật Kiền-đà-la : Skt=Pali. Gandhāra, một nghệ thuật Phật giáo lai tạp của Hy Lạp và La Mã. Nghệ thuật này xuất phát từ nước Kiền-đà-la, vị trí hiện nay nằm hạ du sông Khách-bố-nhĩ (Kabul).

7 Kim Thạch Tiết của Bảo Xương Hi: Ngô Việt Vương Kim Ðồ Tháp, khắc bản năm Quảng Tự thứ hai (1876). (cht. Tác giả) 

8 Pháp Uyển Châu Lâm (38) cố tháp bộ (cht. Tác giả).

9 “Dục Vương Tự Bi Ký” của Chu Liêm (Càn Long năm thứ hai “Chiết Giang thông Chí”) (cht. Tác giả). 

10 Pháp Uyển Châu Lâm (38), cố tháp bộ (cht. Tác giả).

11 Mười nước: Tại phương nam và vùng Hà Ðông trước sau kiến lập 10 chính quyền địa phương: Tiền Thục (903-925), Hậu Thục (933-965), Kinh Nam (924-963), Sở (907-951), Ngô (902-937), Nam Ðường (937-975), Ngô Việt (907-978), Mân (909-945), Nam Hán (917-971), Bắc Hán (951-979), sử gọi là Thập quốc.

12 “Chi Na Văn Hóa Sử Tích” của Quan Dã Trinh, Thường Bàn Ðại Ðịnh - Nhật Bản (cht. Tác giả).

13 Chu Di Tôn: “Bộc Thư Ðình Tập (quyển 46) viết việc Tiền Võ Túc Vương tạo Kim Ðồ Tháp”. Xem “Tứ Bộ Tòng San”, bản in của Thượng Hải Hàm Phân Lâu Ảnh (cht. Tác giả).

14 Diệp Khải Huân: “Ngô Tiền Vương Kim Ðồ Tháp Bạt” (Ðồ Thư Quán Học” Tập san quyển thứ ba, kỳ thứ nhất, thứ nhì) (cht. Tác giả). 

15 Vương Vịnh: “Kim Thạch Tụy Biên” quyển 122 - Lời bạt của Nguyễn Nguyên (cht. Tác giả).

16 Tiền Trung Ý Vương Ðồng Tháp (Ðài Châu phủ Chí) bản năm 1936) (cht. Tác giả).

17 Kim thạch : Bia ký bằng vàng, đá thời cổ.

18 Chiết Giang Văn Quản Hội: “Kim Hoa Thị Vạn Phật Tháp Cơ Thanh Lý Giản Báo” (Bản báo cáo về việc thanh lý nền tháp của tháp Vạn Phật tại chợ Kim Hoa) (“Văn Vật” kỳ thứ năm, năm 1957) (cht. Tác giả).

 

 

---o0o---

[Mục Lục] [01] [02] [03] [04] [05] [06] [07] [08] [09] [10]

 

[11] [12] [13] [14] [15] [16] [17] [18] [19] [20]

 

---o0o---

Trình bày: Nhị Tường

Cập nhật: 01- 4 -2004

 

Webmaster:quangduc@quangduc.com

Trở về Thư Mục Thánh Tích

Đầu trang

 

Biên tập nội dung: Tỳ kheo Thích Nguyên Tạng
Xin gởi bài mới và ý kiến đóng góp đến ban biên tập qua địa chỉ:
quangduc@tpg.com.au