Tiếng Việt

Trang nhà Quảng Đức

   Tiếng Anh 

qd.jpg (8936 bytes)

Thánh Tích Phật Giáo


...... ... .


Pháp Tạng 79

 PL. 2547 - 2003

 

Lịch Sử Chùa Tháp Trung Quốc

 

Chủ biên: Trương Mạn Ðào

Việt dịch: Tuệ Khai cư sĩ

Hiệu đính: Thích Ðỗng Minh

Chú thích: Thích Tâm Nhãn

---o0o---
 

QUI CHẾ CỦA THÁP PHẬT TRUNG QUỐC

 

Nguyên tác: Hàn Viên

Việt dịch: Tuệ Khai Cư Sĩ  

 

I. ÂM NGHĨA CỦA PHẬT THÁP.

Phiên dịch chữa Phạn ra chữ Hán, văn có đúng (chính) có sai (ngoa), cái gọi là “Tháp” thì hoặc nói là Tháp Bà, Trung Quốc gọi là Phương Phần (phần mộ vuông); hoặc gọi là Chi-đề, phiên dịch là nơi diệt ác sinh thiện; hoặc gọi là Ðẩu-tẩu-ba, Trung Quốc gọi là Hộ Tán (ủng hộ khen ngợi), như người tán thán ủng hộ. Thán nghĩa là âm chính tiếng Phạn Tây Vực gọi là Tốt-đỗ-ba, Trung Quốc gọi là Miếu, miếu là “mạo” vậy, tức là linh miếu. Tây Vực Ký ghi rằng: “Phù-đồ lại gọi là Thâu-bà, lại gọi là Tư-thâu-bá, đều là gọi sai (ngoa) vậy. Trung Quốc phiên dịch chúng ra là Phương phần (mộ vuông), cũng phiên là Viên trủng (mồ tròn), cũng phiên là Cao hiển, dịch nghĩa là linh miếu”. Sách Thích Thị Yếu Lãm gọi Phù-đồ tức tiếng Phạn là Tháp-bà vậy. Căn cứ vào sự ghi chép của điển tịch Trung Quốc thì có những danh xưng như Phù-đồ , Phù-đồ , Phật đồ , thật ra thì tức là chuyển âm của Tốt-đỗ-ba . Sách Thuyết Văn Tân Phụ gọi tháp là Phù-đồ của Tây Vực vậy, hầu như gốc là ở chỗ này.

Kinh điển Phật giáo phiên dịch ra Hán văn đều có trước sau, ý nghĩa cũng có dị đồng; như Tạp Tâm Luận nói rằng: “Có Xá-lợi gọi là Tháp, không Xá-lợi gọi là Chi-đề”. Nhưng lại nói rằng: “Chi-đề không có thân cốt vậy” mà Kinh Ðịa Trì thì nói rằng: “Chớ có hỏi có, không đều gọi là Chi-đề.” Lời nói của hai Kinh đều có sự định kiến. Ðến như gọi Phật đồ tức là Tốt-đỗ-ba thì cũng chẳng tận cùng vậy; như Trí Ðộ Luận nói rằng: “Các tụ lạc1 Phật đồ, tịnh xá v.v...”, sách Thông Giám chép: “Những năm cuối Thế Tổ nhà Ngụy2 buông lời lệnh cấm Phật, và khi Cao Tông lên ngôi liền ban chiếu xuống cho châu, quận, huyện, chỗ cư trú của dân chúng đều được phép xây dựng một khu Phật đồ”. Phật đồ đó thì chỉ cho chùa Phật, lại chẳng phải là tháp vậy!.

II. QUI CHẾ CỦA PHẬT THÁP.

An tháp có ba ý - An tháp có ba ý ấy là: Một là Biểu Thắng Nhân - Biểu dương người đạo cao đức trọng hơn xa những người khác. Hai là Linh Tha Tín - Người mà khiến cho người khác khởi lòng tin. Ba là Vị Báo Ân - Người được báo ân là Phật, vua, cha mẹ, thầy. Nếu là phàm phu mà có đức trọng như tỳ-kheo thì cũng được khởi dựng tháp, còn những người khác thì chẳng hợp.

Khởi tháp Bát-nhân - Kinh Thập Nhị Nhân Duyên nói rằng: “Có tám hạng người được khởi dựng tháp: Một là Như Lai - một trong mười hiệu của Phật. Hai là Bồ-tát - Người được quả Phật. Ba là Duyên Giác - Tức là Bích Chi Phật, hoặc người nhân sự duyên mà giác ngộ, lại hoặc người quán pháp mười hai nhân duyên mà đắc đạo. Bốn là La-hán - Tức là A-la-hán, tên gọi bậc Thánh đoạn hết tất cả kiến tư hoặc ba cõi của hàng Thanh Văn Thừa, trong nhà Phật. Năm là A-na-hàm - Tức là bậc Thánh đoạn hết kiến tư hoặc Dục Giới của hàng Thanh Văn Thừa trong nhà Phật. Sáu là Tư-đà-hàm - Người đoạn hết sáu thứ tư hoặc trước của dục giới. Bảy là Tu-đà-hoàn - Bậc thánh mới vào đạo Thánh của hàng Thanh Văn Thừa. Tám là Luân Vương - Tức là Chuyển Luân Vương, căn cứ vào Phật điển ghi rằng: “Vị vua này thân đủ ba mươi hai tướng, sống ở kiếp người từ vô lượng tuổi cho đến tám muôn tuổi; tức là khi lên ngôi do trời cảm được bánh xe báu (Bảo Luân) mà hàng phục được bốn phương, nên gọi là Chuyển Luân Vương”.

Kinh A-hàm nói rằng: “Có bốn hạng người nên khởi dựng tháp: Một là Như Lai, hai là Bích Chi Phật, ba là Thanh Văn, bốn là Chuyển Luân”. Hình như có sự khác biệt đã nói trong Kinh Thập Nhị Nhân Duyên. Nhưng thật ra thì Như Lai mà Kinh A-hàm đã nói có thể đã bao hàm cả Như Lai và Bồ-tát mà Kinh Thập Nhị Nhân Duyên đã nói. Cái gọi là Thanh Văn có thể bao hàm cả La-hán, A--na-hàm, Tư-đà-hàm, cùng Tu-đà-hoàn, lấy bốn để khái quát tám mà thôi, chẳng phải là có sự khác biệt vậy.

Toàn Tháp Tam Kính - Kinh Hiền Giả Ngũ Giới nói rằng; “Ði quanh tháp ba vòng thì biểu hiện sự kính trọng Tam Tôn: Một là Phật, hai là Pháp, ba là Tăng (Kính Tam Bảo); cũng niệm (để trừ) ba độc: một là tham, hai là sân, ba là si.”

Nhiễu Tháp Ngũ Giới - Kinh Tam Thiên Oai nghi nói rằng: “Nhiễu tháp có năm việc (tức là ngũ giới): Một là cúi đầu nhìn đất. Hai là chẳng được đạp côn trùng. Ba là chẳng được quay nhìn trái, phải. Bốn là chẳng được khạc nhổ trên đất ở trước tháp. Năm là chẳng được dừng lại nửa chừng cùng người nói chuyện”.

Lưỡng Cú Tứ Xứ (hai câu bốn chỗ ?) - Phương hướng khởi dựng tháp cũng có quy định; Căn cứ Tăng Kỳ Luật thì: “Khi bắt đầu khởi dựng Tăng gìa lam (tức là vườn rừng cho tăng chúng ở, cũng tức là chùa tăng) thì trước phải quy định chỗ đất tốt sẽ làm tháp, chẳng được ở hướng nam, chẳng được ở hướng tây, nên ở hướng đông, nên ở hướng bắc.”

Nếu lập Chi-đề thì có bốn chỗ: Một là chỗ sinh, hai là chỗ đắc đạo, ba là chỗ Chuyển Pháp Luân, bốn là chỗ Niết-bàn.

Thất Bảo Bát Bàn (Bảy báu tám bàn ‘tầng’) -     Kinh Hậu Phần3 nói rằng: “Ðức Phật bảo ngài A-nan, sau khi Phật Niết-bàn làm lễ trà tỳ xong, tất cả bốn chúng thâu lấy Xá-lợi đựng vào bình thất bảo, phải khởi dựng tháp thất bảo giữa đường thông bốn ngã ở bên trong thành Câu-thi-na, cao mười ba tầng, trên có luân tướng”. Sách Phiên Dịch Danh Tập nói rằng: “Bích Chi Phật nên mười một tầng, tháp A-la-hán nên dùng bốn tầng, cũng dùng mọi thứ báu mà nghiêm sức. Tháp vua Chuyển Luân cũng dùng thất bảo làm thành”. Xét trong Phật Ðiển thì cái gọi là thất bảo, tên của các báu ấy các Kinh nói khác nhau. Những thứ mà các Kinh chung đồng là vàng, bạc, lưu ly, xa cừ, mã não; những thứ khác nhau là chân châu, mai khôi, pha lê, san hô, hổ phách. Cái gọi là bình thất bảo tức là chỉ cái bình dùng bảy thứ báu nói trên làm nguyên liệu chế thành vậy. Tháp thất bảo nghĩa là khi khởi dựng tháp nhất định đem một thứ của thất bảo nói trên cất giữ ở tháp vậy. Ngày nay Trung Quốc thông dụng gọi tháp là “Bảo Tháp”, tức là gốc ở đây vậy.

Kinh Thập Nhị Nhân Duyên nói rằng: “Tám thứ tháp đều có lộ bàn. Tháp Phật tám lớp, Bồ-tát bảy lớp, Bích Chi Phật sáu lớp, Tứ Quả năm lớp, Tam Quả bốn lớp, Nhị Quả ba lớp, Sơ Quả hai lớp, Luân Vương một lớp, phàm tăng thì trên sóng lưng đặt một cái hình hỏa châu mà thôi”. Lộ bàn có cái che tròn hình bánh xe làm ở trên bảo tháp, thông thường có chín tầng tám lộ bàn.

 

III. CHỦNG LOẠI PHẬT THÁP.

Chủng loại tháp rất nhiều, có tháp tóc, tháp móng, tháp răng, tháp chân thân, tháp thân tro, tháp thân vụn, tháp Xá-lợi, tháp kỳ phước, tháp báo ân... Những loại tháp chủ yếu được lược thuật như sau:

Tháp Tóc (phát tháp) - Tháp tóc là tháp cúng dường tóc của đức Phật. Luật Thập Tụng nói rằng: “Pháp khởi dựng tháp là do cư sĩ Cấp-cô-độc bạch đức Phật rằng:

-Thưa đức thế tôn! Khi ngài du hành các đất nước thì con chẳng được thấy đức Thế Tôn, nên rất khát ngưỡng, nguyện xin ngài ban cho con mộât vật để con sẽ cúng dường!

Ðức Phật cho ông ấy móng và tóc. Cư sĩ tức thời bạch đức Phật rằng:

-Nguyện xin đức Thế Tôn, cho phép con khởi dựng tháp tóc và tháp móng.

 Ðức Phật dạy rằng:

-Cho phép ông khởi dựng tháp tóc và tháp móng.”

Ðó gọi là pháp khởi tháp, cũng là khởi nguyên của tháp tóc và tháp móng. “Tây Dương Tạp Trở” thì cho rằng chùa Ðại Hưng Thiện có tháp tóc. Lương Giản Văn Ðế Thần Sơn Tự Bi ghi rằng: “Tháp tóc xưa Hỷ Viên lưu danh trên trời, đến núi Kỳ vườn Hộc bày dấu vết trong loài người”. Lại năm Bính Tý đầu niên hiệu Nghi Phụng đời Ðường Cao Tông có bài ký Tháp tóc cây Bồ-đề chùa Quang Hiếu. Lại có bài ký của bia ghi việc Ngô Việt Vương Tiền Thúc Phi họ Hoàng xây dựng tháp Lôi Phong thời Ngũ Ðại, tóm lược là: “Các cung giám tôn kính lễ tóc xoắn ốc của Phật như đức Phật còn sinh tồn, chẳng dám làm của riêng bí mật trong cung cấm mà cung kính dựng mới ngôi Tốt-đổ-ba ở ven bến Tây Triều để phụng thờ”.

Tháp móng - Tháp cúng dường móng (tay, chân) của đức Phật vậy.

Tháp răng - Tháp cúng dường răng đức Phật.

Tháp chân thân - Tháp cúng dường chân thân (nhục thân) của cao tăng, như tháp thân của chùa Pháp Xương, làm năm thứ hai niên hiệu Thiên Bảo đời Ðường Huyền Tông. Tháp thân của Tịnh Tạng pháp sư núi Tung Sơn làm năm Thiên Bảo thứ năm. Tháp chân thân ở chùa Pháp Môn đời Ðường. Tháp chân thân của Ma-đằng đại sư đời Hậu tấn... đều là đó cả.

Tháp thân tro - Tức là sau khi trà tỳ vị Cao Tăng người ta thu nhặt cái cháy tàn còn lại, xây tháp để cất giữ thì gọi là tháp thân tro.

Tháp thân vụn (Toái thân tháp) - Tức là chẳng phải tháp toàn cả thân, mà là một bộ phận của cốt cách toàn thân, hoặc là một bộ phận tro tàn sót lại sau khi trà tỳ, như tháp Huyền Quang4 của Nam Ðầu ngày nay là tháp toái thân của ngài Huyền Trang.

Tháp Xá-lợi - Xá-lợi là thân Phật sau khi trà tỳ kết thành vật tợ như hình dạng ngọc sáng trong suốt cứng bền, chùy đập không vỡ, đệ tử của Phật cho là Xá-lợi này do y theo Giới, Ðịnh, Tuệ huân tu màu sắc Xá-lợi ấy có ba thứ: màu trắng là Xá-lợi xương, màu đen là Xá-lợi tóc, màu đỏ là Xá-lợi thịt.

Thích Thi Yếu Lãm chú rằng: “Thích Ca viên tịch, đệ tử A-nan v.v... thiêu đốt thân ngài, có cốt tử như ngọc năm màu, trong sáng bền chắc, gọi là Xá-lợi tử, nhân đó tạo tháp để cất giữ”. Ðây chính là bắt đầu của tháp Xá-lợi.

Sách Pháp Uyên Châu Lâm chép rằng: “Tùy Văn Ðế lập tháp Xá-lợi của đức Phật, hai mươi tám châu khởi dựng tháp, chùa mười bảy châu khởi dựng tháp, xuất lấy vật của chùa (sát) và vật của kho chính mà tạo dựng. Hơn mười một châu theo đuổi non nước châu huyện chùa chiền v.v... mà chọn chỗ thanh tịnh tạo dựng tháp, xuất ra những vật đồng như trên. Ngày hai mươi ba tháng Giêng năm Nhâm Ngọ thứ hai, vua lại phân bố cho năm mươi ba châu kiến lập linh tháp, lệnh cho từ Tổng Quản Thứ Sử trở xuống, từ Huyện úy trở lên phải ngưng công việc thường nhật bảy ngày, mời tăng hành đạo, lấy của chùa cho tiền mười đồng, đúng như kiểu nêu ở trước, hẹn cho vào giờ ngọ ngày mùng tám tháng tư, ở trong cả nước đồng hạ Xá-lợi cho vào cái hộp đá”. Ðó là móc bắt đầu xây dựng tháp Xá-lợi khắp nước Trung Quốc.

Tháp Kỳ Phước - Nhà Phật lấy việc khởi dựng tháp làm công đức, hơn nữa lại là công đức lớn. Vậy nên người cầu phước xem xét tài lực của mình để liệu xây tháp bao nhiêu cấp, thấp nhất là ba cấp, cao nhất là mười ba cấp. Tháp nổi tiếng nhất như tháp Bảo Thúc của Hàng Châu, Tháp Lục Hòa, Tháp sắt của chùa Hựu Quốc ở Khai Phong, Tháp Bàn của chùa Tướng Quốc v.v... đều là loại tháp ấy cả.

Tháp Báo Ân - Tháp khởi dựng để báo đáp ơn Phật thì gọi là tháp Báo Ân.

Tháp Báo Ân nổi tiếng nhất là tháp Báo Ân bên trong chùa Báo Ân ở ngoài cửa Trung Hoa trong thành Nam Kinh. Ðiều Nam Kinh của sách Anh Quốc bách Khoa Toàn Thư ghi rằng: “Tháp Chùa Báo Ân xây từ năm 1413 đến năm 1432 (xét ra tức là từ năm Quý Tỵ niên hiệu Vĩnh Lạc thứ mười một đời Minh Thành Tổ, đến năm Nhâm Tý niên hiệu Tuyên Ðức thứ bảy đời Minh Tuyên Tông) trải qua mười chín năm mới cáo thành. Tháp làm hình bát giác, cao hai trăm sáu mươi thước, gồm chín cấp, vây quanh mỗi cấp bằng hành lang, lợp bằng ngói lưu ly, mỗi góc đều có treo phong linh, tiếng vang suốt tận tiêu hán, lòng tháp là hình Ba la (?), bên trên đặt quả cầu vàng, mỗi cấp có bậc thang làm theo hình xoáy trôn ốc”. Sự rộng lớn của qui chế tháp ấy có thể dùng sức tưởng tượng để nhìn thấy.

 

IV. KHỞI NGUYÊN CỦA PHẬT THÁP TRUNG QUỐC.

Trung Quốc khởi dựng tháp bắt đầu vào lúc nào rất khó có thể khảo cứu được. Tôi đi xem ngôi Bạch Tháp của Liêu Dương, xem xét kỹ sách vở ghi chép thì cho là tháp ấy xây dựng thời Ðông Hán, quan uý đời Ðường là Phùng Kính Ðức trùng tu. Do đây có thể biết trong nước việc khởi dựng tháp nhất định còn có cái được lập sớm hơn Bạch Tháp ở Liêu Dương. Căn cứ sách Phiên Dịch Danh Nghĩa Tập thì: “Châu Mục Vương thân hành dạo chơi Ðại Hạ, Phật bảo đất đó có tháp xưa, có thể quay lại hành lễ, vua hỏi: “Phương nào?”. Ðáp: “Tại phía đông nam Cảo Kinh”.

Lại hỏi: “Sau Châu Mục Vương các vua xây đặt tháp, chùa mà vì sao đất này hiếm thấy văn chương ghi chép?”. Ðáp: “Lập tháp là do ở tiền duyên, phần nhiều là do quỷ thần tạo dựng, người nhìn thấy không nhiều nên văn tự truyền lại ít. Dương Hùng, Lưu Hướng tìm ở tàng thư thường thường thấy có Kinh Phật, há chẳng phải trước đời Tần đã có Kinh, Tháp rồi sao?”. Tôi đối với thuyết: “Trước đời Tần đã có Kinh, Tháp rồi” chưa dám vội đồng ý vì nếu sớm lắm thì cũng phải ở sau năm Thỉ Hoàng thứ hai mươi tám, nhà vua sai Từ Phước vào biển cầu thần tiên, hay lúc Minh Ðế đời Ðông Hán sai Thái Âm đến Ấn Ðộ tìm cầu Phật pháp về lại. Sử chép thời Hán Chương Ðế, con thứ sáu của Quang Võ Ðế là Sở Vương Anh Hỷ làm Phù-đồ trai giới, thời này theo Tây Lịch thì khoảng từ năm 76 đến năm 88. Thời Hoàn Ðế (Ðông Hán), Sa-môn nước An Tức là An Tịnh sang vùng Lạc (Lạc Dương) chủ trì việc phiên dịch Kinh, từ đó Phật giáo bắt đầu lưu truyền rộng rãi. Năm đầu Hiến Ðế, Tạc Dung5 chiếm cứ Quảng Lăng và các quận, đại khởi Phù-đồ, đền thờ, dùng đồng và hoàng kim đúc làm tượng Phật, lầu gác trùng điệp có thể dung chứa ba ngàn người. Ðây mới là bắt đầu việc xây dựng bằng đất gỗ rất thịnh của Phật Giáo. Ðến đây việc khởi dựng tháp có lịch sử có thể làm căn cứ, đó là ngôi tháp ở Mậu huyện thuộc Cối Kê đời Tây Tấn. Chứng cứ sử ghi rằng: “Năm Tân Sửu niên hiệu Thái Khang thứ hai đời Tấn Võ Ðế (năm 281 TL), đêm nọ, bỗng thấy bảo tháp và Xá-lợi từ đất vọt ra, tướng trạng Linh tháp màu xanh tợ đá mà chẳng phải đá, cao một thước bốn tấc, vuông bảy tấc, năm tầng lộ bàn, hình như do nước Vu-điền ở Tây Vực tạo ra. Mặt tháp mở ra cửa sổ, bốn chung quanh đầy đủ, giữa treo cái khánh6 bằng đồng, quanh trên thân tháp, đều là tượng chư Phật, Bồ-tát, Kim Cương thần, Thánh tăng v.v... Hình dáng rất tinh vi, ấy có thể gọi là Thần công Thánh tích, chẳng phải trí con người bì kịp vậy. Về sau đem tháp ấy đặt thờ bên trong ngôi tháp gỗ lớn”. Xem xét thành xưa của Mậu huyện thì nay ở tại phía đông huyện Ngân tỉnh Chiết Giang. Cái gọi là “Sau đặt thờ bên trong ngôi tháp gỗ lớn” thì đây là một ngôi tháp gỗ lớn, chắc lại là đầu tiên chúng ta thấy những ghi chép sách vở về việc khởi dựng tháp gỗ ở Trung Quốc. Năm đầu niên hiệu Thiên An đời Hiến Văn Ðế nhà Ngụy (năm 466 TL), xây dựng Phù-đồ bảy cấp tại chùa Vĩnh Ninh, cao hơn ba trăm thước, giá nền rộng rãi là đệ nhất thiên hạ. Trong niên hiệu Hoàng Hưng (năm 467 - 471 TL) lại cấu trúc Phù-đồ bằng đá ba cấp, rui, nóc mái, xà, cột trên dưới trùng kết, lớn nhỏ đều bằng đá, cao đến ngàn trượng, đè giữ khéo léo khớp kín, là đẹp đẽ đứng đầu kinh kỳ. Ðây là khởi đầu thời kỳ xây dựng tháp của các bậc đế vương Trung Quốc. Ðến khoảng niên hiệu Nhân Thọ đời Tùy Văn Ðế (năm 601 - 604 TL), vua xuống chiếu cho hai mươi tám châu khởi dựng tháp, từ đó phong trào khởi dựng tháp trong quan, dân Trung Quốc mới thịnh hành trong nước vậy.

V. QUI CHẾ CỦA THÁP PHẬT TRUNG QUỐC.

Tháp cổ Trung Quốc rốt cuộc có ngần nào thì không thể khảo sát tính toán được. Những cái còn lại hiện nay ước chừng hơn hai ngàn tòa. Ðỉnh núi, bờ nước, gò cao, hang sâu chịu nhiều biến đổi mà thêm những lúc binh loạn đốt phá, lại trải qua sau ngần ấy năm, để nhìn được diện mạo cổ xưa của những ngôi tháp ấy thì khó khăn biết bao vậy! Nhắm vào sự to lớn của qui chế tháp mà lại giàu tính lịch sử thì có hơn hai mươi ngôi tháp. Chúng chẳng những chỉ cho thấy sự to rộng của qui mô chế độ mà còn tư trợ cho việc học hỏi người xưa của chúng ta.

1. Tháp gạch.

Tháp gạch chùa Tung Nhạc - Tháp xây dựng vào năm Quý Mão niên hiệu Chánh Quang thứ tư đời Hiếu Minh Ðế nhà Bắc Ngụy (năm 523 TL), nay ở tại chân núi phía tây Tung Sơn huyện Ðăng Phong tỉnh Hà Nam. Tháp mười hai góc, mười lăm tầng là ngôi tối cổ trong số tháp gạch hiện còn ở Trung Quốc.

Tháp Xá-lợi dhùa Thê Hà - Tháp xây dựng vào năm đầu niên hiệu Nhân Thọ đời Tùy Văn Ðế đến năm Võ Ðức thứ tư đời Ðường Cao Tổ (năm 601 - 621 TL) trải qua hai mươi năm mới hoàn công. Tháp ở sau chùa Thê Hà, dưới chân núi Thê Hà phía đông bắc chợ Nam Kinh. Gần đây người ta từng đào ra được đoạn lan can hoa văn chữ  (vạn) so cùng với bích họa động Vân Cương tương đồng (Chọn viết chữ  vì sợ ngộ nhận chữ  với chữ Vạn  là muôn.  là tướng dạng cát tường tương truyền của Ấn Ðộ, tiếng Phạn tên là Thất-lị-hài-tha-lạc-sát-nẵng, tức là tướng mây biển tốt lành ‘kiết tường hải vân’ vậy).

Tháp Chùa Quốc Thanh núi Thiên Thai - Năm Khai Hoàng thứ mười tám đời Tùy Văn Ðế (năm 598 TL) ban sắc vì Trí Khải thiền sư mà dựng tháp. Năm Ất Sửu đầu niên hiệu Ðại Nghiệp (năm 605 TL) ban biển nghạch Quốc Thanh Tự, tháp cũng gọi là Tháp Chùa Quốc Thanh. Nay tháp ở tại triền núi Thiên Thai phía bắc huyện Thiên Thai tỉnh Chiết Giang. Tháp cấu tạo bằng gạch, hình lục lăng chín cấp. Cái còn hiện nay là tháp xây dựng lại đời Tống nhưng qui mô một gốc với đời Tùy.

Tháp Hổ Khâu ở Ngô huyện - Xây dựng khoảng niên hiệu Nhân Thọ đời Tùy Văn Ðế (năm 601 - 604 TL), nay ở tại bên ngoài Xương môn phía tây bắc Ngô huyện, tỉnh Giang Tô. Nền của tháp ấy là cầm đài của Tư Ðồ Vương Tuân đời Tấn. Nhân trải qua binh loạn đốt phá, đá đỏ loang lổ tróc lở, nhưng chốn xưa vẫn còn toàn vẹn, tháp xây bằng gạch nung, gồm bảy tầng, nay thấy hình như muốn nghiêng ngã rồi vậy.

Tháp đông và Tháp tây ở Côn Minh - Tháp do quan Úy Phùng Kính Ðức kiến tạo trong khoảng niên hiệu Trinh Quán đời Ðường Thái Tông (năm 627 - 649 TL). Nay tháp ở tại phía nam thành Côn Minh tỉnh Vân Nam, gồm mười ba tầng, hình tứ giác, hai tháp đông và tây đứng đối nhau.

Tháp Ðại Nhạn ở Tây An - Năm Kỷ Sửu niên hiệu Trinh Quán thứ ba đời Ðường Thái Tông (năm 629 TL), xây Chùa Ðại Từ Ân ở phía nam cung thành Trường An, tạo lập ngôi Phù-đồ bằng gạch để tàng trữ Kinh Phật mà ngài Tam Tạng Huyền Trang đã thỉnh về từ Tây Vực, gọi là Nhạn Tháp, gồm bảy cấp, cao ba trăm thước. Hoặc có thuyết cho là kiến lập vào năm Vĩnh Huy thứ ba đời Cao Tông. Bên dưới tháp có bia Thánh Giáo Tự, vua Ðường Thái Tông trình bày việc Pháp sư Huyền Trang đến Tây Vực cầu Kinh rồi dịch ra ban bố khắp miền Trung Hạ (chỉ Trung Hoa), do Chử Toại Lương viết chữ. Sau vua Cao Tông ở tại Thanh Cung đã sáng tác Thuật Thánh Ký phụ thêm vào cuối bản dịch Tâm Kinh của ngài Huyền Trang, Sa-môn Chùa Hoàng Phước là Hoài Nhân gom góp lối viết thảo của Vương Hy Chi để khắc đá, họ Chữ viết phần “Tự Ký” vào đá, khảm vào hai bên đông, tây cửa tháp Nhạn, “Tập Vương Thư” nay còn ở rừng bia Tây An. Trước tháp có bia đề danh rất nhiều, từ đời Ðường đến đời Thanh đều có. Khảo xét chuyện xưa đời Ðường thì những tân Tiến sĩ sau khi dự yến ở Phúc Giang, có vinh dự đề danh tháp Nhạn. Tôi xem kỹ việc khắc đá đề danh thì Tăng, đạo, học trò, thứ dân (Tăng, đạo, sĩ, thứ), đời nào cũng có những hạng người ấy chứ chẳng phải chỉ là Tân khoa Tiến sĩ vậy.

Tháp Chùa Hương Lô ở Tây An - Tháp kiến lập vào năm Tân Tỵ niên hiệu Vĩnh Long thứ hai đời Ðường Cao Tông (năm 681 TL) xây bằng gạch gồm mười ba tầng, ở bên trong chùa Hương Lô ở Tây An tỉnh Thiểm Tây.

Tháp Tiểu Nhạn ở Tây An - Tháp kiến tạo vào khoảng niên hiệu Cảnh Long đời Ðường Trung Tông (năm 707 - 709 TL), gồm mười lăm cấp, cao chừng mười hai trượng, xây bằng gạch, nhân cùng với tháp Ðại Nhạn đứng với nhau nên gọi là tháp Tiểu Nhạn. Tháp ở cách ba dặm về phía nam thành Tây An tỉnh Thiểm Tây.

Tháp Kim Mỹ Hỷ Tịnh Tạng núi Tung Sơn - Tháp xây dựng vào năm Bính Tuất niên hiệu Thiên Bảo thứ năm đời Ðường Huyền Tông (năm 746 TL), tại núi Tung Sơn huyện Ðăng Phong tỉnh Hà Nam, có bài minh “Tịnh Tạng pháp sư Thân Tháp”.

Tháp năm tầng chùa Bách Tháp - Tháp của vị tăng đời Ðường tên là Tín Hạnh thiền sư, xây vào năm Ðại Lịch thứ sáu đời Ðường Ðại Tông (năm 672 TL), bằng gạch, ở cách năm mươi dặm về phía nam thành Tây An, gồm năm tầng, người địa phương đều gọi là Tháp Năm Tầng.

Khảo sát sách Kim Thạch Tụy Biên Ðạo An Thiền Sư Tháp Ký thì thấy ghi rằng: “Tháp khởi xây phía sau tháp của Tín Hạnh Thiền sư... núi Chung Nam”. Lời Bạt ghi rằng: “Tháp của Thiền sư Tín Hạnh ở tại chùa Bách Tháp huyện Trường An, chùa ở tại năm mươi dặm phía nam thành”. Thiểm Tây Thông Chí chép rằng: “Chùa Bách Tháp vốn là tháp viện của vị tăng Tín Hạnh đời Ðường. Những người hâm mộ ngài Tín Hạnh đều chôn ở bên trái bên phải của tháp ngài Tín hạnh, nên gọi là Bách Tháp”.

Tháp ngài Huyền Trang ở chùa Hưng Giáo - Tháp xây vào khoảng niên hiệu Khai Thành đời Ðường Văn Tông (năm 836 - 840 TL). Tháp xây bằng gạch ở tại Tây An tỉnh Thiểm Tây.

Tháp Bảo Thúc - Tương truyền là người phi của Ngô Việt Vương Tiền Thúc tạo lập hai ngôi tháp Lôi Phong và Bảo Thúc để cầu phúc cho Thúc. Theo Tây Hồ Chí, việc tạo tác tháp Bảo Thúc thì cho là trong niên hiệu Hàm Bình đời Tống, vị tăng tên là Vĩnh Bảo bị bệnh mắt có màng, đi hóa duyên tu sửa tháp, đa số những người hàng chợ gọi Vĩnh Bảo là sư thúc, nên khi tháp hoàn thành mà nhân đó xưng là tháp Bảo Thúc. Sách Phi Tuyết Lục thì cho là việc tạo tác tháp vốn là quí báu (Bảo), chẳng biết căn cứ vào đâu! Tháp xây dựng ước chừng vào khoảng niên hiệu Kiến Long đời Tống Thái Tổ đến niên hiệu Chí Ðạo đời Tống Thái Tông (năm 960 - 995 TL) xây bằng gạch, hình tám góc, bảy tầng. Ngày xưa tháp đã cùng với tháp Lôi Phong là đôi tháp cổ ở Tây Hồ - Hàng Châu. Hoặc có người cho là Lôi Phong như Lão nạp (ông thầy tu già), Bảo Thúc như mỹ nhân. Tiếc thay Lão nạp đã mất rồi, riêng còn cốt ngọc đẹp đứng một mình vậy!

Tháp sắt Chùa Hựu Quốc - Tháp kiến tạo vào khoảng niên hiệu Càn Ðức đời Tống Thái Tổ (năm 963 - 975 TL), toàn bộ tháp đều xây bằng gạch ngói lưu ly, tám góc, mười ba góc, tháp nay ở tại góc đông bắc thành Khai Phong tỉnh Hà Nam.

Tháp gạch rất nhiều, như phồn tháp của chùa Tướng Quốc ở Khai Phong, tháp chùa Thiên Ninh của Chương Ðức, tháp cổ của huyện Thông Tỉnh Hà bắc, tháp chùa Thiên Ninh của huyện Chánh Ðịnh, tháp gạch núi Ngưu Thủ của Giang Ninh tỉnh Giang Tô, tháp Long Hoa của thị thành Thượng Hải, tháp chùa Bắc của huyện Ngô, tháp Long Quang của Vô Tích, tháp Trấn Hải của Hải Ninh tỉnh Chiết Giang, tháp Ngũ Phật của núi Thiên Ðồng ở huyện Ngân, tháp Lai Nhạn của Hoành Dương tỉnh Hồ Nam, tháp Ðông Tây của Tấn Giang tỉnh Phước Kiến, tháp Cổ Ðiểm Thương của Ðại Lý tỉnh Vân Nam, tháp Xá-lợi và Song tháp của Thái Nguyên tỉnh Sơn Tây, tháp Tam Tòa của Triều Dương ở Nhiệt Hà, Bạch Tháp của Liêu Dương, tháp Cổ núi Long Thủ của Thiết Lĩnh tỉnh Liêu Ninh, tháp chùa Quảng Tế của huyện Cẩm, tháp Núi Ðại Cô của Cửu Giang tỉnh Giang Tây, tháp Chùa Giang Ngạn của Giang Lăng tỉnh Hồ Bắc, tháp gạch chùa Cửu Tháp của Lịch Thành tỉnh Sơn Ðông v.v... Qui chế hình dung của chúng có sự bất đồng nhưng mà dáng đứng sừng sững trơ trọi với vẻ loang lổ, ngấn tích gió mưa xâm thực bào mòn đã làm cho nhiều du khách đều bồi hồi quan sát, thưởng ngoạn trước nhiều nơi cổ xưa, chẳng nỡ bỏ đi vậy.

2. Tháp gỗ.

Tháp gỗ thời Cổ đại tồn tại đến ngày nay chẳng dễ gì thấy lắm! Một là do gió mưa xâm thực bào mòn, một nữa là do dễ bị lửa đốt cháy. Cái còn lại hiện nay xem ra cổ xưa nhất là ngôi tháp gỗ chùa Phật Cung ở huyện Ứng tỉnh Sơn Tây, có một tên là tháp Thích Ca, xây dựng vào năm thứ hai niên hiệu Thanh Ninh đời Ðạo Tông nhà Liêu (năm 1056 TL). Hai đời Minh, Thanh đã trùng tu mấy lần, tháp cao ba trăm sáu mươi thước, tám góc, năm cấp, mỗi tầng đều có vẽ tượng đức Phật Thích Ca. Tượng Phật của tầng thấp nhất cao hai trượng, tầng đỉnh gọi là Nam thiên Môn. Ðây là ngôi tháp gỗ sớm nhất của Trung Quốc, nhưng mà ngôi tháp đẹp nhất hiện còn là tháp Lục Hòa ở cửa sông Tiền Ðường tỉnh Chiết Giang.

3. Tháp đá.

Tháp chùa Vân Cư - Tháp xây vào đời Ðường, tại huyện Phòng Sơn tỉnh Hà Bắc ngày nay.

Tháp Phượng Hoàng Tiểu Thạch (Tháp đá nhỏ Phượng Hoàng). Tương truyền tháp được xây dựng vào thời đại nhà Nguyên, tại núi Phượng Hoàng phía đông nam huyện Phụng Thành tỉnh An Ðông ngày nay.

Tháp trắng miếu Ngọc Hoàng - Tháp hiện nay ở tại núi Ngọc Hoàng (núi Ngọc Tuyền) huyện Phì Thành tỉnh Sơn Ðông ngày nay, xây dựng vào năm Canh Dần đầu niên hiệu Thiên Thọ đời Võ Hậu Tắc Thiên Hoàng Ðế nhà Ðường.

Tháp chùa Sùng Phước - Tháp gồm chín tầng ở bên trong chùa Sùng Phước huyện Sóc tỉnh Sơn Tây ngày nay.

4. Tháp bằng ngọc.

Người ta tạo tháp bằng ngọc rất ít, vả lại, trong nước đã không còn một cái, rất lấy làm tiếc nuối ân hận lắm! Xem xét việc vua Khang Hy đời Thanh làm lễ kỳ phước cho vua Càn Long7 đã từng tạo một tòa ngọc tháp vào năm Kỷ Sửu niên hiệu Khang Hy thứ bốn mươi tám (năm 1709 TL). Tháp cao chín thước, gồm tám tầng, dùng ngọc thạch ba màu vàng, xanh, trắng phối hợp mà làm thành, chạm trổ tinh tế, kết cấu rất hợp quy chế, diềm mái cất cao lên, cột trụ vẽ vời, sắc thái điều hòa. Mỗi tầng bên trong tháp có khắc họa biết bao pho tượng Phật tinh xảo tỉ mỉ mà những tay búa quỷ, những người thợ thần khen ngợi đẹp thế là cùng vậy! Tháp này hiện còn ở tại trường Ðại Học Úc-lập-cương nước Mỹ, nghe nói là do một người không tên họ dùng bảy vạn năm ngàn đồng mỹ kim mua của người buôn bán đồ cổ Trung Quốc hiến tặng.

5. Tháp bằng Kim loại.

Tích Mộc thành tam tháp (Ba ngôi tháp thành Tích Mộc) - Tích Mộc vốn là tên huyện do nhà Liêu đặt mà nhà Nguyên bỏ. Ngày nay nền cũ thành Tích Mộc ở tại năm dặm về phía đông nam huyện Hải Thành tỉnh Liêu Ninh. Ba ngôi tháp trứ danh của thành ấy là: Kim tháp, Ngân tháp và Thiết tháp, hiện nay đều còn. Ngôi tháp vàng là nổi tiếng nhất, kiến lập vào đời Ðường, đời Minh đã từng trùng tu, là một của bảy ngôi tháp nổi danh miền đông bắc (Trung Quốc). Tháp ở sau chùa Bảo Lâm, cách tám dặm về phía tây của thành, hình lục giác, mười ba cấp. Sở dĩ gọi là Kim tháp, Ngân tháp, Thiết tháp là vì chỉ đỉnh tháp ấy mà nói, chẳng phải gọi toàn bộ tháp ấy vậy.

Tháp Phật bằng đồng, núi Vạn Thọ - Tháp nay ở tại núi Vạn Thọ thuộc Quý Trúc (tức là Quý Dương) tỉnh Quý Châu. Tháp Phật chế tạo bằng đồng, chung quanh đúc tượng Phật, tượng lớn cao ba, bốn tấc, tượng nhỏ chỉ một tấc, là di vật đời nhà Minh.

Tháp đồng ngàn Phật chùa Quan Âm - Tháp nay ở tại bên chùa Quan Âm thuộc Quý Trúc tỉnh Qúy Châu. Tháp này kiến lập vào đời nhà Minh, đúc luyện chế tạo tinh xảo đẹp đẽ.

 

VI. LỜI KẾT.

Tháp Phật của Trung Quốc hiện còn với phong cách đặc biệt độc đáo cùng với kiểu tháp Ấn Ðộ nguyên thỉ thì lại chẳng tương đồng, tức là cùng với kiểu Phật giáo Hy Lạp thì cũng rất khác. Ấy bởi vì quy chế kiến trúc của tháp Phật Trung Quốc, trước nhất xem trọng sự nghiêm chỉnh trong cách phối trí, sự ổn định của nền đàn, vẻ đẹp đẽ của “đẩu củng” (trụ ngắn trên xà), việc vẽ vời trang trí của “tảo tỉnh” (trần nhà có trang trí). Hình như những điều này có thể nhìn thấy ở tháp Lục Hòa, tháp Hoa chùa Lục Dung, tháp chùa Nghinh Giang, tháp của chùa Tam Tháp ở Gia Hưng, tháp Tây Bình ở huyện Hấp.

Từ đời Nguyên trở về sau, chịu ảnh hưởng văn hóa Lạt Ma, quy chế của tháp dần dần biến thành kiểu “Bạch Tháp Thức” - Kiểu này do kiểu tháp Bắc Ấn Ðộ và nước Nguyệt Thị diễn thành, như Bạch Tháp của Bắc Hải ở Bắc Bình, tháp Xá-lợi chùa Pháp Hải ở Giang Ðô tỉnh Giang Tô, tháp chùa Ngũ Tháp tại Côn Minh, tháp trắng Tích Lạp Ðồ của Qui Tuy, tháp Triệu của Ngũ Tháp, tháp Bách Linh Miếu của Võ Xuyên, tháp chùa Thiên Long của Thái Nguyên, tháp chùa Bố-đặc-lạp của Thừa Ðức... đều chính là đó, tuy cũng có điêu khắc tượng Phật và Kinh điển nhưng bỏ xa qui chế của Tháp Phật Trung Quốc vậy!

 

Phan Rang ngày 6 tháng 8 năm 2002.

Tuệ Khai cư sĩ.


 

1 Tụ lạc : Skt. Grāma, Pali. Gāma, phiên âm : Già-lạt-ma. Nghĩa là thôn xóm, làng nhỏ, vùng quê, chỉ chung tất cả khu vực nhà dân cư. Khu vực đó có thể được bao quanh bởi tường xây, luỹ tre, hoặc cắm cây làm hàng rào, hoặc được bao quanh bởi sông ngòi các thứ. Nhiều nhà họp lại thành một tụ lạc. Một ngôi nhà biệt lập cũng gọi là tụ lạc.

2 Hán: Ngụy Thế Tổ , có thể Tác giả viết nhầm. Vì triều đại Ngụy không có tên vị đế vương này, vả lại triều đại Bắc Ngụy phá Phật là vua Thái Võ Ðế (424).

3 Kinh Hậu Phần: Ðại bát niết-bàn kinh hậu phần, 2 quyển, Nhã-na-bạt-đà-la dịch (Ðại 12n377, tr. 900).

4 Huyền Quang: Trong bản nguyên tác in nhầm. Là ngài Huyền Trang. Ngày mùng năm tháng hai niên hiệu Lân Ðức nguyên niên (664), ngài Huyền Trang thị tịch, kiến tháp an táng di thể ngài phía bắc Phàn Xuyên. Sau loạn Hoàng Sào, linh cốt ngài chuyển đến Nam Kinh lập tháp. Ðến thời Thái Bình Thiên Quốc tháp bị đổ nát và trải qua bao lần xã hội loạn lạc, chùa tháp hư hoại, linh cốt trong tháp bị phân tán..., không còn ai hay biết. Năm 1937, chiến tranh Trung Nhật bùng nổ, đến ngày 25-12-1942, một tên Tiểu đội trưởng Nhật chỉ huy quân lính dẫn dân công người Trung Quốc ra ngoài thành Nam Kinh đào hào tránh đạn pháo, đã đào được linh cốt ngài. Người Nhật bí mật mang về xứ. Năm 1984, nhân kỷ niệm ngài Huyền Trang viên tịch đúng 1320 năm, người Nhật trả lại toàn bộ di cốt. Hiện nay linh cốt ngài an phụng tại chùa Nhật Nguyệt Ðàm Huyền Trang ở huyện Nam Ðầu tỉnh Ðài Loan và chùa Hưng Giáo ở Tây An (Thiểm Tây).

5 Tạc Dung: Xem cht. 14, tr. 83.

6 Trong nguyên văn là chữ bàn , có lẽ nhầm chữ khánh  (cht. Dịch giả).

7 Tác giả dẫn chứng đoạn này có chút nghi vấn về lịch sử. Vì Thánh tổ Khang Hy kiến tạo Ngọc tháp vào năm thứ 48 niên hiệu Khang Hy (1709); còn Ái Tân Giác La - Hoàng Lịch, đế hiệu Thanh Cao Tông niên hiệu Càn Long là con thứ tư của Thanh Thế Tông (Hoàng đế Ung Chính), ông sinh năm 1711, lên ngôi trị vì từ năm 1763-1796; đồng thời Phật quang đại từ điển tr. 5429b: có dẫn chứng Khang Hy đại đế kiến tạo tháp Ngọc nhưng không đề cập chuyện cầu nguyện cho Càn Long.

 

---o0o---

[Mục Lục] [01] [02] [03] [04] [05] [06] [07] [08] [09] [10]

 

[11] [12] [13] [14] [15] [16] [17] [18] [19] [20]

 

---o0o---

Trình bày: Nhị Tường

Cập nhật: 01- 4 -2004

 

Webmaster:quangduc@quangduc.com

Trở về Thư Mục Thánh Tích

Đầu trang

 

Biên tập nội dung: Tỳ kheo Thích Nguyên Tạng
Xin gởi bài mới và ý kiến đóng góp đến ban biên tập qua địa chỉ:
quangduc@tpg.com.au