Tiếng Việt

Trang nhà Quảng Đức

   Tiếng Anh 

qd.jpg (8936 bytes)

Thánh Tích Phật Giáo


...... ... .


Pháp Tạng 79

 PL. 2547 - 2003

 

Lịch Sử Chùa Tháp Trung Quốc

 

Chủ biên: Trương Mạn Ðào

Việt dịch: Tuệ Khai cư sĩ

Hiệu đính: Thích Ðỗng Minh

Chú thích: Thích Tâm Nhãn

---o0o---
 

PHẬT THÁP LƯỢC KHẢO

 

Nguyên tác: Chấn Hoa

Việt dịch: Tuệ Khai Cư Sĩ 

 

I. ÐỊNH NGHĨA.

Nói đến mỹ thuật thế giới cận đại, người ta thường thường khen ngợi sự phong phú về tài liệu mỹ thuật Trung Quốc và sự vĩ đại về giá trị của nó. Ở trong phần tài liệu mỹ thuật sung mãn này, Phật Giáo thật sự đã chiếm bộ phận trọng yếu, như những thạch Phật (Phật đá) ở Vân Cương, Thiên Long, Y Khuyết, Thế Hà, Ðôn Hoàng... đã sớm được sự chú ý của học giả thế giới. Họ đã lặn lội từ trùng dương xa xôi đến để thực thi sự khảo sát, hoặc đã viết những vấn đề đó thành sách vở, hết lời khen ngợi. Thậm chí họ chẳng tiếc vàng bạc, bỏ ra rất nhiều để mua, dù tuy được một cái đầu của Phật cũng trân trọng hơn cả một vòng ngọc bích. Riêng chỉ tiếc cho người Trung Quốc chúng ta đối với những Phật tích có tiếng này lại chẳng biết thêm lòng ái mộ mà ra sức bảo hộ. Họ mặc cho chúng chịu sự đổ nát suy tàn mà không nghe lấy một câu hỏi, một lời nói về chúng, rất đáng đau xót lắm vậy!

Mỹ thuật của Phật Giáo chẳng những chỉ lấy điêu khắc xem trọng mà sự quan hệ với kiến trúc chùa viện, sự trang trí tôn nghiêm của Phù-đồ cũng là ưu thế lớn lắm. Những người làm lịch sử, mỹ thuật đương thời phần nhiều đã để hết sức lực vào vẫn đề này. Lạc Gia Tảo tiên sinh đã từng dùng hơn mười năm tinh lực chu du khảo sát, chụp ảnh vẽ bản đồ nhiều thứ và viết thành một quyển sách khảo sát về tháp của Trung Quốc, đã phát biểu ở tập san Bác Vật Viện lần thứ nhất. Tôi cũng có tác phẩm Phật Tháp Khảo Lược trùng với sử liệu nghiên cứu, cảo bản hoàn thành đã lâu còn chưa vội phát biểu và thấy sự thành công to lớn rực rỡ của Lạc Quân, bất giác lòng như bị chiết tỏa, nhưng thỉ chung chẳng muốn đoạt lấy cái đẹp để tự trang sức cho mình. Nếu quả như được cả hai cùng tồn tại thì toàn thể diện mạo của tháp cơ hồ có thể thấy hết vậy.

Xây dựng tháp là để biểu hiện việc kỷ niệm mà vĩ nhân các nước trên thế giới phần nhiều đều có. Nhưng nhớ lại thuở xa xưa, mở đầu cho thứ phong khí này quả thật là do gia đình Phật giáo kỷ niệm Phật Ðà mà đã làm nên việc to lớn ấy. Nhưng ở tại nguyên thủy xây dựng tháp thì có ba ý nghĩa: một là biểu dương sự thắng diệu của người, hai là khởi lên niềm tin, ba là báo ân. Ðời sau phần nhiều đánh mất đi những điều căn bản ấy mà cuối cùng chạy theo thuyết trấn yếm phong thủy. Căn cứ vào phép thứ tư của Lục Ðạo Tập nói rằng: “Ðầu tiên do sông Tiền Ðường ở Chiết Giang, mỗi năm vài lần thủy triều chợt đến, đầu sóng vọt cao đến hai, ba trượng, dìm thuyền phá nhà, Trung Ý Vương sai lực sĩ bắn mà chẳng dứt được. Vĩnh Minh Thọ thiền sư khuyên vua xây tháp Lục Hòa bên bờ sông để trấn áp thì sóng triều ấy liền chấm dứt. Thời nay khi nước triều lên, sóng cao chẳng quá vài thước. Nhân đây người đời sau noi theo đó mà lấy làm thuật phong thủy. Việc này cũng do đức của Như Lai đã gia bị người có phước, nhưng phải trong sạch, chẳng thể dơ bẩn, mới có hiệu nghiệm”. Tháp là nói lược của tiếng Phạn, nói đầy đủ là Tháp-bà hoặc Ðâu-bà, Luân-bà, Phù-đồ v.v... Chủ yếu đều là nói trại ra của từ tiếng Phạn Tốt-đổ-ba mà nay gọi thông dụng là Tháp hoặc là Phù-đồ, bởi những danh từ lưu hành ở trên đã thành thói quen rồi. Có nơi lại còn gọi là Câu-la, dịch ra là tụ (gom lại), là Cao hiển, phương phần, linh miếu v.v... y theo Tăng-kỳ luật1 thì có Xá-lợi gọi là Tháp-bà, không có Xá-lợi gọi là Chi-đề. Nhưng mà mọi người thế tục thì bất luận có hay không có Xá-lợi đều gọi là Tháp.

Xá-lợi quả là vật gì vậy? Vấn đề này đối với hàng thế tục thường có hồ nghi là thần quái mà chẳng thông suốt được vấn đề ấy. Tôi vì họ xin nói đầy đủ vấn đề này.

1. Xuất xứ của Xá-lợi.

Xá-lợi cũng là tiếng Phạn, Trung Quốc dịch là cốt thân (thân xương), tức là đức Ðại Thánh của Phật Giáo sau khi vào Niết-bàn, đã để lại một thứ vật thể kiên cố. Dịch giả sợ có sự lạm dụng để chỉ cho xương cốt mục nát hôi thối phàm tục nên đặc biệt bảo tồn nguyên danh để hiển thị sự khu biệt.

Xá-lợi có hai thứ: Một là pháp thân Xá-lợi, tức là chỉ cho tất cả Kinh điển của đức Thế Tôn truyền trao mà nói. Phẩm Pháp Sư của Kinh Pháp Hoa nói rằng: “Chỗ sở trụ của Kinh quyển đều nên khởi dựng tháp Thất Bảo rất cao rộng nghiêm sức, chẳng cần phải an trí Xá-lợi. Sở dĩ vì sao? Vì trong tháp này đã có toàn thân đức Như Lai”. Hai là sinh thân Xá-lợi, đức Như lai sau khi diệt độ lúc trà-tỳ đã để lại thân cốt đó. Ðiều bàn luận hôm nay là nói về sanh thân Xá-lợi ấy, chính là chỉ thứ Xá-lợi thứ hai (sau). Nhan sắc Xá-lợi có ba cái chẳng đồng: Một là cốt Xá-lợi (Xá-lợi xương), Xá-lợi ấy màu trắng. Hai là phát Xá-lợi (Xá-lợi tóc), Xá-lợi ấy màu đen. Ba là Nhục Xá-lợi (Xá-lợi thịt), Xá-lợi ấy màu đỏ. Nhưng chúng đều tròn sáng trắng trong, kiên cố chẳng hoại mà chẳng phải châu báu thế gian có thể so sánh được. Phải biết rằng, Xá-lợi chẳng chỉ hạn định ở Phật Ðà mà Bồ-tát, La-hán v.v... cũng đều có cả. Chỉ có điều, sự kiên cố của thể chất thì chẳng bằng của Phật Ðà. Nhưng sự sinh dưỡng của Xá-lợi chẳng phải liên quan đến sự quan hệ của sinh lý, cũng chẳng phải uống thứ dược phẩm nào đó để làm cho Xá-lợi ấy trưởng thành mà nhất định do nhiều kiếp tu tập những Ba-la-mật lâu dài, tích lũy các công đức và công lực thâm hậu ấy tự nhiên hội tụ lại có thứ kết tinh này. Ðầu tiên chẳng phải tác khởi ý tưởng tạo tác mà được, phẩm Xả Thân của Kinh Kim Quang Minh nói rằng: “Xá-lợi đó tức là sức nặng của vô lượng lục Ba-la-mật”. Lại nói rằng: “Xá-lợi là sự huân tu của Giới, Ðịnh, Tuệ, rất khó có thể được, là ruộng phước tối thượng”, đã nói lên thật chất của Xá-lợi. Xá-lợi tức là do tích lũy các đạo pháp mà thành. Nhưng đạo pháp này lại chẳng phải là tất cả đạo pháp của nhân thế có thể so ngang bằng nhau, bởi sự chân ngụy thâm thiển của đạo pháp tuy chẳng nhất định phải bằng vào sự có, không của Xá-lợi để đoán định, nhưng Xá-lợi quả thật đủ để kiểm nghiệm về đạo vậy. Hòa thượng Minh Giáo Tung nói rằng: “Ðạo nhất định có sự chứng nghiệm. Chẳng phải chứng nghiệm thì ai thấy được sự đạt đến của đạo! Phải vậy không? Xá-lợi của đức Phật là bởi sự chứng nghiệm của đạo ấy vậy. Bàn về sự đạt đến lớn lao của đạo thì chắc chắn quán thông được nhân thần sinh tử mà nhiệm mầu (diệu). Thánh nhân dùng cái diệu (nhiệm mầu) ấy thì ở tại tối tăm mà có thể hưng khởi, ở tại chỗ sáng mà có thể không có gì. Vậy nên Thánh nhân mới sản sinh Xá-lợi ấy. Ðời thiện mà không thiện mới mất đi Xá-lợi ấy. Thần ngầm mà dụng thần thì Xá-lợi phô bày trăm đời mà nghiêm trang đáng sợ. So ra sự linh nghiệm của Xá-lợi ấy thì thiên hạ không đo lường được, há chẳng phải là thần ư? Nay bàn về Cửu Lưu2, Bách Tử3, dùng cái đạo của họ mà làm thì thiên hạ phân vân gọi là đạo tức là cùng với Phật ban đầu thì chưa khác, nhưng xét về sự chứng nghiệm của họ thì thiên hạ không có vậy. Kẻ cạnh tranh tôn thờ những bậc thầy ấy thì cho là Phật chẳng đủ cùng với các bậc Thánh hiền ấy so sánh. Nhưng cái chết của những người ấy thì chẳng trọn ngày mà hình đã rửa nát, chẳng đầy năm mà xương đã mục. Thần của những người ấy thì tầm thường ô hô hốt hoảng! Phải chăng đạo của họ cũng có chưa thấu đến Phật đó ư? Thuở xưa Phật pháp mới truyền vào ở đất Hán mà người Hán chẳng tỏ tường, mới truyền vào đất Ngô mà người Ngô chẳng lượng xét. Họ đều chuyên theo Nho, Lão mà chống cự lại Phật pháp của ta nên Ngài Ma-đằng, Tăng Hội dùng Xá-lợi để nghiệm Phật thế, từ đó hợp nhau mà hưởng ứng theo. Bàn luận về đạo thì xa vậy, chứng nghiệm đạo thì gần vậy. Quan sát gần thì phát khởi đó vậy. Quan sát xa thì đạt đến đó vậy. Người đạt đến là Thánh nhân vậy. Dùng chứng nghiệm quan sát đạo thì thô, diệu có thể thẩm định vậy. Dùng đạo quan sát Thánh Nhân thì đại, tiểu có thể thấy vậy” (Ðàm Tân Văn Tập 13). Nhưng mà đạo đức thì tức là sự tích chứa mật hạnh ở bên trong. Xá-lợi tức là sự hiện ra anh hoa ở bên ngoài. Phàm là Ðại tâm chưa phát, Thánh quả chưa mơ thấy ở trong thân người thường thì chắc chắn chẳng thể kết thành Xá-lợi, tức là có đạo mà chẳng phải phát xuất ở Chính, Chính mà chưa thấu đến cùng cực thì cũng chẳng dễ dàng may mắn mà đạt đến vậy.

2. Sự linh dị của Xá-lợi.

Bài khen ngợi Xá-lợi của Tống Nhân Tông ngự chế viết rằng: “Thể chất được che đậy của ba vua đều về với đất, hình hài tiềm ẩn của năm đế đã hóa ra bụi trần, đức phu tử được trong cả nước khoe là Thánh, đấng Lão quân được trên đời cũng đánh giá là Chân ngôn mà chôn thân rồi chỉ mồ không để lại, đem thân thị hiện cho người sau ở chỗ nào? Chỉ có thầy ta xương vàng tồn tại, từng trải qua trăm lần nung luyện mà màu sắc tươi mới mãi”. Lại khen rằng: “Xương vàng ngọc linh thật đáng khoe, một đạo hào quang hơn ráng mây trời, chày sắc mặc tình đánh không nhọc sức, lửa hừng thiêu đốt màu thêm chuyển, nhiều đời quân vương thường cúng dường, lắm triều thiên tử hiến hoa hương, năm năm chỉ nghe ngắm Xá-lợi, nào đâu lễ kính Lão quân vậy?”. Quan sát lời bài tán thì biết Xá-lợi chẳng phải chỉ riêng để biểu thị đạo tích (dấu vết đạo), rất kiên cố chẳng hư hoại mà còn có sự linh dị đủ thứ nữa vậy. Sự linh dị ấy là sự thật rất hiển hiện: Như hai Xá-lợi của chùa Tịnh Nghiêm ở Tú Châu thời Tống. Khảo sát thời kỳ đầu được Xá-lợi ấy thì cho rằng, Xá-lợi có được ở Ngô Việt Quốc sư Thiều Công được Nhạc Dương Vương nhà Lương là Tiêu Sát truyền cho. Tiên Vương họ Tiền đã để Xá-lợi ở cái chuông vàng nhỏ, rồi đặt vào cái tháp bằng đồng nhỏ an trí ở chùa Linh Quang (tên cũ là Tinh Nghiêm. Thiều Công gọi Xá-lợi ấy một là “Hành Ðạo”, một nữa là “Nhập Ðịnh”. Nhập Ðịnh thì bí mật mà chẳng thể thấy, Hành Ðạo thì dùng tháp mà phô trương. Do Xá-lợi hành đạo này ngày đêm phấn chấn chẳng ngừng nên bưng tháp ấy cung kính thì chuông vàng càng chuyển động, cùng với người tương ứng (Ðàm Tân Văn Tập 13). Khế Trung Thiền Sư thấy việc đó, đã từng làm bài ký tường thuật việc ấy. Thứ báu vật kỳ lạ hiếm thấy tuyệt không có trên đời này, đáng tiếc là hiện nay đã thất truyền! Cái người ta có thể thấy được là tháp Xá-lợi của vua A-dục ở Ngân huyện vậy! Làng phía nam huyện Ngân tỉnh Chiết Giang có núi Mâu Sơn, trên núi có tháp Xá-lợi do vua A-dục đã tạo. Thời Tấn Võ Ðế có vị tăng Tuệ Ðạt lễ bái cầu phước thì tháp từ đất vọt ra, ngài liền xây dựng chùA-dục Vương. Xá-lợi trong tháp của chùa ấy, trải nhiều triều đại đã hiển bày sự linh dị. Lúc bình thường cửa tháp luôn đóng, có người muốn nhìn Xá-lợi thì trước phải thông tri cho chủ ngôi tháp, chủ tháp thỉnh tháp ra, người xem có thể quì xuống mà nhìn Xá-lợi. Tháp ấy cao một thước bốn tấc, chu vi cũng hơn một thước, trong tháp, bên trong bậc rỗng không, giữa treo một cái chuông “Thật tâm”, chính giữa đáy chuông có một cây kim, Xá-lợi được gắn ở đầu kim, bốn mặt tháp có cửa sổ với ô vuông hoa ngăn chận, tay chẳng thể thò vào, tức là qua lổ ô vuông hoa mà ngắm nhìn Xá-lợi. Hình thể, màu sắc, lớn nhỏ, nhiều ít, định hay động của Xá-lợi đều không nhất định. Người bình thường nhìn thì đa số thấy một hạt, cũng có người thấy hai, ba, bốn hạt. Có người thấy Xá-lợi nương ở đáy chuông bất động. Có người thấy rũ xuống dưới cây kim đến một tấc. Có người thấy Xá-lợi chợt xuống chợt lên, bỗng nhỏ bỗng lớn. Có người thấy Xá-lợi xanh, người thấy vàng, người thấy đỏ, người thấy trắng và màu sắc đậm nhạt chẳng đồng. Ðồng thời có người thấy những màu sắc khác lạ của hai màu gộp vào nhau. Có người thấy sắc khí đen thẩm, có người thấy sắc khí trắng ngần. Chẳng riêng từng người đều thấy khác mà ngay một người cũng có nhiều biến chuyển bất nhất. Lại có người thấy hoa sen và hình tượng Phật Bồ-tát. Cũng có người nghiệp lực sâu nặng, hoàn toàn không thấy gì cả. Khi Xá-lợi ấy nhỏ thì đều như hạt đậu xanh nhỏ, cũng có người thấy lớn như hạt đậu vàng, như trái táo. Khoảng niên hiệu Vạn Lịch đời Minh, Lại Bộ Thượng Thư Lục Quang Tổ dốc lòng tin Phật pháp, cực lực hộ trì, cùng với vài người bạn thân đến xem, đầu tiên ông thấy Xá-lợi lớn như hạt đậu nhỏ, rồi lớn như hạt đậu vàng, rồi lại lớn như trái táo, tiếp nữa thì lớn như cái móng, rồi lại lớn như bánh xe, ánh sáng soi rực rỡ, lòng, mắt thanh tịnh. Ðến lúc điện Xá-lợi bị hủy hoại, tháp bỏ vào nhà kho thì họ Lục liền phát tâm trùng tu tháp điện. Những người bạn thân của ông nhìn thấy cũng rất tốt, nhưng chẳng bằng sự thần diệu đặc biệt của họ Lục vậy (A-dục Vương Phật Xá-Lợi Tháp Ký Thật của Ấn Quang Ðại Sư).

 

3. Sự cảm được của Xá-lợi.

Xá-lợi theo truyền thuyết bình thường thì đại khái là xương cốt thâu thập được sau khi hỏa táng. Họ chẳng biết là vật Xá-lợi được hiển hiện cảm ứng chẳng thể nghĩ bàn, chứ chẳng hạn định ở cái sau khi chết thiêu đốt thân mới thấy mà ở mọi lúc mọi nơi cũng có thể cảm nhận được. Nay xin ghi lại như dưới đây:

Tắm rửa thân được Xá-lợi - Thiện Tịnh đời Ðường, người ở Kim Thành - Trường An, đi về phương nam đến Lạc Phổ gặp được An Công Pháp Ðệ mới thấu tỏ được yếu lĩnh của tâm. Sau trở về quê cũ, lưu lại giữ Vương Công doanh, ở trong viện Vĩnh An, thường khi tắm rửa thì Xá-lợi rơi rớt ra, ông liền nhặt lấy giấu đi chẳng cho đệ tử phô bày cho mọi người (Truy Môn Sùng Hạnh Lục)

Trong miệng được Xá-lợi - Phàn Huyền Trí đời Ðường, người An Ðịnh, tuổi nhỏ đã quy y hòa thượng Ðỗ Thuận. Hòa Thượng Ðỗ Thuận lệnh bảo tụng Kinh Hoa Nghiêm làm nghiệp. Ông cứ y theo mà tu hạnh Phổ Hiền. Mỗi khi tụng Kinh thì trong miệng đều thu hoạch được Xá-lợi, trước sau vài trăm hạt (Hoa Nghiêm Cảm Ứùng Lược Ký).

Khoảng chân mày (mi gian) được Xá-lợi - Pháp sư Biện Tài Tịnh đời Tống từng cùng với Tăng Hi Trọng đồng ăn. Trọng nhìn thấy ở khoảng chân mày của sư có ánh sáng như đom đóm, ông nắm lại thì được Xá-lợi. Về sau thường có người ở chỗ nằm ngồi của sư, được Xá-lợi. (Võ Lâm Cao Tăng Sự Lược).

Cạo đầu được Xá-lợi - Sa-môn Bản-đích-đạt- xác ở Tây Thiên Trúc, năm Hồng Võ thứ bảy đến Nam Kinh. Một ngày nọ có Kim đàn đao nhiếp là Tưởng Sinh vì sư cạo tóc, hứng lấy tóc bằng cái mâm, nhát dao cạo đầu tiên có tiếng ngân lên, thị tăng (ông tăng hầu) liền lấy đi. Nhát dao cạo kế tiếp, Tưởng Sinh tự nhận lấy, thu hoạch được một viên Xá-lợi lớn như hạt đậu rất tròn và trong sạch. Những tóc còn lại đều bị người thấy tranh nhau lấy đi hết mà hoặc có hoặc không có Xá-lợi, thường là có ba viên. (Sơn Am Tạp Lục quyển hạ).

Áo giấy được Xá-lợi - Có ông lão hiền đời Tống trụ ở ngôi chùa lớn tại Kinh sư, bốn mươi năm chẳng ngủ, ngồi thiền tinh cần khổ luyện như thế này, về sau áo giấy cũng thiêu cháy ra Xá-lợi (Long Thư Tịnh Thổ Văn).

Ðầu bút được Xá-lợi - Sở Kim thiền sư đời Ðường vẽ biến tướng Phổ Hiền, ở trên đầu nhọn ngọn bút liên tiếp được mười chín hạt Xá-lợi, hạt nào cũng tròn, ánh sáng nổi trong suốt (Ða Bảo Tháp Bi). Lại nữa, Pháp sư Khuy Cơ ở chùa Ðại Từ Ân tại kinh đô đời Ðường viết sớ giải Kinh Di Lặc Thượng Sanh, đầu ngọn bút xuất ra hai mươi bảy hạt Xá-lợi (Tống Cao Tăng truyện).

Chữ Kinh được Xá-lợi - Ngài Trí Nghiễm đời Ðường, năm Hiển Khánh thứ ba, người đạo kẻ tục của huyện Tiên Chưởng ở Thái Châu thỉnh ngài Trí Nghiễm về chùa Linh Tiên giảng Kinh Pháp Hoa. Ngài Nghiễm với vị tăng trong chùa là Hoàn Hương ở chung phòng, đầu đêm ở chỗ cư trú ngài lấy Kinh Pháp Hoa lật mở ra để trên án, sắp làm lễ thỉnh Kinh. Vào lúc ấy Hoàn Hương và ba người thị giả đều ở tại chỗ ấy, ngài Nghiễm đốt hương chưa xong, bỗng trên Kinh trong chữ Phật hiện ra Xá-lợi với ánh sáng năm màu lan tràn khắp trên quyển Kinh, lưu hành chẳng đứng yên. Hoàn Hương .v.v... đi bảo khắp các vị tăng trong chùa, đều vân tập lại mà lễ bái, muốn chung nhau thu thập lấy thì Xá-lợi trở lại lưu nhập vào chữ Phật. Tăng chúng buồn khóc lễ bái, thắp hương phát nguyện thì lại nhìn thấy chân dung Xá-lợi lại từ trong chữ Phật xuất hiện, lưu hành chẳng đứng yên, trong chốc lát lẫn vào trong những chữ Phật khác mà theo nhau biến mất. (Hoằng Tán Pháp hoa Truyện)

Ðiêu khắc Phật được Xá-lợi - Nhà Chung Ly Thiếu Sư ở Chân Châu, từ khi người vợ họ Nhiệm tu cầu về Tây phương, điêu khắc tượng Phật A Di Ðà lớn bốn tấc tám phân, khám thờ trang trí rất trang nghiêm, thường cung kính lễ bái hành đạo. Khoảng chân mày tượng ấy thường tuông ra Xá-lợi lớn như hạt gạo, ánh sáng rực rỡ chiếu mọi người. (Bảo Châu Tập)

Thêu Tượng được Xá-lợi - Người cung kính Liêm Trung Ðại phu ở Cám Châu (Cám Châu nay là tỉnh Giang Tây) thêu tượng Phật A Di Ðà thân một trượng sáu, thêu mới được chừng một nữa thì Xá-lợi tuông ra (Long Thư Tịnh Thổ Văn).

Quan hệ với Xá-lợi còn có thể ghi một việc nữa, tức là vào thời Ðường họ Bùi ở Hà Ðông nuôi một con chim Anh Vũ, dạy cho nó niệm Phật. Khi nó chết đem thiêu xác thì được hơn mười hạt Xá-lợi sáng rực chói mắt, trong suốt trong bàn tay. Người đương thời nghe thấy không ai chẳng khen là hy hữu. Cao Tăng Tuệ Quán riêng nhận lấy Xá-lợi, dùng gạch nung xây tháp ở núi Linh Sơn để biểu thị sự lạ lùng ấy. Trung Thư Lệnh là Vi Cao vì đó mà làm bài Anh Vũ Xá-lợi Tháp Ký, có câu: “Lông loài chim kia, tu tập ư! Có thể nói, liễu không tướng ở vô niệm, lưu lại chân cốt khi đã chết”.

 

II. KHAI SÁNG ÐẦU TIÊN.

1. Sự khai sáng đầu tiên của tháp Phật Ấn Ðộ.

Các đức Phật quá khứ vào Bát Niết-bàn thì sinh thân Xá-lợi đều có quốc vương, Ðại thần vì chư Phật mà thâu lấy, tạo dựng tháp cúng dường. Nếu lấy sự việc xa xôi này mà truy tìm sự mở đầu tạo dựng tháp thì nhất định chẳng thể được. Nay chỉ tựu trung tìm hiểu về tháp của đức Bổn Sư Thích Tôn, thuật lại duyên khởi của việc ấy.

Danh từ Tháp đã phát hiện trong Kinh Hoa Nghiêm mà đức Thích Tôn đã nói sau khi thành đạo hai mươi mốt ngày. Như Phẩm Tịnh Hạnh nói rằng: “Bắt đầu muốn quay trở lại tháp, phải nguyện cho chúng sinh đi trở lại với phước hựu, xét tìm thông suốt ý đạo”. Nhưng việc mở đầu kiến trúc ở trên sự thật thì do ông trưởng giả Cấp-cô-độc ở nước Xá-vệ. Ông Trưởng giả Cấp-cô-độc là một tín đồ của đức Phật đã từng dùng rất nhiều vàng mua vườn của ông thái tử Kỳ-đà, thỉnh Phật hàng năm đến thuyết pháp. Một ngày nọ, cư sĩ đi đến chỗ đức Phật, đầu diện làm lễ dưới chân, rồi ngồi sang một bên rồi bạch với đức Phật rằng: “Thưa đức Thế Tôn! Khi đức Thế Tôn du hành các nước, con chẳng thấy đức Thế Tôn nên rất khao khát chiêm ngưỡng Thế Tôn. Nguyện xin Thế Tôn ban cho một vật để con cúng dường”. Ðức Phật cho móng và tóc, rồi nói rằng: “Này cư sĩ! Ông phải cúng dường móng và tóc này!”. Cư sĩ tức thời bạch đức Phật rằng: “Nguyện xin đức Thế Tôn cho phép con khởi dựng tháp tóc và tháp móng!”. Ðức Phật dạy rằng: “Cho phép ông khởi dựng tháp tóc và tháp móng!”. Ðó gọi là pháp “Khởi Tháp” (Thập Tụng Luật 56). Nhưng Kinh Phật Bản Hạnh Tập ghi rằng, trời Ðế Thích xây dựng bốn ngôi tháp Phật: Một là Tiển Tháp (Tháp cây tên), lấy cây tên của đức Phật khi làm thái tử đã mang theo xây dựng tháp. Hai là Phát Tháp (Tháp tóc), lấy tóc của thái tử khi xuất gia xây dựng tháp. Ba là Bát tháp (Tháp bát) lấy cái bát đựng cháo sữa mà đức Phật nhận của cô mục nữ khi sắp thành đạo, xây dựng tháp. Bốn là Nha Phật Tháp (Tháp răng Phật), lấy răng đức Phật khi trà-tỳ xây dựng tháp. Xem đây thì Tiển Tháp, Phát Tháp và Bát Tháp còn sớm hơn tháp của ông Cấp-cô xây dựng. Nhưng bốn ngôi tháp này đều ở trên trời. Nếu lấy nhân thế mà nói thì ông Cấùp-cô quả thật đã mở đầu trước tiên cho việc xây dựng Tháp. Tiếp theo sau đức Phật thị tịch ở thành Câu-thi, rồi trà-tỳ ở rừng Song Lâm thu được tám hộc bốn đấu Xá-lợi. Những vị vua của các nước lân cận nghe được tin tức này đều muốn giành lấy nên đã cấu thành mối họa binh đao của tám nước. Kết quả đã được vị Bà-la-môn Hương Tính đứng ra điều giải, chia thành tám phần, vua mỗi nước đều được một phần. Họ rước Xá-lợi về nước tạo dựng tháp cúng dường, mới dứt được mối họa tranh giành. Ðến sau khi đức Phật thị tịch một trăm năm, có vua A-dục ra đời, lấy số Xá-lợi thuở trước, trong đêm sai quỷ thần tán vụn ra như bột thất bảo mà tạo dựng ra tám muôn bốn ngàn ngôi tháp để cúng dường. Tôn giả Tà-xá duỗi ngón tay phóng ra tám muôn bốn ngàn đạo hào quang sai quỷ có cánh bay, cứ theo đến chỗ tận cùng của từng đạo hào quang mà an lập một ngôi tháp ở trong một ngày cho khắp cõi Nam Thiệm-bộ châu (lãnh thổ Ấn Ðộ thời xưa). Riêng nước Chấn Ðán (Trung Quốc) có mười chín ngôi tháp (A-Dục Vương Truyện). Nay y theo quyển thứ ba mươi tám sách Pháp Uyên Châu Lâm liệt kê tên dưới đây:

(1) Tháp ở huyện Mậu ở Cối Kê - Tây Tấn.

(2) Tháp Trường Can ở Kim Lăng - Ðông Tấn.

(3) Tháp Ðông Thành ở Thanh Châu - Thạch Triệu.

(4) Tháp Bồ Phản ở Hà Ðông - Diêu Tần.

(5) Tháp Nam Kỳ Sơn ở Châu Chu Kỳ.

(6) Tháp Cổ phía đông thành Qua Châu.

(7) Tháp Chùa Ðại thừa bên trong thành Sa Châu.

(8) Tháp phía tây Cố đô Lạc Châu.

(9) Tháp Tháp cổ Cô Tạng ở Kinh Châu.

(10) Tháp cổ huyện San Ðan ở Cam Châu.

(11) Tháp phía nam núi Hoắc Sơn Tấn Châu.

(12) Tháp cổ phía đông thành Tề Ðại Châu.

(13) Tháp chùa Phước Cảm ở Tùy Ích Châu.

(14) Tháp ở huyện Tấn Nguyên - Ích Châu.

(15) Tháp chùa Siêu Hóa ở Trịnh Châu.

(16) Tháp chùa Diệu Lạc ở Hoài Châu.

(17) Tháp chùa Tịnh Minh ở Tinh Châu.

(18) Tháp ở huyện Du Ðỗ - Tinh Châu.

(19) Tháp ở huyện Lâm Hoàng - Ngụy Châu.

Sách Tháp Tổ Thống Kỷ quyển ba mươi bốn, cho là mười chín ngôi tháp mà người có thể biết được có năm chỗ là ngôi mộ Thánh ở phía đông chùa Bạch Mã tại Lạc Dương, ngôi tháp chùa Trường Can ở Kiến Khang (Nam Kinh), Tháp Tứ Minh A-Dục Vương. Nói năm nhưng trên chỉ liệt kê ba nơi, hay có thể lầm lẫn chữ năm chính là chữ ba. Hơn nữa ngôi thứ nhất (mộ Thánh) lại ở ngoài số mười chín ngôi tháp đã nêu trên. Về sau người trong nước đem lòng chí thành cầu được Xá-lợi, thường thường họ được thấy. Những việc này được ghi chép cụ thể ở những quyển sách Tam Bảo Cảm Thông Lục, Pháp Uyển Châu Lâm v.v...

2. Mở đầu việc xây dựng Tháp Phật ở Trung Quốc.

Trung Quốc xây dựng tháp bắt đầu vào thời nào? Ở đâu? Và người nào? Ðối với đáp án của vấn đề này, dưới đây sẽ nêu ra những thuyết khác nhau:          

Căn cứ vào Ðạo Thế đại sư đời Ðường thì chủ trương là thời Châu Văn Vương, ở phường Châu đã tạo dựng tháp gạch lớn trên núi Ðàn Ðài là mở đầu (Pháp Uyển Châu Lâm 38). Nhưng chuyện đó cũng là căn cứ vào việc nghe truyền lại của những bậc già xưa mà lịch sử thật có thể chứng minh không vững chắc nên thuyết ấy hình như chẳng thể đứng vững. Vấn đề ấy so ra có minh chứng của sự thật lịch sử thì phải là ngôi tháp của chùa Bạch Mã do Hán Minh Ðế xây dựng mới có thể tin được (Phật Tổ Thống Kỷ 54). Nhưng mà, cư sĩ Ðinh Trọng Hỗ, một người đương thời, thì y theo Ðường Cao Tăng Truyện cho là Tháp chùa Kiến Sơ do Ngô Tôn Quyền kiến tạo là tối cổ (Phật Học Ðại từ Ðiển). Căn cứ vào nền tháp của tháp Kiến Sơ thì hiện nay ở tại chùa Báo Ân của Thủ Ðô. Sau khi chùa trải qua loạn Hồng Dương4 thì hình thể đã suy sụp, tháp cũng không tồn tại.

Lại nữa, sách Già Lam Ký của Dương Huyễn nói rằng: “Vua Hán Minh Ðế mất, khởi dựng Kỳ Hoàn (tháp) ở trên lăng, phần mộ của bá tánh từ đây hoặc làm thành Phù-đồ vậy”. Căn cứ việc tạo dựng Phù-đồ của dân gian này thì phong khí ấy cũng rất cổ. Nhưng mà sách Tục Thuật Chinh Ký lại cho rằng: “Phía tây cách Hạ Hầu Ổ hai mươi dặm, phía đông một dặm tức là Phù-đồ Tương Dương, về phía nam tháp có đường cấp nước ngang qua, trong năm Hy Bình đời Hán có ông Mỗ nào đó đã kiến lập và sau khi chết chôn vào đó. Người em ông ấy khắc đá lập bia để biểu dương công đức! Trước hầm mộ có sư tử, thiên lộc (nai trời), xếp chồng gạch làm trụ Bách đạt (?) tám nơi, đã trở nên hoang vu, điêu tàn hủy hoại gần hết vậy. Xét ra thì Hy Bình là niên hiệu của Hán Linh Ðế mà việc có Phù-đồ của Trung Quốc phải đầu tiên thấy ở đây, tiếc là ông Mỗ nào đó chẳng truyền lại danh tính; cái gọi là “xếp chồng gạch làm trụ Bát đạt tám nơi”, phải chăng tức là qui chế xưa của Phù-đồ ư?”. Tôi xét ra Linh Ðế là vua đời thứ bảy sau Minh Ðế thì phải biết việc lập Phù-đồ ở trước mộ phần đã mở đầu từ thời Minh Ðế nên thời Linh Ðế đã trở thành tập quán rồi. Vậy nên việc khảo sát của Chinh Ký chẳng thể làm căn cứ được, đồng thời có thể để chứng minh là quả thật có Phù-đồ ở Trung Quốc chẳng bắt đầu từ năm Hy Bình đời Linh dế mà bắt đầu từ năm Vĩnh Bình đời Minh Ðế vậy. Lại nữa chẳng bắt đầu từ Phù-đồ của mồ mả dân gian mà bắt đầu từ Phù-đồ của chùa Phật. Phù-đồ của chùa Phật lại lấy chùa Bạch Mã làm tín sử chính đáng, còn hai thuyết Ðàn Ðài và Kiến Sơ là để tham khảo phụ thuộc.

Thích Lão Chí của Ngụy Thư nói rằng: “Từ Lạc Trung cấu tạo chùa Bạch Mã, thịnh hành trang sức Phù-đồ, dấu tích hội họa rất đẹp; là dạng thức bốn mặt, thường chế độ cung tháp còn y theo hình trạng cũ của thiên Trúc mà cấu tạo lại, từ một cấp đến ba, bốn, năm, bảy, chín cấp, người đời theo nhau gọi đó là Phù-đồ. Phù-đồ ở Lạc Trung đời Tấn có bốn mươi hai ngôi vậy”. Bởi trong năm Ðại Hưng, ở

Tiềm Ðổng Uông vì tạo dựng Phù-đồ đã đổ ra hết nhân lực, thời Thạch Triệu, hai vị quân vương (Thạch) Lặc và (Thạch) Hổ kính trọng ngài Phật-đồ-trừng cũng rộng rãi tạo dựng chùa tháp nên Phù-đồ ngày một tăng thêm. Nhưng thời kỳ này phần nhiều còn ở bên trong cảnh giới kinh thành. Cho đến thời Ngụy, hai vị vua Văn Thành và Hiếu Minh đều ra lệnh cho các quận xây dựng Phù-đồ mà về sau dân chúng mới bắt đầu biết có vật này. Sau đó Tùy Văn Ðế xuống chiếu lịnh cho các quận xây dựng một trăm mười ngôi tháp, có thể tính đây là thời kỳ tạo dựng tháp rất thịnh. Thời Tống, Ngô Việt Vương đã chế tạo tám muôn bốn ngàn cái tháp nhỏ bằng đồng, số lượng ấy có thể gọi là rất lớn. Nhưng công trình kém xa trước đó và nhìn chung thì cũng chẳng phải trong thời gian ngắn mà có thể hoàn thành được. Từ thời Tống trở đi, trải qua nhiều triều đại, đều có xây dựng và tu tạo, chỉ từ Dân Quốc trở lại đây, liên tiếp nhiều năm binh lửa, chính phủ bề bộn công việc ứng tiếp nên đã không rảnh rổi dốc sức vào việc này.

           

III. THỂ CHẤT.

Thể chất của tháp theo hướng thể lệ qui chế không cố định. Thường trong vật chất cái gì mà có thể đắp, xây, chạm trổ, bào mài thì đều có thể làm tháp được. Thuở xưa, Ấn Ðộ kiến tạo tháp nhìn chung thì bằng chất liệu đá là nhiều, tiếp theo là chất liệu gạch. Ðộ lớn nhỏ, cao thấp của tháp cũng không nhất định, thỉnh thoảng ở một nơi xây dựng vài mươi ngôi tháp, xếp thành dãy trông nhau, xa gần chói sáng như Ðại Ðường Tây Vực Ký quyển bốn đã ghi: Trong Già lam Xà-lâm5 ở nước Na-bộc-để6 có Tốt-đổ-ba cao hơn hai trăm thước do vua Vô Ưu xây dựng, bên tháp ấy có bốn Phật tòa đời quá khứ và chỗ di tích kinh hành, ngôi tiểu Tốt-đổ-ba, các thạch thất lớn kế nhau xếp thành dãy trông nhau, chẳng rõ số lượng của chúng. Chúng đều là những vật có từ đầu kiếp trở lại đây. Các vị Thánh nhân chứng quả đều tịch diệt ở đây khó nêu lên cho đầy đủ, răng xương còn tồn tại. Già lam quanh núi, chu vi hai mươi dặm, Tốt-đổ-ba thờ Xá-lợi Phật vài trăm ngàn ngôi, góc liền góc, bóng nối bóng”. Nay lại đem các thứ thể chất của tháp ghi chép sau đây:

(1) Bảo Tháp (tháp báu): Tháp được nghiêm sức bằng trân báu thì gọi là Bảo tháp. Phẩm Bảo Tháp trong Kinh Pháp Hoa nói rằng: “Lúc bấy giờ, đức Phật Ða Bảo, ở trong Bảo tháp, chia nửa tòa ngồi cùng đức Phật Thích Ca Mâu Ni.

(2) Mộc Tháp (tháp gỗ) - Mậu huyện có tháp Xá-lợi. Thái thú Trử Phủ Quân nói rằng: “Người đi biển thuật là trên hòn đảo có tảng đá đen làm thành hình đạo nhân, hình dáng có mặc quần áo. Ông Trử lệnh cho người đó khoét lấy đem về xem, hoa văn đá đều như dạng áo cà sa. Năm Phổ Thông thứ ba thời Lương Tổ (Lương Võ Ðế), trọng dấu vết xưa ấy nên xây dựng Mộc Phù-đồ (Tháp gỗ), nhà, điện, phòng, hành lang vòng quanh đầy đủ, hiệu là A-Dục Vương Tự. (Tam Bảo Cảm Thông Lục 1, Pháp Uyển Châu Lâm 38).

(3) Tháp Gạch - Về phía nam chùa Lạc Hoa Cung ở phường Châu hai mươi dặm, tục gọi là Ðàn Ðài Sơn, bên trên có nền ngôi cổ tháp rất hoằng tráng. Các bậc già xưa truyền lại rằng: “Thuở xưa Châu Văn Vương đi săn bắn ở đây, thấy có vị Sa-môn cầm tích trượng, mang bình bát đứng ở trên đầu núi, gọi xuống chẳng đến, vua sai người lên bắt, người sắp đến thì biến mất, lùi ra xa thì thấy vẫn còn đó. Nhà vua sai người đào chỗ vị Sa-môn đứng sâu xuống ba trượng thì thu được bát và trượng mà thôi. Vua kính trọng vị đó là bậc Thánh nên cho xây dựng ngôi tháp gạch mười ba tầng (Pháp Uyển Châu Lâm 38).

(4) Tháp Ðá - Năm Hưng Ninh thứ hai đời Tấn, Sa-môn Tuệ Lực tạo một ngôi tháp Ða Bảo bằng đá ở tại chùa Ngõa Quan (Hoằng Tán Pháp Hoa Truyện 1).

(5) Tháp Sắt - Lý Ðức Dụ đời Ðường đã kiến tạo ngôi Phù-đồ bảy cấp ở phía đông nam núi Cố Sơn về phía bắc Nhuận Châu (Minh Khẩu Tam Sơn Chí).

(6) Tháp Ðồng - Thời Tống Thái Tổ, Ngô Việt Vương là Tiền Thục, tính thiên bẩm kính Phật, hâm mộ việc vua A-Dục kiến tạo tháp. Ông dùng vàng đồng tinh luyện kỹ, chế tạo ra tám muôn bốn ngàn cái tháp. Bên trong cất giữ cái tráp báu đựng Kinh Ấn Tâm Chú (Công đức Kinh này nói rằng: Người tạo tượng, tạo tháp mà phụng an chú này thì liền thành thất bảo, tức là thờ phụng cất giữ Xá-lợi toàn thân Như Lai ba đời). Việc bài trí bên trong những tháp ấy, mười năm mới xong (Phật Tổ Thống Kỷ 44).

(7) Tháp Ðất - Ngôi tháp bên thành Liêu Ðông ở Cao Ly thì theo lời truyền lại của các bậc già xưa rằng: “Thuở xưa vị Thánh vương nước Cao Ly xuất hiện, đi xem xét bờ cõi đất nước, lần lượt đi đến thành này, thấy mây năm sắc che phủ trên đất, trong mây có vị tăng đứng cầm tích trượng, đến gần thì liền biến mất, lùi ra xa nhìn thì lại thấy, bên cạnh có ngôi tháp đất ba tầng, bên trên như phủ che bằng cái chõ”. (Tam Bảo Cảm Thông Lục 1).

(8) Tháp Hương - Phương pháp của Ấn Ðộ là dùng bột thơm nhồi thành bùn nhão để làm ra những Tốt-đổ-ba nhỏ, cao chừng năm, sáu tấc, rồi chép Kinh văn thành sách đặt vào trong tháp ấy, gọi đó là pháp Xá-lợi. Số tháp nhỏ đã đựng đầy Kinh văn rồi thì xây một ngôi Tốt-đổ-ba lớn gom hết chúng vào trong và thường tu sửa cúng dường. (Tây Vực Ký 1)

(9) Tháp Cát - Phẩm Phương Tiện Kinh Pháp Hoa nói rằng: “Cho đến trẻ con chơi đùa, gom cát làm tháp Phật, những người như vậy v.v... đều đã thành Phật đạo”. Lại nữa, Kinh Luật Dị Tướng bốn mươi bốn (44) thì có câu chuyện năm trăm đồng tử gom cát làm tháp.

(10) Tháp Phân (Phẩn tháp) - Bảy dặm phía đông nam thành Càn-đà-la7 bên Tây vực có ngôi Phù-đồ Tước Ly. Tìm nguồn gốc ngôi tháp ấy thì mới biết là thời đức Như Lai tại thế đã cùng với các đệ tử du hóa ở đất này. Ngài chỉ về phía đông ngôi thành mà nói rằng: “Sau khi ta vào Niết-bàn hai trăm năm, có vị quốc vương tên là Gia-nị-sắc-ca sẽ khởi dựng Phù-đồ tại chỗ này”. Ðức Phật vào Niết-bàn, hai trăm năm sau quả có vị quốc vương tên là Gia-ni-sắc-ca, ra đi dạo phía đông thành, thấy bốn đứa trẻ con đắp phân trâu làm tháp, cao được ba thước, thoáng cái là mất ngay. Nhà vua thấy quái trước những đồng tử này, liền làm cái khung (bao quanh tháp) (Tây vực Ký)8.

 

IV. TẦNG CẤP.

Ngài Tam Tạng Chân Ðế dẫn Kinh Thập Nhị Nhân Duyên rằng: “Tám hạng người nên dựng tháp thờ: Một là Như Lai, dựng tháp tám lớp “lộ bàn” (tám tầng) trở lên. Hai là Bồ-tát, bảy lộ bàn. Ba là Duyên Giác, sáu lộ bàn. Bốn là La-hán, năm lộ bàn. Năm là A-na-hàm, bốn lộ bàn. Sáu là Tư-đà-hàm, ba lộ bàn. Bảy là Tu-đà-hoàn, hai lộ bàn. Tám là Luân vương, một lộ bàn. Nếu thấy ngôi nào chẳng được lễ bái thì do chẳng phải là Thánh tháp vậy”. Lại y theo Tăng Kỳ Luật thì phàm tăng cũng được dựng tháp. Những vị gọi là pháp sư Trì Luật, Tỳ-kheo Doanh Sự, Tỳ-kheo Vọng Ðức thì nên dựng tháp mà đã chẳng phải là thánh nhân đều không có lộ bàn và luôn luôn làm ở chỗ khuất, nếu làm trái thì kết tội. Vậy nên ngày nay các vị Tỳ-kheo viên tịch phần nhiều có xây tháp đá. Loại tháp này ở thiền gia gọi là “Vô phùng tháp”, lại tên là Noãn tháp9. Tìm nguyên ủy của việc đặt tên ấy thì do Nam Dương Trung Quốc Sư đối trước vua Ðại Tông nói rằng: “Xin vì lão tăng làm một cái Vô phúng tháp” (Chương Trung Quốc Sư sách Truyền Ðăng Lục) là bắt đầu. Những bậc thiền giả đời sau theo lời nói ấy chôn cất vị tăng đã mất, rồi vót đá nhọn lên tròn trịa mà không khâu lại thành góc cạnh, không có tầng cấp, kêu là Vô phùng tháp. Hình thể Vô phùng tháp như cái trứng chim, nhân đó gọi là Noãn tháp. Bài minh Nan Ðề tháp trong sách Tuyết Phong Tồn Thiền Sư Lục khắc rằng: “Chủ đất là Tùng Sơn, Nõan tháp là Nan Ðề”.

Việc kiến tạo Phật tháp ở Trung Quốc từ xưa đến nay, về tầng cấp phần nhiều chẳng y theo Kinh làm chuẩn. Tháp có ba cấp: Như ngôi tháp do Giản Văn Ðế lập ở Trường Can tại Kim Lăng vào năm Hàm An đời Tấn. Tháp có bốn cấp: Như ngôi tháp do Thượng thư Hứa Tuân xây dựng thời Tấn Thành Ðế. Tháp có năm cấp: Như ngôi tháp do vua Thái Tổ đời Bắc Ngụy xuống chiếu xây dựng ở kinh thành. Tháp có bảy cấp: Như ngôi tháp ở núi Ngưu Thủ do vua Thái Tông đời Ðường ra lệnh xây dựng. Tháp có chín cấp: Như ngôi tháp ở chùa Bạch Mã xây dựng vào đầu thời Hán Minh Ðế. Tháp có mười cấp: Như Phồn tháp ở Khai Phong (Hà Nam) được xây dựng vào thời Hậu Chu. Tháp có mười một cấp: Như ngôi tháp chùa Khai Bảo do vua Tống Thái Tông ra lệnh xây dựng. Tháp có mười hai cấp: như ngôi tháp chùa Ðồng Thái do vua Lương Võ Ðế ra lệnh xây dựng. Tháp có mười ba cấp: Như ngôi cổ tháp trên núi Ðàn Ðài ở phường Châu. Tháp có mười lăm cấp: Như ngôi tháp của Tân Ngạn xây dựng vào thời Tùy Văn Ðế. Tháp có mười sáu cấp: Như ngôi tháp ở động Cổ Phước huyện Long Lý tại Quý Châu. Tháp có mười bảy cấp: Như ngôi cổ tháp của chùa Phạm Tràng ở Doanh Châu thời Tùy. Tháp có ba mươi bảy cấp: Như ngôi tháp đá chùa Phi Anh ở Hồ Châu do vị tăng tên là Vân Kiểu kiến tạo trong năm Hàm Thông đời Ðường.

Tháp thông thường người ta quen thấy là phạm vi những tầng cấp trên, bên trên tháp ấy theo thứ lớp co nhỏ lại so với những tầng cấp dưới ở bên dưới. Hình dạng của chúng thường thường có cái thế dạng vò rượu bên dưới, hình chùy bên trên. Nhưng có một loại Phù-đồ, cấp dưới ngồi đầy đặn ở trên mặt đất, cấp bên trên bỗng nhiên nhỏ lại đến vài lần, xem chúng phản phất như làm thành hai đoạn, trên dưới chẳng thể liền suốt một hơi. Chẳng qua loại dạng thức này là loại kiến trúc ngoại lệ đặc thù mà ở Trung Quốc chẳng thấy nhiều. Như Phồn tháp ở Khai Phong tức là một kiểu mẫu (lệ). Phồn tháp ở tại chỗ ba dặm bên ngoài thành về phía đông nam Khai phong, nếu lên trên đỉnh Long Ðình thì liền có thể trông thấy chúng. Ba cấp mặt dưới vĩ đại rất đầy đặn, đỉnh bên trên tháp có vài cấp nhỏ giống như quái vật đầu nhỏ mà thân thể lớn quá khổ. Khảo sát chứng cứ thì phồn pháp là nền cũ của đài Cổ Xuy, tức là chỗ tấu nhạc của Sư Khoáng10 đời Tấn thời Xuân Thu, xây dựng vào thời Hậu Chu, gồm có mười cấp, đều là hình lục phương (lục giác). Mỗi mặt tháp rộng độ chừng hai trượng bốn thước, chu vi thật ấy có mười bốn trượng bốn thước. Vách ngoài mỗi cấp đục rất nhiều lỗ hổng, trong lỗ hổng đều đắp tượng Phật, chạm trỗ tinh tế tuyệt luân. Thái Tổ nhà Minh trông Ðại Lương có vương khí, muốn trấn áp nên mới phát trừ đi bảy cấp, nay chỉ còn lại ba cấp. Người đời sau riêng tạo thêm bảy cấp đặt lên trên ba cấp ấy nên vẫn đủ số mười cấp. Trong tháp có Triệu An Nhân chép Kinh, ở khoảng vách tháp ấy có rất nhiều tiểu phẩm khắc đá đề danh, tất cả đều tinh diệu. Ðịa danh đã nêu lên rất có thể bổ sung cái thiếu khuyết của Tống Chí mà cùng với Thái Bình Hoàng Vũ Ký hỗ tương phát minh.

Liên quan đến đầu cửa mỗi tầng tháp, có một điểm bắt buộc mới lạ nhiều thú vị, vả có giá trị ghi chép. Vào khoảng năm Ung Chính nhà Thanh, trùng tu tháp trên núi Nguyệt Luân ở huyện Hàng, khi tháp hoàn thành vua Càn Long ban cho biển ngạch bảy tầng để cung phụng trong tháp. Một là Sơ Ðịa Kiên Cố, hai là Nhị Ðế Câu Dung, ba là Tam Minh Tịnh Vực, bốn là Tứ Thiên Bảo Võng, năm là Ngũ Vân Phò Cái, sáu là Lục Miết Phụ Ðai, bảy là Thất Bảo Trang Nghiêm. Thứ điểm bắt buộc này quả thật có thể khiến cho du khách mỗi khi đến một tầng, đối trước cảnh tưởng tượng xa xôi, trong lòng phát sinh thêm một thứ ý vị đặc biệt.

           

V. BỘ PHẬN BÊN NGOÀI.(NGOẠI BỘ)

1. Ðộ Cao.

Ðộ cao của tháp từ vài tấc đến vài thước, vài trượng, vài mươi trượng chẳng đồng đẳng. Như tháp cúng dường bằng vàng đồng của Ngô Việt Vương thì độ cao của chúng chẳng quá vài tấc. Tháp Xá-lợi thực hiện ở huyện Mậu đời Tây Tấn cao một thước bốn tấc. Tháp đá hiện ở trong suối chùa Siêu Hóa tại Trịnh Châu đời Tùy cao chừng ba thước. Ðến như ngôi tháp sắt do kẻ đạo người tục đã tạo dựng ở Hân Châu thời Ðường Thái Tông thì cao hơn một trượng. Tháp Long An của vùng Nông An tỉnh Cát Lâm cao năm trượng. Tháp Tăng Già chùa Tứ Minh Thiên Phong cao mười tám trượng. Tháp gạch của Cẩm Châu tỉnh Liêu Ninh cao hai mươi lăm trượng. Tháp Xá-lợi của Quảng Châu tỉnh Quảng Ðông cao hai mươi bảy trượng. Tháp Ðại Nhạn của Trường An tỉnh Thiểm Tây cao ba mươi trượng. Tháp của chùa Khai Bảo xây dựng đời Tống cao ba mươi sáu trượng. Tháp của huyện Long Lý ở Quí Châu cao bốn mươi tám trượng. Tháp do Vĩnh Minh thiền sư xây dựng ở núi Nguyệt Luân vùng Hàn Châu cao hơn năm mươi trượng. Cao độ cao nhất của tháp ấy thì không bằng độ cao chín mươi trượng của ngôi tháp chùa Vĩnh Ninh do Hiếu Minh Ðế đời Bắc Ngụy xây dựng (tháp ấy xem rõ phần sau). Tôi sơ bộ thấy ghi ở trong Ký, còn chẳng tin có độ cao lớn này lắm.

Tiếp tục duyệt xét trong Phật Tổ Thông Kỷ (39) đã thu thập được phần thứ tư, biên thứ nhì, tập thứ nhất của Tục Tạng là “Cửu thập văn”, tôi nghi chữ văn là chữ xích. Ðến đây tôi càng nghi chứng cứ đã phát hiện phần đầu là không đúng. Gần đây lại ở trong Già Lam Ký, nhìn thấy được sự thuyết minh tỉ mỉ rõ ràng của sự thật hạng mục này thì đích xác là chín mươi trượng. Chữ “Văn” trong “Phật Tổ Thống Kỷ” thật ra là lầm chữ “trượng”. Thứ vật kiến trúc cao lớn này quả thật là mới nghe trong lịch sử mỹ thuật quá khứ của Trung Quốc. Cứ tưởng là cung điện Hoàng Gia của thời đại chuyên chế, tuy được xưng tụng là cực kỳ hoa lệ nhưng cao độ của chúng tuyệt nhiên chẳng thể cùng với ngôi tháp này sánh bằng. Ngày nay ngôi tháp sắt Ba-lê (Paris) cao nhất thế giới (Bài viết khi tháp truyền hình Tokyo chưa có), cũng chẳng qua chỉ cùng ngang nhau mà chẳng thể cho là trên tháp ấy được. Từ đây có thể thấy mỹ thuật Trung Quốc đã sớm phát đạt, thật là các nước trên thế giới chẳng bì kịp vậy.

Ðời Ðông Hán có Trần Nguyên Long, nhà ông ấy có một ngôi lầu cao đến một trăm thước mà tại lúc bấy giờ đã là trứ danh phi thường. Thậm chí đến đời sau còn có người hâm mộ thích thú ngôi nhà ấy, như đại thi nhân đời Tống là Lục Du, ở trong bài Thu Tứ có câu:

Dục thư lão nhãn vô cao xứ

An đắc Nguyên Long bách xích lâu.

(Muốn xem trông rộng xa gần

 Lên lầu trăm thước Nguyên Long mà nhìn).

Từ câu thơ này mà xem thì ngôi tháp chùa Vĩnh Ninh lại là vật kiến trúc khó được, đáng quí, tuyệt không đâu có. Ðồng thời hạng người giàu sang, có kẻ ghiền đi du lãm thì mỗi khi đến vùng có tháp, không ai chẳng lấy một lần lên tháp làm khoái chí. Ấy bởi lầu đài tuy có thể thu tóm non nước xa gần vào khoảng quanh chiếc ghế, cái chiếu đang ngồi, nhưng mà công năng phụ giúp cho mục lực (sức nhìn của mắt) chẳng đủ, rốt cuộc chẳng bằng tháp. Xưa nói rằng: “Muốn tầm mắt thấu cùng ngàn dặm thì lại lên lầu một tầng”, đổi lời nói này cho Phù-đồ thì rất là chí phải. Vậy nên các vùng đất có Phù-đồ thường thường được hàng văn sĩ, mặc khách vẽ vào trong phong cảnh vậy. Thêm vào mà chẳng sợ gây phiền phức vụn vặt, xin lược nói lên vấn đề đó:

Thẩm Dương Bát Cảnh - “Tháp Loan tịch chiếu” là một trong tám cảnh của Thẩm Dương (tỉnh Liêu Ninh). Tháp ở tại mười hai dặm về phía tây thành. Mỗi chiều ánh sáng trong, bóng dài ngang không trung, chói lọi sinh ra ánh sáng.

Cẩm Châu Tứ Ðại - “Bắc Trấn Sơn Ðại”, “Hưng Thành Bài Phường Ðại”, “Nghĩa Huyện Phật Ðại”, “Cẩm Huyện Tháp Ðại”, gọi là “Cẩm Châu Tứ Ðại”. Phía bắc lầu trống đường Thập Tự trong thành Cẩm Huyện (tỉnh Liêu Ninh) có ngôi tháp cổ bằng gạch, hình lục giác cao hai mươi lăm trượng, là di tích chùa Ðại Phật xưa ở đời Ðường.

Cát Viên Bát Cảnh - “Bắc Sơn Song Tháp” là một trong tám cảnh của Cát Viên. Tháp ở tại núi Bắc Sơn chừng ba dặm bên ngoài cửa Ðức Thắng thành Cát Lâm (tỉnh Cát Lâm), bên trên có tự vũ bốn tầng, phía sau gác Ngọc Hoàng, Song Tháp cùng đứng trơ trọi, một cái lớn, một cái nhỏ, cuối hạ đầu thu du khách tụ tập đông đảo.

Tây Hồ Thập Cảnh - “Lôi Phong tịch chiếu” là một trong mười cảnh của Tây Hồ ở huyện Hàng. Ðáng tiếc là lúc Tôn Truyền Phương đến Chiết Giang vào  đó (tháp Lôi Phong) tế lễ thì tự nhiên ngã đổ hủy tan, mất đi chưa được người tu sửa lại, chỉ còn là tàn tích mà thôi.

Thường Ðức Bát Cảnh - “Ảnh tháp Long Ðàm” là một trong tám cảnh ở Thường Ðức (tỉnh Hồ Nam). Tháp ở tại núi Ðức Sơn, về phía đông thành, bên dưới có Long đàm (đầm rồng). Nước trong đầm lắng trong, bóng tháp thường ngã soi trong đầm ấy, hư hư thật thật đối chiếu rất là u nhã.

Tấn Viên Bát Cảnh - “Song Tháp Lăng Tiêu” là một trong tám cảnh ở Tấn Viên. Tháp ở tại thôn trang Hác về phía đông nam huyện thành. Thường mỗi khi móc buổi sớm chưa ráo, ánh bình minh vừa lên, soi bóng tháp vào sông Phần Thủy giống như ngọn bút miết vào mực cắm vào không trung.

Ninh Hạ Bát Cảnh - “Cổ Tháp Lăng Tiêu” là một trong tám cảnh của Ninh Hạ. Tháp ở tại chùa Thừa Thiên, lệch về phía tây thành huyện trị Ninh Hạ tỉnh Ninh Hạ, lại có tên là chùa Tây Tháp. Tháp hình bát giác, cao mười một tầng, xây bằng gạch xanh. Chánh điện có đức Phật nằm, dài hơn hai trượng co cánh tay gối mà nằm, phủ mặt ngoài màu đỏ. Sau tháp là một cái điện nhỏ, ngạch đề “Cổ Tháp Lăng Tiêu”. Tường cửa điện chạm khắc chuyện đi lấy Kinh của ngài Huyền Trang đời Ðường, đường nét tinh tế xảo diệu.

Quảng Châu Bát Cảnh - “Bà Châu Chỉ Trụ” là một trong tám cảnh của Quảng Châu. Tỳ Bà Châu (Bãi sông Tỳ Bà) ở tại phía tây nam Quảng Châu, sông nước vây chung quanh thuyền chèo như dệt cửi. Trên bãi ấy cây cối sum suê, nhát trông về đám um tùm ấy, trên đỉnh có Phù-đồ chín cấp đứng sừng sững trong đám mây.

Vùng đất sở tại - Tháp thường thường chiếm ưu thế của phong cảnh nên du khách ưa đến với tháp. Ðồng thời ở trong tâm khảm của họ, do thị giác chuyển vào một thứ hấp dẫn lực mạnh mẽ. Chẳng những chúng có thể đem hết cấu bẩn trong lòng tẩy rửa sạch trơn mà lại còn bao trùm lên trên một tầng ý cảnh nhẹ nhàng sảng khóai thích thú nữa. Vả lại chúng có thể dẫn dụ tâm linh phát ra nhiều chất liệu thơ mới mẽ tươi sáng. Như Sầm Tham cùng với Cao Thích dìu nhau đồng lên viếng ngôi Phù-đồ của chùa Từ Ân đã viết rằng:

Tháp thế như dũng xuất            

Cô phong tủng thiên cung

Ðăng Lâm xuất thế giới

Ðặng đạo bàn hư không           

Ðột ngột áp Thần Châu

Tranh vanh như quỉ công

Tứ Giác ngại bạch nhật

Thất tằng ma thương cung        

Hạ Khuy chỉ cao điểu  

Phủ thính văn kinh phong

Liên sơn nhược ba đào

Bôn tẩu tợ11 triều đông 

Thanh tùng giáp đạo trì12

Cung quán13 hà lung linh

Thu sắc tùng tây lai      

Thương nhiên mãn Quan Trung

Ngũ Lăng bắc nguyên thượng   

Vạn cổ thanh mông mông         

Tịnh Lý liễu khả ngộ

Thắng nhân túc sở tông

Thệ tương quải quan khứ

Giác đạo tư vô cùng    

  Tạm dịch:

Thế tháp như vọt thẳng

Cao ngất tận trời xanh

Lên ra khỏi thế giới

Bực lên lượn vào không

Ðột ngột áp Thần Châu

Chênh vênh như quỉ công

Bốn góc cản vầng nhật

Bảy tầng sờ trời xa

Dòm xuống đếm chim liệng

Cúi nghe gió kinh hoàng

Núi liền như gợn sóng

Vội họp chầu về đông

Bên đường tùng xanh thắm

Cung quán nào lung linh

Màu thu từ tây đến

Trời xanh đầy Quan Trung    

Ngũ lăng trên đồng bắc

Muôn đời xanh mênh mông

Tịnh Lý đã ngộ được

Thắng nhân sớm qui tông      

Thề đem theo mũ áo

Giác đạo vốn vô cùng14

(Tuệ Khai dịch)

Ở bài thơ trên đã biểu hiện tình cảm mà chắc chắn người ta có thể thấy ra cái phong vị bên ngoài khoảng trời rộng mà cảm quan thu được của Sầm Tham lúc bấy giờ là đáng yêu như thế nào? Mà một thứ tư tưởng xuất trần tiêu cái cũng bất giác ùn ùn sinh ra.

Nhưng phải bố trí chấn song cửa sổ, lan can cho tháp thì mới có thể theo bật cấp mà lên. Có một loại tháp tuy phân ra có tầng bậc mà bộ phận bên trong là đặc cứng (không leo lên được). Ấy bởi nguyên ý nghĩa của việc tạo tháp là để kỷ niệm Phật Ðà chứ chẳng phải chuyên cung ứng cho người du lãm. Ngày nay chuyên lấy tháp để sử dụng du lãm là lầm lẫn vậy.

 

2. Hình thức.

Khảo sát về kiến trúc nguyên thủy của tháp thì quy mô hình thức thuần túy là sắc thái Ấn Ðộ, bởi vì Trung Quốc từ trước trở lại đây chưa có thứ kiến trúc này. Những tháp ấy trải qua thời kỳ ban đầu đều làm theo tiêu bản cơ sở. Giả sử chẳng xuất phát từ tay những người thợ Ấn Ðộ thì chúng trước tiên nhất định được các vị Phạm tăng vẽ ra bản vẽ của chúng mà sau mới theo đó làm thành. Hoặc các vị Phạm tăng làm người chỉ đạo trực tiếp khi xây dựng tháp. Vả lại việc kiến tạo tháp thì việc xây tháp chùa Bạch Mã thời Hán Minh Ðế là nhân duyên khởi đầu. Tháp ấy nhất định do hai vị sư Ma-đằng và Trúc-pháp-lan qui hoạch tất cả, không cần nói cũng có thể biết. Về sau, số lượng tháp ngày một tăng thêm, trong ấy dần dần có sự tham gia tư tưởng của người trong nước, mà làm thành những vật kiến trúc Trung - Ấn hòa hợp, hoặc làm thành những vật kiến trúc thuần túy Trung Quốc tự chắp vá, tất nhiên là sự thật.

Hình thức của tháp bất nhất đủ chủng loại sai biệt, có hình vuông, hình tròn, hình lục giác, hình bát giác v.v... Tháp hình vuông như ngôi tháp vuông của núi Ngu Sơn ở Thường Thục. Tháp hình tròn như ngôi tháp chùa Tung Nhạc ở Hà Nam. Tháp hình lục giác như ngôi tháp gạch của huyện Cẩm. Tháp hình bát giác như ngôi tháp Lưu Ly của chùa Baùo Quốc ở Kim Lăng.

3. Vị thế.

Vị thế biểu thị của tháp thì kiểu hao văn trang trí (hoa dạng ) chẳng đồng nhưng mỗi mỗi đều tận cùng cái đẹp của thế tháp.

(1) Kiểu cô lập - Ðây thuộc dạng thức độc lập đơn thuần, là rất phổ biến, không cần nêu lên cái làm mẫu.

(2) Kiểu đối lập - Kiểu này như tháp Ðại Nhạn và tháp Tiểu nhạn của Trường An ở Thiểm Tây, sánh đôi trông nhau. Tháp Ðại Nhạn ở bên trong chùa Ðại Từ Ân bên ngoài cửa nam thành tỉnh Thiểm Tây là do pháp sư Huyền Trang đời Ðường tạo lập. Ðầu niên hiệu Vĩnh Huy đời vua Cao Tông, Pháp sư Huyền Trang dịch kinh tại chùa Từ Ân, năm Vĩnh Huy thứ ba, Trang sư muốn tạo lập ngôi Phù-đồ để an trí kinh tượng đã mang về từ Tây Vực, ý sợ đời người không thường, Kinh bản tan mất, thêm phòng nạn lửa. Phù-đồ Cao chừng ba mươi trượng. Do việc xây dựng tháp đá lớn quá sợ khó hoàn thành nên thay đổi tạo lập bằng gạch. Bài văn nguyện tự thuật có câu: “Nhưng do sinh linh bạc vận, năm tháng mất đi, chỉ sợ ba tạng Phạn bản thất lạc tàn phai theo năm tháng, áng thiên văn (văn trời) của hai bậc Thánh lặng lẽ không được ghi lại. Do đó sùng kính ngôi tháp này để định an trí Phạn bản. Lại dựng phong bi khắc ghi bài tự Ký ấy.” Vậy nên ngôi tháp cũng gọi là Kinh Tháp. Hoặc có người nói rằng, lúc Trang sư xây tháp có con chim nhạn bay qua mà rơi xuống, được chôn ở tháp nên lấy cái tên này. Ðối lại với tháp Tiểu Nhạn của chùa Tiến Phước nên tháp này gọi là Tháp Ðại Nhạn. Chùa của tháp Tiểu Nhạn cách chùa Từ Ân về phía tây một dặm, năm đầu niên hiệu Thiên Thọ nhà Ðường được đổi tên là Tiến Phước (tên cũ là Hiến Phước). Từ niên hiệu Thần Long trở về sau, nơi đây đã biên dịch Kinh Phật, tạo lập Phù-đồ mười lăm cấp cao hơn mười trượng.

(3) Kiểu Bài Lập - Kiểu này như kiểu ba tháp của chùa Trà Thiền ở huyện Gia Hòa tỉnh Chiết Giang, xếp hàng ngang dài hình chữ “nhất”. Những tháp ấy, đầu tiên vùng đất này có cái đầm rồng (Long đàm) âm u sâu thẳm không dò được, sau mỗi cơn mưa tạnh thường có ba đạo bạch quang khởi lên từ mặt nước. Cuối đời Ðường có vị tăng lạ tên là Hành Vân chuyển đất đá lấp đầm. Chất chứa lâu ngày đầm cạn, ngài liền xây ba ngôi tháp để trấn giữ và dựng ngôi chùa Phật. Họ Tiền đời Ngũ Quí ban tên là Bảo An Bổ Ðà, đời Tống đổi là Cảnh Ðức Tự, đời Hồng Võ nhà Minh định là Thiền Tự. Ngôi tháp suy đổ đã lâu, đời Khang Hy nhà Thanh có người làng tên là Tiền Giang quyên góp của cải để đúc đỉnh tháp bằng sắt mà xây dựng lại. Vua Càn Long ban câu đối là:

“Dũng tháp đồng tham Pháp Hoa Phẩm.

Thí trà phân chứng Triệu Châu thiền”

(Dũng tháp đồng tham (gia) phẩm Pháp Hoa. Thử trà phân chứng thiền Triệu Châu15).

     Nhân đó đổi thành tên ngày nay (Trà Thiền Tự). Cuộc binh lửa năm Hàm Phong chùa bị tiêu hủy, năm Quang Tự thứ hai, Diêu Văn Nam, Kim Hàm quyên góp của cải xây dựng lại ba ngôi tháp.

(4) Kiểu phương lập - Kiểu này như là bốn ngôi tháp của bốn cửa ở Thẩm Dương tỉnh Liêu Ninh, bốn mặt đoái trông từ xa. Chùa pháp Luân ở bên ngoài cửa Ðịa Tải của Thẩm Dương có ngôi tháp gọi là Bắc Tháp. Chùa Quảng Từ ở bên ngoài cưả Ðức Thịnh của Thẩm Dương có ngôi tháp gọi là Nam Tháp. Chùa Diên Thọ ở bên ngoài cửa Ngoại Nhương của Thẩm Dương có ngôi tháp gọi là Tây Tháp. Chùa Vĩnh Quang ở bên ngoài của Phủ Cận của Thẩm Dương có ngôi tháp gọi là Ðông Tháp. Những ngôi tháp ấy hiệu xưng là “Thẩm Dương Tứ Tháp”.

(5) Kiểu Củng Lập - Kiểu này như năm ngôi tháp của chùa Ngũ Tháp ở Bắc Bình. Tháp ở cách một dặm về phía bắc vườn Vạn Sinh bên ngoài của Tây Trực, nguyên là chùa Trực Giác, phàm có năm ngôi Phù-đồ nên gọi là chùa Ngũ Tháp, do người Mông Cổ xây dựng. Sau chùa có ngôi tháp rất cao gọi là Kim Cương Tòa, hình vuông, bốn mặt đều có tượng phật khắc đá, thợ khắc rất tinh xảo. Từ trong cái lỗ vách ngầm theo trái, phải mà vào, rồi xoay tròn leo lên đến đỉnh tháp là cái đài bằng. Trên đài vọt lên năm ngôi tháp nhỏ, bên trong thờ kim thân đức Như Lai.

(6) Kiểu phân lập - kiểu này như bảy ngôi tháp của viện Kim Cương Bảo Tháp ở Tây Sơn - Bắc Bình. Tháp được sắp bày hình bàn cờ. Những tháp ấy thuần dùng ngọc thạch xây nên. Tháp khoảng giữa hình vuông rất lớn, tháp ở bốn góc nhỏ hơn một bực, hai tòa phía mặt trước hình tròn hơi nhỏ. Tháp vuông thường mười ba tầng, đỉnh tháp đều có mũ.

 

VI. NỘI BỘ.

1. Cấu tạo.

Tháp có hai tính chất rỗng và đầy mà phương pháp cấu tạo chúng cũng nhân đó có sự phân biệt đơn giản và phức tạp. Nay tựu trung lược thuật khái quát về tháp rỗng.

Tháp rỗng mà gồm luôn chức năng để người lên tham quan thì bên trong nhất định phải có thang khả dĩ giúp người leo lên, bên ngoài phải có cửa khả dĩ thỏa mãn tầm mắt. Bên ngoài cửa có hành lang khả dĩ đi lại được, bên ngoài hành lang có lan can khả dĩ tựa vào đó trông ra xa xôi, cũng có thể dùng để phòng nguy hiểm. Từ bên ngoài lan can từng tầng, hoặc có diềm mái bay cất lên như cánh rủ xuống khoảng không; bên dưới diềm mái treo chuông nhỏ bằng kim thuộc, hòa theo gió kêu leng keng vang xa. Ðây là tình hình phổ thông của một hạng tháp, cho đến loại tháp bố trí tế mật tường tận khúc chiết. Sự biến hóa phức tạp ấy tuy chẳng đến nỗi làm cho tháp này khác hẳn tháp kia nhưng mà cũng chẳng dễ giúp cho người hiểu được có hệ thống. Ấy bởi vì thời đại kiến trúc có trước, sau chẳng đồng, tâm thợ có khéo, vụng chẳng đồng, vật liệu lại có gạch, đá v.v... Cũng chẳng đồng. Ở dưới cái đám rối rắm khác nhau này, lại thêm sự biến thiên của tư tưởng tiến hóa thì sao có thể trở thành một khối kiến trúc tương đồng được? Vậy nên việc bàn luận hôm nay chẳng thể cưỡng đặt cái khác để mà đồng, cũng chẳng thể cưỡng đặt cái đồng để mà khác, chỉ có lược nêu một, hai cái từ cái qui lệ còn lại ấy.

Già Lam Ký nói rằng: “Chùa Vĩnh Ninh đã do Linh Thái Hậu họ Hồ kiến lập vào năm đầu niên hiệu Hy Bình, tại chỗ cách một dặm về phía nam cửa Xương Hạp (Cửa chính của cung vua) trước cung... có làng Linh Âm16 tức là chỗ tàng trữ nước đá (băng) thời Tứ Triều. Ở giữa có một tòa Phù-đồ chín tầng, sườn làm bằng gỗ, cất cao chín mươi trượng, có “sát” (Sát tức là Bảo tháp hoặc đỉnh nhọn của nóc chùa ngày nay) cao mười trượng, hợp cả hai thì cách mặt đất những một ngàn thước. Ở cách kinh đô hàng trăm dặm, đã trông thấy từ xa. Ban đầu đào nền đến dưới Hoàng Tuyền, được tượng vàng những ba nghìn, Thái hậu lấy làm bằng chứng tin tháp. Ðó là quá trình xây dựng vậy. Trên tháp có bình vàng báu, dung tích hai mươi lăm thạch, dưới bảo bình có thừa lộ kim bàn (những lớp vòng tròn trên đỉnh tháp) ba mươi lớp mà giáp vòng đều có treo kim đạc thòng xuống (Ðạc tức là cái chuông lắc bằng đồng, bên trong đặt tim gỗ thì gọi là mộc đạc, đặt tim sắt thì gọi là kim đạc). Lại có bốn đường kết bằng vòng sắt dẫn từ trên “sát” hướng xuống Phù-đồ. Bốn góc trên đường vòng kết cũng có kim đạc. Ðạc lớn, nhỏ như cái hũ đá. Phù-đồ có góc của chín cấp, từng góc đều treo kim đạc, hợp lại trên, dưới có một trăm hai mươi cái kim đạc. Phù-đồ có bốn mặt, mỗi mặt có ba cửa lớn, sáu cửa sổ, cửa lớn đều sơn đỏ, trên cánh cửa có năm hàng đinh vàng, hợp lại có năm ngàn bốn trăm cái. Lại có vòng vàng bố trí phô bày trên đầu, tận dụng hết công năng của gỗ đất, sự khéo léo của tạo hình, Phật sự tinh diệu, chẳng thể nghĩ bàn, trụ năm màu, vàng phô trương làm kinh ngạc lòng, mắt người nhìn thấy, đến khi hằng đêm gió thổi bảo đạc hòa điệu kêu vang, tiếng leng keng nghe xa hơn mười dặm”.

Bài Phục Tu Nam Tháp Ký của Ðào Tất Thuyên ở An Hóa viết rằng: “Danh từ tháp lưu xuất từ Thích (tức là Phật Giáo), những tháp ấy xây dựng ở các quận, châu, ấp. Bởi người học hâm mộ chuyện Vi Triệu17 đời Ðường thuở xưa mà làm ra những tháp ấy. Dùng hình nhọn cao vót lên như cây bút đủ giúp cho văn tài sắc bén nên kẻ bàn nói về phong thủy chọn lấy vậy. Ý cũng như là có người mà chẳng có trời thì chẳng có nhân, có trời mà chẳng có người thì chẳng thành vậy. Ấp tôi (An Hóa) thuở xưa không có tháp, năm Kỷ Tỵ, Càn Long, bậc tiền bối của làng lấy mạch “học cung” (học xá) từ phía tây chạy quanh co đến mà an định lại bằng cái hang gỗ ngang, rồi ở hướng khác mới sáng lập núi Giá Bút để dẫn tú khí của Mộc tinh (sao Mộc). Về sau việc khoa mục (việc học hành đỗ đạt) được khen là tối thịnh. Lúc Thuyên Ðồng thi cử đã từng một lần leo lên đất ấy, xem thấy nơi ấy vẫn giữ nguyên vẽ hùng tráng phi thường, rộng rãi mênh mông. Do đó những bậc hào kiệt khoáng dật lên đến nơi ấy nhất định mở thêm ra những hoài bão cao minh quảng đại mà tuôn ra những điều lạ lùng ấy vậy. Rồi thầy địa thuở trước dời về đặt ở Vọng Thành Pha thì liền không còn vượt mạnh nữa. Năm Kỷ Dậu vị ấp sĩ Mỗ nào đó phục hồi tháp. Thầy họ Trương ở Bình Khê bùi ngùi nhận việc ấy mà Thuyên tôi cùng hứa với ông ấy hết sức kêu gọi, chạy vạy đến cùng vậy. Chọn lựa nền xưa, hướng về bên trong ngọn núi thứ nhất ẩn chứa sự thịnh vượng mà xây dựng tháp. Tháp xây đắp bằng đá, không dùng gạch ngói, tính ra cao hơn sáu trượng, tám mặt mỗi mặt hơn năm thước. Tháp bảy tầng, mỗi tầng làm bốn cửa. Tầng một bên dưới tháp ấy làm cửa lớn, bao quanh bằng lan can, ngạch đề rằng Liên Nguyên, tầng chồng lên trên đề rằng Vân Trình, Sính Bộ, rồi Ngưỡng Cao. Ngạch đề rằng: Thượng Ðạt là tầng trên cùng, khắc tượng đá thờ sao Khuê. Bên ngoài tháp ấy vuông mà bên trong tháp thì tròn, hai đầu rỗng mà khoảng giữa đặt hiệp với căn bản âm, dương đắp đổi nhau, với ý nghĩa vận hành trùng điệp theo qui củ. Các góc treo bốn mươi tám cái “phong tranh” (sáo diều), mỗi khi gió thổi qua phát ra tiếng kêu vi vu”.

2. Ðiêu khắc.

Phàm mỗi một tháp, bộ phận bên trong theo từng tầng nhất định có điểm bắt buộc hạn chế độ thấp nhất, cũng nhất định khắc một, hai bi ký, tự thuật động cơ sáng tạo và quá trình sáng tạo ấy, truyền lại cho tương lai để mà ghi nhớ. Ở trong những bi ký này có dẫn khởi đầy đủ sự chú ý của người xưa nay. Một như là bài bia ghi ở tháp Phật Ða Bảo. Ðây là ngôi tháp Xá-lợi do vị tăng Sở Kim tạo lập ở chùa Thiên Phước tại Tây Kinh đời Ðường, khoảng niên hiệu Thiên Bảo, vua ra lệnh trợ giúp thành công. Văn bia là Nhan Chân Khanh18 viết, là thời kỳ rất chỉnh tề mà mạnh mẽ tròn đầy với bút pháp trung niên của ông ấy. Ðời khen thư pháp của Ðổng Hương Quang thật đắc lực ở bia này. Ấy bởi thầy thư pháp của Nhan là Chử Ðăng Thiện (Chữ Toại Lương) mà Ðổng theo Nhan, Nhan học từ Chữ, bia này là lối ngắn nhất có thể dòm ngó vậy. Khoảng những năm Gia Khánh, Ðạo Quang nhà Thanh, Các quán, các trường học về thể thư pháp, người tập theo thể này rất nhiều. Ðương thời có câu ca dao: “Xứ xứ Nhan đa bảo” là chỉ chọn lấy sự hoàn chỉnh của kết cấu thư pháp ấy mà thôi. Những nhà Giám thưởng (người thưởng thức nghệ thuật...), dùng đục đục lấy ra, chữ chưa nứt nẻ tổn hại, đây là bản in rập đầu tiên. Hai là bài Bi Ký tháp Huyền Bí. Tháp do Ðại Ðạt pháp sư kiến tạo thời Ðường, Bùi Hưu soạn văn bia, Liễu Công Quyền viết chữ, bia vốn ở tại cánh đồng phía nam Trường Lạc, sau dời về Tây An học phủ.

Thứ đến lại có tháp khắc tượng Thánh. Như đầu đời Tùy có Tiển luật sư khắc gỗ làm mười hai tượng thần, trang trí ở dưới tháp chùa Ðại Thạch huyện Lạc. Lại như trong ngôi Hoa tháp của chùa Lục Dung ở Quảng Châu, có cây trụ gỗ ngô đồng, xung quanh khắc một ngàn pho tượng Phật nên lại có tên là Thiên Phật Tháp. Vương Bột đời Ðường đã từng soạn bài bi ký tháp Thiên Phật, đọc thấy ở Vương Tử An Tập. Lại có, ở khoảng tường vách mỗi tầng của tháp bố trí thành hình khám thờ để thờ phụng tượng Phật cho mọi người cúng dường.

Thứ đến, tháp lại có chạm khắc bộ phận Kinh điển của Ðại Tạng dùng làm Xá-lợi mà thờ cúng. Ấy bởi vì Kinh điển là pháp thân Xá-lợi còn linh cốt là sanh thân Xá-lợi. Người xây dựng tháp đã chẳng thể có được sanh thân Xá-lợi thì họ chẳng ngần ngại lấy pháp thân Xá-lợi để thay thế. Vậy nên bên trong tháp người ta thường khắc Kinh Phật khảm vào bốn vách, là điều được thấy ở nhiều nơi. Ngôi tháp được khắc Kinh Phật rất dài mà phí tổn cho thợ đá rất lớn là ngôi tháp chùa Ðại Minh xa xưa. Bên trong tháp khắc toàn bộ Kinh Hoa Nghiêm và tên người duyệt Kinh là vua Thế Tông nhà Kim.

3. Tàng chứa.

Từ xưa đến nay, người ta tạo lập tháp, thường đem những vật quí báu nổi tiếng đáng tôn trọng để vào bên trong tháp, nhưng thường vẫn để ba thứ Xá-lợi, Kinh quyển, tượng Phật là nhiều, kỳ dư đều là những vật phẩm phụ thuộc. Chẳng qua những vật phẩm loại này chỉ có thể được bảo tồn tạm thời, bởi vì sự phá hoại của hành vi con người thường thường mãnh liệt hơn sự phá hoại của thiên nhiên. Như lấy việc đánh nhau của bọn Hồng Dương19 để nói, loạn đến nơi biết bao nhiêu chùa tháp bị hủy diệt sạch trơn, mặc cho tác phẩm nghệ thuật gì cũng chẳng thèm đoái hoài đến. Ðến như Kim Sơn Vãn Tông các, nơi chứa cất Tứ Khố Toàn Thư còn chẳng được ưu ái hộ trì thì còn nói gì nữa. Vậy nên phàm một ngôi tháp bị đập phá thì những báu vật cất giấu ở trong đó, trừ những vật thể to nặng chẳng dễ ăn cắp vận chuyển ra ngoài, những cái còn lại đều không cánh mà bay. Nay đối với những cái còn lại than thở, lược ghi di văn (văn còn sót lại) của ba đạo bia để chứng thật cho người xưa.

Văn bi ký của tháp Huyền Bí:“Thiền sư Sở Kim trước chích máu viết một bộ Kinh Pháp Hoa, một quyển Bồ-tát giới, một quyển Quan Âm Hạnh Kinh, mới lấy ba ngàn hạt Xá-lợi đựng vào cái hộp đá, rồi tạo luôn hình ảnh thân mình bằng đá quý mà đội hộp Xá-lợi, đồng đặt ở dưới tháp để bày tỏ sự cung kính. Sai người dời thuyền hang tối, không đổi cửa độ kẻ cướp vật trắng trơn mà mãi treo khuôn pháp chính đính. Lại phụng vì chúa thượng và chúng sinh viết một ngàn bộ Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, ba mươi sáu bộ chữ vàng dùng để trấn Bảo Tháp”.

Kiến Châu Bảo Thiện Am Xá-lợi Tháp Ký ghi rằng:“Năm năm đầu niên hiệu Hoàng Hựu nhà Tống, Tào Hoàng hậu lệnh cho trong cung xây dựng tháp ở chùa Hồng Phúc huyện Thông Hứa của đất Biện. Lấy hết Xá-lợi thờ trong cung đem cất giữ ở tầng thứ tư của tháp, sau nhiều năm tháp đổ nát, đến năm Giáp Tuất niên hiệu Sùng Trinh20, Lưu khấu xâm phạm cảnh giới, quan huyện lấy gạch của tháp sửa thành được một cái hộp đá, mở ra trong đó có bảy cái bình thủy tinh, đều chứa Xá-lợi; một cái bình bằng bạc chứa một đốt xương của Phật, trong có Xá-lợi như hạt lúa rất nhiều; một cái hộp bằng bạc chứa hai pho tượng Phật vàng. Khảo sát đến bia cũ mới biết được duyên do ấy.”

Phổ Chiếu Viện Ða Bảo Tháp Ký ở Tú Châu ghi rằng: “Tháp có bảy cấp, mỗi cấp cất giữ cái hòm báu Pháp Hóa, mỗi hòm một túi đựng. Cấp bên dưới lấy thêm vàng, bạc làm văn tự, tầng đỉnh đặt chín mươi chín bản Kinh ở “Tướng luân”, bên dưới nền tháp chôn cất “Ngọa Phật Xá-lợi”. Từ những Kinh quyển, tháp tượng còn lại thì lại chẳng đủ số. Cửa giữa đắp tượng Ða Bảo Thích Ca ngồi, trang sức bằng mọi thứ báu rất trang nghiêm.’’ (Bổ Tục Chi Viên Tập).

 

VII. CÔNG ÐỨC.

Phù-đồ tuy là một thứ vật kiến trúc, nhưng có thể nhờ cậy để tư trợ tu phước tuệ, thành tựu đạo nghiệp. Vấn đề này ở trong Kinh Luận thường có được đọc thấy, ở đây xin lược ghi thêm vài điều để trưng bằng cớ làm tin.

(1) Tạo tháp - Tăng Kỳ Luật nói rằng: “Vàng ròng trăm ngàn gánh đem dùng làm bố thí chẳng bằng một hòn đất bùn, buông lòng sửa trị tháp Phật”. Kinh Bách Duyên lại nói rằng: “Ðức Phật bảo ngài A-nan, thuở xưa đức Phật Ca-diếp sau khi vào Niết-bàn, có vua Ca-sí thâu lấy Xá-lợi của ngài, tạo lập bốn Bảo Tháp. Có ông trưởng giả thấy dựng nền tháp, lòng phát sinh tùy hỷ, mang một đồng tiền vàng đặt ở bên dưới tháp, rồi phát nguyện mà đi. Nhờ công đức đó mà chẳng rơi vào đường ác, sinh lên trời hay trong loài người thường có tiền vàng, thọ phước khoái lạc, cho đến hôm nay gặp được ta, xuất gia đắc đạo”. Dùng một đồng tiền sửa trị tháp làm nhân mà còn cảm được quả báo như vậy huống gì là đem nhiều của cải trang nghiêm tháp.

(2) Sửa Tháp - Kinh Bách Duyên nói rằng: “Thời đức Phật tại thế, trong thành Ca-tỳ-la, có một ông trưởng giả của báu nhiều vô lượng. Vợ ông ấy sinh được một đứa con đoan chính thù diệu, người thấy đều kính ngưỡng. Ðứa trẻ lớn dần được gặp Phật, chứng quả A-la-hán. Lúc bấy giờ đức Thế Tôn bảo cho các vị Tỳ-kheo biết, thuở đời quá khứ cách nay chín mươi mốt kiếp, có đức Phật Tỳ-bà-thi, sau khi ngài vào Niết-bàn, có vị vua tên là Bàn-đầu-mạt-đế thâu lấy Xá-lợi, tạo bốn ngôi Bảo Tháp mà cúng dường ngài. Về sau tháp ấy bị hư hại nhỏ, một đứa trẻ con vào tháp, thấy chỗ bị vỡ này, phát nguyện với dáng điệu hăm hở, kêu gọi tập họp mọi người, cùng chung tô trát sửa trị ngôi tháp, rồi ra đi. Nhờ công đức đó, suốt chín mươi mốt kiếp chẳng bị đọa vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, sinh lên trời hay trong loài người hưởng thọ phước lạc vô ưu, thường được trời, người nhìn thấy kính ngưỡng. Cho đến hôm nay người đó gặp được ta, được mọi người nhìn thấy đều kính ngưỡng, xuất gia đắc đạo”. Lại ở đời đức Phật có một vị Tỳ-kheo, nhân ở đời quá khứ treo một cái linh (cái chuông nhỏ) vào diềm mái ngôi tháp mà cảm ứng được tiếng trong cổ họng lớn vang xa đời đời, được mọi người ưa nghe.

(3) Quét dọn tháp (Tảo tháp).

Kinh Tam Thiên Oai Nghi21 nói rằng: “Quét tháp có năm việc: Một là chẳng được mang giày22, hai là chẳng được quay lưng về phía Phật mà quét tháp, ba là chẳng được lấy thượng thiện sĩ23 cầm bỏ xuống, bốn là chẳng nên để tượng Phật xuống dưới, hoa cũ lên trên, năm là buổi sáng qua phải rửa tay tự cầm khăn sạch lau lại tượng Phật”. Lại có năm việc nữa: “Một là trước phải rưới nước mặt đất, hai là phải làm cho đều, ba là phải đợi cho khô, bốn là chẳng quét ngược, năm là chẳng quét đón gió”. Lại nữa, Kinh Tiểu Pháp Diệt Tận nói rằng: “Thuở quá khứ vô số kiếp, có đức Phật ra đời hiệu là Nhật Ðịnh Quang, sau khi ngài vào Niết-bàn, phân bố Xá-lợi khởi dựng tháp cúng dường. Lúc pháp sắp mạt, có một người nghèo, kiếm sống vô phương phải làm nghề bán củi. Nhân một hôm, ông ta đi về phía đầm quơ củi, từ xa trông thấy ở trong đầm có một ngôi tháp tự rất là lồng lộng. Ông liền đến bên tháp chiêm ngưỡng quan sát hình tượng, hoan hỷ làm lễ. Ông chỉ thấy chồn, thỏ, chim bay, thú chạy dùng làm chỗ dừng nghỉ qua đêm, bên trong đầy cỏ cây gai góc chẳng sạch sẽ, lại tuyệt không có người, cũng không dấu tích, bóng dáng, không người cúng dường. Người nghèo nhìn thấy khởi lòng thương xót mà chẳng hiểu biết gì về Thần đức của đức Như Lai, nhưng đem lòng hoan hỷ phát cỏ chặt cây, quét dọn những thứ bất tịnh, quét xong ông hoan hỷ nhiễu quanh tháp tám vòng, rồi làm lễ mà ra đi. Nhờ công đức này, sau khi mạng chung, ông được sinh lên cõi Quang Âm Thiên với cung điện bằng mọi thứ báu, ánh sáng rực rỡ, ở giữa chư thiên lồng lộng tối thắng”.

(4) Toàn Tháp - Lại gọi là nhiễu tháp (đi vòng quanh tháp), Kinh Ðề Vị nói rằng: “Toàn tháp có năm công đức. Một là đời sau được sắc đẹp đoan chính, hai là được thanh âm tốt, ba là được sinh lên trời, bốn là được sinh vào nhà Vương hầu, năm là được đạo Nê Hoàn. Vì nhân duyên gì được sắc đẹp đoan chính? Do thấy tượng Phật hoan hỷ vậy. Vì duyên gì được thanh âm tốt? Do đi nhiễu tháp mà nói Kinh vậy? Vì duyên gì được sinh lên trời? Do khi đi nhiễu tháp mà ý chẳng phạm giới vậy. Vì duyên gì được sinh nhà vương hầu? Do đầu mặt lễ dưới chân đức Phật vậy. Vì duyên gì được đạo Nê Hoàn? Do có dư phước vậy. Ðức Phật nói đi vòng quanh tháp có ba đức: Một là khi nhấc chân phải nghĩ nhấc chân. Hai là khi đặt chân xuống phải nghĩ đặt chân xuống. Ba là chẳng được quay nhìn trái, phải và khạc nhổ xuống đất trong chùa”. Ðến cả hình thức đi nhiễu tháp trong Kinh, Luật chế là đi quanh về bên phải, nếu đi quanh về bên trái thì bị sự quở trách của Thần. Kinh Tam Thiên Oai Nghi nói rằng: “Nhiễu tháp có năm việc: Một là cúi đầu nhìn đất, hai là chẳng đạp côn trùng, ba là chẳng quay nhìn trái, phải, bốn là chẳng khạc nhổ xuống đất trước Phật, năm là chẳng được đứng lại giữa chừng cùng người nói chuyện”. Phẩm Tịnh Hạnh Kinh Hoa Nghiêm nói rằng: “Nhiễu tháp ba vòng, phải nguyện cho chúng sinh được ý một hướng, chẳng nối liền ba độc24” (Văn bản ghi “Tứ độc” - Chắc lầm - Lời dịch giả).

(5) Lễ Tháp - Tăng Kỳ Luật nói rằng: “Những người đem trăm ngàn vàng dùng làm bố thí hết chẳng bằng một tấm lòng lành cung kính làm lễ tháp Phật”. Truy Môn Sùng Hạnh Lục nói rằng: “Tử Lân đời Ðường con của họ Phạm, mẹ là Vương Thị chẳng tin Tam Bảo, Lân trốn đến Ðông Ðô y chỉ ngài Khánh Tu luật sư ở chùa Quảng Thọ xuất gia. Bỗng dưng ông nhớ song thân, về thăm thì cha đã mù, mẹ qua đời đã ba năm. Nhân đi đến miếu Nhạc, ông ngồi xếp bằng tụng Kinh Pháp Hoa, thề thấy được Nhạc Ðế để cầu tìm chỗ mẹ sống. Ðêm ấy Nhạc Ðế vời ông đến bảo rằng: “Mẹ ông bị giam trong ngục, hiện phải chịu mọi thứ khổ”. Lân buồn khóc xin được miễn cho mẹ. Nhạc Ðế nói rằng: “Ông có thể đến Mậu Sơn lễ tháp Dục Vương ngõ hầu có thể cứu được vậy!”. Lân liền đi đến tháp, thương khóc lễ bái đến những bốn vạn lần. Trong chốc lát có tiếng gọi tên Lân, ông trông lên không trung thấy mẹ tạ rằng: “Nhờ sức của con mẹ được sinh lên cõi trời Ðao Lợi vậy”. Rồi bỗng nhiên biến mất.

 

VIII. DƯ VĂN (NGHE QUA).

Ðầu gậy khắc tháp - Tạ Thượng đời Tấn làm Trấn Tây Tướng Quân từng mơ thấy cha mình bảo rằng: “Phía tây nam có khí đến, người sẽ phải chết, con nên tu phước, kiến tạo tháp thì có thể cầu qua được! Nếu chưa rảnh rỗi tạo lập chùa tháp thì có thể lấy đầu gậy khắc làm hình tháp, cất giữ Xá-lợi ở bên trong, thấy khí đến là có thể định được nó”. Thượng thức dậy, liền khắc một cái tháp nhỏ ở đầu gậy, luôn đặt ở bên trái hoặc phải. Sau quả nhiên có khí lạ từ trên trời mà xuống, đầu tiên như cái bánh xe rồi lan ra to rộng dần, xông thẳng xuống nhà Thượng, Thượng lấy đầu gậy chỉ vào khí liền quay trở lại tan đi, cả nhà được an toàn. Phàm những nơi khí đã đi qua thì trong vòng vài dặm không còn một ai. Thượng liền bỏ nhà làm ngôi chùa trang nghiêm cúng dường Tam Bảo, tạo tác phước điền rộng rãi. (Xá-lợi Thụy Ứng Tập).

Trong tháp tàng tháp - Trên đỉnh Trung Ðài (Trung đài của Ngũ Ðài Sơn) có tháp Xá-lợi. Thiền sư Lam Cốc theo vị Phạm tăng xin được ngần ấy hạt Xá-lợi, tạo tháp sắt đặt vào trong, bên ngoài xây dựng ngôi tháp lớn để cất giữ tháp nhỏ. Năm Canh Thìn niên hiệu Vạn Lịch, tháp bị nghiêng, một chiều sấm chấn động lớn tháp mới đứng vững lại vậy (Thanh Lương Sơn Chí 2).

Nhạn Tháp Ðề Danh - Ngôi Phù-đồ ở Tây Viện chùa Từ Ân đời Ðường, cao ba trăm thước. Năm Vĩnh Huy thứ năm, Sa-môn Huyền Trang tạo lập, người trong nước gọi là Tháp Nhạn. Thơ của Thẩm Thuyên Kỳ viết rằng:

Nhạn Tháp phong sương cổ     

Long trì tuế nguyệt thâm

     Dịch:

Tháp Nhạn xưa sương gió     

Ao rồng sâu tháng năm.

(Tuệ Khai dịch)

Tức là đây vậy. Việc xưa đời Ðường, những Tiến sĩ Cập đệ25 khắc tên ở ngôi tháp của chùa Từ Ân, gọi là Nhạn Tháp Ðề Danh”. Tháp dùng đá làm vách, người đời Ðường dạo xem đề danh lưu lại rất nhiều, chẳng riêng gì Tiến sĩ đề danh mà thôi (Cổ hoa Ðường Tập, Tạp Trước 5 Tây Kinh Ký)

Vô Chất Tháp Ảnh - Bên trong thành Tùng Giang thuở trước có bốn ngôi tháp, gọi là Phổ Chiếu, là Diên Ân, là Siêu Quả, là Hưng Thánh. Gia đình Hạ Giám Vận ở tại phía đông bốn ngôi tháp mà bên trong ngôi tiểu thất có bóng một ngôi tháp, dài năm thước, bóng lộn ngược ở trên vách phía tây, chẳng biết từ đâu đến. Nhà của Từ Ðại Tư Khấu ở Côn Sơn cũng ở bên trong thành. Ðạm Viên (vườn Yên Ổn) mới xây dựng phía sau nhà, trong vườn lầu tạ (nhà bên bờ nước) chen chúc, quế, trúc um tùm, ngăn che lớp lớp. Vườn lại cách núi những năm, sáu dặm mà bóng tháp trên núi được nhìn thấy ở trong cái ao nhỏ lệch về phía tây vườn. Hình ảnh ngôi Tiểu Phù-đồ hiện rõ ràng trên khoảng đá nhô lên trong sóng nước rong rêu. Nhân đó chủ nhân liền tạo thành cái hiên gọi là Tháp Ảnh Hiên. Các ao khác của ngôi vườn ấy cùng các ao của các vườn khác thì không có điều này đều là sự lý chẳng thể hiểu được (Cô Thặng 4)26.

Tháp Linh Báo Dị (Chuông tháp báo lạ) - Tháng tư năm Kiến Bình thứ tư, trời lặng không gió mà một cái linh trên tháp tự kêu. Trừng (ngài Phật-đồ-trừng) nói với chúng rằng: “Tiếng thanh linh ấy báo điềm rằng: Nước có đại tang!”. Tháng bảy năm đó Lặc (Thạch Lặc) chết, con là Hoằng nối ngôi (Lương Cao Tăng Truyện 4)27.

Nhất tháp Phổ Hiện (Một tháp hiện khắp) - Tôi (Ðường Ðại Viên) vào mùa thu năm nay, yết kiến “Thế Giới Phật giáo Cư Sĩ Lâm” ở Thượng hải, tham quan Xá-lợi Thất trang nghiêm của nơi ấy mà thấy được việc đó vậy. Ngôi tháp ở tại lầu tầng thứ ba của Lâm (cư sĩ Lâm), hình bốn mặt đều trang trí bằng pha lê, bên trong để một cái tháp. Ðầu tiên tôi vào thất ấy, nhưng thấy bốn mặt thất ấy đều là tháp Xá-lợi, lớp lớp kéo đến vô tận, chẳng biết bờ cõi của ngôi thất đó đến đâu, cũng chẳng biết số tháp ấy nhiều ít bao nhiêu. Ðầu tiên tôi đến chỗ một ngôi tháp liền lạy thì thấy tháp nhiều vô biên mà đều khắp có thân tôi đảnh lễ từng tháp một. Lúc này tôi chẳng biện biệt tháp nào là chân, cũng chẳng biết ta thật là ai. (Ðông Phương Văn Hóa - kỳ thứ 4).

Tháp chôn cất ở Danh Sơn - Thời Ngũ Ðại, Tiền Ngô Việt Trung Ý Quốc Vương thừa cơ nghiệp của tiên vương, thờ kính Tam Bảo, theo đúng như kiểu tháp A-dục vương tạo tám muôn bốn ngàn tòa tiểu tháp bằng đồng, chôn cất ở danh sơn trong nước mà đời chưa có người biết. Ðầu niên hiệu Vạn Lịch nhà Minh, Cố Cảnh Quang ở Thường Thục tạo cho cha mình Hiến Phó Oánh, đào trong đất ra một cái tháp nhỏ bằng đồng, cao năm tấc, như kiểu tháp vua A-dục, có khắc tiêu đề ở bên ngoài mười chín chữ là “Ngô Việt Quốc Vương Tiền Hoằng Thúc Kính tạo Bát Vạn Tứ Thiên Bảo Tháp. Ất Mão Niên Ký”, bốn mặt chạm khắc tướng thị hiện nhân bản hạnh xưa của đức Phật Thích Ca. Mặt trước là chuyện vua Tỳ-thi cắt thịt cho chim ưng ăn để cứu con chim Câu. Mặc sau là chuyện vua Từ Lực cắt tai thắp đèn. Mặt trái là chuyện thái tử Tát-đa gieo mình từ mép núi cao cho cọp ăn thịt. Mặt phải là chuyện vua Ngụyệt Quang ném bỏ cái đầu báu. Nét khắc đẹp tỉ mỉ, tô lại bằng vàng. (Hàm Tân Mộng Du Tập quyển 25).

Tùng Kết Tháp Trạng (Cây tùng kết hình dáng tháp) - Năm Quý Sửu niên hiệu Vạn Lịch nhà Minh, Trạm công muốn trùng tu ngôi tháp ấy, sắm mấy vạn cân sắt, tháp chưa hoàn thành thì ngài mất. Năm Giáp Dần Tu Từ ở Ngô lúc trở lại tạo tượng lớn Tỳ-lô thì tháp Xá-lợi phóng ra ánh sáng ba lần soi sáng rực sơn cốc, năm cây tùng sau chùa kết trái như hình dáng cái tháp, cao năm tấc, đều mười ba cấp, người xa kẻ