Pháp Tạng 79
PL.
2547 - 2003
Lịch Sử Chùa Tháp Trung Quốc
Chủ biên:
Trương Mạn
Ðào
Việt dịch:
Tuệ Khai cư sĩ
Hiệu đính:
Thích Ðỗng Minh
Chú thích:
Thích Tâm Nhãn
---o0o---
NIÊN ÐẠI XÂY DỰNG NGÔI BẠCH THÁP CỦA CHÙA
BẠCH THÁP Ở BẮC KINH VÀ SỰ GIAO LƯU VĂN HÓA TRUNG - NI
Nguyên tác:
Hoàng Thịnh Chương
Việt dịch:
Tuệ Khai Cư
Sĩ
Niên đại xây dựng ngôi Bạch Tháp và chùa Bạch Tháp ở
Bắc Kinh, theo cách nói truyền thống đều cho là năm Thọ Xương thứ hai nhà
Liêu (năm 1026 TL) bắt đầu xây dựng, năm Chí Nguyên thứ tám nhà Nguyên
trùng tu (năm 1271 TL). Ðiều ấy chẳng những chỉ có nhiều điển tịch có thể
căn cứ mà còn thấy khắc ở trong bia. Trước tiên dựa vào điển tịch mà bàn
luận, từ đời nhà Minh trở lại sau, phàm ghi chép niên đại xây dựng ngôi
chùa ấy thì sai biệt chẳng nhiều, toàn bộ đều là theo kiểu nói ấy. Trong
sự ghi chép kia niên đại xây dựng hình thành trong sách sớm hơn, vả lại
các sách đời sau đắp đổi sao chép theo, chúng ta thấy rõ hai điều liệt kê
dưới đây:
“Chùa Diệu
Ứng ở tại cái gò bên trong thành môn, lệch về bên phải chùa có một tòa
bạch tháp, xây dựng từ năm Thọ Xương thứ hai nhà Liêu, nguyên vì Xá-lợi
của đức Phật Thích Ca mà xây dựng, ... Năm Chí Nguyên thứ tám nhà Nguyên,
vua Thế Tổ phát hiện xem tỏ tường... tôn cao lên và trang trí lại ngôi
tháp của chùa ấy.. (đồng lược ra từ sách Trường An Khách Ngữ và Ðế Kinh
Cảnh Vật Lược).
Chùa Bạch
Tháp xây dựng từ năm Thọ Xương thứ hai nhà Liêu, ngôi tháp chế tạo như
ngôi tòa trắng tợ bạc, năm Chí Nguyên thứ tám nhà Nguyên làm thêm lưới
bằng đồng, lan can bằng đá. Năm Thiên Thuận thứ hai đổi tên là Diệu Ứng Tự
(Xuân Minh Mộng Dư Lục).
Dựa theo bia
khắc mà bàn luận thì chùa Diệu Ứng từ đời Nguyên trở về sau đã từng trải
qua nhiều lần sửa chữa, mỗi một lần tu sửa, phần nhiều đều có bia để lại,
chẳng qua bia sửa chùa miếu từ đời Thanh trở về trước đa số chẳng tìm kiếm
được. Hiện tại chúng ta có thể xem được hai khối bia ngự chế của thời
trùng tu buổi Thanh sơ. Một là “Ngự Chế Diệu Ứng Tự Bi”, ghi việc trùng tu
chùa Bạch tháp năm Khang Hy thứ hai mươi bảy (1686 TL). Lời văn bia đề
rằng: “Tương truyền chùa Bạch Tháp xây dựng năm thứ bốn mươi hai đời vua
Ðạo Tông nhà Liêu, chùa ấy chế tạo như một tòa màu trắng bạc, vua Thế Tổ
nhà Nguyên tôn cao và trang trí lại, trong năm Thiên Thuận nhà minh đổi là
Diệu Ứng Tự”.
Hai là Ngự
chế Trùng Tu Diệu Ứng Tự Bi của năm Càn Long thứ mười tám (1753 TL), nói
lên được mà lại là trực tiếp rằng: “Chùa ấy sáng lập từ thời vua Ðạo Tông
nhà Liêu rồi trải qua nhà Nguyên đến nhà Minh, qua nhiều đời tôn cao trang
trí lại”.
Chùa Diệu Ứng
xây dựng thời Liêu, tu sửa thời Minh (Liêu xây, Minh sửa), trải qua hai
lần “khâm định” này đương nhiên lại thêm khẳng định, những sách “quan tu”
(sách do quan soạn và sửa chữa) như hai quyển “Nhất Thống Chí” Càn Long và
Gia Khánh, Kỳ Phụ Thông Chí, Thuận thiên Phủ Chí và Khâm Ðịnh “Nhật Hạ Cựu
Văn Khảo” .v.v... đều là “dị khẩu đồng thanh” (đều chép giống nhau). Ðối
với các nhà trước thuật tư gia thì đương nhiên niên đại xây dựng chùa Diệu
Ứng đều phù hợp, chẳng dám có hai lời. Cho đến rất gần đây, trong bài văn
“Giao Lưu Văn Hóa Trung Quốc Cổ Ðại cùng Ni-bạc-nhĩ” phát biểu kỳ thứ hai
năm 1961, trong loạt bài “Lịch Sử Nghiên Cứu” của Trần Hàn Sanh tiên sinh
vẫn khẳng định ngôi chùa đó là “Liêu xây Nguyên sửa”.
Chùa Diệu Ứng
“Liêu xây Minh sửa”, có điển tịch và bia khắc, hai phương diện chứng cứ.
Ký tải (ghi chép) như đây thì xác đáng lắm, tợ hồ không có vấn đề gì.
Nhưng có thể là một sự tiếp xúc về hình chế nguyên lai của ngôi chùa đó
thì nghi vấn sẽ mở ra trùng trùng, nhất định chưa thể thu hoạch được sự
giải quyết tốt đẹp.
Bạch Tháp của
chùa Bạch Tháp và Bạch Tháp của vùng Bắc hải đều thuộc về dạng thức mà Tây
Tạng gọi là “Giác Ðốn”, cùng với dạng thức “Tốt-đỗ-ba” sớm đến từ Ấn Ðộ
(một số người gọi đó là bảo tháp) đã hiển bày có sự bất đồng. Hệ Bạch Tháp
- Bắc Hải thời đầu nhà Thanh đến từ Tây Tạng, thời gian và địa điểm đều
minh xác phi thường. Bạch Tháp Tây Tạng (Giác Ðốn) thì theo các nhà Khảo
cổ học nước ngoài cho là kiến trúc phôi thai ở Ni-bạc-nhĩ vào thế kỷ mười
hai, mười ba. Như quả là Bạch Tháp của chùa Bạch Tháp xây dựng vào năm Thọ
Xương thứ hai nhà Liêu thì đầu tiên nguyên lai Bạch Tháp - Tây Tạng phải
phát sinh vấn đề. Năm thứ hai của niên hiệu Thọ Xương chính đang ở vào
cuối thế kỷ thứ mười một, lúc này Bắc Kinh đã có loại Bạch Tháp này thì
chí ít, Ni-bạc-nhĩ phải hay chẳng phải là vùng đất khởi nguyên của Bạch
Tháp loại ấy? Cho đến Tây Tạng phải hay chẳng phải là từ Ni-bạc-nhĩ truyền
lại? đều chẳng thể chẳng phải là đối tượng hoài nghi. Tiếp đến, Liêu và
Tây Tạng cùng Ni-bạc-nhĩ thì một ở tại Ðông Bắc, một ở tại Tây Nam, khoảng
cách ở giữa có Tây Hạ và Tống. Nếu ngôi Bạch Tháp của chùa Bạch Tháp được
từ Tây Tạng hoặc Ni-bạc-nhĩ truyền đến thì những vùng khác nhất định phát
sinh sự quan hệ giao lưu qua lại. Sự đão lộn ấy là một sự kiện phi thường
phải được chú ý trong lịch sử mà vấn đề là tìm kiếm không được một dấu vết
của chúng trong bất cứ nền văn hiến nào ghi chép cả. Thứ ba là, Bạch Tháp
của Trung Quốc như quả thực thuộc hệ thức đến từ Ni-bạc-nhĩ thì không có
khả năng đến Bắc Kinh trước rồi sau mới đến Tây Tạng. Nếu là vào thế kỷ
mười một ở Bắc Kinh xuất hiện Bạch Tháp thì bằng con đường nào và thời
gian nào Bạch Tháp của Ni-bạc-nhĩ truyền đến? Vấn đề này đều phải được
nghiên cứu.
Vấn đề có vẻ
khiên cưỡng về niên đại sáng lập ngôi Bạch Tháp của chùa Bạch Tháp trọng
đại như thế này, có thể là do ở cách nói truyền thống “Liêu xây Nguyên
sửa” mà ra cả, bất luận ở trên phương diện thời gian hay trên phương diện
không gian đều có nhiều vấn đề chẳng giải quyết được. Gần đây đã có người
hoài nghi nó chẳng phải là “Liêu xây Nguyên sửa”, vấn đề là ở chỗ tìm kiếm
chẳng được chứng cứ xác đáng, ví như, rất gần đây có người chủ trương lấy
năm Chí Nguyên thứ tám nhà Nguyên, trong cách nói truyền thống làm năm
khởi đầu xây dựng. Căn cứ vào sự khảo sát của chúng tôi thì vẫn là chẳng
đáp ứng được. Như cần phải giải quyết triệt để vấn đề niên đại kiến tạo và
hình chế nguyên lai ngôi Bạch Tháp của chùa Bạch Tháp thì đầu tiên nhất
định phải tìm cho ra chứng cứ chính diện, rồi sau đó lại nhất định phải
tìm hiểu mối quan hệ thời đại trong cách nói truyền thống “Liêu xây Nguyên
sửa” rốt cùng là thế nào? Chúng ta thảo luận phân biệt dưới đây:
Tên Diệu Ứng
Tự là danh xưng được đổi khoảng năm Thiên Thuận đời nhà Minh. Ở đời Nguyên
chùa vốn tên là Thánh Thọ Vạn An Tự, nhân có ngôi tháp trắng do đó lại gọi
là Bạch Tháp Tự. Sách Nguyên Sử Ngũ Hành Chí chép: “Ngày Giáp Dần tháng
sáu (năm Chí Nguyên thứ hai mươi tám), toàn bộ chùa Ðại Thánh Thọ Vạn An
bị hỏa tai, ... Chùa này tên cũ là Bạch Tháp Tự”, khả dĩ làm chứng. Liên
quan với ngôi chùa Thánh Thọ Vạn An ấy, “Nguyên Sử Thế Tổ Bản Kỷ” có ghi
chép rằng: “(Năm Chí Nguyên thứ mười sáu) xây dựng chùa Thánh Thọ Vạn An ở
kinh thành”. “Ngày Giáp tuất (tháng tư năm Chí Nguyên thứ hai mươi lăm),
chùa Vạn An hoàn thành, tượng Phật và cửa sổ vách đều trang trí bằng vàng,
về phí tổn: Vàng hơn năm trăm bốn mươi lượng, thủy ngân đủ hai trăm bốn
mươi cân”.
Chùa Vạn An
từ năm Chí Nguyên thứ mười sáu (năm 1279 TL) đến năm Chí Nguyên thứ hai
mươi lăm (năm 1288 TL) mới lạc thành toàn bộ, trước sau trải qua sai biệt
chẳng quá mười năm. Một sự thật ấy hình như có thể nói rõ được hai điểm:
(1) “Năm Chí
Nguyên thứ tám trùng tu chùa Bạch Tháp” là thuộc về kiểu “Tử hư điểu hữu”.
Trên năm Chí Nguyên thứ mười sáu cách năm Chí Nguyên thứ tám chỉ có tám
năm. Ðiều quan trọng là tám năm trước đã trải qua trùng tu thì lần ấy phải
là chẳng sửa lại.
(2) Năm Chí
Nguyên thứ mười sáu xây dựng chùa Vạn An ở Bắc Kinh là bắt đầu xây dựng.
Do đó thời gian mới hội đủ sự lâu dài ấy. Còn như quả là sửa đổi thì hiển
nhiên đều chẳng có khả năng kéo dài trước sau đến mười năm.
- Trên đã dẫn
sự ghi chép về chùa Vạn An của Nguyên sử (lịch sử nhà Nguyên), những sách
như Nhật Hạ Cựu Văn Khảo, Thuận Thiên Phủ Chí v.v... đã đều dẫn ra sử
dụng, nhưng những người khác đều chẳng chấp nhận lần ấy là lần bắt đầu xây
dựng. Năm Thọ Xương thứ hai và năm Chí Nguyên thứ tám đều đã ở trước năm
Chí Nguyên thứ mười sáu, do đó cần phải xác định năm Chí Nguyên thứ mười
sáu xây dựng chùa Vạn An chính xác là bắt đầu xây dựng mà chẳng phải trùng
tu. Nếu dựa hết vào sự ghi chép của Nguyên Sử Thế Tổ Kỷ thì có khả năng
người nói là “đơn văn, cô chứng”. Do đó lại nhất định phải tìm ra chứng cứ
xác đáng nữa.
Chùa Bạch
Tháp và ngôi Bạch Tháp của chùa đều là sáng kiến (sáng lập) của A-ni-ca,
công nghệ gia nước Ni-bạc-nhĩ đời nhà Nguyên, chẳng những đã minh xác thời
gian sáng kiến mà cả người sáng kiến cũng hoàn toàn khẳng định, A-ni-ca
theo “Nguyên sử” là có truyền lại. Chuyện của “Nguyên sử” hoàn toàn căn cứ
vào “Lương Quốc Tuệ Mẫn Công Thần Ðạo Bi” của Trình Cự Phu, vì A-ni-ca đã
soạn mà đã có chẳng ít sự san định điều tiết. “Tuyết Lâu Tập” của Trình Cự
Phu ở tại đời Thanh chỉ có bản in đời Nguyên cùng bản in khoảng năm Hồng
Võ đời Minh mà nhiều người đều không có xem được. Vào buổi đầu đời
Thanh, Chu Di Tôn làm ra sách “Nhật Hạ Cựu Văn” để cho tập thể đời sau
diễn giải tu sửa thành “Nhật Hạ Cựu Văn Khảo” mà họ đã từng trích dẫn qua
“Tuyết Lâu Tập”. Nhưng những người khác lại hoàn toàn bất ngờ nhìn thấy
một thiên thần Ðạo Bi ấy liên quan trọng yếu. “Nguyên sử A-ni-ca Truyện”
với nhiều lời văn câu chữ đều cùng một dạng với thiên “Ðạo Bi” ấy, nhưng
phân lượng chỉ có một phần tư của “Thần Ðạo Bi”, có không ít sự thật bị
sửa đổi, sự sáng kiến của tháp và chùa Bạch Tháp ăn khớp theo là một trong
những sự sửa đổi ấy. Lời văn bia minh xác ghi chép rằng: “Năm thứ mười sáu
(niên hiệu Chí Nguyên) xây dựng chùa Thánh Thọ Vạn An, Phù-đồ (tháp) đầu
tiên hình thành, có ánh sáng lạ soi lên trời, người đến xem rất vui mừng,
vua ban một vạn năm ngàn mẫu ruộng tốt ở Kinh Kỳ, cày một ngàn cái, trâu
một trăm con, đủ các đồ dùng lặt vặt. Do ở hình dáng ngôi tháp ấy thuở
trước trong nước không có xuất hiện qua, hiện tại lần thứ nhất thấy được,
do đó mới có ánh sáng màu sắc kỳ lạ, cảm giác của mắt đối với ánh sáng rực
rỡ. Như quả chẳng phải là xây dựng ban đầu mà chỉ riêng tôn tạo trang trí
hoặc nói là trùng tu mà khi hoàng đế triều Nguyên đến xem chẳng thể vui
mừng khác thường dường ấy, lại còn ban thưởng trọng hậu nữa! Ðiều này
chẳng thể lý giải được. Lời văn bia minh xác chỉ ra “Phù-đồ sơ
thành”, mà năm Chí guyên thứ mười sáu lại cùng với thời gian xây dựng chùa
Thánh Thọ Vạn An ở kinh thành ghi trong sách “Nguyên Sử Thế Tổ Kỷ” đã dẫn
ở trên hoàn toàn nhất trí. Do đó năm Chí Nguyên thứ mười sáu chính là niên
đại xây dựng đầu tiên của chùa Bạch Tháp và người xây dựng đầu tiên là
A-ni-ca, hoàn toàn có thể kết luận từ đây.
Bài văn bia
không có đề cập, đến năm Chí Nguyên thứ hai mươi lăm, năm Lạc thành chùa
Vạn An, nhưng chúng ta biết rằng, chùa Bạch Tháp “Từ Thế Tổ về sau là nơi
bá quan tập nghi (tập nghi thức) nên điện, bệ, lan can của chùa ấy chế tác
như bên trong cung đình”. (Nguyên Sử Ngũ Hành Chí). Sách Chuyết Am Tập của
Trương Chứ đời Nguyên có bài thơ “Tân Mùi Nhị Nguyệt Thập Tam Nhật Lôi Hỏa
Phần Cố Cung Bạch Tháp”, ở thời đại nhà Nguyên chùa đó gọi là Cố Cung thì
đã hiển nhiên cùng một dạng kết cấu với cung đình thì chẳng phải trong
một, hai năm ngắn ngủi mà có thể hoàn công, nhất định phải tách ra từng
phần để lạc thành. Năm Chí Nguyên thứ mười sáu đã từng hoàn thành qua một
bộ phận. Do đó “Nguyên Sử Thế Tổ Kỷ” ghi là vào năm Chí Nguyên thứ mười
sáu xây dựng chùa Vạn An ở kinh thành, lại có ghi chép: “Vua cho thầy chọn
ngày tốt, lệnh cho các quốc sư, thiền sư hết thảy một trăm lẻ tám người ở
tại chùa Vạn An thiết lễ trai tăng, viên mãn giới đức, ban cho áo”. “Thần
Ðạo Bi” A-ni-ca đem “Phù-đồ sơ thành” đặt vào sau năm Chí Nguyên thứ mười
sáu, năm Chí Nguyên thứ mười bảy xây dựng phía Nam thành trước chùa, móc
thời gian xây dựng xong ngôi Bạch Tháp tựu trung vào khoảng từ năm Chí
Nguyên thứ mười sáu đến năm thứ mười bảy. Ðó là một điểm có thể khẳng định
vậy.
Thuyết “Chùa
bạch Tháp Liêu xây Nguyên sửa” đã hiển nhiên thấy ở nhiều điển tịch và bia
khắc, bên trong thuyết ấy phải có sự giao tiếp thời đại tất yếu mà sự rốt
cùng ấy là một sự việc hoàn thành nào đó.
Chùa Bạch
Tháp, năm Thọ Xương thứ hai bắt đầu xây dựng, năm Chí Nguyên thứ tám trùng
tu, niên đại xác đáng như đây mà điều ghi lại chẳng phải trong một quyển
sách thì chẳng thể không có căn cứ. Từ những sách “Ðế Kinh Cảnh Vật Lược”
“Trường An Khách” v.v... có liên quan đến sự ghi chép về sáng kiến chùa
Bạch Tháp mà xem lại thì có ít lời văn câu chữ sai biệt chẳng nhiều, đa số
tương đồng. Ðiều đó nói rõ là chúng có một nguyên lai cộng đồng mà thậm
chí nguyên lai ấy là gì thì các sách ấy đều không có sự giao tiếp thời
đại. “Nhật Hạ Cựu Văn” của Chu Di Tôn đầu đời Thanh là sách chuyên môn sưu
tầm những ghi chép về văn hiến có liên quan đến Bắc Kinh, ông ra sức nhiều
năm, sau đến thời Càn Long, hoàng đế ra lệnh sử dụng lực lượng tập thể,
lấy quyển sách này làm cơ sở mở rộng lớn thêm, cải biên mà làm thành sách
“Nhật Hạ Cựu Văn Khảo”, phân lượng so với sách nguyên bản nhiều hơn một
lần. Do đó có những ghi chép về văn hiến của Bắc Kinh có liên quan với Càn
Long trở về trước, hai bộ sách ấy sai biệt chẳng nhiều, đều tóm thâu vào
hết. Văn hiến đương thời không có phát hiện hoặc bỏ sót là số không nhiều.
Chúng tôi đã từng trải qua tra cứu bổ sung vài lần nhưng vẫn y vậy chưa
tìm ra được một sự kiện nguyên gốc ấy mà từ trước nói lại tựa hồ như là
một vụ án không đầu. Từ nay về sau không nhất định có thể tìm ra đầu mối,
chẳng qua chúng tôi, ở trong sách “Nhật Hạ Cựu Văn Khảo” chưa thu nhặt
được “Uyển Thự Tạp Ký” của Thẩm Bảng đời Minh mà tìm được một phương cách
suy cầu trọng yếu phi thường, khiến cho một sự kiện án ấy có khả năng kết
án. Ðó là một điều ghi chép bên dưới đề mục “Diệu Ứng Tự”, trong quyển thứ
mười chín của sách ấy:
“Diệu Ứng Tự:
Tên cũ là Ðại Thánh Thọ Vạn An Tự, nhân có ngôi tháp trắng nên có một tên
là Bạch Tháp Tự, năm Chí Nguyên thứ tám nhà Nguyên tu sửa có bài
Tháp Ký. Ðến năm Tuyên Ðức thứ tám, vua ra lệnh tu sửa ngôi Bạch Tháp, năm
Cảnh Thái thứ tám, người dân thường tên là Quách Phước xin với triều đình,
tu sửa chùa, được vua ban tên đến ngày nay (Diệu Ứng Tự), Hình bộ Thị Lang
là Ðỗng Củ ghi”.
Căn cứ vào
đây thì có hai điểm có thể khẳng định:
(1) Chùa Diệu
Ứng ít lắm cũng có hai khối bia, một khối là ghi về ngôi tháp (tháp ký),
riêng một khối nữa là ghi về việc sửa chùa của Ðỗng Củ đã ghi vào năm Cảnh
Thái thứ tám.
(2) Việc tu
sửa năm Chí Nguyên thứ tám đời Nguyên dẫn ra ở bài tháp ký, đặc biệt là
một điểm mặt sau rất quan trọng. hai khối bia đầu đời Thanh ấy chẳng thấy
được thì nội dung đã không thể khảo sát. “Uyển Thự Tạp Ký” tuy đề cập đến
việc bắt đầu xây dựng vào năm Thọ Xương thứ hai nhưng việc tu sửa năm Chí
Nguyên thứ tám nguyên trong Tháp Ký ghi chép một nội dung thì chính là sự
minh xác chẳng phải thường. Từ điều ấy có thể đoán định cách nói
truyền thống ít lắm nguyên lai cũng có một nửa là rõ ràng, nó đến từ bia
cũ của chùa Diệu Ứng.
Năm Thọ Xương
thứ hai bắt đầu xây dựng thì việc xong lúc nào? Chúng tôi cho là điều ấy
phát xuất từ bia cũ ở trong chùa Diệu Ứng, đặc biệt là ở tấm bia Tháp Ký.
Một là, năm Thọ Xương thứ hai bắt đầu xây dựng và năm Chí Nguyên thứ tám
trùng tu là họp thành một chỉnh thể, vì có năm Chí Nguyên thứ tám trùng tu
thì bên trên ấy nhất định phải có năm bắt đầu xây dựng. Do đó hai vế ấy
chẳng cắt xé nhau, đặc biệt là “năm Chí Nguyên thứ tám” chẳng thể đứng một
mình mà tự làm một thuyết. Hai là, sách “Ðế Kinh Cảnh Vật Lược” và “Trường
An Khách Thoại” ghi chép thời gian bắt đầu xây dựng chùa Diệu Ứng, đồng
thời kèm thêm một đoạn chuyện xưa kiểu thần thoại mà đại ý là nói ngôi
Bạch Tháp chùa Diệu Ứng khai sáng từ năm Thọ Xương thứ hai nhà Liêu,
nguyên vì Xá-lợi của đức Phật Thích Ca mà xây dựng. Bên trong tháp cất giữ
ngọc giới Xá-lợi, Nê Tiểu Tháp (tháp đất nhỏ) và Ðà-la Kinh v.v... Năm Chí
Nguyên thứ tám nhà Nguyên, vua Thế Tổ mở hộp đá ra, phát hiện cái bình
bằng đồng đựng đầy nước thơm, ngọc Xá-lợi giống như hạt vàng sáng óng ánh,
phía trước có hai vị long vương thủ hộ, đồng thời ở đáy bình còn tìm được
một đồng tiền bằng đồng, trên mặt có đúc “Chí Nguyên Thông Bảo”. Do đó vua
Thế Tổ càng thêm kính trọng. Ðến đây vua cho tôn cao và trang trí lại tháp
này, “các góc buông chày ngọc, thềm bố trí lan can đá, diềm mái treo hoa
man, quanh thân tháp bao lưới ngọc”. Bản thân đoạn cố sự ấy tuy chẳng đáng
tin, nhưng là nói rõ việc trùng tu năm Chí Nguyên thứ tám cùng việc bắt
đầu xây dựng năm Thọ Xương thứ hai chính là họp tại một chỗ khởi
lên. Chúng đồng phát xuất ở một chỗ, “năm Chí Nguyên thứ tám nhà Nguyên tu
sữa” đã hiển nhiên xuất phát ở Tháp Ký, do đó “năm Thọ Xương thứ hai xây
dựng” nên phải đồng một nguyên lai. Khảo sát bản thân câu chuyện xưa ấy
một lần nữa thì thấy việc ở bên trong tháp hoàn toàn ăn khớp với sự liên
quan của chúng. Vậy vấn đề trên xuất phát ở Tháp Ký là rất hợp lý. Chúng
ta biết rằng, có chẳng ít bi ký của chùa, miếu vì nhằm vào thời gian tu
sửa xây dựng chùa miếu để nhớ lại việc đã qua lâu rồi, hoặc là để hiển thị
sự linh dị của Chùa miếu, thỉnh thoảng có thứ chuyện xưa kiểu thần thoại
như chuyện thuật ở trên. Loại bi ký ấy hiện tại trong chùa miếu của các
địa phương lại tìm được dễ dàng. Bia cũ của chùa Diệu Ứng tuy sớm dã chẳng tồn tại, nhưng
câu chuyện thần thoại thuật ở trên cùng với “năm Thọ Xương thứ hai bắt đầu
xây, năm Chí Nguyên thứ tám sửa lại” đều là xuất phát từ tấm bia cũ trong
chùa. Từ các phương diện xem lại thì đều đáng để tin hơn.
Ðời Nguyên tu
sửa chùa Bạch Tháp, có khả năng là lợi dụng nền đất của chùa viện đời xưa.
Vậy nó có thể được khởi công xây dựng trên cơ sở của ngôi chùa nào đó ở
đời nhà Liêu. Bia cũ của chùa Bạch Tháp
ghi chép: “Liêu xây Nguyên sửa”, đó chính là liên hệ lịch sử đời
trước. Kết quả là nắm lấy cái nền cũ đời trước và chùa viện xây dựng mới
liên hệ khởi lên lại là đích thị nắm lấy thời đại sáng lập của chùa mà nhớ
lại việc đã quá xa rồi. Chẳng qua chùa Bạch Tháp của A-ni-ca tạo dựng và
ngôi Bạch Tháp đều là những sáng tác mới cùng với đời trước đều không liên
quan gắn bó gì.
Giải quyết được niên đại sáng kiến cùng
người sáng kiến chùa Bạch Tháp và ngôi Bạch Tháp thì vấn đề nào nêu
dưới đây có liên quan đến sự giao lưu văn hóa Trung - Ni? Trong quá khứ,
các học giả trong, ngoài nước có mấy vấn đề chưa có thể hoàn tòan minh xác
thì hiện tại không chút hàm hồ có thể khẳng định hồi đáp. Ðó là:
(1) Bạch Tháp
của Tây Tạng (Giác đốn) và Bạch Tháp của Bắc Kinh đều bắt nguồn từ Bạch
Tháp của Ni-bạc-nhĩ (Kỳ Cổ).
(2) Con đường
đi của Bạch Tháp Ni-bạc-nhĩ truyền sang Trung Quốc thì Tây Tạng trước, Bắc
Kinh sau, truyền đến Ngũ Ðài Sơn là cuối cùng.
(3) Thời gian
truyền đến thì Tây Tạng năm 1260, Bắc Kinh là năm 1279, Ngũ Ðài Sơn là năm
1301.
(4) Quan hệ
với việc truyền đến thì thống nhất thông qua A-ni-ca.
- “Kỳ Cổ”
(tháp) của Ni-bạc-nhĩ cộng có năm tầng, một tầng dưới cùng hình vuông là
cơ sở biểu thị cho “Ðịa” (Ðất), tầng thứ hai hình tròn biểu thị cho “Thủy”
(nước), tầng thứ ba hình tam giác biểu thị cho “Hỏa” (lửa), tầng thứ tư
hình cái tán (cái dù) biểu thị cho “Khí” (hơi), một tầng trên cùng hình
xoắn ốc, đỉnh tháp biểu thị cho “tinh hoa của sinh mạng”. Những thứ Ðịa,
Thủy, Hỏa, Khí ấy (nhà Phật lấy Ðịa, Thủy, Hỏa, Phong làm bốn thứ Ðại,
cũng gọi là bốn luân, ở xứ này cái chỉ cho khí tức là phong) đại biểu tổ
hợp thành vạn vật, nguyên là một thứ triết học tư tưởng cổ đại Ấn Ðộ, có
hàm chứa ít nhiều tư tưởng duy vật thô sơ. Nhưng kết cấu của “Kỳ Cổ” ở
Ni-bạc-nhĩ là hình thành (phôi thai) từ một thứ kiến trúc theo sự sùng bái
địa phương, được đắp bằøng đất (thổ đôi), bằng đá (thạch đôi) (gọi là
Caitya,
trên đất Tạng hiện tại lại có thể xem được). Nó là cái đặc hữu của
Ni-bạc-nhĩ và chẳng phải từ Ấn Ðộ truyền lại. “Giác Ðốn” của Tây Tạng chỉ
là phần thứ tư tức là bộ phận hình cái tán sánh với “Kỳ Cổ” của Ni-bạc-nhĩ
thì lớn hơn một chút. Hai cái ấy chỉ cần một lần nhìn thấy thì biết rằng
nhất định có quan hệ nguồn gốc sâu xa. Gần đây, ở trong tác phẩm “Thượng
Cổ, Trung Cổ Ni-bạc-nhĩ Sử” của ông Lôi-cách-mễ (B.R.Regmi), đã nhận định
nó được truyền từ thung lũng Gia-đức-mãn-đô
đến cao nguyên Tây Tạng. Ông lại còn đề cập đến ý kiến của những nhà khảo
cổ học để làm căn cứ. “Giác Ðốn” của Tây Tạng chính là kiến trúc nguyên
lai ở Ni-bạc-nhĩ vào thế kỷ mười hai, mười ba. Ý kiến căn cứ của những học
giả nước ngoài ấy không chẳng phải là từ kết cấu hình chế ở bên ngoài mà
bằng vào cảm giác so sánh có được. Những vị ấy chẳng đề xuất được ít nhiều
chứng cứ. Do đó cuối cùng thì nó được truyền đến vào thời gian nào?
Thông qua con đường nào? Quan hệ nào truyền đến? Các vị ấy không cách giải
quyết tận gốc. Hiện tại chúng ta đã giải quyết được niên đại sáng lập chùa
Bạch Tháp ở Bắc Kinh, nắm được điểm có tính mấu chốt trong vấn đề. Do đó
vấn đề bất luận trên phương diện thời gian hoặc không gian đều đón nhận mà
giải quyết.
Căn cứ vào
“Thần Ðạo Bi” của A-ni-ca thuật ở trên: “Vua Thế Tổ, vào năm đầu niên hiệu
Trung Thống (năm 1260), Tây Triệu đế sư Bát-hợp-tư-bát-tỉ
là Thượng Thổ Sóc Nhỉ Xích Ao (?) xây dựng Hoàng Kim Phù-đồ ở Thổ Phiền,
dùng nhóm thợ giỏi của nước Nê-ba-la
vùng Thiên Trúc, phát ra chiếu chỉ chinh phục”. Ở đây, quốc vương
Ni-bạc-nhĩ gom góp được tám mươi người, người lãnh đạo đội là A-ni-ca, sau
một năm, Phù-đồ được xây dựng hoàn thành, Bát-Tư-Ba đưa A-ni-ca đến triều
đình nhà Nguyên. Ông được sự tín nhiệm của vua Nguyên Thế Tổ, được
lưu lại làm quan ở Trung Quốc, phát huy đầy đủ công nghệ cùng thiên tài
kiến trúc của ông. A-ni-ca đối với việc giao lưu văn hóa Trung - Ni đã có
sự cống hiến vĩ đại mà chúng ta chỉ chọn một đoạn chuyên văn thì việc
thuật đơn lẻ ấy chỉ có thể gói gọn ở Kiểu Bạch Tháp Ni-bạt-nhĩ của ông ấy
truyền lại. “A-ni-ca Thần Ðạo Bi” đã liệt kê ra những thành tựu của
A-ni-ca khi sống tại Trung Quốc. Thành tựu đầu tiên là tháp, nói “hữu tháp
tam” (có ba ngôi tháp), chúng tôi thống kê theo tự thuật của văn bia thì
số tháp làm ra của A-ni-ca trước sau vừa khớp là ba cái, một cái tại Tây
Tạng, một cái tại Bắc Kinh, một cái tại Ngũ Ðài Sơn. Hình thức của Bạch
Tháp Bắc Kinh bất tất nói nữa, Bạch Tháp tại Ngũ Ðài Sơn là Bạch Tháp Kiểu
Ni-bạc-nhĩ. Lời văn bia nói rằng: “Năm Ðại Ðức thứ năm (1301) xây dựng
Phù-đồ ở Ngũ Ðài Sơn, lúc bắt đầu xây dựng có mây lành điềm sáng lạ”. Ðiềm
mây lành sáng lạ này và ánh sáng lạ chiếu lên trời của Bạch Tháp
chùa Vạn An Bắc kinh là đồng một loại hình. Tháp tại Tây Tạng tuy không có
ghi chép minh sát nhưng văn bia nói là “Hoàng Kim Phù-đồ”. Chúng ta biết
rằng, tầng thứ ba của Bạch Tháp Ni-bạc-nhĩ là hình tam giác, kiến trúc
thông thường là màu vàng dùng để biểu thị cho “Hỏa”. Bạch Tháp của A-ni-ca
tạo dựng thì một tầng ấy, không gì nghi ngờ, ông đều dùng hoàng kim hoặc
bột vàng tô trát, do đó mới có thể phát sinh đủ thứ ánh sáng, màu sắc kỳ
lạ. “Hoàng Kim Phù-đồ của Tây Tạng” từ danh tự trên thì chẳng khó
nhìn nhận ra Bạch Tháp theo Kiểu Ni-bạc-nhĩ. Nói tóm lại, ba ngôi tháp ở
Bắc kinh, Ngũ Ðài, Tây Tạng đều là một dạng, đều là do A-ni-ca hoặc
Ni-bạc-nhĩ truyền lại cả.
Hoàng Kim
Phù-đồ của Tây Tạng do A-ni-ca xây dựng chưa qua điều tra, còn không
chẳng thể biết. Còn cái tại Ngũ Ðài Sơn thì đời sau trải qua nhiều diễn
biến biết bao nên chẳng thể khảo sát tường tận. Chỉ có ngôi Bạch Tháp của
chùa Bạch Tháp ở Bắc kinh thì chẳng những nghiễm nhiên bảo tồn đến nay mà
những diễn biến đã trải qua còn rõ ràng. Chùa Vạn An, năm Chí Nguyên thứ
hai mươi tám nhà Nguyên bị lửa thiêu hủy, về sau đã từng trải qua nhiều
lần trùng tu mà mỗi lần xây dựng tu sửa đại để đều có văn tự ghi chép nên
có thể tra xét được. Ngôi chùa Bạch Tháp hiện tại trước hết là chẳng phải
kiến trúc của A-ni-ca đời Nguyên, vì quy hoạch cấu tạo của A-ni-ca chẳng
thể truy tìm được. Ðối với ngôi Bạch Tháp thì từ khi A-ni-ca xây dựng trở
về sau hầu như không có ít nhiều biến động đổi thay. Nó chỉ ở năm đầu niên
hiệu Thành Hóa nhà Minh, “Ởû chu vi tòa tháp tạo ra một trăm lẻ tám tòa
lồng đèn bằng gạch để phụng thờ Phật đăng”, kỳ dư đều không có xuất hiện
qua ghi chép của những lần tu bổ hoặc sửa đổi bộ phận nào đó. Ngôi Bạch
Tháp ấy chẳng những chỉ biểu thị cho nghệ thuật kiến trúc vĩ đại của
A-ni-ca để lại cách đây bảy, tám trăm năm mà còn lại là đại biểu trọng yếu
cho tiêu chí trứ danh của sự giao lưu văn hóa Trung - Ni.
Phan Rang, ngày 16/6/2002.
Tuệ Khai - Cư sĩ