Tiếng Việt

Trang nhà Quảng Đức

   Tiếng Anh 

qd.jpg (8936 bytes)

Thánh Tích Phật Giáo


...... ... .


Pháp Tạng 79

 PL. 2547 - 2003

 

Lịch Sử Chùa Tháp Trung Quốc

 

Chủ biên: Trương Mạn Ðào

Việt dịch: Tuệ Khai cư sĩ

Hiệu đính: Thích Ðỗng Minh

Chú thích: Thích Tâm Nhãn

---o0o---

 

SỰ HIỂU BIẾT CỦA CHÚNG TA

 VỀ CHÙA PHẬT

VÀ CUNG ÐIỆN ÐỜI ÐƯỜNG.

 

Nguyên tác: Lương Tư Thành.

Việt dịch: Tuệ Khai Cư Sĩ

 

Những ví dụ thật tế về di vật kiến trúc triều đại nhà Ðường, ngoại trừ mấy tòa tháp gạch ra, nếu nói không có gì thì chẳng sai nhiều lắm. Tháp, xưa nay là một bộ phận của Chùa Phật nên sự tồn tại của nó hiện tại chẳng phải là sự tồn tại độc lập mà phải theo chân những mái điện khác với sự sai biệt về niên đại đến một ngàn hai hay ba trăm năm. Kiến trúc Trung Quốc từ khi có lịch sử trở về sau thì tựu trung lấy rường, trụ làm cốt cán mà vật liệu của cốt cán ấy một mực lấy gỗ làm chủ. Gỗ vốn chẳng phải là vật chất bất hủ (chẳng mục nát), hơn nữa, bọn liệt tổ liệt tông của cách mạng Trung Quốc thành công trở lại đây, ngoại trừ việc giết người chúng lại còn thích phóng hỏa. Giả sử bọn chúng không có thứ tính quốc dân đặc thù ấy thì gió mưa bào mòn hơn một ngàn năm, mọt ăn, trùng đục cũng đã hủy hoại chẳng ít rồi. Nhưng sự tồn tại lâu dài của vật kiến trúc bằng gỗ ấy đều chẳng hoàn toàn không khả năng. Kim Ðường, Tháp năm tầng và cửa giữa của Chùa Pháp Long ở Nại Lương nước Nhật Bản xây dựng vào năm Thôi Cổ Thiên Hoàng thứ mười lăm (năm đầu niên hiệu Ðại nghiệp đời Tùy Dương Ðế, năm 605 TL) trái với sự so sánh ấy, có tháp ba tầng của chùa Pháp Luân ở Nại Lương và tháp ba tầng của An Cư Viện v.v... muộn hơn mười năm, thẳng đến nay những một ngàn ba trăm năm mà vẫn bảo tồn được rất tốt. Ở tại Trung Quốc thì bất đồng rất lớn. Ðiện Phật chùa Hoa Nghiêm trên (xây dựng năm Thanh Ninh thứ tám nước Liêu - năm 1062) Chùa Hoa Nghiêm dưới (xây dựng năm Trung Hy thứ bảy - năm 1038 TL) của Ðại Ðồng - Sơn Tây, tháp gỗ của chùa Phật Cung ở huyện Ứng tỉnh Sơn Tây (năm Thanh Ninh thứ hai - năm 1056 TL), am Sơ Tổ của chùa Thiếu Lâm núi Tung Sơn (năm Tuyên Hòa thứ bảy đời Tống Huy Tông, năm 1125 TL) đã được khen là những kiến trúc cổ hiếm có của Trung Quốc. Niên đại so với chùa Pháp Long  ở Nại Lương của Nhật Bản tối cổ sai biệt bốn, năm trăm năm, mà đã băng hoại không chịu nổi, cấu trúc còn lại của đời Ðường lại chẳng qua là huyễn tưởng. Giả sử những học giả hay những nhà khảo cổ của chúng ta sau này ở trong nơi làng cùng, đất hẹp (làng quê nghèo hẻo lánh) phát hiện được di vật kiến trúc bằng chất liệu gỗ của thời Tùy - Ðường thì sợ đó chỉ là những mẫu vật cô đơn, chẳng thể hiển lộ ra sự bố trí và phương pháp làm của toàn cuộc di tích được.

Ðã không có những thể lệ thật có thể tra xét thì những tư liệu mà chúng ta nghiên cứu chẳng đặng đừng lùi một bước đến với phương diện văn hiến. Ngoại trừ những ghi chép của sách sử ra, may mắn mà có được những bích họa của hang Ðôn Hoàng. Do sự hoang vắng và khí hậu khô ráo của địa phương này nên những bảo vật trong hang ấy vẫn được bảo tồn ở nhân gian, như người đời Ðường chép Kinh v.v... Tuy trải qua việc ông Tư-thản-nhân (Sir Aurel Stein)1 lừa đão lấy đi từ trong tay Vương đạo sĩ, rồi lại bị ông Bá-hi-hòa (Paul Pelliot)2 chở đi mất. Nhưng những bức bích họa rốt cuộc chẳng dễ gì tùy tiện dọn sạch được mà ngược lại chẳng hề hấn gì. Ông Bá-hi-hòa đã từng thu nhặt chế tác làm ra quyển Ðôn Hoàng Thạch Quật Ðồ Lục (Les Grottes De Touen-houang). Trong ấy, những kiến trúc được vẽ trên mỗi bức bích họa rất chuẩn xác mà rõ ràng, tinh tế. Tại đây đã cho chúng ta những tư lệu rất trọng yếu.

Hiện tại, trước tiên chúng ta lấy văn hiến làm căn cứ để sưu tập một ít tư liệu mong sao cho có được một ấn tượng về chùa Phật cùng cung điện. Nhiên hậu đem những bích họa trong Ðôn Hoàng Ðồ Lục của Bá-hi-hòa có quan hệ với sự miêu tả của kiến trúc làm một cuộc qui nạp cùng phân tích. Trước tiên đem những chủng loại kiến trúc qui ra. Tuy nhiên những kiến trúc đời Ðường hiện thời chúng ta cũng không có mà chỉ đại để tương đồng thôi. Ðộc giả chắc chắn cảm thấy đơn điệu vô vị khi đem phân tích từng bộ phận chi li. Tuy nhiên tính toán những tiểu tiết của kiến trúc chính là đặc trưng của một thời đại, phản ảnh khả năng nhìn thấy được nét đặc biệt rõ ràng, rồi đem so sánh mới có hứng thú được nhiều.

Việc xây dựng cung thất của Trung Quốc bắt đầu thịnh hành từ thời Tần Hán. Cung Hàm Dương, cung A Phòng của Tần Thủy Hoàng, ở trong sử sách đã ghi chép nhiều, khả dĩ cho chúng ta được một ấn tượng đại khái, tuy chẳng thể biết rõ hình thức thể chế thực tại. Nhưng chúng ta có thể biết được sự phồn vinh hoa lệ của sự chạm khắc trang trí và sự rộng lớn của qui mô. Cung Trường Lạc, cung Vị Ương của Hán Cao Tổ, cung Cam Tuyền, cung Kiến Chương của Võ Ðế được ghi chép tỏ tường chi li, ở trong Văn hiến cho chúng ta biết được qui mô của những kiến trúc lớn, biết được tường vây chu vi và vườn tược bốn phía của những cung điện ấy, biết được phạm vi của chúng có từ vài mươi dặm cho đến vài trăm dặm, đồng thời biết được sự hoa lệ và tinh xảo trong kết cấu của chúng. Ðiều quan trọng là bàn về trình độ phát đạt của kiến trúc Trung Quốc, sự chuẩn xác của thời Lưỡng Hán đã trải qua có thể quan sát được.

Trải qua sự biến loạn của thời Lục Triều về sau. Nhà Tùy thống nhất thiên hạ, Tùy Cao Tổ xây dựng Trường An Cung, Dương Ðế nổi tiếng xa xỉ hoang phí, xây dựng Lạc Dương Cung, Ðại Hưng Cung v.v... Bên trong lịch sử những vị quan nhỏ quê mùa có nhiều những tài liệu khả dĩ truy tìm ra chẳng ít cảnh huống hưng thịnh của kiến trúc đương thời.

Cung Ðại Minh của Ðường Thái Tông, trong lịch sử không làm gì mà được nổi tiếng. Căn cứ vào sự ghi chép trong Thái Tông Bản Kỷ và Ðịa Lý Chí, Lục Ðiển, Lưỡng Kinh Ký v.v... thì đại lược chúng ta có được một ấn tượng như sau :

Cung Ðại Minh là do Thái Tông kiến lập vào năm Trinh Quan thứ tám, nguyên tên là Vĩnh An Cung, về sau vì cần chỗ tránh nóng cho Thái thượng hoàng nên đổi tên là Ðại Minh Cung. Vị trí của nó ở phía đông nam vườn cấm, mặt tây tiếp giáp với góc đông bắc của cung thành, gọi là “Ðông nội”. Phạm vi của cung ấy, đông - tây một ngàn lẻ tám mươi bộ, nam - bắc một ngàn tám trăm bộ. Mặt nam có năm cửa, chính giữa là Ðan Phượng môn, mé đông là Vọng Tiên môn, kế tiếp nó là Diên Chính môn, mé tây là Kiến Phúc môn, kế tiếp nó là Hưng An môn. Bên trong Ðan Phượng môn từ nam sang bắc ước chừng bốn trăm bộ, có thần tài cao chừng bốn mươi thước, gồm ba tầng, mỗi tầng đều có đầu cuộn lại rồi duỗi ra, hai bên có kỳ lân. Thềm đi xuống là đường đuôi rồng, dùng gạch hoa xếp thành, chuyển bảy lần hõm vào (bảy cấp bước lên thềm), nhỏ như đuôi rồng buông xuống đất. Lan can hai bên đều sử dụng đá xanh. Từ dưới trông lên khí tượng thật trang nghiêm. Ở trên đài, chính giữa là Hàm Nguyên điện, là nơi vua quan đến “thính triều” hàng năm vào Tết Nguyên Ðán và tiết Ðông Chí. Từ trung tâm của chánh điện ấy men theo lên hướng bắc, thuận theo số thứ tự là Tuyên Chính môn - Tuyên Chính điện - Tử Thần môn - Tử Thần điện - Cửu Tiên môn - Bồng Lai điện, và Nguyên Võ môn ở chính giữa mặt bắc của tường cung. Ðông lang của Hàm Nguyên điện có Tường Loan các, phía đông của các (gác) có Thông Càn môn, tây lang có Thê Phượng các,  phía tây của các có Quan Tượng môn. Hai gác Tường Loan, Thê Phượng là hai điện kèm hai bên chánh điện, cùng với chánh điện tạo thành hành lang bay nối tiếp nhau. Bên ngoài cửa Tuyên Chính, đông lang đối nhau là cửa Tề Ðức, tây lang là cửa Hưng Lễ. Bên phải bên trái điện Tuyên Chính có Ðông Thượng các, Tây Thượng các. Ðông lang trước điện có cửa Nhật Hoa, Tây Lang có cửa Nguyệt Hoa. Mé trái của Tử Thần môn là Sùng Minh môn, mé tây là Quang Thuận môn. Mặt đông của Tử Thần điện là tả Ngân Ðài môn, mặt tây là Hữu Ngân Ðài môn, Bên ngoài Nhật Hoa môn có những cơ quan nhà nước (công sở) như Môn hạ tỉnh, Hoằng văn quán, Sử quán v.v... Về phía đông Môn hạ tỉnh có đường nam bắc thông qua cửa Hàm Diệu đi ra cửa Chiêu Huấn. Bên ngoài cửa Nguyệt Hoa có công sở như Trung Thư tỉnh v.v... phía tây Trung Thư tỉnh có một con đường nam bắc thông qua Chiêu Khánh môn đi ra Quang Phạm môn. Trung Thư Tỉnh lại sang phía tây có cửa Diên Anh, bên trong cửa Diên Anh có điện Diên Anh và điện Hàm Tượng. Bên ngoài này còn có rất nhiều điện, trong số ấy có điện Hoàn Châu ở phía tây điện Bồng Lai và điện Kim Loan, ở tây bắc điện Hoàn Châu, địa thế vị trí có thể khảo sát được. Xem xét lời nói của Lưỡng Kinh Ký : “Kim Loan điện tên phụ là Kim Loan Pha, theo Hàn Lâm cố sự là nơi đặt Học sĩ viện, về sau lại đặt Ðông học sĩ viện ở Kim Loan Pha”. Tây nam Kim Loan điện là Trường An điện, mặt bắc Trường An điện là Tiên Cư điện, tây bắc Tiên Cư điện là Lân Ðức điện. Lân Ðức là một tòa điện ba mặt, do đó lại còn gọi là “Tam Ðiện”. Ðó là nơi hoàng đế yến tiệc hội họp. Ðông tây lang của điện ấy là hai ngôi lầu Kết Lân và Uất Nghi. Mé bắc Tam Ðiện có Ðại Phước điện, đông nam Ðại Phước điện là Xả Thúy điện. Soi xét phần ghi thuật bên trên, chúng ta chế thành một bức vẽ phục lại nguyên trạng bình diện cung điện thời Ðại Minh bằng tưởng tượng. Bức vẽ ấy đương nhiên chẳng phải là cái dạng thức của nguyên gốc, bởi vì tại trên bình diện cự ly chỉ có cự ly cực lớn của đông, tây, nam, bắc và cự ly của Hàm Nguyên điện cùng Ðan Phượng môn. Vả lại cự ly tính từ bộ phận nào của điện, lượng định bộ phận nào của cửa không có ghi chú rõ ràng chuẩn xác. Nhiều lâu đài ở góc điện phía sau điện Hàm Nguyên chỉ có chỉ thị phương hướng mà không có ghi chú rõ cự ly. Vả lại hình thức lớn nhỏ và phương pháp kết cấu của mỗi ngôi điện không căn cứ vào đâu để được biết. Chúng ta chỉ có thể được một ấn tượng, một định luận là bình diện của cung điện nhà Ðại Minh phối trí trên một tuyến trung tâm xuyên suốt nam bắc. Tại mặt đông - tây của tuyến trung tâm, cung điện được phối trí cân bằng.

Qua lịch sử và truyền thuyết, chúng ta biết Hoa Thanh Cung là một cung điện cực kỳ lãng mạn. Nguyên nó tên là Ôn Tuyền Cung do Thái Tông đặt vào năm Trinh Quan thứ mười tám. Năm đầu niên hiệu Thiên Bảo đời Huyền Tông đổi Ôn Tuyền là Hoa Thanh, sửa sang suối nước nóng thành ao, vòng quanh núi xây dựng la liệt cung thất, chu vi có một giải tường vòng, bao quát hết Ly sơn (huyện Lâm Ðồng tỉnh Thiểm Tây). Trong ấy, Quan Phong điện có con đường kép khả dĩ ngầm thông với cung Ðại Minh. Nhà tắm của vua Huyền Tông gọi là Cửu Long điện, chế tác rộng lớn tráng lệ, chạm trổ xảo diệu, chung quanh dùng đá trắng xếp thành thềm bậc, mặt nổi ẩn hiện hoa văn cá, rồng, hoa chim v.v... Khoảng giữa có hai con suối, dùng đá trắng điêu khắc thành hoa sen, nước từ miệng suối phun ra, rót vào trên hoa sen. Ngoài nơi này lại có mười tám chỗ suối nước nóng. Nước nóng phù dung (hoa sen) trong những suối ấy tương truyền là Dương Quý Phi ban cho địa phương tắm gội. Vậy là cũng dùng đá trắng xếp thành.

Hưng Khánh cung là do vua Huyền Tông cho xây dựng, xưa nay là nhà nghỉ của các chư hầu đến chầu vua. Năm Khai Nguyên thứ hai bắt đầu bố trí cung, đến năm thứ mưới bốn lại mở rộng thêm, gọi là “Nam nội”.

Sách Tân Ðường Thư Ðịa Lý Chí chép rằng: “Năm thứ hai mươi, xây dựng thành sát nhập vườn Phù Dung. Thẳng phía trước kinh thành là Tý Ngọ Cốc (hang), phía sau gối lên núi Long Thủ (núi Ðầu rồng), bên trái đến bờ sông Bá, bên phải đến sát sông Lễ. Chiều dài kinh thành là sáu ngàn sáu trăm sáu mươi lăm bộ, rộng năm ngàn năm trăm bảy mươi lăm bộ, chu vi hai vạn bốn ngàn một trăm hai mươi bộ, cao một trượng tám thước”.

Qui mô ngôi thành ấy rất lớn. Chúng ta xem xét địa đồ của Tây An, từ sông Bá đến sông Lễ thì diện tích gấp mấy mươi lần của thành Tây An có hiện nay là rất ít. Tuy đó là sức lực của những triều đại đế vương thời hoàng kim trong lịch sử Trung Quốc nhưng tính chất khả năng ấy vẫn khiến cho hậu thế hoài nghi.

Bạch Hương Sơn Lư Sơn Thảo Ðường Ký có một đoạn văn tự trích ra dưới đây :

“... Thảo đường thành ba gian hai trụ, hai mái đường bốn cửa sổ... Thông cửa bắc đón gió mát (âm phong) thổi lại phòng khi nóng nực. Mở mái phía nam hứng ánh sáng mặt trời dự phòng giá rét. Vốn đẻo gọt mà thôi chẳng gia thêm màu đỏ, tường khéo mà thôi chẳng gia thêm màu trắng. Lấp thềm dùng đá, che cửa sổ dùng giấy, rèm trúc trướng tơ gai, phép định là vậy. Trong nhà bày bốn cái giường gỗ, hai cái bình phong bằng tơ trắng, ... phía trước đất bằng rộng lớn mười trượng, bên trong có bình đài chiếm một nữa đất bằng. Phía nam đài có ao vuông, đất ao đắp bình đài. Vòng quanh ao có nhiều tre núi và cỏ dại, trong ao sinh ra sen trắng và cá trắng...

Ðoạn ghi chép ấy, hoàn toàn miêu tả ra một ngôi nhà ở bình dân của phương nam mà bố trí nối liền sân vườn. Vậy  là có thể thấy thêm một kiểu.

Ðến với kiến trúc chùa Phật cùng kiến trúc cung điện hay nhà ở bình thường thì xưa nay sử dụng chung một dạng thức. Kiến trúc tôn giáo và kiến trúc phi tôn giáo của Trung quốc xưa nay không có những điểm bất đồng căn bản, chẳng giống sự bất đồng khác hẳn giữa giáo đường cùng nhà ở của Châu Âu. Vấn đề ấy sở dĩ như vậy là có nguyên nhân rất lớn. Ðương nhiên sự bất đồng căn bản của chùa Phật cùng Giáo đường là vấn đề công dụng, xem lại từ công dụng của kiến trúc, chúng ta thấy Giáo đường là một chỗ tụ họp nhiều người để cầu nguyện, nghe giảng. Do đó bên trong giáo đường cần phải có chỗ ngồi cho hằng mấy trăm người. Ðó là điều kiện rất trọng yếu của giáo đường, còn lại việc thờ cúng thần vị v.v... đều là chẳng quan trọng. Công dụng của điện Phật thì hoàn toàn chẳng đồng. Lúc bình thường chúng ta mở miệng nói “Cúng Phật” thì cúng là cúng dường, là thăm dò trông ngóng, Phật của chúng ta là “trụ” ở bên trong Phật điện, cần người cúng dường. Công dụng Phật điện đều chẳng phải là dự bị cho số đông người đến nghe giảng mà là cung cấp chỗ cho Phật trụ. Do đó điện Phật là nhà ở của Phật cùng với nhà ở của phàm nhân chúng ta có công dụng tương đồng, chẳng sai biệt nhiều. Ở điểm này thì Phật điện của Trung Quốc cùng với thần miếu của Hy Lạp rất giống nhau, bởi vì đền thờ của Hy Lạp là nhà ở của các vị thần của họ.

Nhân vì cái duyên cớ ấy nên trên công dụng và kết cấu kiến trúc Phật điện và cung điện khả dĩ thảo luận dưới một tổng đề. Tựu trung là nhà ở và Phật tự của Bắc Bình (Hà Bắc) hiện tại trên bình diện phối trí không gì chẳng phải là tương tợ. Kiểu phân phối một gian chính hai gian chái rất phổ thông. Cái mà nhà ở kêu là Thượng phòng thì tại Phật tự gọi là Chánh điện. Cái mà nhà ở kêu là Sương phòng (phòng chái) thì ở chùa Phật gọi là Phối điện. Ngoài nhà ở như nha thự (nhà làm việc công, công sở) thương điếm (hiệu buôn) công xưởng (xưởng thợ)... thì sự bố trí và qui cách của chúng sai biệt chẳng nhiều, đều là như ở đây cả. Về kết cấu thì như đoạn văn trên đã nói qua, phương pháp cốt cán xây dựng nhà ở, chùa Phật, kho tàng cho đến thành quách, lâu đài là đều dùng  chủ yếu vật liệu gỗ. Trên phương diện kết cấu và công dụng về căn bản đã hoàn toàn tương đồng, có thể sẽ là một dạng thức mọi người trông đợi. Ðiểm bất đồng  giữa chùa Phật cùng nhà ở là chỉ tại phép ở của Phật và phép ở của con người có sự bất đồng giống như hoàn cảnh sinh hoạt của đế vương, quan lại cùng bình dân chẳng đồng một dạng.

Ở trong lịch sử, lại có ghi chép, chúng ta được biết khởi nguyên của chùa Phật là quan xá (nhà công) hoặc là nhà ở. Tự là quan xá vậy : Phàm là đình phủ sở tại đều gọi là tự, phủ ngự sử đời Hán cũng gọi là “Ngự Sử Ðại Phu Tự”, các cơ quan nhà nước sau này có Ðại Thường tự, Hồng Lô tự v.v... Ở trong thần thoại Phật giáo mới du nhập Trung Quốc nói ngựa trắng Tây Vực chở Kinh đến Trung thổ, đầu tiên dừng ở Hồng Lô tự, do đó đem tên chùa đổi là Bạch Mã tự. Ðời sau chỗ ở của Phù-đồ đều gọi là Tự, tóm lại là do sự khởi đầu này. Chẳng những chỉ có công sở đổi làm chùa mà lệ thường nhà ở đổi thành  chùa, trong lịch sử rất nhiều. Lạc Dương Già Lam Ký đã chép, chùa Kiến Trung “vốn là nhà của hoạn quan Lưu Ðằng”, chùa Nguyên Hội là do “Trung thứ xá nhân bỏ nhà ra xây dựng vậy”, chùa Bình Ðẳng là do “Quảng Bình Võ Mục bỏ nhà ra làm”, chùa Cao Dương Vương được “Cao Dương Vương ủng hộ nhà để làm”. Bài  ký về Chùa tháp của Kinh đô Lạc Dương có nói đến chùa Quang Trạch, trong chùa Phổ Hiền đường vốn là nhà tắm gội chải đầu của thiên hậu”. Lại nữa, chùa Tĩnh Vức “vốn là nhà của Thái Mục hoàng hậu”. Ghi chép lại những loại như đây chẳng phải là hiếm, bởi vì chùa Phật cùng nhà ở lúc ban đầu không có phân biệt, một mực đến ngày hôm nay khả dĩ chứng minh trở lại.

Ðến với sự bố trí của chùa Phật thì ở trong sách xưa ít ghi chép. Tuy nhiên phần hoa lệ và điển cố quan hệ đến Già lam thì Lạc Dương Già Lam Ký ghi thuật rất rõ ràng. Nhưng hiềm một nỗi là chúng có chỗ chẳng đủ. Ðến với những tác phẩm đời Ðường quan hệ đến chùa Phật thì có một quyển sách Kinh Lạc Tự Tháp Ký nhưng sách này sợ đã lạc mất, chỉ còn thấy dẫn trích trong các sách. Nhưng mà chẳng thể nhân đó nêu lên được tình hình kiến trúc Chùa Phật lúc bấy giờ, chúng ta chẳng qua có thể biết được đại khái mấy điểm sau đây :

(1) Phân viện (- như chùa Ðại Hưng Thiện có “Hành Hương viện”, “Tố Hòa Thượng viện”. Chùa triệu Cảnh Công có “Tam Giai viện”, “Hoa Nghiêm viện” v.v... Chùa Từ Ân “thường có hơn mười viện”.

(2) Hành lang (Lang - “Năm vách của Tây lang ở phía Bắc cửa Thiền viện bên đông, do đệ tử của Ngô Ðạo Nguyên là Thích Tư Ðạo vẽ”, “bên dưới Tây lang của viện Tam Giai trong chùa Triệu Cảnh Công, Phạm Trường Thọ vẽ cảnh Tây phương biến hóa...”, hành lang của chùa đại khái là từ cửa chùa nối liền đến trên điện Phật. Vả lại hành lang ở trong chùa cũng chiếm địa vị trọng yếu tương đương, chẳng vậy thì những họa sư danh tiếng chẳng từ bỏ việc vẽ vách hành lang.

(3) Cửa (Môn ) - Cửa là một vật kiến trúc tự làm thành một tòa, là trải qua nhiều họa sư danh tiếng trang trí. Như trên vách phía đông bên trong Nam-trung-tam môn của chùa Triệu Cảnh Công,

 

 

Ngô Ðạo Tử3 vẽ cảnh biến hóa của địa ngục... trên vách nổi của viện vẽ cảnh cây, đá, hơi giống của Diêm Lập Ðức4,... phía nam cửa bên trong Tây-trung-tam môn Ngô Sanh vẽ rồng và in rõ nét râu vua trời...” Cửa loại ấy lại có đối xứng “Tam môn”, đại khái là mặt rộng mở ba khoảng, vả lại đông tây nam bắc đều có cửa loại ấy. Ở trong chùa Triệu Cảnh Công đã có ghi chép “Trung-tam môn” ở hai chỗ đông và tây.

(4) Ðường - Phật đường hoặc Phật điện là vật kiến trúc chủ yếu của mỗi chùa, mỗi viện mà mỗi chùa đều có.

(5) Nhà ăn (Thực đường - Chùa Bồ tát có thực đường (nhà ăn) mà trên vách phía đông có bức họa của Ngô Ðạo Tử.  

(6) Lầu chuông (Chung lâu )- Ở trong việc ghi chép về chùa Phật ít đề cập đến lầu chuông, nhưng chùa Bồ tát nhân có duyên cớ đặc biệt nên có ghi chép như dưới đây: “... chế độ của chùa là lầu chuông ở phía đông, nhưng ở đây vì nhà của Lâm phủ Lý Hữu Tòa ở phía đông nên xây dựng lầu chuông ở phía tây...”

(7) Vẽ vách (Họa bích ) - Họa bích của đời Ðường là tinh hoa trong lịch sử nghệ thuật Trung Quốc. Toàn bộ sự ghi chép của sách Kinh Lạc Tự Tháp Ký đều chú trọng đến họa bích. Cái hiện còn của họa bích thì Thiên Phật nghiêm5 tại Ðôn Hoàng6 là rất trọng yếu mà Viện mỹ thuật của trường Ðại Học Bành Tỉnh Mỹ Quốc (University of Pennsylvania) đã cất giữ là vật trân báu hiếm thấy.

Từ trong những ghi chép tìm tòi lại tình hình của cung điện Tần - Hán trở về sau đã rất khó khăn, mà dựa vào ghi chép để khảo sát nghiên cứu tình hình kiến trúc chùa Phật đời Ðường lại chẳng hoàn toàn đạt đến cực điểm. Nhân vì những tài liệu liên quan đến chùa Phật đem so sánh với sự liên quan đến cung điện thì lại sai biệt nhau rất xa. May mắn là ngoài sự ghi chép ra, chúng ta lại có một số tài liệu mới. Trong khoảng tài liệu đó tuy dẫn chứng di vật không là bao nhưng sử sách truyện ký đều ghi lại một thời huy hoàng. Tài liệu quí giá ghi lại bổ sung đó là “Bích họa Ðôn Hoàng”, đã đem những kiến trúc đời Ðường - Cung điện, chùa Phật, cho đến nhà ở bình dân - vẽ phỏng lại một cách trung thực ở bối cảnh Phật tượng, khiến cho chúng ta có được những di vật kiến trúc bằng vật liệu gỗ của thời bấy giờ chưa phát hiện. Rốt cuộc có thể đem đối chiếu với tình hình kiến trúc đại khái thời bấy giờ vẫn được một cái nhìn không sai sót. Quả thật là một sự kiện đáng mừng.

Thiên Phật nham của Ðôn Hoàng mở động vào thời đại Phù Tần (năm 357 - 384 TL), nhưng những di vật đại bộ phận là tác phẩm của triều Ðường. Sau loạn Ngũ Ðại, sự phồn vinh của Ðôn Hoàng theo sự suy loạn của chính trị và sức nóng của tôn giáo lắng xuống mà suy bại. Việc tăng gia hang động mới ít dần, sách mới, tượng mới chẳng nhiều. Do đó chúng ta khẳng định được thời đại bích họa (vẽ vách), phần nhiều là di tích của thời Trung Ðường, Vãn Ðường (giữa và cuối nhà Ðường). Ðồng thời, nếu chúng ta đem những bích họa ấy cùng với bức vẽ chạm trên xà ngang đá của cửa tháp Ðại Nhạn ở Tây An để so sánh, rồi lại so sánh với điện Phật theo phương thức nhà Ðường của mấy chỗ hiện còn trên nước Nhật Bản thì thấy sự tương đồng của chúng trong kiến trúc. Rồi lại có thể dùng chúng để đoán định những bích họa ấy, và thời đại kiến trúc được biểu hiện trong những bức họa.

Những bích họa ấy tuy chẳng tránh khỏi sự tu bổ của hậu thế, nhưng về đại thể chúng ta không có thoát ly nguyên hình. Vả lại, những bộ phận tu bổ chẳng nhiều. Hiện tại chúng ta dùng phần soi rọi Ðôn Hoàng của ông Bá-hi-hòa (Paul Pelliot) làm căn cứ để làm một cuộc phân tích kiến trúc trong bích họa Ðôn Hoàng. Những số hiệu của động dùng để dẫn ra đều là biểu hiện của ông Bá-hi-hòa.

 

 

1.- Phối trí bình diện (mặt bằng)

Về phối trí mặt bằng thì ở đoạn văn trên đã thảo luận qua. Bản vẽ thứ nhất tuy là bản vẽ tưởng tượng, nhưng chúng ta có thể biết được nguyên tắc cơ bản và đặc trưng của việc bố trí mặc bằng cung Ðại Minh cho đến cung điện cùng chùa Phật thời bấy giờ. Trong ấy phải y theo tuyến giữa nam bắc, rồi phối trí cân bằng bên trái, bên phải, việc phối trí ấy chẳng hiếm và lạ trong kiến trúc Trung Quốc hiện tại mà lại hoàn toàn theo dạng ấy; lớn như  cung cũ và chùa Phật ở Bắc Bình (Hà Bắc), nhỏ như nhà ở của “Tứ Hợp Ðầu” đều bảo tồn được đặc trưng ấy.

Sự phân phối của Viện lạc (khuôn viên của viện) thì ở trong Kinh Lạc Tự Tháp Ký đã có chứng cứ rõ ràng. Phần trên của bức vẽ thứ tư phía bên trái tại động thứ 117 của Ðôn Hoàng là một tòa Ðại Già Lam, gồm chung ba viện, trung ương một viện lớn, bên trái bên phải đều có một viện nhỏ hơn, mỗi viện đều có tường vây, cửa nẻo của mình. Ðộng thứ 8, động thứ 71 cũng có những bức họa tương tự. Ở hai động ấy tuy biểu hiện là ba viện nhưng chẳng phải có lập tường vây mà là ở hai bên viện lớn trung ương đều phụ thêm ba mặt tường vây, làm thành hai khuôn viên viện phụ thuộc so với những điều thấy được ở động 117 thì việc bố trí lại là xoắn xít nhau. Bộ phận giữa của khuôn viên viện Trung ương ấy thì điện Phật là trọng yếu. Bốn phía chung quanh là tường của hành lang (Lang tường vừa là hành lang (tẩu lang ), đồng thời lại là tường vây của mỗi viện hoặc mặt bên ngoài. Ở chính giữa của mặt chính tường ngoài là cửa có ba gian hoặc năm gian, phía sau chánh điện cũng có cửa loại tương tợ, hoặc là một tòa kiến trúc hậu cung cùng với cửa trước tương xứng. Bên phải bên trái chánh điện, trong hành lang có hai cửa phải và trái. Hai cửa ấy đa số là lầu hai tầng. Ở bốn góc tường bên ngoài cũng có lầu hai tầng, phản phất giống một dạng lầu góc.

Tại động thứ 117 lại có bức họa Ngũ đài sơn mà số lượng Già Lam đã biểu hiện trong đó có chừng hai mươi ba, hai mươi bốn nơi cũng đều là phối trí nhiều dạng. Trong đó có một chỗ là “Chùa Nam Ðài”, bên trái chánh điện có tháp ba tầng, bên phải có lầu hai tầng. Ðem chùa này cùng với cửa giữa, Kim đường7, tháp năm tầng của chùa Pháp Long ở Nại Lương nước Nhật Bản sánh với nhau thì sự phối trí mặt bằng của thời đại ấy hiển hiện rõ ràng (bản vẽ thứ hai). Bản vẽ thứ ba là bản vẽ mặt bằng Già lam của chùa Ðại Tây ở Bình Thành Hữu Kinh nước Nhật Bản, được vẽ vào năm Bảo Qui thứ mười một (năm 781 TL - năm Kiến Trung thứ hai đời Ðường Ðức Tông), tuy nó chẳng phải là Già lam của Trung Quốc nhưng là sản phẩm của thời kỳ nghệ thuật rất thịnh mà Nhật Bản chịu ảnh hưởng Trung Quốc, khả dĩ xem ra rất trọng yếu, đồng thời biết được phép phân phối của cái gọi là “Viện”.

Ðến với sự phối trí mặt bằng nhà ở bình dân thì có thể tìm thấy trong những bức họa nhỏ hai bên những bức họa cảnh Tịnh Ðoä biến tướng. Trong những bức họa nhỏ ấy, cung điện, nhà ở riêng được biểu hiện, tuy nhiên phần nhiều chỉ là một góc hoặc một bộ phận, nhưng việc đi, ở bên trong viện thì bức vẽ phân phối gia nhân trai, gái cùng khuôn viên viện chùa Phật nhìn chung thì giống nhau. Kiến trúc được vẽ làm bộ phận bối cảnh trung ương ở bức họa Tịnh Ðộ là chánh điện ở giữa, mặt sau có hành lang, hành lang lại bẻ cong về phía trước, bên trái bên phải có lầu, gác hai tầng. Ðem vấn đề này so cùng với những điều thuật ở trên thì hoàn toàn tương đồng. Bức vẽ bố cục loại ấy thì số hiện còn là vài mươi bức trở lên. Nếu chẳng phải là phép bố trí rất phổ thông của cung điện hoặc chùa Phật thời bấy giờ thì tuyệt nhiên chẳng có sự biểu hiện phổ biến như ở đây. Ở trong bức vẽ loại ấy chẳng chỉ có thể truy cứu ra sự bố trí của điện, hành lang, vả lại có thể phát hiện được phép phân phối ao hoa sen tề chỉnh và đặc trưng chủ yếu trên những kiến trúc ấy.

 

2.- Chủng loại kiến trúc :

Ở bên trong những bức bích họa ấy mà qui ra loại nhỏ hơn về kiến trúc thì có thể được mười hai thứ sau đây :

(1) Ðiện đường - Phật điện, chánh điện, phòng xá đều qui cho loại ấy. Ðiện đường chùa lớn là vật kiến trúc chủ yếu hoặc thứ yếu ở bên trong tường vây, là chỗ của chủ nhân ông dựng lên để ở. Mặt bằng hơn, một nửa là hình dài vuông (hình chữ nhật). Một mặt dài thì hơn một nửa có ba khoảng mở ra hay năm khoảng mở ra nhưng năm khoảng so ra ít hơn. Trong bức vẽ, điện đường chiếm vị trí chủ yếu ở trung ương phần nhiều không có tường mái (thiềm tường )8, tường đầu hồi (sơn tường  khoảng hai trụ đều không có tường, vươn lên không như cái đình. Trong ấy đôi khi có hành lang vòng quanh. Khoảng giữa trụ chữ Kim () lại có kiểu dáng của tường. Kiểu dáng tường ấy so ra ít hơn, vả lại tường chỉ ở ít gian tiếp theo mà chẳng có gian sáng sủa. Gian sáng hẳn nhiên mở cửa, cùng với biện pháp kiến trúc hiện tại tương đồng. Nhưng trong những bức họa thứ yếu bên cạnh thì việc sử dụng tường so ra phổ biến hơn.

Phép kết cấu căn bản của những điện tường ấy là sử dụng khung giá gỗ đứng ở trên nền đài bằng đá hoặc bằng gạch. Khoảng giá gỗ mái nhà - diềm mái - thì dùng kết cấu trụ ngắn trên xà ngang. Từ trụ ngắn trở lên có cây rui đôi chồng lên, trên nữa là  phòng đỉnh. Mái nhà thì sử dụng ngói xanh che phủ, đồng thời trang trí đuôi cú tai mèo, châu báu v.v... Chùa Ðường Chiêu Ðề10 ở Nại Lương (bản vẽ thứ tư) bắt đầu xây dựng vào năm Bảo Vũ11 thứ ba đời Thuần Nhân Thiên Hoàng (năm 759 TL) chính là năm Càn Nguyên thứ hai đời Ðường Túc Tông, là công trình xây dựng của Ngài Giám Chân pháp sư, người Trung Quốc, khi truyền đạo ở Nhật Bản, đủ để đại biểu cho loại đại điện xây theo phương thức đời Ðường lúc bấy giờ.

Bức họa khắc đá ở cây xà trên cửa tháp Ðại Nhạn tại Tây An rất có thể tiêu biểu cho phép kết cấu cung điện đời Ðường.

(2) Lầu hai tầng (nhị tầng lâu ) - Buồng lầu hai tầng, bức bích họa trong nhà thờ của Võ Lương đời Hán và “âm trạch” tìm ra trong đất của lăng mộ đời Hán đã cho chúng ta biết được thuở xa xưa của nguyên thủy kết cấu ấy mà ở trong bích họa của Ðôn Hoàng đã được thấy rất nhiều. Chính điện, phối điện cho đến chỗ chuyển góc của tường vây hành lang đều có hai tầng. Phương pháp kết cấu là đem trụ chữ Kim của tầng đầu xuyên ra đến diềm mái đầu tầng từ ngói trở lên. Trên đầu trụ lộ ra kiểu ngạch phương12 hoặc bình bản phương13, rồi lại trên mặt dựng lên trụ nhỏ để làm cơ sở cho tầng trên. Từ đây trở lên, tất cả cùng với đường, điện đơn tầng như nhau, chỉ có điều là bốn chung quanh đều lan can vây giữ.

 

 

(3) Cửa lớn (Ðại môn ) - Cửa lớn của kiến trúc đời Ðường cùng với cửa lớn của kiến trúc Trung Quốc hiện tại là một dạng chiếm vị trí trọng yếu, trở thành vật kiến trúc đứng riêng một tòa. Mặt bằng là một hình dài vuông, phần nhiều là ba khoảng. Ở khoảng trụ giữa hoặc trụ chữ Sơn (lắp đặt cánh cửa. Cửa lớn có nền đài là đá hoặc là gạch, có cấp đá hoặc đường xe khả dĩ lên xuống. Ở trên nền đài trang trí hoa lệ lại có lan can. Cửa lớn có hai tầng.

(4) Lầu góc (Giác lâu ) - Trên bốn góc tường phần nhiều có lầu góc tầng kép. Lầu làm bằng giá gỗ, tường màu trắng, mặt bên trong tường tầng dưới có cửa, khả dĩ ra vào lầu góc, tầng trên là đại khái có thể đi lên. Xét phương pháp kết cấu và tánh chất xem ra chẳng giống vật kiến trúc phòng ngự của quân sự. Sự kết cấu cùng hai tầng của chúng đại để tương đồng.

 

(5) Hành lang (Lang ) - Trong kiến trúc của triều đại nhà Ðường đại khái nó đã chiếm được vị trí tương đương, những bức vách vẽ của các họa sư danh tiếng đã khẳng định ở trên hành lang. Lang là vật kiến trúc hẹp mà dài, sử dụng giá gỗ làm cốt cán, mặt trên có nóc nhà hẹp dài, một mặt hướng ra ngoài có tường chắn khoảng các trụ, một mặt hướng vào trong, phần nhiều không có tường. Tường của hành lang chính là tường ngoài của ngôi chùa. Do đó có thể nói hành lang là vật kiến trúc thuận tiện để đi quanh một vòng mặt bên trong tường ngoài của ngôi chùa. Nếu phải khi trời mưa dầm thì từ cửa lớn đến những bộ phận sau khả dĩ chẳng đi trên con đường ướt át.

(6) Ðình (- Ðình có ba loại: Tứ giác, bát giác và tròn. Trong những bức họa của động thứ nhất, thứ hai có ba tòa đình tứ giác (tứ phương đình). Nền đài là “Tu Di tòa”, trước có bậc thềm, trên có lan can. Chính diện và mặt bên của tứ phương đình đều là ba gian mở, gian sáng rộng mở cửa, gian ngọn hẹp có cửa sổ. Trên trụ có “đẩu củng”, hai cây rui kép. Nóc nhà là bốn góc hợp lại thành nhọn. Trên mũi nhọn “sát”15, đỉnh “sát” có luyện (đúc, rèn) bốn đường buộc vào bốn góc mái đình. Trong bức vẽ Ngũ đài sơn ở động 117 có “Chùa Ðại Pháp Hoa, trong đó có đình Bát giác, nền đài, lan can của nó đồng với đình tứ giác, nhưng có tám mặt, mỗi mặt một gian, bốn mặt mở cửa lớn, bốn mặt mở cửa sổ, trên nóc có “sát”, đường luyện trên sát buộc trên những góc nóc đình. Ðình bát giác loại ấy thường thường có vị trí ở trên ngói của hành lang, hoặc ở chỗ chuyển góc. Pháp Long tự, Ðông viện, Mộng điện hoàn thành vào năm Thiên Bình thứ 11 (năm 740 TL, năm Khai Nguyên thứ 28 đời Ðường Huyền Tông), tuy hậu lai trải qua sửa chữa nhiều lần nhưng qui mô vẫn đồng với nguyên vật, có thể mượn để soi xét chế độ hình thể vật thật của đình bát giác (bản vẽ thứ 6).

(7) Ðài () - “Ðài” danh từ ấy là chúng ta giả định để đại biểu cho một chủng loại vật kiến trúc mà trong nhất thời không có danh xưng thích hợp nên tạm dùng. Cái gọi là đài ấy là một loại kiến trúc cao mà bộ phận dưới hoặc sử dụng gỗ hoặc sử dụng gạch xây nên nền cao, rồi lại ở trên nền xây dựng lên cái phòng. Trong nửa bên phải của bức họa trên vách phải, ở động thứ 70 có ba tòa loại đài ấy. Hai tòa là đài gỗ, một tòa là đài gạch. Chỗ chẳng đồng giữa đài và lầu chỉ tại cách sử dụng của tầng dưới. Chiếu theo bức bích họa xem lại thì tầng dưới của đài hiển nhiên là chẳng dự bị dùng làm chỗ ở; với những cây trụ đặc biệt cao, đem tầng trên đặt trên những trụ cao ấy, mà càng cao càng tốt. Tầng trên tựa như cái đình vuông, phần nhiều là ba khoảng mở. Nóc đình làm kiểu “yết sơn”16 hoặc kiểu

 

Toàn tiêm17, chung quanh có lan can. Kết cấu của đài cùng với cách thức xây dựng “bình đài”18 đồng nhau. Mỹ thuật quán Phú-lợi-a ở Hoa-thịnh-đốn (Freer Gallery) có một miếng đá khắc một tòa đài cùng đồng dạng với đây (bản vẽ thứ bảy). Hiện thời chúng ta không còn vật thật loại ấy, nhưng kiến trúc loại đài ấy đã từng trải qua thực hiện rất phổ thông, tợ hồ không gì đáng nghi ngờ.

(8) Tường vây (Vi tường ) - Tường vây là do hành lang kiêm luôn tường mà đoạn văn trên đã thảo luận qua. Phần nhiều tường vây được xây dựng bằng giá gỗ, lại có thứ tường chắn bằng gạch, nhưng chẳng giống, nhiều tường hành lang lắm. Ở trước nhà ở của người nghèo khổ thường dùng tre gỗ rào lại làm tường vây.

(9) Thành (- Thành là công trình phòng ngự quân sự, ở đời Ðường đã phát đạt lắm rồi. Ðại khái là cho đến thời hỏa khí phát minh thì kiến trúc thành không biến đổi lớn lắm. Việc kiến tạo thành bằng gạch thì đời Ðường trở về trước nhất định đã có rồi. Nhưng việc dùng gạch xây thành có qui mô lớn thì đại khái muộn hơn. Cho đến triều Minh mà thành Bắc Kinh lại còn xây bằng đất. Thành Bắc Kinh và nhiều thành của các tỉnh, huyện hiện còn chẳng sai biệt nhiều, toàn là những công trình từ đời Gia Tĩnh (giữa thế kỷ thứ 16) trở về sau. Phần nhiều thành biểu hiện trong bích họa Ðôn Hoàng toàn là xây bằng gạch. Thành phần nhiều là hình vuông, ở chính giữa hai mặt hoặc bốn mặt đều là cửa thành có lầu. Nền lầu của thành hẹp mà cao vút, chẳng giống sự công bằng như hiện tại chúng ta đã thấy bình thường. Vật kiến trúc trong bích họa theo tỷ lệ miêu tả lại có thể trung thực. Chúng ta tin sự chuẩn xác về tỷ lệ cân bằng của lầu cửa thành với ít nhiều đặc thù đã biểu hiện trong bức họa là trung thực với tình hình thời bấy giờ. Nếu chẳng vậy thì chẳng có đến vài mươi bức họa toàn là cao vút như ở đây. Ðộ cao của nền lầu cửa, có lầu cao gấp ba lần, đó chẳng  phải là cái cân bằng chúng ta thường thấy. Nền lầu là bộ phận cửa thông xuyên qua, bên trong bên ngoài so với tường thành dày hơn nhiều, dưới lớn trên nhỏ, phần thu lại sáng rõ. Trên đỉnh nền lầu có mắt thòng xuống những trụ ngắn trên xà (đẩu củng), tại đây trở lên chính là bản thân của lầu. Bản thân của lầu so ra nhỏ hẹp hơn mà mở rộng năm khoảng, tiến sâu ba khoảng, chu vi có lan can, dưới diềm mái có trụ nhỏ đỡ. Nóc nhà phần nhiều xây kiểu “yết sơn”. Cửa dưới đáy thông suốt, hẹp mà cao, đỉnh chẳng phát ra dấu hiệu làm bằng mà trở thành hình bát giác. Tình trạng rõ ràng của kết cấu trong bức họa xem ra chẳng đổi. Riêng loại cửa thông suốt là hiển nhiên đầu bằng, chẳng phát ra bằng chứng mà sử dụng gỗ làm xà ngang gác trên cửa. Trên xà ngang cửa lại sử dụng một đường trụ đỡ nhỏ hình chữ nhân. Ðến với cánh cửa của cửa thành, trong bức họa đa số xem chẳng ra. Trên tường thành có làm tường Nữ19 và tường Ðiệp nhãn20, nhưng có thành không làm. Có nhiều tường thành không có biểu thị độ dày của tường nhiều hay ít, đồng thời mép trên của tường không có tường thấp Ðiệp nhãn, rất đáng cho người ta hoài nghi là có tường thành bên trên chẳng bỏ.

Việc kiến trúc lầu góc ở trên thành sai biệt chẳng nhiều, chẳng thể khuyết thiếu. Chỗ chuyển góc của tường vây thông thường nối liền đều có lầu góc, thành tường chẳng nói nữa. Hiện tại chúng ta đã thấy mặt bằng lầu góc kiểu đời Minh đời Thanh phần nhiều là hình “thước Ê-ke” (khúc xích ), theo tường thành mà chuyển góc. Ðiều thấy được ở bích họa Ðôn Hoàng so ra đơn giản nhiều, về kết cấu thì cùng với lời văn giảng giải ở trên về lầu cửa thành là hoàn toàn tương đồng, chỉ là ở bên dưới không mở cửa thông ra. Vị trí là ở chỗ chuyển góc tường mà chẳng ở chính giữa tường. Lầu góc vốn là một tòa kiến trúc hình vuông vức (chính phương), so với lầu cửa thành nhỏ bé hơn một chút.

(10) Tháp (- Tháp hiện còn của kiến trúc đời Ðường khá nhiều. Vấn đề ấy là một bộ phận rất phong phú về tài liệu trong nghiên cứu kiến trúc đời Ðường. Tháp đời Ðường hiện còn đều là tháp gạch hoặc tháp đá, tháp gỗ ở trong nước đã không có tồn tại rồi, nhưng mà có tháp gạch và tháp gỗ mô phỏng, do đó trước tiên cần phải từ tháp gỗ mà xem xét.

Tháp gỗ phần nhiều cao bốn tầng, mặt bằng hình bốn phương (bốn góc), ba khoảng mở, đứng ở trên nền đài bằng gạch hoặc bằng đá, khoảng giữa tầng thứ nhất mở cửa, khoảng trên (ngọn) mở cửa sổ, cứ tôn lên mỗi tầng thì lần lượt giảm nhỏ bé dần, khoảng giữa mở cửa sổ. Tựu trung toàn bộ là đem ngần ấy cái đình chồng lên mà thành. Xem xét di vật đồng thời hiện còn của Nhật Bản cùng những điều thấy được trong các bức họa thì rất giống nhau. Kết cấu là sử dụng giá gỗ, chính giữa dùng một cây trụ giữa, từ nền đài duỗi thẳng một mạch đến ngọn nhọn, duỗi ra bên ngoài ngói. Tháp gỗ đời Ðường nhất định là y theo phương pháp này mà kiến tạo.

Di vật tháp đá rất nhiều, trong đó có một loại “mộ tháp”. Tên tuy gọi là tháp mà thật ra là một tòa đình đá đơn tầng hình vuông. Di vật loại ấy có rất sớm, như chùa Thần Thông ở Lịch Thành tỉnh Sơn Ðông có “tháp Bốn Cửa” của đời Bắc Tề. Ðến triều đại nhà Ðường thì loại tháp bốn cửa ấy rất nhiều mà trong bích họa có thể tìm ra (bản vẽ thứ 8). Mặt bằng của tháp là hình vuông, bốn mặt có cửa vòm (củng môn). Diềm mái của phần tầng tháp sử dụng gạch hoặc đá cứ lần lượt theo tầng mà chìa ra để thay cho trụ đỡ nhỏ. Pháp thức xây dựng này gọi là “điệp sáp tạo” (chồng dính vào nhau). Nóc nhà thành hình chóp nhọn, bên trên đỉnh nhọn có cái bình báu hoặc một loại “sát”. Xếp ngần ấy loại tháp bốn cửa này lên liền thành tháp đá nhiều tầng. Trên bích họa và vật thật còn đều có thể xem ra thể lệ này (bản vẽ thứ 8). Lại có một loại tháp đặc thù, tầng dưới là gỗ, tầng trên bằng đá. Tính chất và phép kết cấu hai thứ ấy hoàn toàn chẳng đồng mà có thể cưỡng hợp làm một vật. Cây thì ở dưới mà đá ở trên, điều ấy chẳng hợp lý chút nào. Trong di vật hiện còn lại không có phát hiện qua loại ấy cái nào cả. Nhưng ở trong bích họa thì thấy có đôi ba cái (bản vẽ thứ 8).

Tốt-đổ-ba (tháp: Stupa) theo thể thức Ấn Ðộ thì ở trong bích họa chỉ thấy một chỗ. Ðiều rất kỳ lạ là nơi đây chịu ảnh hưởng lớn tư tưởng tôn giáo Ấn Ðộ và ở trên con đường giao thông với Tây Vực mà dạng tháp Ấn Ðộ ấy lại ít thấy.

Tháp Ðại Nhạn chùa Từ Ân ở Tây An là nơi pháp sư Huyền Trang xây dựng để cất giữ Kinh, hiện còn đứng một mình cao lồng lộng là phẩm vật trân quý của kiến trúc Trung Quốc. Tôn nghiêm mỹ lệ là hoàn toàn do ở sự cân xứng của từng bộ phận. Nghiên cứu tiû mỉ thì có thể thấy ra lúc bấy giờ là tư tưởng dùng gạch mô phỏng lại tháp gỗ. Lớn nhỏ cao thấp của mỗi tầng và trụ, gỗ gác ngang (phương ), trụ thẳng trên xà (trực củng ), xà ngang (tọa đẩu ) v.v... của gạch xếp thành đều có thể thấy được nguồn gốc đến từ hình thức gỗ.

Lại có một loại tháp gạch hình vuông, tầng đầu tiên rất cao, đứng ở trên nền đài, rồi từ tầng đầu trở lên những tầng trên rất nhỏ hẹp như tháp Tiểu Nhạn của chùa Ðại Tiến Phước ở Tây An. Di vật vất nhiều nhưng ở trong bích họa Ðôn Hoàng, trước sau không có phát hiện loại này.

(11) Cầu (Kiều ) - Ở trong các bức họa, cầu được phát hiện nhiều lần, toàn được cấu tạo bằng gỗ, từ những trụ đỡ nho nhỏ dựng lên, hai bên mép có lan can. Nó cùng với cầu gỗ hiện thời của Nhật Bản rất giốùng nhau.

(12) Mộ (- Ở trong bức họa ở động thứ tám, vẽ một tòa phần mộ, chu vi có tường rất thấp, mặt chính mở hết ra, không có cửa. Bản thân phần mộ là một đống hình bán viên (nửa tròn) đứng ở trên nền đài không cao lắm.

3. Nghiên cứu tỉ mỉ các bộ phận - đặc trưng kết cấu.

Ðặc trưng nghệ thuật của một thời đại đôi khi ở tại từng bộ phận rất dung dị nhỏ nhặt hiển bày ra mà đại thể thì có thể tùy lúc tương đồng, còn thủ pháp nhỏ nhặt từng người đều khác. Ðoạn văn trên chỉ nhằm giải thích sơ lược về cái đại thể ấy, còn đến với những đặc trưng tinh tế thì lại phải nghiên cứu các bộ phận.

(1) Tài liệu  ()- Tài liệu chủ yếu của kiến trúc Trung Quốc là khuynh hướng sử dụng gỗ mà triều Ðường không có ngoại lệ, phương pháp là dùng gỗ làm giá buồng (phòng) đã trở thành cốt cán, rồi sau mới đem tường vách, cửa sổ, vọng bản21, nóc ngói, gia thêm lên trên. Nếu không có giá gỗ cốt cán thì chẳng có thể sản sinh ra những thứ đặc trưng ấy. Ðặc trưng của kiến trúc Trung Quốc tựu trung hoàn toàn là tài liệu ấy và kết quả của phương pháp kết cấu. Ngoài gỗ thì gạch đá cũng thường sử dụng, nhưng đều giới hạn ở nền đài, thềm đài v.v... Tường thành phần nhiều sử dụng gạch và đất còn nhà ở phổ thông, tường chắn giữa khoảng các trụ thì ngoài việc dùng gạch, người ta còn dùng cành cây, tre nhỏ đan vào nhau rồi trét bùn tro. Kiến trúc của Nhật Bản đến ngày nay vẫn dùng phương pháp này. Nóc nhà thì sử dụng ngói. Ngói lưu ly là vật thường thấy hiện nay thì bấy giờ chỉ là đồ làm nhà thường dùng, lại chia thành một thứ tài liệu kiến trúc. Vàng là chất liệu thường sử dụng trong kiến trúc để trang trí trên cửa, bao bọc lan can, làm những Bảo bàn22 trên “sát”, đúc chuông rung nhỏ v.v...

(2) Màu sắc (Sắc thái ) - May mắn mà những bích họa Ðôn Hoàng ở vào một địa phương khô ráo, trải qua một ngàn mấy trăm năm mà vẫn có thể bảo tồn được nhan sắc đến nay. Màu sắc của kiến trúc đời Ðường, Chúng ta đương nhiên còn được nhìn thấy một ít. Nhan sắc chủ yếu hiển nhiên là màu hồng; sự sai biệt chẳng nhiều vì vật liệu gỗ sử dụng đều là màu hồng. Bùn tro hoặc tường gạch toàn là màu trắng cùng với những bộ phận chất liệu gỗ tạo thành một thứ tương phản tươi sáng. Trụ ngắn trên xà ngang là màu đỏ (điểm này còn đợi chứng minh, nhan sắc những thứ ấy đã trải qua sự tác dụng hóa học lâu dài đều có khả năng biến thành màu đỏ). Ngang (đà ngang) là màu hồng mà mặt hẹp của trụ cùng đà ngang thì sơn màu trắng, cây rui màu hồng, đầu rui màu trắng. Nóc nhà là màu tro tức là nguyên màu của “gạch xanh”, bấy giờ còn chưa có điểm lưu ly phối hợp cùng với màu sắc tươi sáng. Loại màu sử dụng ấy cùng với kiến trúc kiểu đời Minh, Thanh, hiện tại cơ hồ hoàn toàn chẳng đồng mà cùng với kiến trúc Nhật Bản thì tương tợ một loại.

(3) Nền đài (Ðài cơ ) - Ở trong kiến trúc Trung Quốc, từ xưa đến nay, nền đài đều chiếm một vị trí trọng yếu. Ðế Nghiêu “nhà cao ba thước” là chỉ độ cao của nền đài mà nói. Ở trong kiến trúc của thời Minh, Thanh, nền đài đã phát đạt đến điểm tối cao, nên bên trong cung, lề lối có nhiều. Nền đài kiểu nhà Ðường so với hậu thế thì đơn giản mà trang nghiêm. “Khuê cước ” (chân ngọc khuê) của từng dưới cùng phủ hoa sen, lại đứng trên “thổ sấn ” (mô đất) hoặc trụ gạch trong nước, có khi sử dụng hai tầng gạch vuông đắp bằng mà thành. Trên “thổ sấn” là “hạ phương ” (lớp gỗ bắt đà ngang), trên “hạ phương” là “thúc yêu ” (thắt eo) trên thúc yêu là “thượng phương ” (lớp gỗ cứng bắc ngang ở trên). Hậu thế thì chỗ khoảng cách “thúc yêu” và “ thượng hạ phương” nhất định có sự mạnh mẽ phức tạp mà ở trên nền đài của triều Ðường lại chẳng từng có. Ở trong từng “thúc yêu” có nhiều trụ ngắn như là một dạng trụ góc mà hiện tại thường thấy, đem phần “thúc yêu” chia ra ngần ấy ô vuông vức (xem thêm sách Bổ Chú Thê Hà Sơn Tháp Tòa của Ngọc Trùng Trù Tư,û do Lưu Sĩ Năng Tiên Sinh dịch). Trên những trụ ngắn ấy đều có hoa văn ngang, đó là đại biểu cho loại hoa văn đẻo bằng búa trên đá. Trong những ô vuông vức khắc đóa hoa lớn ở mặt chính. Trên biên của “thượng phương”, “hạ phương” thì khắc hoa văn liên tục. Nền đài của tòa đá ấy lúc bấy giờ hoặc dùng màu sắc tươi sáng tô trác lên, màu sắc vẽ ở trong các bích họa thì đương nhiên là có. Có màu sắc trong việc tạo tượng đời Tùy, Ðường thì hiện tại còn có lề thói thật, mà thần miếu của Hy Lạp cổ và giáo đường theo kiểu Ca-đức (Gothic)23 phần nhiều sử dụng màu sắc sơn dầu ở trên đá. Do đó chúng ta tin rằng, việc sơn màu lên đá lúc bấy giờ là rất có khả năng. Nhưng ở những kiểu dáng thật được phát hiện trở về trước thì chỉ có thể nói, điều này hãy còn như là giả định thôi, chờ đợi sự biện minh chính xác trong tương lai.

Từ nền đài trên đất bằng có thềm bậc hoặc để bước đi, hoặc lối xe đi. Trên lối xe đi có khắc hoa văn, hoặc từng miếng hoàn chỉnh, hoặc phân chia chẳng đều. Men theo nền đài và trên mép thềm bậc có lan can; chúng ta sẽ thảo luận riêng điều này. Mặt trên của nền đài thì sử dụng gạch vuông lát nền đất, căn cứ vào bích họa thì trên gạch có biểu thị hoa văn, nhưng trên thực tế thì tợ  hồ chẳng mười phần hợp lý.

Xây dựng ở trên bờ nước thì phương pháp làm nền đài có hai cách : Một cách là sử dụng gạch, đá xếp lên bằng bờ mép sông. Phương pháp cùng với nền đài phổ thông tương đồng. Ở tại bộ phận “thúc yêu” (thắt eo) thì dùng trụ cách khoảng phân làm ô vuông, bên trong khắc hoa sen. Một cách nữa là, từ chỗ đất về phía trên nước, sử dụng cộc gỗ (mộc thung ) hoặc trụ gỗ dựng ở trong nước, ở mặt trên gác rường gỗ cứng, rồi lại lót sàn gỗ (địa bản ). Khoảng cách giữa cọc trụ và sàn gỗ dùng nhiều trụ nhỏ dựng trên xà ngang. Chu vi của đài trang trí lan can.

(4) Trụ ()- Trụ của triều Ðường so với trụ hiện tại thì nhỏ mà dài hơn. Ở bích họa Ðôn Hoàng và trên cây xà ngang đá cửa tháp Ðại Nhạn đều nhìn thấy rõ rệt. Mối trên của trụ tiếp thẳng với “tọa đẩu” của “đẩu củng”. Mối dưới của trụ đứng ở trên đá. Trụ thì có tròn, vuông hay bát giác chẳng đều. Trụ bát giác thì ở trong các bức họa nhìn chẳng ra. Nhưng ở trong hang đá núi Thiên Long có trụ bát giác của đời Bắc Tề và đời Tùy. Tháp của Thiền sư Tịnh Tạng ở chùa Hội Thiện núi Tung Sơn có trụ bát giác. Do đó trụ bát giác ở đời Ðường trở về trước nhất định là thông dụng. Trụ nhiều màu sắc ở trên điện trang trí hoa lệ. Ðoạn giữa trụ có trang trí hoa văn thì đời sau thấy ít. Cột trụ trên đá (đế trụ) phần nhiều làm hoa sen che phủ và một thứ hình “biên trống”, những thứ hoa văn đặc biệt nhất định còn có, nhưng ở trong các bức họa chưa thấy đến (bản vẽ thứ 9).

 

(5) Ngạch phương (đỉnh trụ quá dui nhà) - Công dụng của “ngạch phương” là đem mối trên của các trụ kết nối với “giá chủ”, kéo chế không cho nghiêng lệch, đồng thời có thể đem trọng lượng của phòng đỉnh (buồng trên - phần chính của tầng trên) chia đều đến trên các trụ. Trong bức vẽ Tịnh Ðộ, thấy “ngạch phương” có hai thứ, tầng đơn và tầng đôi. Tầng đôi thì đại lược giống ngạch phương lớn nhỏ của hiện tại, nhưng khoảng giữa hai ngạch phương hiện tại phóng ra chia vị  trí từ “ván ngạch chái nhà” thì trống rỗng nên hoặc dùng tro bùn trét lên, hoặc chắn bằng trụ ngắn thẳng và nhỏ (bản vẽ thứ 5).

(6) Ðẩu củng () - Lịch sử phát đạt đẩu củng có thể nói chính là lịch sử kiến trúc của Trung Quốc. Di vật tối cổ được tìm thấy trên cổng đá đời Hán. Khuynh hướng phát đạt đẩu củng là từ đơn giản đến phức tạp. Ðẩu Củng được thấy ở những hang đá Vân Cương (Bắc Ngụy), Long Môn (Bắc Ngụy đến Ðường), Thiên Long Sơn (Bắc tề, Tùy, Ðường) sai biệt chẳng nhiều toàn là “Nhất đẩu tam thăng” ở trên đầu trụ, khoảng giữa (phương pháp xây dựng của Lý Minh Trọng gọi là bổ gian) có “củng” hình chữ nhân mà bản thân đẩu củng không có, so với “nhất đẩu tam thăng” lại phức tạp hơn. Bức vẽ điện Phật trên đá xà ngang cửa tháp Ðại Nhạn có đẩu củng so ra phức tạp hơn (bức vẽ thứ 5). Bức vẽ này đã vẽ kết cấu của đẩu củng so cùng với điểm trọng  yếu của đẩu củng hiện tại chẳng đồng, tại đẩu củng hiển nhiên phân chia hai tầng trên và dưới. Tầng dưới có những “củng” chính tim cùng nhô lên giao nhau, buông ra ở trên “tọa đẩu” mà tọa đẩu đều không có miệng đẩu để thừa nhận cũng nhô lên, chỉ là buông ngang lên trên đẩu. Trên điểm cũng cùng nhô lên tương giao lại có một tọa đẩu, ở giữa có miệng đẩu chữ thập để thừa nhận xà ngang chính tim cùng hai đầu nhô lên. Chỗ xà ngang chính tim cùng hai đầu nhô lên giao nhau lại có một tọa đẩu để thừa nhận xà ngang (phương) chính tim cùng đầu rường của tầng trên. Hai đầu nhô cùng phương chính tim tầng dưới sau khi giao nhau thì hướng chìa ra ngoài, so với đầu nhô lại đưa ra xa, do cái chi đưa ra mà đặt củng nhà chái. Trên củng nhà chái lại là ba “thăng”. Dùng chi đưa ra để gánh mái diềm. Tầng trên cùng với phương chính tim, chỗ giao nhau có đầu rường nhỏ ngắn duỗi ra dài ước chừng một cái giá nối theo (nhất duệ giá ). Ðộ lớn nhỏ của phương chính tim của hai tầng trên dưới cùng với phương ngạch lớn nhỏ ước chừng đồng nhau. Ðó là điều phải chú ý của chúng ta.

Ðẩu củng ở trên trụ góc thì chính diện cùng trắc diện (mặt nghiêng) đều có một chỗ họp lại. Phương chính tim tầng dưới của chính diện duỗi ra thành hai đầu nhô của trắc diện. Xà chính tim của mặt nghiêng duỗi ra thành hai đầu nhô của hai mặt. Ở trên góc bốn mươi lăm độ cũng có nhô lên hai cái đồng nhau. Trụ “củng” chính diện, trắc diện đều một cái giao nhau nối ở tại hai đầu nhô xiêng bọc lại bên trên xà “đẩu”, do những nhánh gánh lấy diềm mái. Khoảng cách đầu trụ với đầu trụ, trên thanh gỗ ngạch, trên thanh gỗ chính tim tầng dưới có trụ cũng hình chữ nhân. Khoảng thanh gỗ chính tim của hai tầng trên, dưới, sử dụng nhánh thẳng trụ trên xà chống (người Nhật gọi trụ củng đó là “Ðông”)ø.

Niên đại bức vẽ ấy tuy chẳng thểû xác định, nhưng dùng niên đại của tháp mà định thì phải thuộc vào thời sơ Ðường. Tháp được xây dựng đầu tiên vào năm Vĩnh Huy thứ ba (năm 652 TL). Trong khoảng những năm Trường An (701 - 704 TL), được xây dựng lại thành tháp gạch hiện hữu. Xà đá gác trên cửa là vật thuộc về thời kỳ Trường An. Sự cấu tạo “đẩu củng” trong bức vẽ phức tạp hơn đời Lục Triều mà chẳng bì kịp bích họa Ðôn Hoàng. Cái gọi là “ngang ” (giơ cao) thì đến đây vẫn chưa phát hiện. Lại cùng giống với nó thì chỉ có trụ cũng chính tim tầng hai tọa trên “đẩu” đã lộ ra một điểm đầu xà nhà (lương ). Ðồng thời cửa giữa, kim đường, tháp năm tầng của chùa Pháp Long ở Nhật Bản đều không có những thứ đồng một dạng mà đời sau gọi là “ngang”, chỉ có cái “ngang” hơi giống mà còn chưa hoàn toàn qui vào bên trong “đẩu củng” mà đầu dưới cũng chưa chế thành hình của “ngang chủy ” (Ðầu nhọn giơ cao). Do đó việc sử dụng thành thục về “ngang” phải ở vào thời thịnh Ðường trở về sau.

“Ðẩu củng” được nhìn thấy trong bích họa Ðôn Hoàng, có chừng vài thứ. Loại rất đơn giản chỉ là một “đẩu” ba “thăng”, khoảng bổ sung thì dùng “củng” hình chữ nhân. Còn loại rất phức tạp thì như cái đã thấy trong hang thứ tám, ở trên đầu trụ dùng “củng” chính tim và cái nhô lên đều là một. Từ tầng thứ hai khởi lên thì mỗi tầng có một “ngang chuỷ” hình nhọn hướng xuống dưới so cùng với “ngang chuỷ” trong phương pháp xây dựng của Lý Minh Trọng thì rất giống nhau. Mỗi tầng có một đường “phương” (thanh gỗ bắc ngang) chính tim. Khoảng bổ sung làm phẳng so với cái vẽ trên đá xà ngang cửa thì phức tạp hơn. Trên “ngạch phương” có một cái u lạc đà (Ðà phong là biến tướng của cây “củng” hình chữ nhân. Từ tầng hai trở lên thì phép làm “củng” và “ngang” cùng “đẩu củng’’ đầu trụ đồng nhau. Nhưng đáng tiếc phim rọi bích họa không rõ ràng lắm, chẳng thể có được một sự phân tích chuẩn xác. Ngoài tầng đôi hoặc tầng đơn này có “ngang chuỷ” hoặc không “ngang chuỷ”, có khoảng bổ sung làm bằng phẳng hoặc không đều. Nhưng chính là đặc trưng rất lớn của kiểu thức đời Ðường mà nếu so cùng với các thời đại Tống, Nguyên, Minh, Thanh, thì có ba điểm bất đồng: Một là “Ðẩu” mỗi tầng có thể tự trở thành một tập họp (Toản ), không luận một tầng trên một tầng hoặc tầng dưới tách ra. “Ðẩu củng” của tầng này vẫn chẳng mất mà trở thành chỗ đẩu củng họp lại. “Phương” (gỗ vuông) chính tim của tầng dưới liền có thể trở thành “ngạch phương”. Hai là mỗi tầng tự có “phương” chính tim so với nhiều tầng chồng kín của thời Minh, Thanh thì hợp lý hơn. Khoảng trống “phương” chính tim của mỗi tầng thì dùng bùn tro trét kín lại. Ba là, mỗi gian chỉ có khoảng phẳng đầu củng họp lại làm một, kiểu nhà Tống dùng cách họp lại hai, còn Minh, Thanh lại nhiều, không hạn chế. Ðiểm mà kiểu nhà Ðường cùng với Tống, Nguyên tương đồng mà cùng với Minh, Thanh chẳng đồng là ở tại đuôi sau của “ngang”. Ðuôi “ngang” của Ðường, Tống, Nguyên đều một mực duỗi thẳng xuống đến dưới cái giá hình chữ Kim (), cùng với cây rui song song. Ðó là kết cấu nhất định cần phải có. “Ngang” của thời Minh, Thanh thì kỳ thật là “ngang chuỷ” nhô nhọn thêm lên mà không có giá trị kết cấu. Ðiều nói đến là máng xối lật úp (lựu kim đẩu ) , phần cuối có “làm đòn cân bằng” (khởi xứng hãn ), nhưng đó là một thứ trang trí, hoàn toàn mất đi cơ năng kết cấu.

(7) Cây rui (chuyên tử ) - Cây rui là trùng đôi, cùng với phương pháp làm hiện tại hoàn toàn tương đồng. Rui diềm mái tầng dưới là tròn, rui của diềm mái cất bay lên ở tầng hai thì vuông mà còn xếp bày kín, khoảng trống chẳng quá một cây rui đi qua, nó cùng với hiện tại hoàn toàn tương đồng mi cửa (môn mi thạch)24 tháp Ðại Nhạn thấy rất rõ ràng.

(8) Nóc nhà (ốc đỉnh ) - Nóc nhà có ba loại Vũ điện25 (tức là Tứ A)26, Yết sơn27 và Toàn tiêm28. Nóc nhà của hành lang là một một hàng dài, lại sẽ bàn luận về nó riêng. Ở trong bích họa cái có được, rốt cuộc không có phát hiện được kiểu mái nhà “ngạnh sơn”29 hoặc “huyền sơn”30. Do đó phép kết cấu của “ngạch sơn”, “huyền sơn” ở triều Ðường không thực dụng cho nên đã không phát minh, đủ khiến cho người ta hoài nghi. Ngạnh sơn, là phương pháp làm rất phổ thông ngày nay. Yết sơn, Vũ điện chẳng phải vì kiến trúc hoa lệ mà chẳng dùng, ở trong bích họa Ðôn Hoàng, tuy chỗ ở của dân rất nhỏ mà vẫn sử dụng Yết sơn. Do đó khiến cho người ta đối với Ngạnh sơn chẳng nghi là phát minh muộn hơn.

Nóc nhà (Phòng đỉnh ) thì dùng ngói lợp che. Phần nhiều là sử dụng ngói ống mà ở trên Mi cửa tháp Ðại Nhạn xem thấy rất rõ ràng. Còn trên những bích họa khác thì chúng có thể nhìn thấy lờ mờ. Hai đầu cây đòn giông (chính tích ) có hình đuôi chim cú mèo, đá tháp Ðại Nhạn và hang Ðôn Hoàng thứ mười tám đều có vẽ chuẩn xác rõ ràng, có thể xem ra là một thứ (bản vẽ thứ năm và thứ mười).

 

Ðến với bản thân của đòn giông (chính tích), phương pháp làm tuy chẳng được rõ ràng điều ấy, nhưng là dùng nhiều đoạn hợp thành, vả lại mặt trên dùng ngói ống lợp che thì hiển nhiên dễ nhìn thấy. Những cây buông xuống (thùy tích ) từ đòn giông cùng với đòn giông đồng nhau, do nhiều đoạn nối lại thành, bên trên có ngói ống lợp che, đầu dưới nhô lên nho nhỏ, hoặc làm thành đầu chúi xuống, hoặc dùng ngọc báu áp dính vào. Ở trên chính điện, đầu dưới “thùy tích” có hai ngọc báu, đại khái là tiền thân của hình thú buông xuống (thùy thú ) cùng hình người tiên (tiên nhân ) theo kiểu thời Minh, Thanh.

Có một vấn đề khiến cho người ta chẳng thể giải quyết được, đó là góc diềm thì không cất bay lên. Ðá khắc Vân Cương, tháp đá Ðại Nhạn và trong bích họa Ðôn Hoàng thì diềm mái hoàn toàn là một đường trực tuyến, tuyệt không biểu thị cất bay lên mà ba tòa vật kiến trúc của chùa Pháp Long cùng đại điện của chùa Ðường Chiêu Ðề thì đều cất nhô lên. Do sự miêu tả trung thực của bích họa Ðôn Hoàng tưởng chẳng đến nỗi lược bỏ điểm này. Ðến pháp thức xây dựng cất lên cao thì đâu phải diềm mái góc cất bay lên là tây bộ Trung Quốc đời Ðường chẳng thường sử dụng vậy ?

Yết sơn, Thu sơn ?) rất sâu, do đó bộ phận hình tam giác của Sơn hoa (?) rất nhỏ. Vả lại không có ván Sơn hoa làm cho đà rường nội bộ lộ ra rất giống với phép làm Huyền sơn của hiện tại, so ra nếu dùng ván Sơn hoa để che đậy thì đã hợp lý lại mỹ quan hơn nhiều. Dưới chóp nhọn (Sơn tiêm ) lại có hình cá thòng xuống (Thùy ngư ), ở trong kiểu kiến trúc đời Thanh đã chẳng thấy.

Ở chính giữa đòn giông có trang trí bảo châu chỉ thích hợp sử dụng ở trên kiến trúc tôn giáo.

Ðình hình tứ giác, hình bát giác, hoặc tầng trên cùng đều có nóc nhà hình chóp nhọn (toàn tiêm), xét số góc mà định số “tích” (đường xương sống). Phương pháp làm “tích” cùng với nóc nhà phổ thông đồng nhau, nhưng trên chóp nhọn phải dùng một bảo châu hoặc “sát” làm đỉnh. Nếu dùng “sát” thì phần nhiều từ trong cái “Bảo bình” duỗi ra từ trụ giữa, bên trên an trí “Lộ bàn” (những vòng tròn như cái mâm chồng lên nhau) nhiều tầng trên cùng có bảo châu (bản vẽ thứ tám). Trên “sát” có ngần ấy đường dây (luyện tử ) kéo xuống buộc vào những góc nhà. Trên dây “luyện” treo chuông lắc nhỏ, theo gió phát ra tiếng leng keng. Ở đỉnh phòng có diềm mái đôi hoặc nhiều diềm mái thì diềm mái dưới mỗi tầng đều cần phải có phương pháp làm đặc biệt. Xem xét những bức vẽ và tìm cách đo đạc thì ở trên trụ chữ “Kim” tầng dưới có nối cây đà rui với sóng ngói rộng, cùng với phương pháp hiện tại đã sử dụng thì đại đồng mà tiểu dị.

(9) Cửa và cửa sổ (Môn, song ) - hình chế của cửa tìm khắp chẳng được. Cửa ở bên trong các bức họa đều để ngỏ không thấy cánh cửa, trên cửa Kim đường31 của chùa Pháp Long có “môn đinh”32, trên cửa tháp của Thiền sư Tịnh Tạng ở chùa Hội Thiện trên Tung Sơn có “môn đinh”. Chúng ta lại xem thơ Bạch Hương Sơn có câu :

Vãng vãng chu môn nội

Phòng lang tương đối không

Tạm dịch:

Ði lại cửa son trong

Phòng lang tương đối trống

(hung trạch)33

 

Thùy gia khởi giáp đệ34

Chu môn đại đạo biên

Tạm dịch:

Nhà ai khởi giáp đệ

Cửa son bên đường lớn.

(thương trạch)35

Tham chiếu hai đoạn thơ ấy chúng ta có thể có được một thứ ấn tượng về cửa.

Cấu tạo của cửa sổ rất đặc thù, ở khoảng giữa trụ với trụ lắp ván cánh cửa cùng với ván lắp dưới cửa sổ (hạm ). Ở khoảng giữa hai chỗ này lại lắp khuôn cửa. Ở khoảng cách trụ với trụ dùng bùn tro trét kín lại. Dưới ván cửa (hiện tại là vị trí bộ phận của hạm tường ?), dùng một, hai cái trụ ngắn chống giữ, còn khoảng trống thì trét bùn tro. Chỗ mở trống của cửa sổ thì dùng nhiều song cửa đứùng thẳng; ở tháp thiền sư Tịnh Tạng chùa Pháp Long, chùa Ðường Chiêu Ðề, bích họa Ðôn Hoàng đều là đồng dạng. Cửa sổ thì dán giấy. Ở trong Lư Sơn Thảo Ðường Ký của Bạch Hương Sơn có câu : “Che phủ cửa sổ dùng giấy” (Mịch song dụng chỉ ), lại trong thơ có câu “mở cửa sổ chẳng dán giấy” (Khai song bất hồ chỉ ). Do đó biết được cửa sổ dán giấy là phương pháp làm của thời bấy giờ (bản vẽ thứ tư).

Rèm trúc treo ở ngoài cửa sổ hoặc trên diềm mái của hành lang, ở trong các bích họa nhìn thấy rất nhiều.

(10) Lan can () - Ở ven dòng nước, chung quanh nền đài, trên dải thềm đài đi xuống, ven hành lang nhô ra trên lầu đều có lắp đặt lan can. Lan can đều do gỗ chế tạo ra. Ở tại hai đầu hoặc chỗ chuyển góc thì dùng “trụ vọng” tròn (trụ lớn cao hơn), trên đỉnh phủ đồng làm thành hình bảo châu. Khoảng giữa hai ‘trụ vọng” lại chia thành nhiều ô vuông, dùng “Thục trụ”  (trụ nhỏ) chia mở. Ðoạn dưới của trụ thục hình vuông, đoạn trên là dáng hình chóp (Lăng truỳ ), mà vòng tròn rộng ra hơi lõm xuống tức là theo pháp thức xây dựng gọi là “Anh hạng ” (cổ bứu). Bộ phận ngang chung cho ba tầng, dưới cùng là ván bằng tức là theo pháp thức xây dựng gọi là “Ðịa phục ?” (khăn gói đất); tầng giữa là ván bằng tức là “Thần bồn ” (bồn môi); tầng trên là “Viên can ” (gậy tròn) tức là “Tầm trượng ” (gậy tầm). Chỗ nối nhau của “tầm trượng” với “anh hạng” dùng miếng đồng bao đóng, bên trên đặt một đóa bảo châu. Ðại khái từ đời Tống trở về sau là tiền thân của Vân củng (trụ mây). Thần bồn, Ðịa phục cùng Thục trụ tiếp giáp nhau dùng miếng đồng bao đóng lại. Ðến ngày nay lan can của Nhật Bản còn dùng nhiều miếng đồng bao đóng lại. Ở khoảng giữa thần bồn cùng địa phục theo kiểu nhà Tống gọi là “Thúc yêu ” (thắt lưng), dùng song gỗ làm thành với bao nhiêu là hoa văn lược qua giống như chữ Vạn (). Ở tại cửa giữa chùa Pháp Long, trên lan can trên có cách làm một dạng khác chẳng dùng song chữ Vạn mà dùng ván có khắc hoa, nhưng chẳng thấy nhiều (bản vẽ thứ mười một). Lan can đá thì đại khái là từ đời Tống trở về sau, tuy vừa thịnh hành mà đã rõ ràng sử dụng đá mô phỏng cách làm của gỗ. Nhưng do bất đồng về tài liệu mà sản sinh ra một cái khu biệt rất lớn là việc tăng thêm “trụ vọng”. Lan can gỗ chỉ cần dùng trụ vọng ở chỗ chuyển góc hoặc chỗ đầu mối cuối cùng, mà lan can đá thì phải mỗi khoản hai khối ván lan can sử dụng một cây trụ vọng, toàn bộ sự cân bằng nhân theo đó mà cải biến. Vả lại nhan sắc từ màu hồng biến thành màu trắng hoặc màu xanh, ở đây bày ra một thứ hình thái hoàn toàn riêng biệt. Vấn đề ấy đại khái là chịu ảnh hưởng phương tây.

 

(11) Hoa trời (thiên hoa ) - Trong độïng đá Vân Cương đã có đá khắc thiên hoa. Cành nhánh giao nhau thành hình “tỉnh ” (giếng), tại chỗ giao nhau dùng đinh đóng dính vào, chế thành hình bông hoa. Ván thiên hoa thì khắc hoa khối tròn. Mỗi “tỉnh” một khối tròn. Ở trong hang Ðôn Hoàng, thiên hoa tuy toàn là vẽ, nhưng vẫn thấy được kết cấu của chúng một cách đại lược. Vả lại ở trong hang hình vuông thì phần giữa của thiên hoa làm thành “tảo tỉnh”36, vẽ thành một khối hoa tròn lớn ở chính giữa. Ðại khái là thiên hoa nội bộ của loại đình nóc hình chóp nhọn đều là làm theo cách làm như ở đây.

(12) Chạm khắc trang trí (điêu sức ) - Chạm khắc trang trí của kiến trúc đại để phân làm hai thứ: Lập thể (hình nổi) và bình diện (mặt bằng). Thuộc về lập thể như hình đuôi chim cú mèo, bảo châu, sát, đá đỉnh trụ v.v... đoạn văn trên đã luận bàn đề cập đến trang trí thuộc về bình diện thì dùng màu sắc hình vẽ là chủ yếu. Sử dụng màu sắc hình vẽ ở kiến trúc thì phần nhiều là hình nhánh dài, dùng ở những chỗ rường, thanh gỗ ngang (phương), hạm, khuôn v.v... hình vuông, hình tròn ít hơn, chỉ dùng ở những chỗ đặt thù như chỗ một loại hoa trời. Bản vẽ thứ mười hai là màu sắc hình vẽ mười loại diềm thấy được ở Ðôn Hoàng, lược ra để biểu thị một bộ phận trang trí mỹ thuật của người đời Ðường chịu ảnh hưởng nặng của Hy Lạp, một lần trông qua mà biết.

 

Nghệ thuật đời Ðường trong lịch sử nghệ thuật Trung Quốc là một thời đại Hoàng kim, tiếp nối phong cách để lại của Tần, Hán và Lục triều trên cơ sở cố hữu của Hán tộc, gia thêm ảnh hưởng của “Phật giáo Hy Lạp” truyền sang từ Ấn Ðộ đã trở thành một thứ nghệ thuật thành thục. Ở tại phương diện hội họa và đắp tượng, người Trung Quốc còn chú ý hơn. Những tác phẩm và đặc trưng ấy của Ngô Ðạo Tử37, hai anh em họ Diêm38, Ðại Tiểu Lý tướng quân39, Dương Huệ Chi