Tiếng Việt

Trang nhà Quảng Đức

   Tiếng Anh 

qd.jpg (8936 bytes)

Thánh Tích Phật Giáo


...... ... .


Pháp Tạng 79

 PL. 2547 - 2003

 

Lịch Sử Chùa Tháp Trung Quốc

 

Chủ biên: Trương Mạn Ðào

Việt dịch: Tuệ Khai cư sĩ

Hiệu đính: Thích Ðỗng Minh

Chú thích: Thích Tâm Nhãn

---o0o---
 

NHỮNG GHI CHÉP VỀ KHẢO CỔ CỦA CHÙA SONG LÂM

 

Nguyên tác: Chu Trung Hàn

Việt dịch: Tuệ Khai Cư Sĩ  

 

I. KHẢO SÁT SONG LÂM THIỀN TỰ

Bia chùa Càn Nguyên ở Tô Châu của quan trước tác Cố Huống đời Ðường ghi rằng: “Phó Ðại Sĩ tạo chùa Song Lâm ở Ðông Dương.” (Văn phạm Anh - Hoa quyển thứ 863, bia 20, chú thích 14, cũng thấy ở Toàn Ðường Văn quyển 530). Bài minh trong bia trùng tu Song Lâm Thiền Tự của Nguyên Hồ Trợ ghi rằng: “Chùa Song Lâm là ngôi Sát lớn ở phía Ðông dòng Chiết Giang” (mười chín loại bài minh của bia trong quyển bản thảo phân loại của thuần Bạch Trai). Bài sớ thỉnh Như Công trụ ở Bảo Lâm của học sĩ Hoàng Tấn Khanh viết rằng: “Rồi nhìn lại thắng cảnh Song Lâm vẫn còn tên cũ của mười “sát” (Văn tập quyển hai mươi hai, xét xem chùa Bảo Lâm tại thời Nam Tống, tìm ra là một trong Thiền viện thập sát). Người giấu tên họ đời nhà Minh soạn lời trình bày việc trùng tu Song Lâm Thiền Tự viết rằng: “Con quạ bị thương bay lên, ngôi cổ sát Song Lâm tại trong nước Chấn Ðán1 xưng là Trang nghiêm đệ nhất”. Bài ký Trùng tu tháp sắt Song Lâm của Hứa Càn đời Thanh có ghi rằng: “Mái chùa Song Lâm được tôn xưng đứng hàng thứ ba trong thiên hạ, đứng hàng thứ nhất tại Chiết Giang”. Thế mới biết là ngôi già lam danh tiếng xinh đẹp tinh ròng, mà từ xưa đã sớm nổi tiếng ở trong vùng vậy! Bởi vì vị khai sơn ngôi chùa này là vị Ðại Sĩ Bổ xứ Thế Tôn đời đương lai. Vì người thẩm định nền móng là Tung-đầu-đà, Thần tăng Tây vực (Tung-đầu-đà tên là Ðạt-ma. Năm đầu niên hiệu Phổ Thông đời Lương, Phó Ðại Sĩ theo chỉ thị ấy nương cây song đào kết am). Người bỏ đất riêng của mình để tiện trợ giúp đạo tràng là tịnh tín đàn việt Giả Ðàm Dĩnh (Tại giữa năm Ðại Thông thứ ba). Người hưng công xây dựng là Lương Cao Tổ Võ Hoàng Ðế, người hết lòng với cửa Thích, gieo thân vào biển giác (Truyền lục nói rằng: năm Ðại Ðồng thứ sáu, tâu vua về việc dựng chùa). Vì người tuôn vàng ngoại hộ là những đế vương, tể quan của hai đời Trần, Tùy (Truyện lục nói rằng: “Năm Thái Ðạt thứ năm đời Trần, Bồ Ðề .v.v... tâu lên Tuyên Ðế, thỉnh làm đàn việt hộ pháp của bản tự, vua đáp: “được”. Và đời Tùy, Văn Ðế, Dương Ðế đều viết tuyên sắc ủy lạo đệ tử của Ðại Sĩ là Huệ Tắc .v.v... Lại thứ sử Việt Châu đời Ðường là Nguyên Chẩn trong bài ký Hoàn Châu Lưu Thư viết rằng: “Sau khi Hấp mất (Ðại Sĩ húy là Hấp, tự là Huyền Phong), đệ tử Bồ Ðề .v.v... thỉnh nhiều vương công đại thần làm đàn việt hộ pháp. Trần Hậu Chủ khi làm vua đã từng giúp lời thỉnh ấy mà từ Tư Không Hầu An Ðô cho đến Hữu Ðường Lô Hi, những 175 người đều tự tay viết tên họ, ân cần nguyện nói). Người vì chùa ấy làm văn từ, trồng bia để thuật lại đạo thanh tịnh, để phát huy ánh sáng là Tả Bộc Xạ huyện Kiến Xương, Ðông Hải Hầu Từ Lăng đời Trần (ở vào thời Trần niên hiệu Thái Ðạt thứ năm Quý Tỵ). Có những nhân duyên này thì danh tiếng ngôi chùa ấy sáng ngời khắp hoàn vũ chẳng cũng đúng lắm ư?

Ðạo tràng Song Lâm nhân được lịch triều các vua chúa ban cho sự thịnh đạt cúng dường nên cuối cùng những văn nhân vô hạnh nhân việc này mà sinh lòng dòm dõ. Năm Khai Thành thứ hai đời Ðường Văn Tông, Ngự sử đại phu Thứ sử Việt Châu là Nguyên Chẩn lấy đất Vụ làm quận lị Thứ sử, nhân đề xuất giáo nghĩa Ô Song Lâm, lục lọi chiếu thư của hai vị chúa Lương, Trần và mười ba cuốn Bi Lục của Kịp Hầu cùng với Thủy Hỏa Châu (ngọc nước lửa), Khấu Môn Chùy (chùy gõ cửa), Chức Thành Phật2 (tượng Phật vải), lấy giấu hết ở nhà mình (xem phần hậu tự sách Thích Mậu Bản Thanh Nguyên Phó Ðại Sĩ Truyện Lục). Bỗng nhiên lũ lớn ập đến, Nguyên Chẩn nhân đó trả lại Châu, Chùy và Chức Thành Phật, “Ðộc chiếm lấy chiếu thư của hai vị Chúa Tiêu, Trần và Bi Lục của Kịp Hầu An Ðô .v.v... rồi đề tên, sửa gáy, trang trí lại”. Rồi còn nói rằng: “Ngày khác sẽ phổ biến rộng cho người hiếu cổ (ham thích đồ xưa), cũng đem những di sự (việc để lại) của Ðại Hấp ở thiên hạ cho kẻ vất bỏ tan nát nơi núi trống bởi chẳng đồng hạng vậy” (Xem bài ký Hoàn Châu Thư của Nguyên Chẩn tự làm). Ðã đường đường là một vị Tể quan mà xảo trá cưỡng đoạt lấy, không khác gì lũ trẻ con, lại còn làm văn tự để bào chữa cho sạch lỗi của mình. Vả lại còn chê bai tên húy của Ðấng Tôn Từ, cống cao ngã mạn, từng không biết xấu hổ, gọi là chẳng phải hành vi không kiêng sợ được ư? Còn may mắn tháng mười hai năm sau, quan nội cung phụng đại đức Tuệ Quang Thanh Sầm lệnh cho Hoằng Thâm thiền sư và Vĩnh Khánh đem những vật mà Nguyên Chẩn đã đoạt lấy đưa trở về an trí tại Song Lâm (căn cứ ở đây thì tựa như Nguyên Chẩn trước đem những vật tìm được giấu ở nhà mình, sau đã từng hiến dâng cho nhà Ðường vậy). Vậy nên Tiền Hoằng Tả sai Long Pháp đại sư (Tuệ Qui) đến Song Lâm thỉnh rước linh cốt của Ðại sĩ, còn có hơn mười việc tồn tại đạo cụ của Ðại sĩ. Tức là đây có thể thấy sự lâu dài về ân trạch để lại của Ðại Sĩ (Căn cứ quyển thứ sáu sách Thiết Vi Sơn Tòng Ðàm của Thái Ðiều đời Tống thì có ba vật, Xao môn chùy (chùy gõ cửa), Tụng kinh phách bản (bản vỗ nhịp tụng kinh) cùng Ngẫu ti đăng. Ngẫu ti đăng là vật thời Lương Võ Ðế, trên dệt tướng trạng họ Thích nói pháp ở hội Hoa Nghiêm, bức vẽ bảy chỗ chín hội đó vậy). Và năm Quảng Thuận thứ hai đời Hậu Chu, vị tổ xa của tác giả là Dã Ðường Công vì chùa đã đúc đôi tháp sắt để trấn ở sơn môn, dáng hùng tráng lồng lộng, đủ làm cho ngôi bảo sát thêm sáng ngời vậy! (Sẽ nói rõ ở thiên khác).

Chùa ở thời Bắc Tốâng còn hơn một ngàn hai trăm gian (Ðời Lương, đời Trần mới sáng lập, hưng thịnh lúc ấy, lại càng phát triển lúc này). Năm Trị Bình thứ ba đời Anh Tông, sắc ban biển ngạch là Bảo Lâm Thiền Tự . Năm Ðại Quan thứ hai đời Huy Tông, ban bốn mươi khoảnh ruộng (hai việc này xem ở Nghĩa Ô Huyện Chí, Kim Hoa Phủ Chí và Triết Giang Thông Chí trong phần Tự Quan Chí). Nhưng mà pháp tạo tác hữu vi nên hưng, phế không thường. Năm Tuyên Hòa thứ ba đời Huy Tông nhằm năm Tân Sửu, bọn mục khấu phương Ðịnh nổi dậy ở Tân Ðịnh, ngôi chùa bị cháy mất, người nói có câu: “Chẳng may binh lửa đốt cháy, một cây rui chẳng còn”. Tổn thất rất lớn, từ khi có chùa đến nay, đây là một tai ách lớn vậy. Năm Thiệu Hưng thứ hai đời Cao Tông, có vị Sơn tăng là Hành Tiêu thiền sư, ngậm ngùi nhìn mái chùa chưa khôi phục, cảnh không nhà cửa của Ðấng Diệu Tướng Từ Dung. Rồi ngài xin con cháu trong dòng họ đứng ra đảm trách, tìm duyên xây dựng trở lại. Họ quyên góp được hơn năm mươi vạn tiền vàng, “mùa xuân năm ấy bắt đầu khởi công, mùa đông năm thứ ba tạo thành. Chùa ấy cao hơn tám mươi thước mà rộng gấp một lần rưỡi. Ở bên trong bày tượng trang nghiêm đẹp đẽ, vòng ngoài thì lan can, cửa nẻo (xà ngang trên cửa - ý nói cửa nẻo bề thế) trang trí hùng vĩ tráng lệ như cung điện của hóa nhân hiện ra trong hư không”. Tháng hai năm thứ sáu, bài ký của Thái thú Kim Hoa Phan Công Lương Quý làm (Bài ký xem ở Huyện Chí). Năm Thiệu Hưng thứ tư, quan San Ðịnh Giả Ðình Tá ở Ðông Dương làm cái chuông lớn đúng mức, xây dựng điện Tam Tạng. Ðang khi lũ nghiệt khấu (giặc cướp ác) dẹp yên chưa lâu, lại vào những năm đầu đến miền nam công việc này được khắc phục hoàn thành, trung hưng nghiệp lớn, đáng chẳng gọi là việc khó có thể làm thay?

Hơn một trăm bốn mươi năm sau, vào triều đại nhà Nguyên, những vị vua nhà Nguyên luôn xưng là tin theo Phật giáo. Nhưng những người được sùng thượng đó là những phiên tăng đặc biệt đến từ Tây Vực truyền bá Lạt Ma giáo bí mật vậy. Họ (nhà Nguyên) đối với các chùa viện của Hiển Giáo nam thổ rất ít sùng kính trọng hậu. Chùa Song Lâm cũng lại suy lạc, chẳng chấn hưng được. “Pháp tịch”3 trống vắng, đi lại tụ rồi tan, như đổi truyền nhà, nên môn vũ, điện đường, các nhà cửa thứ lớp đổ nát nghiêng ngã, trở thành đám cây cỏ rậm rạp um tùm, người nhìn thấy chạnh lòng. Số còn lại nơi ấy là Sơn môn, Tạng điện, Tăng đường, Ðại Sĩ điện, Chiên Ðàn lâm, Vân Hoàng các mà thôi”. Ðến mùa thu năm Chí Chính thứ hai đời Thuận Ðế, có quan Hành Tuyên Chính Viện mới tuyển Vân Long Thiền sư, trước ở chùa Kim Hoa Tây Phong đến trụ trì Song Lâm”. Ngài vào viện xịu mặt không vui. Ngài ở đó để nói pháp hóa duyên hưng khởi sửa sang, làm nhiệm vụ của mình. Mùa đông năm ấy, Ngài làm một vòng tường thấp một ngàn năm trăm trượng, đứng bên ngoài Sơn môn. Từ năm đó, hưng khởi công việc, làm lại La-hán đường, Tri khách liêu, sửa sang Chiên đàn lâm4, làm Tiền tư liêu5, Mông tăng đường6, làm thêm lớp diềm mái của điện Ðại sĩ, xây dựng đài hiến tế để làm chỗ chúc phúc cho vua cho nước, mở ra dãy nhà phía đông chánh điện (Ðông vũ ), sửa lại nhà bếp bên đông, chỉnh lại từ nhà Tăng phía tây (Tây vũ), kéo dài ra tựa như là men theo cái không có mà sinh ra. Cửa chùa (Sơn môn) “Vào ngần ấy bước thì có đắp tượng ngồi của hai vị thiên thần hộ pháp, mở ruộng chứa nước, làm ao phóng sinh, xây đá làm đường, dẫn nước trồng cây, cảnh trí huy hoàng sáng soi rực rỡ. Trước sau bảy năm, tích góp hàng vạn công xá, khởi từ cái suy phế làm nên cái mới mẻ”. Hồ Trợ ở Kim Hoa soạn bài minh khắc vào bia để ghi lại (Bài văn xem ở Thống Bạch Trai Loại Cảo). Qui mô ấy rộng rãi khoáng đạt, xem ra công việc phục hưng tiếp nối này hơn nhiều lắm. Bởi Vân Long Thiền sư đã từng bắc cây cầu lớn qua Sông Khê tại Kim Hoa, giúp người đi lại tiện lợi nên đã có kinh nghiệm trên các công trình bằng đất đá, cây gỗ mà có được công cán tốt lành này, quả thật một lần nữa Song Lâm được trung hưng vậy.

Ngôi chùa ấy ở thời Chu Minh, trước sau hưng khởi xây dựng, đơn cử ở một triều đại Tư Tông thôi mà có những bốn lần. Một là, tại năm Sùng Trinh thứ bảy, năm Giáp Tuất, tri huyện Hứa Trực nhậm chức (Hứa Trực tự là Nhược Lỗ, biệt hiệu là Trụ Ngọc, người Như Cao thuộc Trực Lệ, đỗ tiến sĩ năm Giáp Thìn đời Sùng Trinh, ra nhậm chức năm đó), dưới điều nói về Bảo Lâm Thiền Tự ở quyển thứ mười tám Tự quan chí của sách Huyện Chí nói rằng: “Khoảng năm Mậu Thìn đời Sùng Trinh, người làng (xét ra là làng Song Lâm ở phía nam huyện) là Ðinh Ðồng Giám đã năm mươi tuổi mà không con nối dõi, nằm mơ thấy người có cánh bay qua tỏa mùi hương lan đầy nhà, tỉnh ra ông ngờ là Ðại sĩ, lặng lẽ cúng cầu được con, quyên góp ngàn vàng mới dựng nên điện thờ. Gặp vị tăng của chùa núi Long Kỳ tên là Thụy Hà hành cước đến đây, người làng cử làm trụ trì, ấp hầu Hứa Công Trực hỏi về việc xây dựng. Ngài Thụy Hà bảo Ðồng Giám, ý Ðồng Giám muốn nói bớt đi ba phần mười thì bỗng nhiên ngói trên nhà rơi đập vào cái âu đựng trà, liền đổ ra toàn là sách mà cái âu chẳng hề hấn gì, mọi người đều hỷ xả. Mặt trời đứng bóng, Ðồng Giám quả nhiên sinh một đứa con trai, nhân đó đặt tên là Tông Lan. Công chưa xong, Ngài Thụy Hà thệ thế, đồ đệ Ngài là Tuệ Hoằng tiếp tục hoàn thành”. Ấp tiến sĩ là Ðồng Giai vì việc đó ghi lại (Bài ký đã bị cháy mất bởi bọn cướp núi). Một lần nữa, năm Sùng Trinh thứ mười một, năm Mậu Dần, Tăng Hải Húc một mình tu sửa, Tri huyện Hùng Nhân Lâm vì ông làm bài tựa (Hùng Nhân Lâm tự là Bá Cam, biệt tự là Hạc Ðài, người huyện Tấn Hiền, tỉnh Giang Tây, con của Binh bộ Thượng thư Hùng Minh Ngộ, đậu tiến sĩ năm Ðinh Sữu đời Sùng Trinh). Một lần nữa, năm Sùng Trinh thứ mười lăm, năm Nhâm Ngọ, Tri huyện Vu Hoa Ngọc làm bài tựa (Người huyện Kim Ðàn, Nam Trực7, đậu tiến sĩ năm Canh Thìn). Một lần nữa, tại năm Giáp Thân, năm cuối đời Sùng Trinh, có một ấp nhân (người được phong ấp) nào đó có làm bài tựa về việc sửa chùa (tên người đó không tra khảo được). Từ năm Mậu Thìn đến năm Giáp Thân, chẳng hơn mười bảy năm mà đã tu sửa đến bốn lần. Ngoại trừ công việc của Ðồng Giám, từ khi bắt đầu đến hoàn thành có thể tra xét được, còn ba lần sửa chữa sau tuy có bài trình bày của tể quan và tên người, nhưng mà dấu tích sự việc không rõ được. Nhân nước vận nước gặp cảnh bọn xấu làm càng bậy, giặc cướp lan tràn khắp nơi, tuy có họ Ðinh xướng lên việc sửa sang ở trước mà công việc trọn vẹn sau này, sức lực ấy vẫn khó khăn. Vậy nên ngoài lời sớ giải thích nhân duyên khởi xướng, một lần nữa viết bài tựa dẫn giải, nhưng mà cuối cùng chẳng thấy có ghi chép sự việc đã xong rồi vậy.

Năm Khanh Hy thứ bảy, Thánh Tổ nhà Thanh, trụ trì Tăng là Thuấn Cù từng quản sự sửa sang (xem Huyện Chí). Năm thứ hai mươi hai (Khang Hy), tháp sắt của Sơn Môn bị đất vùi lấp mà nghiêng lệch dần.. Về sau, Ðông Công, đời tổ trước của tôi, phái Nhị Khê Mai Ðàm xuống tới con cháu lại đều trợ giúp lúa, tiền bạc để sửa sang ngôi chùa đó. Năm Canh Tý, vua Cao Tông (Hoằng Lịch) niên hiệu Càn Long thứ bốn mươi lăm, chùa gặp được lộc trở lại mà nhất thời chưa dễ hoàn phục, chỉ sửa chút ít hậu điện của chùa ấy, nhưng vẫn còn năm phòng nhà tăng. Năm Hàm Phong thứ mười một, năm Tân Dậu, giặc cướp đất Việt (Quảng Ðông, Quảng Tây) là Lý Thế Hiền, Trần Vinh vây hãm Nghĩa Ô (Xem lưỡng Chiết quân sự nhật ký của Ðặng Chung Ngọc), ngôi chùa bị quấy nhiễu thêm “thành nghiêng ngói đổ, rui gãy rường hư”, nhà tăng vẫn có hai phòng là Nhẫn và Tín. Mùa xuân năm Mậu Thìn, năm Ðồng Trị thứ bảy, tăng của chùa là Phùng Xuân (Nhân phòng), Học Liên và Học Thành (hai người này đều ở Tín phòng) dốc lòng mời người điều hành hiệp lực xin trùng tu. Họp thợ khởi công vào tháng tám, mùa thu năm ấy, công việc cáo thành vào tháng mười một, mùa đông (xem Trùng Tu Bảo Lâm Thiền Tự Bi Ký của Hoàn Ðông Chu Vân Tùng viết vào năm Ðồng Trị thứ tám). Ðây chỉ là tu bổ chút ít mà thôi. Năm Tân Sửu, Quang Tự thứ hai mươi bảy, có vị tăng tên là Tuệ Tuyền đến từ núi Thiên Thai, dừng tích trượng tại chùa ấy (ý nói ghé nghỉ lại), buồn cho thắng tích này mai một với gai góc hoang tàn, liền mời quan hưu trí ở Phụng Hóa là Tôn Ngọc Tiên cư sĩ, nhân tiện giúp cho, phát quang nền cũ, hướng dẫn việc trùng tu. Nghĩ những năm còn lại, kinh doanh thảm đạm, gom góp của cải vạn lạng vàng “làm được một ngôi Ðại Bi Các, điêu khắc một pho tượng Quan Âm ngàn tay, tám mươi tư tượng thần của chú Ðại Bi, to lớn lộng lẫy hoàn toàn mới. Cái xưa còn lại chỉ có Ðại điện, Sơn môn .v.v... còn đợi tu sửa. Quay lại chuyện ngài Tuệ Tuyền thì vào năm Dân Quốc thứ mười lăm đã viên tịch, chí lự của đồ đệ bất nhất, người thế này, kẻ thế kia mặt lưng mày vực (như sao hôm, sao mai). Ðại Bi Các mới xây dựng ấy gồm ba tấn (nhà rộng chia ra nhiều phần gọi là tấn - ta hay gọi là gian) đến cả hai dãy nhà đông , nhà tây tính ra là mười gian. Bỗng nhiên mùa đông năm Mậu Thìn gặp hỏa hoạn. Bởi từ giặc mục khấu về sau, gặp nạn kiếp chưa có cái nào lớn như cái này, há chẳng phải là gặp thời mạt pháp ư!”, việc ma tung hoành, chúng sinh phước mỏng, kẻ thắng cử khó thành ư! Nếu việc xin tiền gom của ấy, nơi chốn rạch ròi, phục hồi lại dấu xưa như cảnh quan cũ, đạo pháp rộng truyền ở mai sau thì tức là có tiếp đàn việt với thâm tâm tin tưởng hướng về cùng với tăng chúng tinh thành hòa hiệp, chung sức hợp tác vậy. Ai là người thừa nhận sự phú chúc của Linh Sơn? Ai là người gánh vác nghiệp nhà của đức Như Lai? Kẻ ấy đã nắm chắc lời nguyện kim cương, đã khoác giáp đồng hoằng thệ (lời thề rộng lớn) để phục hưng Song Lâm, trùng quang tổ đình, là báo ơn đức Phật xứng đáng vậy! (Bổn tự từ thời Triệu, Tống đến nay thuộc về phái Lâm Tế truyền xuống đến con cháu kế nhau trụ trì, như thiền sư Hư Ðường Trí Ngu, trong khoảng niên hiệu Thiệu Ðịnh đời Tống Lý Tông ‘Có Ngữ Lục lưu hành ở đời’, đại thiền sư Ðồng Giang Thiệu, trong khoảng niên hiệu Chí Chính đời Nguyên Thuận Ðế ‘Tống Liêm soạn Hành Nghiệp Bi Minh’, bài minh ấy rất nổi tiếng vậy).

           

II. KHẢO SÁT VỀ HÌNH NGHI, PHỤC SỨC CỦA PHÓ ÐẠI SĨ.

Ðời gần đây, hai chùa Song Lâm, Vân Hoàng , ở ấp tôi đã đắp tượng Thiện Tuệ Phó Ðại Sĩ8, hoặc khoác áo nạp, hoặc mặc cà sa, không có làm tượng mặc y phục cư sĩ, bởi vì đều theo các sách Truyền Ðăng, Chỉ Nguyệt mà làm vậy, xem xét hai quyển lục ấy thì đều nói là: “Một ngày, Ðại Sĩ khoác áo nạp, đầu đội mũ, chân đi giầy da đến triều kiến Lương Võ Ðế. Vua hỏi: “Là tăng sao?”, Ðại Sĩ lấy tay chỉ mũ. Vua nói: “Là Ðạo sao?”, Ðại Sĩ lấy tay chỉ giầy da. Vua nói: “Là tục sao?”, Ðại Sĩ lấy tay chỉ áo nạp. Lại nữa, thiền sư Phật Ấn, Liễu Nguyên vì Vương Kinh Công khen ngợi việc đã thu nhặt tượng vẽ của Phó Ðại Sĩ ấy, cũng nói rằng: “Mũ Ðạo, giầy Nho, Cà sa Thích, chung hòa ba nhà làm một nhà, quên mất đường lên trời Ðâu Suất, Song Lâm ngồi mãi đợi Long Hoa”. Sách Truyền Ðăng Lục là do thiền sư Ðạo Nguyên soạn trong khoảng niên hiệu Cảnh Ðức đời Tống mà Phật Ấn, Kinh Công lại đều là người triều đại Thần Tông. Thuyết chuẩn xác này là, ở Bắc Tống bấy giờ, Ðại Sĩ mặc trang phục Sa-môn đã rất lưu hành. Ðó là hai tượng đắp của chùa Song Lâm và chùa Vân Hoàng mà người ta đã đắp, chắc chắc chẳng phải phát xuất tận trong lòng dạ của người thợ. Nhưng tôi đọc các sách từ đời Tống trở về trước như Từ Hiếu Mục tập, hoặc Tuân Thế Văn Loại Tụ của Âu Dương Tu, hoặc Biện Chính Luận của Pháp Lâm, hoặc Ðộc Cao Tăng Truyện của Ðạo Tuyên, Phó Ðại Sĩ Truyện Lục của Lâu Dĩnh (Sách này nay đã khuyết mất, nhưng sách Ngữ Lục của Lâu Chiểu, thật ra lấy Phó Ðại Sĩ Truyện Lục của Lâu Dĩnh làm bản gốc mà san định thành), những sách ấy đã xưng dương tỏ tường dấu tích ứng hóa trong một thời kỳ của Ðại Sĩ vậy. Theo các sách ấy, chẳng thấy có một lời nói về việc Ðại Sĩ mặc áo nạp hoặc cà sa. Tôi rất nghi ngờ việc ấy, có lẽ vì những kẻ dưới của Tông phái ngụ ý đề cao Ngài vậy. Không đúng vì chẳng xứng trong ăn mặc là tai họa của thân, lẽ nào bậc Thánh Ðại Sĩ mà chịu ăn mặc khác đi để chuốc lấy sự hiềm trách của những kẻ tầm thường ư? Sau đó, thấy trong sách Thích Môn Chính Thống Tháp Miếu Chí có viết rằng: “Ðại Sĩ đã thị hiện dấu tích đồng với người phàm thì cách ăn mặc của Ngài nhất định phải theo cách ăn mặc của kẻ tại gia lúc bấy giờ. Huống chi Tiêu Lương9 đã phế bỏ đạo “Năm Ðấu Gạo”10, chuyên phụng sự giáo lý của bậc Thánh phương tây, người giúp việc may áo cũng phần nhiều có xu hướng theo thời trang bấy giờ thì sao lại cho mũ, giầy, cà sa của Ðại Sĩ hòa hội được vậy? Lầm lẫn về quần áo như thế là nhiều ” .v.v... Rõ ràng người xưa đã sớm biết có sự nghi ngờ. Tuy nhiên, xét cho cùng, dùng cho hết lý như vậy, trưng ra chứng cứ mà còn có sự dùng dằng, nếu chẳng thu được bằng chứng của việc may quần áo cho Ðại Sĩ thì vẫn không chiếm lấy được niềm tin của kẻ nghi hoặc. Năm ngoái quay về làng, hỏi về di tích của Ðại Sĩ ở cái ao đình cũ, nhân đường quanh đến Hạnh Khê, theo người làng ấy xem qua “Phó Thị Tông Phổ”, vừa mở quyển là thấy tượng Ðại Sĩ nghiểm nhiên mặc áo may bình thường, có ít râu, ria mép, có giải thắt lưng, tay phải cầm chuỗi La-hán mười tám hột, chỉ có vạt áo trái là khác. Vả lại truyện trong quyển phổ ấy nói rằng: “Lúc sinh thời Ðại Sĩ vẫn mặc y phục cư sĩ .v.v... Ðược cái bằng chứng thật này thì sự nghi ngờ ngàn đời một sớm cởi mở ngay. Tin thay! Chẳng thể chẳng xét lại lời nói của truyện vậy. (Ðất hạnh Khê tên là Phó Ðại Lộ, nơi giáng sinh của Ðại sĩ)”.

Ðầu tiên xem xét quyển thượng, sách Tam Giáo Bình Tâm Luận của Tịnh Trai học sĩ Lưu Mật, dẫn một lời khen ngợi mũ Ðạo, giầy Nho mà chỉ làm vì Phó Ðại Sĩ. Luận về ý lời của lời khen này thì trước đã mập mờ. Hơn nữa, Tịnh Trai lại ngộ nhận người soạn sách ấy, rồi theo đó ngụy tạo quần áo xằng bậy vì lầm lẫn. (Nếu theo như thuyết của họ Lưu thì Ðại Sĩ như mấy văn nhân bình thường, tự làm lời khen mà tự giễu cợt; bậc Bồ-tát đẳng giác sớm dứt tuyệt hí luận thì sao lại có việc đó vậy thay!)

 

III. KHẢO SÁT TƯỢNG ÐỒNG XƯA CỦA CHÙA SONG LÂM.

Nay trong di chỉ ngôi điện giữa (giới hạn giữa hai điện trước sau nên gọi là điện giữa) của chùa Song Lâm có một pho tượng đồng, thân khoác áo nạp mà tạo dáng mặt cười, để đầu trần, đi chân không, ngực phẳng, bụng to, tay trái mang cái túi vải, tay phải giữ đếm châu (lần chuỗi), chân trái co vào trong như thế ngồi bán già, chân phải ngồi xoạc ra mà dựng đứng, cao được sáu thước, vòng quanh chừng một trượng mà sai số chút ít, chẳng rõ trọng lượng của tượng ấy, cũng chẳng ghi tháng năm đúc thành. Mùa xuân năm ngoái tôi đi chơi Song Lâm nhân được chiêm ngưỡng lễ bái, hoặc có người chỉ mà xác nhận với tôi rằng: Cái mà đời gọi là Chùa Song Lâm có tượng Di Lặc bằng đồng, là cổ vật của đời Lương, đời Trần tức là pho tượng đó. Tôi nói: Chẳng phải vậy, tôn tượng này là tượng của Hòa thượng Bố Ðại, chẳng phải tướng tốt của Ngài Từ Thị vậy. Hòa thượng húy là “Khế Thử”, đời gọi là Ðịnh Ứng đại sư (xem Bố Ðại Hòa Thượng truyện), người thời Ngũ Quí11 Chu Lương cách thời ứng hóa của Ðại Sĩ những bốn trăm năm thì rõ ràng tượng đồng này lại chẳng phải là cổ vật thời Lương, Trần vậy! Mà người gần đây hoặc suy đoán mò là được tạo ra khi Ðại Sĩ còn tại thế (xem Biên Nghĩa Ô Tư Tân Ðàn Lục của Hoàng Hiểu Thành tiên sinh), bởi thiếu sự tra xét lại vậy. Tôi xem xét việc Ngài Từ Thị bổ xứ trời Ðâu Suất, thị hiện thân trời với thiên y, thiên quan (mũ trời), giường sư tử làm chỗ ngồi, trang bị rất trang nghiêm. Vậy nên Thượng Sanh Ðâu Suất kinh nói: “Di Lặc Ðại Sĩ “thân màu như vàng Diêm-phù-đàn12 (trong sông sinh ra thứ vàng màu tím), lớn mười sáu do tuần (một do tuần bằng bốn mươi dặm của địa phương này), ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp đều đầy đủ hết. Trên đỉnh đầu có nhục kế, tóc màu lưu ly xanh biếc, ngọc Thích-ca-tỳ-lăng-già ma-ni13 (dịch là ngọc báu Năng thắng ly cấu), trăm ngàn vạn ức Chân-thúc-ca bảo14 (dịch là báu màu đỏ) để trang nghiêm mũ trời, có trăm vạn ức màu sắc”. (Căn cứ việc truyền lại của Tây tạng, mũ trời này là đức Thích Tôn trao ký biệt cho Ngài Di Lặc). So hình ảnh đoan chính này với sự hiển bày hình dáng của Bố Ðại Hòa Thượng với vẻ mập phì, trán dồ, bụng to thì chẳng cùng loại. Lại như sách Ðại Ðường Tây Vực Ký chép lời của ngài Thế Thân về báo cho Bồ-tát Vô Trước, cũng nói rằng: “Tướng tốt của ngài Từ Thị mà lời nói không thể tuyên dương được” (Quyển thứ năm). Mà thầy Ðức Quang Dụ nhờ sức của Thiên Quân La Hán tiếp dẫn thăng lên trời Ðổ Sử (tức là trời Ðâu Suất, đây gọi là Hỷ Túc), được thấy ngài Từ Thị tầm thường tựa như vị Bồ-tát “thọ phước lạc nhà trời, chẳng phải hàng xuất gia”, liền ngã mạn chẳng làm lễ nên bị đuổi trở xuống (quyển bốn đồng với sách nêu trên). Chuẩn mực lời văn mắt thấy này đã đủ minh chứng cho kiểu mẫu thân trời. Ðã là sự gom tụ của công đức thì tự nhất định tốt đẹp mà không đắm trước. Lại tỏ tường hơn, Ngài pháp sư Huyền Trang y theo Kinh phiên dịch ra bốn câu văn lễ tán thán đức Di Lặc rằng:

Thân như Ðàn kim không ai sánh

Tướng tốt màu báu chói sáng ngời...

Thị hiện thân vàng hơn ngàn thước

Chúng sinh chiêm ngưỡng mãi không ngơi.

Biết thêm “tướng tối thắng, đẹp không gì bằng” (phần nói về đức Di Lặc ở quyển thứ mười sáu của sách Pháp Uyển Châu Lâm). Vậy nên thuở xưa ngài Phó Ðại Sĩ bảo mọi người rằng: “Hiện tiền ta đây được là người vô sinh, nay thị hiện cho các ngươi”. Ðệ tử lễ lạy, Ðại Sĩ nói rằng: “Các ngươi chớ lễ ta, chỉ lễ Phật trong điện, tức là hình tượng của ta” (xem Phó Ðại Sĩ tập quyển một). Há chẳng do tượng ở trong điện tướng tốt đặc thù, chính là hình tượng đấng Bổ xứ, vì chỉ lệnh làm lễ này khiến cho người thấy phát sinh tư tưởng hiếm có, khó gặp, thu được ích lợi của việc gieo trồng phước đức, trừ sạch phiền não! Nhưng không đúng! Sao Ðại Sĩ chẳng đem hóa thân đồng với dấu vết người phàm đã giáng hạ để nhận thẳng lễ của mọi người? Theo lần tìm tòi này thì tượng trong điện của thời Lương, Trần cũng đang là thân tướng nhà trời. Những tượng kia chẳng phải là tượng mang túi vải phục sức Bí-sô ở trong chùa hôm nay. Quả quyết đúng như vậy! (Từ một lời trong Tân Ðàn Lục, bằng chứng là Ðại Sĩ chỉ làm lễ điện Phật để minh chứng là tượng mang túi vải trong chùa ngày nay, chưa tránh khỏi sự điên đảo của thời đại nên biện luận cho đúng trở lại). Ðại sư Ðịnh Ứng che giấu đức như người ngây dại, tự chẳng phải chẳng phân biệt dấu tích của Từ Thị, nhưng chỉ có thể gọi đó đều là thân truyền lại. Nếu chỉ thẳng vào tượng Bố Ðại mà bảo là tượng Di Lặc thì có sự sai khác về gốc, ngọn của sự chân thật mà chẳng thể do chẳng phân biệt. Gần đây, có vị tăng Tích Lan tên là Nạp-La-đạt du hành đến Trung Quốc, thấy tượng đắp Di Lặc trong Sơn Môn các chùa viện đều làm hình tướng Bố Ðại thì cho rằng, cùng với tượng tạo ra ở đất Thiên Trúc chẳng đồng, rất lấy làm lạ lùng. Người đó há không thấy gì mà nói lên vậy sao?

           

IV. KHẢO SÁT CHUÔNG CỔ CÓ VĂN CHỮ PHẠN TẠI CHÙA SONG LÂM.

Trước chùa Song Lâm (tức là Sơn môn) có một cái chuông cổ, chất đồng xanh đen. Thân chuông cao một trượng (kể cả cái quai treo), miệng dưới đường kính năm thước. Trên đúc bài chú Lăng Nghiêm bằng hai thể chữ Phạn và Hán, xem xét bản Phạm văn ấy thì hình thể vuông. Màu sắc xưa loang lổ thì càng hiểu là đáng trân quý. Cuối đời Thanh trở lại, chuông ngã nằm lẫn trong gạch đá, bởi Sơn môn xây dựng lại sau loạn Hồng Dương, mái nhà không đủ rộng lớn nên chẳng để vật nặng cao lớn này vào bên trong được nên để lâu ở đó, chẳng treo lên (hoặc có truyền rằng, chuông này bị câm ‘không kêu’ nên không treo). Mùa Hạ năm Quý Dậu, tăng của chùa mới họp chúng lại dựng dậy. Về niên đại đúc tạo chuông này có nhiều thuyết khác nhau, hoặc tương truyền là vật của thời Tuyên Ðế nhà Trần, hoặc cho là người đúc nó vào thời nam Tống, hoặc cho là nó được tạo ra khoảng năm Thiên Khải thời Tiền Minh. Theo tôi khảo sát thì thuyết chuông ấy đúc vào thời Nam Tống, bởi đó đã thành án lệ rồi vậy. Cẩn thận xem xét lời ghi của bài Song Lâm Tự Trùng Chú Ðại Chung Ký của huyện lệnh Ðông Dương, là Cống Tu Linh khoảng năm Thiên Khải thời Minh, ghi rằng: “Chùa Song Lâm trên núi Vân Hoàng ở Nghĩa Ô là Ðạo tràng của Phó Ðại Sĩ Thiện Tuệ. Trong điện có cái chuông lớn, thời Tuyên Hòa bị giặc cướp đốt cháy mất, được đúc lại vào năm Thiệu Hưng thứ tư, đến đời Vạn Lịch nhà Minh lại bị cháy ngã lăn lóc trong cỏ rác um tùm đến những ba mươi lăm năm vậy! Mùa đông năm Nhâm Tuất, lúc tôi còn làm quan, có người buôn ghe phụng hịch (lời hịch) của quan Bố Chính (Phiên ty ), xin lấy chuông ấy để đúc trống, tôi không cho. Ðến khi tôi thôi nhiệm vụ trở về Ðông Dương, người khách thương lại đến, tôi bảo huyện lệnh mới, cũng chẳng cho, việc thế là xong. Cuối thu năm nay (năm Quý Hợi niên hiệu Thiên Khải) tôi ngẫu nhiên đi qua chùa, đã thấy khuôn đất mới hình thành, tính làm mới cái chuông đó”. (lược bỏ phần dưới). Việc tang thương của cái chuông này đã lược đến hết đoạn văn ấy. Ðiều mà Cống lệnh quân gọi là “trùng chú ” (đúc lại) ở năm Thiệu Hưng thứ tư đời Tống là bởi theo ý chỉ Giả Ðình Tá mà nói: Hồ Trợ đời Nguyên đã soạn bài minh của “Trùng Tu Song Lâm Thiền Tự Bi” viết rằng: “Chùa Song Lâm là đạo tràng khai sơn của Ngài Thiện Tuệ Phó Ðại Sĩ, ngôi chùa lớn phía đông dòng Chiết Giang (lược bớt phần giữa). Từ thời Lương đến nay (năm Chí Chính thứ hai nhà Nguyên) những hơn chín trăm năm (xem lại thì chùa Song Lâm xây dựng vào năm Ðại Ðồng thứ sáu thời Tiêu Lương ‘Lương Võ Ðế họ Tiêu’, đến năm Chí Chính thứ hai nhà Nguyên thì thật ra được tám trăm linh ba năm, ở đây nói là hơn chín trăm năm, chắc là lầm). Không lạ gì, than ôi! Tháp miếu thường phế mà cũng thường hưng vậy! Trong niên hiệu Tuyên Hòa nhà Tống (Bắc Tống, vua Huy Tông-1119), ngọn lửa oan nghiệp của giặc Mục thiêu ngôi chùa bị cháy hết, đều trở thành gò đống. Ðầu niên hiệu Thiệu Hưng (Nam Tống, vua Cao Tông-1131), San Ðịnh Giả Ðình Tá mới làm khuôn đúc chuông, xây dựng điện Tam Tạng” (Thống Bạch Trai loại cảo quyển mười chín). Họ Hồ cách đời Tống chưa xa, lời nói của ông ấy đáng tin. Khảo cứu Nghĩa Ô Chí đời Gia Khánh, phần Tự Quan Chí quyển thứ mười tám, bên dưới đều nói về chùa Bảo Lâm có chú thích rằng: “Năm Tuyên Hòa thứ ba, bị cháy hết ở phần đầu (phần mũ), năm Thiệu Hưng thứ tư, Giả San Ðịnh Ðình Tá đứng đầu việc đúc chuông, xây dựng điện Tam Tạng”. (Kim Hoa Phủ Chí quyển thứ hai mươi bốn, Chiết Giang Thông Chí quyển thứ hai trăm ba mươi hai, Tự Quan Chí đều sử dụng thuyết này). Lại năm Ðồng Trị thứ tám đời Thanh, Chu Vân Tùng làm bài ký cho bia Trùng Tu Bảo Lâm Thiên Tự có ghi rằng: “Năm Thiệu Hưng thứ tư đời Tống, Ðông Ấp Giả Ðình Tá .v.v... đứng đầu việc đúc chuông, xây dựng điện”. Những điều này đều giúp cho việc chứng minh thuyết của họ Hồ là chẳng đơn độc. Soát xét Kim Hoa Hiền Ðạt truyện của Trịnh Bá, Kim Hoa Tiên Dân truyện của Ứng Ðình Dục thì biết Giả công chắc chắn là hiền thần (tôi hiền) của Tống Cao Tông nên tôi nói rằng, thuyết người thời Nam Tống đúc là đã thành án lệ vậy. Ðời nhà Minh thì cái chuông hiện còn, chuông ấy chẳng phải là di vật của thời Trần Tuyên Ðế, lại đáng biết vậy. Vả lại Kinh Phật Ðảnh Thủ Lăng Nghiêm phát xuất ở Hoài Ðịch15, tại năm đầu niên hiệu Thần Long nhà Ðường nhằm năm Ất Tỵ, năm Thiên Bảo thứ mười, Tây Kinh Hưng Phước16 Duy Khác pháp sư17 bắt đầu giải thích nghĩa văn mà làm. (căn cứ vào Thiên Như Hội Giải Tự và Ðạt Thiên Chỉ Chưởng Sớ Huyền Thị). Lúc ấy Trần Thế Kinh còn chưa ra đời thì làm sao tham dự vào việc đúc chuông có chú Lăng Nghiêm? Những tục truyền mà không xét đến ở đây đều thuộc loại này vậy. Ðến như việc làm của năm Tân Hợi niên hiệu Thiên Khải (đời Minh), tuy nói rằng đã hình thành cái lồng khuôn bằng đất nhưng thật ra chẳng qua vẫn theo vật cũ mà làm mới diện mục mà thôi. Gọi là đúc lại thì hiển nhiên chẳng phải làm mới. Vào buổi minh sơ, Phiên tăng (chỉ thầy tu Tây Vực) qua lại cũng có nhưng về sau thì hiếm dần, vả lại phần nhiều họ ở Ngũ Ðài Sơn (xem Thanh Lương Sơn Chí), vùng Giang Nam ít thấy dấu tích họ. Lại nữa, đất Phiên không có Kinh Lăng Nghiêm (Cung Ðịnh Am nói rằng: Kinh Lăng Nghiêm của Phiên Tạng căn cứ theo gốc chữ Hán mà dịch sang), cái chuông này nếu được tạo vào cuối nhà Minh thì việc mời thỉnh Phiên tăng đúc bài kệ của Kinh bằng Tạng văn lên trên chuông thì may ra việc này có khả năng. Nếu bỏ bài Kinh thuộc trước đó mà tụng mò bài chú Lăng Nghiêm bằng chữ Phạn đã khuyết bản kia thì cái thế của lý này chẳng cho phép vậy. Căn cứ vào sự suy đoán lật qua lật lại này càng chứng minh việc làm của năm Thiên Khải chẳng qua là vật cũ sửa cho mới mà thôi.

Lại xem xét bài chú Phật Ðảnh Lăng Nghiêm bằng chữ Phạn, nay vẫn còn bản dịch lưỡng thể Hoa - Phạm của Ngài Tam Tạng Bất Không18 đời Ðại Ðường, tại chùa Ðại Hưng Thiện  (chỉ có bài chú không có Kinh), lại có ngài A-xà-lê Ðàm Trinh khi tu sửa bản bia châm ngôn, một ngày nọ lấy đem so cùng với bản được đúc trên cái chuông này để tìm ra những điểm dị đồng của chúng vậy.

Lại nữa, xem xét việc Cống Tu Linh đã từng tham vấn Liên trì Ðại sư ở trước giường, pháp danh là Quảng Mật (xem tập ba mươi sách Vân Thê Pháp Vựng ở bài minh của tháp ngài Vân Thê Ðại sư). Sau khi ngài Liên Trì tịch, họ Cống sang làm lễ tháp, làm bài kệ khen ngợi. Những vị ấy bảo toàn cái chuông này bởi cũng đã nắm chắc lời hoằng thệ hộ trì Tam Bảo mà hành động vậy.

           

V. KHẢO SÁT BẠCH DƯƠNG CỔ THÁP CỦA CHÙA SONG LÂM.

Văn khắc trong Phó Ðại Sĩ Bi nói rằng: “Ðại Sĩ từng nhóm cát vạch đất đều trở thành viên mãn, ‘hạt cải, quả am-la’19 (làm việc kiên trì nhẫn nại) không ngờ vật nhỏ mọn mà dựng lên được tháp gạch chín tầng, hình tướng cao ngất, sáu thời lễ bái, nhiễu quanh tháp ấy thỉnh cầu”. Xem xét ngôi tháp gạch chín tầng này thì ra là tháp Bạch Dương ở chỗ cách hai mươi bước về phía tây nam, bên ngoài điện Vi Ðà của chùa Song Lâm ngày nay. Phó Ðại Sĩ Truyện Lục quyển một ghi rằng: “Năm Ðại Ðồng thứ sáu, Lương Võ Ðếá dựng chùa ở vùng Song Ðào, lấy hiệu là Song Lâm Tự... Ðại Sĩ tạo Phật điện, phía trước điện, ngày trước có cây bạch dương, cành lá tốt đẹp lạ thường. Ði kinh hành dưới cây ấy thường nghe được thiên nhạc, có lúc trời mưa xuống cam lồ. Ðại Sĩ ra lệnh chặt cây này làm tượng thờ trong điện thì chẳng bao lâu thợ điêu khắc tựï đến. Ở chỗ cây ấy dựng lên ngôi tháp gạch chín tầng”. Ngôi tháp nay đã sụp đổ lâu rồi, chỉ còn lại hai cấp mà trên to dưới nhỏ, thế rất nghiêng lệch, nguy mà chưa đổ, trải qua nhiều năm, kể cũng lạ vậy! Nhưng phần cổ tích ghi trong quyển thứ hai mươi bốn của sách Kim Hoa Phủ Chí: cho là nền của ngôi tháp trắng này tức là nền cũ của cây Song đào dưới núi Tùng Sơn là rất lầm lẫn. Là do Ðại Sĩ Truyện Lục giải trình về cây Song đào rồi liền trình bày tiếp việc cây Bạch dương, người sửa lại quyển sách ấy mơ hồ không xem xét lại liền khiên cưỡng hiệp làm một. Thật ra thì cây Song đào chưa chắc là cây Bạch dương, chỗ cũ của cây Song đào như Truyện Lục nói thì ngờ là ở bên trái hoặc bên phải của Ðại Hùng Bảo Ðiện ngày nay, cách nửa dặm về phía đông bắc của tháp Bạch dương bây giờ. Hoàn Châu Lưu Thư Ký của Nguyên Chẩn đã nói rằng: “Chùa ở tại dưới núi, chỗ hai cây lớn mà Hấp đã ngồi” đó vậy. Tôi từng du lịch nơi ấy, biết Tùng Sơn tức núi quen gọi là Vân Hoàng. Dưới núi Tùng Sơn về phía tây nam là La-hán đường, phía nam của La-hán đường, là Ðại Hùng Ðiện, tháp Bạch Dương thì lại ở phía tây nam Ðại Hùng Ðiện tiệm cận với cái đê Khê Ðình vậy! (Tháp cách đê chừng hai dặm).

Xem xét câu “Tự tại Hấp sở tọa lưỡng đại thọ chi sơn hạ ” trong bài ký của họ Nguyên thì ý gần giống mà lời văn chưa ổn, nếu đổi là: “Tự tại sơn hạ Hấp sở tọa lưỡng đại thọ gian ” (Chùa ở dưới núi, khoảng hai cây lớn mà Hấp đã ngồi) thì thỏa đáng hơn vậy.

           

VI. KHẢO SÁT NGÔI THÁP SẮT CỦA CHÙA SONG LÂM

Nhất định có ngôi tháp của chùa Song Lâm bởi vì đã có sự quyên góp đúc thành của vị Tổ xa xưa của ta là Dã Ðường Công. Ngài húy là Lộc, tự là Hoằng Cơ, sống ở Bồ Khư (tức là Xích Ngạn ngày nay). Các vị liệt tổ: Vị húy là Phiếm làm Thái thú Ðông Dương đời Tây Tấn, vị húy là Viên cũng là Thái thú Ðông Dương, vị húy là Lễ là Kiến Uy tướng quân đời Ðông Tấn, vị húy là Ấn làm Dương Châu Thứ Sử Kiêm Chi Ðộ Sứ đời Tề. Ngài (Dã Ðường Công) là cháu bốn mươi đời của các vị ấy. Từ Ðông Dương phủ quân Trạch Bồ Khư trở lại, đến Dã Ðường Công có đến hàng ngàn năm, trải qua nhiều đời đã hưng khởi nghiệp nhà bằng học vị tiến sĩ. Vậy nên họ Chu nổi tiếng là một đại tộc trâm anh thế phiệt (nhà dòng dõi sang trọng). Ðến đời Ðường Hy Tông “tháng bảy năm Canh Tý niên hiệu Quảng Minh, giặc cướp phương bắc từ đất Mục đến, thật quá bạo ngược, ngọc đá tan tành, chẳng còn một ai” (xem Thiết La-hán Tượng Ký của Dã Ðường Công tự soạn), riêng Công cùng với người Mẹ họ Trần của mình không hề hấn gì. Mẹ ngài tư bẩm nhân từ nghiêm túc, thờ Phật rất kính cẩn, Công tự biết là được phước báo nhờ Mẹ. Ðến khi bình định giặc xong, để đáp lại sự hộ giúp thiêng liêng ấy và thù báo công ơn đức Phật, “thấy mái chùa Song Lâm lồng lộng sáng rỡ, tăng xá phồn hoa, thật chẳng uổng là đạo tràng của Ðại sĩ. Nhưng chùa làm bằng rường gỗ thì nhất định có lúc hư hoại, chẳng bằng trấn nơi đây bằng tháp sắt để cho người đời sau nhìn thấy sự tồn tại của tháp mà tu bổ chùa chẳng để hoang phế. Ngay hai bên ở bên trong Sơn môn, quyên góp của cải, tụ họp công thợ, đào hai cái ao vuông, trong ao ấy đều đúc tháp sắt dựng lên, cùng đứng trơ trọi với Bảo Sát, ý sâu xa vậy”. (Xem Trùng Tu Song Lâm Thiết Tháp Ký của Hứa Càn đời Thanh soạn). Công có bốn người con trai, được mười tám người cháu. Lo sợ trước thảm cảnh loạn ly này, Công lại dùng số sắt đúc tháp còn thừa đúc mười tám pho tượng La-hán, trao cho mỗi đứa cháu một tượng, phòng khi tản ra chỗ xa nơi gần mà giữ lấy để làm bằng chứng chung Tổ, cùng phái cho đời sau (Căn cứ bài tựa cuốn Trùng Tu Dã Thự Long Khê Chu Thị Tông Phổ của Vương Ðại Thành viết năm Ðồng Trị Bính Dần). Từ khi ấy về sau “ngôi chùa quả nhiên hưng phế bất nhất mà tháp sắt thì y vậy, đứng trơ một mình. Nào ai biết đất đem đức dày chở muôn vật, chở cả Hoa Nhạc20 mà không nặng, chở tháp sắt mà lại như không! Ðến năm Tân Hợi đời Khang Hy nhà Thanh, đất vùi lấp dần mà tháp cũng lệch dần, các vị tăng trong chùa sợ tháp ngã đổ tổn thương mới cầu xin đến con cháu của Dã Ðường lão nhân (tức là mười tám phái Chu thị). Họ đều trợ giúp tiền gạo, chung nhau hoàn thành thắng sự. Ngay năm ấy, tát khô nước ao, đào đất sâu hơn một trượng (một trượng có lẻ), đập đất trải nền theo tầng lớp như trước. Thấy trong tháp có cất giấu cái hộp đá; trong hộp có tượng Quan Âm đúc bằng vàng, tượng La-hán đúc bằng sắt cùng xen lẫn một số vật trang sức, sáng tươi như mới, vẫn lấp lánh như xưa. Thế mới tin lời chùa bị hư hại mà tháp chẳng hoại của lão nhân là không lừa dối”. (cũng xem Trùng Tu Song Lâm Tự Thiết Tháp Ký của Hứa Càn viết năm Khang Hy thứ hai mươi hai). Ngày nay, cái ao bên tây bị lấp, tháp cũng bị hủy đã lâu, chỉ cái ao bên đông thì tháp vẫn còn. Một năm nào đó vào giữa đời Quang Tự, trời hạn, ao khô, có người vào ao bắt cá thấy trong chỗ nứt của nền tháp có tiền cổ trồi ra, tìm kiếm càng được nhiều thêm, hơn nữa còn thu được một cái bình cổ, liền huyên truyền rầm rĩ gần xa, những kẻ hiếu sự đều đến đào bới, tháp sắp sụp lở. Do đó người trong họ tộc của tôi tìm cách đem cái tháp sắt đi đặt trong nhà thờ của dòng họ (căn cứ Tự Tân Ðàn Tuyên Hóa Lục) ở Xích Ngạn (lại tên là Ðan Khê). Năm rồi tác giả nhân ngày kỵ Tổ đến nhà thờ, được thấy cái tháp này, chung quanh tháp có đúc mười hai tượng Sinh tiếu (con giáp: Tý, Sửu, Dần...) rất tinh xảo vậy. (Huyện chí ghi rằng: “Ngày con gái Chu Ấn ở Nam Tề vừa được vua thân nghinh, xe hồng của hai họ đỏ rực bờ khe nên nhân đó đặt tên Bồ Khư là Xích Ngạn ‘bờ đỏ’, rồi lại đổi là Ðan Khê).

Lại nữa, xem xét hai bài ký của Lão nhân và Hứa Càn có trong Tông Phổ họ tôi đã đủ chứng minh cái tháp này là do sự quyên góp đúc nên của Dã Ðường lão nhân. Vậy mà Huyện Chí lại sai lầm cho là cổ vật của thời Tiêu Lương (Lương Võ Ðế họ Tiêu), một lời nói hàm hồ xằng bậy làm mê hoặc người sau. Người có chí đọc sách mà chẳng siêng xem xét học hỏi thì phạm phải lỗi lầm này vậy.

Xem xét bài Thiết La-hán Tượng Ký của Dã Ðường Công soạn vào năm Quảng Thuận thứ hai, năm Nhâm Tý thì tuổi Lão nhân đã tám mươi ba vậy! Trong bài văn gọi: “Bắc Khấu (giặc phương bắc) từ Mục mà đến” là chứng cớ lấy từ Ðường Thư Hy Tông Kỷ: “Tháng sáu năm đầu niên hiệu Quảng Minh, Hoàng Sào vay hãm ba châu Mục, Vụ, Tuyên”, thì “Bắc khấu” chính là chỉ cho Hoàng Sào mà nói.

           

VII. KHẢO SÁT AM VÂN HOÀNG

Am Vân Hoàng tên cũ là am Thất Phật .

Thuở xưa Phó Ðại Sĩ ở núi Tùng Sơn kết cỏ tranh làm am để hành đạo, thường thấy Thất Phật (bảy vị Phật đời quá khứ: Tỳ-bà-thi Phật .v.v...) ở trước mặt, Duy-ma (Duy-ma-cật) nhẹ bước theo sau (xem Truyện Lục quyển một). Người đời sau vì thế mà xây dựng Thất Phật Các để biểu dương Thánh tích này. Nhân đó lấy tên đặt cho am ấy. Từ khi Ðại Sĩ qui không (tức là mất) cho đến đời Lý Ðường (Tổ nhà Ðường họ Lý), Ngũ Quí21 trải qua những bốn trăm năm, những vị tăng trụ trì trong thời gian ấy, dấu tích hưng suy có khoản sách không ghi chép (khuyết) nên không tỏ tường. Ðến đời Triệu Tống,  vua Triết Tông niên hiệu Nguyên Hựu (1086), mới có vị Ðại Thiền sư gọi là Quả Xương Giác Công đến am trụ trì, gặp thời Dương Thị Lang (chỉ Nguyệt Lục quyển thứ hai mươi lăm nói rằng: Quan Lễ Bộ là Dương Kiệt cư sĩ, tự là Thứ Công, hiệu là Vô Vi Tử, Công đã từng trải tham vấn các bậc danh túc, về sau theo ngài Thiên Y Hoài Du). Một ngày, quan Ðề Hình (chỉ Dương Thị Lang) đi đến núi lễ Phật, cùng với Giác Sư dạo núi, Thứ Công nhặt viên Phạn thạch22 của Ðại Sĩ (Truyện lục ghi rằng: Ðại Sĩ lấy thức ăn thừa cho hổ, đem bỏ trong rừng mà hóa thành đá màu xanh trắng xen lẫn nhau, có thể chế tác ra ngọc, gọi đó là Phạn thạch) lên hỏi rằng: “Ðã là Phạn thạch thì vì sao cắn vào không vỡ?”. Ngài Quả Xương đáp rằng: “Chỉ vì rất cứng”. Thứ Công nói rằng: “Giống như lời văn quan hệ mật thiết”. Ngài Quả Xương nói rằng: “Chưa xem xét lại đề hình thì làm sao sống được?”. Thứ Công nói rằng: “Cứng!” Ngài Quả Xương nói: “Vậy là tháng thứ hai!” Thứ Công vì Quả Xương viết biển ngạch cho điện Thất Phật, mới hỏi rằng: “Khi Thất Phật ra đời lần nữa thì như thế nào?”. Ngài Quả Xương đáp rằng: “Một lần thấy nhau, một lần mới!”. Thứ Công chỉ gật đầu mà thôi. (xem truyện Tống Thị Lang Dương Kiệt ở quyển thứ hai trong sách Tiên Giác Tông Thừa của Quách Ngưng đời Thanh). Quan sát sự tương kiến (gặp nhau) của hai tác gia đó, khám nghiệm cơ trí sắc bén thì họ chỉ là rất cứng cỏi thì khác nào quả mai có hạt, gặp nhau lại như mới, Phật chẳng khác, đạo Phật ngang bằøng, tiết lộ hết bổn phận tin tức, chưa khỏi phong quan bừa bãi, tiếc là đều nhặt nhạnh những lời thừa rơi rớt! Không biết đã chôn vùi bao nhiêu khúc vô sinh rồi vậy. Nhưng là nơi núi sâu đầm lớn thật sự đã sản sinh ra giao long (thuồng luồng). Ai đã dám gọi núi Vân Hoàng là xó quê nhỏ hẹp! (Lại xem xét phạn thạch còn một tên gọi là Sổ châu thạch , Huyện Chí quyển hai chép rằng: “Sổ châu thạch tức là đồ ăn nuôi hổ của Phó Ðại Sĩ hóa thành. Có họ Ðào sống ở dưới núi, từng tư cấp cho Ðại sĩ, ngài bảo mọi người trong họ rằng: “Ngày mai lấy phạn thạch mài thành Sổ châu để giúp đỡ các ông và con cháu. Từ ấy chỉ một nhà họ Ðào mới có thể lấy được, còn con gái đã gã chồng thì không thể. Người khác mà làm theo thì thủng bể”. Cái mà Dương Ðề Hình nhấc lên tức là đá này vậy).

Ðầu nhà Minh có vị Tỳ-kheo Diệu Trân cùng những vị Chí Thiện gác núi làm mái, trùng hưng ngôi tháp này, gỗ đất bền đẹp, bên trong bày tượng trang nghiêm, nhân đó lại đổi tên am Thất Phật là am Vân Hoàng, trong ngày trân trọng một bữa ăn, dưới cây một đêm nghỉ, có hạnh đầu đà. Ấp Vương Trung Văn Công đã làm một bài minh về am, lời văn bài minh ấy rất hay. Bài minh viết rằng: “Nghĩ rằng, Phật sinh ở thế gian, vốn cùng với chúng sinh đồng thì làm sao mà đắc Phật? - Tất cả chỉ là tâm vậy. Tâm người như hư không, quang minh vi diệu chẳng lường, tứ Thánh và lục phàm, tâm này quả thật đắp đổi đủ. Theo cái nghĩ của tâm tức đã dời khỏi cõi ấy. Ví như tâm muốn làm Phật tức đã thành Phật rồi. Sở dĩ vì sao vậy? Vì Phật đã đủ trong tâm ta, một niệm có thể kiên cố thì vì sao chẳng làm Phật? Ta đã thành Phật rồi, y báo và giả danh, chúng sinh, vật vô tình cũng đều có thể làm Phật, sở dĩ vì sao? Vì ta cũng các loài chúng sinh, mỗi một đều đủ Phật tính. Ví như ta đã làm Phật thì có ai là người chẳng phải Phật? Tâm, Phật cùng chúng sinh. Ôi! Há có sai biệt sao? Thuở xưa, Thiện Tuệ đại sĩ, nguyện lực ngài rất rộng lớn, chúng sinh được hóa độ đều thành Phật đạo hết. Nay ta cùng các ông đồng dự hội Long Hoa, lời thề của Ðại sĩ, mỗi mỗi nên tinh tấn. Tinh tấn chớ cầu bên ngoài, cầu ở tâm này đủ rồi, như chẳng tin ta thì mời đọc tụng bài minh về Tâm Vương. Ðó là khắc ghi lời nói của Ðại sĩ, tựu trung để khắc ghi cái am này”.(Xem Vương Trung Văn Công Tập quyển chín. Trước bài minh có lời tựa, lược ghi theo bài tựa ấy) Quan sát việc nêu lên ở đây, câu câu phát huy duy tâm tức là chỉ thú của tính, chẳng phải một mình sau chín trăm năm mà vấn đề trên cùng với sự đạt đến khế hợp uyên áo của Ðại Sĩ cũng gần thông với Thiên Thai Giáo, một tâm tròn đủ nghĩa mười (giới) cõi. Thuở xưa người cư sĩ ở hang núi Hoàng Sơn đã từng nói: Nếu giải được bài minh Tâm Vương ở Song Lâm để đọc Luận ngữ thì như ăn thịt nướng, tự biết mùi vị vậy! Tôi nay cũng nói rằng: Nếu giải được thiên này của Trung Văn, quay lại đọc bài minh Tâm Vương của Ðại Sĩ thì hiểu ngay như ăn mía ở giữa, ở bên đều ngọt lịm vậy! (Hoàng Sơn Cốc Ngữ - xem lời dẫn ở quyển thứ tám sách Tống Tổ Tú, Phật Giáo Biên Niên Thông Giám)

Trong đời Ðạo Quang nhà Thanh (1821) có vị tăng tên là Vân Thống (Ngộ Nhiên), trước vốn ở tại núi Thiên Thai kết am tranh ngồi thiền, về sau vị ấy hành cước đến Nghĩa Ô (Chiết Giang), duyên pháp của vị tăng ấy rộng rãi, thường ở mỗi nơi của Nghĩa ấp xây dựng lại cổ miếu. Ðến năm Hàm Phong thứ năm (1851), ông lại vì bổn am mà xây dựng lại trước sau hai đại điện. Trước kia sau am là vùng đất trũng hẹp, gác xà qua núi làm mái, ngài Vân Thống sai thợ khóet mởû, nâng lên làm nền móng hậu điện. Ở cuối vách đá, thu được gạch cổ nhiều vô số, vừa đủ nhu cầu để kết cấu hai ngôi điện trước và sau. Số gạch này do ngài Bảo Giác thiền sư (Quả Xương) xây dựng tháp vào năm Nguyên Hựu thứ sáu nhà Tống, còn thừa lại. Chẳng ngờ rằng, sáu trăm năm sau ngài Vân Thống vì ngài mà hoàn thành công án này. Giác Sư như cất giấu dự trữ để chờ sự sử dụng của Thống Sư thì cái nhân duyên tao ngộ này đáng gọi là lạ vậy! Bấy giờ có những đàn việt như Cử nhân Ðinh Hiến Vân, Giám sinh23 Ðinh Càn Tú, Lý vấn sảnh24 Ðinh Nhữ Phổ đều trợ giúp vàng ba trăm lạng. Lại có bốn trăm hộ đồng tâm hiệp lực, mỗi nhà mỗi ngày trích lấy một đồng tiền, trong hạn kỳ ba năm, để dành trợ giúp công thợ. (căn cứ Trùng Kiến Ðại Ðiện Ký của Trương Hoàng). Thời mạt pháp căn tính con người xan tham, bỏ của cải ra như cắt thịt mà bốn trăm nhà này vào những năm tài lực quẩn bách mà có thể tích lũy được tiền của để sung vào việc bố thí, nếu chẳng phải đời trước đủ thiện căn thì ai kia có thể hết lòng thừa sự cúng dường chư Phật như vậy thay?

Ngày nay, trong am thờ một pho tượng Thích Ca Văn Phật, hai pho tượng Bồ-tát Văn Thù, Phổ Hiền đều làm bằng gỗ Ðàn Hương. Lại có một pho tượng Di Lặc Tôn Phật và những pho tượng Ðại Bi Quan Âm, Vi Ðà Thiên Tướng, Ðạt-ma Tổ Sư, Từ Vân Sám Chủ25, Võ Khúc Quan Ðế, Già Lam Bồ-tát... đều bằng gỗ hương chương (một loại gỗ có mùi thơm), đều được làm ra vào thời Hòa thượng Vân Thuyết. Tất cả đều là tướng hảo thanh tịnh trang nghiêm, thù thắng vi diệu. Tôi khảo sát những ngôi Già Lam trong nước thì việc thờ Quan Vương (có lẽ thờ Quan Công) làm hộ pháp là chỉ có chùa của giáo phái Thiên Thai làm thôi, vì bia của chùa Ngọc Tuyền ở Kinh Châu có nói Quan vương qui y Trí Giả, chịu giữ giới pháp (Xem Truyền Ðăng Thiên Thai Sơn Phương Ngoại Chí quyển thứ mười khảo về thần minh) mà Từ Vân Thức Sư (Từ Vân Sám Chủ) lại chính là người tài giỏi của sơn gia (Thiên Thai Giáo), xét theo lời ký của bia thì Thống Sư chắc chắn đến từ Thiên Thai. Vậy thì việc nghiêm sức những tượng này của ngài há chẳng phải do đã có gốc vâng thừa Tông Tổ ư?

Trước am tre trúc che kín mít, khuất cả cửa chùa, người đến lễ Phật, nếu chẳng đến thấu cửa chùa thì tuy đã ở trong núi cũng chẳng biết có chùa. Núi có vách cao chót vót đến một trăm trượng, rộng ba mươi lăm trượng, đến dưới Hoa Khê, năm màu ánh chói nhau. Có núi Xuyên Thân do Ðại Sĩ xuyên vách đá mà thành ra tên. Có núi Uỷ Hổ  (nuôi hổ), do Ðại Sĩ đem cơm chay thừa cho cọp ăn mà thành tên. Thập Ðạo Chí chép rằng: “Núi, nguyên có nhiều dạng báo (con beo) đỏ, Ðại Sĩ hóa độ chúng, về sau chẳng xuất hiện nữa”. Lại có tên Phạn thạch, do cơm nuôi hổ còn dư mà hóa thành, nó màu xanh trắng mà tía. lại có núi Thất Phật, tháp Hành Ðạo, ao Toàn Si (ao ốc xoắn).. nhiều di tích. Ao Toàn Si là con suối ở trước am. Nước suối ấy có nhiều vằn làm thành vòng xoắn giống tóc đầu đức Phật nên đã thành tên. (xem đầy đủ trong Huyện Chí quyển hai). Tích Hiền Hữu Ký chép rằng: “Núi Ô Thương Vân Hoàng ở Kim Hoa là khu đất danh thắng đời Lương, đá chồng chất, núi danh tiếng, khói sóng phun bàng bạc. Chu Trường Văn đã chép vào Ðồ Kinh, sông ngòi chằng chịt; Tôn Thừa Hữu hình thành Tháp Ký, lồng tre lợp lá, gió đưa thuyền trà, ấm áp liêu tùng, mưa thấm guốc mai, mở bày vùng thanh tịnh chốn trần hoàn, tin thay tiên đô (Kinh đô của tiên) nơi dục giới! Ở đây, bảy lớp lan thuẩn, trồng thay rừng Kỳ (nhắc rừng cây của thái tử Kỳ Ðà), năm sắc lưu ly, cõi sen kéo dài (ý nói cảnh cực lạc chăng?) trước đèn nhiều báu, thức tỉnh trần mê nhiều kiếp; Kinh diễn giải ba xe, cứu nhiệt não cho chúng sinh. Gác thang Quỳnh (ngọc) rúng động buổi sớm, dựng hịch văn xanh biếc cả do tuần26. Chùa có từ đó, liền nói rằng, xưa vậy!” (xem Bi Ký của Trường Hoàng). Những người khác viết về cảnh ấy để lại thì có ấp học sĩ Huỳnh Tấn Khanh, huyện Thừa Lưu Kiệt (tự là Nhân Kiệt, người Lạc Bình, Giang Tây nhậm chức năm Chính Thống thứ ba đời Minh), Tri huyện Lưu Ðồng (Tự là Bá Tuân, người Lư Lăng, Giang Tây, nhậm chức năm Chính Thống thứ năm đời Minh), Cung Sĩ Tương (Tự là Quý Lương, hiệu là Lân Hầu hay Thanh Tử, người ấp, đậu cử nhân năm đầu niên hiệu Thiên Khải nhà Minh) Vương Tư Toản... Thơ của họ đều thấy ở trong Huyện Chí, mà trong lời ghi chưa thu góp thì còn có thơ xướng họa của Hùng Lệnh quân Nhân Lâm cùng với Vân Giang Trần Tử Long trong khoảng năm Sùng Trinh nhà Minh. Tất cả đều là lời trong sáng quấn quít, câu cú đẹp rực rỡ, cảnh sắc cùng tình văn sinh ra nhau vậy.

           

VIII. KHẢO SÁT THÁP XÁ-LỢI CỦA PHÓ ÐẠI SĨ Ở NÚI VÂN HOÀNG

Tháp của Phó Ðại Sĩ Thiện Tuệ ở đời Lương tại đỉnh núi Vân Hoàng (mây vàng), cách hai mươi lăm dặm về phía nam huyện thành Nghĩa Ô ngày nay (núi Vân Hoàng còn có tên là Tùng Sơn, cao một trăm bốn mươi trượng, chu vi ba mươi dặm hai trăm bộ, Ðại Sĩ hành đạo tại đây. Mây vàng quây quần ở trên núi ấy giống như cái mui xe nên thành tên). Ðại Sĩ sau khi tịch, các đệ tử chôn cất linh cốt Xá-lợi của ngài ở đây. Căn cứ sách Phó Ðại Sĩ Truyện Lục thì Ðại Sĩ nhập diệt vào ngày mười bốn Ất Mão, tháng tư mùa hạ năm Kỷ Sửu, nhằm năm đầu niên hiệu Thái Kiến đời Trần (năm 569 TL). Lúc đầu khi Ðại Sĩ lâm bệnh, đệ tử sợ ngài diệt độ mới hỏi rằng: “Ðại Sĩ sau khi diệt độ thì linh cửu của ngài chôn cất ở đâu?” Ngài đáp rằng: “Ðem thi thể ta lên đỉnh núi Song Lâm, theo đúng như pháp mà thiêu đốt. Rồi lấy tro cốt chia làm hai phần, một phần an táng trong tháp trên đỉnh núi, một phần an táng trong tháp nơi nghĩa địa”. Thuyết này cùng với lời: “Di chúc, để ở đỉnh núi Song Lâm, theo đúng như pháp mà thiêu thân, một phần Xá-lợi thì dựng tháp ở nghĩa trang, một phần Xá-lợi thì dựng tháp tại núi” trong văn bia của Từ Hiếu Mục, phù hợp nhau. Ðó là hai ngôi tháp, mà Ðại Sĩ đã chỉ định trước khi chưa mất. Tháp đỉnh núi tức là tháp trên núi Vân Hoàng ngày nay đó (chính là tháp Hành Ðạo nơi Ðại Sĩ lúc sinh tiền kết am tranh ở núi Tùng Sơn). Tháp trên nghĩa trang ấy đang ở trong núi Song Lâm (ra tại trước núi Vân Hoàng mà so sánh), ngày nay lạc mất chẳng dễ tìm thấy. Chỉ ngôi tháp trên đỉnh núi Vân Hoàng, đến nay đã hơn một ngàn năm trăm năm, tuy trải qua rất nhiều lần trùng tu nên đã làm (lột xác) biến dạng vật xưa thời đại Lương, Trần vậy. Ở đây là thăm dò địa thế, khảo sát chứng cứ những bài minh, văn bia mà có thể chứng minh được. Tháp này từ khi an trí phụng thờ Ðại Sĩ về sau đã hiển hiện đủ sự linh ứng. Ðộc Cao Tăng Truyện của luật sư Ðường Ðạo Tuyên ghi rằng: “Ðại Sĩ đến giữa mùa hạ năm đầu niên hiệu Thái Kiến đời Trần, ở tại bổn châu, nằm nghiêng về hông phải, rồi chợt thăng hà (mất)... hợp liệm ngay ở trong núi khoảng vài tuần, hương hoa tung rải chồng chất, sau bỗng biến mất, người đến viếng không thấy, gào khóc ái mộ càng sâu, tiếng bi thương luyến tiếc nghẹn ngào hang núi” (xem thêm sách “Cảm Thông Thượng Tuệ Vân Truyện” quyển thứ hai mươi lăm; xét truyện “Phó Hoằng” ở quyển thứ tư trong “Ngự Chế Thần Tăng Truyện niên hiệu Vĩnh Lạc nhà Minh” và truyện thứ ba mươi mốt “Song Lâm Ðại Sĩ” chương thứ mười một trong Tăng Bộ Liệt truyện; sách “Thanh Thế Sở Toản Ðồ Thư Tập Thành Bác Vật Vựng Biên Thần Dị Ðiển”27, quyển thứ một trăm ba mươi lăm. Ðại thể đều y theo bài văn này ‘của ngài Ðạo Tuyên’ mà có sửa đổi thêm chút ít). Lại nữa, sách Nghĩa Ô Chí đời Gia Khánh chép rằng: “Sau khi Ðại Sĩ mất (hóa), người xa kẻ gần nối đuôi nhau lên núi, ở trên tháp Hành Ðạo thắp đèn cúng Phật, tiếng xướng danh hiệu Phật, những thấy bốn mặt đèn thần la liệt dưới tháp, hoặc phát ra ở không trung lớn như bánh xe, người ta gọi là đèn trời”. (Phụ chú ở quyển thứ mười tám, sách Tiên Thích Chí phần Thiện Tuệ Ðại Sĩ Tuyện). Ấy là dấu tích thần dị, chẳng thể lấy lý thường tình mà đo lường vậy! (Bài tựa sau sách Phó Ðại Sĩ Tập của Sa-môn Mậu Bổn nói rằng: “Tháp xương Xá-lợi ấy, cao tới bảy cấp, đứng chơ vơ trên đỉnh núi Vân Hoàng, phàm khi lên đèn xong thì thần lửa bốn phương đều đến chầu phụng, còn có thể ứng nghiệm”.)

Và thời Ngũ Ðại, vào tháng sáu năm đầu niên hiệu Khai Vận đời Thiếu Ðế nhà Thạch Tấn (năm 944 TL)28, Ngô Việt Vương là Tiền Hoằng Tá (Soạn giả xem xét sách Phật Pháp Kim Thang Biên quyển thứ sáu nói rằng: “Tiền Hoằng Tá con của Văn Mục Vương Nguyên Quán, được tập phong ‘phong chức nối theo chức của cha’ là Ngô Việt quốc vương, tên thụy là Trung Hiến) sai vị tăng tên là Tuệ Qui đến Song Lâm mở tháp của Thiện Tuệ Ðại sĩ, lấy được mười sáu miếng linh cốt màu vàng tía. Vô số Xá-lợi như cỏ chi sắc tím mọc ở giường gạch, đôi hổ phục ở dưới huyệt, mây lành che ở trên núi, cam lồ tưới xuống đất, rồi mới phụng rước linh cốt Xá-lợi cùng những vật như tỉnh tịnh bình, lư hương, chùy gõ cửa, đến an trí tại chùa Quang Sách ở Tiền Ðường mà cúng dường, xây dựng chùa Kim Hoa, lấy xương ấy đắp làm tượng Ðại Sĩ (căn cứ Pháp Vận Thông Tắc Chí ở quyển thứ bốn mươi ba trong sách Thích Chí Bàn Phật Tổ Thống Kỷ đời Tống), Ôi! Ðã mở mang ra thì sẽ nhất định phải phong kín lại! Tháp từ năm Thái Kiến thứ năm đời Trần (bia Song Lâm Phó Ðại Sĩ của Từ Hiếu Mục lập vào năm Thái Kiến thứ năm, lúc ấy, thợ an trí quan tài Ðại Sĩ trên đỉnh núi Vân Hoàng đã xong nên đã khởi tính từ năm đó) đến năm đầu nhà Thạch Tấn, thời gian ấy đến những ba trăm bảy mươi mốt năm, nhất định những lần hưng kiến, sửa sang bất nhất mà sách vở đã ghi do tôi khảo sát thì đây là lần đầu tiên đó vậy. (Nghĩa Ô huyện Chí, Kim Hoa phủ Chí cũng chép việc này, chỉ có điều là lầm Tiền Hoằng Tá là Tiền Nguyên Tá). Lại xem xét sách Lâm An Chí Tập Dật (biên tập những gì đã mất) của Thuần Hựu quyển thứ năm, ghi là Tiền Vương sai sứ là Hồ Tấn Tư mở phần mộ tháp, thì có nghĩa là Huệ Qui đang cùng với Hồ sứ đều đến thỉnh rước vậy!

Tiền Vương đã rước thỉnh chân thân của Ðại Sĩ liền bỏ thành, đến bên trong vườn Thụy Ngạc trên sườn núi phía Nam núi Long Sơn, tạo dựng tháp tượng Phó Ðại Sĩ để sùng mộ cúng dường (căn cứ Võ Lâm Phạm Chí của Ngô Chi Kình và Tây Hồ Du Lãm Chí của Ðiền Nhữ Thành). Và khoảng năm Tĩnh Khang đời Khâm Tông nhà Tống, hộp báu đựng cốt đỉnh (xương đầu) bị trộm cướp đi. Khoảng năm Thiệu Hưng đời Cao Tông, Ðô Thừa An Thế Hiền, người Lam Khê, làm quan đất Hoài được Ðại Sĩ cho thấy mộng, lấy lại số cốt ấy ở cánh đồng đất, rước trở về Song Lâm, xây dựng Vân Hoàng Các an vị phụng thờ. (xem Lâm An Chi Tập Dật quyển thứ năm của Thuần Hựu). Vậy nên nguyên quí Ngô Lập Phu còn được xem Xá-lợi đỉnh tướng của Ðại Sĩ ở chùa Song Lâm (Uyên Dĩnh Tập quyển thứ ba có thơ ghi lại việc ấy. Lại khoảng năm Chính Thống nhà Minh, bài hậu tự của Phó Ðại Sĩ Tập của vị trụ trì chùa Song Lâm tên là Mậu Bổn Thanh Nguyên, cũng ghi rằng: “Còn có một cái xương đỉnh đầu, Xá-lợi sinh sản nhiều ở cái cối ấy”). Bởi ngài Giới, Ðịnh huân tu, thức chuyển thành trí nên tuy là di cốt của thân huyễn cũng trải qua hàng ngàn năm mà không hề hấn gì, làm cái duyên cho chúng sinh quan cảm vào đạo. Ngài Mạnh Tử có nói rằng: “Ôi! Người quân tử qua rồi là hóa, cái còn lại là Thần” Ông ấy gọi Ðại Sĩ đó ư?

Ngôi tháp trên đỉnh núi Vân Hoàng, tuy trải qua việc Ngô Việt Vương sai sứ mở banh ra nhưng vẫn còn cái hộp đá nguyên đã đựng Xá-lợi Ðại sĩ. Ðó là do qua nhiều triều đại xây dựng tu sửa mà vẫn chẳng chút suy siển. Một là, tại khoảng năm Thiệu Thánh đời Triết Tông nhà Tống như trong bia Vân Hoàng Sơn Tự Trùng Kiến Ðại Ðiện của Trương Hoàng, khoảng năm Hàm Phong nhà Thanh có ghi rằng: “Năm Nguyên Hựu thứ sáu, đặc biệt cử Bảo Giác Ðại sư xây dựng Bảo tháp, cất giấu gạch vàng ở đáy tháp”, tức là việc ấy vậy. (Thật ra thợ đã hoàn thành tháp vào năm Thiệu Thánh thứ hai mà bài ký của họ Trương gọi là Nguyên Hựu là do thời Nguyên Hựu ngài Giác Sư đã đến núi trụ trì nên lời ông ấy gọi thế.) Một nữa là, khoảng năm Vĩnh Lạc đời Thành Tổ nhà Minh, có vị tăng tên là Như Tùng đã cùng người làng chung nhau vác lên. (xem điều Tự Quan Chí Vân Hoàng Am ở sách Huyện chí quyển thứ mười tám). Ðến tháng tám năm Mậu Ngọ, năm Khang Hy thứ mười bảy đời Thanh, quái phong (gió lốc) giật đổ tháp chỉ còn hai cấp. Trước là tháp vốn có bảy cấp, đến bây giờ qui mô của nó kém trước xa vậy! Nhưng tại khoảng năm Gia Khánh vẫn còn ba tòa tháp lớn nhỏ (Ngoài tháp Hành Ðạo của Ðại Sĩ ra, có riêng hai tòa tiểu tháp). Giữa thời Hàm Phong (nhà Thanh) binh Hồng Dương bại, chạy trốn vào núi quấy nhiễu, đào bới cái hộp báu lên bỏ lăn lóc ở ngoài. Ðến năm tân Mùi, năm Ðồng Trị thứ mười, có vị tăng trụ trì tên là Nhạn Thanh (Tịnh Hương) cùng học trò là Tuệ Hải mới quyên góp của cải ở bốn phương, lại chôn giấu hộp báu. Truyền rằng: “Thờ chết như thờ sống”, hai vị tăng có lòng vậy.


 


1 Chấn Ðán : Người Ấn Ðộ xưa gọi Trung Quốc là Chấn Ðán (Sanskrit: CÌna-sthªna, Pªli: CÌna-ratïtïha). Trong kinh sách Phật giáo cũng dịch Chấn Ðán. Phiên dịch danh nghĩa tập, giải thích: “ Ðông phương (Trung Quốc) thuộc Chấn, mặt trời mọc phương ấy, nên gọi là Chấn Ðán”.

2 Chức thành Phật: Tượng Phật do dệt thành (xem cht. 7, tr. 79).

3 Pháp tịch  : Chiếu pháp, ý nói người lãnh đạo truyền bá giáo pháp (cht. Người dịch).

4 Chiên đàn lâm : hoặc gọi Xuất thế gian xá, Tịch diệt đạo tràng, Thân cận thiện xứ... đều là cách gọi khác từ “Tự viện”.

5 Tiền tư liêu : Phòng của vị sư đã từng nhậm chức từ Phó tự trở xuống tới chức Ðông tự, vị này trước kia giúp đỡ công việc chùa nay đã nghỉ.

6 Mông tăng đường : Phòng xá dành cho vị tăng Tri sự chùa đã thôi việc, an dưỡng. Mông còn có nghĩa “tĩnh dưỡng” nên cũng là nơi nghỉ ngơi của những người già cả thôi việc.

7 Nam Trực : Tên khu vực địa phương hành chánh tại tỉnh Giang Tô.

8 Thiện Tuệ phó đại sĩ (497-569): Là cư sĩ Phó Hấp tự Huyền Phong, người huyện Ô Thương, Ðông Dương. Năm 24 tuổi gặp Hồ tăng Tung-đầu-đà, biết được nguyên nhân đời quá khứ bèn kết am giữa khu rừng cây song thọ ở núi Tùng sơn, tụ xưng Ðương Lai Giải Thoát Thiện Tuệ đại sĩ. Ông tu khổ hạnh... có tài thần dị nên vua Lương Võ Ðế rất kính trọng... (xem thêm trong phần chương I).

9 Tiêu Lương : Là triều đại Nam Triều Lương (502-557), vì các hoàng đế đều mang họ Tiêu nên gọi Tiêu Lương.

10 Ðạo “Năm Ðấu Gạo” (Ngũ mễ đấu đạo : Thời Ðông Hán, Trương Lăng (34-156) lập một đạo tại núi Hạc Minh trong đất Thục, người nào theo học đạo phải nộp năm đấu gạo, cho nên gọi là đạo “Năm Ðấu Gạo”. Về sau người ta xưng Trương Lăng là Trương Thiên Sư, nên cũng gọi Thiên Sư đạo.

11 Ngũ Quí : Hay gọi Ngũ Ðại, là sau khi vương triều Ðường diệt vong, ở phương bắc Trung Quốc xuất hiện 5 vương triều phong kiến: Hậu Lương (907-923), Hậu Ðường (923-936), Hậu Tấn (936-946), Hậu Hán (947-950), Hậu Chu (951-960), sử gọi là Ngũ Ðại (năm đời), tổng cộng 54 năm.

12 Vàng Diêm-phù-đàn : Sanskrit. Jambñnadasuvarnïa, Diêm-phù là tên cây, Ðàn tên con sông (tại Ấn Ðộ). Dưới cây Diêm-phù là con sông, cát trong sông này toàn là vàng, có đủ màu: vàng, đỏ, tím...

13 Thích-ca-tỳ-lăng-già ma-ni bảo sùakrªbhi lagna-manïi-ratna.

14 Chân-thúc-ca bảo : Sanskrit. Kimïsùuka, Pªli. Kimïsuka, là một loại đá quí.  

15 Hoài Ðịch : Danh tăng đời Ðường, người Tuần Châu, sinh mất năm nào không rõ. Ngài thông nội ngoại kinh điển và giỏi Phạn văn. Năm thứ 2 niên hiệu Thần Long (706), khi Bồ-đề-lưu-chí dịch kinh Bảo Tích, ngài có phụng chiếu vào kinh chứng nghĩa. Sau ngài ở Quảng Phủ cùng một vị Phạm tăng (không rõ tên) dịch Ðại Phật Ðảnh Như Lai Mật Nhân Tu Chứng Liễu Nghĩa Chư Bồ-Tát Vạn Hạnh Thủ Lăng Nghiêm kinh, 10 quyển.

16 Tây Kinh Hưng Phước: Trong bản Hán tác giả viết nhầm. Ðính chính: Tây Kinh Sùng Phước tự, hoặc Kinh Sư Sùng Phước tự : Chùa Sùng Phước tại kinh đô (nhà Ðường).

17 Duy Khác pháp sư : Danh tăng đời Ðường, tên Liên Thị, người Thượng Ðảng (Ðại 50n2061, Tống Cao Tăng truyện 6, tr. 738a). Ngài ở chùa Sùng Phước trước tác Lăng Nghiêm Kinh Sớ Nghĩa.

18 Tam Tạng Bất Không  705-774): Ngài là người nước Sư Tử, Nam Thiên Trúc, Phạn danh: Amoghavajra (nghĩa Bất Không Kim Cang), Pháp hiệu Trí Tạng. Ngài đến Lạc Dương vào năm thứ 8 niên hiệu Khai Nguyên, Ðường Huyền Tông.

19 Quả Am-la: Sanskrit. ªmlikª, Pªli. ªmalaka, tức quả xoài.

20 Hoa Nhạc : Là Hoa sơn (Thái hoa sơn ) và Nhạc sơn (Khuyền sơn ), hai hòn núi danh tiếng tại tỉnh Thiểm Tây.

21 Ngũ Quí: Xem cht.10, tr. 176.

22 Phạn thạch : Ðặc biệt chỉ có trong núi tại chùa Song Lâm này (huyện Ðông Dương, Vụ Châu).

23 Giám sinh : Học trò Quốc Tử Giám.

24 Lý vấn sảnh : Quan (Ty) thẩm xét trọng án, tra hỏi tù nhân, chỉnh lý văn tự.

25 Từ Vân Sám Chủ (964-1032: Ngài người Ninh Hải, Chiết Giang, thời Tống, tên Tuân Thức tự Tri Bạch. Vua Chân Tông ban cho hiệu Từ Vân, từng ở chùa Quốc Thanh, trước tượng Phổ Hiền đốt ngón tay thệ nguyện truyền Thiên thai tông. Ngài thị tịch năm Minh Ðạo nguyên niên, thọ 69 tuổi. Ngài có san định các bộ Vãng Sanh Tịnh Ðộ Sám Pháp, Thỉnh Quan Âm Tiên Phục Ðộc Hại Sám Pháp, Kim Quang Minh Sám Pháp. Vì thế đời sau gọi ngài Từ Vân Sám Chủ.    

26 Do tuần : Sanskrit=Pªli. Yojana, đơn vị đo chiều dài thời xưa ở Ấn Ðộ. Ðó là khoảng cách 1 ngày hành quân của Thánh vương, khoảng 15-20 km.          

27 Thanh thế sở toản đồ thư tập thành Bác vật vựng biên Thần dị điển: Sách tổng tập hình ảnh thời thanh bình và tập thành biên soạn Vạn vật học, điển tích Thần dị.

28 Năm đầu niên hiệu Khai vận đời Thiếu Ðế nhà Thạch Tấn : Tác giả đã viết nhầm. Ðính chính: Năm đầu niên hiệu Khai vận đời Xuất () Ðế nhà Thạch Tấn. Thạch Tấn là Hậu Tấn, triều đại thứ ba đời Ngũ Ðại. Vua Xuất Ðế tên Thạch Trọng Quí, lên ngôi được 4 năm.

 

---o0o---

[Mục Lục] [01] [02] [03] [04] [05] [06] [07] [08] [09] [10]

 

[11] [12] [13] [14] [15] [16] [17] [18] [19] [20]

 

---o0o---

Trình bày: Nhị Tường

Cập nhật: 01- 4 -2004

 

Webmaster:quangduc@quangduc.com

Trở về Thư Mục Thánh Tích

Đầu trang

 

Biên tập nội dung: Tỳ kheo Thích Nguyên Tạng
Xin gởi bài mới và ý kiến đóng góp đến ban biên tập qua địa chỉ:
quangduc@tpg.com.au