Tiếng Việt

Trang nhà Quảng Đức

   Tiếng Anh 

qd.jpg (8936 bytes)

Thánh Tích Phật Giáo


...... ... .


Pháp Tạng 79

 PL. 2547 - 2003

 

Lịch Sử Chùa Tháp Trung Quốc

 

Chủ biên: Trương Mạn Ðào

Việt dịch: Tuệ Khai cư sĩ

Hiệu đính: Thích Ðỗng Minh

Chú thích: Thích Tâm Nhãn

---o0o---
 

KHÁI THUẬT VỀ CHÙA THÁP THỜI BẮC TRIỀU

 

Nguyên tác: Tôn Tông Văn

Việt dịch: Tuệ Khai Cư Sĩ 

 

 

I. HOẠT ÐỘNG KIẾN TRÚC CỦA PHẬT GIÁO TRUNG QUỐC TRONG THỜI KỲ TIẾN TRIỂN.

Kiến trúc Phật giáo Trung Quốc mở đầu hưng tạo ở đời Hán. Nhân vì bất luận là chùa viện hoặc tháp Phật, chúng hoàn toàn là thứ sản vật theo sau Phật giáo truyền vào. Chẳng qua ở thời đại nhà Hán, trong nước đối với hạng kiến trúc này vị tất đã tạo được sự đón nhận nồng nhiệt. Nguyên nhân là Phật giáo chỉ được một số ít kẻ thống trị đương thời đề xướng, kiến trúc của Phật giáo còn chẳng được sự chú ý của tuyệt đại đa số của nhân dân. Chỉ từ đời Hán về sau, kinh qua các thời đại Tam Quốc, Lưỡng Tấn, thẳng đến Nam Bắc Triều, Tuỳ thì tình hình mới được chuyển biến, sự nghiệp Phật giáo dần dần phát đạt. Nhân đây chúng ta có thể gọi thời đại đó là thời kỳ tiến triển của kiến trúc Phật giáo Trung Quốc.

Tam Quốc (220-280 TL), Lưỡng Tấn1 - từ đời Hán trở về sau - Phật giáo lưu nhập vào Trung Nguyên, nhưng chưa đến bên ngoài sông (ý nói chưa đến vùng đất Giang nam). Kịp đến khi thanh tín sĩ2 Chi-khiêm vào nước Ngô, đất Ngô bắt đầu nhiễm Ðại pháp. Thời đại Tam Quốc, năm đầu niên hiệu Hoàng Sơ nhà Ngụy (năm 220 TL), Tôn Quyền tại Võ Xương đã kiến lập hai ngôi chùa là Xương Lạc và Bảo Tuệ. Lại có Sa-môn Khương-tăng-hội, người nước Khương-cư cũng từng xây dựng chùa ở kinh đô Kiến nghiệp (Nam kinh) của nhà Ngô, vì đất Ngô đầu tiên có chùa Phật nên đặt tên chùa là Kiến Sơ. Do đó ở Giang Tả3 đại pháp liền hưng thịnh, đồng thời có luôn việc kiến lập tháp Phật, như hôm nay sau chùa Vĩnh Phúc - bên trong thành Kim Hoa - có ngôi tháp Vạn Phật, xây dựng tám tầng, mỗi tầng có mái trùng, trên tháp lớn đều có khắc tượng Phật, nên gọi là tháp Vạn Phật. Tương truyền Tôn Quyền vì mẹ đã kiến tạo nên tháp ấy. Tiếc rằng, do niên đại quá lâu nên nền đã sụt lở nhiều. Ðến kiểu tháp nhà Tấn, ngoại trừ tháp A-dục Vương của chùa Trường Can ở Nam Kinh, ở đó lại xây dựng tháp ba tầng vào năm cuối niên hiệu Thái Nguyên (năm 396 TL). Lại nữa, căn cứ vào việc ghi chép của Thích Lão Chí và Lạc Dương Già Lam Ký thì cho rằng, ở nửa thời kỳ đầu đời Tây Tấn, thống kê chùa Phật tại Lạc Dương đã có bốn mươi hai cơ sở, đem cộng với chùa Phật trong toàn quốc thì có đến một trăm tám mươi cơ sở, tăng ni cũng đạt đến ba ngàn bảy trăm người. Bởi nhân Chu Sĩ Hành, người Hán đầu tiên đi xuất gia vào đầu nhà Ngụy. Từ đó về sau người tin Phật càng nhiều, đồng thời họ y chiếu theo pháp đức Phật chế mà cạo đầu làm tăng, nên đến thời Tây Tấn thì việc kiến trúc tự viện và tháp Phật xem ra đã khả quan rồi.

Nam Bắc Triều - năm cuối đời Tây Tấn - Trung Quốc do sự xâm nhập của các dân tộc ngoại lai vào phương bắc làm cho Trung Nguyên rơi vào những năm tháng chiến sự triền miên, mà lịch sử gom vào gọi là thời kỳ “Ngũ Hồ Loạn Hoa"4. Kinh tế xã hội hỗn loạn cực độ, sinh hoạt của nhân dân khổ sở chẳng kể xiết. Các dân tộc văn hóa thấp kém ở phương bắc dần dần cường thịnh lên. Bọn họ mạnh lên chiếm cứ hết lưu vực sông Hoàng Hà, tự chiếm lấy địa vị thống trị. Theo bước chân quân sự, xâm nhập chính quyền, các dân tộc phương bắc di cư dần đến Trung Nguyên. Phần nhiều Hán tộc rơi vào thế chẳng đặng đừng, đành di dời về phương nam. Sức sinh sản xã hội đương thời quả thật đã đạt đến sự tồi tàn tương xứng. Tại cảnh nhiễu nhương can qua ấy, trong cục diện phân tranh tan nát thì một mặt, những kẻ thống trị chuyên xây dựng vườn tược, cung khuyết .v.v... cung phụng cho sự hưởng lạc của mình, càn bậy chẳng giảm bớt. Riêng một mặt khác, kẻ thống trị mở rộng chinh chiến, thuế má, sưu dịch. Do làm việc, khuân cây, vác đá... làm cho sự khốn khổ, bịnh tật của dân gian có thể nói đã lên đến cực điểm. Một bộ phận nhân dân chuyển sang kêu trời, cầu thần, tín ngưỡng Phật giáo để mong nhờ sự cầu xin này mà được một chút an ủi tinh thần. Tựu trung ở tình huống ấy, Phật giáo được lưu hành rộng rãi mà xây chùa, dựng tháp nhiều như gió nổi, mây đùn. Trước tiên hãy nói về chùa, tháp thời đại Bắc Triều.

Trung Quốc từ khi Chu Sĩ Hành, người Hán, xuất gia về sau thì người đi Tây phương cầu pháp nối gót khởi hành, Cao Tăng của Tây vực sang Trung Hoa ngày càng nhiều. Do đó, các địa phương đều kiến tạo tự viện, phong trào xây dựng tháp Phật cũng khởi lên. Năm đầu niên hiệu Hoàng Hưng (467 TL), Thát Bạt Hoằng (Hiến Văn Ðế), đầu tiên ở kinh đô Hằng An Bắc đài (nay là Ðại Ðồng), khởi lập Phù-đồ (tháp) bảy cấp tại chùa Vĩnh Ninh, cao hơn ba trăm thước, xem ra rất là tráng lệ. Rồi lại kiến tạo tháp đá ba cấp tại chùa Thiên Cung, cao có đến mười trượng, chắc chắn, tinh xảo, kín, kỹ, một kỷ vật đứng đầu Kinh Kỳ. Tình cảnh hưng thịnh ấy chính như trong Thủy Kinh Chú đã có nói: “Kinh ấp đất vua, Phật pháp phong thịnh, diệu tháp thần đồ, thời ác Kiệt5 ngóng nhau, pháp luân đông chuyển, ấy là trên vậy.” Sau Thát Bạt Hoằng ấy (Hiếu Văn Ðế) vào năm Thái Hòa thứ mười chín (năm 495 TL), dời đô về Lạc Dương trở về sau, các địa phương tạo dựng chùa tháp trở nên phổ biến. Căn cứ vào sự trình bày trong Lạc Dương Già Lam Ký thì thời Hậu Ngụy ở kinh sư Lạc Dương, chùa tính ra có đến một ngàn ba trăm sáu mươi bảy ngôi. Năm đầu niên hiệu Thiên Bình (năm 534 TL) dời đô và Nghiệp Thành, chùa ở Lạc Dương còn lại bốn trăm hai mươi mốt ngôi. Nhưng sự phát đạt của chùa Phật đương thời ngày càng thấy nhiều người quyên góp tài sản cho Phật tự, đó là một nguyên nhân chủ yếu.

Ở Lạc Dương, ngoại trừ chùa Vĩnh Ninh, tiếp theo có chùa Cảnh Minh do Thác Bạt Khác (Tuyên Võ Ðế) lập vị trí ở phía Nam thành, trang sức hoa lệ hơn cả chùa Vĩnh Ninh. Lại có Ðạo Quang Ni Tự cũng do Thác Bạt Khác lập, có tháp, đẹp ngang với chùa Vĩnh Ninh. Lại như Cảnh Lạc Ni Tự do Văn Hiến Vương Dịch lập, có hình chạm xe vua voi kéo trang sức xảo diệu, bậc nhất một thời. Lại như chùa Thiên Thu, do hoạn quan Lưu Ðằng tạo dựng. Chùa ấy trang hoàng Phật sự đều dùng vàng ngọc. Ngoài ra các chùa, tháp còn lại khác, hết thảy đều kỳ vĩ tráng lệ, chẳng tường thuật thêm nữa. Vả lại, đang lúc Thát Bạt Hoằng dời đô Lạc Dương thì việc kiến lập Phật tự còn có phải định chế, tức là bên trong thành chỉ một ngôi là chùa Vĩnh Ninh, vùng đất cận thành chỉ được một ngôi chùa ni, toàn bộ số chùa còn lại phải xây dựng ở bên ngoài thành quách. Nhưng xuống đến đời Thần Qui (năm 518-520 TL) thì định chế này phá bỏ dần, nên bên trong thành người làm chùa Phật riêng rất nhiều, thậm chí phát sinh ra sự kiện bán trộm công điền, chiếm đoạt chỗ ở của dân6. Do đó khắp đô thành là chùa tháp, nên đương thời Tăng lữ nước ngoài đến đất Trung Hoa thấy sự hưng thịnh sùng bái Phật như thế, thành ra không ai chẳng coi Lạc Dương là Phật đô (thủ đô của Phật giáo), ưa thích cảnh kỳ quan. Chùa tháp của thời Bắc Triều và những người kia có mối quan hệ với tác phẩm nghệ thuật Phật giáo. Nhưng chẳng may vào thời đại Bắc Chu đã từng gánh chịu một lần suy vong rất lớn. Vào thời kỳ đầu của thời đại Bắc Chu, Phật giáo tuy cũng được tin tưởng tôn trọng, nhưng ở năm Kiến Ðức thứ ba Võ Ðế (năm 574 TL) xuống chiếu phế bỏ hai tôn giáo là Thích và Ðạo, tiêu hủy kinh tuợng, buộc hơn hai trăm vạn Sa-môn, đạo sĩ hoàn tục. Năm Kiến Ðức thứ bảy (năm 577 TL), Võ Ðế diệt Bắc Tề, đem hết chùa Phật, kinh tượng ở trong cảnh giới nước Tề hủy diệït toàn bộ, tăng ni bị bắt hoàn tục đến hơn hai trăm vạn, sử gọi là một trong “Tam Võ diệt pháp”. Ðương nhiên kiến trúc Phật giáo phải chịu một lần phá hoại rất lớn.

 

II. CHẾ ÐỘ TỰ VIỆN TRONG LẠC DƯƠNG GIÀ LAM KÝ

Lạc Dương Già Lam Ký do Dương Huyễn đời Hậu Ngụy soạn, là pho sách chuyên ghi chép chùa viện ở Lạc Dương thời Bắc Triều. Lời tựa đầu tiên trình bày danh xưng của mười hai cửa thành Lạc Dương và phương hướng, cho thấy rộng lớn của thành thị. Nhiên hậu mới y theo xa gần mà trình bày, trước tiên vẽ lên chùa viện tự thành nội, thứ đến là của thành ngoại. Phàm qui mô chùa viện to lớn thì phần nhiều đã bao quát được ở bên trong nên thật là một thứ sách mẫu mực tham khảo rất tốt cho người ta nghiên cứu lịch sử kiến trúc Phật giáo thời bấy giờ.

Thử lấy chùa Vĩnh Ninh làm ví dụ: "Sách Lạc Dương Già Lam Ký - quyển một - thuật về chế độ kiến trúc của chùa Vĩnh Ninh như sau:

“Chùa Vĩnh Ninh do Linh Thái Hậu họ Hồ kiến lập năm đầu niên hiệu Hy Bình (516 TL), ở tại phía nam cửa Xương Hạp, trước cung về phía tây đường Ngự đạo một dặm, ...trong có một ngôi tháp chín tầng làm bằng gỗ... phía Bắc tháp có một ngôi Phật điện, hình dáng như điện Thái cực, ở giữa có một pho tượng vàng một trượng tám, mười pho tượng vàng cở vừa, ba pho tượng thêu ngọc, năm pho tượng dệt thành7, thợ làm khéo léo kỳ mỹ, đứng đầu đời bấy giờ. Tăng phòng, lâu quán hơn một ngàn gian, rường nhà chạm trổ, vách tường điểm tô, lưa thưa gấm dệt xanh tỏa một vùng, khó mà tả xiết.... Tường quanh chùa viện đều làm mái ngắn lợp ngói như tường quanh cung điện ngày nay vậy. Bốn mặt đều mở một cửa, lầu cửa nam ba lớp, thông ra ba đường, cách đất hai mươi trượng, hình chế giống cửa Ðoan Môn ngày nay, tranh vẽ hơi mây họa hình tiên linh rực rỡ, như dệt như thêu xanh ngát bao trùm, hoa lệ sáng rỡ. Cửa Củng Môn (cổng vòm) có bốn lực sĩ, bốn sư tử (tượng) trang sức bằng vàng, bạc và thêm châu ngọc, trang nghiêm chói lọi mà thế gian chưa nghe thấy. Hai cửa Ðông, Tây cũng đều như thế, có khác chăng là chỉ có hai lớp lầu. Cửa Bắc là một con đường, chẳng làm nhà cửa giống như cửa đầu chim (điểu đầu môn). Bên ngoài bốn cửa, cây xanh nước biếc như tranh vẽ, người đi lại chốn kinh kỳ phần nhiều được chúng che mát”8.

Căn cứ đoạn văn trên, có thể biết bình diện của chùa viện thời Bắc Triều được bố trí theo nguyên tắc trên, là vẫn thừa kế dạng thức của Tây Vực, đem tháp làm trung tâm kiến trúc của toàn ngôi chùa, địa vị ấy trọng yếu phi thường. Như vậy tức là mặt trước nhất của chùa là Sơn môn 9, khoảng giữa là tháp Phật, sau cùng mới là chánh điện. Ðến cả việc chung quanh của chùa Vĩnh Ninh có hay không có xây dựng hành lang vòng quanh thì Già Lam Ký chưa thuật lại, chỉ theo lệ thường của chùa Tứ Thiên Vương ở Nhật Bản thì hầu như phải có. Ðương thời người ta lấy tháp làm tín ngưỡng chủ yếu, nên cũng là kiến trúc chủ yếu, về sau tượng Phật phát triển mới lấy điện làm kiến trúc trọng yếu (Ấn Ðộ cũng như ở đây). Hình thức thể chế của chùa Vĩnh Ninh chịu ảnh hưởng Tây Vực, theo ghi chép trong Phật Quốc ký của Pháp Hiển thì miếu thờ của nước Hòa-điền10 cũng như đây.

Thông lệ, trước điện bố trí tháp chẳng những chỉ ở Bắc Triều như đây mà ở Nam Triều cũng vậy. Như “Luật Tướng Cảm Thông Truyện” đã thuật về chế độ kiến trúc của chùa Hà Ðông ở Kinh Châu sau đây:

 “Chùa Hà Ðông, ...chùa rất lớn, ...ở đến hàng vạn tăng.... Từ đời Tấn, Tống, Tề, Lương, Trần, Tăng đồ thường có hàng vạn người... trước điện là tháp do Tống Tiều Vương Nghĩa Quí tạo dựng,” đến với những bộ phận đồ vật thật hoặc di tích hiện còn như chùa Tung Nhạc ở huyện Ðăng Phong và năm gần đây người Nhật đã phát hiện nền móng những ngôi chùa hoang phế của thời đại Bách Tế11, thời đại Cao Cú Lệ12 ở hai vùng đất Phù Dư và Bình Nhưỡng tại Triều Tiên, và rồi người Nhật Bản y chiếu vào chùa Tứ Thiên Vương dạng thức cũ của thời đại Phi Ðiểu13 để trùng tu .v.v... vậy tựu trung là đem tháp đặt ở khoảng giữa Sơn môn và Phật điện. Chỉ từ đời nhà Ðường trở về sau như trong Giới Ðàn Ðồ Kinh của ngài Ðạo Tuyên, đã bắc đầu đảo ngược vị trí tháp và điện, đem tháp xây dựng ở sau điện Phật, tháp dần dần ở vào địa vị chẳng trọng yếu, thẳng đến đời Minh, đời Thanh vẫn theo đây như cũ.

 

III. DẠNG THỨC THÁP PHẬT THỜI BẮC TRIỀU ÐÃ BIỂU HIỆN TRONG PHÙ ÐIÊU Ở HANG ÐÁ VÀ VĂN HIẾN.

Tháp Phật thời Bắc Triều, đồ vật thật còn lại đến ngày hôm nay rất ít, chẳng qua chúng ta có thể dùng những tư liệu gián tiếp như văn hiến và mặt trên của phù điêu trong hang đá. Chúng ta còn có thể tìm đến một phần tài liệu, như chọn một số yếu tố để giới thiệu đặc trưng ấy như sau:

(1) Tháp gỗ chùa Vĩnh Ninh:

Chúng ta từ trên văn hiến xem lại, tháp Phật thời Bắc Triều đầu tiên tìm ra là ngôi tháp gỗ chùa Vĩnh Ninh ở Lạc Dương, xây dựng vào năm đầu niên hiệu Hy Bình đời Bắc Ngụy. Tháp rất rộng lớn, tráng lệ, cao to. Ðây là tác phẩm đại biểu duy nhất của thời đại bấy giờ. Ấn chứng tháp này là do Hồ Thái Hậu lập nên, cũng gọi là Hồ Thái Hậu tháp. Ðáng tiếc, tháp này sớm bị cháy rụi, di tích không còn.

Quan hệ đến chế độ kiến trúc của chùa Vĩnh Ninh như trên đã thuật. Ðến hình thể chế độ của tháp gỗ đồng với sự ghi chép rõ ràng ở trong sách Lạc Dương Già Lam Ký. Tuy thuộc về văn hiến nhưng đối với người nghiên cứu dạng thức tháp Phật thời Bắc Triều thì có sự giúp đỡ rất lớn. Ðồng thời sách ấy có miêu tả đối với tháp và ngày nay Nhật Bản đã bảo tồn được ngần ấy vật thật của thời đại Phi Ðiểu, có nhiều chỗ tương tợ với những phù điêu trong động đá Vân Cương. Cơ bản trên vậy là nhất trí. Căn cứ sách Già Lam Ký nêu:

“Trong chùa Vĩnh Ninh... có một ngôi tháp chín tầng làm bằng gỗ, cất cao chín mươi trượng, có “sát” (chỉ cho nơi chốn thờ Phật) lại cao mười trượng, hợp lại cách đất một ngàn thước, cách kinh sư một trăm dặm đã thấy từ xa rồi. Ban đầu đào móng đến dưới hoàng tuyền, được ba mươi thân tượng vàng, Thái Hậu lấy làm chứng cớ tin tháp, do vậy mà cho xây dựng tháp quá độ. Trên “sát” có bình vàng báu dung tích hai mươi lăm thạch. Dưới bình báu có ba mươi lớp mâm vàng nhô ra đỡ lấy, giáp vòng đều có treo chuông vàng lòng thòng. Lại có khóa sắt ở bốn đường dẫn vào “sát”, hướng trên khóa bốn góc tháp cũng có chuông nhỏ, chuông nhỏ lớn như một cái vò đá. Tháp có chín cấp, từng góc từng góc, đều treo chuông lắc vàng, tổng hợp trên dưới có một trăm hai mươi cái chuông lắc. Tháp có bốn mặt, mỗi mặt có ba cửa lớn, sáu cửa sổ, cửa lớn đều sơn đỏ, trên cánh cửa có cái linh (chuông nhỏ) vàng Ngũ Hành, tổng hợp lại có năm ngàn bốn trăm cái. Lại có vòng vàng phô bày, tận dụng hết công năng của đất gỗ, tạo hình khéo cùng cực, Phật sự tinh diệu, chẳng thể nghĩ bàn, trụ ngũ sắc vàng phô bày, người nhìn thấy giật mình. Ðến những đêm dài gió lộng, chuông vàng hòa điệu kêu vang, tiếng len ken nghe xa hơn mười dặm".

Từ sự ghi chép gói gọn chứng thật ấy, khiến cho chúng ta được đến với nhiều tư liệu quý báu mà cụ thể. Ngoại trừ khả năng là một cuộc so sánh tháp gỗ cùng với thời đại Tùy, Ðường về sau còn có thể làm sáng tỏ vấn đề nguyên lai dạng thức kiến trúc tháp Phật của Trung Quốc. Trong đoạn văn đã nói, tháp có chín cấp, bốn mặt, mỗi mặt có ba cửa lớn, sáu cửa sổ thì không nghi ngờ gì nữa, chính là hình thức trùng lâu của một loại bình diện làm theo hình vuông, trong hệ thống địa phương của Trung Quốc cổ đại, trên đỉnh có tạo tác “sát”. Do sự thật trên, có thể nói cùng với những ngôi tháp của Tạc Dung14, kiến trúc vào cuối đời Hán, không phân biệt lắm, chỗ chẳng đồng chỉ ở tại bộ phận “sát” và xu hướng hoa lệ cùng chạm lộng nhiều. Xem xét sự vĩ đại và tráng lệ của chùa Vĩnh Ninh thì có thể đại biểu cho tác phong của kiến trúc Phật giáo đương thời. Lại nữa, ngôi chùa này ở năm cuối thời Bắc Ngụy đã từng qua một lần tu sửa thêm, người làm chủ việc ấy là thứ sử Tín Châu Kỳ Mẫu Hoài Văn. Nhưng sau khi tu sửa chẳng bao lâu, vào tháng hai năm Vĩnh Hy thứ ba (năm 524 TL), vì bất cẩn nên bị hỏa hoạn, chùa Vĩnh Ninh và tháp gỗ đều bị cháy mất, sự tồn tại của chùa chỉ có mười chín năm mà thôi.

(2) Tháp phù điêu của hang đá Vân Cương:

Từ đây trở lên chỉ liên hệ vào sự ghi chép của văn hiến mà nói. Ngoài sự ghi chép này, tháp Phật thời Bắc Triều còn có thể được thấy một bộ phận dạng thức trong phù điêu ở hang đá Vân Cương, hệ biểu thị ấy là hình thức làm bằng gỗ hay làm bằng gạch. Xem xét hang đá Vân Cương thì quả là một di sản kiến trúc khắc đá vĩ đại thời Bắc Triều của Trung Quốc. Hình chế tháp Phật đương thời biểu hiện ra ở trên mặt phù điêu, phân ra làm hai thứ, một thứ là hệ trụ tháp, còn một thứ hệ khác là tháp khắc ra trên mặt vách, ngoại trừ một loại tháp đỉnh tròn, còn những loại kia là tháp thuộc dạng thức từng lầu. Tổng hợp đặc trưng của loại tháp ấy có những điểm liệt kê sau đây:

1.- Bình diện của tháp toàn là một thứ hình vuông, kể cả hình nhiều cạnh còn không thấy nữa.

2.- Số tầng của tháp thì chỉ có động thứ nhất ở đông bộ, theo hệ thống số ngẫu nhiên, còn lại toàn là số kỳ lạ, cùng với đời sau đồng dạng, vả lại mặt rộng và cao độ, hướng lên cao lần lượt giảm, điều đó cùng với đời sau nhất trí.

3.- Nền đài của tháp không có đường gấp khúc phối hợp và cánh sen chấu vào nhau, vả lại tòa ngồi của Phật giống tòa ngồi ở hang đá Ðôn Hoàng.

4.- Diềm mái nhà của tháp phần nhiều làm đường thẳng, không theo phương pháp bọc góc, nên cũng không còn rường góc mà kết cấu rương góc chắc chắn. Ngay đến cây rui chỉ một lớp nhưng đã có những cây rui góc cánh xếp xiêng.

5.- Phù điêu tháp năm tầng của động thứ hai ở đông bộ thì những cây trụ thẳng lên, nghiêng chếch về bên trong thì hầu như là mở cho phương pháp kiến trúc “Trắc Cước”15 của đời sau.

6.- Về hình dáng của tháp, đông bộ có phù điêu tháp năm tầng ở động thứ hai, bên dưới có tòa vuông, toàn bộ lộ bày ấy giống như tháp năm tầng của chùa Pháp Lâm ở Nại Lương, nước Nhật Bản, trên ấy điêu khắc cỏ nhẫn đông (cỏ chịu lạnh)16 để trang sức, một là như chịu cách trang trí hoa văn của Nhật Bản, hai là ở trên có bát úp. Trên bát úp là trụ “sát” được trang sức quanh nhau năm lớp, trên đỉnh trang trí ngọc báu. Bên ngoài của những vòng quanh nhau mở rộng ra, trên nhỏ, dưới to, đoạn giữa hơi bành ra ngoài.

7.- Tháp phù điêu của động thứ nhất ở đông bộ và động thứ hai ở trung bộ, một tháp ba “sát”, ông Quan Dã Trinh người Nhật cho rằng, biểu trưng của hệ “tam bảo”, chỉ là thiết chế thời ấy vì những đời gần đây không có17.

(3) Sát và trụ sát

Bộ phận đỉnh tháp - có trụ cao thẳng suốt lên, trang sức khắp bằng những vật như lộ bàn, tướng luân, bảo cái, châu báu .v.v... gọi là tạo tác "sát”. Lại căn cứ vào sách Tam Bảo Cảm Thông Lục ghi rằng: “Trong thành Lạc Dương thời Ngụy Minh Ðế vốn có ba ngôi chùa, một trong số ấy ở phiá Tây cung vua, đều buộc cờ hiệu trên đỉnh “sát”, liền dò thấy trong nội cung, nhà vua đâm lo. Thế là thời đại Tam Quốc, cuối nhà Hán, danh xưng “sát” đã có. Thời đại Nam Bắc Triều sau này gọi chùa tháp là tự sát, xây tháp là dựng sát, vậy thì danh xưng “sát” thay thế thẳng cho từ Phật tháp mà nói. Lại nữa, truyện Tuệ Thọ trong quyển thứ mười ba của Cao Tăng Truyện nói rằng:

“Ngài Thích Tuệ Thọ, người An Lạc, trong năm Hưng Ninh nhà Tấn, đến kinh sư... đầu tiên lập một ngôi nhà nhỏ, mỗi tối lại nằm mơ thấy một con rồng xanh từ phương Nam bay lại, hóa làm cây trụ “sát”. Tuệ Thọ dẫn Sa-di thử đến sông Tân Ðình tìm kiếm, mới thấy một cây gỗ dài theo dòng nước trôi xuống. Tuệ Thọ nói rằng: “Nhất định là điều ta thấy trong mơ ấy ”. Do đó ngài cho người kéo lên, dựng đứng làm sát, gá ghép một tầng, người đạo kẻ tục đua nhau tập họp, đều khen là thần dị.

Y chiếu vào tháp đơn tầng của ngài Tuệ Thọ mà xem lại, thì “sát” ở trên tháp nhất định từ bộ phận đỉnh thẳng đến dưới đất, “sát”, mà tác dụng kiêm luân cả trụ nên xưng là trụ “sát”. Tháp gỗ của thời đại Nam Bắc Triều ở Trung Quốc, tuy không có vật thật tồn tại, chỉ lấy ngôi tháp năm tầng có trụ gỗ trung tâm của chùa Pháp Long nước Nhật Bản làm minh chứng. Từ đỉnh tháp châu báu thẳng đến dưới đất thì hạng này là trụ trung tâm, tức là trụ sát mà hình thức thể chế không nghi ngại của thời bấy giờ. Lại quyển thứ mười sáu trong sách Quảng Hoằng Minh Tập, chuyện Lữ Văn Cường tạ vua ban trụ “sát” bằng gỗ bách quí báu và một vạn cân đồng, đã khải xưng rằng: “Trụ sát bằng gỗ bách một khúc, đồng một vạn cân, cung cấp khởi dựng chùa Thiên Trung Thiên”. Việc này đủ chứng tỏ “trụ sát” là một danh từ mà ở thời đại Nam Bắc Triều đã thấy qua chẳng ít. Ðồng thời chế độ kết cấu từ đỉnh tháp thẳng đến dưới đất bằng trụ trung tâm của tháp gỗ thời bấy giờ, thì có thể thấy đó là một hạng. Nhưng mà tháp gỗ chùa Vĩnh Ninh thời bấy giờ, tương truyền đã bị lửa thiêu hủy, lửa cháy suốt ba tháng mà chẳng tắt, lửa vào tận đất tìm trụ, giáp năm mà vẫn còn hơi khói .v.v... thì càng có thể tham chứng lẫn nhau.

 

IV- GIỚI THIỆU BÌNH LUẬN VÀ MINH CHỨNG THẬT TẾ VỀ THÁP PHẬT THỜI BẮC TRIỀU

Tháp Phật thời Bắc Triều, ngoại trừ những cái khắc vách ở hang đá Vân Cương chẳng kể, thật ra mẫu mực ấy có tiểu tháp Thiên Phật thời Bắc Ngụy ở bên trong thành Ðại Ðồng. Tháp làm theo dạng tứ giác chín tầng, đến nay chỉ khuyết mất tướng luân (vòng quanh tháp), từ tầng thứ nhất lên đến đỉnh ước chừng năm thước, mặt vách mỗi tầng đều có khắc nổi vô số tượng Phật, nên gọi là tháp Thiên Phật. Dưới tháp có đài bằng đá rõ lớn, và bốn mặt cũng khắc đủ thứ tuợng Phật và những con vật rất lạ. Ngoài ra nơi đây hiện còn vật thật của tháp làm bằng gạch đá, đã khẳng định về kiến trúc đương thời và là vật trứ danh ở đời. Ðáng kể là tháp của chùa Tung Nhạc và tháp bốn cửa chùa Thần Thông ở hai nơi. Phê bình giới thiệu vấn đề ấy như sau:

(1) Tháp chùa Tung Nhạc:

Chùa Tung Nhạc ở chân núi phía tây dãy núi Tung Sơn, theo lối nghệ thuật tạo hình đã giảng giải ở trên thì tháp này chính là thuộc hàng thứ nhất trong kiến trúc Phật giáo Trung quốc. Vậy đây là một dạng thức duy nhất, thử dùng bình diện hình thể mười hai góc thay thế cho bình diện hình tròn của tốt-đổ-ba (tháp) Ấn Ðộ. Sử dụng tòa nền cao và một đoạn thân tháp đại biểu cho tòa nền và phúc bát (hình như cái bát úp, thân tháp hình bán cầu) mười lăm tầng phía trên nhô ra, diềm mái theo thể thức Trung Quốc kín mít, đại biểu cho kiến trúc Ấn Ðộ là “sát” ở trên đỉnh của tốt-đổ-ba. Chẳng những đó là một sáng tác vô tiền khoáng hậu, mà còn đối với nghệ thuật kiến trúc Trung Quốc chính là vật thứ nhất kiến trúc cao tầng mà cao độ đến bốn mươi thước tây làm bằng gạch. Không lạ lùng gì khi nó trở thành một tác phẩm trân quý của nghệ thuật kiến trúc cổ đại trên thế giới.

Tháp của chùa Tung Nhạc xây dựng vào năm đầu niên hiệu Chính Quang, thời Bắc Ngụy (năm 520 TL). Căn cứ vào bia chùa Tung Nhạc đời Ðường, rằng: “Chùa Tung Nhạc là Ly Cung của Hiếu Minh Ðế đời Hậu Ngụy vậy”. Năm đầu niên hiệu Chính Quang, Bàng Nhàn ở chùa, “sát” Phật rộng lớn, làm cạn kiệt của cải đất nước... Tháp mười lăm tầng được tạo lập thời Hậu Ngụy vậy. Phát khởi bốn mặt phẳng mà vươn cao, thẳng lên hư không, tướng vuông mà tròn. Mười hai phương trượng18, cửa và cửa sổ vài trăm cái. “Từ đoạn ghi chép trên xét kỹ cùng hình chế của tháp hiện còn vẫn phù hợp nhau, chẳng qua ngoại trừ tháp, những thứ kiến trúc khác như điện Phật v.v... đều hoàn toàn bị hủy hoại. Nay chỉ còn dôi lại ở phía trước tháp cái “sơn môn” xấu đơn giản, Ðại điện, điện Bạch y đều ba gian ở phía sau tháp, cho đến vài gian nhà xây dựng gần đây như điện Quan Ðế, tạp thất .v.v... mà thôi.

Hình thức thể chế tháp của Chùa Tung Nhạc là tháp mười lăm tầng, hình mười hai góc, nhưng từ tầng thứ hai trở lên chợt thấp xuống. Tại Trung Quốc, kiểu xây dựng tháp Phật như trên gọi là “Tháp diềm kín”, cùng với “Tháp nhiều tầng” của tháp chùa Bạch Mã, tác phong hoàn toàn chẳng đồng. Bộ phận của tháp bên ngoài nguyên tô trát bằng đất thó trắng19, tuy đại bộ phận đã tróc hư hỏng, lộ ra tầng gạch màu vàng. Nhưng kiểu kiến trúc ấy ứng dụng cách làm diềm mái chồng dính, cùng vẻ đẹp của vòng mở rộng ra làm nổi bật vẻ tú lệ, từ sự hình thành đường uốn lượn mềm mại, thật đã tạo cho con người cái ấn tượng về sự mài mòn về sự khổ nạn; biểu thị trọn vẹn một thứ phong cách kiến trúc cổ mộc mạc trong sáu thế kỷ của Trung Quốc.

Tháp, trừ tầng đầu có cửa, mặt nam một cửa có thể thông nội thất và bên ngoài của tháp; các tầng khác của tháp ấy tuy rất thấp bé, nhưng luôn luôn thiết kế có cửa, cửa sổ. Về cửa, cửa sổ trừ tầng thứ hai trở lên thì bên hai cửa sổ mỗi mặt là cửa sổ chấn song thẳng, còn cái khác đều có mũ đầu hình bán cầu, trụ đỡ nhọn, phần đỉnh của trụ đỡ đặt hoa sen ba cánh, hai bên đầu dưới trang trí bằng hình xoáy nước, có thể nói hoàn toàn là một loại dạng thức của trụ đỡ Ấn Ðộ. Cửa sổ tầng đầu, phần bên trong cửa ấy có tiểu thất hình vuông lớn, thuộc hệ tháp thờ cúng tượng Phật. Dưới khám thờ Phật còn có tòa đài và tượng chạm nổi sư tử. Ðến cả “sát” của đỉnh tháp cũng được chế tạo bằng gạch đá, ở trên tòa Tu Di đơn giản có bát úp theo dạng hoa sen ém phục, trên là thắt lưng, trên nữa là hoa sen ngữa nối tiếp bày ra vòng quanh nhau bảy lớp. Xem xét “tướng luân”20 (vòng quanh nhau - một từ về kiến trúc) cũng gọi là “cửa luân”, căn cứ sách Tấn Thư quyển thứ chín mươi lăm, truyện Phật Ðồ Trừng có câu: “âm thanh linh (chuông nhỏ) của tướng luân” có thể thấy thời cổ đại, dưới “tướng luân” có chuông nhỏ (linh), và “Thừa lộ kim bàn”21 tháp gỗ chùa Vĩnh Ninh đồng một dạng. Chẳng qua di vật của tháp nay hiển thị đều chẳng phải như ở đây. Một phần trong tướng luân ấy làm hơi vát lên thành vòng hình cái thoi rộng ra, mặt trên cùng thì bày ngọc báu, toàn bộ hình chế mười phần hùng mạnh. Tháp này chẳng sử dụng trụ “sát” mà chỉ ở bên trong vách ngoài của nội thất tầng đầu, sử dụng những lớp gạch chồng dính hướng vào trong nhô dần ra, nâng đỡ các tầng lên, rồi lần lượt hình thể vách cùng trần nhà (hình dạng tầng thấp) của các tầng thu nhỏ dần lên. Cửa sổ của tháp có hai loại, thật và giả. Mặt chánh đông của tầng thứ mười lăm tháp ấy và vị trí mặt chánh nam của các tầng thứ năm, thứ bảy, thứ chín, thứ mười một, thứ mười ba đều thuộc hệ cửa sổ thật ở chánh giữa. Các tầng khác của tháp ấy, các mặt đều là cửa sổ giả tạo thành bằng một thứ phù điêu, quen gọi là “manh song” (cửa sổ mù).

(2) Tháp bốn cửa của chùa Thần Thông:

Chùa Thần Thông cách tám mươi dặm Trung Hoa, phía đông nam của huyện Tế Nam tỉnh Sơn Ðông, là một ngôi cổ sát trứ danh thời Phù Tần, có vị tăng Thiên Trúc22 cư trú. Ngôi tháp của chùa này được làm trước năm Võ Ðịnh thứ hai nhà Ðông Ngụy (năm 544 TL)23, bình diện là hình vuông, bốn mặt đều mở một cửa nên quen gọi là tháp Bốn cửa. Bốn mặt hình thể vách có Phật đàn vây quanh, trên đàn mỗi mặt an trí tượng Tam Tôn Phật (ta quen gọi là Tam Thế Phật) bằng đá. Toàn bộ vách tháp làm bằng đá, nóc nhà cũng làm bằng đá xếp chồng lên thành hình trạng đoạn, bậc. Trên đỉnh có đá tạo thành “tháp sát”. Bộ phận hoa văn của tháp ấy được trang trí chạm nổi cỏ chịu lạnh (Nhẫn Ðông Thảo); cả đến những hình thức bát úp (hình bán cầu), tướng luân .v.v... đều cùng nhất trí về hình thức thể chế mà tháp sát chạm nổi trong các động đá thời bấy giờ đã biểu hiện. Cửa tháp làm theo phương thức trụ đỡ nửa tròn, đồng thời ở tại mặt vách chạm khắc những dạng hoa văn biết bao nhiêu thứ, hầu như là dư ba của thủ tháp thời đại nhà Hán. Nói tóm lại, nét thanh khiết, đơn giản của thủ tháp này là nét ưu mỹ của sự cân nhắc kỹ càng. Quả thật đây là cái mẫu mực không thể thấy nhiều trong việc xây dựng tháp đơn tầng bằng đá của Trung Quốc vậy.


 

1 Lưỡng Tấn : Tây Tấn (265-317), Ðông Tấn (317-420).

2 Thanh tín sĩ : Sanskrit. Upªsaka, Ưu-bà-tắc, thanh tín nam, cận sự nam.

3 Giang Tả : Khu vực hạ lưu sông Trường giang, nay là tỉnh Giang Tô.  Người ta thường gọi Giang đông là Giang tả và Giang tây là Giang hữu

4 Ngũ Hồ loạn Hoa : Ngũ Hồ đại loạn Trung Hoa. Sai khi vua Võ Ðế nhà Tấn mất, chư Vương tranh quyền sát hại lẫn nhau, quốc nội bất an, thừa cơ năm chủng tộc Hồ: Hung Nô, Yết, Tiên Ti, Ðê, Khương, phân cứ Trung Nguyên, tương tục tiếm ngôi, chiến tranh không nghỉ.

5 Ðời vua Kiệt (1818-1766 tr.TL) là giai đoạn tàn bạo nhất trong lịch sử Trung Quốc.

6 Xem tấu văn cấm tư doanh Phật tự của Vương Trừng trong Thích Lão Chí của Nguỵ Thư. (cht. Tác giả)

7 Tượng dệt thành (chức thành ): Hình tượng Phật được thêu, dệt trên vải, gấm, làm bằng tơ, chỉ màu, châu ngọc... Hình tượng này từ Ấn Ðộ truyền vào Trung Quốc từ thời Tiền Tần Phù Kiên.

8 Bản gốc Lạc Dương Già Lam Ký rất nhiều, văn tự vả có thêm bớt. Ðoạn văn gốc này và cả về sau nữa đều liên hệ viện dẫn từ bản tổng hợp hiệu đính Lạc Dương Già Lam Ký, nhà Thương Vụ Ấn Thư Quán xuất bản tháng 9 năm 1955. (cht. Tac giả)

9 Cửa bên ngoài chùa gọi là “Tam môn”, bởi hình chế như cái cổng hai tầng; gọi là Tam môn (ba cửa) nhưng chỉ có một cửa. Lại nữa, về sau, phàm là chùa viện, ắt phải có núi rừng. Nhân đây một số người lại đem tam môn gọi là Sơn môn. (cht. Tác giả)

10 Nước Hòa-điền : Hay gọi là Vu-điền, Khê-đan (Skt. Ku-stana), một vương quốc thời xưa ở Tây Vực. Trước sau thế kỷ thứ ba TL, gọi là nước Cụ-tát-đát-na (dịch “đất sữa”). Người Ấn Ðộ thời ấy gọi là Khuất-đan. Nay là Hòa-điền (Khotan), vị trí phía Tây bộ Tân Cương.

11 Thời đại Bách Tế : Bách Tế là một đất nước xưa (18 trước TL - 663 sau TL) nằm phía Tây nam bán đảo Triều Tiên. Một trong các nước Mã Hàn (thời Hán, phía nam Triều Tiên có Thần Hàn: 12 nước, Biền Hàn: 12 nước, Mã Hàn: 54 nước) và lấy biển Bách Gia Tế đặt tên.

12 Thời đại Cao Cú Lệ : Cao Cú Lệ (Ly) là một dân tộc Ðông bắc cổ đại, thuộc hệ tộc Uế Mạch. Cuối đời Tây Hán dựng nước tại thành Tập An (tỉnh Cát Lâm ngày nay) thuộc quận Huyền Thố đời Hán. Năm 427 (Nam triều Tống, nguyên hiệu Nguyên Gia thứ 4) họ dời đô về Bình Nhưỡng, bán đảo Triều Tiên. Năm 560 (Nam triều Hậu Lương, niên hiệu Ðại Ðịnh thứ 6) họ xưng là Cao Ly.

13 Thời đại Phi Ðiểu : Từ  Khâm Minh Thiên Hoàng đến Văn Vũ Thiên Hoàng (540-707 T.L). Thời kỳ này Nhật Bản kiến đô ở vùng Phi Ðiểu đảo Ðại Hòa nên gọi thời đại Phi Ðiểu. Tại kinh đô này có bốn ngôi Ðại tự  trứ  danh: Ðại an tự hay gọi Ðại quan đại tự, Dược sư  tự, Nguyên hưng tư hay Phi điểu tự, Hoằng phước tự hay Xuyên nguyên tự, vì vậy gọi lối kiến trúc thời đại Phi Ðiểu.

14 Tạc Dung (?-195) tự Vĩ Minh, người Ðơn Dương (An Huy), cuối đời Hán. Căn cứ Tam quốc chí, Ngô chí q 4, Lưu Do truyện ghi, ông làm Ðốc quản vận lương 3 quận: Quảng Lăng, Hạ Bi, Bành Thành, là người sùng tín Phật giáo nên toàn quyền dùng lương 3 quận, đại khởi công xây dựng chùa chiền, lầu các, lấy đồng đúc tượng Phật, dát vàng bên ngoài, tập hội chúng tụng kinh niệm Phật...

15 Trắc cước (chân nghiêng): Là thuật ngữ kiến trúc Trung Quốc. Lối kiến trúc này là những trụ cột không thẳng góc với mặt đất. Ðầu cột hơi hướng vào trong, góc trụ chếch ra ngoài một tí. (cht. Tg)

16 Cỏ nhẫn đông Ơĩ: Tên khoa học, Lonicera japonica; E. honeysuckle. Loại cây leo thân có nước, lá hình trứng, hoa màu vàng hay hồng, có hương ngọt. Trong mùa đông băng tuyết cây vẫn sống không khô nên gọi nhẫn đông, hoặc gọi cây Kim ngân.

17 Ðặc trưng của tháp chạm nổi trong hang đá Vân Cương thấy rõ ở bài “Kiến trúc Bắc Ngụy biểu hiện trong hang đá Vân Cương” của Lâm Huy AÂm, Lương Tư Thành, Lưu Ðôn Trinh, đăng trong hợp san kỳ bốn (bản in tổng hợp) của quyển ba kỳ bốn “Trung Quốc Doanh Tạo Học Xả Vựng San”. (cht. Tác giả) 

18 Phương  trượng : Mười thước vuông.

19 Ðất Thó trắng (Bạch ácỵ, E. chalk): Ðá phấn trắng, một loại đá mềm dùng để nung vôi, hoặc làm phấn viết.

20 Tướng luân Vầng lọng trên đỉnh tháp. Thông thường vầng lọng có chín tầng gọi là Cửu luân. Trong kinh luật gọi Luân tướng, Tướng luân, Kim sát , Lộ bàn ... Ký qui truyện, q.4:“Làm đáy to như hạt thóc, trên đặt Luân tướng, thân như cây kim”. 

21 Thừa lộ kim bàn Ĩ: Hay gọi lộ bàn, là những lớp hình vòng tròn trên đỉnh tháp. Tịch chiếu đường cốc hưởng tập, q. 1:“Từng lớp từng lớp vòng tròn gọi là Thừa lộ bàn”. Cao Tăng truyện: “Thừa lộ kim bàn cao 111 tầng”. 

22 Vào năm Tiền Tần niện hiệu Hoàng Thủy nguyên niên, ngài Tăng Lãng Ơđến đây khai sáng (351), đặt tên Lãng Ông Cốc Sơn tự, đến đời nhà Tuỳ đổi Thần Thông tự.

23 Tháp bốn cửa của chùa Thần Thông, trong quá khứ Quan Dã Trinh, người Nhật, gọi là hệ kiến trúc từ năm Võ Ðịnh thứ hai đời Ðông Ngụy. Trong “Kiến Trúc Tổ Quốc” của Lương Tư Thành cũng nói là Ðông Ngụy. Ấy là căn cứ theo lời nhận định bên dưới tượng của Dương Hiển Thúc tạo vào năm Võ Ðịnh thứ hai đời Ðông Ngụy. Nhưng  thật bên trong tháp, Dương Hiển Thúc tạo tượng chỉ ghi: “Kính tạo tượng đá bốn nơi”. Nhân đây việc tạo tượng bên trong tháp có thể chứng minh là năm Võ Ðịnh thứ hai đời Ðông Ngụy đã có tháp rồi. Do đó niên đại xây dựng tháp nhất định phải ở trước năm Võ Ðịnh thứ  hai đời Ðông Ngụy. (cht. Tác giả)

 

---o0o---

[Mục Lục] [01] [02] [03] [04] [05] [06] [07] [08] [09] [10]

 

[11] [12] [13] [14] [15] [16] [17] [18] [19] [20]

 

---o0o---

Trình bày: Nhị Tường

Cập nhật: 01- 4 -2004

 

Webmaster:quangduc@quangduc.com

Trở về Thư Mục Thánh Tích

Đầu trang

 

Biên tập nội dung: Tỳ kheo Thích Nguyên Tạng
Xin gởi bài mới và ý kiến đóng góp đến ban biên tập qua địa chỉ:
quangduc@tpg.com.au