Pháp Tạng 79
PL.
2547 - 2003
Lịch Sử Chùa Tháp Trung Quốc
Chủ biên:
Trương Mạn
Ðào
Việt dịch:
Tuệ Khai cư sĩ
Hiệu đính:
Thích Ðỗng Minh
Chú thích:
Thích Tâm Nhãn
---o0o---
KHẢO XÉT CHÙA KHAI NGUYÊN
Ở QUẾ LÂM
Nguyên tác:
Trần Chí Lương
Việt dịch:
Tuệ Khai Cư
Sĩ
I. HIỆN TRẠNG NGÔI CHÙA:
Xem xét ngôi
cổ tự Khai Nguyên hiện ở tại đường Văn Ngoại bên ngoài cửa Văn
Xương của Quế Lâm. Ra khỏi cửa Văn Xương, liền thấy một ngôi tháp đẹp cao
chót vót, vươn lên trong đám cây cối xanh biếc bên kia sông, cùng với mây
trời thấp thoáng ẩn hiện. Ðó là tháp Xá-lợi trong chùa. Chùa có năm tấn
(tấn - chỗ chia giới hạn trong một khối có nhiều nhà). Tấn thứ
hai, thứ ba của chùa đã bị phi cơ Nhật oanh tạc cháy rụi. Tấn đầu là điện
Di Lặc, hiện đang thờ cúng các hình dáng tượng cốt. Tấn thứ tư làm lễ
đường của viện Bảo Dục (giữ dạy trẻ) và lấy tấn thứ năm làm nhà ăn
cho viện, vì bên phải chùa là nền viện của viện Nhi Ðồng Bảo Dục (một
bộ phận nhà cửa trong viện, là tài sản của chùa). Một nơi lá bối, đèn
xanh (ý nói kinh kệ đèn hương), chỗ tu học mà biến thành chốn đờn
ca ồn ào nuôi dạy trẻ vậy!
Tai ách đầu
tiên của ngôi chùa này là ở trong giai đoạn phá trừ mê tín, tai ách thứ
hai là ở thời gian oanh tạc của phi cơ Nhật nên những cổ vật hỏng hết
không còn. Hiện tại cái còn lại chỉ là tháp Xá-lợi, tháp mộ (tháp mai táng
sư tịch), bia Kinh Kim Cương đời Ngũ Ðại, hộp đá Xá-lợi đời Minh, bia khắc
tượng vẽ của đức Phật Thích Ca và ba vị thánh Quan Âm Ðại Sĩ, Văn Thù, Phổ
Hiền đời Minh, cộng với bia đời Thanh ở vài địa phương mà thôi. May mắn có
những di tích ấy, nên quá khứ của chùa Khai Nguyên được thấy một hai điều
chẳng khó lắm.
II. SỰ BIẾN ÐỔI CỦA DANH XƯNG:
Về thời đại
bắt đầu khai sáng chùa Khai Nguyên có hai thuyết: một là đời Tùy, hai là
đời Ngũ Ðại (Xem bia Minh Từ Hoài, trùng tu Ninh Thọ Tự). Nhưng năm
Hiển Khánh thứ hai đời Ðường (năm 657 TL) đã có sách Trử Hà Nam, bia Kinh
Kim Cương, Quế Lâm Phong Thổ Ký của Mạc Hưu Phù đời Ðường niên hiệu Quang
Hóa (sách viết vào năm 899 TL) đã có ghi chép, thì chùa ấy khai sáng vào
đời Tùy là đúng. Do thời kỳ lần lượt đổi thay, chùa có lúc hưng, lúc phế
nên danh xưng của ngôi chùa ấy cũng luôn biến đổi. Sự biến đổi ấy có thể
được trình bày như sau:
1. Ðời Tùy
tên chùa là Khai Nguyên, căn cứ vào Quế Lâm Phong Thổ Ký, Lý Nhan Chí, bia
Càn Long trùng tu Vạn Thọ Tự.
2. Ðời Ðường
tên chùa là Thiện Hưng, căn cứ vào bài ký hộp đựng Xá-lợi đời Ðường Hiển
Khánh, bia trùng tu chùa Vạn Thọ đổi làm “Thiện Hưng Tự”.
3. Ðời Tống
tên chùa là Ninh Thọ Tự. Minh Từ Hoài có bia Trùng Tu Ninh Thọ Tự (như
trên), hộp đá đựng Xá-lợi hiện còn có bài minh Ninh Thọ Tự trùng kiến
Xá-lợi Tháp.
4. Ðời Tống
tên chùa là Vĩnh Ninh Tự, xem Nhất Thống Chí.
5. Ðời Nguyên
tên chùa là Viên Giác Tự, căn cứ vào bia Trùng Tu Ninh Thọ Tự của Minh Từ
Hoài và Nhất Thống Chí.
6. Ðời Minh
tên chùa là Ninh Thọ Tự. Năm Càn Long năm mươi bảy, trong bia trùng Tu Vạn
Thọ Tự của Tra Thuần có nói rằng: “Năm Hồng Võ thứ hai, chùa bị cháy tiêu,
đến năm thứ mười sáu kiến tạo lại gọi là Vạn Thọ Tự”. Chỉ căn cứ vào bia
văn của Từ Hoài vào năm Gia Tĩnh thứ hai, ghi là Ninh Thọ Tự và bài minh
Trùng Kiến Xá-lợi Tháp cũng ghi là Ninh Thọ Tự, thì văn bia của Tra Thuần
có lẽ lầm.
7. Ðời Thanh
tên chùa là Vạn Thọ Tự. Căn cứ vào bi ký của đời Thanh và sách ghi chép mà
luận, thì từ sau năm Thuận Trị thứ mười sáu, Tuyến Quốc An trùng tu, chùa
đổi tên là Vạn Thọ Tự.
8. Hiện nay
chùa tên là Khai Nguyên Tự. Từ đời Dân Quốc đến nay lại xưng theo tên xưa,
nên ngày nay trên ngạch ngang của sơn môn còn đề “Khai Nguyên Cổ Sát
”.
III. SỰ PHẾ HƯNG NGÔI CỔ TỰ.
Sự phế, hưng
của ngôi chùa, trước đời Tống, đời Minh đã không tra xét được, bia của Từ
Hoài thì ghi rằng: “...gọi là Ninh Thọ, khảo xét ở tỉnh Chí thì tên cũ là
Khai Nguyên, nhà Tống đổi ra tên như hiện nay, vua Thuận Ðế nhà Nguyên
từng viết ban cho hai chữ lớn “Viên Giác”. Tra Thuần chỉ ghi rằng: “...đời Tùy,
mới tạo dựng lên gọi là Khai Nguyên Tự, ở đời Ðường gọi là Thiện Hưng Tự,
đời Tống gọi là Ninh Thọ Tự, đến năm Hồng Võ thứ hai bị cháy rụi...”. Sách
Quang Tự Lâm Quế Huyện Chí cũng đồng với thuyết này. Nhưng sau đời Chu
Minh Hồng Võ thì việc trùng tu chùa, tháp, điện, nhà cửa của ngôi chùa ấy
đều còn có “bia”, “minh” lưu lại, có thể khảo xét được, như sau đây:
1. Năm Hồng
Võ thứ mười tám đời Minh (năm 1385 TL) trùng tu tháp Xá-lợi, có bài minh
khắc ở trên hộp đá đựng Xá-lợi, mới gần đây tôi đã phát hiện, chữ khắc lớn
cỡ năm phân, văn mộc mạc, văn có hơi giống văn đời Lục Triều.
Bài văn ấy như sau:
Bài Minh
“Ninh Thọ Tự Trùng Kiến Xá-lợi Tháp”:
“Vào năm Hồng
Võ thứ mười sáu, nhằm ngày mùng tám tháng tư năm Quý Hợi, bổn tự thỉnh
quan ty Quảng Tây Ðô chỉ sứ, quan ty Thừa Tuyên, Bố Chính .v.v... của tỉnh
Quảng Tây cùng các quan viên, chư sơn tăng làm lễ khai phát. Năm (Hồng Võ)
thứ mười bảy, nhằm ngày hai mươi bảy tháng tư, khởi tạo việc trùng hưng,
đến năm (Hồng Võ) thứ mười tám, nhằm ngày mùng tám tháng mười hai thì hoàn
tất yêu ổn.
Xá-lợi của
Phật đếm ra hơn hai mươi viên, vĩnh viễn cung phụng ở bản tự, khắp vì tín
chúng bỏ ra của cải gieo rải phước điền, bồi thêm thiện quả, nhân công đức
chẳng mờ.
Kính
cẩn ghi.
Phụ
trách công việc tu sửa: phó Ðô Cương Mân Ðức
Trụ
trì đương đại: Ðô Cương Duy Nhân.
Căn cứ lời
ghi ở bia của Tra Thuần và sách Quế Lâm Huyện Chí thì đều cho là trùng tu
năm Hồng Võ thứ mười sáu nhưng bài minh này chưa đề cập đến chắc là tỉnh
lược, bởi trước tu sửa chùa, sau mới chỉnh trang tháp vậy.
2. Năm Gia
Tỉnh thứ hai đời Minh (năm 1523 TL), trùng tu chùa một lần nữa, Từ Hoài có
bài văn bia trùng tu Ninh Thọ Tự, bắt đầu vào năm Chính Ðức thứ mười sáu
(năm 1521 TL), hoàn thành vào năm Gia Tỉnh thứ hai, trong sách Huyện Chí
cho là trùng tu năm Chính Ðức thứ mười sáu, tức là chỗ này. Bài văn bia ấy
như sau (bài văn chép ở Huyện Chí, kim Thạch Chí):
Văn bia Trùng
Tu Ninh Thọ Tự từ Ðời Minh:
"Vùng đất ven
đông nam thành Quế Lâm có một khu cổ sát (chùa xưa) gọi là Ninh Thọ, xét
xem sách Tỉnh Chí thì tên xưa là Khai Nguyên, vua Thuận Ðế nhà Nguyên từng
ban cho hai chữ lớn là Viên Giác. Hoặc lại nói rằng: Thời Ngũ Ðại Vương Ân
đã kiến lập. Về sau chùa hưng, phế không thường, từ đó đến nay không có gì
để khảo chứng. Qui mô cao phẳng rộng rãi, mái điện sơn phết kỹ càng. Tuy
là chỗ thờ cúng Phù-đồ nhưng từ khi vào nước ta, hằng năm phàm gặp lễ tết,
lệnh vua thì từ quan Trấn, Tuần, Phiên, Cảo...
cho đến quan lớn nhỏ tung hô chúc mừng, diễn tập lễ nghi, thật ra chỉ ở
đất ấy. Chẳng phải đất ấy mà đạo tràng Kỳ Viên có thể sánh. Năm Tân Tỵ
Chánh Ðức, ngày càng đổ nát, người qua lại than thở, vừa lúc Quốc mẫu Tỉnh
Giang của ta sai sứ kỳ đảo, nhân nghe xong việc ấy mới bảo với quốc vương
xuất trong kho ngần ấy bạch kim. Quan kim nội là Văn Cư Chất, quán xuyến
việc sửa sang ngôi chùa đó. Cư Chất kính cẩn phụng mạng, không giám xao
nhãng, định liệu thợ, chọn lựa gỗ, nung gạch, làm ngói, chỗ tróc thì đắp
lại, nơi nghiêng thì sửa cho chính, chỗ sụt lở thì xây lại, tường đỏ bốn
bên, vách vàng sáng rực, mái điện, hành lang, phòng.... sáng ngời rực rỡ,
cảnh xưa đã đổi. Việc tu sửa bắt đầu ngày mùng bảy tháng bảy năm Chính Ðức
thứ mười sáu, lạc thành vào ngày mùng ba tháng tư nhuần, năm Gia Tỉnh thứ
hai. Làm việc này, của cải của mọi người chẳng hao tốn, sức lực chẳng lao
nhọc dân chúng, mà bỗng nhiên xong việc. Giao cho tôi ghi lại việc đó. Tôi
nghĩ giáo lý của “Phù-đồ Tự Thị” (ý nói giáo lý của đạo Phật) từ
Hán Minh Ðế rước vào Trung Quốc đến nay không biến đổi, như thuyết luân
hồi quả báo kia đủ mở mắt hạng hạ ngu, còn lý luận của “minh tâm kiến
tánh” (sáng lòng thấy tánh) cũng dễ cảm hóa bậc thượng trí, chắc
chắn chẳng là lời biện luận của kẻû nhàn hạ vậy! Riêng một vùng đất ấy là
nơi tế cáo trời đất, chúc thọ. Tại Bắc đô có chùa Khánh Thọ, tại Nam đô có
chùa Báo Ân, tại các phiên trấn bên ngoài cũng không nơi nào chẳng có được
chỗ như vậy. Ðây là định chế của đất nước ta. Nay tu sửa chùa này đồ sộ
tráng lệ, từ đây về sau, phàm có việc chúc mừng mà kêu gọi thì như lời
truyền lớn, tấu nhạc thì như nhạc tiên, phượng trải hạc đậu, khả dĩ bày
lòng thành của thần tử bái phụng; người xem, người nghe khả dĩ biết phân
biệt mũ vua, giầy tôi mà phát hưng khởi. Chẳng cũng hưng thịnh thay! Vậy
nên tôi chẳng từ chối mà làm bài ký, cho khắc những lời tinh thành vào đá
mân (một loại đá tốt), sáng tỏ mãi mãi vĩnh cữu)!”
Việc Trùng
kiến trong thời gian Hồng Võ Nguyên là phối hợp quan với dân cùng làm, còn
thời Gia Tỉnh thì riêng một mình quan địa phương tu sửa. Cơ sở ngôi chùa
quả thật đặt để ở đây.
3. Năm Thuận
Trị mười sáu (Huyện Chí ghi là năm thứ mười lăm), Tuyến Quốc An trùng tu.
4. Năm Càn
Long thứ năm mươi (1785 TL) tín đồ cải dời tượng Ðức Phật Vô Lượng Thọ ở
trong điện Vi Ðà, làm riêng năm gian phòng nhỏ, lấy thuế ruộng làm lời để
làm nhu cầu về hương hoa, lễ lạc, còn có một bia “hoa danh” về các khoản
quyên góp hiện ở vách bên trái của tấn thứ tư. Phần trước bia ấy có lời
văn giải trình, trích lục như sau để làm chứng:
“Cơ duyên hội
ngộ bên trong ngôi thiền lâm Vạn thọ ở ngoài tường cửa Văn Xương, trước là
thiện nam tín nữ phát nguyện lạc quyên. Nguyên ở sau điện của Ðức Ðại Từ
Bi đại sĩ, phụng cúng tượng Phật Vô Luợng Thọ (A Di Ðà). Ðể hợp với sự
cung kính của hương hoa thắng hội, khiến cho trai, gái, mười phương được
chiêm ngưỡng, bày tỏ chút long thành kính. Khách hàng năm thiện nam tín nữ
đều vân tập. Vì khánh tòa hướng về Bắc, sợ khi gió táp mưa sa dễ nghiêng
đổ. Do đó, chung nhau bàn bạc cải dời, đều nguyện lạc thành, quyên góp
được bốn mươi mốt nghìn bảy trăm bốn mươi tám đồng. Chọn ngày hai mươi bảy
tháng ba năm Giáp Thìn, thỉnh tượng thánh ở trong điện Vi Ðà, rồi lấy vật
liệu, tuyển chọn đất trống cạnh chung quanh lầu mà xây dựng năm gian phòng
nhỏ. Lấy thuế ruộng làm ra lời, mỗi tháng thu lấy tiền lãi của thuế giao
cho người đứng đầu hội trong năm, luân phiên quản lý chi dùng nhu cầu tổ
chức hội lễ, để khi đến kỳ lễ không bị bó tay, ngõ hầu thắng hội được vĩnh
viễn mà các con cháu của thiện nam tín nữ được chút lòng thành kính..."
(Từ đây
trở xuống là danh tính của người quyên góp)...
Ngày mùng bảy
tháng hai, năm Càn Long thứ năm mươi.
5. Năm Càn
Long thứ năm mươi bảy (1792 TL), Lâm Xuyên Lý Nghi Dân trùng tu, Tra Thuần
có bài văn khắc vào bia ở tại vách bên trái tấn thứ hai, nhà bị hủy nhưng
bia còn, chữ lớn hai tấc hoàn hảo như mới. Bài văn ấy như sau:
Bia trùng tu
Vạn Thọ Tự:
"Các chùa ở
Quế Lâm, ngôi chùa xưa nhất là chùa Vạn Thọ. Chùa ở bên ngoài cửa Văn
Xương, xây dựng đầu tiên vào đời Tùy gọi là Khai Nguyên Tự, ở đời Ðường
gọi là Thiện Hưng Tự, đời Tống gọi là Ninh Thọ Tự, năm Hồng Võ thứ hai bị
cháy mất, năm thứ 16 mới xây dựng lại gọi là Vạn Thọ Tự".
Quốc triều
tam đẳng Bá Tuyến Quốc An, năm Thuận Trị thứ mười sáu, đi tuần thú vỗ yên
dân ở Quảng Tây đã trùng tu ngôi chùa đó. Có bia cất Xá-lợi, năm thứ hai
Hiển Khánh đời Ðường, bia kinh Kim Cương của Trử Toại Lương là tối cổ vậy.
Lâu năm chùa đổ nát dần, thành rừng rậm, bãi tha ma, tiều phu, mục đồng
thỉnh thoảng tập trung lại ở. Mùa hạ năm Tân Hợi, triều đại Càn Long, Ðại
Sĩ phu ở Quế Lâm tính sửa chùa lại, Lý Phong Ông Nghi Dân ở Lâm Xuyên, đem
trăm vạn tiền trợ giúp mà hoàn thành. Ðến mùa xuân năm Nhâm Tý, ngôi chùa
trở nên sạch đẹp, cổng chùa tô điểm rõ ràng, phục hồi cảnh quan xưa của
đời Tùy, đời Ðường. Bên cạnh chùa dựng nhà ngần ấy gian để che chở những
áo quan vô chủ chưa chôn, theo lời mời của Tăng Tích Khánh vậy. Tôi đến
Quế Lâm đã sáu năm! Chúc mừng! Toàn thể nhà, thành, công sở mừng được
chỉnh đốn sửa sang, việc tu sửa chùa ấy được hoàn thành là hợp với chí
mình. Nhân vì việc đó mà khi trở lại buộc phải dùng lời khắc ghi, khắc ghi
rằng:
"Chỉ có họ
Ðại Hùng đủ vô lượng thọ, những nhà phước mới ở các ngôi (cổ sát) “chùa
xưa” qua đời Minh, vượt qua đời Tống, hoàn chỉnh hơn đời Tùy thuở xưa.
Cuộc bố thí lớn đời Ðường che trùm hết thị tộc, ngọc Xá-lợi chiếu sáng
mãi, bia kinh Kim Cương chẳng hoại, bia tốt đứng cao, pháp luân là thần hộ
trì”.
6. Bia của
chùa ghi rằng: “Bên cạnh chùa dựng nhà ngần ấy gian để che chở những áo
quan vô chủ chưa chôn” thì có thể thấy, bên cạnh chùa mồ hoang xen
lẫn, quàng nhiều xác chết theo giường, nên vào năm Gia Khánh thứ mươì lăm
(1810 TL) một lần nữa cho chôn cất, điện chùa lại cho tu bổ, có khắc văn
bia, hiện hữu ở vách phải của tấn thứ tư:
“Tượng nghe,
linh đài chôn hài cốt, mãi sáng tỏ ân nhuần Tây Bá, quan hiệu úy chôn cất,
truyền lâu đức nhân ái đời Ðông Hán, thấy cô hồn lớp lớp,
khóc dứt đàn tràng, xem xương trắng
thương thương, lộ bày bờ ruộng, động lòng trắc ẩn, xúc cảnh sanh
buồn, thương xót trong lòng, tùy lúc ban ơn. Do đó chúng làm xong việc
nghĩa, cảm động duyên lành. Ngay ở thành bắc thành nam yên vui nơi chùa
núi cổ Vạn Thọ hưởng đường (nhà cúng người chết ở chùa Vạn Thọ),
những linh thân (linh quan: hòm chôn người chết) vô chủ lâu năm
khiến cho chốn dạ đài có giường yên nghỉ, chôn tấm thân tàn không nguyên
vẹn (bị trùng ăn, trắc lở) bên đường, khiến cho loài súc vật không
quấy nhiễu dẫm đạp. Ước tính việc an táng sửa sang này chẳng dưới hai mươi
ngôi mộ, đều do số vàng còn thừa của chi phí tu bổ hai điện trước của
chùa. Ðây xin nêu lên việc đất mộ.
Thái phu nhân
họ Tiền ưa việc thiện, thích bố thí, rủ ban ân đức này là bất hũ vậy".
Chu Tử Duy
Thành đề xướng chọn giao phụ trách hoàn thành việc ấy cho Thang Tư Nhân
Tôn, đó là lời ký.
Tháng sáu năm
thứ mười lăm một buổi sớm yên lành.
7. Ðời Thanh
xưng là Vạn Thọ Tự, quả thật thờ cúng đức Vô Lượng Thọ Phật, năm Ðạo Quang
thứ mười bảy (1837 TL), lại đem tượng Phật ra chỉnh trang tu sửa
một lần nữa, khắc một văn bia nêu danh tánh người có bỏ ra của cải, hiện
còn ở vách trái của tấm thứ tư. Trước danh tánh có một đoạn giải bày, cũng
có thể tham khảo được, trích lục đoạn ấy như sau:
Lời tựa của
việc chỉnh trang tu sửa tượng Phật:
"Vô Lượng Thọ
Phật là nước thọ, dân thọ đó vậy. Sĩ dân thờ cúng.
Tượng thánh
theo đất mà có, thật ra là do sùng kính đạo đức vậy. Chùa Vạn Thọ của ta
người đời trước lập, đã có kim thân Ðức Phật, lâu năm chưa chỉnh trang tu
sửa, dung nghi chẳng hoàn bị. Năm rồi,
Ðình Trường Minh cùng nhiều người thương nghị, ý muốn làm mới tượng
đó lại: nghe biết các quan vui mừng mà lạc trợ (vui vẻ giúp đỡ) nay
đã báo cáo xong việc, thân người đều hớn hở. Lý phải khắc đá ghi việc đó,
còn mãi chẳng mục nát, phước tự thành quả” (dưới là danh tánh khoản
quyên góp).
Lập ngày mùng
tám tháng tư năm Ðinh Dậu, năm Ðạo Quang thứ mười bảy.
8. Năm Ðồng
Trị thứ năm (1866 TL), làm mới tháp Xá-lợi một lần nữa, cũng là do tôi mới
phát hiện gần đây. Bài ấy có ghi việc bài ký hộp đựng Xá-lợi bị Lương Chỉ
Lâm mang đi, càng thêm có giá trị. Bài văn ấy như sau:
"Mùa đông năm
Ðồng Trị thứ tư, nhà Ðại Thanh cho thợ tu sửa làm cầu xong thì làm mới
ngôi tháp này một lần nữa. Tháp xưa chứa Xá-lợi, tương truyền vì sách Trữ
Hà Nam, trong năm Ðạo Quang, Trung Thừa Lương Chỉ Lâm mang đi; riêng bản
chép lại còn lưu, chi tiết còn ghi ở lầu trống đồng (đồng cổ lâu),
trong tháp chỉ có cái hộp rỗng vậy! Người hiếu cổ nhất định do chẳng thấy
bản chân thật làm hận lắm vậy! (Tôi) liền than vài lời để cảnh báo cho đời
sau. Việc này để đề cử Hàm hầu tuyển phủ kinh lịch Mạc Kỳ Chi chịu trách
nhiệm đôn đốc hoàn thành, tận tâm tính toán tìm nguồn tài chánh, phí tổn
hơn hai nghìn quan tiền".
9. Năm Quang
Tự thứ ba (1877 TL), một lần nữa chỉnh trang điện thờ Phật, có một tấm bia
ghi tên họ những người quyên góp, khắc ở vách phải của tấm thứ tư.
10. Năm Quang Tự thứ
mười hai (1886 TL), một lần nữ tu sửa, Xem Lâm Quế Huyện Chí.
IV. CỔ VẬT TRONG CHÙA.
Chùa Khai
Nguyên khởi lập đầu tiên ở đời Tùy, hưng phát ở đời Ðường, thịnh đạt ở đời
Tống, phục hưng ở đời Minh, trải thời gian đã lâu, cổ tích, cổ vật nhất
định nhiều, nhưng lần lượt trải qua biến loạn, dâu biển thường thấy. Những
cổ vật ấy được lưu truyền ít ỏi không bao nhiêu. Những chứng cứ có thể
khảo sát được ghi như sau:
1. Kinh Kim Cương của sách Trử Hà Nam
Sách Quế Lâm
phong thổ ký của Mạc Hưu Phù đời Ðường ghi rằng:
“Năm Hiển
Khánh thứ hai (đời Ðường), Trử Toại Lương bị gián chức, đưa về Quế Châu.
Ngày nay trước tháp Xá-lợi của chùa Khai Nguyên có Kinh Kim Cương tự tay
Trử Công viết”.
Ðây
nguyên là di vâït tối cổ của chùa Khai Nguyên, bia trùng tu Vạn Thọ Tự của
Tra Thuần đời Càn Long còn có ghi chép, nhưng bị Nghiêm Thành Thản vạt bỏ
đi (xóa bỏ). Căn cứ vào Lâm Quế Huyện Chí, Kim Vương Chí dẫn các bài chí
xưa có ghi rằng: “Bia này đến đời Càn Long vẫn còn, bị Lâm Quế Ðiển Sứ
Nghiêm Thành Thản vạt bỏ đi”.
Than ôi! Loại
vật tục hủy hoại văn hóa! Tự xưa đã thế, thật đáng lớn tiếng kêu than!
2. Bài ký hộp đựng Xá-lợi đời Ðường.
Lâm Quế Cựu
Chí ghi rằng:
“Bài ký về
hộp đựng Xá-lợi làm năm Hiển Khánh thứ tư đời Ðường (659 TL), xét cái hộp
này hiện tại trong chùa". Khoảng ấy
Huyện Chí còn có trước lục nguyên văn như sau:
“Năm Hiển
Khánh thứ hai, nhằm ngày mười ba (Ðinh Dậu), tháng mười một (Ất Dậu) năm
Ðinh Tỵ, chùa Hưng Thiện ở phía Nam thành Quế Lâm khai phát dựng bảy cấp
diệu tháp này, vươn cao mười trượng. Ðến năm Hiển Khánh thứ tư, nhằm ngày
mùng tám (Giáp Dần) tháng tư (Ðinh Mùi) năm Kỷ Mùi, an táng hai mươi hạt
Xá-lợi đức Phật về phía đông, cách đại điện hơn ba mươi bước. Xá-lợi cung
trí chùa, chung khắp pháp giới, tất cả loài hàm thức (chúng sanh), mãi mãi cúng dường
đầy đủ, nên lập lời minh khắc ghi”.
Bài ký này
hiện chẳng còn, đến cả tình hình cái hộp đá và dáng yếu ớt hay khỏe khoắn
của thể chữ, ghi chép rõ ràng, trong sách Quảng Tây Thông Chí. Văn ấy ghi
rằng:
"Hộp đá
Xá-lợi cao bảy tấc tám phân, chiều ngang chín tấc tám phân, bên trong rỗng
để đựng Xá-lợi, bốn mặt bên ngoài, một mặt khắc bài ký, ba mặt kia khắc
tượng Phật, ở tại chùa Vạn Thọ thuộc Lâm Quế. Theo Quế Lâm Phong Thổ Ký
thì vào năm Hiển Khánh thứ hai, Trử Toại Lương bị biếm đến Quế Châu, nay
trước tháp Xá-lợi của Khai Nguyên Tự (tức bây giờ là Vạn Thọ Tự) có Kinh
Kim Cương chính tay Trử Công chấp bút viết, hoặc ghi bài ký này cũng bút
tích của Trử Công, thì xét năm Hiển Khánh thứ hai Toại Lương bị biếm đến
Quế Châu lần nữa, mùa Ðông năm sau thì mất, đây chẳng phải sách của Trử
Công quá rõ. Nhưng thế bút yếu mạnh ngợi ca vui vẻ mà cũng là người
tự nói chính mình ở Hà Nam ư? Trong bài
ký khuyết ba chữ, hàng đầu một chữ là chữ Duy, liên hệ bên cạnh còn
có thể liệu biết được - Lâm Quế Huyện Chí, Kim Thạch Chí giống nhau".
Nhưng bia này
vào năm Tân Sửu, niên hiệu Ðạo Quang (1841 TL), bị Lương Chỉ Lâm mang đi,
riêng bản chép lại (bản giả) còn lưu, chi tiết còn ghi ở lầu Ðồng
Cổ (căn cứ bài ký của Vương Tường Ân). Nhưng lầu Ðồng cổ vào năm
Ðinh Mão, niên hiệu Ðồng Trị bị hỏa hoạn cháy rụi, (căn cứ vào Huyện
Chí) - tức là bản khắc lại - cũng chẳng thể được thấy vậy. Nhưng sách
Lâm Quế Huyện Chí thì ghi rằng:
“Năm Tân Sửu,
niên hiệu là Ðạo Quang, Lương Trung Thừa Chương Cự Di ở Phước Châu vào mô
phỏng chép lại ở lầu Ðồng cổ. Năm Ðinh Mão niên hiệu Ðồng Trị bị hỏa hoạn
cháy rụi”. Tợ hồ Lương Trung Thừa đem nguyên bia đá dời đặt chỗ khác.
Nhưng căn cứ vào ghi chép của Vương Thừa Ân vào năm Ðồng Trị thứ năm thì
Lương làm bản dập mô phỏng khắc vào lầu Ðồng cổ. Bài ký của Vương Thừa Ân
với bản mô phỏng riêng của Lương Trung Thừa cách nhau hai mươi lăm năm thì
dĩ nhiên thuyết của họ Vương là đúng. Nhân đó, bài ký này hoặc có khả năng
phát hiện lưu hành trùng lặp ở nơi khác.
3. Bia Kinh Kim Cương đời Ngũ Ðại.
Xem xét Lâm
Quế Huyện Chí, Kim Thạch Chí có ghi rằng:
“Toàn văn Kim
Cương Bát-nhã Ba La Mật, Tiết độ sứ quân đội Tỉnh giang, Tỉnh... Chế Thị
sứ .v.v... mở phủ nghi yên định ba ty, Kiểm sát thái... Trung thư lịnh
sứ... Các quân sự sử của Quế Châu, Thượng Trụ Quốc quận Phù Phong, ấp
Vương Thực năm ngàn hộ Mã Tung Kiên” (lược ba phần của sách).
Lại dẫn Thông
Chí rằng:
“Bia đá ở tại
chùa Vạn Thọ, huyện Lâm Quế. Xét mười nước Xuân thu: Tung là em của Võ Mục
Vương. Năm đầu Thiên Thành, Võ Mục vì kiến lập nước sở, đổi Tung làm Tỉnh
Giang Tiết Ðộ quan sát sứ, bia được khắc vào thời điểm này.
Cổ vật hiện
còn trong chùa, đầu tiên truy tìm bia này. Nguyên bia được trồng ở chỗ đầu
tiên bên phải của tấn thứ hai, sau khi phi cơ Nhật oanh tạc, nhà bị cháy
rụi, bia bị ngã, thoạt nhìn thấy sạt vỡ, có vẻ bị tàn khuyết, giả sử có
gắng sức làm lại cũng dẹp nó mà thôi! Xem xét đế bia đời Ðường (hai bài
tạo tượng ký của Tây Sơn, tuy có hơi hướm của đời Lục Triều mà không đích
xác nghe lại), vả khó phát hiện. Bia khác đời Ðường mới gần đây có
phát hiện, nhưng thiếu tác phẩm lớn trường thiên, mà bia khắc đời Ngũ Ðại
ở trong nước ít thấy. Bia này chế tác rất lớn, điêu khắc tinh mỹ, thư pháp
đẹp đẽ, đủ làm khí sắc sinh hoặt văn hóa của tỉnh Quế Lâm, đẹp ngang với
sách vở của nhóm Nguyên Hựu. Rất mong chính phủ cho bảo hộ khéo léo đừng
để bị hủy hoại. Ðây chẳng riêng là ánh sáng văn vật của Quảng Tây mà cũng
là điều may mắn của học thuật Trung Quốc vậy. Văn bia còn chưa rập in ra,
cái cũ còn chưa cấu thành, tạm thời khó mà nghiên cứu so sánh.
4. Tượng vẽ Thích Ca, Văn Thù, Phổ Hiền Xuất Sơn
Trước
tháp Xá-lợi trong chùa có bia đá, mặt trước bia vẽ tượng Thích Ca, Văn
Thù, Phổ Hiền Xuất Sơn do Chu Giác Bổn .v.v... thuộc đời Minh khắc vào bia
đá. Ðá ấy có đoạn văn ghi lời bạt, tham chiếu chép ra như sau:
Phụng,
Ðệ tử Ðức
Phật Chu Giác Bổn .v.v... phát tâm sai Lý Văn Khải vẽ tượng thánh Thích
Ca, Văn Thù, Phổ Hiền Xuất Sơn, kính cẩn khắc vào đá, nguyện chung với
nhân thiên pháp giới, mãi mãi cúng dường đầy đủ. Những mong công huân này,
trên báo đáp bốn ân, dưới tư cấp cho ba cõi. Thời Ðại Minh... Ngày- tháng
hoa cúc Trọng thu năm Canh Thìn.
Phụng,
Ðệ tử Chu Giác Bổn, họa sỹ Lý Văn Khải, thợ khắc giỏi Thái Tử Cương...
5. Tượng Khắc Quan Âm.
Riêng một mặt
Bắc của pháp là tượng vẽ đức Quan Âm, cũng là Chu Giác Bổn... phát nguyện,
Lý Văn Khải mô phỏng vẽ, Thái tử Cương khắc đá. Tượng này chỉ là bộ phận
đầu (của đức Quan Âm), ung dung trang nghiêm, biến hóa đa đoan,
nhân gian hiếm thấy. Bên dưới tượng có một bài văn viết lời bạt, nói rõ sự
thần kỳ của lai lịch tượng này và sự trải qua của Chu Giác Bổn khắc lại
tượng, rất rõ ràng. Niên đại của tượng này cùng với tượng Tam Thánh Xuất
Sơn đồng là Canh thìn... Ðại Minh. bên dưới hai chữ Ðại Minh bị người mài
mòn đi, chẳng thể biện xét biết được. Xét về năm Canh Thìn đời Minh thì có
năm Kiến Văn thứ hai, đời Huệ Ðế (1400 TL), năm Cảnh Thái thứ tư đời Cảnh
Tông (1460 TL), năm Chính Ðức thứ mười lăm đời Võ Tông (1520 TL), năm Vạn
Lịch thứ tám đời Thần Tông (1580 TL), năm Sùng Trinh thứ mười ba đời Tư
Tông (1640 TL), năm móc thời gian, rốt lại là chỉ năm nào, hiện khó mà
đoán định. Văn thời bạt ấy tham chiếu sao chép ra như sau:
“Thuở xưa,
khoảng năm Thái Hòa đời Văn Tông nhà Ðường, tín sĩ Vương Nhân ở kinh Ðô,
phụng:
Hết lòng tin
Phật, một ngày, có một vị tăng đến nhà
ông ấy nói rằng: “Ta khéo vẽ tượng Ðức Quan Âm, có thể bố trí một ngôi
nhà, suốt bảy ngày, chớ cho người xem”. Ông ấy tuân lời vị tăng
kia, nhưng vừa mới ba ngày, trẻ con không biết, khoét vách tranh nhau xem,
vị tăng liền biến mất, chỉ vẽ được thánh dung như thế, mới hiểu ra là Ðại
Sĩ hóa thân, tự tay vẽ ra vậy. Ðến đây, cho khắc bản gỗ lưu truyền ở đời.
Từ đời Ðường đến nay, năm tháng đổi thay, chẳng thể ghi hết được.
Tượng thánh
linh lạc ở nhân gian cũng là hãn hữu vậy! Nhờ thiện tín Chu Giác Bổn... ở
Quế Lâm tiếc dấu tích chân thật kia, lại sợ chẳng mãi lưu truyền mãi ở hậu
thế, sai họa sĩ Lý Văn Khải khôi phục lại Thánh dung, kính cẩn khắc vào đá
để được lưu truyền vĩnh viễn, công đức báo đáp khắp bốn ân, tu cấp đều ba
cõi, pháp giới chúng sanh thành Phật đạo vậy.
Phụng
ngày... tháng bảy năm Canh Thìn thời Ðại Minh.
Phật thiện
tín sĩ: Chu Giác Bổn...
Họa sĩ: Lý
Văn Khải.
Thợ khắc:
Thái Tử Cương...
Tại núi Long
Ẩn ở Quế Lâm cũng có tượng khắc Quán Âm Ðại Sĩ đồng dạng. Thời đại của
tượng ấy là tháng bảy năm Ất Tỵ, niên hiệu là Khang Hy nhà Ðại Thanh (1660
TL), nhân vật cùng động cơ khắc tượng ấy là “... Lỗ Quốc Tăng Tín Hiểu,
gác Bồ Ðề Vạn Tượng ở lầu Long Ẩn tại Quế
Lâm, ...gác ấy... có để lại Ðức Ðại Sĩ
đời Ðường..., ngơ ngác sợ dấu vết chẳng thể truyền...” .v.v... (xem lời
bạt về tượng Quan Âm núi Long Ẩn) xét kỹ vấn đề đó thì
hai tượng đồng một bản nào vậy? Nhưng tượng của chùa Khai Nguyên so ra còn
hoàn chỉnh, mà tượng của núi Long Ẩn thì nứt nẻ tróc lở, lời bạt lắm hồ đồ
chẳng rõ. Nguyên nhân ấy phải vì: một là tượng của chùa Khai Nguyên được
họa sĩ Lý Văn Khải vẽ trực tiếp lên đá, còn tượng của núi Long Ẩn dùng bản
rập lại mà khắc, hai là chùa Khai Nguyên để tượng trong nhà, chẳng trải
gió mưa xâm thực, còn tượng ở núi Long Ẩn chịu ít nước mưa thấm trôi, ba
là chùa Khai Nguyên ở chỗ hoang vu mà người không chú ý đến tượng nên ít
bị sờ mó phá phách. Còn tượng của núi Long Ẩn ở gần bia sách nhóm Nguyên
Hựu, trải qua nhiều sự sờ mó nên niên đại tuy gần mà hư hao nhiều lắm vậy!
6.
Tháp Xá-lợi:
Xét ra chùa
tháp tương quan liền lạc với nhau vì phát dương ánh sáng đạo Phật vậy.
Chùa hưng khởi ở đời Tùy mà tháp xây dựng vào năm Hiển Khánh thứ hai đời
Ðường, đến năm Hiển Khánh thứ tư thì an táng hai mươi hạt Xá-lợi Phật
(đều thấy trong bài ký hộp Xá-lợi). Năm Hồng Võ thứ hai, lúc lửa cháy
to tháp cũng bị cháy rụi, nên vào năm Hồng Võ thứ bảy trùng hưng tạo dựng,
đến sau ngày mùng tám tháng mười hai năm Ất Sữu, niên hiệu Hiển Khánh thứ
mười tám thì làm xong, an táng hơn hai mươi viên ngọc Xá-lợi (xem bìa
minh Ninh Thọ Tự Trùng Kiến Xá-lợi Tháp). Tháp ấy về sau đều có tu sửa
chỉnh lý, nên nhìn kỹ lớp bùn trát vách tu sửa tháp có đến ba bốn lớp, tức
là chỗ này. Bảo tháp trong chùa hiện tại cao lồng lộng, quả thật là di vật
của thờøi sơ minh vậy.
7. Hộp đá Xá-lợi:
Hộp
đá Xá-lợi xuất hiện vào năm Hiển Khánh đời Ðường, “bên ngoài bốn mặt thì
một khắc bài ký, ba mặt kia thì khắc tượng Phật”, đã bị Lương Chỉ Lâm mang
đi khoảng năm Hồng Võ, một lần nữa kiến lập Xá-lợi tháp, an táng riêng hơn
hai mươi hạt Xá-lợi Phật. Hộp đá kia còn bỏ trong tháp, thước tấc cao rộng
hộp ấy so với hộp dời Ðường là lớn hơn. Hai mặt khắc bài văn: một khắc bài
minh Ninh Thọ Tự Trùng Kiến Xá-lợi Tháp và một khắc bài ký của Vương Thừa
Ân vào năm Ðồng Trị thứ năm; hai mặt còn lại của hộp ấy khắc hoa văn mà
không có tượng Phật, có riêng một cái hộp bị che bọc bị bỏ bên ngoài tháp.
Tuy là vật của đời Minh nhưng cũng khá quý báu. Hộp này xem thường dễ lấy
mất, tuy tôi vừa mới phát hiện nhưng đã thỉnh nhờ sức của pháp sư Cự Tán
bảo tồn, không để cho dẫm lại vết xe đổ của bài ký đời Ðường.
V. CAO TĂNG CHÙA KHAI NGUYÊN
Danh tự và Cao Tăng soi sáng lẫn nhau, chùa Khai Nguyên đã là một rừng quế
của Tòng lâm, tự có Cao Tăng lĩnh tụ. Nhưng tôi mù mờ đối với sử tích Phật
giáo. Sự hiểu biết của tôi rất ít, chỉ ở trong Huyện Chí được thấy hai vị
tăng, Tế Hiểu, Thiện Tư của đời Tống. Huyện Chí ghi như sau:
Tế Hiểu: Tế Hiểu người Quế Châu, con họ Tiêu ở phương Bích
Lan, nương Hộ Tự xuất gia, thọ giới cụ túc, đi đó đây tham vấn, nương theo
Vân Phong Duyệt vài năm. Vân Phong Duyệt tạ thế, Tế Hiểu gặp được Dương
Thứ Công, cây kim hạt cải nương nhờ nhau, viết bài tựa cho “Vân Phong Lục”
lưu hành ở đời. Rồi trở về
Nam ở ẩn xưa, người
đạo kẻ tục đến tham yết thường có vài trăm người, kế nhiệm chùa Ninh Thọ,
qui củ phong thái lẫm liệt...
Thiện Tư:
Thiện Tư người Quế Châu, ở chùa Ninh Thọ, nghe đạo ở Bảo Phong, xiển dương
cõi Nam, hoằng pháp không xa gần đều lưu bố.
Ngày mùng
hai tháng mười một, năm Dân Quốc thứ hai mươi chín.
Viết tại
Xuyên Sơn - Quế Lâm
---o0o---
[Mục
Lục] [01] [02] [03] [04] [05] [06] [07] [08] [09] [10]
[11] [12] [13] [14] [15] [16] [17] [18] [19] [20]
---o0o---
Trình bày: Nhị Tường
Cập
nhật: 01- 4 -2004