KHI CHẾT KHÔNG MANG THEO ÐƯỢC GÌ
ÐOÀN VĂN THÔNG
Kính thưa quý vị độc giả
Cuốn Khi Chết Không mang theo được gì do
tảc giả Đoàn văn Thông biên soạn đã được đông đảo người đọc hoan nghênh. Số lượng 1000 cuốn không đủ để cung cấp đến nhiều người - Vì thế nhiều vị
độc giả đã yêu cầu in ấn thêm để phổ biến rộng rãi hơn. Do đó mới có lần
tái bản này với sự giúp đỡ của nhiều vị hảo tâm.
Đây là tập sách tuy mỏng nhưng cô đọng rất
nhiều vấn đề liên quan tới cuộc đời của mỗi người và mọi người. Nội dung
bao gồm vấn đề của sự sống và sự chết, về những việc làm, hành động hay ý
nghĩa của mọi người trong đời và những tác động, ảnh hưởng cũng như hậu
quả trong hiện tại hay ở tương lai.
Ngoài ra tập sách này còn trình bày một số
vấn đề liên quan tới những sự tụ tập của một vài vị chân sư, sự chuyển đổi
của trường Khí vũ trụ ảnh hưởng đến vận mệnh thế giới, thuyết Cửu tinh lên
châu, các thảm họa trên quả đất và vấn đề điềm triệu trong dân gian.
Kính thưa quý vị độc giả,
Nhà xuất bản Thế giới Mới chúng tôi tính
tới nay đả xuất bản được rất nhiều đầu gách của tác giả Đoàn văn Thông -
nguyên là Giảng viên Đại học Khoa học Huế và Đại học Duyên Hải Nha trang
về môn Sinh vật học Biology). Sách do ông Đoàn văn Thông biên soạn bao
gồm nhiều đề tài từ khoa học cho đến vấn đề Tâm linh, Đặc biệt nhất là
nhiều sách viết về vấn đề Tâm linh kỳ bí phát hành, phổ biến rộng rãi tới
các tiểu bang Mỹ quốc có người Việt đã được đông đảo độc giả tìm đọc. Trong chiều hướng đó lần xuất bản này - tập sách nhan đề “Khi Chết không
mang theo được gi” của soạn giả Ðoàn văn Thông ra mắt quý bạn đọc.
Nhà xuất bản xin trân trọng giới thiệu đến
quý vị
NHÀ XUẤT BẢN HẢI NGOẠI 2004
“Tất cả lúa, đậu,
tài sản, vàng bạc châu báu, tiền của, mọi vật sở hửu đều để lại hết khi
người chủ của các thứ ấy chết đi. Người đó không mang theo
được bất cứ thứ gì dù lúc còn sống
người ấy ôm giữ từng giờ từng phút. Chỉ có cái đi theo người ấy lúc chết,
đó là Thân, Khẩu, Ý và những gì người ấy đã làm lúc sống. Tất cả những
thứ ấy đi theo để tạo Nghiệp báo cho đời sau mà thôi. Biết được vậy thì
khi sống ta phải tạo việc lành, phải biết bố thí giúp người...” (Tương Ưng Bộ Kinh)
Bà Dianne Perry, sinh
trưởng tại Anh quốc (người mà sau này trở thành Nữ tu Phật giáo nổi tiếng
thế giới, người đã trải qua 12 năm tu khổ hạnh nơi rặng tuyết sơn của
Hymalaya) lúc mới 12 tuổi đã có lần thấy một người vô gia cư chết bên gầm
cầu. Cảnh sát lục lọi cái xách rách nát của người chết ấy chỉ thấy một cái
bát một cái muống và vài đồng xu. Hôm đó trở về nhà, tuy nhỏ tuổi mà cô
bé Diane Perry đã hỏi mẹ một câu đầy vẻ triết lý:
“Mẹ ơi! Tại sao người
ta chết đi không đem theo được gì cả? Hôm qua con thấy một người chết bên
gầm cầu, người ấy rất nghèo, chỉ có cái bát, cái muống và mấy đồng xu. Chỉ chừng ấy thôi mà khi chết người ấy vẫn để lại không mang theo sao?”
Bà mẹ của Diane ngạc
nhiên vì câu hỏi lạ lùng ấy và đã trả lời con:
“Không con à! Khi
chết không ai đem theo được bất cứ cái gì. Dù Vua chúa, người giàu sang
hay kẻ nghèo hèn... một khi đã chết thì không đem theo của cải vật chất
nào cả.”
Qua câu chuyện trên
ta thấy rõ ràng trong thực tế có vô số người giàu có sống trên của cải
nhưng khi họ chết đi, hai tay buông xuôi thì họ trở thành tay trắng vì
không mang theo được dù một chút của cải vật chất nào. Sự kiện thực tế ấy
từ lúc con người xuất hiện trên quả đất cho đến nay đều thấy rõ không ai
chối cải. Ấy vậy mà từ xưa tới nay có biết bao người quyết chí làm giàu,
lúc nào cũng mong tiền bạc đến với mình không dứt. Họ sống vì tiền, vui
thú vì lo thu nhặt tiền bạc vào cho đầy túi nhưng không bao giờ chấm dứt
được cái ham muốn ấy vì lòng tham quá mức. Đến khi xuôi tay thì tất cả
tiền bạc của cải ấy đều để lại thế gian còn họ thì nằm dưới lòng đất
lạnh. Có biết bao nhà triệu phú, tỷ phú sống trên của cải, có người hằng
chục tỷ mỹ Kim, khi chết không mang theo được một cent nhỏ. Ngay khi đang
làm giàu họ luôn luôn phải phấn đấu tranh dành, mưu lược để chống chọi lại
với những gì bất lợi đến với mình. Do đó tâm hồn những người giàu có
thường bất an hồi hộp, lo lắng mệt trí vì tính toán... không những thế họ
thường keo kiệt không dám giúp đỡ ai vì sợ số tiền có được của mình hao
hụt đi. Có người, ngay chính bản thân họ cũng không dám ăn tiêu huống hồ
là nói đến chuyện giúp đỡ kẻ khác. Ngày nay cũng có nhiều đại phú gia,
nhiều người giàu có, tất cả đều bị như thế nhưng không ai chịu tìm hiểu
xem mình PHẢI LÀM GÌ LÚC ÐANG CÒN SỐNG TRÊN ÐỜI?
Chúng ta có rất nhiều
cách làm, nhiều cách hành động và suy nghĩ tốt lành nhưng vì quá bận rộn
với cuộc sống đầy bon chen, đầy tham lam, đố kỵ mà ta không thực hiện
được. Trước hết là cố gắng bỏ bớt dần “cái Ta” của mình đi. Vì cái Ta mà
mình khổ, mà mình Tự ái, lo toan, ích kỷ, tự phụ, sân si, sầu hận. Cái Ta
càng giảm thì tình thương bao la dễ nẩy nở. Tình thương đây không phải là
tình thương đầy vị kỷ mà rộng rãi hơn, vị tha hơn. Đó là tình thương đồng
loại thương người. Vì mỗi con người “đều là những kẻ đáng thương” - mà có
khi còn đáng thương hơn mình nữa. Kinh Unanda có ghi câu “Ví dầu ai
có đi khắp bốn phương trời cũng không thấy ai là kẻ đáng thương hơn
mình. Ấy vậy là mình thương mình. Mình đã thương mình thì cũng đừng nên
làm phiền người.” Ta không những không làm phiền người mà còn
phải thương người nữa.
Nhờ “tình thương” mà
thân tâm con người được an lạc. Khi ta mang tình thương đến cho người
khác thì chính là tự mình mang “hạnh phúc” đến cho chính mình. Có thể
lúc đầu vì “cái Ta” quá lớn nên ta không thể thực hiện và cảm nhận được
điều đó vì khi cho, khi mang tình thương hổ trợ người khác ta thường hay
nghĩ lại, hay tiếc rẽ, ân hận nên không cảm thấy được sự hạnh phúc vui
sướng đến với mình. Chúng ta hãy theo dõi bài thuyết giảng dưới đây của
Đức Đạt Lai Lạt Ma về Tình Thương:
Đức Đạt Lai Lạt Ma đã thuyết giảng một bài rất thâm
thúy về Tình thương và Con người. Dưới đây là phần dịch thuật của Hòa
Thượng Thích Trí Chơn
Mục đích của đời sống
là gì? Đó là câu hỏi quan trọng mà tôi nghĩ mỗi người trong chúng ta dù
trí thức hay bình dân, giàu nghèo hay sang hèn vẫn thường nghĩ tới. Theo
tôi, sống ở đời ai cũng mong có được hạnh phúc. Từ khi mới lọt lòng mẹ cho
đến lúc già chết, tất cả mọi người đều mơ ước được sống cuộc đời hạnh phúc
và không ai thích gặp khổ đau.
Hiện nay nhân loại
sống trên trái đất này, đang phải đối dầu với một vấn đề nan giải là bằng
cách nào chúng ta có thể xây dựng hạnh phúc cho nhau. Do đó muốn chấm dứt
nổi khổ đau triền miên của kiếp người, chúng ta cần phải tìm hiểu làm sao
con người có thể tạo dựng mang lại hạnh phúc cho nhau.
Trước hết chúng ta
nhận thấy hạnh phúc hay đau khổ đều có hai loại: Thể xác và phần tinh
thần. Trong cả hai loại này tâm của chúng ta vẫn làm chủ, ảnh hưởng
nhiều đến chúng ta. Trừ khi thân thể chúng ta bị đau ốm hoặc quá thiêu
thốn, còn không thì đời sống thể xác vẫn đóng vai trò thứ yếu trong sinh
hoạt hằng ngày của chúng ta. Khi thân thể chúng ta khỏe mạnh và cuộc sống
vật chất tương đối đầy đủ thì chúng ta cảm thấy phần nào có hạnh phúc. Tuy nhiên nếu tinh thần chúng ta bị khủng hoảng, dù ít hay nhiều, việc nhỏ
hay lớn, chúng ta liền cảm thấy rất đau khổ, và trong lúc cuồng trí, không
làm chủ được tinh thần, có thể dẫn chúng ta đến hành động tự sát, hủy hoại
đời mình một cách oan uổng. Do đó, tôi nghĩ việc tìm kiếm một sự sáng
suốt bình an nơi tâm hồn thực hết sức quan trọng. Muốn thân tâm an lạc,
chúng ta cần phải phát triển tình yêu thương và lòng từ bi.
Chúng ta nên nghĩ đến
hạnh húc của kẻ khác, đừng gây đau khổ cho bất cứ ai. Khi chúng ta ban bố
tình thương, cứu giúp tha nhân tức là chúng ta đã tự giúp mình có được
chân hạnh phúc. Thực hành đức tánh khoan dung, tha thứ và mở rộng lòng
yêu thương mọi người, tức khắc tâm hồn của chúng ta sẽ cảm thấy thanh tịnh
và an lạc. Điều này cũng giúp chúng ta tận diệt hết mọi nổi lo âu, bất an
và phiền não. Nó mang lạc cho chúng ta sức mạnh tinh thần, lòng tự tin để
khắc phục, vượt qua những nổi khó khăn, bất như ý mà chúng ta thường gặp
phải trong cuộc đời.
Sống ở thế gian này,
có ai trong chúng ta chỉ gặt hái thành công mà không thất bại, gặp toàn
chuyện may chứ không có điều rủi? Trong mọi hoàn cảnh, mỗi người đều phải
đối phó với những khó khăn riêng. Khi gặp gian truân nếu chúng ta không
cố gắng khắc phục vượt qua, chúng ta sẽ thất bại và đâm ra tuyệt vọng,
chán nản. Muốn thành công, trái lại chúng ta nên nghĩ rằng không riêng
chúng ta mà tất cả mọi người trên thế gian đều gặp phải những điều bất
hạnh. Nhờ ý thức được như vậy mà tâm hồn chúng ta cảm thấy vơi bớt đi
phần nào niềm đau khổ, và tinh thần chúng ta trở nên vững mạnh với quyết
tâm chiến thắng mọi gian lao thử thách để thành tựu sự nghiệp vẻ vang
trong cuộc sống. Khi nhận thức được sự đau khổ của người khác như của
chính mình, chúng sẽ cố gắng tu tập phát triển lòng từ bi thương yêu giúp
đỡ tất cả đồng loại thoát khỏi mọi khổ đau, và do đó tâm hồn chúng ta cảm
thấy an lạc và hạnh phúc.
Tại sau tình thương
mang lại cho con người nguồn hạnh phúc lớn lao nhất? Lý do đơn giản vì bản
chất của chúng ta là hâm mộ, yêu chuộng tình thương và không thích sự ganh
ghét oán thù. Nhân loại cần đến tình thương để tồn tại. Con người cần sự
giúp đỡ nương tựa vào nhau để sống còn. Cá nhân nam hoặc nử, dù có khả
năng tài giỏi đến đâu, nếu bỏ một mình họ cũng không thể tự sống được.
Trong bất cứ hoàn cảnh, tình huống nào giàu sang phú quý hay thiếu thốn
nghèo hèn, khi trẻ trung mạnh khỏe hay già nua đau ốm, con người vẫn phải
sống nhờ vào sự giúp đỡ của kẻ khác.
Cho nên, tinh thần
tương thân tương trợ rất cần thiết cho mọi người trong xã hội. Không
những con người mà ngay cả loài vật vẫn phải sống hợp quần. Tất cả những
cảnh vật ngoại giới, từ hạt bụi nhỏ bé đến quả đất to lớn chúng ta đang
sống, từ sông ngòi biển cả đến núi từng đồng ruộng, từ đám mây trên trời
đến những cành hoa trong vườn đều có tương quan, tương duyên với nhau. Nếu không có sự hổ tương, liên hệ nhân quả, vạn vật sẽ không thể phát sinh
hay tồn tại. Vì con người cần nương vào sự giúp đỡ của kẻ khác để sống
còn, đó là tình thương là chất liệu thiết yếu cho cuộc sống của chúng ta. Và chúng ta có trách nhiệm trong hành động tạo nên hạnh phúc hoặc gây đau
khổ cho mọi kẻ khác.
Chúng ta nên tìm hiểu
bản chất thực sự của chúng ta là gì? Chúng ta không phải là sản phẩm của
máy móc. Nếu chúng ta là những vật dụng máy móc thì các đồ dùng máy móc
này đã có thể thỏa mãn mọi nhu cầu và dứt trừ được hết những nổi khổ đau
của chúng ta. Bởi lẽ chúng ta không phải là những sinh vật được cấu tạo
thuần túy bằng vật chất cho nên thực là điều sai lầm nếu chúng ta mong tìm
hạnh phúc của mình ở bên ngoài con người, mà trái lại muốn có hạnh phúc
chân thật chúng ta cần thấu hiểu nguổn gốc và bản chất đích thực về con
người để chúng ta có thể khám phá ra điều mà chúng ta ước mong có được.
Chúng ta hãy tạm gác
qua một bên câu hỏi quá phức tạp khó giải đáp về sự diễn tiến cũng như tạo
dựng nên thế giới của chúng ta đang sống, nhưng chúng ta có thể đồng ý với
nhau rằng mỗi chúng ta là chính do cha mẹ của chúng ta sinh ra. Như vậy,
sở dĩ có chúng ta không phải chỉ hoàn toàn do lòng ham muốn thỏa mãn dục
tình mà có bởi cha mẹ của chúng ta thực sự mong muốn có một đứa con. Nói
khác, trước khi sanh con thì cha mẹ đã ý thức rõ trách nhiệm là phải yêu
thương, chăm sóc và dạy dỗ đứa con của mình nên người, chứ không thể bỏ
mặc để cho nó hư hỏng. Cho nên chính do tình thương của cha mẹ đã dẫn đến
sự chào đời của mỗi chúng ta hơn nữa ngay từ lúc còn ở trong bào thai,
chúng ta đã cần đến sự chăm sóc của người mẹ. Và theo các nhà khoa học
thì thai nhi không những chịu ảnh hưởng rất nhiều bởi thể xác mà còn về
mặt tinh thần của bà mẹ. Nếu trong lúc mang thai, người mẹ gặp những
chuyện phấn khởi vui vẻ hay ho lắng buồn phiền đều gây ảnh hưởng tốt hoặc
xấu đến tinh thần của em bé sắp sinh ra sau này.
Ngay vào lúc mới lọt
lòng, đứa trẻ củng rất cần thiết đến tình thương của bà mẹ. Em bé nhờ
sữa mẹ lúc ban đầu mà lớn lên. Mặc dù ngày nay có sữa bột để nuôi con,
sữa mẹ vẫn và nguồn sống căn bản tự nhiên của các hài nhi. Đứa nhỏ ngậm
vú mẹ lúc sơ sinh nói lên tình mẹ thương con thật lai láng “như nước
trong nguồn chảy ra”. Nếu người mẹ không thực lòng yêu thương con mình
hay nổi cơn giận dữ khi con khóc phá thì dòng sữa mẹ sẽ ảnh hưởng bị tắt
nghẻn không chảy ra bình thường được. Lại nửa, cơ thể và nhất là bộ óc
của em bé trong thời gian từ lúc mới sinh cho đến khi được ba hay bốn tuổi
sự chăm sóc kỹ lưỡng của bà mẹ thực hết sức quan trọng để giúp cho thân
thể đứa trẻ được lớn mạnh và phát triển đầy đủ. Nếu thiếu sự chăm sóc,
yêu thương và nuôi dưỡng của bà mẹ, thân thể của em bé có thể chậm lớn,
nhất là bộ óc của nó không thể phát triển bình thường được: Lý do bởi đứa
trẻ rất khó lớn khôn nếu không có sự chăm sóc của người lớn, cho nên tình
thương của bà mẹ là chất liệu nuôi dưỡng quan trọng nhất. Sức khỏe và
hạnh phúc của các trẻ em hoàn toàn tùy thuộc vào tình yêu thương nuôi nấng
và dạy dỗ tận tình của các bà mẹ.
Trong xã hội Âu Mỹ
ngày nay, có nhiều đứa trẻ đã lớn lên trong những gia đình thiếu hạnh
phúc. Một đứa trẻ thiếu sự chăm sóc hướng dẫn của người lớn, và cha mẹ
không biết yêu thương con cái mình kết quả là chúng sẽ không bao giờ nghĩ
tưởng đến cha mẹ. Từ hành động không biết chăm sóc, thương yêu cha mẹ
những đứa trẻ đó sau này lớn lên vào đời, chúng sẽ không có lòng yêu
thương đồng 1oại. Thực là điều đáng buồn. Trẻ em lớn lên được cha mẹ
gởi đến trường học lúc ấy đứa trẻ cần sự giáo dục hướng dẫn của thầy
giáo. Ngoài sự dạy dỗ kiến thức phố thông, nếu giáo sư biết rèn luyện cho
học sinh có những đức tính tốt như tánh ngay thẳng, tự tin và giúp đỡ
người khốn cùng v...v... thì các học sinh này sẽ biết ơn kính mến và giữ
một ấn tượng tốt lâu dài trong tâm hồn của mình về ông thầy giáo đó. Trái
lại, nếu vị giáo sư tỏ ra không hết lòng yêu thương, chăm sóc dạy dỗ các
em học sinh thì sự mến thương tình cảm giữa chúng với người thầy giáo cùng
chóng phai lạt. Tương tự như thế, nếu một bệnh nhân trong nhà thương được
chăm sóc hết lòng, tận tình chửa trị của Vị bác sĩ thì chính tình thương
này của ông ta sẽ là liều thuốc hữu hiệu nhất giúp cho người bệnh chóng
lành, mặc dù ông không hẳn là một bác sĩ giỏi. Trái lại, cho dù một bác
sĩ có tài, nhưng thiếu đạo đức, không thương yêu tận tụy khi chữa trị cho
bệnh nhân, khiến cho người bệnh buồn phiền tức giận, do đó không thể chóng
bình phục được. Cho nên tình thương, sự hết lòng cứu chữa bệnh nhân của
vị thầy thuốc sẽ góp phần lớn trong việc giúp người đau bệnh chóng lành.
Trong cuộc sống giao
tế hằng ngày, người ta thích nghe lời nói hòa nhã êm dịu cho dù câu chuyện
của ngườn trình bày không hay, ngược lại, một đề tài dù hấp dẫn bao nhiêu
đi nữa mà người phát biếu dùng ngôn từ năng nề, thiếu lễ độ nhã nhặn thì
chẳng ai muốn nghe. Do đó mọi việc ở đời, từ nhỏ đến lớn, lòng thương
yêu, kính mến kẻ khác là điều căn bản tạo nên hạnh phúc cho mỗi chúng ta. Gần đây, tôi gặp một nhóm khoa học gia Hoa Kỳ, họ cho biết rằng hiện nay
có khoảng mười hai phần trăm dân số ở Mỹ đang mắc bệnh tâm thần. Nguyên
nhân chính không phải vì thiếu thốn vật chất mà do bởi cuộc sống giữa con
người với nhau thiếu thông cảm và tình thương. Cho nên, như tôi đã trình
bày ở trên mặc dù quý vị có nhận thức rỏ điều đó hay không, thì vào lúc
chúng ta chào đời tình thương vẫn là chất liệu cần thiết như máu huyết
nuôi dưỡng sự sống của chúng ta. Ngay cả tình thương ấy phát xuất từ nơi
một con vật, hay kẻ thù của chúng ta thì trẻ nhỏ và người lớn vẫn đều cần
đến nó.
Một số người bảo tình
thương và lòng từ bi là những tính cao quý, nhưng rất khó thực hiện. Bởi
lẻ thế giới ngày nay, họ lập luận cho rằng không phải là môi trường thuận
lợi cho chúng phát triển. Mà bãn tính con người vốn thích làm những việc
ác và lòng người chứa đầy sự thù hận và tham sân. Tôi không đồng ý như
vậy.
Nhân loại xuất hiện
trên quả đất hiện nay đã có từ hàng trăm nghìn năm trước. Tôi nghĩ rằng
trong khoảng thời gian này nếu tâm con người hoàn toàn độc ác hung dữ thì
dân số trên thế giới đã giảm sút. Nhưng trái lại, mặc dù xảy ra nhiều
cuộc chiến tranh, ngày nay dân số toàn cầu đã tăng lên rất nhiều. Ðiều
này chứng tỏ cho chúng ta thấy rằng lòng từ bi và tình thương đã ngự trị
thắng thế trên thế giới.
Tình thương đã mang
lại cho chúng ta nhiều lợn ích tinh thần và lành mạnh thể xác. Điều rõ
ràng ai cũng thấy là khi tâm mình an vui sẽ giúp cơ thể chúng ta khỏe
mạnh. Sự giận dữ, ưu phiền dễ khiến con người sanh ốm đau. Trái lại, tâm
thanh tịnh an lạc giúp chúng ta tránh được nhiều bệnh tật. Muốn có hạnh
phúc chân thật, con người cần trãi lờng yêu thương tất cả, không nuôi
dưỡng tâm ganh ghét, oán thù ai. Chúng ta không chỉ nhận thức tình thương
là đức tính tốt, cao quý mà nên thực hành phát triển nó trong cuộc sống
hàng ngày.
Trước hết, chúng ta
cần hiểu rõ về ý nghĩa đích thực của tình thương. Tình cảm yêu thương lắm
khi pha lẫn dục tình và sự tham đắm. Chẳng hạng cha mẹ thương yêu con cái
là thứ tình cảm vị kỷ đối với người thân của mình, khác hẳn với lòng từ bi
rộng lớn. Trong hôn nhân, sự đắm say tình dục giửa hai vợ chồng hay tình
yêu cuồng nhiệt giữa đôi trai gái hoàn toàn không phải là thứ tình thương
đích thực. Lòng thương nặng tính chất đam mê ái nhiểm khiến chúng ta
thường hay mù quáng nghĩ tưởng rằng người mà ta yêu thương luôn có những
đặc tính tốt, nhưng đôi khi họ lại mang nhiều thói hư tật xấu.
Tình thương nhằm mục
đích lợi kỷ, tình thương khó tồn tại lâu dài và dễ tan biến khi nó không
mang lại ích lợi gì cho con người. Cho nên tình thương chân chính không
xây dựng trên tình cảm so đo toan tính lợi hại cho bản thân mà hoàn toàn
đặt nền tảng trên lòng vị tha quên mình vì hạnh phúc cho chúng sanh. Hẳn
nhiên phát triển lòng từ bi rộng lớn này không phải điều dễ đàng. Muốn
thành tựu, chúng ta cần sáng suốt nhận thức rõ các sự thực sau đây:
Tất cả chúng ta dù
tốt hay xấu, giàu nghèo sang hèn, điều là con người như nhau. Ai cũng
mong sống trong hạnh phúc và không thích khổ đau. Họ có quyền khắc phục
chống lại sự đau khổ để có được hạnh phúc. Khi bạn hiểu rằng mọi người
điều bình đẳng trong ý muốn đi tìm và có quyền đạt tới hạnh phúc, tự nhiên
bạn thấy có thiện cảm và gần gủi với họ. Khi tâm bạn có được tình thương
nhân loại phổ quát, bạn sẽ thấy có trách nhiệm cần giúp đỡ kẻ khốn cùng
vượt qua những khó khăn của họ.
Bạn làm việc cứu khổ
với tâm bình đẳng, không chọn lựa và phân biệt kẻ thân người sơ, thù hay
bạn, sang trọng hay thấp hèn, khi chúng ta biết rằng con người, họ có
những niềm vui và đau khổ như chúng ta; cho nên không thể có sự kỳ thị,
phân chia giữa người này với người kia mà chúng ta cần có lòng từ bi
thương xót cứu độ tất cả.
Muốn thành công việc
phát triển lòng từ bi, chúng ta cần phải trãi qua một thời gian dài kiên
nhẩn tu tập. Khi chúng ta còn nghĩ đến bản ngả nhỏ nhen, cái “ta” tham
lam ích kỷ, đam mê thú vui trần tục, không dám hy sinh quyền lợi cá nhân
cho hạnh phúc của kẻ khác thì rất khó để thực hành tình thương rộng lớn
này. Mặc dù không dễ làm ngay tức khắc, điều đó không có nghĩa là chúng
ta không thể bất đầu luyện tập từ từ để dẫn đến kết quả được.
Trước hết Chúng ta
cần diệt những trở ngại lớn lao cho sự phát triển lòng từ bi là tâm oán
thù và sân hận. Đây là hai ác tính độc hại nhất thường nằm sẵn trong tâm
mọi người, nhưng chúng ta có thể kiểm soát. Chúng ta không những chỉ cần
có lòng từ bi mà còn phải có trí tuệ và hạnh nhẫn nhục. Chúng là những
phương thuốc hữu hiệu nhất có thể chữa trị đoạn diệt lòng sân hận nơi tâm
chúng ta. Nhưng rất tiếc, nhiều người đã nhận thức sai lầm cho rằng thực
hành các đức tánh trên là dấu hiệu của sự yếu hèn và nhu nhược. Trái
lại, tôi vẫn tin nhẫn nhục là điều rất khó làm, đòi hỏi nơi hành giả một ý
chí dũng mảnh. Bản chất của lòng từ bi mặc dù là hiền lành mềm mỏng và dịu
dàng, nhưng nó cũng là một sức mạnh.
Thêm nữa, thiếu nhẫn
nhục con người sẽ sống trong tình trạng lo âu và bất hạnh. Do đó, khi
phát khởi tâm sân hận, theo tôi là dấu hiệu yếu kém. Cho nên khi gặp
chuyện bất hòa, xung đột với ai, bạn nên cố gắng kềm chế sự nóng giận hết
sức bình tĩnh, giải quyết vấn đề với lòng từ bi để tránh sự đổ vỡ. Ngay
trường hợp kẻ có tâm xấu ác muốn làm hại bạn cũng sẽ không thành công mà
kết quả là họ chuốc lấy sự thất bại mà thôi. Cho nên muốn diệt trừ tánh
vị kỷ, đố kỵ
chúng ta
cần phải thực hiện lòng từ bi đế giúp cho người khác tránh được sự đau khổ
do hậu quả gây nên bởi việc làm sân hận của họ. Do đó, nhờ biết thực hành
hạnh nhẫn nhục mà chúng ta tránh được sự lo âu phiền não; có được sự an
lạc và hạnh phúc.
Nếu
chúng ta chỉ nghĩ đến lòng từ bi không thôi thì chưa đủ, mà chúng ta cần
mong gặp hoàn cảnh thuận lợi để thực hiện, phát triển tình thương rộng lớn
đó. Và ai sẽ là người giúp chúng ta tạo cơ hội ấy? không phải bạn mà là
kẻ thù của chúng ta. Chính họ là những người đã gây khó khăn nhiều nhất
cho chúng ta: Do đó, nếu muốn học hỏi, thực hành hạnh từ bi chúng ta
không xem họ như những người bạn mà là thầy của chúng ta. Muốn trãi tình
thương rộng lớn đến mọi chúng sanh, chúng ta nên thực hành đức tánh khoan
dung, từ bi và hỷ xả; do đó, chúng ta cần đến các kẻ thù. Bởi vậy chúng
ta hảy cám ơn những kẻ thù vì họ đã giúp chúng ta giử được cái tâm thanh
tịnh an lạc. Và trong nhiều trường hợp cá nhân, củng như tập thể, khi
chúng ta thay đổi hoàn cảnh sinh sống, kẻ thù có thể trở thành bạn.
Cho nên
tánh nóng quận và lòng sân hận luôn luôn là những ác tính độc hại, và trừ
khi chúng điều phục làm chủ được cái tâm của mình để diệt trừ, còn không
thì chúng sẽ tiếp tục gây phiền não và ngăn chặn mọi nỗ lực tu tập mang lại sự an lạc cho chúng ta. Bởi vậy, sự giận dữ và lòng sân hận chính là
kẻ thù của chúng ta. Chúng là những ác tính chúng ta cần khắc phục và loại
bỏ, không chỉ nhất thời mà phải thường xuyên liên tục trong suốt cả cuộc
đời của chúng ta.
Hẳn
nhiên là tất cả chúng ta ai cũng có nhiều bạn. Và tôi thường nói đùa rằng
nếu bạn ích kỷ muốn thủ lợi riêng cho mình thì nên có lòng vị tha. Bạn
hãy thương yêu kẻ khác, phục vụ và giúp đỡ cho họ. Bạn cần giao hảo, vui
cười và kết thân với mọi người. Được vậy thì khi bạn gặp khó khăn, bạn
sẽ có người giúp đở. Trái lại nếu chúng ta không bao giờ nghĩ đến hạnh
phúc của kẻ khác thì về lâu dài chúng ta sẽ là người bị mất mát và thua
lỗ. Không bao giờ những sự cải vả, giận dử, tranh chấp và đố kỵ có thể
mang lại tình bạn thân hữu giữa con người. Mà chỉ có lòng khoan dung tha
thứ và hỷ xả mới giúp chúng ta kết thân, gần gũi và yêu thương nhau.
Trong xả
hội vật chất ngày nay nếu chúng ta có tiền và quyền lực, chúng ta sẽ có
nhiều bạn. Nhưng chúng không phải là bạn chân thật mà là bạn của tiền bạc
và thế lực của chúng ta. Khi chúng ta nghèo khổ, mất hết địa vị uy quyền
những người bạn đó sẽ bỏ rơi chúng ta. Trong cuộc sống nếu không có biến
cố hay tai nạn gì xảy ra, con người thường nghĩ rằng mình có thể tự lo
được, không cần đến ai; nhưng khi hữu sự gặp khó khăn, thiếu thốn, hay
bệnh tật con người cảm thấy cô đơn và cần phải nhờ đến sự giúp đỡ của kẻ
khác. Do đó, để chuẩn bị cho giờ phút lâm nguy ngặt nghèo sẽ có người chăm
sóc giúp đỡ cho mình thì ngay hôm nay, chúng ta nên kết bạn thân, đối xử
tốt và có lòng vị tha cứu giúp mọi người.
Đôi lúc,
người ta cười chế nhạo khi nghe tôi nói tôi muốn có nhiều bạn thân hơn và
tôi yêu nụ cười của thiên hạ. Cho nên tôi phải biết nghệ thuật sống cách
nào để có thêm bạn bớt thù và làm sao tôi có thể giữ mãi nụ cười trên môi
khi tiếp xúc với mọi người, đặc biệt là nụ cười hỷ xả của tình thương. Trong cuộc sống giao xếp hàng ngày, chúng ta bất gặp nhiều nụ cười khác
nhau của thiên hạ: có nụ cười chua chát, giả đối hay xả giao. Đôi khi nụ
cười bày tỏ sự bất mãn, gây nên nghi ngờ hay sợ hãi cho kẻ khác. Tuy
nhiên củng có những nụ cười mang lại niềm vui của sự an lạc và giải thoát:
đó là nụ cười từ bi hỷ xả của chư Phật và Bồ Tát. Ðây là những nụ cười mà
chúng ta nên cố gắng thực hiện để mang lại hạnh phúc cho mọi người.
Tình thương và Thế giới
Chúng ta
cần chia sẻ tình thương với tất cả mọi người, cho nên bất cứ ai chúng ta
gặp, dù trong hoàn cảnh nào, chúng ta đều xem họ như những bậc cha mẹ và
anh chị hay em của chúng ta. Chúng ta không quan tâm về khuôn mặt của họ
là mới hay cũ; lạ hay quen - họ mặc y phục như thế nào, đẹp hoặc xấu, rẻ
hay đắc tiền; và tánh tình của họ ra sao, hiền lành hay dữ tợn, chúng ta
vẫn thấy không có gì sẽ khác giữa họ và chúng ta thật là điều sai lầm khi
chúng ta có ốc kỳ thị, phân biệt giữa chúng ta với mọi người; hoặc giữa
người này với người kia, vì như đức Phật đã dạy rằng tất cả mọi người
chúng ta đều có Phật tánh, hay khả năng thành Phật giống nhau.
Sau hết,
toàn thể nhân loại là một và quả đất nhỏ chúng ta đang sống là ngôi nhà
chung của chúng ta. Nếu chúng ta muốn bảo vệ căn nhà nhân loại này, mỗi
chúng ta cần thực hiện tình yêu thương con người trên toàn thế giới. Được
vậy, chúng ta mới có thể diệt trừ hết lòng tham, tánh vị kỷ nơi con người,
nguồn gốc gây ra mọi khổ đau cho nhân loại qua những cuộc xung đột xâm
lăng và chiến tranh vì quyền lợi của con người. Nếu các bạn có một tấm
lòng thành thực và rộng mở, chẳng bao giờ gây oán thù với ai tâm bạn sẽ
bình an không lo sợ bất cứ người nào làm hại đến mình.
Tôi tin
rằng mọi người sống trong xã hội, cho dù ở phạm vi gia đình, bộ tộc, quốc
gia hay quốc tế; chìa khóa hay bí quyết mang lại cho thế giới con người có
đời sống tốt đẹp, an lạc và hạnh phúc hơn hiện nay, là sự áp dụng, thực
hành và phát triển của tình thương. Chúng ta không cần phải theo một tôn
giáo ý thức hệ hay chủ thuyết chính trị nào; điều căn bản là chúng ta nên
tu tập và thực hành các tánh thiện nơi mỗi con người chúng ta, tôi thường
cố gắng đối xử với bất cứ người nào tôi mới gặp họ lần đầu tiên đều
giống như một người bạn cũ tâm tình thân quen. Điều này đã mang lại cho
tôi một nguồn hạnh phúc vô biên. Đó là sự thực hành đức tánh từ bi hỷ xả
của đức Phật.
Điều quan trọng đáng làm, cần
làm là chia sẽ với người qua tình thương yêu, sự an ủi vỗ về, sự giúp đỡ
bằng vật chất hay hành động. Đó gọi chung là bố thí. Bố thí như vậy
thể hiện qua nhiều hình thức. Do đó, bố thí không phải là chỉ có việc đem
tiền bạc phẩm vật cho người khác mà bố thí còn là đem tình thương tới giúp
đỡ mọi người, là lời an ủi, vỗ về, khuyến khích, nâng đở, góp ý... Sự giúp
đỡ ấy tùy vào phương tiện khả năng, chỉ sợ người có của mà lại sợ tốn kém,
người có công sức mà ngại khó khăn thôi.
Trong
các Kinh sách của các tôn giáo đều đề cao sự Bố Thí. Bố thí là hành động
tốt đẹp mang lại hạnh phúc cho người cho lẫn người nhận.
Trong cuốn: Luận Về Nhân Quả, tác giả Chơn Quang khi trình bày về vấn đề
Bố thí đã viết rằng:
“Mọi
sự giàu sang bắt nguồn từ bố thí. Không bố thí, vĩnh viễn không có sự
sung mãn tài vật. Người có lòng Nhân ái sẽ không bỏ qua một chúng sanh
khốn khổ nào dù đó là kẻ tội lỗi.
Bố
thí là biểu hiện chân thật của tình thương: Không thể có tình thương ở
đầu lưỡi mà phải có tình thương nơi đôi bàn tay dâng tặng.
Bố
thí không những đem lại phước báo cụ thể mà nó còn là một phương pháp để
tu tập những đức hạnh khác. Bắt đầu bằng công hạnh bố thí, người này sẽ
buông xả những chấp trước dễ hơn, tâm quảng đại thêm lớn lòng tham mỏng
nhạt dần.
Hãy tập bố thí từng chút và bạn sẽ cảm nghe tâm hồn
mình thay đổi. Đừng
tiêu xài hết những gì mình có, hãy san sẻ với mọi người, dù đó chỉ là
gói bánh ngọt, đĩa trái cây, hoặc to tát như lợi nhuận thu được bởi mồ hôi
nước mắt. Người mới biết tu tức là trích ra 1/10 số tiền kiếm được để san
sẻ với kẻ khác. Người đã thuần phục trong công hạnh bố thí sẽ san sẻ nhiều
hơn nữa. Tài vật vô thường tạm bợ không chắc ở lại lâu với mình. Một cuộc thay đổi thời thế, một cơn hỏa hoạn, ngập lụt, một lần bị trộm
cướp đều có thể lấy đi những gì đã được tích lũy từ lâu. Khi không còn
tài sản mà muốn bố thí cúng dường cũng không có cơ hội đễ làm. Chi bằng,
trong từng giờ phút hiện tại vừa được lợi nhuận, hãy chia xớt ngay cho
người, đừng để cơ hội trôi qua. Người tin hiểu Nhân Quả sẽ khao khát
bố thí như người mù khao khát mắt sáng... người sống vị tha thì luôn luôn
nghĩ đến nhu cầu của người chung quanh để giải quyết”
Như vậy Bố thí là điều quan
trọng. Bố thí giúp ta vui sướng tự tin và được nhiều phước quả. Bố thí
quả thật là việc nên làm. Tuy nhiên một khi bố thí, giúp người, giúp đời
thì ta không nên tiếc rẽ. Bố thí phải từ lòng nhân ái vị tha, không vì
cầu được phước hay vì muốn có phước lành mà bố thí. Vì từ tâm mà bố thí
nên không đắn do cân nhấc, so sánh lựa chọn thiệt hơn khi bố thí.
Bố thí
mà lòng tiếc rẽ tức là không muốn người mình cho được hưởng tiền hay vật
mà mình cho. Cho mà còn tiếc rẽ Thì chẳng khác nào đau khổ không vui khi
cho. Tiếc rẽ là chứng tỏ mình còn phân vân, so sánh cân nhắc khi cho,
chứng tỏ cho vì áy náy, bị ép buộc hay không thích cho mà phải cho.
Trên đời
chúng ta đã từng biết bao người hà tiện keo kiệt, bủn xẻn với bạn bè,
người thân. Có người keo kiệt với cả cha mẹ, con cái, vợ chồng, anh em và
ân nhân mình. Khi người ấy sa cơ lỡ vận nếu may mắn được người giúp thì
khi đó mới nhớ lại rằng trước đây mình quá sai lầm. Tuy nhiên vẫn có khối
người bỏn xẻn keo kiệt mà không biết mình như thế. Đôi khi họ còn chê
cười phê bình chỉ trích người khác keo kiệt hà tiện. Cái mê mờ u tối ấy đã
từng bao phủ biết bao người khiến họ không thoát ra được để thấy cái ánh
sáng vi diệu của sự giúp đỡ bố thí kẻ khác.
Phần
đông những người càng giàu có họ lại càng có cái Tâm Tiếc Rẽ. Lý do là vì
lòng tham con người quá lớn, có rồi muốn có thêm nữa. Vì thế nếu đem cho,
giúp đỡ, bố thí thì tiền của sẽ hao hụt, làm sao lợi nhuận tăng thêm?
Nhiều
người lại nghĩ sai khi cho rằng bố thí là việc làm của kẻ giàu có: Họ bảo
“tôi đâu phải là người giàu, tiền bạc ít ỏi làm sao tôi có đủ để bố
thí giúp đở ai”... Nghĩ như vậy là sai. Bố thí không phải bắt buộc phải
nhiều. “Của ít lòng nhiều” là câu nói của cổ nhân ta từ lâu nhắc nhở cho
thấy của cho quan trọng ở tấm lòng. Bạn có ít thì cho ít, giúp ít, bố
thí ít . Bạn có nhiều thì cho nhiều. Chính cái tấm lòng thương người cảm
thông nổi khổ về người mình cho mới là cao cả và đáng giá. Do đó đừng cho
rằng bố thí là việc của người giàu. Không có người giàu nào lại nghĩ rằng
họ giàu có, họ đầy đủ, vì tâm họ luôn luôn cho rằng họ còn nghèo hơn kẻ
khác.
Những
người ấn Độ giàu có từ ngàn xưa đã biết rõ vấn đề bố thí quan trọng như
thế nào nên hết lòng bố thí khi sản nghiệp họ ngày càng tăng. Ngoài ra họ
còn cố tập tành thế nào để khi bố thí dứt hết lòng tiếc nuối về tiền của
phải mất ấy. Lý do là trong Kinh có đoạn nói về hậu quả của kẻ bố thí mà
lòng còn tiếc của. “Kẻ nào khi bố thí mà còn đau xót, tiếc nuối thì
đời sau nếu kẻ đó giàu có vạn ức thì cũng ngồi trên của cải mà không dám
ăn tiêu suốt đời vất vả vì đã trở thành kẻ nô lệ của tiền bạc, của
cải cho tới chết”. Điều quan trọng khác nữa trong sự Bố thí là thái
độ và tư tưởng của người cho. Nếu ta bố thí, giúp đỡ người khác với tấm
lòng kiêu ngạo, khinh bỉ, kẻ cả thì cái Cho ấy mất hết ý nghĩa của sự Bố
thí. Bởi lý do hai chữ Bố thí bao hàm sự cho với lòng thông cảm, thiện
tâm, an ủi cầu mong cho người mình cho được đầy đủ hạnh phúc.
Nếu ta cho kèm theo lời trách
móc, chỉ trích hất hủi, chỉ dạy kẻ cả, miệt thị cùng với cách cho bất lịch
sự thì sự giúp đỡ cứu giúp đó trở thành sự khổ đau tủ nhục mà người nhận
phải lấy. Chúng ta đã từng thấy lại quê nhà nhiều người trước khi ban
phát cho người ăn xin vài nắm gạo hay vài đồng bạc đã xỉ vả chửi rủa, mạt
sát họ thậm tệ khiến kẻ đã khổ đau càng thêm khổ đau.
“...Những bậc Thánh giải thoát thường dấu mình trong một hình thức tầm
thường giản dị. Trong những người tầm thưởng giản đi mà chúng ta đã gặp
gỡ bố thí, biết đâu cũng có người phi phàm vượt thế. Chỉ một lần dâng
tặng đến người như thế, phúc lạc chờ đợi chúng ta là vô hạn ở mai sau ...”(Luận
về Nhân Quả - Chơn Quang,)
Trở lại
vấn đề Khi Chết không mang theo được gì, nhiều người đã nhận thức rõ điều
ấy, và đó là một sự thật hiển nhiên mà từ cổ đại tới nay, mọi người trên
quả đất đều thấy và biết.
Tuy
nhiên, đối với Phật giáo thì Khi chết mỗi người đều có mang theo “cái” mà
không ai thấy hay biết “cái” mang theo đó là “Cái Nghiệp” của chính họ.
Cho đến
nay, sự kiện gọi là Nghiệp quả hay Nghiệp báo vẫn còn gây nhiều thắc mắc
khó hiểu mặc dù số lượng người tin vào Nghiệp (Karma) và nhất là tin vào
vấn đề có sự tái sinh ở kiếp sau ngày càng gia tăng thấy rõ tại các nước
Âu Mỹ.
Tái sinh
vào kiếp sau tức là sau khi chết sẽ lại hóa sanh trở lại qua một kiếp đời
khác.
Như vậy khi một người nào đó chết đi thì thật sự người
đó không chết, vì chỉ cái thân xác tan rã mà thôi còn cái tinh anh vi diệu
của người ấy (con ngươi, thường gọi là Hồn hay Linh hồn) lại chuyển qua
một đời sống mới qua một thân xác mới.
Sự luân
chuyển từ kiếp nầy qua kiếp khác gọi là sự luân hồi. Mỗi giai đoạn sống
trong sự chuyển hoá luân hồi ấy gọi là mỗi Kiếp.
Mỗi Kiếp người đều phải chịu hậu
quả của những hành động gây ra từ kiếp trước - tạo ra các nguyên nhân hay
có thể gọi là cái nghiệp. Đó là luật Karma hay còn gọi là luật Quả Báo
hoặc Nghiệp báo. Sự luân chuyển từ kiếp này qua kiếp khác gọi là Luân
hồi.
Để hiểu
rõ giai đoạn này, ta hãy bất đầu khi một người chết đi, họ trở thành bất
động. Sở dĩ xác thân khi chết bất động vì thật ra nó chỉ là một khối vật
chất bình thường trong tự nhiên mà thôi. Nó như cái áo mặc, khi chết
chính là lúc trút bỏ cái áo ấy. Khi sống, xác thân cử động được là nhờ có
sự hổ trợ hợp đồng của các giác quan như thấy, nghe, nhận biết, ngửi, nếm,
suy nghĩ tính toán... Khi chết, thân xác bất động thì các giác quan âý
cũng mất luôn. Tuy nhiên có 2 thể vật chất đặc biệt không bị mất đi, vẫn
còn tồn tại. Hai thể này có tên gọi là Mạt Na Thức và A Lại Da Thức
mà kinh Phật giáo gọi là hai thức. Hai thức này sẽ là cầu nối giữa cái
xác thân đã chết vớì các xác Thân sanh trở lại của kiếp kế tiếp.
Mạt Na
Thức có nhiệm vụ sao chép lại bao quát về cá tánh, bản năng, năng khiếu,
cảm xúc, sự hiểu biết và ký ức, hành vi cử chỉ lẫn tư tưởng của con người
mà nó liên hệ lúc còn sống. Tất cả những ghi nhận, sao chép này từ Mạt Na
Thức sẽ truyền hết cho A lại Da thức lưu trữ. Như vậy có thể hiểu A lại
Da Thức như là một cái thư viện lưu trữ các tài liệu sách vở của một người
lúc còn sống. Tài liệu ấy bao gồm các đặc tính, bản năng, thói hư tật xấu
và cả tánh tốt của người đó. Tuy nhiên tùy theo sự dồn nén tập trung tư
tưởng, tình cảm nào đó quá nhiều như uất hận, căm thù, đau khổ, sợ hãi,
nuối tiếc... thì những tư tưởng tình cảm ấy sẽ là đầu mối cho đời sống kế
tiếp mang nặng tất cả những gì đã bị kích động dồn nén ấy. Do đó mà các
vị chân tu thấy rõ điều đó đã căn dặn mọi người rằng; lúc sắp qua đời phải
cố giữ tâm yên bình không nên nuối tiếc, đau buồn hay căm giận. Đặc biệt
sự căm thù, lòng tức giận là mối nguy ghê sợ nhất nếu phát sinh lúc lâm
chung thì lúc tái sanh sẽ rơi vào vòng đau khổ cùng cực. Ðó cũng là lý do
tại sao lúc người vừa mới chết, mọi người có mặt nên đọc kinh cầu nguyện,
nhắc nhở tâm linh người chết nên sáng suốt, vui vẻ hầu tránh sự mê mờ u
tối, lầm lạc khiến dễ sa vào chốn địa ngục.
Đây là câu hỏi mà nhiều người đã thường đặt ra khi đứng
trước xác thân một người vừa mới qua đời.
Nhiều người thắc mắc cho rằng một khi đã chết thì làm
sao người chết nghe thấy, nhận biết những gì xung quanh nữa? như vậy tụng
Kinh, đọc Kinh, nhắc nơở
những điều tốt lành bên cạnh họ có ích gì nữa đâu?
Phật
Thích Ca bậc đã đắc đạo, giác ngộ, nên thấy biết hết những nguyên lý thâm
sâu vi diệu trong vũ trụ. Theo Phật thì: khi một người chết thì cái xác
thân của người đó trở nên bất động và không còn các tiếp nhận qua các giác
quan liên hệ về thấy, nghe, ngửi, sờ, nhận thức nữa vì các giác quan ấy
cũng không còn. Tuy nhiên nhờ hai thức còn lại là Mạt Na Thức và A Lại Da
Thức mà người chết vẫn còn hiểu biết mặc dù tim đã ngừng đập, không còn
thở, không còn cử động nữa mà thôi.
Các kinh
sách Phật giáo đều cho biết là thời gian ấy là 49 ngày. Một thời gian vô
cùng quan trọng đối với người chết. Vì người ấy tuy đã chết rồi nhưng nhờ
hai thức quan trọng là Mạt Na Thức và A Lại Da Thức còn tồn tại nên người
chết vẫn còn hiểu biết rất rõ những sự việc chung quanh. Khi sắp chết,
tim đập yếu dần, nhiệt lượng cơ thể giảm. Trong khi các giác quan bình
thường sắp sửa biến mất thì hai thức Mạt Na và A Lại Da lại đảm trách công
việc vào lúc này. Ta có thể nhận biết điều này khi thấy phần nhiều những
người chết rất tỉnh táo vào giờ phút cuối cùng sắp từ giả cõi đời. Có
người chuẩn bị tắm rửa sạch sẽ trước khi chết hay dặn dò vợ con điều này
điều kia. Âý là do thức Mạt Na của người ấy phát động vào lúc người ấy
sắp lìa đời. Thức Mạt Na là phần ghi nhận tất cả những gì liên quan tới
cảm nghĩ, nhận thức hành động của người ấy nên thức này khi mở ra chẳng
khác nào mở cuốn tự điển của cuộc đời nên không quên bất cứ điều gì trước
đây dù xa xưa tới mấy. Cái nhớ, biết rõ ràng như thế nên trước khi lìa
đời người chết nói năng rất tỉnh táo sáng suốt. Trong khoảng thời gian
49 ngày, thức A Lợi Da trước đây im lìm khi người còn sống thì nay hoạt
động . Vì là nơi tích trữ các dữ kiện về tâm thức hành động bản năng, tư
tưởng, tình cảm, ý muốn của người ấy lúc còn sống do Mạt Na Thức chuyển
tới nên vào giai đoạn này, nếu vì lý do nào đó mà A Lợi D2a Thức bị kích
động mạnh bởi những tác động ảnh hưởng bên ngoài như sự kêu gào thãm
thương, đau đớn của thân nhân người chết hay bản thân người sắp chết căm
hờn, tức tối, oán thù thì những tác động âý sẽ khiến người chết không
nguôi và ảnh hưởng tới cuộc đời kế tiếp khi tái sanh khó mà vào được hoàn
cảnh thanh lành.
Như vậy
khi một người chết, ta nên nghĩ là người ấy chết về phần xác thân mà thôi
còn một phần thuộc tâm linh vẫn còn ràng buộc với thân xác, chưa hẳn rời
ra ngay nên người chết ấy chưa hẳn là đã chết một cách tuyệt đối. Tình
trạng này có khi lâu đến mấy ngày. Trong thời gian đó phần cảm nhận mà
người chết có được là nhờ thức gọi là Thần Thức. Chính Thần Thức này là do
Mạt Na Thức và A Lại Da Thức kết hợp lại mà thành.
Khi chết Mạt Na Thức và A Lại Da
Thức liên kết nhau tạo nên một thân mới khác, nhưng thân mới này không có
hình hài gọi là Thân Trung ấm. Mặc dầu Thân Trung ấm vô hình vô tướng
nhưng lại có sự thông hiểu tinh tường hơn cả người sống. Thân Trung ấm
chính là cái thân chuẩn bị của tương lai khi xác thân cũ sẽ tan rã, hủy
hoại. Khi chuyển biến từ kiếp này qua kiếp khác, thức A Lại Da đóng vai
trò quan trọng vì nó chứa đựng một năng lực vô song.
Nhà nghiên cứu Nguyễn Gia Cát khi tìm hiểu về Thần Thức
và Năng lực bảo vệ đã có những ghi nhận như sau:
Khi con
người trút hơi thở cuối cùng thì cơ thể vẫn còn có một nơi tập trung hơi
nóng ấm, đó là Thần Thức.
Thần
Thức là tất cả những hành động của quá khứ tập trung lại tạo nên một sức
mạnh vô hình, mầu nhiệm chuyển dẫn người chết lại đầu thai vào xác thân
khác để chịu Quả Báo. Sức mạnh đó là sức mạnh của Nghiệp lực. Cái mà nhiều
người gọi là Hồn thật ra là Thần Thức chớ không gì khác.
Thần
thức lưu giữ tất cả mọi cá tính, bản năng, hành động, hoàn cảnh... của
người đã chết đầy đủ, không thiếu sót (Chính vì lẽ đó mà không ai có thể
che dấu những gì mình đã làm, vì Thần thức đã giữ bản sao của đời người đó
từng chi tiết rồi) Vì thế cho nên dù người đó đã qua đời, thân xác đã tan
rửa nhưng vẫn còn phần quan trọng là Thần thức là bản sao chép về đời
người đó vẫn còn và tạo ra một năng lực gọi là Nghiệp lực. Nghiệp lực ấy
sẽ chuyển dần người chết đầu thai vào một thân xác mới khác để chịu quả
báo.
Trong
dân gian ta thường nghe nói: người chết thì Hồn ra khỏi xác. Chữ Hồn ấy
chính là Thần Thức. Khi một người chết đi thì trong một thời gian nào đó
mặt dầu người đó đã chết nhưng vẫn còn hiểu biết và sự hiểu biết ấy còn
linh diệu hơn khi người đó còn sống. Âý là do sự hiện hữu và hoạt động
của Thần Thức. Nhưng Thần Thức cũng sẽ rời khỏi xác thân sau một thời
gian.
Thần Thức sẽ thoát ra hỏi thân xác người chết ở những
vị trí khác nhau tùy vào Nghiệp lực.
Nếu nghiệp lực nặng nề thì Thần thức sẽ thoát ra từ
phần dưới của cơ thể người chết như từ bàn chân từ bụng hay đầu gối.
Nếu Nghiệp lực thanh cao tốt lành thì Thần thức sẽ
thoát ra từ trán, mặt hay ngực.
Nhiều
tài liệu Kinh điển cổ xưa cho hay rằng có thể quan sát sắc thái, tình
trạng, cảm giác thể hiện nên gương mặt của người sắp chết mà suy đoán vị
trí thoát ra của Thần Thức như sau:
Khi thấy gương mặt người chết nhăn nhó, mặt xám đen,
quằn quại thì biết ngay là Thần Thức thoát ra từ bàn chân.
Nếu
người sắp chết đòi ăn, đòi uống, tiếc nuối, than vãn, khổ sở, đau đớn thì
Thần Thức chuyển từ bụng xuống đầu gối và thoát đi.
Nếu
người chết bình tỉnh, sáng suốt, dặn dò người thân mọi điều và giả từ ra
đi hay từ từ nhắm mất trong an bình tự tại thì Thần Thức sẽ thoát ra từ
ngực hay trán hoặc mặt.
Nếu phân
chia theo chi tiết thì có rất nhiều loại Nghiệp khác nhau. Tuy nhiên để
hiểu khái quát, chúng ta chỉ nên nhớ mấy loại Nghiệp chính sau đây:
1)
Nghiệp hiện tại: Tạo ác và bị quả báo ngay trong đời. Ví dụ
anh A giết người và mấy năm sau anh ta bị tai nạn qua đời.
2)
Nghiệp đời
sau: Do tạo nghiệp
đời này và đời sau (kiếp sau) mới bị quả báo. Có khi đến mấy kiếp sau mới
bị quả báo.
3)
Nghiệp bất định:
Quả
báo đến không nhất định về thời gian có thể mau hay chậm.
4)
Nghiệp tích
lũy: Nhiều nghiệp quả từ nhiều đời tích tụ
lại.
5) Tập quán nghiêp: Nghiệp tạo ra theo tập quán . Ví dụ người làm nghề giết mổ heo gà vịt
hành nghề lâu thành lập quán không bỏ.
6) Nghiệp Cận tử: Nghiệp tạo ra vào lúc gần lâm chung. Ví dụ một người lúc gần chết dùng vũ
khí giết người vì căm tức hay để trả thù.
Khi một người làm việc ác cùng với sự hăng say thích
thú trong lúc hành động thì quả báo đến với họ gia tăng. Nhưng nếu một
người làm điều ác theo lệnh cấp trên, bị bó buộc, bị sai khiến, thúc hối
phải làm nhưng trong lòng không muốn, cảm thấy đau khổ xót xa vì biết là
mình làm điều ác thì nghiệp quả vẫn tạo ta nhưng không lớn lao như người
vừa mô tả trước. Vậy các nguyên nhân giữ vai trò quan trọng trong luật
quả báo. Anh A làm điều ác, quả báo phản hồi về hành động ác ấy tùy vào
nguyên nhân nào đã khiến anh ta hành động. Nguyên nhân ấy có thể do lòng
gian ác hung bạo hận thù hay có thể là do bị bắt buộc nếu không làm thì
anh ta phải chịu chết. Như thế nguyên nhân gây hành động tàn ác khác nhau
nên hậu quả do quả báo đem lại khác nhau. Khi bàn về sự kiện này có người
đã dựa vào lý luận để bào chữa cho hành động sai quấy của mình như người
ăn trộm nghĩ rằng: Vì đói vì muốn cho vợ con hạnh phúc nên anh ta phải đi
ăn trộm nên theo anh ta thì nguyên nhân ấy chắc sẽ không nhận quả báo quá
nặng nề! Nếu lý luận theo cách đó thì rõ ràng anh ta chưa hiểu thế nào là
thiện tâm là đạo đức là quả báo. Nếu cứ nghĩ sai lạc như thế thì kẻ giết
người cũng sẽ bảo rằng: nếu tôi không giết người đó thì người đó sẽ tố
cáo tôi - vì tôi sợ nên tôi phải giết thôi. Lý luận ấy cũng hồ đồ như có
một kẻ sát nhân đã bảo: Tôi phải giết người ấy để lấy tiền bạc vì gia đình
tôi đang túng thiếu!
Làm việc thiện không phải lớn lao mới tạo phước đức.
Đôi khi việc nhỏ mà hành động với Tâm lành thì phước đức lại rất lớn lao. Nhiều người nói ta toàn chuyện phước thiện lớn lao ý nghĩ to lớn nhưng
thực tế thì chẳng có gì cả. Đã có biết bao người thường nói: “Cầu cho
tôi được trúng số tôi sẽ xây mấy cảnh chùa nhà thờ! Tôi sẽ... Tôi sẽ...
“Chuyện trúng số thì biết bao giờ mới trúng, nên chi cứ nói mà không thấy
trong khi có người lở đường xin chút tiền mua cơm ăn lại không cho, nghe
đồng bào bị bảo lụt đói lạnh không dám bỏ vài đồng đóng góp. Thực tế
trước mắt không thực hiện, chỉ thực hiện ở đầu môi chót lưỡi mà thôi. Thế
gian có vô số người như thế.
Theo các kinh sách và lời giảng của các bậc tu hành thì
trong cuộc đời dù ta làm việc Thiện nhỏ nhoi tới mấy đi nữa thì đó cũng là
gieo mầm phúc thiện. Cứ mỗi ngày mỗi giờ mỗi phút ta suy nghĩ những điều
tốt lành làm những việc hướng Thiện thì dù nhỏ tới mấy nhưng cứ một
ít, một ít dồn chứa tích tụ lại và cuối cùng đời ta cũng sẽ tạo được phước
lành nếu không có ngay trong đời này thì cũng sẽ ở đời sau.
Mình muốn được mọi người thương mến mình thì cách hay
nhất là mình phải thương mến mọi người hay ít nhất là đừng ghét họ. Vậy
cái nguyên nhân tạo nên mối thiện cảm tốt lành chính là Tình thương. Do
đó Kinh Phật có câu: “Đem yêu thương xóa bỏ hận thù”.
Theo thuyết luân hồi thì mọi thứ trên thế gian khi có
sự gặp gỡ hội tụ liên kết nhau là do ở nhân duyên, nghiệp lực làm phát
sinh. Tại sao cô con gái nhà đó lại làm con dâu nhà tôi? Tạo sao ông bà
ấy lại là cha mẹ chồng của tôi? Tại sao chúng tôi lại sống cạnh nhau?
Phải chăng là do có nghiệp báo luân hồi với nhau? Phải chăng chúng ta có
Nợ với nhau? Như vậy, nếu có thì chúng tôi phải sống với nhau như thế nào
cho tốt?
Chúa đã dậy rằng:
“Đừng Mắc Nợ ai chi hết,
Chỉ mắc nợ yêu Thương mà thôi!”
Hay
“Ngươi phải yêu kẽ lân cận mình như mình yêu mình vậy.”
Như vậy thì rõ ràng khi người mẹ chồng đối xử tốt với
con dâu thì khó mà có người con dâu nào ăn ở không biết điều với cha mẹ
chồng. Cũng vậy, một khi người con dâu xem cha mẹ chồng như cha mẹ mình
thì khó có người cha mẹ chồng nào lại đem lòng ghét bỏ con dâu. Trong
Kinh Thánh có đoạn ghi như sau: “Các ngươi muốn người ta làm cho mình như
thế nào thì hãy làm cho người như thế ấy”
Trên đây chỉ là một số tội lỗi thường thấy trong đời
sống của con người. Thật ra còn vô số sự kiện mà từ đó phát sinh nghiệp
quả chồng chất ngày càng lớn lao như tội lừa dối (lừa dối chồng vợ, con
cái, bè bạn người khác hăm dọa như nặc danh hăm dọa bằng lời nói...), xúi
giục (xúc người khác làm điều xấu, hại người), chế diểu (cười cợt khi thấy
kẻ khác gặp điều không may), ganh ghét (thấy kẻ khác hơn mình thì sanh
lòng tức giận), ích kỷ (chỉ muốn tốt lợi cho mình mà không muốn tốt hay
lợi cho người), sang đoạt, (lấy nhà cửa của cải người), gạt gẩm, giả mạo,
bày mưu tính kế (chuyên làm giấy tờ giả mạo, sản xuất giả mạo - hàng giả,
chế thuốc giả mạo, pha chế thức ăn giả mạo bằng những chất có hại cho cơ
thể người tiêu dùng, bày mưu tính kế lừa gạt người hay làm hại người..)
..vân vân . Những sự kiện vừa kể đã thường xảy ra từ muôn nơi và muôn
thuở. Tuy nhiên những người phạm vào các vấn đề trên hiếm người cảm nhận
được rằng mình làm điều sai quấy để rồi ân hận hối lỗi mà bỏ qua. Trái
lại rất nhiều người biết việc mình làm sai nhưng vẫn cho là không ác hại
gì và cứ thế mà tiếp tục. Hậu quả là ác nghiệp tạo thành ngày càng chồng
chất khiến tội lỗi ngày càng nặng nề thêm và dĩ nhiên họ phải nhận lãnh
quả báo không may sớm hoặc muộn mà thôi.
Muốn nghiệp báo đừng tạo thêm và giảm thiểu thì nhớ lời
dạy của Phật:
Ý nghĩ và hành động tốt lành (Thiện) thì nên nghĩ tới
và tiến hành. Nếu việc Thiện đã tiến hành rồi thì nên phát triển việc
thiện ấy ngày càng lớn thêm.
Ý nghĩ và hành động xấu xa, tàn ác hung dữ thì nên diệt
ngay trong ý nghĩ, không cho phát sinh. Nếu lỡ đã tiến hành thì nên ngừng
lại và dứt bỏ không làm nữa.
Con người sinh ra và sống trên cõi đời không ai là
không khổ. Từ vua quan cho tới kẻ cùng dân, ai cũng đều có cái “Khổ”
riêng cả. Cư sĩ Tâm Quang đã nêu một vài cái Khổ trong bài viết “Thân thể
con người”
“Cái chết là một cái Khổ trong 8 thứ Khổ của con người:
Khổ vì bị Sanh ta, Khổ vì bị Già, khổ vì bị Bệnh, Khổ
vì bị Chết, Khổ vì bị gần với những thứ mình không ưa, Khổ vì bị xa với
những thứ mình ưa thích, Khổ vì muốn mà không được, Khổ vì có quá nhiều
sức khỏe và Ngũ ấm.
(Ngũ Ấm
gồm năm thứ:
1) Sắc: chỉ cho các
hình danh sắc tưởng.
2) Thọ chỉ những cảm giác
3)
Tưởng chỉ những sự tưởng tưởng, suy nghĩ
4)
Hành chỉ cho các hành động tạo tác
5)
Thức chỉ cho các cái biết của “Ý”
Cư sĩ
Tâm Quang – thân thể con người – Báo Viên Giác - số 113, tháng 10-1999 Ðức
Quốc)