CHẾT & TÁI SINH
(DEATH & REBIRTH)
Thích Nguyên
Tạng
*
***
Mục lục
1. Chết,
thân trung ấm à tái sinh
2. Hành trình đi đến kiếp sau
- Khi nào thần thức rời khỏi thể
xác
- Sau khi thần thức thoát ra khỏi thể
xác, nó phải ở trong trạng thái trung
ấm bao lâu trước khi đi tái sinh ?
- Quan điểm của Phật giáo về việc tự
sát
- Hiến tặng thể xác có tốt không
?
- Làm gì để chuẩn bị cái chết ?
- Chủ nghĩa vị tha là trái tim của Phật
giáo
3. Dưới ánh sáng của cái chết
4. Bạn muốn ''ngày ấy'' như thế nào
?
5. Chết, một pháp môn tu
6. Thực hành Pháp quán về cái
chết
7. Hiến xác theo quan điểm của Phật
giáo
8. Cơ thể sau khi chết
9. Một Lạt ma Tây Tạng tái sinh ở Hoa
Kỳ
10. Một thế hệ mới của Lạt ma
Tây Tạng
11. Tái sinh ở Phương Tây
12. Tin Phật trước khi chết
13. Một bằng chứng sống về thuyết tái
sinh
14. Alan Molloy, một bác sĩ Phật tử
người Mỹ.
CHẾT, TRUNG ẤM THÂN VÀ
TÁI SINH
1.
CHẾT :
Qua
sự huân tập và ảnh hưởng của tam
độc tham, sân, si, ác nghiệp đã hình
thành, thiết lập những mối liên kết
với tâm thức qua những khuynh hướng
có mục tiêu. Khi con người chết, nếu
có những khuynh hướng như thế sẽ tiếp
tục đầu thai trong vòng sanh tử luân
hồi với thân và tâm được thừa
hưởng từ sự tích lũy nghiệp thiện
và ác ở kiếp sống vừa qua.
Một
số người chết vì kiệt sức hoàn
toàn, một số khác chết do hao mòn
phước đức, chết không đúng thời
điểm hay còn gọi là bất đắc kỳ
tử.
Một
người chết trong ba trạng thái tâm :
Thiện, Bất thiện hay Vô ký. Trong
trường hợp thứ nhất, người hấp
hối có thể quán tưởng về Tam Bảo hay
một vị thầy đức hạnh của mình, bằng
cách đó tâm của vị ấy mới phát sinh
tín tâm. Hoặc người hấp hối có thể
nuôi dưỡng niềm hỷ lạc vô biên để
thoát khỏi sự ràng buộc của những
phiền não tham dục, luyến ái, thay vào
đó bằng cách quán niệm Tánh không và
Tâm từ bi. Điều này có thể tự
người hấp hối làm hoặc qua sự trợ
niệm của người khác. Nếu những yếu
tố trên được nuôi dưỡng trong thời
điểm hấp hối, một người chết với
tâm thanh tịnh như thế thì việc tái sinh
của họ sẽ được cải thiện. Đây là
cách tốt nhất để chuẩn bị cho cái
chết.
Mặt
khác, ta nên tránh đánh thức, quấy
nhiễu người đang hấp hối, điều đó
chỉ khiến cho họ nổi giận thôi. Đôi khi
người thân và bạn bè tập trung quanh
tử sàng bày tỏ niềm tiếc thương và
khóc lóc bi thảm, sẽ làm cho người
hấp hối khởi tâm tham ái và quyến
luyến. Nếu người chết với tâm niệm
bất thiện như thế, sẽ đẩy họ đầu
thai vào cõi xấu, điều này rất nguy
hiểm.
Trong
bất cứ trường hợp nào, trạng thái
tâm của người hấp hối bao giờ cũng
quan trọng trước khi chết. Bởi vì ngay
cả một người tu luyện tâm linh mà bị
quấy rầy vào thời điểm ấy cũng làm
cho phiền não phát khởi, chính trạng
thái tâm này sẽ tạo ra ác nghiệp và
đó là động cơ chính dẫn dắt người
ấy tái sinh vào một cõi bất lợi như
tam đồ ác đạo : Địa ngục, Ngạ quỷ
và Súc sanh. Vì thế, điều tối quan
trọng cho cả người hấp hối lẫn
người sống là tránh tạo ra những tình
huống gây bất lợi cho tâm thức của
người chết. Chúng ta cần biết điều
này.
Những người chết trong trạng thái
tâm thiện đều có cảm giác mình thoát
ra ánh sáng từ trong bóng tối, loại bỏ
sự khổ đau và đạt được hạnh phúc.
Có nhiều trường hợp người bệnh rất
nặng, đến lúc gần chết đã nói ra
những điều tốt đẹp thoải mái thay vì
nói đến căn bệnh của họ. Còn đối
với người bệnh tuy nhẹ nhưng nỗi sợ
hãi quá lớn, giai đoạn cuối cùng này
tâm họ luôn hoảng hốt, nên có cảm
giác mình từ nơi ánh sáng đi vào trong
bóng tối và từ nơi hạnh phúc bị rơi
vào cảnh khổ đau.
Một
số người, thân thể ấm áp của họ
đã bị suy yếu qua cơn bệnh nên họ trở
nên khao khát muốn được hơi nóng,
bằng cách này củng cố thêm cho khuynh
hướng tái sinh của họ vào nơi như địa
ngục nóng hoặc một nơi có khí hậu
nóng. Những người khác thích cái mát
lạnh, thích uống nước lạnh và khiến
cho khuynh hướng tái sinh của họ vào nơI
như địa ngục hàn băng chẳng hạn. Vì
thế điều này rất quan trọng là tránh
khởi những ý niệm tham ái trong lúc
chết và trực tiếp hướng tâm đến
những điều thiện.
2.
THÂN TRUNG ẤM :
Thân
trung ấm (bardo/intermediate state) nên hiểu
nôm na là sự sống sau khi chết trước
khi thần thức người ấy đi tái sinh
vào một trong sáu cõi nào đó (Trời,
Người, A tu la, Địa ngục, Ngạ quỷ va
Súc sinh). Thân trung ấm là thân không
có xác thịt mà là lấy tư tưởng làm
thân. Sau khi người ấy chết, thần thức
thoát ra khỏi xác thì trụ lại ở thế
giới trung gian này từ một đến bảy
tuần lễ, rồi sau đó tìm kiếm một nơi
thích hợp với nghiệp lực của mình mà
đi tái sinh. Nếu trong thời gian này,
thân trung ấm chưa tìm thấy một nơi
tương ứng với mình để tái sinh thì
nó lại chết đi sau mỗi bảy ngày, sau
đó thần thức lại chuyển qua một thân
trung ấm khác, chu kỳ sinh diệt này cứ
lập lại cho đến khi thần thức đi tái
sinh.
Trong
thời gian ở lại với cõi trung ấm
này, vào những ngày đầu, vong linh
không nhận ra mình đã chết, họ quay lại
gia đình để gặp những người thân
nhưng không ai biết, họ hỏi thăm từng
người nhưng không ai trả lời, họ cố
gắng sinh hoạt trở lại bình thường như
lúc còn sống nhưng không thể được,
cho đến khi họ tự phát hiện ra bóng
hình không in lên đất, không phản chiếu
trên gương, họ mới biết là mình đã
chết. Từ đây, họ lần lượt nhớ
lại những thiện và ác nghiệp mà họ
đã tạo ra trong đời sống vừa qua. Tất
cả những cảnh tượng hạnh phúc hay
khổ đau đều hiện ra trước họ như một
cuộn phim suốt cuộc đời họ. Nếu vong
linh là người từng tạo phước, tu tập
tâm linh, thì luôn có những cảm giác
yên bình, thanh thản và dễ dàng để tìm
đường tái sinh vào cõi lành. Còn nếu
những người từng tạo ra ác nghiệp,
có đời sống tiêu cực thì luôn đối
mặt với những cảnh tượng khổ đau,
kinh hoàng, sợ hãi, thất vọng và chán
chường. Họ lang thang một cách tuyệt
vọng trong cõi trung ấm và muốn tìm một
thân xác để tái sinh tương xứng với
nghiệp lực của họ. Nếu thân trung ấm
có tu tập và làm chủ được thần
thức của mình, thì người ấy chọn
lựa cho mình một cảnh giới tốt để
tái sinh, ngõ hầu tiếp tục tu luyện
hoặc vì hạnh nguyện cứu độ chúng sinh.
Trái lại thì không có sự lựa chọn
nào, mà thần thức người ấy bị buộc
phải thọ sinh vào một cảnh giới nào
đó khế hợp với nghiệp lực của
mình, cho dù người ấy có muốn đi hay
không.
3.
TÁI SINH :
Nếu
được tái sinh trở lại cõi người,
thần thức của người ấy thấy cha mẹ
tương lai của mình đang nằm với nhau.
Nếu người ấy tái sinh thành người nam
thì phát khởi tâm muốn chiếm hữu
người mẹ mà rất ghét người cha. Nếu
tái sinh trở thành người nữ thì
ngược lại, thần thức người khởi
tâm muốn giao hợp với người kia, nhưng
lúc ấy họ chỉ thấy bộ phận sinh dục
của người kia (nam hay nữ) mà không
thể thực hiện được, do đó họ nổi
giận, chính cơn giận này đã làm chấm
dứt thân trung ấm của họ và thần
thức của họ được chuyển qua đời
sống kế tiếp, bằng cách nhập vào bào
thai của người mẹ và bắt đầu với
hình dáng của một con người. Khi ấy tinh
cha và huyết mẹ được kết hợp với
thần thức của người ấy, họ tự
nhiên và dần dần phát triển thành một
con người.
Như
đã nói ở trên, khi gần đến ngày
tái sinh, thần thức của người ấy bị
lôi kéo về nơi tái sinh tương lai, thậm
chí nơi ấy là địa ngục. Ví dụ, một
người đồ tể nhìn thấy một con cừu,
anh ta muốn đuổi bắt và giết chết nó,
nhưng lập tức anh ta thấy bóng mờ xuất
hiện, nên anh ta giận dữ, cơn giận đã
làm kết liễu thân trung ấm của y và
thần thức của y rơi vào địa ngục hay
súc sinh.
Sự
chuyển tiếp sự sống từ đời này sang
đời khác là nghiệp lực. Nghiệp (karma)
có một năng lực cá biệt và đóng
một vai trò rất quan trọng trong việc cấu
tạo tâm tánh của con người. Nghiệp
được hình thành dưới sự tập hợp
của tam độc tham, sân, si hay vô minh và
ái dục. Chính vô minh (ignorance) và ái
dục (desire) là cội rễ của mọi ác
nghiệp. Do ác nghiệp này mà khiến cho con
người trôi lăn trong vòng sinh tử luân
hồi. Để thoát khỏi vòng luân hồi sinh
tử khổ đau này con người phải nổ
lực tu tập đoạn diệt cho bằng được
cội rễ của vô minh. Khi vô minh bị tận
diệt thì ái dục cũng bị tận diệt, ái
dục diệt thì sinh, lão, bệnh, tử sầu bi
khổ ưu não cũng không còn, và lúc ấy
con người mới thật sự thoát khỏi
vòng vây của sinh tử luân hồi.
CUỘC
HÀNH TRÌNH ĐI ĐẾN KIẾP SAU
Thượng
tọa Pende Hawter, sáng lập viên Dưỡng
Đường Tiếp Dẫn Kasura để chăm sóc
người sắp lâm chung ở thành phố
Brisbane, tiểu bang Queensland, Úc Đại Lợi,
đã thực hiện cuộc phỏng vấn các bậc
Lama tên tuổi như Dalai Lama, Dilgo Khyentse
Rinpoche, Kirti Tsen-shab Rinpoche, Garje Khamtul
Rinpoche, và Geshe Lamrimpa, về tiến
trình hấp hối, chết và tái sinh của con
ngườị. Cuộc phỏng vấn được thực
hiện vào tháng 5 năm 1995 tại tỉnh
Dharamsala, miền Bắc nước Ấn Độ.
GIÚP
ĐỠ CHO NGƯỜI HẤP HỐI
Xin
cho biết cách nào tốt nhất để chung ta
có thể giúp đỡ cho người đang hấp
hối và người vừa qua đời ?
Dalai
Lama : Khi gặp người đang
hấp hối tuyệt đối tránh quấy rầy họ.
Đặc biệt là không làm cho họ nổi
giận hoặc khóc lóc để họ sanh tâm
quyến luyến. Ngược lại, phải nhắc
nhở để họ hành trì, tu tập vào giờ
phút cuối, ví dụ như quán tưởng hình
ảnh của chư Phật, các vị thầy đức
hạnh, Chúa Jesus, hoặc một lời dạy nào
đó tùy theo tín ngưỡng của họ. Nếu
người ấy không theo một tôn giáo nào,
nên giúp đỡ cho họ chết trong thanh
thản và yên bình.
Khi
người ấy trở nên hôn mê, nếu là
hành giả, thì nhắc nhở pháp môn mà
họ công phu thường ngày, đặc biệt là
lúc họ sắp ra đi. Kế đó tụng một số
bài cầu nguyện. Nếu thân nhân muốn
tốt cho người đang hấp hối thì tự
tụng niệm hoặc cung thỉnh chư tăng về
nhà để cầu nguyện cho họ. Trường
hợp không có chư Tăng tiếp dẫn,
người thân trong gia đình có thể tụng
thần chú Om mani padme hum, hoặc những
thần chú khác mà họ biết, để tiếp
dẫn cho người chết. Sau tang lễ, gia đình
tiếp tục thọ trì, tụng niệm đến ngày
thứ 49 cho hương linh dễ dàng tìm lối
tái sinh vào cõi lành.
Công
việc mai táng thi hài còn tùy nghi theo
mỗi nền văn hóa hay tập tục của
người chết, điều này không mấy quan
trọng, bởi vì một khi thần thức
(consciousness) đã thoát thân thì xác
chết ấy cũng giống như một đống đất.
Tại một làng không theo Phật giáo thuộc
miền Nam Ấn Độ, tập quán của họ là
chôn cất thi hài rồi trồng cây lên
mộ. Đây là một cách để chấm dứt
việc ô nhiễm không khí (air pollution) từ
hỏa táng bằng củi đuốc, một tập tục
thường thấy ở Ấn Độ, điều này
còn tránh đi việc hủy diệt cây rừng,
một tài nguyên quý giá của quốc gia.
Đây là một phương pháp tốt mặc dù
nó không bằng như ở phương Tây nơi
dùng điện để hỏa táng.
Garje
Khamtul Rinpoche : Đối với người
hấp hối và người vừa chết, cách
tốt nhất mà bạn muốn giúp đỡ là
phát khởi lòng bi mẫn của chính bạn
hướng đến với người sắp lâm chung.
Lòng thương yêu và bi mẫn của bạn rất
có lợi ích cho người hấp hối, vì nó
phát khởi từ lòng bạn nên bạn dễ
dàng tỏ bày cho người ấy lòng bi mẫn
vô điều kiện mà người sắp chết rất
cần. Lòng bi mẫn thật sự của bạn sẽ
tạo ra một bầu không khí yên bình cho
người hấp hối nghĩ đến chiều hướng
tâm linh cao cả và con đường tu tập
của họ trong tương lai. Một điều quan
trọng khác là bạn đừng xa lánh và
bỏ người đang hấp hối một mình. Chết
là sự thật và là một nỗi sợ hãi
ghê gớm nhất đối với con người. Do
đó, bạn nên ở bên cạnh họ, hoặc
cầm tay họ nói lời an ủi, hoặc nhìn
vào mắt họ với niềm cảm thông. Thân
thể cũng có ngôn ngữ yêu thương của
nó, hãy sử dụng nó đừng sợ hãi
vì e rằng họ hôi hám, dơ bẩn hoặc sợ
họ bắt mình theo, nếu bạn thể hiện
được những cử chỉ trìu mến như thế,
thì bạn sẽ đem lại cho người sắp lâm
chung niềm an lạc lớn nhất ở cuối
cuộc đời họ.
Khi
bạn chắc chắn người ấy đã chết,
bạn vẫn duy trì lòng bi mẫn vô bờ của
bạn và cùng với mọi người ở bên
cạnh tử sàng mà tụng lớn danh hiệu
chư Phật như Phật Thích Ca Mâu Ni, Phật A
Di Đà hoặc danh hiệu 35 vị Phật
v.v... Nếu bạn niệm Phật với lòng bi
mẫn vô biên của bạn sẽ giúp cho
người lâm chung một bước đường tái
sinh.
Kirti
Tsenshab Rinpoche : Có hai hạng người cần
xem xét ở đây. Thứ nhất là người
có tín ngưỡng. Thứ hai là người
không theo một tôn giáo đặc biệt nào.
Nếu người hấp hối là một Phật tử
thì chúng ta tụng kinh và niệm Phật tiếp
dẫn siêu độ cho họ. Nếu người ấy
không theo tín ngưỡng nào thì điều tốt
nhất để giúp đỡ họ là khuyên họ
nghĩ đến những người tốt và những
điều tốt đẹp nhất trên cuộc đời.
Khi một người đang hấp hối và trong
giờ phút bối rối ấy, không gì tốt
hơn là đem lại cho họ cái cảm giác
bình an và ấm áp của lòng người, cảm
giác này rất có ích cho tâm thức của
họ.
Tôi
sẽ giải thích chi tiết về những gì để
giúp đỡ hai hạng người này. Đối
với người theo đạo Phật, chúng ta có
thể gợi cho họ hồi hướng về những
gì mà họ từng quy y và tu tập. Chúng ta
có thể nhắc cho họ nhớ về Bồ đề
tâm, tỉnh thức tâm, thanh tịnh tâm và
sự tập trung thiền định... Điều này
rất có lợi cho một Phật tử. Đối
với người không có đạo, chúng ta có
thể khuyên họ suy nghĩ rằng : "Cầu
mong cho mọi người được hạnh phúc,
cầu mong cho mọi sinh linh được an vui,
cầu nguyện cho mọi chúng sanh thoát khỏi
những khổ sầu của họ". Những ý
tưởng muốn sự tốt đẹp đến với
người khác, rất có ích cho người hấp
hối.
Đối
với Phật tử lúc sắp chết, nên nhắc
cho họ nhớ về công hạnh của chư Phật,
nhớ về hình ảnh của một vị Phật nào
đó, có thể đặt một ảnh Phật trong
phòng của họ... Điều này rất có ích
và là điều kiện giúp cho vong linh tái
sinh vào đất tịnh.
Ngay
sau khi người ấy chết, điều rất quan
trọng cần lưu ý là không được đụng
chạm đến thi hài của họ để cho tiến
trình chết không bị gián đoạn, tiến
trình này chỉ chấm dứt khi thân trung ấm
(Bardo/Intermediate state) hoàn toàn thoát ra
khỏi thân xác. Ở Tây Tạng,
người thân phải đợi 48 tiếng đồng
hồ sau mới tiến hành tang lễ.
Geshe
Lamrimpa : Nói chung, khi đã xác
định người ấy sẽ chết, điều quan
trọng là phải hoàn thành mọi ước
nguyện của họ. Nếu họ tỏ ra luôn luôn
giận dữ thì chúng ta nên làm cách nào
để ngăn chặn cơn giận của họ, giữ
cho họ luôn ở trạng thái thanh thản và
yên bình. Nên tránh gây ồn ào và di
chuyển đi lại thường xuyên bên người
ấy. Nếu người hấp hối quá quyến
luyến người thân, vợ (hoặc chồng), cha
mẹ con cái, thì tốt nhất không cho
những người thân này đến gần tử
sàng. Hãy cố gắng làm điều này để
chấm dứt lòng luyến ái của người
hấp hối. Nếu xác định chắc chắn rằng
họ sẽ chết, thì chúng ta nên cho họ
những thức ăn uống về những thứ
mà họ đòi hỏi để họ vui lòng và
thỏa mãn, ngay cả thức ăn được
kiêng cữ trong thời gian điều trị. Tuy
nhiên, không được cung cấp độc dược
và thức ăn có thể đe dọa đến mạng
sống.
Nếu
chúng ta cố gắng nói pháp cho người
hấp hối nhưng họ không thích nghe, thì
tốt hơn hết là đừng nói, vì điều
này tạo cho họ có ác cảm đối với
Chánh pháp. Nếu họ nghĩ như vậy thì
đời sau họ sẽ không thích gần gũi
với Phật pháp.
Tương tự, nếu họ thích anê uống
mà mình không làm thỏa mãn ước muốn
của họ, điều này làm họ giận dữ
và là nguyên nhân khiến họ đọa vào
loài ngạ quỷ (hungry ghost).
Nếu
một người tin tưởng vào sự giúp
đỡ của người khác và cũng là
người từng giúp đỡ kẻ khác trong
đời này, chúng ta nên nhắc cho họ
nhớ về công hạnh tốt của họ và
chúc mừng họ về việc tốt mà họ đã
làm. Việc này làm tâm họ vui và họ
sẽ tái sinh ở một nơi đầy hạnh phúc.
Nếu chúng ta giúp cho ước nguyện của
người hấp hối hoàn thành, thì họ sẽ
rất mãn nguyện. Điều này ngăn ngừa
lòng tham ái, giận dữ, quyến luyến và
những tâm tà kiến khác của người
hấp hối nổi lên, vì thế sẽ giúp họ
không đọa vào cõi xấu mà tái sinh
vào cõi lành.
Đối
với Phật tử và người từng thọ trì
một pháp môn nào đó thì thật là
thuận lợi nếu họ được chúng ta nhắc
lại mười điều Phật dạy trước khi
chết như sau :
1.
Không nên khởi niệm tham đắm chấp thủ
mọi dục vọng ở đời này. Nên cố
gắng và tránh hướng tâm ái luyến
đến người thân của mình, vì dẫu
đời sau có gặp lại thì cũng phải chia
lìa. Trong thời điểm hấp hối, ta phải
bỏ tất cả mọi thứ lại phía sau. Ta
cũng không nên chấp đắm tấm thân của
mình, vì lúc chết ta phải rời bỏ nó.
Ta không luyến tiếc các thứ như thức
ăn, áo quần, nhà cửa, vì những thứ
ấy cuối cùng cũng từ bỏ ta.
2.
Ta nên phát khởi lòng bi mẫn và thương
yêu đối với mọi chúng sanh.
3.
Ta nên đoạn tận mọi phẫn uất và thù
hằn, nếu không thì nó sẽ làm hại ta
trong kiếp sau.
4.
Tất cả các giới pháp mà mình thọ trì
nấu đã vi phạm thì phải cố gắng sám
hối cho thanh tịnh trước khi chết.
5.
Ta phải phát tâm dõng mãnh trong đời
vị lai sẽ thọ trì và giữ giới pháp
thanh tịnh.
6.
Ta phải cảm thấy đau xót về những ác
nghiệp mà mình đã gây tạo cho người
khác trong đời này và phải sám hối
để dễ dàng tái sanh.
7.
Ta phải nhớ đến những công đức mà
mình đã làm trong đời này, về những
công đức của người khác đã làm
và phát tâm sẽ tiếp tục làm trong vị
lai.
8.
Ta nên nghĩ đã đến lúc mình phải ra đi
để đến đời sau, không có gì sợ
hãi cả, vì đó là quy luật tự nhiên
có sinh ắt có tử.
9.
Phải quán thấy mọi sự vật hiện
tượng đều do nhân duyên sinh và cũng
do nhân duyên ma hoại diệt.
10.
Ta phải quán thấy rằng mọi sự vật
hiện tượng đều vô ngã để ta vượt
thoát khỏi sầu và đạt được sự an
lạc.
Dilgo
Khyentse Rinpoche : Cách tốt nhất
để giúp cho người hấp hối là lời
nói và hành động của mình phải
được thúc đẩy bởi lòng từ bi. Nếu
có thể thì cung thỉnh Lama đức hạnh
đến để làm pháp chuyển đi tâm thức
(transference of consciousness) cho người hấp
hối. Pháp này Tạng ngữ gọi là Powa,
được xem là một pháp tu đặc biệt có
giá trị và hiệu quả nhất để giúp cho
người hấp hối. Bạn quán tưởng hình
ảnh đức Phật ở trên đầu người
hấp hối. Quán tưởng những tia sáng
chiếu rọi vào người sắp lâm chung làm
sạch bản thể của họ, và quán thấy
họ tan thành ánh sáng, hòa nhập vào
ánh sáng của chư Phật. Việc chuyển di
tâm thức có thành công hay không là
còn tùy thuộc vào sức thiền định của
người đang thực hiện pháp tu nàî
Pháp tu đặc biệt này không những dành
cho người sắp chết mà còn có thể
giúp tịnh hóa và chữa lành bệnh cho
người còn sống. Các vị Lama vẫn
thường dùng pháp này để cầu an thọ
mạng cho người già yếu. Một số vị
thầy cho rằng nên thực hiện pháp
chuyển di tâm thức vào khoảng ngừng
lại giữa hơi thở vào và hơi thở ra.
Nhiều người khác thì nói rằng nên
thọ trì pháp này càng nhiều càng tốt
sau khi người đó chết để hộ trì cho
thân trung ấm của họ dễ dàng tái
sinh.
Theo
giáo nghĩa của Luật Tông thì nên hỏa
táng thi thể càng sớm càng tốt sau khi
chết. Nhưng theo Mật Tông thì tốt nhất
là đừng di dời thân thể sau khi chết
trong vòng ba ngàî
Hỏi
: Người sắp lâm chung rất đau đớn về
thể xác và hãi hùng với nỗi sợ
chết. Phương pháp nào tốt nhất để
giúp họ vượt qua nỗi sợ hãi đó
?
Garje
Khamtul Rinpoche : Ở phương Tây
người ta thường dùng thuốc Á phiện
hoặc thuốc an thần để giảm nỗi đau
thể xác của người hấp hối và giúp
cho họ chết trong bình an. Tuy nhiên theo
Phật giáo thì con người cần phải chết
một cách đầy đủ ý thức, có sự
tự chủ và tỉnh táo càng nhiều càng
tốt. Vì thế cần phải kiểm soát sự
đau đớn để nó không thể che mờ ý
thức của người sắp lâm chung, đó là
điều kiện cốt yếu của việc làm giảm
sự đau đớn về thể xác.
Thứ
hai, làm gì để giúp người sắp chết
vượt qua nỗi sợ chết? Trước
hết, bạn phải thật bình tĩnh và chính
bạn cũng phải vượt qua trước nỗi
sợ ấî Khi giúp đỡ người hấp hối,
bạn cần phải để ý mỗi phản ứng
của chính bạn, vì phản ứng của bạn
sẽ phản chiếu trên phản ứng của
người sắp chết và nó sẽ góp phần
rất lớn vào sự an ủi của họ hay tàn
phá họ. Khi niệm Phật tiếp dẫn, bạn
cần chú ý trấn an người hấp hối
rằng trong giờ phút cuối cùng ngày họ
sẽ đối mặt với vô số những cảnh
tượng hãi hùng khác nhau mà lâu nay
họ chưa từng biết, và điều đó khiến
cho họ vô cùng sợ hãi. Tuy nhiên, bạn
phải đảm bảo chắc chắn rằng những
ảo ảnh đó là không có thật, chúng
chỉ là sản phẩm từ ảo giác của
người hấp hối. Nếu có thể trao cho họ
chuỗi ngọc Mani, hoặc một xâu chuỗi hạt
của các thầy đức hạnh sẽ giúp đỡ
cho họ vượt qua nỗi sợ hãị (Chuỗi
hạt ở đây là biểu tượng năng lực
của bậc đạo sư).
Hỏi
: Đối với người không phải là Phật
tử, họ không theo một tín ngưỡng nào,
thì làm gì để giúp họ ?
Garje
Khamtul Rinpoche : Đối với một
người không tin hoặc không biết gì về
đạo Phật, chỉ cho họ viên ngọc Mani
cũng như an ủi và giải thích cho họ
biết những cảnh tượng rùng rợn mà
họ sắp thấy trong chốc lát chỉ là
những ảo ảnh trong giấc mộng chứ
không thật có. Nhờ sự dặn dò
trước này mà họ sẽ vượt qua nỗi
sợ hãi khi hấp hối.
KHI NÀO THẦN
THỨC CỦA NGƯỜI MỚI RA KHỎI THỂ XÁC
?
Hỏi
: Ở phương Tây, dấu hiệu thông
thường của cái chết là chấm dứt hơi
thở và tim ngừng đập. Còn theo Phật
giáo thì phải mất bao lâu sau khi việc
này xảy đến thần thức mới thoát ra
khỏi thể xác ?
Kirti
Tsenshab Rinpoche : Có lẽ có hai hạng
người cần xem xét ở đâî Thứ nhất,
những người trẻ tuổi hoặc những
người đã nằm chờ chết trong một
thời gian dài. Hạng người này tâm
thức rất tinh tế và thần thức của
họ sẽ không lưu lại trong thể xác lâu,
có thể chỉ một ngày thôi. Thứ hai là
những người mạnh khỏe và cái chết
đến nhanh, thần thức của họ lưu lại
trong thể xác đến ba ngàî
Những
cái chết khác như chết bất đắc kỳ,
chết vì tai nạn hay vì bạo lực. Chẳng
hạn hai người đánh chém nhau, một
người trong số đó chết đột ngột, thì
thần thức của họ không lưu lại trong
thể xác lâu. Nói chung mọi người tùy
thuộc vào tâm thức nặng hay nhẹ của
mình mà thoát ra khỏi thân xác sau khi
chết.
Geshe
Lamrimpa : Khi hơi thở dứt và
tim ngừng đập, nó chỉ rõ rằng phần
thô của thần thức đã tan mất. Tuy
nhiên có nhiều trường hợp, phần tinh
tế của tâm thức còn lưu lại trong xác
thân người ấy hàng tuần lễ, thậm chí
có lúc cả tháng. Nhưng hầu hết là
phần tinh tế tâm thức rời khỏi thể
xác trong ba hoặc bốn ngày, trong thời
gian này thi hài không bốc mùi hoặc
thối rữa.
Garje
Khamtul Rinpoche : Chưa thể xác
định rằng một người bình thường chết
thần thức của họ rời khỏi xác trong
ba ngày sau đó. Nhiều người lưu lại
lâu hơn, nhưng một số người khác thì
trụ lại thời gian ngắn hơn. Có
nhiều ví dụ điển hình trong số các vị
Lama Tây Tạng. Như đức Lama Ling Rinpoche,
thầy dạy học của đức Dalai Lama, thần
thức của ngài đã trụ lại trong xác
thân cả tuần lễ sau khi viên tịch. Ở
trong cộng đồng người Tây Tạng, những
trường hợp tương tự vẫn thường
xảy ra.
Tóm
lại, việc hỏa táng hoặc tiến hành tang
lễ hay di chuyển thể xác tốt nhất phải
đợi ba ngày sau. Tuy nhiên, ngày nay
điều này khó thực hiện được vì
người ta sợ ô nhiễm, do vậy, nên làm
phép chuyển di tâm thức trước khi
động đến thể xác của quá cố.
Hỏi
: Trường hợp của những người chết
vì bệnh quá nặng như ung thư và Aids
(Sida) thì thần thức của họ có thoát
xác nhanh hơn không ?
Garje
Khamtul Rinpoche : Điều này
không chắc chắn lắm. Việc thoát xác
sớm hay muộn không thực sự tùy thuộc
vào người chết bị tai nạn hay bị bệnh
nặng, mà tôi nghĩ rằng việc ấy có
liên hệ mật thiết đến thiện và ác
nghiệp của người mất. Ví dụ, đối
với một người tu tập theo pháp Dzogchen
hay một pháp nào khác thì sau khi chết
họ tiếp tục quán tưởng Tánh không
và thần thức của họ duy trì lại trong
thể xác rất lâu, cho dù họ không thể
luyến ái tấm thân ngũ uẩn này.
Hỏi
: Các ngài có thể cho biết khi nào thì
thần thức rời khỏi thể xác ? Những
dấu hiệu nào cho chúng ta biết rõ điều
này ?
Kirti
Tsenshab Rinpoche : Một lần
nữa chúng ta lại thảo luận về hai hạng
người thoát xác sau khi chết. Bây giờ
tôi sẽ không đề cập đến hạng
người có thần thức lập tức thoát
xác sau khi chết mà chỉ nói đến hạng
người có phần tinh tế thần thức lưu
lại trong thi thể nhiều ngàî Người ta
nói rằng trước khi thần thức người
ấy thoát ra khỏi xác thì trên thi thể
họ sẽ có một điểm nóng được tụ
lại duy nhất có màu đỏ hoặc màu
trắng, điểm nóng tụ lại ở đâu thì
thần thức sẽ thoát ra ở chỗ đó. Ví
dụ, nếu điểm nóng hội tụ ở đỉnh
đầu thì chúng ta tin rằng người ấy sẽ
tái sinh vào cõi lành, điểm nóng tụ
lại ở bàn chân thì chắc chắn người
ấy sẽ đọa vào hạ giới. Dấu hiệu cho
biết khi thần thức thoát xác sẽ có
một ít máu chảy ra ở lỗ mũi hoặc tinh
dịch thoát ra từ bộ phận sinh dục.
Tuy nhiên, có một số người không thấy
dấu hiệu này, đó là những người
chết đột ngột vì tai nạn hay bị bệnh
tim. Dấu hiệu này chỉ tìm thấy ở
những người có tiến trình chết chậm
và lâu.
Geshe
Lamrimpa : Hầu hết người nào
bị chết vì bệnh nặng thì khi thần thức
rời khỏi thể xác đều có dấu hiệu
máu hoặc chất nước vàng chảy ra từ
lỗ mũi hoặc bộ phận sinh dục. Khi thần
thức thoát ra thì thể xác mới có mùi
hôi. Đức Dalai Lama thứ 14 từng nói
chuyện với các bác sĩ nổi tiếng ở
phương Tây về vấn đề thần thức rời
khỏi thể xác khi bệnh nhân tắt thở.
Các bác sĩ đã trắc nghiệm và nói
rằng họ đã thấy một làn khói trắng
nhỏ thoát ra từ một điểm nào đó
trên thân của người chết. Kết quả
này được kiểm tra bằng máy móc và
phân tích thể xác một cách cẩn
thận.
Những
dấu hiệu như giọt máu hoặc nước vàng
đều xảy ra đối với những người
chết vì bệnh nặng. Tuy nhiên, thi thể
người ấy thường được di chuyển quá
nhiều trước khi thấy những dấu hiệu
này, vì vậy những trường hợp như
thế tuyệt đối không bao giờ xảy ra.
Ở Tây Tạng, theo tập quán truyền thống
phải giữ thi thể trong ba, bốn hoặc bảy
ngày ngõ hầu giúp cho thần thức có
đủ thời gian để thoát xác. Trong thời
gian chờ đợi này, các lễ kỳ siêu cho
người quá cố được tiến hành một
cách nghiêm mật.
Garje
Khamtul Rinpoche : Bạn có thể
biết khi thần thức thoát xác từ sự
biến đổi của thi thể. Khi thần thức
còn lưu lại trong thể xác thì bạn cảm
thấy người ấy chưa chết thật sự,
nước da của họ còn tươi và sáng lạ
thường, giống như họ đang nằm ngủ.
Nhưng một khi thần thức đã thoát xác
thì lập tức ta thấy thi thể thay đổi
khác liền, nước da khô, tái xanh đi và
bắt đầu có mùi hôi. Lúc ấy, bạn
mới có cảm giác đó là một xác
chết chứ không phải là một người
nữa.
Những
kinh nghiệm về làn khói hoặc giọt máu
xuất ra khi thần thức thoát xác không
phải lúc nào cũng nhìn thấy được,
chúng ta chỉ nhìn thấy ở một số ít
người. Trong số những người này, khi
thần thức thoát xác, chất nước vàng
chảy ra từ lỗ mũi và ở hạ bộ. Có
một vị Lama cao cấp chết và khi thần
thức thoát xác, lỗ mũi của ngài liền
chảy ra hai dòng chấ dịch lỏng, một bên
thì màu đỏ còn bên kia màu trắng.
Hỏi
: Có đúng là cho đến khi thần thức
thoát xác, thi thể mới bắt đầu có
mùi hôi và có dấu hiệu thối rữa
?
Garje
Khamtul Rinpoche : Sự thật đúng
như thế.
Hỏi
: Khi một người chết nhưng thần thức
vẫn còn lưu lại trong thể xác. Như vậy
người ác có cảm giác gì không nếu
bị người khác đụng chạm đến họ
?
Geshe
Lamrimpa : Ho sẽ không có cảm
giác gì cả. Khi phần khô của thần
thức tan mất thì người ấy không còn
cảm giác nữa. Đối với các vị Lama
chứng đắc và người Phật tử có tu
tập, khi chết, phần tinh tế thần thức
còn lưu lại trong thể xác, thì họ có
thể ở trong tư thế ngồi thiền, đến khi
thần thức thoát xác, thi thể của vị
ấy mới ngã xuống.
Mấy
mươi năm trước, khi những người Tây
Tạng đầu tiên đến tî nạn tại tỉnh
Buxa của Ấn Độ, tại một Phật học
viện của Phật giáo Tây Tạng nọ, có
hai vị tăng đánh nhau và một người
chết. Sau đó, vì sự vụ này mà chính
quyền Ấn và người dân địa phương chỉ
trích rất gắt gao đối với người dân
Tây Tạng, họ nói rằng các tu sĩ Tây
Tạng chỉ biết chém giết nhau mà thôi.
Về sau có một Lama đức hạnh tên là
Gyari Rinpoche, đến từ tu viện Gender ở
Tây Tạng, vị này đã viên tịch tại Ấn
với tư thế ngồi kiết già trong bảy
ngày; Người Ấn được mời đến
chứng kiến cái chết lạ thường của
vị Lama này và họ cố gắng giật mạnh
khăn trải giường để làm cho thi thể
của ngài ngã xuống, nhưng ngài vẫn
ngồi thẳng như pho tượng, dù trải qua
bảy ngày nhưng thể xác của ngài vẫn
không có mùi hôi. Sau sự kiện này,
quan điểm của họ về các Tăng sĩ Tây
Tạng đã thay đổi hẳn, họ không còn
phê bình, chê bai nữa và họ để cho
các vị muốn làm gì thì làm.
Hỏi
: Nếu đụng chạm và di chuyển thi thể
trước khi thần thức thoát xác có ảnh
hưởng gì đến tâm thức của người
chết không ? Vì ở trong bệnh viện, sau
khi người hấp hối ngừng thở và tim
hết đập, còn nhiều thủ tục khác chi
phối đến tử thi. Sự can thiệp này có
hại cho thần thức người chết không
?
Kirti
Tsenshab Rinpoche : Trước hết,
nếu đó là một người tinh thông có
năng thiền định, họ cố gắng luyện tập
thiền định sau khi trút hơi thở, nếu ta
lắc mạnh thi thể của họ vào lúc họ
ở trong tạng thái thiền định thì sẽ
quấy rầy đến tiến trình tập trung thần
thức của họ. Do đó, tốt nhất là
đừng nên đụng chạm đến thể xác họ
trong thời điểm ấy. Ngay cả một người
thường (người không có tu tập) cũng
không được đụng đến thi thể của họ
cho đến ba ngày sau. Nếu một người đang
ngủ say, nhưng ta lắc mạnh thì họ sẽ
thức giấc ngay, người chết ở đây
cũng vậy, khi chạm đến họ, không có
tác hại gì cho thể xác, nhưng có hại
rất lớn đến thần thức của họ.
Thêm
vào đó, nếu chúng ta buộc phải thay
tấm khăn trải giường và nệm từ
giường của người vừa chết cho sạch
sẽ thì cũng nên thao tác nhẹ nhàng.
Tương tự, nếu người chết còn mở
mắt và hả miệng, thì yêu cầu một
người thân trong gia đình đến trước
tử thi bày tỏ lòng kíng trọng cuối
cùng rồi giúp họ khép mắt và miệng
lại để trông dễ nhìn hơn. Đối với
những người bị dị tật, tay chân cong
quẹo, lúc tẩm liệm phải kéo thẳng ra
dễ dàng đưa vào quan tài. Nhưng mỗi
cử chỉ đối với người chết đều
phải nhẹ nhàng và phải ba ngày sau khi
người ấy trút hơi thở cuối
cùng.
Hỏi
: Có lợi ích gì khi chúng ta chạm hoặc
kích thích trên đỉnh đầu của người
hấp hối và người chết, đặc biệt là
người vừa chết ?
Garje
Khamtul Rinpoche : Khi một người
vừa chết, chúng ta có thể sờ chạm
vào đỉnh đầu của họ, đó là vùng
huyệt đạo tốt nhất để thần thức
thoát ra mà ngài Lama Je Tsong Khapa gọi là
"chiếc cổng vàng". Do đó, bạn
nên kích thích vào vùng đỉnh đầu, nếu
thần thức của người chết thoát ra
ngoài bằng đường này thì chắc chắn
họ sẽ thác sinh vào cảnh giới an
lành.
Nhưng
nếu thần thức thoát ra các đường ở
hạ bộ, từ lỗ rốn trở xuống, người
ấy sẽ thác sinh vào ác đạo, như cõi
ngạ quỷ hay loài cầm thú. Vì thế,
người Tây Tạng không bao giờ tiếp
xúc phần hạ bộ của thi thể người
chết, nếu ta chạm vào chỗ nào của họ
thì thần thức sẽ tụ lại chỗ ấy mà
thoát ra ngoài.
Dilgo
Khyentse Rinpoche : Tiếp xúc vào
đỉnh đầu của người hấp hối được
xem như là đang làm phép "chuyển di
tâm thức" cho họ. Thực hiện phép
này không phải là một vấn đề đơn
giản, phải làm cẩn thận để giúp cho
thần thức của người hấp hối tập
trung ở đỉnh đầu, chỗ mái tóc giáp
nhau, gọi là cửa Brahma. Nếu đầu của
người ấy không bị sói thì chúng ta
phải nhổ năm ba sợi tóc bên trên
cửa ấy và dùng ngón tay trỏ cạo
nhiều lần vào chỗ ấy, việc làm này
nhằm giúp cho thần thức của người
chết biết chỗ mà thoát ra ngoài. Kỹ
thuật này cũng thường giúp cho chất
nước vàng chảy ra từ cửa ấy, dấu
hiệu đó chứng minh cho phép chuyển di
tâm thức đã thành công.
SAU KHI THẦN
THỨC THOÁT RA KHỎI XÁC, NÓ PHẢI Ở
TRONG TRANG THÁI TRUNG ẤM THÂN BAO LÂU
TRƯỚC KHI ĐI TÁI SINH?
Sau khi thần thức rời khỏi
thể xác và bước vào giai đoạn thân
trung ấm giữa đời này và cuộc sống
kế tiếp, phải mất bao lâu trước khi
thần thức này gá vào một bào thai
mới ?
-
Kirti Tsenshab Rinpoche : Thời
gian kéo dài trung bình để một người
đi tái sinh vào một cơ thể mới là
bảy tuần lễ. Cứ sau bảy ngày thì thân
trung ấm chết đi và rồi tái sinh lại
trong một thân trung ấm khác cho đến khi
nó bắt được liên lạc với cha mẹ
tương lai mới đi tái sinh. Tuy nhiên có
nhiều người sau khi chết chỉ mất hai
giây họ đã đi tái sinh vào cảnh giới
khác.
Lý
do tại sao thần thức phải chịu đựng
trong tiến trình trung gian sinh và tử
giốnh như ma quỷ này ? Vì do nghiệp thiện
và ác của người ấy gây tạo đời
trước sẽ quyết định dẫn dắt họ đến
nơi thích hợp, do đó phải cần có
thời gian nhất định để tìm kiếm cho
một đời sống tương lai.
-
Dilgo Khyentse Rinpoche : Bốn mươi
chín ngày là thời gian dành chung cho tất
cả mọi người, nhưng có một số
người khác cứ vất vưởng trong thế
giới trung ấm này một thời gian rất
lâu, có lúc đến bảy năm mới đi tái
sinh. Nếu trường hợp họ bị kẹt lại
trong thế giới trung gian này, họ sẽ
trở thành ma quỷ. Thông thường khi một
người đang hấp hối, chúng ta đọc kinh
cầu nguyện hoặc nhắc nhở, họ đều nghe
thấy, thậm chí người bất tỉnh cũng
thế. Đối với vong linh trong cõi trung ấm
cũng có khả năng nghe, cảm nhận và
hiểu được khi chúng ta đọc sách
"Tử thư Tây Tạng" (Tibetan Book of
the Death) để cảnh tỉnh họ. Vì thế, trong
bảy tuần lễ đầu sau khi chết là thời
gian rất quan trọng để cho người sống
làm mọi việc có thể giúp sức tái
sinh cho người chết.
Còn
thần thức của những bé chết trước
khi sinh (bị sẩy thai), trong lúc sinh hoặc
tuổi còn nhỏ, sẽ đi qua các trạng thái
trung ấm một lần nữa và nhận thấy
một hiện hữu khác. Cha mẹ của họ
cũng có thể tạo phước (meri-forious acts)
để hồi hướng công đức cho vong linh
hoặc thực hiện các pháp dành cho
người chết như thọ trì thần chú Kim
cương Tát đỏa một trăm âm (Hundred -
syllable mantra of vajrasattva Helve norg), đủ
túc số 100 biến, cúng dường đèn, bố
thí, phóng sinh các loài vật... để giúp
cho thần thức của hài nhi đó được
nhẹ nhàng và dễ dàng tìm lối tái
sinh.
-
Geshe Lamrimpa : Không thể xác định
thời gian chính xác là bao lâu. Nếu một
người không phải tái sinh vào cõi
người thì họ liền thác sinh đến cõi
khác chứ không qua giai đoạn thân trung
ấm. Nhưng nói chung một người có thể
ở trong cõi trung ấm trung bình là 49
ngày, có người ở một ngày, bốn
ngày và có khi bảy ngày... Trong thời
gian trụ lại trong trung ấm thân, vong linh
tìm kiếm một đời sống tương lai khế
hợp với nghiệp của mình để tái
sinh.
-
Gerje Khamtul Rinpoche : Đối với một
số người thời gian dài nhất là bảy
tuần lễ, nhưng có một số khác chỉ ở
trong thân trung ấm ba ngày. Phần lớn
mọi người đều phải đầu thai sau hai
mươi mốt ngày.
Không phải ai chết cũng qua giai
đoạn thân trung ấm. Có một số người
tu tập chứng ngộ, có một đời sống
phạm hạnh và lợi lạc, khi chết họ
trực tiếp tái sinh vào cảnh giới tốt
lành chứ không qua giai đoạn trung gian
này. Một người phạm tội ngũ nghịch
(giết cha mẹ, phá hoại chánh pháp...),
hoặc có một đời sống tiêu cực, ác
độc... thì sẽ đọa liền vào địa ngục,
hoặc một cõi xấu nào đó chứ không
qua giai đoạn thân trung ấm.
QUAN ĐIỂM
CỦA PHẬT GIÁO VỀ VIỆC TỰ SÁT
Xin
cho biết quan điểm của Phật giáo như
thế nào về vấn đề tự sát ?
-
Kirti Tsenshab Rinpoche : Đối với
người Phật tử, tự giết mình là một
tội rất lớn. Vì sao ? Bởi vì có
được thân người là một trong những
điều khó và làm bị thương hoặc hủy
diệt thân ấy là một điều sai lầm rất
lớn. Tự tử thường bắt nguồn từ
kết quả của những cơn nóng giận. Chỉ
có giận dữ người khác mà không làm
gì được nên trở lại giết chết mình.
Đối với một người không theo đạo
Phật cũng thế, tự tử là một hành vi
đáng trách và tội lỗi. Sau khi chết,
thần thức của họ không có một nơi
nào khác là phải lao theo nghiệp ác của
mình. Vì thế chúng ta phải nghĩ cách làm
thế nào để giúp họ vượt qua những
cơn khủng hoảng tinh thần và nỗi khổ
đau của họ. Ở trong tình trạng rối
loạn, bế tắc và tuyệt vọng, cơn khủng
hoảng trầm trọng này có thể đẩy con
người đến chỗ tự sát.
-
Garje Khamtul Rinpoche : Nhà Phật cho
rằng tự tử là một điều tồi tệ
nhất mà con người có thể làm. Đây
là một hành động tiêu cực khiến cho
thần thức của kẻ ấy gặp khó khăn
trong việc tái sinh. Theo truyền thống của
Phật giáo Tây Tạng thì có hàng trăm
vị nam và nữ thần ở trong thân của
chúng ta, nếu phạm vào tội tự sát,
đồng thời ta cũng giết cả họ. Còn
theo Phật giáo Đại Thừa thì dưới
chân của mỗi sợi tóc thì có hàng
ngàn tế bào sống khác ..., khi ta giết ta
thì đồng thời ta cũng hủy diệt
chúng.
-
Geshe Lamrimpa : Theo Phật giáo thì
tự tử là một hành vi tiêu cực và
là nguyên nhân khiến cho thần thức của
người ấy rơi rớt vào cõi xấu.
-
Dilgo Khyentse Rinpoche : Khi một người
tự tử, thần thức của họ thường
phải đi theo nghiệp xấu của mình, rất
có thể họ sẽ bị một ác ma bắt lấy
và chiếm đoạt sinh lực. Để giúp cho
những người này, các vị thầy có
năng lực phải làm nhiều lễ cầu siêu
đặc biệt như năm cuộc lễ và những
nghi thức khác để siêu độ thần thức
cho người chết.
Trong
thời gian chiến tranh tại Việt Nam, có
nhiều Tăng sĩ đã tự thiêu, với
động cơ là làm cho thế giới chú ý
đến nỗi khổ đau chiến tranh ở VN. Việc
tự thiêu của họ phải chăng là hành
vi tiêu cực ?
-
Geshe Lamrimpa : Các vị Bồ Tát
được phép thực thi một số hành vi
mà người thường cho đó là tiêu
cực. Tuy nhiên, theo Phật giáo Nguyên
thủy thì phản đối hành động này, vì
thế tự tử luôn được xem là hành vi
tiêu cực trong truyền thống này. Nếu
bạn phân tích kỹ hơn, xem động cơ khiến
các vị Tăng này tự thiêu là gì thì
chúng ta mới phán quyết là tiêu cực
hay tích cực. Trong một bộ kinh của Phật
giáo có ghi lại câu chuyện về một vị
Tỳ kheo trẻ bị một phụ nữ ép buộc
phải lấy bà ta. Vị này biết rõ rằng
nếu mình chịu lấy thì sẽ phá bỏ giới
luật ; mặt khác, nếu không chịu lấy bà
ta sẽ vu khống rằng mình đã có những
hành vi tồi bại. Vì thế, để giải
quyết tình cảnh bế tắc này mà không
phạm giới, vị ấy quyết định tự kết
liễu đời mình. Suy nghĩ như thế rồi, vị
ấy giả vờ đồng ý và nói với bà
ấy đợi một chút. Vị ấy vào phòng
trong, đóng cửa và tự đâm vào cổ
họng mà chết. Trước khi tắt thở, vị
ấy kính lễ mười phương Tam Bảo và
nói rằng : "Vì tôn kính Tam Bảo và
gìn giữ giới hạnh mà con quyết định
từ bỏ thân này".
Trong kinh nói đây là hành vi tích
cực và có công đức. Nếu trường
hợp các Tăng sĩ Việt Nam vì động cơ
muốn cứu vãn Chánh pháp của đất
nước họ không lún sâu vào chiến
tranh, vì một động cơ cao cả như thế thì
hành vi tự thiêu của họ không thể cho
là tiêu cực mà phải được xem là
hành vi của các vị Bồ Tát.
Quan
điểm của Phật giáo như thế nào về
việc chấm dứt mạng sống trước khi
người ấy chết ? Bệnh nhân yêu cầu
để cho họ chết tự nhiên bằng cách
không dùng thuốc hay những phương pháp y
học nào đó vì họ quá đau đớn về
thể xác và tinh thần trong khi việc điều
trị không mang lại kết quả.
-
Garje Khamtul Rinpoche : Trong trường
hợp này rõ ràng bạn muốn đem lại
lợi ích cho người khác, chấm dứt sự
đau đớn của họ. Tuy nhiên, cần phải
xem xét cẩn thận chứ đừng nên hành
động thiếu suy nghĩ, bởi vì giết một
mạng người là một tội ác, vì vậy,
dù đau đớn dữ dội, thay vì để cho
họ chết thì cố gắng dùng hết khả
năng để điều trị cho họ, có thể cho
họ uống thuốc giảm đau hoặc thuốc an
thần chẳng hạn. Mặt khác, nên nhớ
rằng thân người rất khó khăn mới
có được. Do vậy, các nhà chữa bệnh
phải suy nghĩ cẩn thận trước khi quyết
định việc này.
-
Geshe Lamrimpa : Người ta nên tiếp
tục chữa trị để giữ mạng sống cho
họ. Nếu người ấy chết với trạng
thái tâm giận dữ, bất an, tiêu cực
hay hôn mê thì sẽ gặp rất nhiều khó
khăn trong việc đầu thai và sẽ gặp bất
lợi cho đời sống tương lai của họ. Tuy
nhiên, nếu cho họ uống thuốc để rút
ngắn mạng sống thì cũng không thích
hợp.
Đôi
khi họ muốn được chết thì sao ?
-
Geshe Lamrimpa : Họ muốn chết trước
thời hạn, bởi vì họ không chịu đựng
nổi sự đau đớn ngay trong đời này.
Nhưng họ đâu biết rằng nỗi khổ đau
ấy họ vẫn phải đối mặt trong đời
sau, vì thế, tốt hơn hết nên giúp họ
điều trị.
-
Dilgo Khyentse Rinpoche : Sử dụng máy
móc để kéo dài mạng sống của một
người không còn cơ may lành bệnh là
điều vô lý và hãi hùng. Tốt hơn cứ
để cho họ chết một cách tự nhiên
trong bầu không khí yên bình. Khi sử
dụng máy móc mà không có hy vọng hồi
phục cho người bệnh thì không phải là
tội ác để chấm dứt việc điều trị
bằng máy. Rõ ràng không cần thiết để
kéo dài sự sống nhân tạo cho họ. Theo
cái nhìn của nhà Phật, thì chúng ta nên
làm bất cứ điều gì có thể để trợ
giúp cho người ấy đối phó với sự
xuống tinh thần trong giờ phút đau đớn
và sợ hãi, đem lại cho họ niềm bình an
vào phút cuối của cuộc đời.
HIẾN TẶNG
THỂ XÁC CÓ TỐT KHÔNG ?
Hỏi
: Ở phương Tây, hiến tặng những bộ
phận trong cơ thể người vừa chết là
việc bình thường, như hiến tặng cặp
mắt, quả thận để cho người khác,
việc làm này có ảnh hưởng hay làm
trở ngại gì cho thần thức của người
chết không ?
-
Dilgo Khyentse Rinpoche : Việc hiến
tặng thi thể ấy là một điều tốt,
bởi vì nó phát khởi từ động cơ
làm lợi lạc cho người khác với lòng
bi mẫn chân thật. Và một khi nó là
ước nguyện cuối cùng của người chết
thì tuyệt nhiên không có ảnh hưởng
hoặc có hại gì cho thần thức của họ
khi họ rời bỏ thể xác. Trái lại,
việc làm tích cực này sẽ góp phần
tạo thiện nghiệp cho người ấy trong
đời sống vị lai.
-
Garje Khamtul Rinpoche : Nếu một
người muốn hiến tặng thi thể của họ
thì nên lấy những bộ phận cần thiết
ấy sau khi người đó chết. Điều này
không có gì ảnh hưởng đến tiến trình
thần thức thoát xác và tái sinh của
họ.
Hỏi
: Có nhiều trường hợp nếu các bộ
phận của thi thể được lấy đi mà
thần thức của họ chưa rời khỏi thể
xác thì sao ?
-
Dilgo Khyentse Rinpoche : Điều này tùy
thuộc vào lòng bi mẫn và ước nguyện
của người chết. Nếu người ấy đã
từng bày tỏ nguyện vọng bố thí lớn
lao đó một cách chân thành, thì có
thể lấy đi những bộ phận cần thiết
ngay cả trước khi tim ngừng đập, cũng
không có hại gì cho thần thức.
-
Garje Khamtul Rinpoche : Như tôi đã
nói trên, thần thức sẽ rời khỏi thể
xác khi ta đụng chạm đến thi hài của
họ, chẳng hạn như ta kích thích vào vùng
đỉnh đầu để chỉ dẫn cho thần thức
thoát ra. Một khi thần thức đã ra rồi
thì bạn có thể lấy đi những thân
phần cần thiết. Do đó, nên lưu ý giúp
người chết làm phép chuyển di thần
thức trước khi lấy những thân phần
của họ.
Hỏi
: Còn phương pháp đông lạnh (Cryonics) thi
hài sau khi chết thì sao ?
-
Dilgo Khyentse Rinpoche : Việc ấy hoàn
toàn vô nghĩa, không đem lại một lợi
ích nào. Thần thức người ấy không
thể quay lại thi thể một khi người ấy
đã chết thật sự.
LÀM GÌ ĐỂ
CHUẨN BỊ CHO CÁI CHẾT ?
Hỏi
: Có phương pháp nào tốt nhất để
chuẩn bị cho cái chết của mình
không?
-
Dilgo Khyentse Rinpoche : Phương pháp
tốt nhất để chuẩn bị cho cái chết của
mỗi người là nên tu tập tâm linh trong
suốt cuộc đời mình.
-
Kirti Tsenshab Rinpoche : Một lần nữa
tôi phải đề cập đến hai hạng người,
thứ nhất là tín đồ theo đạo Phật,
thứ hai là những người không có
đạo.
Đối
với hạng người thứ nhất đã từng
quy y và tu học theo Chánh pháp, khi họ
biết rằng cái chết đang đến với họ
thì đó là thời gian giúp họ tinh tấn
hơn trong việc tu tập của mình.
Đối
với hạng người thứ hai, chưa hề nghĩ
gì về con đường đạo trong cuộc đời
họ, nên khuyên họ cố gắng phát khởi
tâm đạo, tâm đạo ở đ&