Tiếng Việt

Trang nhà Quảng Đức

Tiếng Anh

Quangduc.jpg (12458 bytes)

Phật Học


...... ... .

Chương II
Vũ Trụ Quan

Quan niệm của tôn giáo

- Đạo Học 

- Triết học 

- Khoa học và của đạo Phật.

Từ khai thiên lập địa cho đến ngày nay, khi trí thức con người đã triễn khai, nhân đứng trước vũ trụ rộng lớn, nào trăng sáng, núi cao, biẻn rộng ,sông dài ,mây bay ,gió cuốn ,hoa nở ,chim ca..Tất cả hiện tượng ấy đã là những thắc mắc của con người muôn thuở.

- Vũ trụ là gì?

- Con người do đâu mà có?

Những câu hỏi ấy luôn luôn ám ảnh tâm thức ta nó bắt ta phải suy nghĩ ,và đã có biết bao tư tưởng gia,đạo sĩ,triết nhân ,đông cũng như tây ,đã để ra rất nhiều thì giờ ,tâm lực ,viết nên những bộ sách vĩ đại ,nhằm giải đáp những thắc mắc củacon người .Nhưng ..tất cả chỉ là những mớ lýthuyết còn đọng lại trên trang giấy .Vì ,triết lýtức là đặt vấn đề để rồi truy vấn nhũng dự kiện của vấn đề ;hơn là giải quyết vấn đề ,nếu không  muốn nói là không tưởng (!)

Vậy ,muốn nghiên cứu khái quát về vấn đề quan trọng -vấn đề tìm hiểu vũ trụ và con người -trước hết ta nên du hành qua các địa hạt tôn giáo ,đạo học ,triết học,khoa học,và nhất là đạo Phật ,để khách quan tìm hiểu ,nhận định và so sánh những điểm dị đồng …rồi nhờ đó ,ta có thể nắm vững vấn đề và giải quyết vấn đề một cách chính xác hơn .

Trong các lãnh vực Tôn Giáo, đạo học, triết học , khoa học,…lẽ tất nhiên ,mỗi bên có những lối đáp khác nhau .Điều cần là ta nhìn ,hiểu nnó với tâm trạng của kẻ lủ hành đang trên đường kiếm tìm chân ly sự thật cuộc đời này.

* Tôn Giáo

Trên thế giới có rất nhiều tôn giáo.  Nhưng, ở đây chỉ bàn sơ luợc mấy đạo giáo ,đại diện cho mỗi khuynh hướng khác nhau  .Trước hết ,ta tìm hiểu về Đa thần giáo ,bởi vì tôn giáo này cũng có tính cách liên hệ mật thiết trong việc suy tìm một vũ trụ quan sinh động .

Đa Thần Giáo (Polythéisme)

Từ sơ sử thời đại, khi con người đã biết sống quâây quần với nhau trong một khung cảnh bình thản ,chất phác và hồn nhiên ,nghĩa là con người còn sống trong trạng thái man rợ "ăn lông ỏ lổ";nhân đứng trước cảnh hùng  vĩ của trời đất ,nào trăng sáng ,gío reo ,sấm chớp ,mưa táp bảo bùng …thì sinh ra khiếp sợ ,vì tự cảm thấy mình bé nhỏ ,so với vũ trụ bao la !…Tư tưởng tín ngưỡng thần linh bắt nguồn có từ đấy .Con ngươài trong thời phôi thay ấy ,đầu ớc họ hảy còn trống rôång sự nhận thức rất thô sơ ;chưa biết phải tìm phương thức nào để chống lại với thiên  nhiên ,với thú dữ …Do đó,họ đành chìịu khuất phục .Bất cứ cái gì thuộc về nhiên giới cũng mang một ý nghĩa thần lình sáng tạo và chi phối cả .Núi ,Sông ,Cây ,Cỏ ,Đất,Nước đều có thần linh cai quản .Họ đã thờ thần Sông ,,thần Núi,thần Thổ địaSự thờ cúng không   ngoài việc cầu phúc tiêu tai ;nếu chẳng may có sự rủi ro xảy đến ,,họ tín đã có thần linh che chở ,độ trì .Tục lệ này hiện nay vẫn còn thịnh hành ơở khắp dân gian .Ngoài ra ,những ngày tết trung thu (15-8Aâl) tết Đoan Ngũ (hay Đoan Ngọ ),5-5Al và các ngày sóc ,Vọng ,    hối ,Huyền ,cũng được người ta duy trì một cách thản nhiên .Các tệ đoan khác ,như xin quẻ ,xem bói ,đốt vàng mẵvv..cũng đều chịu ảnh hưởng của tín ngưỡng Đa thần giáo cả .Đấy phải chăng là do thành kiến xưa còn rớt lại ,hay tại tim óc người ta hãy còn đúc đặc bởi một tệ đoan ám ảnh .Những người theo lối tín ngưỡng này,phần đông là dân tộc thiểu số ,miền rừng núi .

Thấy sao tin vậy.  Đấy là trạng thái tâm lý của lớp người hãy còn mang nặng đầu óc tín ngưỡng thần thoại dị đoan.  Nhưng ,khi trí óc con người đã nẩy nở ,thì quan niệm về thần linh cũng được xét lại ,theo một chiều hướng mới .Dưới đây ta hãy sơ lược xét về quan niệm ấy .

Nhất thần giáo (monothéisme)

Trình độ trí thức con người lúc này đã cách biệt hẳn trước nên sự tín ngưỡng cũng xoay chiều .Họ giảm lòng tin đối với các vị thần ,để đặt niềm tin vào một vị Thượng Đế xa vời ,do óc tưởng tượng của con người sáng tạo ra.

A.  Cơ Đốc Giáo (Christianisme)

Đạo này được thành lập đến nay đã gần XX thế kỷ ,sau khi Jésus ra đời ,và do sự cải cách một tôn giáo cổ Do Thái .

Chiếu theo "Cựu Ườc và Tân Ước",người ta tìm thấy ở giáo lý của giáo hội Cơ Đốc :"Thuở sơ khai ,khi vũ trụ còn là một khoảng không mênh mông mờ mịt !…nhờ có trí tuệ ,tài năng và quyền phép (sẵn có ) của Chúa Trời ;trong bảy ngày đêm Ngài đã tạo thành bầu trời ,các vì tinh tú ,trái đất ,núi ,sông ,cây cỏ,người và vật ;mà lần đầu tiên con người có mặt trên trái đất là ông Adam và bà Eva ,kết cục hai người lấy nhau .Sau vì phạm trái cấm ,nên bị chúa phạt ,từ đấy về sau con cháu đời đời bị buộc vào "tội tổ tông".*Những người theo Cơ Đốc giáo đều tin tưởng ở ba ngôi :

Đức Chúa Cha :Thượng Đế(Diêu);

Chúa Con (Jésus);

Chúa Thánh Thần (Saint Esprit)    

Và ,theo họ nhận định thì,"Thiên Chúa là đấng Tự hữu ".Nghĩa la ,không có ai sanh ra Chúa cả .Vì ,Chúa là đấng thiêng liêng vô hình vô ảnh ,phép tắc vô cùng !Nếu ai biết thờ phục Chúa vâng lời Chúa ,làm những điều nhân đức …đương nhiên được Chúa nhìn nhận ban phúc lành cho ,và được Chúa nhìn nhận ban phúc lành cho ,và được Chúa đưa lên thiên đường ;vĩnh viễn không bao giờ không bao giờ phải sa đọa địa ngục ".Như trên ,cho ta thấy ,lập luận của Cơ Đốc giáo về nguyên lại vũ trụ này là do bàn tay Thiên Chúa tạo dựng mà có …

B.  Bà La Môn Giáo (Brahmanisme)

Tôn giáo này thoát thai từ một tôn giáo tối cổ của Aán Độ là Rig Véda,có cách đây khoảng bốn nghìn năm ,do người Aryen chủ lập .

Cân cứ trong thánh thư Védas*thì sự tín ngưỡng duy nhất của tôn giáo này là thờ thần BRAHMA=Phạm Thiên (linh hồn của vũ trụ ),vị thần hằng có đời  đời .Brahma là căn thể của vũ trụ,hết thảy vạn tật đều do Brahma sáng tạo .Vì Brahma là vô thủy vô chung .Đấy là quan niệm lúc ban sơ ,nhưng qua nhiều cải cách ,và hiện nay ,thánh thư mỗi ngày một tạo dựng thêm ,do đó ý niệm của con người (ngày nay)về một "đấng tối cao"không còn giống như trước nữa .Trong bộ Tế Nghi Thư (Brahma na)cho rằng ,đấng Chủ Tể sáng tạo vũ trụ thế giới này là thần PRAJPATI.Và xét trên nguyên lý thì Prajapati với Brahma là một thể ,đồng nhất tính .

Triết lý hình nhi thượng của thuyết "Prajapati"trong Thánh thư Brahmana,cho ta thấy :Prajapati từ chổ vô hình biến thành hữu hình .Hay nói khác ,từ trừu tượng trở thành hiện thực ,nghĩa là từ cái Có (trong cái không nó có một động tính;rồi từ cái động tính ấy nảy sinh hiện thực là thời gian và vạn vật )Nhưng trong bộ Aùo Nghĩa Thư (Upanishad)lại thường đề cập đến thần ATMAN,vì Atman là hiện thể của thần tối cao Brahma.Atmanlà hơi thở là sinh khí có bàng bạc trong không gian và cả trong vật thể nữa .Con người là một tiểu linh tính nằm trong cái đại linh tính của Brahma .Thuyết lý này đã đưa Brahma lại gần với con người ,đưa ngay vào trong con người ,tức là đặt con người bình đẳng đấng Brahma .*Những tín đồtôn giáo này đều tin rằng :vũ trụ lúc ban sơ -xin nhấn mạnh :lúc ban sơ -là do một vị (tức đã nhân cách hóa :Personnification )sáng tạo ra .Về phương diện tu dưỡng thì thánh thư dạy con người phải xả Aùc hành Thiện ,để sau khi chết (sẽ) đượcthần đón về thiên cung ,hưởng cuộc đời hạnh phúc ,sống trong cảnh huy hoàng lộng lẩy ;bằng ngược lại ,nếu bình sinh không chịu tu phúc ,không tin theo lời dạy của vị giáo chủ thì vẫn phải đày xuống hỏa ngục ,chịu muôn nghìn thống khổ ,và vĩnh kiếp khó mà thoát ra!…      ,û ø 

Giáo chủ đạo Hồi làMohamet(570-632),lúc thiếu thời ông sống cuộc đời bình thường như mọi người khác ,chưa có dấu hiệu nào tỏ ralà người xuất chúng ,hơn đời ;sau trở nên một đại điền chủ nhờ cuộc kết hôn với một người góa phụ …

Oâng đã bỏ ra mười lăm năm để tìm một con đường cải cách tôn giáo và xã hội cho dân Arabe.Năm 630Tlkể như đánh dấu năm đầu của kỷ nguyên Hồi giáo .Kinh Coran coi như một thánh kinh thiên chúa thu nhỏ ,trong đó gần như y nguyên những tên Thánh ,tên Đất .Kèm theo phần phụ lục lời dạy của đấng Tiên Tri Mohanet (cũng gọi là Muhamad)được dùng ở các quốc gia Hồi giáo như bộ luật hành chính, giảng luân lý vv… gồm 11 chương (surate).

Hồi giáo là một tổng hợp Do Thái giáo và Thiên Chúa giáo .Chính Mohanetcũng không giấu điều này ,và yự xưng mình là đấng tiên tri và gọi các giáo chủ khác (như Jésus) cũng chỉ là đấng tiên tri như mình thôi.

Hồi giáo thịnh hành ở Trung Á ,Tây Á,Bắc Phi ,Thỗ Nhĩ Kỳ và miền Tây bắc Trung Hoa (Mahométisme Islamisme), HVTĐ.

Hơn 300 năm sau ,Sa hoàng Piotr muốn thành lập cho nước Nga một tôn giáo ,liền tổng hợp một lần nữa Hồi giáo và Thiên Chúa giáo ,tự xưng là Chính thống giáo -Orthodoxie -để tránh phải mang cái tên có tính cách kỳ thị như Protestant:kẻ chối bỏ (Tin Lành )Evanggéliques hay Judaime Phảnthệ giáo (Do Thái giáo).Ong cho rằng mình đã chọn giữa hai thái cực :một đằng được lấy nhiều nợ mà kiêng có rượu (Hồi giáo)và đằng kia có nhiều rượu mà không có đàn bà (Thiên Chúa giáo).

Trong 5 điều răn của đạo Islam (tên mới tự xưng của tín đồ đạo Hồi ở VN )thì có hai điều giống như đạo Phật : 1 .Cấm uống rượu ,triệt để hơn PG.2.Bố thí ,không cần phải hô hào ,huy đông mà đó là một "luật ".Đối với tất cả tín đồ ,có phương tiện sinh sống dư giả ,thì đến mỗi cuối năm phải trích ít nhất một phẩm năm (1/5)số lợi tức trong năm đem ra phân phát cho người nghèo khó nhất của cộng đồng mình cư trú .Trong một trăm năm ,Islam đã truyền bá đạo bằng bạo lực. Mohamet thua trận và chết năm 632.

Người Thiên Chúa giáo và Hồi giáo đã nuôi một mối hận thù khôn nguôi ,khi mà tám đội viễn chinh Thập tự quân :Croisade liên tiếp đánh chiếm các nước Arabe từ thế kỷ XI tới thế kỷ XÌÌI,rồi các nước Aâu Châu đi xâm lược thuộc địa Arabe ở thế kỷ XIX.

Nói tóm lại,từ ngành ngôn ngữ học người ta biết rằng tiếng Sanskrit là nguồn gốc của các ngôn ngữ Aâu Châu để rút ra kết luận người Aryen ,một bộ tộc thời cổ mà địa bàn sinh sống là phần lớn nước Aán Độ ,dưới chân rặng Caucase và rặng Hymalaya,là tổ của giống dân da trắngngày nay.

Tiếng Do Thái, tiếng Arabe thuộc họ Aén Aêu -Inđoeuropéenne cùng phả hệ Inđo européenne Sanskrit.

Đạo Bà La Môn :Aên chay,thường cúng tế.

Đạo Do Thái: năng cúng tế,ăn chay,kiêng sát sinh ,không được làm nghề bán thịt, nghề đồ tể.

Do Thái giáo Thái là tổ phụ Moise,Abraham,tổ của Jésus.Theo thứ tự niên đại ,Bà La Môn giáo,Do Thái giáo ,Thiên Chúa giáo ,Hồi giáo,Chính Thống giáo ,Anh Quốc giáo,(Anlicean),Tin Lành đều thờ chung một Thượng Đế (hay chúa Trời) nhưng danh xưng có khác:Bà La Môn :Brahma;Do Thái giáo :Jehovah;Thiên Chúa giáo:Dieu ;Hồi giáo:Allah;Anh Quốc giáo;God.

Nhận xét chung của một số nhà Thần Học Arabe và Tây phương :giáo lý gần như giống nhau ,chưng tỏ Đấng Cứu Thếchỉ có Một (đạo nào cũng thế )Và cũng của các nhà thần học ở cuối thế Kỷ XX :Tất cả các Tôn giáo lớn rồi ra sẽ như những mạch suối cùng chảy vào một biển lớn ;chỉ một tôn giáo nào đó có đạo đức làm chuẩn mực ,nghĩa là bao hàm những điểm chính của tất cả các "đạo "và giáo lý mang nội dung tư tưởng triết học hợp với con người thời đại hơn (Phật giáo)

Đứng về phương diện luân lý ,tâm lý để nhận xét ,thì các tôn giáo trên đây vẫn có sự lợi ích trong việc khuyên người ,dạy người làm lành tránh dữ ,những ảnh hưởng tốt cho xã hội hiện tại và mai sau .Tuy nhiên ,đối với Bản Thể Luận,thuyết thần tạo -thần sinh ra vũ trụ ,vạn vật đương còn mơ hồ và huyền bí lắm.!

Đạo Học

Đạo Khổng (Confucianisme)

Những đạo học có danh tiếng ở Á Đông ,truyền bá đi các nước lân cận ,trước hết, ta phải kể đến đạo Khổng .Đức Khổng phu tử ,vị hiền triết Trung Hoa ,sinh năm 551- 47 9   TTL,thời xuân thu .Chiến Quốc ,dưới triều đại nhà Chu .Ngài đã từng nhiều tháng năm luân lạc …mà không một nơi nào trọng dụng ,sau đành quay về nước Lỗ dạy học và soạn sách ,học trò theo học có đến 3000người .Trong việc soạn thảo sách ,Ngài lấy "Quan Thư cổ xưa để chỉnh đốn lại làm bộ kinh Thư,lấy thi ca các đời trước đặt lại thành kinh Thi ,san định kinh Le,kinh Nhạc và làm kinh Xuân Thu là lịch sử nước Lổ"Người ta bảo Khổng tử chỉ là người "thuật nhi bất tác"Chính ngày cũng thừa nhận điều đó .

Đạo Khổng thành lập không phải do Ngài -mà phầ lớn .Ngài chỉ là người thu nhập những gì tinh tuynhất của Tiên Nho ;rồi cải cách những tư tưởng ấy làm thành một triết lý ,luân lý thực dụng cho xã hội nhân sinh .Khởi điểm của đạo Khổng là vấn đề quyết định sự tương quan giữa thực tại với tư tưởng để hòa đồng cái tiểu ngã người đời vào cái đại ngã của vũ trụ -lý tưởng thái hóa .Trước hết, Khổng Tử nhìn vũ trụ là một "Thể vô cùng"tức là trong mỗi vật hửu hạn đều có nằm sẳn cái thái cực vô hạn (lý thái cực ),nó bàng bạc chu lưu khắp cả …(Dịch hửu thái cực ,thị sinh lưỡng nghi ;lưỡng nghi sinh tứ tượng ;tứ tượng sinh bát quái, biến hóa vô cùng ."

-Lý thái cực (Impersonnel) mà cổ nhân đã bàn trong kinh Dịch ,gồm 64quẻ, 384hào,do trí quan sát,kinh nghiệm tìm ra từ đời Phục Hy .Thần Nông để thuyết mình sự tương quan giữa vũ trụ và vạn vật trong trường thiên diễn vô cùng phức tạp …song qui định lại ,gồm có ngũ hành "tương sinh ,tương khắc ,tuần tự sinh thành ra "Bốn tượng" **, Tâm quẻ:

-Càn              :trời. 

-Khảm         :nước,mặt trăng. 

-Cấn             :núi đá.

-Chấn          :sấm .

-Tốn             :gió ,mưa.

-Ly          :lửa,mặt trời.

-Khôn         :đất.

-Đoài: kim khí và do sự phối hợp của Aâm, Dương, (lưỡng nguyên ) làm thành tượng hình bằng những nét gạch liền và đứt (tổng hợp ).mỗi quẻ tượng hình cho một trạng thái tương quan nối liền giữa Trời ,Đất,Người.

"Dịch", nghĩa là động, biến dịch, vì khởi thủy có sự vật là có động .Động ,là lẽ Sống của vũ trụ .với luận lý này ,đạo Nhokhông có ý mong chiến thắng tạo hóa mà chỉ cốt dịch hóa nó,theo luật tiến hóa chung =Ngô đạo nhất quan chi"(luận ngữ)

Trong những kinh sách Nho gia tuy có nói đến chữ "thiên ",song không hẳn có nghĩa chỉ Ông Trời=Thiên đạo chi vị tính ,xuất tinh chi vị đạo "Nghĩa là ,"cái khuynh hướng tiềm tàng trong trời đất gọi là Tính,noi theo cái tính ấy mà hành động thì gọi là Đạo ",Nhân tính với thiên tính là một .Thiên đạo là luật điều khiển sự tiến hóa của xã hội và con người…

Đạo Khổng xây nền móng trênmột nhân sinh quanbắt đầu bằng chử "Thành "Sống trong một xã hội loạn ly ,bất công ,muốn cải tạo nó tất phải có một đường lối (chính trị)hợp thời ,nên Khổng Tử đã đặt ra "Tam Cương ",Ngũ Thường"** để ổn định tình thế .

Ở sách Lể Ký có ghi lời đức Khổng Tử so sánh trạng thái xã hội Trung Hoa gồm: -"một xã hội đại đồng" (Tam hoàng: Phục Hy ,Thần Nông Hoàng Đế) và -"một xã hội tiểu khang" (ngũ đế Vũ ,Thang,Văn Vũ ,Thánh Vương ,Chu Công).Ngài ra đời mang hoài bão cải hóa những đảo điên của thời đại "Xuân Thu"loạn lạc.  Đứng về phương diện luân lý ,đạo Khổng khuyên con người :Tu thân,tề gia,trị quốc,bình thiên hạ ,vì thân có tu ,gia mới tề ,quốc mới trị ,thiên hạ mới  thái bình ,Đó là những yếu lý nhằm ổn định cuộc sống xã hội con người muôn thuở.

Đạo Lão (Taoisme)

Người sáng lập Đạo là đức Lão Tử (LạTzu),tên Đam ,sinh năm 604  TTL.Trong thời niên thiếu ,Lão Tử chưa viết sách để truyền bá tư tưởng của mình ;mãi về sau ,Ngài mới viết cuốn Đạo Đức Kinh (gồm 81 chương có hơn ngàn lời )*,Học thuyết Lão Tử rõ ràng pha mầu sắc yếm thế -lý tưởng Đạo Lão là lý tưởng siêu nhiên -nhìn cuộc đời như một cuộc bất đắc dĩ (…)Đối với uyên nguyên của sự vật chỉ (được)coi như một khối "tinh vân"mà Lão Tủ mệnh danh là "Đạo "(Bản thể),nó vô hình ,vô hạn ,ở ngoài không -thời gian ,muôn nghìn hiện tượng cũng do "Đạo "biến hóa ra.Bất ky vật gì trong   trời đất điều có cái Đạo ấy ở trong và cùng với Đạo là một thể =Hửu vật hổn thành ,tiên thiên địa sanh "(25).

Nếu có phải gọi vật tiên thiên ấy là" Đạo ",đó chỉ sự miễn cưỡng mà thôi .Theo Lão Tử thì ,"vật tiên thiên "sinh ra vũ trụ vạn vật chỉ là một vật không tên =Ngô bất tri kỳ danh,tự chi viết "Đạo "(25)

Đạo Lão nhìn sự vật trong cởi đời chỉ như là tuồng ảo hóa ,không khác giòng nước chảy từ nội giới ra ngoại giới ,hết lớp này đến lớp kia "liên miên bất tuyệt !".Có đấy rồi không đấy .Về phương diện tu dưỡng, đạo Lão khởi lập một thuyết gọi là "Vô Vi",tức là hành vi của vô ngã ,của thân thể ,căn bản tính .Cái hành vi ấy gọi là Đức;có ý khuyên người ta trở về với đạo đức ,với trạng thái thuở ban sơ cho tâm hồn được vắng lặng trong sạch ,nghĩa là tách biệt giữa ngã và vô ngã ,để sống cuộc sống thanh cao ,có ý nghĩa hơn .Trên con đường tìm sự thật ,đạo Lão đã hướng dẩn ta đến cái Đệp và cái Thực ,đó là đạo đức và chân lý .

* Triết Học

Ở thời kỳ sơ khai ,những tư tưởng lạ đã sớm lởn vởn trong đầu óc người ta ,với bao cảnh tượng kỳ bí của thiên nhiên ,muôn vật đổi dời ;tất cả hiện tượng phôi bày ra ấy ,chẳng biết có tự bao giờ .

-"Tâm" ư !"Vật "ư ! hay "Thiên nhiên" ư !

-Nhuồn gốc của vũ trụ là gi?

Đấy là những vấn đề đã làm chảy rất nhiều mực của các bậc hiền triết xưa cũng như nay !

Ngay từ thượng cổ thời đại ,các triết gia đã lần lượt xuất hiện và đã lập ra những hệ thống tư tưởng triết học không giống nhau ;đã một thời làm mưa làm gió tại các lục địa Trung Hoa -Aán Độ ,Cận Đông và Địa Trung Hải .Khoảng bốn nghìn năm về trước ,ở Đông phương ,nhất là Aân Độ ,quan niệnm về triết học đã có .Lịch sử triết học Aán Độ ,trước thời đức Phật ,nguồn tư tưởng triết lý đã có hàm chứa trong các thánh thư Védas.Về sau càng được khai triển thêm qua các bộ thánh thư Brahmana,Aranyaka,Upanishad….Bộ Brahmana(Tế Nghi Thư ) gồm những bài thánh ca tán dương công đức và sự nghiệp vĩ đại của thần chúa tể 

Brahma(nguyên lý sáng tạo vũ trụ),và ghi những truyện về thần thoại cùng chú giải các điển tích cao đẹp các bài thánh ca .Bộ Aranyaka(Sấm Lâm Thư)là ghi chép những triết lý huyền nhiệm và các phép bí truyền của đạo …Bộ Upanishad(Aùo Nghĩa Thư),nhằm giải thích những thánh ngữ và yếu chỉ của đạo .Upanishad còn có tên là thánh thư  Vedanta,tức thâu tóm những đoạn văn chính yếu trong hai bộ Tế Nghi Thư và Sấm Lâm Thư .Bộ Vedanta được liệt vào loại "thánh thư mặc khải ".

Những thuyết lý về vũ trụ vạn vật của các hệ phái sau này mỗi ngày càng đi xa với bản chất nguyên thủy của nó .chẳng hạn ,trước kia người ta thừa nhận Brahma là nguồn gốc của vũ trụ ,thì nay lại cho vũ trụ hình thành là do các yếu tố Đất,Nước ,Gió ,Lửa,Không khí…Phái khác nói :do các Tính Có -Đại Linh Tính "phát sanh ra vật chất ,ra tính cách,ra nghiệp lực ,…rồi các tính ấy kết hợp tạo thành muôn vật ,lần lần vượt lên chỗ trừu tượng ;có những phái xướng ra Không Gian Luận ,Thời Gian Luận ,Phương Hướng Luận ….bao nhiêu tư tưởng trào ra ,làm hổn loạn một thời! 

Kế đó là đạo Phật ra đời, đã tổng hợp các luồng tư tưởng Aán Độ ,tạo thành một triết lý sống(philosophie de la vie),lấy Con Người (Nhân Bản)làm mực thước để giải quyết mọi cấn đề về cả nội giới lẫn sự kiện khách quan thế giới bên ngoài .Con người là tất cả .Vì,có con người cho nên mọi vấn đề -tức khuôn mẫu sống ở đời -mới cần phải đặt ra .Con người là một tiểu vũ trụ nằm trong cái đại vũ trụ .Thế giới này càng mở rộng chừng nào là do tầm hiểu biết của con người ,mà có.Và do vậy rõ ràng đạo Phật là một triết học siêu triết học .Vào khoảng đầu kỷ nguyên Tây Lịch ,nền triết học Đông phương ,bắt nguồn từ tư tưởng đạo Phật ,đã thấm nhập vào đại lục địa Trung Hoa ,để cùng với các trào tư tưởng Khổng -Lão …tạo thành một nền triết học đại đồng phồn thịnh ,không chỉ dành riêng cho Aán Độ -Trung Hoa*còn cho cả Á Đông và toàn thể thế giới nửa .

Nhìn về phía trời Tây, triết học được bắt rể từ Hy Lạp ,chuyển dịch qua Đại Tây Dương và cho ta thấy ,hai nguyên tắc chính để cắt nghĩa hiện tượng vũ trụ ,tức vấn đề nhận thức và hành động .Sự hiểu biết của con người là do trí tuệ :rồi từ trí tuệ dẩn đến hành động (thực nghiệm).Nhưng,hàng động như thế nào đấy lại là một việc khác (xin sẽ bàn ở phần khoa học )

Những triết gia Tây phương đầu tiên ,ta phải kể đến PYTHAGORE,một nhà toán học kiêm triết học ở thế kỷ VI -TTL ,là  người đã sáng tạo ra danh từ Triết học "Philosophie "Từ thế kỷ thứ VÌI đến thế kỷ thứ IV-TTLlà thời kỳ phôi thaicủa nền triết học Tây phương ,những triết gia sau đây đã cùng nhau đi tìm nguyên nhân tối sơ của vũ trụ ;với THALÈS (640 -547) bảo là "nước",nhưng HÉRACLITE (576-480) lại nói là "Lửa"còn ANAXIMÈNE (48 0-TTL)thì cho là "không khí",phái triết học Tự Nhiên Luận thiên về việc quan sát ,giải thích vũ trụ hiện tượng như PYTHAGORE(580-500),lấy những con số để hình dung vũ trụ .ZÉNON(IV-TTL)nhìn nhận khởi thủy vũ trụ là do Những Gì Im Lìm "Tĩnh"nhgĩa là không chuyển động ,không biến đổi ;những con số ,những sự hoạt động đều chỉ là *những bề ngoài không có trong thực tại *.

EMPÉDOCLE(IV -TTL)thì thì công nhận trong vũ trụ cả thảy có 6 yếu tố :trong đó có  chất :nước,lửa,đất,khí trời và 2 lý trừu tượng là tình yêu và ghen ghét .LEUCIPPE và DÉMOCRITE(hai triết nhân này sinh đồng thời TTL V thế kỷ )với thuyết Nguyên Tử Luân ,cho rằng vũ trụ là do những hạt nhỏ (nguyên tử)kết cấu thành…

Như trên ,cho ta thấy ,mỗi phái luận giải khác nhau ,tựu trung chân lý chưa có một "thuyết"tương quan !Cái không khí hoài nghi đến cực độ đã bao trùm khắp cả…Lúc ấy nhà hiền triết SOCRATE (470-339 TTL)đứng ra cách mạng tư tưởng đương thời ,đưa triết học Hy Lạp trở về con đường "nội tỉnh"=connais toi toi meme".Nghĩa là ,"đưa triết học con   đường thuần trí thức trở về con đường hành động ,con đường chân lý ,đạo đức ,lấy Người làm đối tượng nghiên cứu …"Tiếp nối sự nghiệp vĩ đại của SOCRATE,có PLATON( 428-3 47 TTL)và ARISTOTE(3 8 4-322 TTL),tuy mỗi người mỗi khuynh hứớng ,nhưng vẫn dung hợp với nhau trên cùng mụch đích chung ,đó là :đi tìm cái Chân và Thiện ,tạo cho triết học Hy Lạp một thời long thịnh .

Vào thời trung cỗ ,triết học Tây phương như bị chìm ngập trong những kinh điển học qui ,lấy tư tưởng Sáng Thế làm tâm điểm ,thời kỳ của "đức Tin"và tình cảm ru ngủ!…Nhưng qua thời cận đại DESCARTES(1596-1656)đã nêu cao lý trí để phản động lại tình cảm ru ngủ thời xưa.Oâng đã dùng "phương pháp luận "để chứng minh cho "sự vật nào"mà quan niệm rõ ràng ,đều là chân lý  ,Oâng coi vũ trụ là một dây nhân quả vô cùng tận .Qua,DESCARTES,người ta đều nhận thấy "Tâm",Vật song hành ".là khởi điểm cho hai phái thuần lý do HÉGEL(1770-1831)và HAMELIN(1856-1907)dẫn đạo ,và phái thực nghiệm do Auguste COMTE(1798-1857)và SPENER(1820-1903)…

Tới đây thì triết học đã đánh dấu một lối rẽ rõ rệt :*Vấn đề Duy Tâm và Duy Vật ;Chủ Quan với Khách Quan v.v..

Phái Duy Tâm cực đoan ,có BERKELY(1685-1753),Emmauel KANT(1724-1804),HÉGEL (1770-1831)…Nhà triết học Đức(Kant)là một trong những người thuộc phái quyết đoán tin tưởng vũ trụ cần phải có sự hiện diện của Trời ,mọi vật mới an bài .Rồi suy diễn :tin có Trời ,ta có thể hy vọng hưởng một cuộc đời bất diệt đầy hạnh phúc -Vì ,Trời làchủ động chứ không thể là thụ động .Còn ,HÉGEL lại cho rằng "Tất cả những gì thực tại đều Duy Lý =Tout ce qui réel est rationnel".Những phái Duy Vật cực tả, như DÉMOCRITE(VTTL),FEUERBACH(1775-1833),MOLESCHOTT(1820-1897),Karl MARX(1818-18830 và ENGELS(1820-1897),với một phong trào tích cực phản siêu hình ,theo phái này thì ,sự hiện hửu của Trời trong vũ trụ là điều không bao giờ có được .Những yếu điểm của chủ nghĩa Duy Vật là đưa vật chất lên hàng vạn năng,.Đấy là nguyên nhân khởi thủy của mọi vậân động vũ trụvà xã hội .Về phương diện nhận thức khách quan ,phái này dùng Biện Chứng pháp (gọi là biện chứng pháp duy vật )làm công cụ khám phá của loài người ;đồng thời khích động phong trào giai cấp đấu tranh làm luật tắc vận hành của lịch sử .Do đó ,thuyết duy Vật chủ nghĩa thường lấy sự tranh đấu làm mụch đích cho mọi lẽ sống .*

Trên đây mới chỉ trình bày những nét đại cương của nền triết học Tây phương cũng đã hé mở cho ta thấy sự phân định thành những hệ thống Duy Tâm ,Duy Vật …Nhưng từ thế kỷ XIX-XX.thì triết học thực nghiệm ,chỉ còn lại siêu hình biện chứng pháp,luận lý.v.v..

Vấn đề tìm hiểu vũ trụ và con người ,qua các Tôn giáo ,đạo học ,triết học,.như đã trình bày .đấy chỉ mới là những tia sáng .Rút lại ,vấn đề đạt ra vẫn y nguyên là một vấn đề nan giải .

*Tìm ở Tôn giáo -Tôn giáo bị thần thánh hóa.

*Tìm ở Đạo học -Đạo học giải thích với những lý tưởng siêu hình ,khó hiểu!
*Tìm ở Triết học -Triết học có những hệ phái ,và mỗi hệ phái giải thích một khác ;hơn nữa ,triết học đang trong vòng tìm kiếm ,suy luật nên dể bị ràng buộc trong những phạm trù học qui ,càng khó hiểu hơn .

Là những kẻ đi tìm đường ,càng đi sâu vào khu rừng Tôn giáo ,triết học ta càng lạc lối thêm !Vẫn biết ,không phải hễ đi tìm đường là tới đích ,phải lượng sức mình ,và phải có sự tuyển trạch của lý trí ,nếu không …(thưa bạn )-hãy coi chừng !

Trí xét đoán là mực thước cho tất cả ."Phải làm như con ong hút mật ,đừng làm theo con bướm giỡn hoa ",Ta không thể ỷ lại hay nhắm mắt tin theo bất cứ cái gì,ngoài sự nhận thức khách quan ,phù hợp với lẽ phải ,tạo thành hạnh phúc cho mình và cho mọi người chung quanh .

Giờ đây,chúng ta hãy du hành qua địa hạt Khoa học và đạo Phật để thử tìm ở đấy lối thoát ,một sự trả lời cho những nghi vấn kia .

* KHOA HỌC

Lịch sử tiến hóa nhân loại ,từ thế kỷ XVÌI,khoa học coi như toàn thắng về mọi phương diện ;ngoài những phát minh kỷ thuật, khoa học cũng đã len lỏi sang hệ tư tưởng để giải thích vũ trụ ,bằng những phương pháp mầu nhiệm chắc chắn hơn ,hoàn hảo hơn .Khởi nguyên tinh thần khoa học tiến bộ không phải trong dây lát hay một ngày tự giác ngộ nên .Một vài đặc tính của tư tưởng khoa học đã nẩy mẩm từ  những thời kỳ xa xôi .Nói đến khoa học ,người tiên phong tiêu biểu cho khoa học thực nghiệm là Francis  BACON(1561-1626) ,ông đưa ra những nhận thức mới về sự vật là nhận thức bằng cách xác định lý do ,qua"Tam Biểu Luân":1..biểu có mặt (table de présence),trong biểu có mặt ,ta ghi những hiện tượng nào luôn luôn có mặt với nhau ; 2..biểu vắng mặt (table d absence),trong biểu vắng mặt ,ta ghi những hiện tượng nào bao giờ cũng vắng mặt một lúc ; 3..biểu thứ tự (table de degré),trong biểu thứ tự ,ta ghi những hiện tượng nào cũng biến đổi một lúc .Đồng thời với Bacon ,bên phía trời Tây ,còn có DESCARTES (1596-1650)là người đã khai sáng cho một trào lưu tư tưởng mới-Tư tưởng Khoa học -;sau nhiều năm suy tưởng ,ông đã lập được bốn qui tắc căn bản cho phương pháp khoa học ngày nay .Bốn qui tắc đó là : 1…Trước hết phải chứng minh một sự vật nào đó ,sau mới nhận nó là sự thật . 2…Hãy chia sự vật ra từng phần đơn giản ,càng nhiều càng hay ,để dể dàng cho sự quan sát,giải quyết . 3…Sau khi đã xem xét ,nghiên cứu từng vật đơn giản ,phải thu thập lại cho thứ tự để tìm hiểu những sự vật khó hiểu hơn vốn tự nó không biểu thị (Qui tắc này cũng gọi là qui tắc tổng hợp ).4 .…. Cuối cùng ,kiểm điểm lại và tổng hợp những sự việc mà mình đã nhận định ,để khỏi bỏ sót một vật gì .Qua 4 qui .tắc trên ,vai trò của Descartes nổi bật hẳn lên như một vần sao sáng của bầu trời khoa học cận đại mà ngày nay người ta phải nhìn nhận ông như một cái mốc ,đánh dấu bước rẽ của nhân loại ,không chỉ về phương diện nhận thức mà cả về phương diện hành động nửa .Sau,Auguste COMTE(1798-1857),đã dựa vào thực tại ,để xướng thuyết "Thực Nghiệm Chủ Nghĩa"*.Và qua những biến đổi ,kinh nghiệm từng giai đoạn ,trí óc con người mỗi ngày thêm mở mang ,đã giúp rất nhiều cho sự khám phá những kỳ bí của thiên nhiên ,NEWTON(1642-1727)chỉ nhìn quả táo rơi mà khám phá ra luật Vũ Trụ Hấp Dẫn Lực,biết được :sự vận hành của hành tinh và sao chổi chung quanh mặt trời ,xoay tròn của địa trục ,sự lên xuống của nước thủy triều …Còn MALUS(1775-18120 ) đã tìm ra "sự phân cực ánh sáng ",và De VERRIER(1811-1877)thì tìm ra sao  Neptune tức Hải Vương Tinh  .Và   trước đó nhiều thế kỷ , ARCHMÈDE(287-212 TTL)đã phát minh ra nguyên lý tỷ trọng của các vật thể .Christophe COLOMB (1451-1506)và Fernand de MAGELLAN(1480-1521)*là những người đã cương quyết đi vòng quanh thế giới để tìm hình thể trái đất .VOLTA(1775-1827)và GALVANI(1737-1798)nghiên cứu các hiện tượng thuộc về điện   tử,tìm ra hai luồng điện dương cực và âm cực .FRANKLIN (174 4-1829),DARWIN(1809-1882)chủ trương sinh Vật Biến Hóa ,nghĩa là mọi vật chuyển biến đổi dời .LAVOISIER(1743 -179),nhà hóa học đầu tiên đã tuyên bố ;"Trong vũ trụ không có gì tự tạo ,không có gì tự tiêu diệt ",Phù hợp với định lý này ,Albert EINSTEIN(1879-1955)đưa ra thuyết "Tương Đối"đã chứng minh :"Vật chất là khí lực tụ lại cực điểm ,mà khí lực là vật chất tan loãngra cực điểm ",Vật chất và khí lực theo Einstein,chỉ là hai trạng thái cũa một thực tại (deux aspects d une réalité)…

Những nhà bác học trên đều đã xây dựng cho lầu đài khoa học mỗi ngày thêm vững chắc .Với vũ trụ ,dưới con mắt nhận xét của khoa học ,đã thừa nhận :Trong vũ trụ không phải chỉ riêng thế giới chúng ta ở,mà rất nhiều thế giới ,mỗi thế giới là một bộ phận tinh hệ của vũ trụ .Mỗi tinh hệ gồm có nhiều hành tinh ,vệ tinh quay chung quanh ;mà mặt trời là trung tâm ,gọi là Thái Dương Hệ (système solaire).Quay chung quanh mặt trời có 9 hành tinh :Thủy Tinh (Mercure)Kim Tinh (Vénus).*Địa Cầu (Terre),Hỏa Tinh(Mars),Mộc Tinh (Jupiter),ThổTinh(Saturne),Thiên Vương Tinh (Uranus),Hải Vương Tinh (Neptune)và hành tinh thứ 9 ,ở cách xa mặt trời nhất đó là hành tinh Pluton.  Trong khoảng không trung có hằng hà sa số hành tinh hệ lớn nhỏ, gồm cả thế giới gọi chung là vũ trụ .

Tới đây ,ta đã có một khái niệm trong sự quan sát ,tìm hiểu thiên nhiên .Nhưng ,điều thắc mắc vẫn là cái nguyên nhân tối sơ của vũ trụ vạn hữu ? -.-Theo khoa học giới giải thích :"ở thời kỳ hổn mang ,trong vũ trụ chỉ có toàn thuần tinh (Ether).Sau với những nguyên nhân không rõ ,thuần tinh ấy kết thành những phần nhỏ rải rác ,nhờ sức vận động và sức hấp dẫn ,các phần tử nhỏ kết lại thành cồi *và cồi "nguyên tử" trước còn rời rạc ,sau kết thành vân tinh và căn nguyên của mọi Thái Dương Hệ .Đó là thời kỳ cấu tạo mặt trời và các hành tinh ,nhiệt độ của các vì sao ở thời kỳ này rất lớn -Với sự phóng tản không ngừng ,nhiệt độ của các vì sao giảm bớt tạo nên thế quân bình khiến cho sự sống có thể phát khởi ,ấy là thời kỳ đầu tiên có những sinh vật **địa cầu có thể ở được .Nhưng trong thời kỳ các nguyên tử vẫn không ngưng phóng tản ấy cùng với sự giảm tốc độ ,các nguyên tử mất dần thế vững ;bắt dầu một thời kỳ ly tán .Thế vững chắc của  các nguyên tố nội nguyên tử càng giãm đi thì sự ly tán càng nhanh .Rồi đến một thời kỳ quá suy ,các nguyên tử lại trở về thế thuần tinh như trước .Như vậy ,ta có thể biết :địa cầu cấu tạo bởi nguyên tử thuần tinh rải rác .Nguyên tử ấy tự súc tích lấy năng lực .Mà vật chất là một hình thái phát tán thành nhiều thế khác nhau ,như hơi nóng ,ánh sáng ,điện khí .v.v.. "lịch sử vũ trụ có thể chia ra hai thời kỳ :Thời kỳ Ngưng Kết Năng Lực Thành Vật Chất ,và thời kỳ Phát Tán Năng Lực ấy ".

Tiền bán thế kỷ XVÌI,một câu chuyện lịch sử ,thuộc phạm vi khoa học và Tôn giáo ,đã xảy ra như sau :

*-Trời _GALILÉE(1564-1642) ,noi gương COPERNIC(1473-1543) ,ông đã đưa ra nhận xét :"Trời chỉ là khoảng không gian bao la vô cùng tận ,trùm cả mặt trời ,trái đất và nhiều hành tinh …"Thế là chỗ nào cũng có trời ….Mà nói thế tức đã phản lại tinh thần tôn giáo ;ông còn khẳng định :"Không có thần nào sáng tạo ra vũ trụ vạn vật cả ".Trước kia tôn giáo thần quyền thường bảo "Trời    tròn,đất vuông và đứng yên một chổ ;ở dưới là địa ngục ,ở trên là trời ".Ngày nay khoa học nhìn nhận ;mặt trời là trung điểm của vũ trụ .

--Ai đúng, ai sai ?Đến nay ta mới rõ sự thật ,thì ra oan cho Galilée vì muốn (Tự Do Tín Ngưỡng )vì muốn giác ngộ chổ mê lầm của tôn giáo thần quyền mà suýtbị ghép tội tử hình -Việc này xãy ra dưới thời giáo hoàng Urbain VÌÌI(1633)do tòa án La Mã Xứ,vì ông đã dám viết cuốn "Dialogues sur les grands systèmes du monde"mang một nội dung trái với Thánh kinh -Sau đó ,buộc lòng ông phải tuyên bố trước công chúng :"Trái đất không quay".Mà "Trời"là gì?-câu hỏi ấy đã làm không biết bao nhiêu người phải băn khoăn ,thắc mắc…

**Đất,-Về trái đất ,tôn giáo xưa thường nói :Mặt đất hình phẳng ".Khoa học hiện đại xác tín :Trái đất tròn =la terre est ronde "*Theo LAPLACE(1749-1827) thì,nguyên thuỷ của trái đất là một khối lửa (une masse de feu)do  mặt trời văng ra ,rồi nguội dần …chỗ nào lồi là núi ,đồi ,chỗ nào lõm là sông ngòi ,hồ ao hay biển ,cũng có chổ bằng phẳng như sa mạc hay bình nguyên .

Và theo ,LUCRÈCE (509 TTL),ông đã có những giả tưởng rất hửu lý :"Địa cầu hiện ta đang sinh sống không phải duy nhất trong thiên nhiên ,chúng ta phải tin rằng ở những miền kháccủa không gian ,cũng có nhựng địa cầu khác ,những sinh vật khác ,những giốùng người khác …

Dựa vào thực tại ,khoa học ngày nay đã phát minh những cái mới la ,chế ra được cả phi thuyền liên hành tinh thể thám hiểm nguyệt cầu ,làm sụp đổ hẳn một hệ thống tư tưởng thần quyền xưa cũ,đặt con người trước trách nhiệm của chính mình .Tuy nhiên,trên đường tìm chân lý ,khoa học chưa phải là vạn năng ,giải quyết được hết mọi khúc mắc của con người và cuộc đời này .Vì,"Khoa học chỉ bàn đến những điều tổng quát =I I n y a que de science du général"

Qua ngững trang trên ,ta đã hiểu sự cắt nghĩa "Vũ trụ vạn hữu "của các Tôn giáo ,Đại học ,Triết học ,Khoa học xưa và nay .Giờ đây,chúng ta thử dạo bước vào địa hạt .Đạo Phật-ï mà bản đồ đã sẵn có trên hai nghìn năm trăm năm nay -để thử tìm ở đấy một tia sáng ,làm chỉ chuẩn cho sự tìm hiểu về Vũ trụ và về con người.

Và kìa-Con Đường Sáng đãhiện ra…

Vấn Đề nhận thức

Đứng trên quan niệm nhận thức ,đạo Phật không hoàn toàn thuần túy là một triết học.  Vì,đạo Phật là tất cả ,hay nói khác ,đạo Phật là triết học siêu triết học .Đạo Phật cũng có những lối nhận thức sự vật ,bằng nhân giới trực quan ,rất chính xác .Thật vậy ,trước khi nghiên cứu vấn đề gì ta cũng nên đặt thành câu hỏi :Tại sao?rồi sau đó quyết tìm câu trả lời những nghi vấn mà mình đã đặt ra .Những vấn đề nào khi ta đã nhận xét được thấu đáo ,nó biểu hiện ra một cách phân minh ;và những ý tưởng để diễn tả sự vật cũng "đến"một cách dể dàng ;thì đó là một Sự Thật mà ta phải thừa nhận ".Tất cả hiện tượng trong vũ trụ chỉ là những con số cộng cộng các yếu tố (nhân duyên )mà có.Đứng về phương diện không gian mà luận thì ,vạn hữu là "Vô Ngã =anattà".nó không có cái thật bề ngang ;do cộng các điều kiện nhân duyên lại mà thành .Còn đứng về phương diện thời gian mà xét ,vạn hữu là "Vô thường =anicca".nó không có cái thật bề dọc ;do cộng các trạng thái sinh -diệt lại mà có .Chứng minh cho lập luận trên đây ,ta lấy một vật thể làm đối tượng để nghiên cứu ,tìm hiểu sự vật .Cây viết hiện có trước mắt tôi là do hiệp thể của nhiều chất liệu ,như:gỗ+sơn+mực và ý niệm của người thợ tạo ra cây viết tròn hoặc lục lăng ,với,"thiết ý"là để dùng vào viết hay vẽ …,bởi có "hiện tượng "cây viết mà chứng minh được chung quanh cây viết là không gian :vô ngã .Rồi từ khi có hiện tượng cây viết cho đến cây viết bị hủy hoại ,nghĩa là từ sinh -diệt này qua sinh -diệt khác ,gọi là thời gian :vô thường .

Tất cả sự vật hiện hữu  trong vũ trụ đều bao gồm trong một chữ"Pháp=Dharmas

** Nói theo từ ngữ Phật Học ,Pháp cũng gọi là "Nhất Thiết Pháp",tức chỉ cho Vạn Sự Vạn Vật và là Lẽ Sống ,Cách Sống ,Khuôn Mẫu Sống của muôn loài vạn vật trong cỏi đời này .Cái lẽ sống ấy cùng với trời ,đất,muôn vật nhịp nhàng chung sống trong một Nguồn Sống Vô Tận (tức Hiện Tượng -Bản Lai Diện Mục là như thế đó ;pháp nhĩ như thị là vathàbhùta).Với sự thật trên đây ,đã giúp ta khám phá ra hiện tượng vũ trụ vạn hữu gồm có hai mặt đối đãi :"Một Là Tấ Cả ",toàn thể vũ trụ tạo thành một vật (nhất tức nhất thiết );"Tất Cả Là một ",một vật ảnh hưởng đến toàn thể (nhất thiết tức nhất )*

Để nhận thức sự việc không bị lệch lạc ,sai lầm ,đạo Phật đề ra ba phương pháp ,cùng gọi là :Tam Lượng (ba phương pháp tỷ giảo ,nhận thức sự vật đúng như thật ).Hình thái nhận thức thứ nhất là Hiện Lượng ,những sự vật hiện hành do ngũ giác và tri giác ta trực tiếp nhận thức một cách thâu đáo ,nếu ta có quan niệm rõ rệt về một vật ấy .Tỉ dụ :phải nghe tiếng nó ,phải ngửi mùi nó ,v.v…Trước khi có cảm giác rồi ,mới có tri giác ,không có tri giác thì không có quan niệm ,nghĩa là chưa thành hiện lượng .Hình thái nhận thức thứ hai là Tỷ Lượng ,sự suy luận ,đối chiếu bằng những phương pháp tỷ giảo ,lấy cá thể hiểu toàn thể làmđối tượng so sánh ,và chứng minh cho sự tìm hiểu sự thật ,như dựa vào pháp Tam Chi Luận trong Nhân Minh học *để tỷ lượng trong việc xét đoán vũ trụ vạn hữu .Hình thái nhận thức thứ ba là Thánh giáo Lượng ,căn cứ vào giáo lý Như thật do đức Phật dạy để mở mang trí tuệ (Prajnã),suy xét sự vật ,phân định lẽ chính tà ,thực hư .đó là những yếu  lý căn bản cho mọi phưương pháp nhận thức .Ta có thể y cứ vào đấy làm tiêu chuẩn để tỷ giảo ,phán đoán ,tìm hiểu chân lý .Aùp dụng phương pháp Tam Lượng trong công cuộc tìm hiểu sự thật ,cho ta thấy :"Đạo Lý Duyên Khởi =paticcamuppàda"của đạo Phật là cắt nghĩa trọn vẹn cái lý do vũ trụ vạn hữu thường hằng ,luôn luôn sinh động (vô thường)nhưng không thực thể (vô ngã).Căn cứ vào Nhân Minh học (tức phương pháp Luận Lý học ),ta tập luận :

--Tôn -Tất cả hiện tượng trong vũ trụ đều biến chuyển ,vô thường.   
--Nhân -Vì các nhân duyên yếu tố giả hợp tạo thành .

--Dụ -Như cái nhà ,do các vật liệu "giả hợp 'tạo thành rồi phải mục nát ,hư hỏng 
Và, so với phép Tam Đoạn Luận (Syllogisme)trong triết học Tây phương :
--Đại Tiền Đề -Những vật gì do yếu tố nhân duyên giả hợp tạo thành ,đều bị hủy diệt ,

Tiểu tiền Đề -Như cái nhà ,do các vật liệu "giả hợp "tạo thành ,tất phải mục nát ,hư hỏng .

--Kết Luận -Vậy các hiện tượng trong vũ trụ phải biến chuyển ,vô thường.

Tới đây ,xin tạm mượn câu chuyện "đàm thoại "giữa đức vua MILINDA và  thánh giả  NAGASENA được ghi lại trong cuốn Di Lan Đà Vấn Đạo = Milindapanha"để chưng minh cho lý giải trên là sự thật .

--Thưa thánh giả ,tên thực ngày là gì ?-đức vua hỏi .

--Tâu hoàng thượng ,bạn đồng đạo thường gọi tôi là NÀGÀSENA,nhưng đấy chỉ là một cách để phân biệt một tiếng gọi ,một lối nói cho tiện ,hay nói khác ,chỉ là một cái danh chứ thực ra ,không có người Nàgàsena;thảng hoặc có kẻ đem đồ dâng cúng tỳ khưu (Bhikkh:tức chỉ thánh giả Nàgàsena)những thứ cần dùng ,như thức ăn ,áo mặc,đồ ngũ ,thuốc men …thì lấy ai để nhân lãnh ?-Và ai ăn dùng những vật ấy ?-Ai bảo toàn luân thường đạo lý ?

--Ai ngồi tham thiền ?-Ai hành đạo ?Ai đắc quả?-Ai nhập niết bàn?Ai là kẻ sát sinh ?Ai trộm cắp?-Ai tà dâm?-Ai phạm ngũ giới ? Nếu thế thì không có thiện ,không có ác,không ai kàm thiện cũng không ai làm ác ;những việc làm dù tốt hay xấu ,cũng chẳng có quả báo?Thưa tháng giả ,vậy thì không ai đánh giết ;tỳ khưu và tỳ khưu ni ơi !các người không có ai là thầy ,không ai là người giảng dạy ,không ai là người truyền đạo pháp ,nếu thánh giả nói rằng :Nầy các huynh,hoàng thượng gọi ta là Nagasena thì Nagasena là ai? "thưa Thánh giả ,xin ngài giảng cho .Hay là tóc trên đầu ngài là Nagasena?

---Hay là lông ,móng ,da,thịt,gân,xương,tủy,cật ,tim,gan,lá lách,phổi ,ruột ,cuống ruột,đồ ăn chưa tiêu hóa ,đồ ăn đã tiêu thành phân ,đờm,rũi,mồ hôi,mỡ,nước mắt,nước miếng,nước tiểu.v.v…

---Không.
---Hình sắc kia có phải là Nagasena chăng?

---Không…
---Sự nhận biết vui buồn ,sướng khổ,sự suy tưởng phải trái ;sự toan tính hành động ,trong lòng,có phải là Nagasena?

---Không.
---Thế không có chi là Nagasena cả,vậy Nagasena là gì?

---Không là gì hết ,thưa hoàng thượng.

---Có lẽ nào Nagasena chỉ là một tiếng không thôi sao,trầm e thánh giả nói dối .
Bấy giờ,thánh giả (luôn thể)trông thấy cái xe ,liền hỏi đức vua MILINDA:
---Tâu hoàng thượng,chứ ngài tới đây đi bộ hay đi xe?

---Đi xe ,thưa thánh giả .

---Hoàng thượng bảo đi xe ,vậy tôi xin hỏi :Xe là gì?Có phải cây gọng là xe không?
---Không.
---Phải bánh xe là không?

---Không.
---Phải ổ máy của xe là xe không?

---Không.
--…?
---….

Hõi mãi như thế ,không có cái gì đức vua Milinda có thể chỉ được là xe.Thánh giả Nagasena liền kết luận : Cái xe của hòa thượngchỉ là một dấu hiệu ,một tiếng gọi ;tôi e hòa thượng nói dối khi nói đi xe đến đây…

Ở đời,hễ cái gì có hình tướng ,đều biến đổi ,không thật .-Phàm cái gì có hình tướng đều là giả dối ,có sinh phải có diệt "-Kinh Kim Cương .

Cuộc đàm thoại trên đây đãchứng minh cho sự thật của Đạo LýùDuyên Khởi ,Vô Thường ,Vô Ngã trong đạo Phật .Một sự thật không ai có thể chối cải.Thật vậy ,tất cả sự vật hiện hữu trong thế gian này ,hoặc đang băng hoại ,hay sẽ thai sinh ,là do sự kết hợp "vô thường"cùa một số tinh thể đơn thuần qua nhiều giai đoạn ,và cứ thế tiếp tục mãi …"Đạo Lý Duyên Khỡi"cho ta thấy :Sự  vật không phải chỉ là những cá thể cố định ,đơn điệu ,độc lập ;mà là những" phần tử "hòa hợp trong một khối chung của "toàn thể".Những phần tử ấy có một xã hội tính ,tức tính "Nhân Duyên Sinh".Với  tính Nhân Duyên Sinh ,đạo Phật đánh dấu sự tương quan mật thiết giữa hết thảy …Vì biết rằng ,hết thày sự vật trong vũ trụ ,hoặc trực tiếp ,hoặc gián tiếp ,ảnh hưởng lẵn nhau mà tạo thành . **Vũ Trụ Luận.

Trong Vũ Trụ Luận (Cosmogonie) gồm hai phần : Hình Nhi Thượng : Métaphysique,nghiên cứu Bản Thế Chân Như (Tathatà hay paràmartha). Như Lai Tạng (Tathatagarbha);Hình Nhi Hạ :Physique,phần triết lýthực tiễn ;những việc con người ,vũ trụ .

1.Thế Giới Vô Biên ,Chúng Sinh Vô Hạn Lượng .Nhưng Tất Cả…,Đều Do Nghiệp Biến Hiện.

Trong vũ trụ có rất nhiều thái dương hệ ,mỗi thái dương hệ là một thế giới ,hợp nghìn thế giới thành một Tiểu thiên thế giới ,hợp nghìn tiểu thiên thế giới thành một Trung thiên thế giới ,và hợp nghìn trung thiên thế giới thành Đại thiên thế giới .

Mỗi thế giới có những Y Báo,Chính Báo khác nhau ,nhưng không ngoài "Nhgiệp Cảm Duyên Khởi ".

Nói đến "NGHIỆP" (Karma) tức nói đến sự sinh động biến hóa của vạn hữu (tous les êtres).  Nhưng Nghiệp là gì?  Và Vũ Trụ do Nhân duyên nào mà có? Nghiệp là Vô Minh (Avidyà)duyên khởi và tự nó tác động, chứ không bị chi phối bởi một sức huyền nhiệm nào cả.Mà Nghiệp thì hoàn toàn động.Bởi có động mà vũ trụ vạn hữu mới tiến hóa ,sinh tồn-động ,hay nói Nghiệp cũng thế -xin hiểu theo nghĩa rộng -khi khởi thủy có thế giới ,có các loài sinh vật là có động .Động là biến hóa cần phải có để duy  trì trật tự trong vũ trụ và là Lẽ Sống của mỗi hành tinh hệ ,gồm nhiều thế giới gọi chung là vũ trụ .

"...Cứ tiến mãi qua 33 từng trời: 56 cảnh giới Bồ Tát;vũ trụ tùy mỗi từng mà rộng lớn gấp bội .Mỗi Phật sát là một cõi ohật ,và mỗi cõi gồm có Tam thiên đại thiên thế giới 3 000 000 000.*Từ cõi đức phật Cakyamuni vượt qua mười ức vạn cõi Phật khác ,còn có một cõi do đức Phật A Di Đà (Amitabha buđha)làm giáo chủ .Mỗi cõi Phật sát đối với không gian ,chỉ là một hạt bụi nhỏ khác .Các Phật sát đầy dẩy hư không .Thật là bao la!**

Chỉ mới đứng về mặt tương đối cuộc đời mà luận ,ta cũng đã thấy :Vũ trụ rộng lớn ,có muôn hình ,muôn vẽ ,nào trăng,sao,trời,đất,núi,sông,cây cỏ,người và vật .v.v…Tuy nhiên ,sự nhận thức của con người (do ngũ quan và ý thức tạo thành )khác với sự nhật thức của các loài động vật "nhìn "và "hiểu "những cảnh vật ấy (cộng nghiệp trong biệt nghiệp ).Nghĩa là  ,tùy mỗi Nghiệp lành hay dữ của chúng sinh mà sự cảm ứng khác nhau .Con người thuộc trong những loài động vật.Nhưng đời sống con người khác đời sống của loài muôn thú .Mỗi loài có một "tính sống"riêng biệt ,như cá thì bơi lội dưới nước ,chim bay bổng trên không ,hổ báo thì sống ở trên cạn (mặt đất)và trong những miền rừng rú ;hoàn cảnh khác nhau ,nên sự sống cũng khác nhau .Theo quan niệm đạo Phật thì ,vũ trụ (tự nó=chose en soi)đã biến chuyển bao lần ,và còn biến chuyển mãi mãi.Đó chẳng qua là do "Nghiệp thiện "hay "Nghiệp ác"từ vơ thủy kiếp đã tạo ;mà "y báo"(chỉ cho tất cả sự tướng hiện hữu ,dù lớn hay nhỏ ,lớn như thái dương hệ ,sơn ,hà ,đại địa ,thành quách lâu dài …,nhỏ ,như hạt bụi ,vi trần ..)"chính báọ"(bồm hết thảy sinh vật ,trong đó có con người và vạn hữu ,gọi chung là chúng sinh )làm nhân -nguyên nhân chủ yếu -,làm duyên -nguyên nhân phụ thuộc -để phát sinh hiện tượng giới ,Tất cả y báo ,chính báo cũng lại do Nghiệp cấu tạo mà thành .Nói theo Đạo Ly Duyên Khởi *thì sự vật luôn luôn biến hóa vô cùng tận ;đó không phải Vật Này sinh ra Vật Kia mà là Vật Này làm nhân ,làm duyên sinh khởi ra Vật Kia .Hay nói cách khác :

"Cái Này có thì Cái Kia có;

Cái Này sinh thì Cái Kia sinh,

Cái Này không thì Cái Kia không .

Cái này diệu thì Cái Kia diệt *(*)

Majjhimani  Nikaya ÌÌ-63-

Cũng như nói ;Quá sinh ra cây ,cây nở hoa ,hoa kết thành quả .

Sự "Có,Không""Còn Mất "chỉ là sự thay đổi hình dạng mà thôi .Thực ra "Nó"không mất đi đâu cả (**)Ta hãy lấy một dự kiện để chứng minh cho Sự Thật kia :

Nước H2O,khi nước sôi bốc thành hơi ,hơi động lại vẫn là nước .Đó là một hình thức ,chỉ là sự đối thể của một chất liệu .Chúng ta nói :cái chết làm tiêu diệt một sinh vật mà không nói sãn sinh ra một xác chết ;có khác gì ta coi trọng cái hình thức (giả tướng )hơn chính sự sống ,là phần tâm tưởng tinh anh .

Thực ra,đối với Bản Thể (Essence)của sự vật ,nó không bị tiêu diệt ,mà chỉ thay đổi qua nhiều trạng thái khác nhau ,giữa …sự sống và sự chết ,và cứ như thế tuần hoàn biến diễn mãi không thôi .Cho nên ,ta không thể nói Cái nào có trước Cái Nào có sau . Vũ trụ là một cuộc đại hoạt động vô thủy vô chung (sans commencement ni fin).Từ nguyên tử nhỏ nhiệm đến các tinh tú xa xôi ,đều nằm trong cái vòng luân lưu không bao giờ đứt quãng …,khác nào như những lằn sống ngoài biển cả .Ngược về trứớc ta ta không tìm thấy có thủy ,ngó lại sau chẳng thấy có chung ,thì làm sao có thể gọi được là Nguyên Nhân Tối Sơ (?)Mỗi thời đại  hiện ra cùng vạn vật ,rồi lại tan đi mà biến ra thể vô hình ,vô sắc.Khi hiện ra gọi là Sắc khi biến đi gọi là Không ..*.Do đó, đạo Phật cắt nghĩa sự biến chuyển của vũ trụ vạn pháp (nghĩa như chữ vạn vật )bằng hai chữ "Sắc" "Không"

2.  Sắc Không

a.  SẮC (Rupam hay Lak sana)

Chỉ cho tất cả vật thể trong vũ trụ có hình tướng mà ngũ quan ta cảm giác thấy, những ý tưởng ,tâm tình đều thuộc phạm vi "sắc"cả .Cái gì thường còn mãi ,mới gọi là "có", như Bản Thể (Essence),Chân Tâm (L^être infini), Chân Như (Réalitéultime)v.v..,những trạng thái luôn luôn sinh diệt ,có rồi lại không ,như những bọt nước trên mặt sống biển…Đấy không phải là có mà chỉ là "giả có".

b.  KHÔNG (Sunyatà):

Không, là trạng thái không hình sắc ,âm thanh,không thể dùng giác quan mà tiếp xúc hay suy tưởng .Nhưng nó lại có sức linh hoạt như những luồng quang tuyến ,tuy vô hình song có một năng lực biến chuyển một giây có thể chạy chu vi địa cầu tám lần .Nhgĩa là ,"Chân Không Diệu Hữu ",*Cái "Không"này là hoàn toàn không ,vĩnh viễn không (Chân Không)chứ không phải không trống rỗng ,không có gì (ngoan không -Vide)..Để hiểu Chân Không một cách giản dị ,ta hãy lấy một ống chứa đầy không khí bằng thủy tinh rồi cho hút hết không khí -có chứa đựng trong ống thủy tinh ấy -ra ngoài ,thì trong đó ta tạm thấy "Chân Không ",như những luồng quang tuyến ,dù có hiện ra hay biến đi ,nhưng nó vẫn là nó .Nó chỉ đổi thể mà thôi (changement d état).Trong kinh Bnhã (Prajnà paramita) chép :"Sắc tức thị không ,không tức thị sắc ,sắc bất dị không ,không bất dị sắc …thị chư pháp không tướng ,bất sinh bất diệt ,bất cấu bất tịnh ,bất tăng bất giảm ..

Các bậc tu hành ,khi đã chứng được "bát nhã trí "(prajnà),nhìn thấy các pháp đều là không .Một trong những vị thiền sư đắc đạo của nước ta ,ngài Từ Đạo Hạnh,triều đại nhà Lý ,đã cảm thông được lẽ "có""không "hiện ra trong vũ trụ vô biên ,biểu thị qua những vần thư tuyệt diệu dưới đây :

"Có thì có tự mảy may

"Không thì cả thế gian này cũng không.

&q