| ...... ... |
. |
Pháp Sự Khoa Nghi
( 3 tập)
Soạn dịch giả: THÍCH GIẢI HÒA
Chùa Quang Thiện, California,
USA
Ấn hành 2002
--- o0o ---
TẬP III
1. NGHI
THIẾT LINH SÀNG
(Thế
nhân)
* Tiết thứ làm nghi:
- CHỦ LỄ XƯỚNG:
Quí vị tang chủ,
Mời đến trước đây.
Tất cả đều quỳ,
Đốt hương mặc niệm...
- CHỦ LỄ VỊNH KHAI DIÊN:
Tây phương Tịnh độ sen
vàng nở,
Vong giả từ đây mở lối
về,
Hoa nở tỏ lòng mừng thấy
Phật,
Muôn đời thoát khỏi các
đường mê.
Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Như Lai.
- TẢ BẠCH XƯỚNG:
Dâng hương lên án cúng dường.
Cúi lễ vong linh ba lạy.
Tất cả thứ tự lại quỳ.
Một lòng chí thành làm lễ.
- TÁN THỈNH:
Hôm nay tang chủ thiết diên này,
Hãy về đây.
Triệu thỉnh vong linh về dự lễ,
Vong linh nghe triệu hãy về đây.
- CHỦ LỄ TUYÊN PHÁP NGỮ:
Tằng nghe rằng:
Giác tánh viên minh,
Xưa nay vắng lặng.
Vốn không ngã nhân huyễn tướng,
Nào có sanh tử giả danh!
Nhưng tối sơ một niệm vô minh,
Tùy vọng tưởng có nay sanh diệt.
Tuy nhiên:
Diệt nào có diệt,
Đạt Ma Tôn giả, quảy dép về Tây;
Sanh mà không sanh,
Thích Ca Thế Tôn, song lâm nhập diệt!
Nếu không một phen thấu triệt,
Khó khỏi nhiều kiếp nổi trôi.
Nên, người trời còn có luân hồi.
Huống phàm thứ há không sanh tử?
Nay tang chủ đau thương vì:
... ... (tên Cố phụ, Cố mẫu
...)
Thân gởi làng xưa,
Thần về xứ lạ.
Lâm thời hoảng hốt,
Hồn tán phách phiêu.
Tuy vậy, sống ở thác về,
cũng
chẳng ra ngoài bốn loại;
Cho dầu, lên trời xuống
đất,
đều là quanh
quẩn sáu đường.
Than ôi!
Đường trước lờ mờ,
Lối sau mù mịt.
Ải xa ảm đạm,
Cõi lạ bàng hoàng!
Sầu vì nỗi: Nghiệp lực buộc ràng,
Khó mà giải thoát.
Mong sao nhờ: Đạo mầu cứu bạt,
May được
thảnh thơi!
An linh lễ đã đến thời,
Tuyên bố mấy lời pháp
ngữ.
Thế thôi!
- TẢ BẠCH TIẾP:
Hoa dâng mấy đóa,
Hương hiến một lư.
Nhờ đức Thiền sư,
Ngỏ lời triệu thỉnh.
Hương hoa thỉnh, Hương hoa triệu thỉnh ...
* Nam mô nhất tâm phụng thỉnh:
Đạo sư ba cõi, đại hiếu Thích Ca.
Bao đời phụng dưỡng mẹ
cha,
Nhiều kiếp tu nhơn thành
Phật.
Dủ lòng thương xót tiếp
độ mọi loài.
Nay tang chủ đau thương vì vong linh ...
Xuôi tay từ giã, thiêm thiếp ra đi.
Mịt mờ vang bóng còn chi,
Man mác thăng trầm nào biết!
Ngửa mong từ lực, tiếp độ vong linh,
Lặng lẽ về nhà (chùa), hưởng mùi
pháp vị.
- Duy nguyện:
Khôn thiêng hồn vía, sáng suốt linh minh.
Nghe linh reo về lại gia đình (chùa chiền),
Cảm lòng hiếu lai lâm pháp hội.
Hương hoa thỉnh, hương hoa triệu thỉnh ...
* Nam mô nhất tâm phụng thỉnh:
Lạc bang giáo chủ, y chánh trang nghiêm.
Bốn mươi tám nguyện độ chúng sanh,
Chín phẩm sen vàng mong giải thoát.
Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật.
Nguyện dùng từ lực, tiếp độ hàm linh.
Nay tang chủ đau thương vì vong linh ...
Ruổi vào âm cảnh, vội bỏ dương trần.
Ngại ngùng đường lạ thiếu đỡ nâng,
Xin Phật tử từ thương gia hộ.
Phóng hào quang đưa về lạc độ.
Vời linh sảng trở lại gia đường (chùa
chiền).
Hiếu lễ đã tương, lai lâm chứng giám.
- Duy nguyện:
Chơn linh sáng suốt, giác tánh linh thiêng;
Nghe lời triệu thỉnh đến hoa diên.
Nhớ tiếng kệ kinh mà giải thoát.
Hương hoa thỉnh, hương hoa triệu thỉnh ...
* Nam mô nhất tâm phụng thỉnh:
Tay cầm kim tích, thân vận hoa man.
Đưa chúng sanh đến cõi Lạc bang,
Tiếp chơn hồn về nhà (chùa) phó hội.
Đại Thánh Địa Tạng Vương Bồ Tát,
Nguyện dùng từ lực, tiếp độ chúng sanh.
Này tang chủ đau thương vì vong linh ...
Xả báo thân rủi vì nhiễm bệnh,
Rời dương thế về cảnh âm cung.
Hoặc nương trung ấm,
mai chiều bến nước gành
mây;
Hoặc ở đường mê,
sớm tối đội trăng gội gió.
Ngửa mong Thánh lực, tiếp độ chơn hồn,
Về lại gia đường (Phật đường),
hưởng mùi pháp vị.
- Duy nguyện:
Thần về an dưỡng, nghiệp xả trần lao;
Sen vàng chín phẩm hoa cao,
Phật thọ một thừa quả mãn.
Hương hoa thỉnh, hương hoa phụng thỉnh ...
Nam mô Linh Tự Tại Bồ Tát.
- TẢ BẠCH XƯỚNG:
Sơ hiến trà - Lễ ba lạy - Cùng quỳ.
- KỆ TRÀ:
Ngày xưa ở cao đường,
Nay thời một nén hương,
Chén vàng đầy cam lộ,
Vì vong giả cúng dường.
Tuyên thiếp thỉnh:
Âm dương không hai lẽ,
Sanh tử có khác đường.
Thiếp triệu thỉnh một
chương,
Trước linh đài tuyên đọc.
Duy nguyện vong linh,
Im lặng lắng nghe
Đọc thiếp thỉnh:
Tam Bảo Pháp đàn
Bổn đàn vì chánh độ cố
linh,
Xin gởi thiếp văn triệu
thỉnh.
A Di Đà Phật chứng minh.
Sa môn Thích ... phụng
hành pháp sự.
Nay có tang chủ ... (tên) ở xã ...
huyện ... tỉnh ... cùng cả tang quyến, thân thuộc xa gần.
Đau thương vì vong linh cố phụ ... (cố mẫu)
... (tên) một vị thần hồn.
Nguyên sanh ... (năm), từ trần ngày
... tháng ... năm ...
Than ôi vong linh!
Huyễn thân bảy thước nay còn đó,
Chơn tánh muôn đời đã biệt ly!
Kẻ ở người đi,
Thăng trầm u hiển.
Ơn sâu sông biển,
Đường cách âm dương.
Biết lấy chi tỏ dạ tiếc thương,
Hầu đền đáp công ơn dưỡng dục!
Nay thời:
Phép theo thường tục,
Thiết lập linh sàng,
Linh vị cung an,
Cháu con chiêm bái.
Mong rằng:
Vong linh như tại,
Về lại gia đường (Phật đường)
Hưởng thọ hoa hương,
Lắng nghe kinh chú.
Thiếp văn xin phú,
Sứ giả u minh,
Chuyển đến vong linh,
Cảm thông thâu chấp.
Nay ngày ... tháng ... năm ...
Nay thiếp thỉnh.
Nhất Như Lai tâm.
Á hiến trà - Lễ ba lạy – Cùng quỳ.
- KỆ TRÀ:
Nhà hoa nay vắng vẻ,
Linh tọa giờ thê lương.
Mấy tầng trà đạm bạc,
Lòng thành kính cúng
dường.
- XƯỚNG: - PHỤNG THỰC:
Tụng: Biến thực, biến thủy chơn ngôn ...
Mỹ Hương Trai Bồ Tát.
Chung hiến trà - Lễ ba lạy – Cùng quỳ.
- KỆ TRÀ:
Băn khoăn tìm nơi nao,
Vang bóng tuyệt âm hao.
Ba tầng trà cung tiến,
Xin đáp nghĩa cù lao!
- TỤNG:
Thập phương ...
Vãng sanh ...
- HỒI HƯỚNG:
Nguyện tiêu ...
Nguyện sanh ...
- CHỦ LỄ XƯỚNG:
An linh viên mãn,
Hiếu sự châu long,
Con cháu một lòng,
Lễ thành bốn lạy.
* Lưu ý:
Vị chủ lễ nên viết cho tang chủ một bài vị trước
khi làm lễ an linh.
Nội dung bài vị: Phụng vì cố phụ (cố mẫu), tánh
... húy (tức tên tục hay tên giấy chứng minh), pháp danh (nếu có qui y)
... một hương linh chi vị.
Hai bên đề: Nguyên sanh ... năm, từ trần ngày ...
tháng ... năm ...
2. NGHI
THÀNH PHỤC
* Tiết thứ làm nghi:
- CHỦ LỄ XƯỚNG:
Quí vị thọ tang,
Mời đến linh tiền
Tất cả đều quỳ,
Đốt hương mặc niệm...
- CHỦ LỄ VỊNH KHAI DIÊN:
Nuôi nấng bao năm quá nhọc nhằn,
Công ơn cha mẹ chẳng chi bằng.
Áo hoa ngày trước quên chưa múa,
Tang chế hôm nay nhận áo khăn!
- TẢ BẠCH XƯỚNG:
Dâng hương lên án cúng
dường.
Cúi lễ vong linh ba lạy.
Tất cả thứ tự lại quỳ.
Một lòng chí thành làm lễ.
- TÁN HƯƠNG:
Muốn nhờ thần lực đạt
niềm Tây,
Trước gởi làn hương đến
gió mây;
Ngào ngạt khói xông cùng
cõi lạ,
Vong linh nghe được hãy
về dây!
Hương Cúng Dường Bồ Tát.
- CHỦ LỄ NÓI VỀ Ý NGHĨA THỌ TANG.
Trăm năm hạnh hiếu là
gốc,
Muôn đức hiếu là nguồn.
Nên Nho hay Thích đều tôn
thờ,
Thần hay người đều kính
trọng.
Bởi vậy,
Chẳng những nay mà xưa đã
có,
Nên từ vương tướng đến
thứ dân,
Ai ai cũng đều tuân phục
mà chẳng dám sai.
Tuy nhiên,
Hiếu là thể, tâm vậy, lý
vậy;
Hiếu là dụng, sự vậy,
tướng vậy!
Nếu không sự tướng,
Tâm lý nào tường.
Cho nên khi lễ nhạc suy đồi,
Con người bị chê trách là chỉ biết
mặc áo ăn cơm, không biết lễ giáo.
Nay tang chủ đau thương vì vong linh
... (tên Cố phụ ... Cố mẫu ...)
Bỏ thân
huyễn hóa
Vội
thoát hồng trần.
Hận rằng:
Sanh con khó nhọc,
Tơ tóc chưa đền!
Tiếc bấy:
Kêu trời trách óan,
Ta thán ai hay!
Thôi thì giờ này:
Mong nhờ đạo pháp,
Thiết lập linh sàng,
Theo lễ thọ tang.
Cháu con nội ngoại.
Than ôi!
Đầu xanh khăn trắng ngậm
ngùi,
Lòng xót áo gai sùi sụt.
Mong rằng:
Vong giả linh thiêng,
Mặc nhiên chứng giám!
- TẢ BẠCH XƯỚNG:
Sơ hiến trà - Lễ ba lạy - Cùng quỳ.
- KỆ TRÀ:
Linh sàng vừa thiết lập,
Linh vị đã cung an.
Nguyện vong linh tọa hạ,
Chứng tri lễ thọ tang!
- CHỦ LỄ XƯỚNG THIẾP:
Âm dương không hai lẽ,
Sanh tử có đôi đường.
Thiếp thành phục một
chương,
Đối linh tiền tuyên đọc.
Duy nguyện vong linh,
Yên lặng lắng nghe.
- TUYÊN THIẾP:
Tam Bảo Pháp đàn.
Bổn đàn vì chánh độ cố
linh,
Xin gởi thiếp văn triệu
thỉnh.
A Di Đà Phật chứng minh.
Sa môn Thích ... phụng
hành pháp sự.
Nay có Tang chủ (tên) ... cùng cả
tang quyến ở xã ... huyện ... tỉnh ...
Đau lòng vì vong linh (tên) một vị
hương hồn.
Nguyên sanh năm ... từ trần ngày ... tháng ... năm
...
Vì vậy,
Nay chọn ngày này,
Nhờ Tăng làm lễ,
Y theo chánh pháp,
Tiếp độ cố linh.
Than ôi vong linh!
Núi Hổ (Dĩ)
mây che,
Cội Thông (nhà
Huyên) sương phủ!
Áo hoa chưa múa,
khóc than tử
đạo không tròn;
Gương sáng còn treo,
oán trách hạo
thiên chẳng tưởng.
Nay thời:
Lễ theo thường đạo,
Sắm sửa hoa diên;
Tỏ tấc lòng thiềng,
Làm nghi thành phục.
Nhờ Tăng gởi thiếp,
Triệu thỉnh cố linh,
Lặng lẽ về nhà (về
chùa),
Chứng tri hiếu sự.
Thiếp này xin chuyển,
Sứ giả âm dương,
Trao đến vong linh,
Cảm thông thâu chấp.
Nay ngày ... tháng ... năm ...
Nay thiếp thỉnh.
Nhất Như Lai tâm.
- TẢ BẠCH XƯỚNG:
Á hiến trà - Lễ ba lạy – Cùng quỳ.
- KỆ TRÀ:
Ơn sâu đành khó trả,
Nghĩa cả phải mong đền.
Trước linh sàng thọ phục,
Lòng đau đớn khôn quên!
(lặp lại ba lần)
- CHỦ LỄ PHÁT TANG PHỤC VÀ CẢM THÁN:
Mười tháng cưu mang, ba năm nhũ bộ;
(hoặc dìu dắt ba năm,
nhọc nhằn dạy dỗ)
Ơn này đức ấy, xương nát
khó đền.
Giờ chỉ biết:
Mặc áo trắng hầu tỏ lòng
son,
Rơi lệ hồng ngõ thành
huyết thắm.
Nghiêng mình cúi lạy,
Ôi thôi thương thay!
Ôi thôi thương thay!
- TẢ BẠCH XƯỚNG:
Chung hiến trà - Lễ ba lạy – Cùng quỳ.
- KỆ TRÀ:
Cha mẹ còn tại thế,
Dâng cam chỉ cúng dường.
Cha mẹ không còn nữa,
Đức hạnh phải noi gương!
- CHỦ LỄ KẾT DIÊN:
Lễ nghi thành phục,
Giờ đã châu long,
Con cháu một lòng,
Lễ thành bốn lạy.
- HỒI HƯỚNG:
Nguyện tiêu ...
Nguyện sanh ...
* Ghi chú:
- Núi Hổ là cha, núi Dĩ là mẹ.
- Cội Thung là cha, nhà Huyên là mẹ.
- Áo hoa: ông Lão Lai tuy tuổi già, mặc áo hoa múa
cho cha mẹ xem đỡ buồn.
3. NGHI
TRIỀU TỔ
* Tiết thứ làm nghi:
- CHỦ LỄ XƯỚNG:
Xin mời tang quyến,
Hãy đến trước đây.
Tất cả đều quỳ,
Đốt hương mặc niệm...
- CHỦ LỄ CỬ TÁN:
Tạm tẫn đến đây đã hết
ngày,
Sẽ rời đây!
Triệu thỉnh vong linh về
lễ Tổ,
Ngày mai cất bước trở về
Tây.
- TẢ BẠCH XƯỚNG:
Dâng hương lên án cúng
dường.
Cúi lễ hương linh ba lạy.
Tất cả thứ tự lại quỳ.
Một lòng chí thành làm
lễ.
- CHỦ LỄ TUYÊN PHÁP NGỮ:
Thân thể người đời
gốc từ cha ông mà có,
Lễ nghi phép tắc,
cốt để
con cháu phải theo.
Đi phải thưa mà về phải
trình;
Hiếu mà còn thì đạo mới
có.
Nên biết sống thác hai
đường,
Thế nhưng âm dương một
lẽ.
Hôm nay linh vị đưa đến
Từ đường,
Nếu không tới Tổ mà
triều,
Sao gọi thờ ông phải lẽ.
Nói đến việc ấy, xúc cảm
lòng đây;
Nên theo phép tắc xưa
nay,
Xin thỉnh vong linh yết
Tổ.
Mong linh
nghe rõ,
Xin hãy
lên xe;
Kính yết
Tổ từ,
Trước
khi vĩnh biệt!
- TẢ BẠCH XƯỚNG:
Lễ hai lạy –
Tất cả đứng dậy rước linh vị lên xe.
(Tạm ngừng ít phút để chủ lễ vịnh)
Tạm tẫn đến đây đã hết ngày,
Xe linh sắp đến chốn u
đài,
Một mai nghìn thuở âm
dương cách,
Tới yết Từ đường tự bữa
nay.
(Vịnh xong, chủ lễ đẩy nhẹ xe linh và niệm danh
hiệu Đức Địa Tạng hướng dẫn xe linh và tang quyến đến Từ đường. Đến nơi
linh vị mặt xoay hướng Bắc, tang quyến thứ tự sắp hàng, con trai cả cầm
gậy hỏng đất, con gái cất hết khăn che đầu ...)
- CHỦ LỄ XƯỚNG:
Quí vị tang quyến,
Tất cả cùng quì,
Đốt hương mặc niệm,
Tiên Tổ chứng tri.
- CHỦ LỄ VỊNH:
Sống đã là người, thác ấy hồn,
Tới lui qua lại chốn càn khôn,
Từ đường Tiên Tổ tinh thần tụ,
Xin nhận vong linh lễ Tổ tôn.
- CHỦ LỄ XƯỚNG:
Dâng hương lên án,
Cúi lễ Tổ tôn,
Tất cả lại quì,
Chí thành làm lễ.
- TÁN NGÔ ĐỒNG:
Ngô đồng lá rụng lúc Thu về,
Dạ đê mê.
Triệu thỉnh vong linh về dự lễ,
Vong linh nghe triệu hãy mau về.
- TẢ BẠCH XƯỚNG:
Sơ hiến trà - Lễ ba lạy - Cùng quỳ.
KỆ TRÀ:
Đức ông cha còn mãi,
Con cháu được thơm hương.
Cúi đầu dưới thềm lạy,
Vì cha (mẹ)
lễ Tự đường.
CHỦ LỄ XƯỚNG:
Đưa xe linh (hoặc linh vị bóng hình)
Yết Tổ, Tang quyến vì vong linh lễ bốn lạy.
- CHỦ LỄ XƯỚNG CÁO VĂN:
Âm dương không hai lẽ,
Sanh tử có đôi đường.
Nay có thiếp yết Tổ,
Xin đọc trước Tự đường.
TUYÊN KHẢI CÁO VĂN:
Tam Bảo Pháp đàn.
Bổn đàn vì chánh độ cố linh,
Xin gởi khải cáo văn yết Tổ,
A Di Đà Phật chứng minh!
Sa môn thích ... phụng hành pháp sự.
Nay có tang chủ (tên) cùng cả tang
quyến ở xã ... huyện ... tỉnh ...
Nay chọn ngày này,
Nhờ Tăng làm lễ,
Rước linh yết Tổ,
Cáo biệt lên đường.
Ngửa mong liệt Tổ xót
thương,
Dắt dìu vong linh thượng
lộ.
Nay tang chủ đau thương vì vong linh cố phụ
(mẫu) ..., tánh (họ) húy ... một vị thần hồn.
Nguyên sanh năm ... từ trần ngày ... tháng ... năm
...
Than ôi vong linh!
Cảnh tình ly biệt,
Một việc đau lòng.
Cáo biệt Tổ tông,
Lẽ nào quên được.
Vì vậy:
Gần ngày tiễn biệt,
Yết Tổ lễ bày.
Kính khải văn này,
Trước đài tuyên đọc.
Mong rằng:
Liệt vị Tổ Tiên xót thương chứng giám!
Khải văn này xin đệ Bổn Tôn lịch đại tiên linh,
cảm thông thâu chấp.
Nay, ngày ... tháng ... năm ...
Nay cẩn khải.
Nhất Như Lai tâm.
- TẢ BẠCH XƯỚNG:
Á hiến trà - Lễ hai lạy – Cùng quì.
- KỆ TRÀ:
Hưong hoa cùng lễ tiết,
Hiến cúng trước Tổ đường.
Đầy vơi đôi lần hiến,
Xin cáo biệt lên đường.
- TẢ BẠCH XƯỚNG:
Chung hiến trà - Lễ hai lạy – Cùng quì.
- KỆ TRÀ:
Đường mây ôi xa lắm,
Đạ đài tối tăm thay.
Cúi đầu từ Tiên Tổ,
Nghìn thu vẫn chau mày!
- CHỦ LỄ XƯỚNG:
Tang chủ rước linh vị trở lại xe linh.
- CHỦ LỄ VỊNH:
Từ đường lễ tất phải lui về,
Tạm nghỉ một đêm tại chốn quê.
Mai đến tùy ai đưa đón mặc,
Đường qua xứ Phật một mình về.
(Chủ lễ vịnh xong, tay đẩy nhẹ xe linh và niệm
danh hiệu Đức Địa Tạng hướng dẫn xe linh và tang quyến, về lại gia đường.
Khi đến nơi rước linh vị vào tôn trí tại linh tòa).
- HỒI HƯỚNG:
Nguyện tiêu ...
Nguyện sanh ...
- TẢ BẠCH XƯỚNG:
Lễ nghi yết Tổ,
Giờ đã viên hòan.
Tất cả môn tang,
Lễ thành bốn lạy.
4. NGHI
RƯỚC LINH MÔ LỄ PHẬT
(Trước lễ
Di Quan)
* Tiết thứ làm nghi:
- CHỦ LỄ ĐẾN TRƯỚC LINH ĐÀI XƯỚNG:
Tang gia hiếu quyến,
Mời đến trước đây.
Tất cả đều quỳ,
Đốt hương mặc niệm...
- CHỦ LỄ HẠ PHỦ XÍCH - VỊNH RẰNG:
Nhắm mắt nằm yên mấy bữa rày,
Xuôi tay từ giã thế gian
này.
Nhưng hôm qua:
Từ đường bái biệt hàng tiên tổ,
Và ngày nay:
Lễ Phật lên đường chính bữa nay.
- CHỦ LỄ XƯỚNG:
Dâng hương lên án cúng dường.
Cúi lễ hương linh ba lạy.
Tất cả thứ tự sắp hàng.
Xin rước linh mô lễ Phật.
- CHỦ LỄ XƯỚNG:
Nam mô Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật.
(Trưởng nam bưng lư hương và đèn đi trước, thứ nam
thỉnh linh mô đi sau, theo sự hướng dẫn của lễ sư đến trước Phật đài và
tôn trí linh mô trên hương án thiết sẵn, mặt hướng vào bàn Phật, xong).
- CHỦ LỄ CỬ HƯƠNG TÁN:
Hương xông đảnh báu,
Giới, định, tuệ hương,
Giải thoát tri kiến quý khôn lường,
Ngào ngạt khắp muôn phương,
Thanh tịnh tâm hương,
Đệ tử nguyện cúng dường.
Nam mô Hương Cúng Dường Bồ Tát.
- TỤNG:
Ma ha Bát nhã ...
- TÁN:
Trên trời dưới trời không bằng Phật,
Thế giới mười phương cũng khó bằng,
Thế gian có gì con đã biết,
Tất cả không ai bằng Phật vậy.
Nam mô Thập Phương Thường Trụ Tam Bảo.
- CHỦ LỄ QUỲ BẠCH (thay vì sớ):
Nam mô thập phương tam thế nhất thiết chư Phật,
Tôn Pháp, Hiền Thánh Tăng, tác đại chứng minh.
Nay có ai tử (cô ai tử) ... cùng cả
tang gia hiếu quyến;
Đau lòng vì vong linh cố phụ (cố mẫu)
..., pháp danh ... một vị hương linh.
Nguyên sanh ngày ... tháng ... năm ... hưởng thọ
... tuổi.
Than ôi!
Một phút vô thường,
Nghìn thu vĩnh biệt.
Đớn đau chi xiết,
Thương tiếc sao cùng!
Tuy nhiên,
Quyền lưu quan quách ngại
ngùng,
Tạm tẫn lễ nghi bối rối.
Nhưng biết làm sao giờ?
Sao dời vật đổi,
Nước chảy hoa rơi.
Cho dầu Bành Tổ trường
thọ một đời,
Nhan Hồi yểu vong nửa
kiếp.
Do đó rất:
Hãi hùng vì giấc mơ Hồ
điệp,
Thương xót vì kiếp sống
Phù du.
Biết rằng:
Huyễn thân có sanh có
diệt mặc dù
Nhưng chơn tánh
không
đến không đi nào thấy!
Nay thì xe tang sắp đẩy,
Linh cửu sẽ dời.
Vì vong linh tác bạch mấy lời,
Mong Phật Tổ chứng minh tấc dạ.
Cho vong linh cúi đầu lễ tạ,
Xin tang quyến ngửa mặt nguyện cầu.
Cầu vong linh nghe
Pháp ngữ nhiệm mầu,
Nguyện vong linh thấy
Phật thân thanh tịnh.
Hầu minh tâm kiến tánh
Ngõ thoát hóa tiêu diêu.
- CHỦ LỄ ĐỨNG DẬY XƯỚNG:
Chí tâm đảnh lễ:
Nam mô Ta Bà Giáo Chủ Đại Từ Đại Bi Bổn Sư Thích
Ca Mâu Ni Phật, tác đại chứng minh.
Chí tâm đảnh lễ:
Nam mô Tây Phương Giáo Chủ Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà
Phật, tác đại chứng minh.
Chí tâm đảnh lễ:
Nam mô U Minh Giáo Chủ Đại Thánh Địa Tạng Vương Bồ
Tát, tác đại chứng minh.
- CHỦ LỄ TUYÊN ĐỌC PHÁP NGỮ:
Thưa hương linh ông, bà (tên họ, pháp danh)
yên lặng lắng nghe!
Người đời thường nói: "Sống gởi thác về".
Tuy nhiên, sống ở gởi nhiều người đã biết, nhưng
thác về đâu thì mấy ai hay?!
Giờ này vong linh đi về đâu? Về với ông bà tổ
tiên? Hay về với cát bụi cỏ cây? Nếu vong linh về với ông bà tiên tổ, thì
biết tiên tổ ông bà ở đâu không? Còn về với cát bụi cỏ cây thì vong linh
về đó làm gì?
Thưa vong linh! Vong linh nên nghĩ rằng: Ông bà tổ
tiên lúc ra đi, cũng như vong linh bây giờ ra đi vậy; nghĩa là kẻ trước
người sau chẳng ai biết ai cả. Còn về với cỏ cây cát bụi thì thân mọi loài
mọi vật đều được cấu tạo bằng nhiều nguyên tố: đất, nước, gió, lửa ... thì
nay phải trả lại cho lửa gió đất nước.
Trong kinh Đức Phật dạy: Trong thân thể con người
và các loài hữu tình khác, có thứ luôn luôn thay đổi, có thứ mãi mãi chẳng
đổi thay. Thứ thay đổi là vật chất, thứ không thay đổi là tinh thần, là
Phật tánh, là tâm thức (Lăng Nghiêm). Và khi thứ không thay
đổi này còn ở trong thân thể hay thay đổi, nó có những tác dụng như thấy,
nghe, hay, biết và tạo tác các nghiệp thiện ác v.v... Khi thân vật chất
này, vì lý do gì không thể duy trì sự sống tồn tại được, thì cái tinh thần
tâm thức đó đi theo các nghiệp thiện ác mà mọi người khi tại thế đã làm
(tức nghiệp khiên) để thọ sanh (nghiệp thức)
vào một thân khác, loài khác, sống trong thế giới khác. Ví dụ như chúng ta
ở trong một ngôi nhà, nhưng ngôi nhà đó bị đất sụp, nước trôi, lửa cháy và
gió đổ ... không thể ở được, không có chỗ ở, đương nhiên chúng ta phải tìm
nơi khác, tạo lập lại ngôi nhà mới để ở vì không thể sống bơ vơ lưu lạc vô
trú xứ được. Nhưng chúng ta lấy gì làm lại ngôi nhà mới đó? Điều đó dễ
hiểu là tiền vốn của chúng ta đã dành dụm suốt đời khi lâm nạn mang theo
nhiều ít. Vốn đó là "nghiệp" vậy! Còn ngôi nhà mới tốt hay xấu là do tiền
tích lũy mang theo nhiều ít từ quê cũ mang đến.
Thưa vong linh!
Kinh Phật dạy: "Vạn ban tương bất khứ, duy hữu
nghiệp tùy thân". Nghĩa là muôn vàn của cải không mang theo được thứ gì
cả, chỉ có nghiệp thiện ác theo mình mà thôi.
Như vậy, vong linh khi sinh tiền đã giữ năm điều
răn theo lời Phật dạy; sau khi lâm chung, thiện nghiệp đó dẫn dắt vong
linh sinh vào cõi người, cõi chúng ta đang sống, khổ nhiều vui ít. Hoặc
vong linh khi tại thế đã làm mười điều lành như Phật đã dạy, lúc mãn phần,
các nghiệp lành đó sẽ nâng đỡ vong linh sanh lên các cõi trời, cõi đó khổ
ít vui nhiều. Và cứ như thế tiến lên các cõi Thánh và xuất thế gian như A
La Hán, Bồ Tát và chư Phật, sau khi đã tu tập theo 37 phẩm trợ đạo, sáu
độ, muôn hạnh lành, lợi ích chúng sanh trong nhiều đời nhiều kiếp. Đó là
một sự thật được chứng minh theo đạo lý sanh tử, Niết Bàn Bồ đề phiền não
mà kinh sử đã ghi rõ xưa nay.
Ngược lại, nếu chúng sanh nào làm năm điều ác,
mười điều chẳng lành, sau khi thân này tan rã nghiệp xấu đó sẽ lôi cuốn
vong linh đó sinh vào các nơi tăm tối, dơ bẩn, đói khát và đau khổ, và rủi
vào các đường này chỉ có khổ, không có vui, và rất khó trở lại loài người.
Các đường khổ đó là địa ngục, ngạ quỉ và súc sanh, ngay ở thế gian này
cũng có, không phải ở đâu xa cả.
Thưa vong linh!
Trên đây là những giáo điều, những pháp ngữ để
khuyên chúng sanh làm lành, răn cấm chúng sanh làm các việc ác, để kiếp
sau và cũng ngay cả hiện tại và tương lai đừng sa vào các thế giới khổ, để
lên các cõi vui như trên đã nói. Đên đây vong linh đã nghe rõ và vong linh
có thể tự biết mình, sau khi chia tay thân nhân qyến thuộc ... sẽ đi về
đâu và vong linh tự chọn một trong mười cõi đó để thọ sanh và chính vong
linh tự biết rõ hơn ai hết, cũng như người từ nước này sang nước khác, tự
biết mình khổ hay vui là do của cải thiện hay các (nghiệp)
của mình mang theo mà thôi. Và ngay cả thân thuộc cũng chỉ biết phần nào
cuộc sống khổ vui của vong linh ở thân sau và thế giới mà vong linh sẽ
đến.
Vậy trước khi làm lễ di quan đưa vong linh về thế
giới khác, vong linh nên phát tâm trong giờ phút ngắn ngủi này, sám hối
các vọng nghiệp, hồi hướng các thiện duyên, để các nghiệp vọng cũ tiêu
trừ, các phước lành mới phát, đồng thời phát tâm quy y Tam Bảo, giữ 5 giới
cấm trong tương lai, trong kiếp sống khác. Nghĩa là một niệm hồi quang
phản chiếu thật sự, như thắp lên một ngọn đèn, bao nhiêu bóng tối trong
nhà tối lâu năm thảy đều biến mất. Rồi từ đó sẽ nhờ pháp lực tiếp dẫn vong
linh từ trần gian này về Phật quốc khác. Vong linh hẳn đã nghe rõ và đã tự
nguyện làm theo lời Pháp ngữ mà lễ sư vừa tuyên đọc trước Phật đài. Vong
linh làm được như vậy thì hân hạnh vô cùng.
Giờ đây xin mời tất cả thân nhân tang quyến, cùng
tất cả Phật tử hiện diện, hãy vì vong linh, cho vong linh đồng thanh hộ
niệm:
Vong linh vốn tạo các vọng nghiệp,
Đều do vô thỉ tham sân si,
Từ thân, miệng, ý phát sinh ra,
Tât cả vong linh xin sám hối.
Nam mô Cầu Sám Hối Bồ Tát.
Vong linh quy y Phật,
quy y Pháp, quy y Tăng.
Quy y Phật không đọa địa ngục,
Quy y Pháp không đọa ngạ
quỉ,
Quy y Tăng không đọa bàn
sanh.
Vong linh quy y Phật rồi,
Quy y Pháp rồi và quy y
Tăng rồi.
- Nguyện tiêu ...
- Nguyện sanh ...
- Nguyện đem công đức này ...
- PHỤC NGUYỆN:
Thần về cõi Phật,
Mạng gởi Ta bà,
Cầu xin Đức Phật Di Đà,
Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát.
Xin thương xót tiếp độ vong linh Phật tử ... vãng
sanh an lạc quốc:
Với dị hương thiên nhạc,
Cùng bảo cái tràng phan.
Với chín phẩm sen vàng,
Cùng mười phương Thánh
chúng.
Thần thông diệu dụng,
Hiển hiện nhiệm mầu;
Tất cả cúi đầu,
Xưng dương thánh hiệu:
Nam mô Tây Phương Giáo Chủ ... (1 lễ)
Nam mô U Minh Giáo Chủ ... (1 lễ)
- CHỦ LỄ XƯỚNG:
Rước linh lễ Phật,
Giờ đã hoàn thành,
Tất cả tụng niệm hồng danh,
(Nam mô A Di Đà Phật),
Đưa linh trở về bản vị.
(Lễ sư hướng dẫn tang gia hiếu quyến rước linh mô
về lại linh sàng, tiếp làm lễ di quan)
* Lưu ý:
Pháp ngữ nên viết ra hay cầm tay tài liệu này đọc
cho rõ ràng, giọng ai, để người đi kẻ ở được hiểu ý nghĩa sanh tử mất còn,
khổ vui thân này, đời khác nghiệp nhơn quả báo ... của một kiếp sống con
người, rất có lợi ích. Thật tế mong quí vị lưu ý!
5. NGHI
PHÁT DẪN
(Di quan)
* Tiết thứ làm nghi:
- CHỦ LỄ XƯỚNG:
Xin mời tang quyến,
Đến trước linh đài.
Tất cả đều quỳ,
Đốt hương mặc niệm...
- CHỦ LỄ VỊNH KHAI DIÊN:
Tử sanh là ải phải đi qua,
Đi mãi nhưng ai đã đến
nhà?
Qua lại ba đường cùng sáu
cõi,
Muốn ra cần phải niệm Di
Đà.
Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Như Lai.
- TẢ BẠCH XƯỚNG:
Dâng hương lên án,
Cúi lễ vong linh.
Tất cả lại quì,
Chí thành làm lễ.
- CHỦ LỄ CỬ TÁN:
Thôi đừng luyến tiếc mảy may trần,
Phải thấy chơn thân việc ấy cần.
Cực lạc quê hương người sẽ đến,
Liên trì phó hội với Thiên nhân.
Nam mô Tịnh Độ Phẩm Bồ Tát.
- CHỦ LỄ TUYÊN PHÁP NGỮ:
Tằng nghe rằng:
Chúng sanh nghiệp nặng,
lâu đời chìm đắm ba đường;
Chư Phật ơn sâu,
nhiều kiếp dắt dìu các
loại.
Nếu không phải lòng thương rộng rãi,
Tâm nguyện bao la;
Đâu hay:
Biển khổ gặp thuyền,
Đường mê được đuốc!
Bởi vậy,
Các Thánh hết lòng tín gưỡng,
Chư Thiên cung kính qui y.
Nếu hay một niệm hồi quang,
Lo gì khối mê chẳng vỡ!
Và được vậy,
Sáu trần thanh tịnh,
Một tánh viên minh.
Do đó,
Rất hy vọng ở hàm linh,
Ngộ chơn tâm mà giải thoát!
Nay nhờ thiền giả,
Pháp sự tuyên hành.
Tiến bạt vong linh,
Vãng sanh Cực lạc.
- TÁN:
Tiếng khóc vang lên mấy
dặm mây.
Đưòng xa này,
Nhờ Đức Như Lai thương
tiếp độ,
Sen vàng nguyện trổ ở
trời Tây!
- TẢ BẠCH XƯỚNG:
Sơ hiến trà - Lễ ba lạy - Cùng quỳ.
- KỆ TRÀ:
Chiều xuống trên hoa thôn,
Người đi tê tái hồn.
Ánh trăng soi lờ lạt,
Tiếng dế khóc hoàng hôn!
- CHỦ LỄ XƯỚNG THIẾP:
Âm dương không hai lẽ,
Sanh tử có đôi đường.
Nay có thiếp di quan,
Đối linh tiền tuyên đọc.
Duy nguyện vong linh,
Yên lặng láng nghe.
Tam Bảo Pháp đàn.
Bổn đàn vì chánh độ cố linh,
Xin gởi thiếp văn triệu thỉnh.
A Di Đà Phật chứng minh!
Sa môn Thích ... phụng hành pháp sự.
Nay có tang chủ (tên) cùng tang gia
quyến thuộc ở xã ... huyện ... tỉnh ...
Đau thương vì vong linh (tên họ, pháp danh)
một vị hương linh.
Vì vậy,
Nay chọn ngày này,
Nhờ Tăng làm lễ,
Y theo chánh pháp,
Tiếp độ cố linh.
Than ôi vong linh!
Bốn đại khó dừng,
Đôi đường dễ cách!
Gương trong mây trắng,
Treo hoài thương nhớ người đi!
Mưa trúc gió mai,
Rơi mãi đớn đau kẻ ở!
Nay thời,
Giờ lành đã đến,
Linh cữu sắp đưa.
Di quan lễ ấy cử hành,
Ơn đức lòng này khó trả.
Kính nhờ thiền giả,
Tuyên đọc thiếp này,
Mời vong linh về,
Chứng tri lễ tống.
Thiếp này xin chuyển,
Sứ giả âm dương,
Trao đến vong linh,
Cảm thông thâu chấp.
Nay, ngày ... tháng ... năm ...
Nay thiếp thỉnh.
Nhất Như Lai Tâm.
- TẢ BẠCH XƯỚNG:
Á hiến trà - Lễ hai lạy – Cùng quì.
- KỆ TRÀ:
Một chuyến đi không về,
Lòng đau mãi tái tê.
Giờ này tương lễ bạt,
Đưa giác linh về quê!
- TẢ BẠCH XƯỚNG:
Chung hiến trà - Lễ hai lạy – Cùng quì.
- KỆ TRÀ:
Mây sầu giăng núi Hổ (Dĩ),
Tăng lạnh phủ mồ cô.
Một bước đi thiên cổ,
Mười dặm đường ... ô hô!
- TẢ BẠCH XƯỚNG:
Phụng thực:
- TỤNG:
Biến thực, biến thủy ...
Mỹ Hương Trai Bồ Tát.
TẢ BẠCH XƯỚNG:
Mời quí vị đứng dậy, lễ hai lạy.
Tất cả sắp hàng ra hai bên.
- CHỦ LỄ XƯỚNG:
- Mời quí vị âm công thứ tự đi vào.
- Xin quí vị bái quan.
- Tang chủ triệt linh sàng.
- Dời quan lên xe tang.
- Mời qúi vị lễ sư đi trước quan tài.
- Quí vị tang quyến đi sau quan tài.
- Lễ di quan đến đây đã mãn.
- CHỦ LỄ XƯỚNG:
A Di Đà thân kim sắc ...
(Từ từ ra cổng hướng dẫn đám tang đến nghĩa địa,
hoặc đài hỏa táng).
* Lưu ý:
Ban tổ chức tang lễ nên sắp xếp đoàn đưa cho có
thứ tự: Trướng liễn phúng điếu, xe linh, xe đưa Địa Tạng, âm nhạc, hình
ảnh cố linh, lư hương v.v... kể cả quan khách thân hữu của Tang gia và Đạo
hữu (nếu người có đạo), để đoàn đưa được trang nghiêm tối đa càng quí.
6. NGHI
HẠ HUYỆT
(Đến nghĩa trang, đưa quan tài đến trước huyệt;
tang chủ thiết lập hương án nhỏ tạm thời).
- CHỦ LỄ XƯỚNG:
Xin mời tang quyến,
Đến trước quan tài,
Tất cả chí thành,
Đốt hương mặc niệm.
Dâng hương lên án,
Cúi lễ vong linh.
- CHỦ LỄ NGÕ LỜI:
Thiết nghĩ rằng:
Nhất linh chơn tánh,
Vốn không đến cũng không đi;
Tứ đại huyễn thân,
Đã có sanh nên có diệt.
Nay tang chủ đau thương vì vong linh cố phụ
(mẫu) tánh (họ) húy (tên) một vị
hương hồn.
Thân rời trần cảnh,
Hồn đến rừng dương.
Vì vậy,
Mấy hôm rồi phải dùng:
quan tài cất xác tạm thời.
Giờ đến lúc cần lấy:
mả mồ gởi thân vĩnh viễn.
Ngửa mong Tăng chúng,
đồng vận lòng từ,
Tất cả một lời,
Gia trì mật chú:
Nam mô Đại Bi Hội thượng Phật Bồ Tát.
Thiên thủ thiên nhãn ...
- TIẾP:
A Di Đà Phật thân kim sắc ...
(Quí vị lễ sư nhiễu huyệt 3 vòng, nhiễu xong, trở
lại vị trí cũ).
- CHỦ LỄ XƯỚNG:
Vừa rồi,
Thần chú đã gia trì,
Thánh danh vừa tụng niệm;
Nguyện đem công đức ấy,
Soi sáng đường vong đi.
Duy nguyện:
Thể xác khinh an,
Mả mồ êm ấm.
Mong nhờ từ lực,
vượt qua tăm tối ba đường.
Nguyện được dắt dìu,
lên đến sen vàng chín phẩm.
Đời đời tự tại,
Kiếp kiếp tiêu diêu.
- CHỦ LỄ XƯỚNG:
Đưa quan tài hạ huyệt.
- TỤNG:
Nẵng mô tát phạ đát tha, nghiệt đá nẫm, Án dĩ bổ
lã nghiệt v.v... (3 lần)
Chủ lễ rải tán sa (Nếu đã luyện
trước khi quan tài còn quàn tại nhà thì tang chủ và thân quyến rải hoa và
đất cát xuống huyệt).
- CHỦ LỄ XƯỚNG:
Hạ minh sinh xuống huyệt.
Xuống đất – cát.
- HỒI HƯỚNG:
Nguyện tiêu ...
Nguyện sanh ...
- CHỦ LỄ XƯỚNG:
Lễ nghi hạ huyệt,
Việc đã viên hoàn;
Tang chủ họ hàng,
Lễ từ bốn lạy.
(Nhớ nhắc tang chủ có lời cảm ơn và xin lỗi những
thiếu sót trong tang lễ).
- CHỦ LỄ XƯỚNG:
Tang chủ và tang quyến rước linh mô (hình
ảnh lư nhang) về lại gia đường.
Lễ sư hướng dẫn ...
* Chú thích:
Rừng dương nguyên nó là cây Phong, giống cây
Dương; tục truyền cây Phong sống lâu hóa người.
7. TRÀ TỲ
- HỎA TÁNG
(Bài này
xếp sau nghi hạ huyệt nếu làm lễ hỏa táng).
CHỦ LỄ CÓ MẤY LỜI SAU CÙNG:
Thưa vong linh!
Khi vong linh còn tại nhật đã biết:
Lửa trong thân của vong linh mới đây đã tắt,
Giờ phải nhờ lửa ngoài trời hỏa táng thân này.
Cuộc đời trần thế của vong linh đến đây,
Mọi việc coi như đã hết.
Tuy nhiên,
Chơn tánh vốn không già không chết;
Theo nghiệp khiên sanh tử thăng trầm.
Hơi cá tâm biển rộng ai tầm?
Dấu chim thức trời cao nào biết?
Sanh ly tử biệt,
Một việc đau lòng.
Chỉ biết cầu mong,
Phật từ tiếp độ.
Nhớ thuở ấy nhục thân Phật Tổ,
Vào kim lô làm phép trà tỳ,
Nghĩ giờ này di thể vô tri,
Đến ngỏa thất nhận nghi hỏa táng.
Để rồi:
Bụi tro phân tán,
Cốt cách thu hoàn.
Bảo tháp mật tàng,
(hay, Từ đường cung
phụng)
Nghìn thu an nghỉ.
- CHỦ LỄ XƯỚNG:
Đưa quan tài vào hỏa táng.
- HỒI HƯỚNG:
Nguyện tiêu ...
Nguyện sanh ...
- CHỦ LỄ XƯỚNG:
Lễ nghi hỏa táng,
Việc đã viên hoàn,
Tang chủ họ hàng,
Lễ thành bốn lạy.
(Chủ lễ nhắc nhở Tang chủ có đôi lời cảm ơn và xin
lỗi những thiếu sót trong tang sự).
- CHỦ LỄ XƯỚNG:
Tang chủ, quyến thuộc rước linh mô (hình
ảnh, long vị, v.v...) về lại gia đường
- Lễ sư hướng dẫn.
8. NGHI
PHẢN KHỐC
(An linh)
* Tiết thứ làm nghi:
- CHỦ LỄ XƯỚNG:
Xin mời tang quyến,
Đến trước linh đài.
Tất cả đều quỳ,
Đốt hương mặc niệm...
- CHỦ LỄ VỊNH:
Sống vốn khôn ngoan thác ấy linh,
Âm dương tụ tán phân minh,
Gia đường thiết lập nơi thờ tự,
Vong giả đi về nghe kệ kinh.
- TẢ BẠCH XƯỚNG:
Dâng hương lên án cúng dường.
Cúi lễ vong linh ba lạy.
Tất cả thứ tự lại quì.
Một lòng chí thành làm lễ.
- CHỦ LỄ CỬ TÁN:
Lòng từ bình đẳng,
sức đạo vô biên.
Nay đứng trước linh diên,
Xưng dương bảo hiệu:
Nam mô Đa Bảo Như Lai,
Quảng Bác Thân,
Diệu Sắc Thân,
Cam Lồ Vương Như Lai.
Nam mô bạt già phạt đế.
Án bộ bộ đế rị, già rị đà rị, đát đa
nga đa da. (3 lần)
- CHỦ LỄ TUYÊN PHÁP NGỮ:
Tằng nghe rằng:
Sống thác lẽ tự nhiên,
như ngày tối có sáng;
Hợp tan là định luật,
như gió mây bất thường!
Nỗi đau lòng của con cháu,
Là sự quí trọng mẹ cha;
Vì đã sinh thân ba thước,
đầy đủ trăm xương.
Cha sinh mẹ dưỡng,
ơn đức khôn lường!
Giờ này lòng muốn tỏ tường,
Tiếc rằng thời không đợi vậy!
Than ôi!
Cha (mẹ) đà khuất bóng,
Con biết nhờ ai?
Một đi vĩnh biệt,
Muôn đời thương thay!
- TẢ BẠCH TIẾP:
Hôm nay lễ mọn đã bày,
Để tỏ thiên luân hiếu đạo
Xin nhờ Tôn chúng,
Triệu thỉnh vong linh.
Hương hoa thỉnh v.v...
- Nhất tâm triệu thỉnh ...
(các lời thỉnh đính sau)
Linh Tự Tại Bồ Tát.
- TẢ BẠCH XƯỚNG:
Sơ hiến trà - Lễ ba lạy - Cùng quỳ.
- KỆ TRÀ:
Cá tâm vừa phá sóng,
Chim thức mới xé lồng,
Qua lại không dấu vết,
Biết đâu hỏi tin hồng?
- TẢ BẠCH XƯỚNG:
Phụng thực
Tụng: Biến thực, biến thủy ...
- TẢ BẠCH XƯỚNG:
Á hiến trà - Lễ hai lạy – Cùng quì.
- KỆ TRÀ:
Thấy nghe sao ái ngại,
Vào ra những bồi hồi,
Khắc hình nhơn thuở trước,
Ân thân nghĩa một thôi!
- CHỦ LỄ XƯỚNG THIẾP:
Âm dương không hai lẽ,
Sanh tử có đôi đường.
Thiếp phản khóc một chương,
Đối linh tiền tuyên đọc.
Duy nguyện vong linh,
Mặc nhiên tịnh thính!
- TUYÊN THIẾP:
Giác Hoàng Bảo đàn.
Bổn đàn vì chánh độ cố linh,
Xin gởi thiếp văn triệu thỉnh.
A Di Đà Phật chứng minh!
Sa môn Thích ... phụng hành pháp sự.
Nay có tang chủ (tên họ) ... cùng cả
tang quyến ở xã ... huyện ... tỉnh ...
Đau lòng vì vong linh cố phụ (tên họ)
... Pháp danh ... một vị hương hồn.
Nguyên sanh năm ... từ trần ngày ... tháng ... năm
...
Than ôi! Vong linh!
Trăng hôm hoa sớm,
Xứ lạ thảm thê.
Ải tối rừng mờ,
Thân cô lạnh lẽo!
Thương vì:
Hồn hồ điệp hãi hùng trong mộng.
Xót nỗi: |