Trang tiếng Việt

 Trang Nhà Quảng Đức

Trang tiếng Anh

Nếp Sống Đạo


...... ... .

 

Tam Bộ Nhất Bái
Nguyên Bản: Three Steps One Bow

Heng Ju & Heng Yo
Buddhist Text Translation Society

---o0o---

 

Chương I

Từ San Francisco đến Garberville  

Ngày 16 Tháng 10 Năm 1973. Ngày khởi sự. Hằng Cụ viết:

Sáng hôm nay tất cả mọi người ở Chùa Kim Sơn tiển đưa chúng tôi đến tận công viên nhỏ gần cầu Golden Gate, nơi mà tôi đã bỏ cuộc lúc trước. Không lãng phí chút thời gian nào, tôi bắt đầu lạy ngay về hướng bắc, Thầy Hằng Do đi liền theo sau, trên lưng mang một túi đầy vật dụng. Lúc đó có khoảng hai mươi vị gồm cả Tăng, Ni và cư sĩ vừa đi chung quanh chúng tôi vừa trì niệm chú Ðại Bi gồm 415 âm vần.

Sau khi lạy qua hai con đường, tôi chuẩn bị băng qua đại lộ phía trước của Marina, thì có đoàn xe cứu hỏa chạy đến và ngừng ngay trước mặt. Hơi một chút sửng sờ vì chúng tôi không biết họ đang muốn làm gì, chắc họ cũng thắc mắc về việc chúng tôi đang làm. Ðường lộ khi ấy lại rất nhiều xe cộ nên khó mà băng qua theo kiểu Tam Bộ Nhất Bái, vì vậy tôi cứ đứng tại chỗ mà lạy. Ðược một lúc, thấy cảnh tượng nầy chắc sẽ gây sự chú ý, nên cuối cùng tôi đành quyết định đi qua lộ như thường, rồi sẽ tiếp tục lạy khi tới bên kia đường. Lúc chúng tôi tiến gần đến lối vào cầu thì nhóm xe chữa lửa lúc nãy mới bỏ đi, còn chúng tôi thì tiếp tục cuộc hành trình. Thầy Hằng Do với túi đồ đi trước khoảng vài trăm thước, ở đó lạy, đợi đến khi tôi đi ngang qua, Thầy lại mang túi hành trang lên, đi về phía trước và lạy tiếp....

Lên đến cầu Goden Gate, chúng tôi gặp mối trở ngại đầu tiên. Một viên chức giữ cầu chạy ra nói rằng nếu chúng tôi cứ tiếp tục làm "như thế" để qua cầu thì ông sẽ đuổi chúng tôi ngay.

Ông bảo: "Hoặc là đi như những con người bình thường, bằng không thì không được qua cầu."

Rồi ông nói tiếp: "Mà cái gì vậy? Mấy ông tính làm gì đây?"

Thấy rõ ông ta muốn kiếm chuyện, nên tôi nói: "Ðể chúng tôi suy nghĩ về chuyện đó chút đã."

Nghe thế ông ta lấy làm bối rối và cũng không nói được thêm gì. Lễ lạy tại chỗ được một lúc, thấy không còn cách nào hơn nên chúng tôi quyết định đi qua cầu như "những con người bình thường." Qua đến bên kia cầu là vùng Marin, trong khi tiếp tục lạy tôi chợt nhớ lời Sư Phụ dạy lúc chia tay:

"Ngày mai chỉ trong một niệm là Hằng Cụ và Hằng Do sẽ qua khỏi cầu."

Từ đây chúng tôi dự định sẽ tiến tới bờ biển Stinson và thẳng lên xa lộ Một (Highway 1), cuối đường là giáp vùng Legget, California. Từ đó sẽ chuyển sang xa lộ 101 để thẳng tiến đến trung tâm của tiểu bang Washington rồi sau đó thì vào nội địa Seattle. Dựa theo bản đồ thì chúng tôi hầu như sẽ không gặp đại lộ (free way) nào cả.

Chúng tôi vừa mới qua cầu Golden Gate và dựng lều dưới những lùm cây gần lối vào khu Sausalito.

 

Ngày 17 Tháng 10 Năm 1973. Hằng Cụ viết:

Hôm nay trong buổi nắng sáng, chúng tôi rời xa lộ 101 để vào vùng Sausalito. Nhiều đoàn xe như Porsches và Volkswagens chạy vùn vụt ngang qua để vào thành phố lớn làm việc. Khi chúng tôi đến khu phố nhỏ im lìm bên bờ vịnh, tuy hai bên đường đã có nhiều người dừng lại nhìn chòng chọc, nhưng chỉ có một bà cụ đến hỏi chuyện chúng tôi thôi. Ðến trưa, Quả Dung Epstein cùng gia đình và người bạn tên Tom Yager mang đến thức ăn Tàu còn nóng hổi. Tiến sĩ Epstein, giáo sư dạy triết ở trường đại học San Francisco State, tỏ lòng mến mộ về việc làm của chúng tôi. Sau bữa cơm trưa, chúng tôi tiếp tục lạy. Có con chó dại thân đầy ghẻ lở, chạy lon ton vòng quanh theo tôi, vừa rên rỉ vừa tru lên như than thở.

Nói chung, mọi người đều như tránh xa chúng tôi. Có lẽ họ nghĩ rằng đây là một trò ảo thuật quảng cáo gì đó. Tôi tự hỏi không biết có bao nhiêu người ý thức rõ được về những cái hay, có thể biểu hiện trong việc lễ lạy như vầy. Tại Ðông phương, đặc biệt là Ấn Ðộ, Trung Hoa và các nước theo Phật Giáo, lễ lạy là một cách diễn tả sự cung kính, chào hỏi và phục tùng. Trung Quốc thời xưa, xem việc lễ bái gần giống như là sự bắt tay như ở xứ Mỹ ngày nay. Công nhân kính lạy chủ nhân (quý tộc), chủ nhân bái kiến các Lãnh chúa, Lãnh chúa lễ phục Hoàng Ðế, cũng có khi Hoàng Ðế lạy xá những vị Tăng đã giác ngộ và thỉnh cầu sự chỉ dạy cách thức thống trị quốc gia. Tuy nhiên sự lễ lạy đối với chúng tôi lại là phương tiện của thiền định. Phương pháp nầy dẫn đến sự tập trung tư tưởng hơn hết, vì nó không đòi hỏi suy nghĩ hay nói năng gì. Những động tác chầm chậm nhẹ nhàng, lập đi lập lại mới chính là sự luyện tập trong hiểu biết, với chủ ý làm dừng lại những loạn tưởng trong tâm thức. Nhờ vậy tự tánh vốn vượt ngoài cái lý bất nhị sẽ được phơi bày. Tự tánh nầy như hư không, bao trùm tất cả, tức không sanh cũng không diệt. Mục đích tu tập của người Phật tử là để trở về với tự tánh sẵn có của mình. Cho nên thiền tập bằng cách lễ lạy là một trong những phương pháp đưa đến trạng thái đó.

Hôm nay chúng tôi lạy thẳng một mạch xuyên qua thành phố Sausalito được năm dặm đường, và đang dựng lều trong bụi cây, giáp ranh vùng Tamalpais. Ngày mai chúng tôi sẽ tiến lên ngọn đồi cao qua con đường nhỏ ngoằn ngoèo dẫn ra bờ biển.

 

Ngày 18 Tháng 10 Năm 1973. Hằng Do viết:

Con đường chật hẹp lại khúc khuỷu và lõm chỏm đầy sỏi đá. Thầy Hằng Cụ biết ngay những viên sỏi đá bén nhọn nầy sẽ càu rách tay và đầu gối, nên chúng tôi phòng ngừa bằng cách xé áo quấn quanh đầu gối.

Mấy hôm trước, cái quần tôi đang mặc trông cũng còn khá lắm, vậy mà bây giờ đã có nhiều chỗ bị mòn mỏng tanh, tôi lại vô ý không đem thêm cái nào để phòng bị. Sáng nay, khi đứng tại chỗ lạy để chờ sư huynh đến thì phía sau đích quần tôi bị tét ra. Cũng may là nhờ có cái y (cà sa) che khuất chỗ rách. Tôi định lát nữa sẽ vá lại, nhưng càng tiếp tục lạy thì nhiều chỗ khác lại càng rách thêm ra. Thế nầy thì hết phương vá víu. Trong mấy ngày qua, người ta đã thấy có hai Tu sĩ Phật Giáo vừa đi vừa lạy trước công chúng, chỉ vậy cũng đủ làm họ sửng sốt rồi, nói chi bây giờ lại trông thấy một ông Thầy tu lễ lạy với cái quần rách tả tơi thì thật là quá sức tưởng tượng! Chắc tôi sẽ bị bắt về tội phơi bày bất chánh quá! Gió lạnh biển Thái Bình Dương xuyên qua những lỗ rách khiến tôi càng rét buốt thấu xương. Khi Thầy Hằng Cụ vừa lạy tới, tôi đề cập ngay đến thảm trạng đang cần một cái quần, nhưng sư huynh tôi cũng chẳng làm gì được hơn. Chúng tôi không có dư một cái quần nào và cũng không có tiền để mua quần mới. Nhiều người đi ngang qua cho tôi những cái nhìn thiệt là kỳ cục.

Tôi vác túi hành lý lên và bắt đầu đi về phía trước, đến ngay góc đường đầu tiên, chợt thấy một đống vải màu nâu nằm chắn lối. Mừng quá, tôi chạy tới lượm lên, thì ra là cái quần tây đàn ông, cỡ (size) 34. Ðúng là kích thước của tôi, không nhỏ quá, cũng không lớn quá, rất vừa vặn, thật là chuyện khó tin. Tôi nhảy vào bụi rậm để mặc vào, thật hoàn toàn vừa vặn. Không biết vị Bồ Tát nào, hay ai đó đã để cái quần nầy ngay trên lối đi của tôi. Nhưng dầu sao đi nữa, tôi thật biết ơn vô cùng.

Hôm nay chúng tôi lạy xuyên qua ranh giới Tamalpais được sáu dặm và đang cắm trại trên đồi, giữa những hàng cây Bách Hương. Thật ra chúng tôi không có lều chõng gì mà chỉ có được tấm ni-lon, nhưng vậy cũng đủ để tránh những cơn mưa gió phủ phàng.

 

Ngày 19 Tháng 10 Năm 1973. Hằng Do viết:

Trong ba ngày đầu tiên sống ngoài trời của chuyến đi, tôi đã đối diện với hàng triệu hình dạng của cuộc sống, như cây cỏ, côn trùng và súc vật. Dù cho số lượng có nhiều vô số kể, dù dưới mọi hình thể khác nhau, nhưng tất cả không sớm thì muộn đều cũng phải chết. Mọi cuộc sống đều theo một khuôn mẫu là: Sanh, trụ, hoại và không. Sanh là do các yếu tố hữu duyên hợp lại tạo thành thân thể. Trụ là khoảng thời gian những yếu tố nầy còn trong tình trạng hòa hợp. Hoại là khi các yếu tố nầy tan rã. Không là khi sự liên hệ giữa chúng tuyệt nhiên chấm dứt và thân thể đó không còn tồn tại nữa.

Với khung cảnh bao la ngoài trời nầy, tư tưởng tôi không có những bức tường chướng ngại, nên tâm tôi như tủa vút lên tận trời cao và hòa lẫn vào những vì sao. Không có gì cản trở, tôi tiếp tục suy ngẫm đến những câu hỏi bất hủ về kiếp nhân sanh. Tôi là ai? Tôi đang đi về đâu? Các vị Thánh Hiền bảo rằng câu trả lời thì đang ẩn ở phía bên trong. Vậy thời việc bái hương nầy sẽ là một chuyến đi thuộc về tâm linh đó. Khi nào tôi phá vỡ được cái vỏ hư vọng của bản ngã, thì tất cả những phân biệt trong và ngoài sẽ biến mất, và tôi sẽ thấy thế gian nầy như là chính bản thân tôi. Thế nên đức Phật đã dạy về lòng Từ Bi, một khi biết được rằng bạn thực sự là tất cả, thì bạn sẽ đối xử tốt với tất cả.

 

Ngày 20 Tháng 10 Năm 1973. Hằng Do viết:

Mưa tầm tả. Chúng tôi chầm chậm xuống đồi để ra xa lộ Một, khi tiến về hướng bắc, bờ biển Stinson, có ông say rượu hét Thầy Hằng Cụ (từ khoảng cách an toàn): "Ê! Thằng hề. Cút đi!"

Sau một ngày mệt mỏi, chúng tôi dựng lều trên một đồi cỏ nuôi bò, hướng về phía bờ biển. Giờ đây, tôi vừa ghi chép vừa nhìn chăm chăm vào ngọn lửa nhỏ mà chúng tôi đã xoay trở lắm mới nhúm cháy được. Sẽ có ai đó thấy được những làn khói bay ra từ mấy nhánh củi ướt, rồi đến bắt chúng tôi về tội cắm trại bất hợp pháp chăng? Không đâu! Gió biển mạnh đã thổi tan cả rồi! Chúng tôi cũng vẫn dựng lều bằng mấy tấm ni-lon để nghỉ cho qua đêm dài lạnh lẽo. Năm dặm thật là một đoạn đường dài để quỳ lạy. Thầy Hằng Cụ nói là lúc nào cũng thích đi du lịch, nhưng theo tôi nghĩ thì chuyến bái hương nầy còn có giá trị hơn là chuyện đi lang thang không mục đích. Vì hiện tại chúng tôi đang làm một việc có lý do, có mục tiêu. Tôi cảm thấy sự hiện diện của chúng tôi ở ngoài nầy thật là chánh đáng. Khi nghĩ lại cuộc đời mình, tôi cảm thấy thật đã lãng phí bao nhiêu là sức lực, và thời gian vô ích trôi qua, nên tự nguyện với lòng mỗi ngày sẽ tinh tấn hơn.

 

Ngày 21 Tháng 10 Năm 1973. Hằng Do viết:

Cơn gió hú thổi qua cây lá khiến chúng tôi thức giấc. Dù trời vẫn còn tối đen, nhưng chúng tôi đã lo thu dọn lều chõng, lần mò trở ra đường. Thầy Hằng Cụ bị trặc lưng khi nhảy qua hàng rào, mặc dù vậy sư huynh tôi cũng ra tới được mặt đường vừa lạnh lẽo, vừa tối thui để bắt đầu lễ lạy.

Khi Hòa Thượng Hư Vân bắt đầu chuyến bái hương, có nhiều Tăng sĩ cũng tháp tùng theo Ngài. Nhưng chẳng bao lâu, vì mệt mỏi nên họ đã phải quay trở về. Bây giờ chúng tôi chỉ mới đi được có năm ngày thôi mà tôi cũng đã thấy rất rõ việc lễ bái một ngàn dặm (tức 1600 km) sẽ còn khó khăn hơn là tôi tưởng. Tin chắc rằng nếu như không phải vì Thầy Hằng Cụ nhất quyết làm việc chánh đáng, nhằm đem lợi ích cho thế gian thì chuyến đi nầy có lẽ sẽ bị dẹp qua một bên rồi.

Gió thổi mạnh làm gãy đứt những nhánh cây to nằm ngổn ngang trên đường. Tiếng nước mưa chảy ầm ầm vào cống rãnh, hòa vang cùng tiếng mưa rơi ào ạt. Chiều nay có ông cảnh sát đến khám xét, xem chúng tôi có phải là tội nhân vượt ngục, hay là bọn khùng điên. Ông bỏ đi với gương mặt thất vọng vì không tìm được lý do để bắt bớ. Chúng tôi căng lên tấm lều đơn sơ gần lối quẹo ra vùng Bolinas.

 

Ngày 22 Tháng 10 Năm 1973. Hằng Do viết:

Trời mùa thu vùng biển nầy thật là lạnh lẽo và ướt át. Như những chúng sanh, bò, ngựa, chúng tôi cũng thích nghi ngay vào cuộc sống ở đây. Khi đi qua vùng Five Rivers (Ngũ Hà) có cô gái đem cho trà nóng.

Tôi lại nghĩ về chuyến Du hành nội tâm, thật ra nó có ý nghĩa gì? Nghĩa là chúng ta đừng nhìn ra ngoài, phải quan sát sự diễn biến ngay mỗi ý niệm của mình. Tâm ta nên trở thành những tấm gương, chớ đừng giống như những cái máy chụp hình, chỉ chụp được các vật khác, vì ảnh hưởng đến sự ngược dòng tập trung. Tâm phải được phát triển trên phương diện không bị động khi đương đầu với những xúc cảm. Là Phật tử nên quan sát rằng, mặc dù tâm hoạt động đôi khi cực kỳ phức tạp, nhưng tiến trình của nó có thể phân chia làm hai loại:

Thứ nhất là Chấp trước: Tâm có xu hướng về trạng thái khoái lạc (như trà nóng), và cố duy trì những cảm thọ đó.

Thứ hai là khuynh hướng Chối bỏ: Tâm cố thối lùi những hoàn cảnh bất như ý (như thời tiết ướt lạnh). Tâm bị xao động giữa hai sự đối nghịch nầy, đấy là nguyên nhân làm chúng ta lạc mất trí huệ căn bản, vốn bất động không ô nhiễm, luôn sẵn có trong ta.

Tu hành cốt yếu là trực tâm xoay trở về "bên trong" và tập quan sát những biến chuyển cùng nguyên nhân của nó. Kế đến nên phát triển định lực để khi đối diện bất kỳ những cảnh vui buồn gì, tâm sẽ không bị xao động. Như vậy, dần dần trí tuệ sẽ sanh trưởng. Giờ đây tôi thấy rõ là chính ngoài xa lộ nầy là nơi có rất nhiều cơ hội để khảo nghiệm lại những đạo lý trên.

 

Ngày 23 Tháng 10 Năm 1973. Hằng Cụ viết:

Hôm nay chúng tôi lạy qua vùng Olema, một làng nhỏ nằm yên tĩnh phía trong bờ biển Point Reyes National. Tôi quên nhắc là trước đây đã có mấy gia đình từ tu viện vẫn thường đến và cúng dường những bữa cơm chay nóng hổi. Như gia đình Quả Ðôn Schweig, Quả Dung Epstein và Quả Tả Linebarger, họ luân phiên đến với chúng tôi, mỗi lần chào mừng gặp gỡ là mỗi lần lý thú bất ngờ.

Trưa nay khi lạy ngang qua vùng đồng bằng hoang vu, có ông lữ hành đơn độc cùng với con chó nhỏ gia nhập vào chuyến bộ hành kỳ hoặc của chúng tôi. Bây giờ chúng tôi ba người dựng lều dưới gốc cây sồi trên đất tư nhân, cách xa lộ khoảng một phần tư dặm. Chuyện kiếm chỗ dựng lều ở chung quanh vùng nầy vốn không gì dễ, nhưng Thầy Hằng Do lúc nào cũng tìm được chỗ. Cứ mỗi buổi chiều, khoảng nửa giờ trước khi tôi kết thúc lễ lạy, là Thầy đi trước để tìm chỗ. Hầu như mỗi tấc đất chung quanh vùng nầy đều thuộc về tư nhân, nên việc lựa chọn địa điểm cũng rất găng. Lúc trước Thầy Hằng Do không tự chọn lấy mà chờ tôi đến để quyết định. Bây giờ sau bảy ngày trên đường, Thầy đã thay đổi hoàn toàn. Khi tôi vừa lạy tới nơi thì Thầy đã dựng lều xong, đôi khi nếu điều kiện cho phép, Thầy còn nhóm sẵn lửa lên nữa. Thật là một phần thưởng xứng đáng sau một ngày dài lễ lạy.

Quyết định sự việc là một phương diện quan trọng của sự tăng trưởng về tinh thần. Nhớ có lần ở Chùa Kim Sơn, khi tôi cố làm một cú quyết định, nhưng không ổn gì mấy. Lúc đó vừa mới làm chú Sa Di và còn sót lại bảy chục đồng, tiền tôi làm được khi chưa xuất gia. Số tiền nầy đã làm tôi nôn nóng như muốn đốt lủng túi, nên tôi chỉ muốn tiêu quách nó đi cho rồi. Chuyện xảy ra là vào một hôm khi tôi đang đứng ở hành lang trên lầu ba của Chùa Kim Sơn, cách phòng Sư Phụ khoảng một trăm bước (feet), tay đang mân mê số tiền trong túi áo và cố nghĩ cách sẽ làm gì với số tiền đó. Lúc đầu tôi định sẽ cúng hết vào chùa, nhưng lại có chút ý tưởng tham lam nổi lên:

"Có lẽ nên nhín lại cho mình một chút chớ! ờ, mà nên giữ lại bao nhiêu hở?" Tôi nghĩ thầm như vậy, rồi cả một chuỗi dài ý tưởng suy tính, biện luận về tiền bạc cứ vậy mà nổi lên. Tôi đứng ù lì ra vì không thể quyết định được gì, trong khi tay cầm tiền thì rịn chảy mồ hôi càng lúc càng nhiều. Tôi cảm thấy mình giống như con lừa khùng đang bị điêu đứng giữa hai bó cỏ khô ngon như nhau, rồi nổi cơn lên vì không biết nên ăn bó nào.

Ðứng đó mà nhìn đầu óc mình đang chiến đấu, tôi chợt nghe từ xa tiếng cửa mở từ phòng Sư Phụ. Hình như cánh cửa tâm tôi cũng đang được mở ra. Tôi biết ngay là Sư Phụ đã "rà đúng" ngay tôi rồi.

Sư Phụ có lần nói: "Khi một người có được thần thông về thiên nhãn, thiên nhĩ, tha tâm và túc mạng thông, thì người đó sẽ không cần dùng đến truyền hình, radio, máy ra-đa, hay so-na gì hết. Vì tâm người đó đã không còn những vọng tưởng điên đảo, nên có thể thấu đáo một cách nhiệm mầu về tất cả mọi việc xảy ra trong vũ trụ, như mỗi tế bào trong cơ thể sẽ là một máy truyền hình và mỗi sợi tóc sẽ là một nút bấm điều khiển."

Lúc đó tôi nghe Sư Phụ lớn tiếng sai bảo điều gì cho một trong những Thầy người Mỹ đang đứng gần bên. Không đầy một phút, vị Thầy đó chạy dọc theo hành lang về phía tôi, vừa hớn hở ve vẩy tờ giấy mười đồng vừa nói:

"Hằng Cụ! Sư Phụ muốn biết đệ có tiền lẽ để đổi mười đồng không?"

Tôi đứng trân mình một lúc, không nói được lời nào, đầu óc như muốn vỡ tung. Vẫn như đang ngẩn ngơ, tôi lôi ra hai tấm giấy năm đồng và trao cho Thầy.

Thầy nầy nói: "Ủa! Mặt đệ sao giống như vừa mới gặp ma vậy!"

Tôi đáp: "Dạ! Thấy con ma của chính đệ đấy!"

Một vị Thầy có trí huệ sẽ dạy đệ tử theo nhiều trình độ khác nhau, điều nầy khó mà diễn tả được hết. Như về lãnh vực tư tưởng và ngôn ngữ chỉ là một khía cạnh của việc giảng dạy. Phải hiểu rằng một khi tâm thầy trò tương ưng như một, thì tất cả đều là phương tiện của sự giáo hoá. Tiếng đóng cửa bất thình lình vừa đúng lúc với sức đẩy cũng có thể là một cách rất tốt để một người trực nhận và bừng ngộ. Cũng vậy, tiếng điện thoại reo, tiếng ho khan, giọng cười gằn, sự làm lơ, sự quở mắng, lời khen quá đáng, những câu hỏi nan giải và nhiều phương pháp thiện xảo khác. Mặc dầu mới xem qua, chúng như có vẻ tầm thường, nhưng nếu sự việc xảy ra đúng lúc thì nó chính là dịp của mối liên hệ trực tiếp không chướng ngại giữa thầy và trò, thật không thể lầm lẫn được.

 

Ngày 24 Tháng 10 Năm 1973. Hằng Cụ viết:

Thời tiết trở nên giá buốt khi chúng tôi lạy từ Olema về hướng bắc, đến một tỉnh lỵ khá lớn Point Reyes Station. Lúc 9 giờ sáng, có ký giả tờ báo địa phương vùng Point Reyes Light đến phỏng vấn, và chúng tôi đã trả lời những gì mình hiểu biết. Có lẽ lúc nầy đã có nhiều người hiểu thêm phần nào về việc chúng tôi đang làm. Có lần ở trong phố, tôi đang lạy dọc theo lề đường, Thầy Hằng Do ở gần bên nghe được câu chuyện đối thoại khi đi ngang qua tiệm bán máy móc (hardware) như sau:

- Ê, Matha! Nhìn kìa! Mình có nên gọi cảnh sát không?

- Thôi đi George à! Mặc kệ ông ta, ổng đâu có làm gì hại đâu!

Sau mười lăm phút dụng công, chúng tôi ra tới ngoại thành thì gặp một nữ cư sĩ Phật giáo tên Katy Powell (Quả Tánh), hiện ở vùng Point Reyes với hai đứa con. Bà ngỏ ý muốn được cùng lễ bái một đoạn đường. Và bà đã lạy theo phía sau cách chúng tôi khoảng hai trăm bước. Lạy được một dặm trên con đường lỏm chỏm đầy sỏi đá thì bà quay trở về nhà. Quả Ðôn Schweig và gia đình mang cơm trưa đến, gồm cơm gạo lức, canh rau, bánh mì, bánh tây và trái cây.

Buổi chiều ông Ben Williams đến cùng với đoàn ký giả San Francisco của đài truyền hình CBS số 5, họ quay phim rất nhiều về cảnh chúng tôi đang lễ lạy dọc theo những dốc đá bờ biển. Tối đến, vừa lúc chúng tôi tìm được một cái chòi bỏ hoang nằm ẩn trong rừng thì cơn mưa bão cũng vừa đổ ập xuống. Tôi mất cả nửa giờ lượm củi khô để nhóm lửa. Giờ đây chúng tôi đang hong khô đồ đạc và nấu nước pha trà.

 

Ngày 25 Tháng 10 Năm 1973. Hằng Do viết:

Hôm nay Ưu Bà Tắc Quả Chu Rounds, chủ tờ báo Napa County Record, đem đến cho vài vật dụng và viết một bản tin ngắn về chuyến bái hương nầy.

Chúng tôi khởi sự lạy từ vịnh Tomales, đến cuối ngày lại tìm được một căn nhà hoang. Nhà nầy dù đã đổ nát, nhưng cũng giúp chúng tôi tránh mưa qua đêm. Tuy nhiên trong đêm tối đen đó, chúng tôi mới nhận ra căn chòi hoang nầy lại là nơi dung chứa bao loài thú rừng như: chồn, chuột, sóc và nhiều loài bận rộn khác đang ở chung với chúng tôi. Trong đêm tối vắng lặng, tiếng kêu vang rền của bọn chúng như càng được khuếch đại thêm. Có lúc tôi cũng cảm thấy thật sợ hãi. Như rủi ở đây có gấu thì sao? Nếu đem tinh thần lý trí ra để hiểu rằng thế gian nầy là hư ảo, đó là một chuyện, còn sống ở cuộc đời mà thật không lo sợ thì lại là một chuyện khác. Tôi thầm niệm Phật và cố giữ tâm an định lại. Rồi một ý tưởng chợt loé lên khỏa lấp sự lo sợ vô lý của tôi: Ồ! Tất cả chúng sanh đều có khả năng thành Phật, thành người giác ngộ mà! Trong cuộc đời của Hòa Thượng Hư Vân, có nhiều trường hợp các thú hoang tìm đến lễ bái Ngài. Vì đức độ của Hòa Thượng như có quyền lực làm khơi dậy cái khả năng hiểu biết tiềm ẩn ngay cả ở những loài cọp, sói và chồn. Ngài giảng dạy cùng ban truyền Tam Quy, rồi thâu nhận chúng làm đệ tử, chẳng thế mà còn dạy cho chúng thêm về những giới luật, đạo đức nữa. Nhờ vậy mà tánh nết chúng thay đổi tốt hơn, bảo đảm sau nầy sẽ được tái sanh về cảnh giới khá hơn và sẽ có nhiều cơ hội hơn để tu hành.

Sau khi ngẫm nghĩ như vậy, thì những tiếng động ban đêm trong chòi đã không làm tôi kinh sợ nữa. Tôi ngủ thiếp đi với ý tưởng vui vui, rằng đang có hàng ngàn vị Phật nho nhỏ tương lai hiện đang vất vả lo tích trữ lương thực cho mùa đông sắp tới.

 

Ngày 26 Tháng 10 Năm 1973. Hằng Cụ viết:

Phật tử Quả Thông Almassy (còn gọi là Gia Gia), chủ tiệm bán thực phẩm dinh dưỡng (health food) ở bãi biển Stinson, hôm nay đem cơm trưa đến. Khoảng xế trưa, có ông chạy xe gắn máy (motorcycle) ngừng lại trò chuyện. Ông nầy nhắc đi nhắc lại mấy lần về việc chúng tôi đang làm là "việc của Chúa." Sau đó có anh ở vùng Inverness đem đến cho chúng tôi mấy trái cây tươi, và thắc mắc muốn biết thế nào là lễ lạy. Chúng tôi cùng ngồi xuống trên lề cỏ dọc bên xa lộ để giảng sơ ý nghĩa cho anh ta hiểu.

Tôi nói: Sự quỳ lạy chỉ xem như là sự vận động của thân thể. Nhưng sau một thời gian, khi toàn thân đã thuần thục, thì thân và tâm có thể bắt đầu dung hòa hợp nhất. Thân quỳ lạy, tâm niệm danh hiệu Bồ Tát, những tác dụng nầy hổ tương lẫn nhau như một bài chú, như một phương pháp làm dừng những dòng tư tưởng. Qua cách nầy sẽ giúp tôi tỉnh giác trước những diễn biến ở nội tâm, và ngoại cảnh chung quanh. Ðồng thời nó không để tâm tôi xao lãng về những cảnh giới quá khứ hay vị lai. Trong kinh Lăng Nghiêm có giảng: "Khi tâm mê dừng lặng thì chính ngay sự dừng lặng đó là giác ngộ." Người ngộ nhập được trình độ nầy rồi sẽ không có những ý nghĩ gì về việc lễ lạy, sự an lạc, sự phân tán hay nguyên vẹn, mà đối với họ tất cả là một thể đồng nhất. Người có tâm trực nhận được như vậy tức là tâm Phật rồi đó.

Anh nầy chăm chú lắng nghe và sau một hồi suy nghĩ, anh ta xác định mục đích việc làm của chúng tôi rất đáng quý, nhưng theo ý anh thì chúng tôi cũng có thể thực hiện theo nhiều cách khác tốt hơn.

Hôm nay chúng tôi lạy dọc theo vịnh Tomales. Khi đi ngang qua một cộng đồng đông đúc vùng Synanon, có mấy người từ trên đỉnh đồi kêu la chế nhạo. Sau đó chúng tôi tiếp tục lạy qua một làng nhỏ ở Marshal, rồi dựng lều trên sườn đồi nghiêng thoai thoải hướng ra vịnh.

 

Ngày 27 Tháng 10 Năm 1973. Hằng Cụ viết:

Sáng thứ bảy hôm nay trời thật đẹp, chúng tôi lễ lạy vào một quận nhỏ Tomales. Mặc dầu chỉ mới 8 giờ sáng, vậy mà đã có hơn trăm người chen chút dọc theo con đường chánh. Thấy tình hình ở đây có vẻ hơi là lạ, vì chẳng có chiếc xe nào trên mặt lộ cả. Ngay ngã tư đường chánh của trung tâm phố, đám đông như cố giữ một sự im lặng tuyệt đối, tôi cảm thấy như có nguồn khí lực của hàng trăm đôi mắt đang lặng lẽ hướng nhìn tôi chòng chọc. Quang cảnh lúc nầy thật nặng nề. Thình lình từ trong đám đông, một bà lão mặt mày đầy son phấn, chạy ra và trao cho tôi một hộp bánh mứt (jelly-filled donut: loại bánh mà tôi thường ưa thích.) Bà hỏi với giọng hơi run sợ: "Ông có nhận cái nầy không?" Tôi ngừng quỳ lạy và từ từ đứng lên.

Tôi tin rằng trong cuộc đời của mỗi chúng ta, ai cũng có một vài kỷ niệm, hoặc những giây phút đáng ghi mãi trong ký ức. Ðối với tôi, lúc nầy có lẽ là một trong những giây phút khó quên. Tôi đã lễ lạy suốt trên hai tiếng đồng hồ, và khi đứng lên để tiếp nhận hộp bánh, tôi cảm thấy ánh mặt trời như đang tỏa chiếu khắp cả vùng. Cảm giác ấm áp như đang chạy rần rần từ da thịt đến tận cõi lòng tôi, thật là an lạc.

Trong lúc đó, tôi nhớ lời Sư Phụ vẫn thường nói: ."Quý vị ráng tập xem tất cả mọi sự như là vô sự, xem mọi chuyện như là không có chuyện gì cả.." Ít ra lần nầy tôi cũng có thể nhận ra được ý đó của Ngài.

Bà lão và đám đông im lặng đó như đang chờ đợi phản ứng của tôi. Tôi gật đầu tỏ ý nhận lấy hộp bánh, rồi bỏ vào cái túi lớn mà tôi đã may dính liền vào cái quần rộng thùng thình của tôi. Bà lão vô danh chạy trở về chỗ an toàn rồi lẫn khuất trong đám người càng lúc càng đông. Tôi còn nghe văng vẳng lời bà nói: "Cũng được! Ít ra ông ta cũng còn ăn!"

Tôi tiếp tục lạy và Thầy Hằng Do cũng ở gần bên, khi vừa đến cuối phố, về hướng bắc, bỗng nghe tiếng còi hú chát chúa, tiếp đó là những tiếng trống bập bùng vang lên. Tôi thầm nghĩ chắc là mình đang tưởng tượng thôi. Nhưng ngay ngã tư cuối cùng, chúng tôi lại nghe có hai chiếc xe mô-tô lớn (motorcycle) hiệu Harley Davidson đang chạy ào đến. Phía bên trái con đường là cả một đoàn diễn hành với những bước đi nhịp nhàng của từng tốp một, gồm: ngựa, ban nhạc, xe hoa và còn nhiều nữa, đủ thứ, đủ loại! Thì ra đó là cuộc diễn hành đón mừng người về tỉnh nhà Tomales, và họ đã ngừng lại khoảng nửa giờ để đợi chúng tôi lễ lạy ngang qua. Thật là những người quá lịch sự. Chỉ có ở xứ Mỹ nầy mới có thể xảy ra những chuyện như vậy. Hai chúng tôi ngừng lạy để nghỉ xả hơi và xem đoàn diễn hành. Có rất nhiều người tỏ vẻ thân thiện đến trò chuyện với chúng tôi.

Quả Tôn đem cơm trưa đến cho chúng tôi. Anh nầy sống bằng nghề giao chuyển dược phẩm thẩm mỹ chế tạo bằng chất hữu cơ cho các tiệm bán thức ăn dinh dưỡng lành mạnh. Buổi chiều chúng tôi lễ thẳng một mạch không ngừng nghỉ, đến cuối ngày thì được năm dặm, rồi dựng lều dưới gốc sồi to lớn, độc nhất trên cánh đồng cỏ của ai đó. Sau buổi tọa thiền tối, Thầy Hằng Do tản bộ đến nông trại gần nhất để mua về một bình sữa tươi, trong khi đó thì tôi lo nhóm lửa. Giờ đây, tôi vừa ngồi nhâm nhi sữa nóng vừa ghi lại những hàng nhật ký.

 

Ngày 28 Tháng 10 Năm 1973. Hằng Cụ viết:

Bạn Quả Tôn là Quả Diện đem thức ăn trưa đến (sau đó bà nầy cũng thỉnh thoảng đến). Bà luôn luôn đem đến những thức ăn rất quân bình đã được nấu theo phương pháp dưỡng sinh (macrobiotic), kỹ lưỡng nhất. Chúng tôi lạy qua vùng Valley Ford, phố nhỏ nầy được thành lập quanh ngã tư đường chánh. Sau đó chúng tôi tiếp tục đến vùng đồng bằng lồng lộng gió, rồi thẳng đến ranh giới quận Marin-Sonoma.

Lễ lạy ở miền đồng ruộng nầy có vẻ thật thuận lợi, nếu so với trong thành phố thì thật là một chuyện khác hẳn. Chúng ta luôn có khuynh hướng tự ý thức về mình, thì nơi đây đem lại cơ hội tốt đẹp để quán tưởng về pháp vô ngã. Trong thiền viện Phật giáo dùng công án gọi là "Ai?" Ở bất cứ lúc nào, nơi nào, thiền sinh chỉ với câu hỏi đơn giản: "Ai là người đang biết đây?" Phương pháp nầy gọi là hồi quang phản chiếu, nghĩa là quan sát những tư tưởng nổi lên với tánh cách thật vô tư, đồng thời cố gắng truy xét trở lại tận nguồn gốc sự phát sinh của những tư tưởng đó. Dù có tìm kiếm thế nào, nó không có nguồn phát xuất từ đâu cả. Kinh Hoa Nghiêm diễn tả: "Không có người suy nghĩ mà cũng không có gì để suy nghĩ, chỉ có những tư tưởng nổi lên do nghiệp lực hạn buộc mà thôi." Tiến trình của sự truy tầm nầy được người Hoa gọi là tham thiền.

Một phụ nữ trẻ tên Melissa từ trung tâm thiền đường Blue Mountain mang đến cho chúng tôi một ổ bánh mì. Sau đó có cặp vợ chồng trẻ trên chiếc xe cam nhông cũ kĩ ngừng lại bảo rằng, mười năm về trước, mọi người chung quanh đây có thể nghĩ rằng chúng tôi là đồ điên, nhưng bây giờ hầu hết là họ đã chấp nhận việc chúng tôi làm, có người còn cho rằng đây là việc làm rất hay.

 

Ngày 29 Tháng 10 Năm 1973. Hằng Cụ viết:

Quả Ðôn Schweig cùng vợ là Quả Kim, gấp rút lái chiếc xe van Ford đến, nhưng đã hơn 12 giờ trưa. Hai chúng tôi vừa mới ăn cơm xong và sắp sửa bắt đầu cho buổi lạy chiều thì họ tới, ngừng xe một bên nói:

"Chúng con tìm quý Thầy khắp nơi để đem thức ăn trưa nầy!"

Ôi! thấy họ quá thành tâm, vì rõ ràng là họ đã vất vả lắm mới đem được cơm trưa cho chúng tôi. Thầy Hằng Do và tôi lại không nỡ lòng bảo họ là vừa mới ăn xong. Thế là để tỏ lòng lịch sự, chúng tôi ngồi xuống dùng cơm trưa thêm một lần nữa. Quả Ðôn cứ nhắc chừng chúng tôi ăn thêm nhiều và tôi đã ăn hết hủ bơ đậu phộng (peanut butter) hiệu Deaf Smith như mỗi lần họ đến.

Chiều nay lại có nhiều người đến trò chuyện. Chúng tôi nhận thấy những người nầy đang rơi vào các hạng khác nhau. Hầu hết là họ đã có định kiến trong tâm trước khi đến nói chuyện với chúng tôi. Họ hoặc là ủng hộ hay chống đối chúng tôi, chỉ khác nhau về cường độ. Những người nầy tự họ cho rằng mỗi cá nhân phải được phân loại rõ ràng. Có nghĩa là một người nếu không là Thiên Chúa Giáo thì phải là Do Thái Giáo, Phật Giáo hoặc gì khác nữa. Ðó là một trong những sự phân biệt giữa trắng và đen, giữa đúng hay sai. Mặc cho những phong trào về tư tưởng mới lạ nầy biến chuyển, chúng tôi chỉ lấy làm ngạc nhiên khi thấy còn có bao nhiêu người lại bảo thủ quá đáng như thế.

 

Ngày 30 Tháng 10 Năm 1973. Hằng Cụ viết:

Chúng tôi hiện đang trên xa lộ nhỏ hẹp, cong ngoằn dẫn trở ra bờ biển và bị một hoạn nạn. Nguyên là còn gần một dặm nữa mới đến quận vùng biển ở Bodege Bay, tôi bỗng cảm thấy có lệnh đòi đi cầu. Khỏi phải nói cũng biết là ở đây làm gì có nhà vệ sinh, bởi vậy tôi đành phải tuột xuống khỏi xa lộ và lủi đại vào bụi rậm để làm tròn bổn phận hằng ngày. Rủi thay lại không có giấy để chùi, nên tôi vói tay quơ đại mớ lá vàng tươi gần bên. Ðó chính là một lầm lỗi thật đáng giá, vì sau đó tôi mới nhận ra những chiếc lá xinh xắn nầy lại là lá cây Sồi Ðộc, poison oak (tôi cứ nghĩ lá Sồi Ðộc màu xanh). Nhưng nghĩ gì đi nữa cũng không giúp ích chi trong lúc nầy. Chúng tôi lại tiếp tục lễ lạy, nhưng đến tối toàn thân tôi ngứa ngáy dữ dội. Hầu như suốt cả đêm tôi không chợp mắt được một phút nào. Tuy nhiên, nhờ nhớ niệm hồng danh Bồ Tát Quán Thế Âm nên đã giúp tôi quên đi cơn đau nhức.

Sáng hôm sau, khi tôi di chuyển còn thấy khó khăn huống chi là quỳ lạy! Thế nên tôi và Thầy Hằng Do chỉ còn cách là ngồi xuống trên gò đất bên vệ đường. Cả hai chúng tôi hoàn toàn tuyệt vọng. Một lần nữa, lòng tôi tràn ngập những mối nghi ngờ về việc làm không thực tế, khó thành công của chúng tôi. Vì hiện tại còn phải lạy thêm phân nửa vùng California; cả vùng Oregon và Washington, lại thêm vấn đề là tôi tự mình chùi mông còn không xong.

Chúng tôi ngồi đó cả mấy tiếng đồng hồ. Không thể nào trở về, (mà có thể chăng?) nhưng nhất định là chúng tôi không thể nào tiếp tục được nữa. Cho nên chúng tôi vẫn cứ ngồi nhìn xe cộ qua lại. Vấn đề nầy coi như vô phương giải quyết. Ðột nhiên như có cảm ứng nhiệm mầu đến cứu giúp chúng tôi. Ðó là hai chiếc xe Van quen thuộc đang ngừng trước mặt. Thì ra là cả nhóm người thân thuộc từ Kim Sơn! Có cả Sư Phụ nữa! Chúng tôi bèn di chuyển đến bãi đậu xe trống của công xưởng đồ hộp bỏ hoang. Họ đem đến nào là thức ăn, quần áo, thuốc men, tất cả những thứ mà chúng tôi cần dùng. Có cả giấy vệ sinh nữa! Tôi có cảm giác sung sướng đến tận mây xanh.

Mọi người ngồi thành vòng tròn, rộng khoảng mười lăm bước. Trước hết tôi và Thầy Hằng Do báo cáo những diễn biến trong mấy ngày qua. Sau đó mấy vị Tăng Ni lần lược thuyết những bài pháp ngắn. Trong lúc họ nói, Sư Phụ nắm lấy bàn tay phải của tôi và bắt đầu xoa xoa. Ngài vừa nhè nhẹ xoa bóp vừa đọc chú. Tôi cảm thấy cái căng thẳng đau nhức dần dần như rời khỏi thân mình, còn tai như không còn nghe gì cả, chỉ cảm nhận được sự ấm áp của buổi nắng chiều. Ngoài ra không có gì đáng để cho tôi bận tâm đến.

Buổi họp mặt kéo dài khoảng một tiếng, sau đó mọi người lên xe ra về. Sư Phụ dạy chúng tôi nên nỗ lực chú tâm thêm vào việc lễ lạy. Ngài bảo trong hoàn cảnh nầy, cách tốt nhất là niệm danh hiệu Bồ Tát Quán Thế Âm. Sư Phụ lại nói: Với thần lực của Ngài Quán Thế Âm, không những chỉ cứu giúp riêng từng cá nhân, mà Ngài còn hổ trợ rất nhiều trong việc đem lại hòa bình cho thế giới bằng nhiều phương pháp thật không thể nghĩ bàn.

Trước khi chia tay, tôi có hỏi Sư Phụ rằng: "Tối hôm qua con đã cầu đức Bồ Tát Quán Thế Âm cứu con, và hôm nay Sư Phụ cùng mọi người từ Kim Sơn đã đến để cứu giúp. Như vậy có phải là chuyện trùng hợp không?"

Sư Phụ liền trả lời: "Ðây chỉ là chuyện nhỏ thôi! Bất cứ lúc nào con muốn, chỉ cần gọi điện thoại là ta đến ngay."

Hôm nay tôi đã học được rất nhiều. Có một việc là cho đến hết cuộc đời nầy tôi sẽ không bao giờ quên được cái hình dáng của cây Sồi Ðộc, và tôi sẽ cố giúp những người khác đừng bị cái cảnh đau ngứa như tôi. Nhưng điều quan trọng hơn nữa là tôi đã hiểu thêm được cái gọi là trung điểm triết lý của Sư Phụ:

"Mọi sự đều O.K!" (Everything is OK!).

Ðây là những lời dạy thiết yếu của Sư Phụ mà tôi cũng đã từng nghe mọi người lập đi lập lại hàng trăm lần. "Mọi sự đều O.K ." không có nghĩa là muốn làm gì thì làm theo sở thích của mình. Không phải thế đâu! "Mọi sự đều O.K," là tâm trí của một người ở vào giai đoạn đã được luyện tập thuần thục, có thể quán sát thấu triệt những sự thăng trầm của các pháp mà tâm hoàn toàn vô chấp không bị vướng mắc, vì đó là nơi không chỗ trụ. Không xa lìa sự vô chấp nầy, người đó  có thể hoàn toàn sống một cuộc đời có trách nhiệm, chín chắn, trưởng thành. Đây là điều ai cũng có thể theo đuổi để đạt được. Ở thế gian nầy dù cho ở hoàn cảnh nào, có xấu tệ gì đi chăng nữa, cuối cùng thì "Mọi sự đều o.k."

Trước khi trở về Kim Sơn, Sư Phụ đã cho mỗi chúng tôi những lời dạy dỗ như sau:

"Khuyến tiễn Thiền sinh Hằng Cụ,

Phát nguyện Tam Bộ Nhất Bái,

Cầu cho thế giới hòa bình:

Tăng đoàn tại thiền viện Kim Sơn ở xứ Mỹ nầy rất đông và trẻ tuổi. Tất cả đều chú trọng vào việc duy trì, bảo hộ nền chánh pháp. Riêng mỗi cá nhân đều có những ưu điểm riêng biệt. Hiện nay con đã lập lời nguyện mà trước đây con chưa từng nguyện, hành theo hạnh Thánh Nhân mà con đã chưa từng hành, là mỗi ba bước lạy một lạy hướng về mười phương Tam Bảo: Phật, Pháp, Tăng. 

Vì lòng thành đầy nhiệt huyết của con cho việc cầu nguyện thế giới hòa bình là chân thật, chắc chắn con sẽ được sự cảm ứng nhiệm mầu. Mặc dầu sự phát tâm lúc ban đầu thì dễ dàng, tuy nhiên nó cũng có thể rất khó đạt được tròn ý nguyện của con. Ðừng bỏ cuộc, hãy giữ vững sự kiên trì, thành tâm và cần mẫn lên. Một ngàn dặm mà con sẽ đi qua chỉ là một bước nhỏ trong pháp giới. Hãy quyết tâm, đừng bao giờ ngừng thối cho đến khi đạt đến mục đích của con. Hãy phấn chấn tinh thần lên nhé con! Ta để lại cho con bài thơ từ giả nầy:

Nan hành năng hành thị Thánh hạnh

Nan nhẫn năng nhẫn cập chân nhẫn

Thập phương chư Phật tùng thử xuất

Bát vạn Bồ Tát tiếp chủng lai

Xuy đại pháp loa thí hiệu lịnh

Chấn bảo tích trượng hóa kiên tham

Công viên quả mãn khải triền nhật

Nạp vi ngô đồ tống bính xan.

Nghĩa là:

Hay làm việc khó là hạnh Thánh

Hay nhẫn việc khó tức thật nhẫn

Mười phương chư Phật từng như thế

Tám vạn Bồ Tát tiếp truyền lại

Thổi đại pháp loa ra hiệu lịnh

Khua bảo tích trượng tiêu tham xẻn

Ngày thành công trong khúc khải hoàn

Tặng đệ tử bữa ăn bằng bánh (berry pie).

 

Lời dặn dò thiền sinh Hằng Do,

Người hộ pháp cho Hằng Cụ.

Vì chúng sanh phát nguyện lễ Phật,

Thỉnh cầu thế giới hòa bình:

 

Từ lúc bắt đầu cho đến khi viên mãn, đừng ngập ngừng. Khi gặp khó khăn chớ chuyển lòng. Hành động như người bảo vệ, giúp Hằng Cụ tự cảm nhận được sức mạnh của lời nguyền. Những bậc quân tử tài đức thời xưa đáng được kính mến, nhân vì các Ngài có lòng quên mình để bảo hộ người khác. Nhưng thời bây giờ những bậc đáng kính đó rất hiếm hoi. Và đây là phương pháp thực hành theo hạnh Bồ Tát, cũng là một trong các cửa đưa đến giải thoát. Ðừng bao giờ, dù chỉ trong chốc lát mà quên đi chí nguyện dũng mãnh thuở ban đầu, phải luôn luôn nhất tâm giữ vững lập trường cho đến cuối cùng. Hãy dũng mãnh tinh tấn đánh tan bọn quỷ ma. Dù cho Thiên Long có đến tỏ lòng kính phục, cũng chớ vui mừng. Dù có gặp hoàn cảnh chướng ngại, cũng chớ sân giận. Tâm không phân biệt, cũng không có sự thành đạt. Sự lễ bái tuyệt diệu nầy sẽ là những khó nhọc gian nan, có thể đưa đến sự kiệt sức. Nhưng khi con biết áp dụng những điều đã học thì con sẽ được viên minh châu quý. Ráng ghi nhớ những lời chỉ dạy nầy và đừng phụ lòng ta nhé! Ta để lại cho con bài thơ từ giã: 

Giai hành lệ chí tiến chinh đồ

Quả Ðạo, Hằng Do tác hộ phù

Du kinh tam thiên túc hoa lý

Cụ việt tám vạn bộ đang xe

Khoa học thời đại thượng cổ lão

Phật giáo cảm ứng tỉnh chúng mê

Nỗ lực nỗ lực cánh nỗ lực

Bất hưu bất hưu thường bất hưu.

Nghĩa là:

Cùng nhau tiến bước trên đường xa

Quả Ðạo Hằng Do chuyên hộ trì

Quả Du qua đủ ba ngàn dặm

Hằng Cụ vượt tám vạn bước xe

Tuy thời đại nhưng hành theo xưa

Phật giáo cảnh tỉnh chúng mê lầm

Cố gắng cố gắng càng cố gắng

Ðừng ngừng đừng ngừng thường đừng ngừng." 

Ngày 31 Tháng 10 Năm 1973. Hằng Cụ viết:

"Mọi sự đều o.k!" không có nghĩa là một tay cầm lon bia (beer) đi lang thang trên bãi biển, còn tay kia với cuốn kinh Kim Cang. Ngày nay có rất nhiều người sống như những con lợn ngu dốt mà cứ nghĩ là mình đã giác ngộ rồi. Người thật sự am tường đạo Phật đều nên biết rằng pháp quan trọng độc nhất là dứt bỏ lòng tham dục.

Chính đức Phật đã dạy: "Ý thức cứu cánh nhất, chỉ đơn giản là không có lòng tham dục."

Sư Phụ ở Kim Sơn cũng đã dạy như vậy, nhưng không có mấy ai thực lòng muốn nghe, huống chi nói đến việc thực hành theo đó. Chẳng hạn như tôi là một thí dụ điển hình. Câu cuối bài thơ mà Sư Phụ vừa mới cho tôi có nhắn nhủ đến bánh dâu (berry pie), mà tôi sẽ kể câu chuyện cái bánh đó như sau.

Khi mới đến Kim Sơn, tôi mang theo bao nhiêu là thói hư tật xấu, mà tôi đã từng thâu thập suốt hai mươi lăm năm qua. Tệ nhất là mười năm hút sách và sáu năm nhậu nhẹt. Bây giờ vào chùa lại là nơi có kỷ luật nghiêm khắc, buộc tôi phải dứt bỏ những tật xấu đó. Và tôi đã dẹp đi được tật hút sách, nghiện rượu. Nhưng sức mạnh lòng tham của tôi lại quá nặng nề, nên nó bắt đầu chuyển sang lãnh vực ăn uống. Tôi nhanh trí nghĩ rằng: Ít ra để tạm thời thỏa mãn lòng tham thì mình phải ăn cho thật nhiều vào. Vì theo pháp thực hành ngày ăn một bữa, nên tôi buộc phải vận dụng hết tinh thần năng lực vào bữa ăn trưa với thời gian giới hạn bốn mươi phút. Cho nên nếu chuyển đưa hết tất cả những tập khí xấu nầy vào việc tọa thiền và làm việc thiện, thì quả là một thử thách quá xá cở đối với tôi.

Thế nên đã có nhiều lúc vì không tự chủ, kiềm chế được mình nên tôi thường trốn ra ngoài, và đi thẳng đến tiệm bánh gần bên để mua cả bao bánh ngọt. Tôi nghĩ rằng chỉ như vậy mới có thể giải tỏa được hết những phiền não của mình. Chuyện xảy ra như sau:

Một hôm tôi lén ra ngoài mua bánh, sau khi đã ăn gần hết cả bao, chỉ chừa lại một cái bánh berry pie vì bụng không còn chỗ nào chứa thêm được nữa. Tôi cẩn thận dấu cái bánh đó trong áo khoát, rồi trở về tu viện. Bấy giờ ở Kim Sơn, mọi người đều tuân theo quy luật là không ăn sau giờ ngọ, chỉ có vài người ăn thêm bữa sáng, còn hầu hết đều tu theo lối khổ hạnh, mỗi ngày chỉ ăn một bữa ngọ thôi. Hôm đó trong suốt buổi tọa thiền chiều, tôi bắt đầu cảm thấy đói bụng, nên tư tưởng cứ nhắm hướng về cái bánh đó. Rồi suốt buổi tối giờ nghe kinh, trong khi Sư Phụ đang thao thao giảng pháp, thì đầu óc tôi chỉ còn biết đến hình ảnh của cái bánh đó thôi. Tôi định bụng là sau giờ nghe pháp, sẽ xơi quách nó cho rồi, còn luật lệ khỉ gì chớ!

Ðến khoảng mười giờ đêm, khi mọi người đã đi ngủ, tôi nhẹ nhàng chuồn ra cửa sổ nhà tắm trên lầu ba, cẩn thận đóng cửa lại rồi leo thang lên nóc nhà (thang nầy phòng bị khi có hỏa hoạn). Tôi mở gói bánh và nhe răng cắn một cái dòn ngọt lịm, rồi nhai ngấu nghiến những trái dâu (berry) chín đỏ. Trong lòng thầm nghĩ: "Chúa ơi! Nếu đây không phải là Niết Bàn thì còn là cái gì nữa chứ?"

Nhưng ngay lúc đó, tôi chợt nhìn về phía cầu thang treo, bổng thấy có người đang leo lên. Tôi hốt hoảng đứng thừ ra trong khi cái miệng đang ngồn ngào đầy cả bánh. Nơi nầy thiệt tình là chẳng có lối nào để tôi trốn thoát cả. Người đó lại chính là Sư Phụ! Tôi đứng bất động một lúc, đầu óc như muốn nổ tung. Rồi tôi bắt đầu đi vòng quanh trên sân thượng, ra vẻ như đang tập trung trong pháp quán thiền hành. Và Sư Phụ cũng làm vậy, cũng đi vòng vòng như đang tập trung quán tưởng thiền hành, nhưng lại đi ngược chiều với tôi. Chúng tôi đi ngang qua nhau hai lần mà không ai nhìn đến ai cả. Ðến vòng thứ ba khi tôi nhìn lên thì thấy Sư Phụ nhăn răng cười trừ như con mèo Cheshire. Rồi Ngài chỉ nói bốn chữ: "Sao nó thế nào?"

Thật là quá xá đủ rồi! Tôi biết là không có cách gì hơn chỉ ngoại trừ do những năng lực thần thông, ông Già mới có thể biết rằng tôi đang ở trên đây thôi. Sau đó vì tức cười quá nên chúng tôi đồng phát cười vang, cười luôn cho tất cả sự vật của thế giới vô tận nầy. Rồi Sư Phụ bỏ đi để tôi ăn hết cái bánh.

Ðó là câu chuyện về cái bánh berry mà Sư Phụ rất thích thú, nên thường bảo tôi kể lại. Bây giờ Ngài lại treo cái bánh khác trước mắt tôi, và chắc chắn chúng tôi sẽ đạt đến mục đích.

Eric Weber (Quả Hồi) lái chiếc Van nhỏ đến, cũng vừa lúc chúng tôi bắt đầu trở ra đường để lạy. Anh ta đem đến mấy đôi giầy cao ống (boot) và một chiếc xe kéo có thể xếp lại, của Sư Phụ gởi cho sư Hằng Do (loại xe nầy người Hoa thường dùng để đi chợ). Tôi lạy được bốn dặm, qua khỏi thành phố Bodega Bay thì chất độc cây Sồi lại bắt đầu hành tôi ngứa ngáy. Ðến chiều tối, khắp người tôi sưng phù lên, có chỗ nứt nẻ và chảy mủ. Chúng tôi phải ngừng lạy và ngồi xuống bên vệ đường. Trời lại bắt đầu mưa.

May thay Quả Ðôn Schweig đến, thấy tôi đang trong tình trạng như vậy nên đề nghị đưa chúng tôi về nhà ở Inverness để dưỡng bệnh một thời gian. Ðến nơi tôi liền đi tắm và xức thuốc khắp toàn thân. Hình như chứng bệnh nầy trông như càng lúc càng tệ hơn trước khi nó chịu bình phục. Hiện chúng tôi đang đóng đô trong nhà xe của Quả Ðôn. Từ biển Thái Bình Dương đang thổi đến một trận bão khốc liệt mà tôi chưa từng thấy qua.

 

Ngày 1 tháng 11 Năm 1973. Hằng Cụ viết:

Chúng tôi vẫn còn ở trong nhà xe. Càng tuyệt vọng hơn vì toàn thân tôi như một khối lớn đầy mụn ban, và tâm tư lại đầy ấp những mối nghi ngờ. Ngoài kia cơn bão vô cùng khủng khiếp. Tôi lo rằng nếu bây giờ dầm mình ra ngoài thì e sẽ bị ướt sũng, rồi lại bị mọi người trợn trừng chỉ trỏ hoặc hỏi những câu mà tôi thật sự không biết làm sao để trả lời.

Lúc tôi còn phục vụ cho tiềm thủy đỉnh trong Hải Quân, cũng có những lúc như vậy. Khi đó tâm tư đầy ấp mối lo sợ chết chìm. Khi tàu ở dưới độ thật sâu, tôi có thể nghe tiếng vỏ tàu kêu rên răng rắc dưới sức ép của biển. Tôi lại tưởng tượng như có một bức tường nước rộng bao la đang tiến đến để nghiền nát mọi người. Và tôi thấy chiếc tàu như vỡ tung ra, rồi chìm xuống dưới lòng biển cả. Về sau, qua mấy tháng suy ngẫm tôi đã không còn sợ hãi nữa. Vì cuối cùng tôi đã tìm ra phương pháp để làm tâm mình an dịu lại.

Trước hết, tôi luôn xem xét kỹ càng để biết chắc công chuyện của mình không có gì sơ sót. Tôi học cách đối phó theo từng dự đoán, và kiểm soát tất cả những sơ hở có thể xảy ra cho mọi người, hoặc máy móc có thể bị hư hỏng. Tôi cố gắng tìm tòi và sắp xếp lại những sơ hở trục trặc trước khi bị chúng hoành hành. Ðúng ra mọi người trên tàu đều phải cảnh giác như vậy cả, vì trong sáu tháng đầu, tất cả chúng tôi đều được học về hệ thống của chiếc tàu, để biết cách đương đầu khi có những trường hợp khẩn cấp. Chúng tôi canh chừng nhau như những con diều hâu vậy! Thật ra, làm chuyện gì mà biết thận trọng, kỹ lưỡng, thì chắc chắn nó sẽ cho kết quả là đa số mọi người đều hài lòng vì cảm thấy được an toàn hơn.

Kế đến là tôi học được cách chuyển hướng những tư tưởng của mình. Khi tàu ngầm đang xuống sâu thì mọi việc coi như suông sẻ, mỗi người có thể thoải mái tự do theo đuổi những ý tưởng riêng tư. Nhưng bầu không khí êm ả nầy hầu như bị tan biến khi chiếc tàu càng xuống độ sâu hơn. Lúc tàu xuống độ sâu nhất (312 feet tức 95 thước, độ sâu nhất mà tàu chúng tôi có thể chịu đựng nổi, nên nó còn có tên là Khối Ðá), thì cũng là lúc sự hiện diện cận kề của chết chóc. Cái chết như treo lơ lửng trong trong bầu không khí ảm đạm, tựa hồ như con rồng đang trầm mình trong đám khói nhang. Trong khi những anh chưa tới phiên trực, thường để tâm vào việc đánh bài, đọc sách, không thì tán dóc hay đi ngủ. Chỉ cần nghĩ sơ sơ đến những tai nạn có thể xảy ra như: hàng trăm xú bắp và những ống dẫn có thể bể tung ra bất cứ lúc nào, hoặc lớp vỏ bằng đồng mạ kền mỏng manh bọc quanh tàu từ hai mươi sáu năm qua, nay đã mục sét, chỉ bấy nhiêu thôi cũng đủ làm người ta sợ rụng rời tan nát cõi lòng rồi. Thật là xấu hổ, vì đối với những anh nhạy cảm hơn, khôn lanh hơn trong đoàn thì lại tỏ vẻ lo sợ hơn hết. Trong khi những anh biếng nhác, khù khờ thì tỉnh bơ, thoải mái hơn nhiều. Có lần tôi chợt nghĩ: Ồ! Ngu ngơ không biết gì cũng có lợi lắm chớ! Nhưng cũng quá trễ rồi, vì tôi đã lỡ chịu cực khổ để ra công học hỏi về những công việc phức tạp của chiếc tàu cũ kỹ nầy. Ðể rồi tôi cũng chỉ biết phòng bị chuyện chết chóc vô chừng có thể xảy ra. Tôi lại biết chỉ cần một chút sơ hở, hay chỉ có một máy móc nào đó bị trục trặc thì cũng đủ đưa bảy mươi người trên tàu xuống dưới mồ nước nầy.

Tuy nhiên, chuyển đổi tư tưởng cũng không phải là rốt ráo. Lướt nhìn về quá khứ hay mơ tưởng đến tương lai chỉ là một lối nhẹ dạ để đối diện đến cái chết của mình. Tốt hơn là trở về với thực tại và tâm tự nhìn thẳng vào sự chết. Khi máy móc được ngưng nghỉ, trong yên lặng tôi thường ngồi dựa lưng vào ghế trong phòng máy và thầm tưởng tượng: "A! đây rồi, cái ống nước nầy có thể bể ra bất cứ lúc nào. Thời quá khứ tôi đã làm nhiều điều không tốt, ước gì tôi đã không phạm những lỗi lầm xấu xa đó, nhưng nay thì đã quá trễ rồi. Nếu có duyên may nào đưa đến giúp tôi thoát qua cơn nguy hiểm sẽ xảy ra như dự đoán, tôi nhất định sẽ thay đổi lối sống và bắt đầu làm việc thiện, giúp đỡ mọi người trong thế giới mê muội nầy. Hiện tại, tôi đã làm hết sức những gì mà tôi có thể làm, nhưng nếu vận số tôi đến lúc phải chết thì cứ để nó đến vậy!" Nghĩ như thế xong, tôi đứng lên làm việc lại như thường. Như trong Kinh Thánh, Job đã diễn tả:

"Phúc báo thay! cho một người đã biết chuẩn bị cái chết đang đến với mình."

Ðâu có gì khó khăn! Tôi đã chuẩn bị một cách đơn giản để ra đi.

 

Ngày 2 Tháng 11 Năm 1973. Hằng Cụ viết:

Chúng tôi vẫn ở trong nhà xe. Tâm tôi cứ nghĩ về sự thối lui (không phải thối chuyển về chuyện tu đạo). Phát tâm tầm giác ngộ là một chuyện, còn giữ vững sự phát tâm đó lại là chuyện khác. Một ngày mà bạn cố tâm hăng hái, nhưng qua ngày sau có việc xảy đến thì bạn bị nó quay mồng mồng thối sụt qua một bên. Như hôm nay tôi đã có ý nghĩ:

"Ơ! Chúng tôi đã lạy được hơn năm mươi dặm rồi (50 miles), và ở xứ Mỹ nầy từ trước đến nay chưa từng có ai làm được như vậy cả, cho nên nếu chúng tôi có bỏ cuộc tại đây thì sẽ không có gì là khác biệt."

Rồi tôi lại hồi tưởng đến tu viện, những cảnh vật mà trước đây tôi cho là tầm thường như mái nhà, tường vách, thiền đường, những bài pháp giảng. Những vọng tưởng đó cứ thay nhau kéo đến lởn vởn trong tâm tư. Hay là tôi có thể chạy trốn vào núi sâu, với túi gạo nầy mình cũng có thể sống sót được tới vài tháng lận!

 

Ngày 3 Tháng 11 Năm 1973. Hằng Cụ viết:

Lại vẫn còn ở đây. Ngứa, ngứa, ngứa, ngứa quá, ngứa quá! Nghĩ chắc là mình phải đi tắm mới được. Hôm nay vọng tưởng lại kéo tôi về chuyện phục vụ tiềm thủy đỉnh và dự định chuyện tái nhập ngũ, nhưng tôi sẽ là ông thầy tu bí mật. Tôi cũng sẽ giống như mọi người, chỉ có khác ở chỗ là tôi sẽ không hút thuốc, nhậu nhẹt, ăn thịt, hay có tánh nóng giận. Tôi sẽ dùng tiền lương của mình để sắm chiếc mô-tô gắn máy Big Norton (motorcycle), rồi mướn một căn phòng nho nhỏ xinh xinh và ... có lý thật...!

 

Ngày 4 Tháng 11 Năm 1973. Hằng Cụ viết:

Hôm nay chúng tôi đã trở ra đường, trời mưa tầm tả. Tuy toàn thân vẫn còn đầy những mụn sưng, nhưng tôi không thể nào ngồi yên được nữa.

Hồi sáng nầy, Quả Ðôn đưa chúng tôi về chỗ cũ, sau khi chăm chỉ lễ lạy được năm dặm thì dựng lều trên bãi biển gần Jenner. Lúc 10 giờ sáng, chúng tôi đi ngang qua cửa sông Russian, là nơi tập trung những giòng nước đầy bùn đổ ra biển Thái Bình Dương. Ðến trưa, Quả Chu Rounds cùng vợ là bà Sue đã chuẩn bị thức ăn trưa cho chúng tôi gồm: canh cà chua nóng hổi, những lát bánh mì trét mứt và bơ đậu phộng (peanut butter and jelly sandwiches). Ở đây chuyện kẹt xe rất hiếm hoi, vì có lẽ một tiếng đồng hồ mới có hai chiếc xe chạy ngang qua. Chiều nay tôi đang trên đường dụng công dưới bầu trời nặng quằng những đám mây đen, như báo hiệu trận bão sắp đến, khi ngước mắt nhìn lên thấy cả một đàn chim hải âu vào khoảng mấy trăm con đang bay lượn. Tôi ngừng lạy, thấy chúng hình như đang biểu diển để tôi xem. Chúng sát cánh nhau thành hàng, bay vút lên trời, rồi tách rời nhau và bay chúi thẳng xuống gần sát đất. Trong tích tắc, chúng lại bay vút lên để bắt đầu cho vòng kế tiếp. Chúng xếp thành hình vòng lớn quây tròn giống như bánh xe sanh tử luân hồi vậy! Tôi đứng ngắm nhìn cũng mất vài phút, hình như bọn chúng đang nhắn nhủ: "Bạn hãy hăng hái tinh thần lên! Hãy tiến bước lên!"

 

Ngày 5 Tháng 11 Năm 1973. Hằng Do viết:

Tối qua chúng tôi dựng lều mới trên bãi biển, nhưng khi trời gần sáng thì giựt mình thức giấc vì cơn gió hú từ vịnh Sonoma. Tấm lều dường như bị gió cuốn thổi đi. Mới tối hôm qua nước biển vùng Thái Bình Dương còn dịu dàng mơn trớn cát, vậy mà bây giờ nó trở nên hung tợn, giận dữ chuyển mình nổi sóng. Những lợn sóng lớn dập dồn tràn đến sát bên lều, chỉ còn cách độ mười bước, nên chúng tôi vội vã thu dọn lều chõng, trong khi cơn mưa đang trút xuống tầm tả. Dù vậy chúng tôi cũng ráng chầm chậm khởi hành. Hoàn cảnh như vầy thật khó mà tiến bước, nên chỉ được vài dặm sau đó thì chúng tôi quyết định ngừng nghỉ đợi qua cơn mưa. Gần bên con lộ thấy có nhà xe trông giống như đã bị bỏ hoang nên chúng tôi tấp vào. Thầy Hằng Cụ có ý kiến rất hay, bèn lôi ra một túi đồ để trước nhà xe làm dấu hiệu để nếu ai muốn tìm chúng tôi thì sẽ biết chỗ mà đến. Ðồ ướt được treo lên nhưng vì không khí quá ẩm nên chúng chỉ treo lòng thòng, ủ rũ chẳng khô chút nào.

Sau đó, trong lúc chúng tôi đang tọa thiền, nghe có tiếng xe ngừng phía trước. Lúc đó bao nhiêu thiền định của tôi hình như đang dọn đường cho tiếng mừng reo hớn hở trong lòng, thầm đoán có lẽ mình sẽ được một bữa ăn nóng do gia đình Quả Ðôn cúng dường. Nhưng có ngờ đâu! chỉ vì cái túi đồ để phía trước, đã khiến cho chủ nhà xe và ông cảnh sát ở quận chú ý. Cũng may là họ đã nghe tin về chúng tôi rồi. Và bà chủ Michell vốn là chuyên viên mua bán địa ốc, đã đưa chúng tôi đến một tiệm giặt để sấy khô đồ đạc. Bà càng tỏ vẻ ngạc nhiên hơn khi nghe về mục đích và cách thức của chuyến bái hương, rồi lộ vẻ hơi tức cười khi thấy chúng tôi hiện đang trong hoàn cảnh ướt át như vầy. Bà có ý khuyên nên dừng chuyến du hành, đợi đến mùa xuân trời sẽ ít mưa hơn. Thêm một ngày cố gắng trôi qua, chúng tôi dựng trại ở Jenner. Tuy căn nhà tạm trú là một chuồng bò dột nát, nhưng ít ra chúng tôi cũng tránh được những cơn gió táp.

 

Ngày 6 Tháng 11 Năm 1973. Hằng Do viết:

Trời vẫn đổ mưa, nên chuồng bò cũ kỹ bị dột ướt khắp nơi. Hôm nay chúng tôi lạy qua khỏi vùng Jenner, nơi nầy lưa thưa chỉ có mấy căn nhà nghỉ mát và một tiệm tạp hóa nhỏ. Vài cặp mắt mũi đang dí sát vào kiếng cửa sổ. Có con chó đi theo chúng tôi suốt khoảng đường đầy ảm đạm. Ngoài vấn đề thời tiết, thì hầu như không có chuyện gì xảy ra cả. A! Về vấn đề thời tiết. Có lẽ thời tiết bên trong quan trọng hơn thời tiết bên ngoài thường là những đám mây, những cơn gió, hoặc mấy trận mưa thôi. Thật ra khí tiết tâm tánh con người có nhiều ảnh hưởng liên quan về nội tâm hơn là về ngoại cảnh. Những cơn bão của tham, sân, si mà trong Phật giáo gọi chúng là Tam Ðộc, lại có quyền năng rộng lớn ví như có thể che lấp cả trí huệ cố hữu vốn trong sáng như ánh thái dương của chúng ta. Tất cả năng lực không đáng chấp nhận nầy chỉ nhằm tập trung vào sự thấy có một cái Ngã đang tồn tại trên một "thế giới." Bản lai vốn không có ngã và cũng không có thế giới, vậy mà chúng ta cứ để phí bao nhiêu sức lực để phục vụ cho lòng tham, mà lòng tham nầy giống như ngọn lửa hung hãn dữ dằn. Mỗi lần chúng ta bị lòng tham áp đảo là mỗi lần như đổ thêm dầu vào ngọn lửa. Sân phát lên khi chúng ta không đạt được điều mình mong muốn. Si lừa phỉnh bằng cách làm chúng ta biết và hiểu những điều mà thật ra chúng ta không hiểu không biết. Vậy nếu chúng ta có thể tăng cường được sự kiểm soát khí tiết ở nội tâm thì có xá chi đến mưa sa, sương mù hay những trận gió bão bên ngoài. Coi chúng chỉ như là trò chơi trẻ con thôi. Trong khi chúng tôi ráng ghi nhận trong tâm những điều nầy thì ngoài kia cơn mưa vẫn đổ xuống ồ ạt.

Hôm nay chúng tôi lạy được khoảng ba dặm dọc theo bờ dốc cao đầy gió lốc.

 

Ngày 7 Tháng 11 Năm 1973. Hằng Do viết:

Không giống như khuôn khổ thời tiết của trời đất là chúng ta chẳng thể làm gì được. Còn đối với thời tiết của nội tâm thì chúng ta có thể kiểm soát đến mức độ tối đa. Nhưng trước hết, chúng ta phải có ý muốn xoay nhìn vào trong và ý thức rằng khí tiết nội tâm có lẽ sẽ không theo như ý mình muốn. Ví như khó mà thừa nhận được cái sân giận thường là căn gốc của hành động, nhưng đợi đến khi chúng ta hiểu ra, thì cái khí tiết sân giận đó có thể vẫn không tiêu hết. Vì vậy chúng ta phải từ từ xoay nhìn trở vào nội tâm, thêm vào sự quán sát bằng thái độ thật đúng đắn. Những giới đức do đức Phật đặt ra nhằm hướng dẫn chúng ta cách sinh hoạt trong đời sống hàng ngày, cũng như trong những hoàn cảnh đặc biệt. Thâm nhập được những tánh đức nầy tức là chúng ta đã giảm dần được sự ham muốn và cuối cùng sẽ loại bỏ chúng ra. Khi dục vọng không còn thì tham muốn cũng tiêu tan. Thay vì những khí lực mà chúng ta thường phung phí cho cơn nóng giận hoặc hận thù, thì nay có thể đem nó thực tập về định lực.

Ðịnh lực có được mở mang thì mới có khả năng chịu đựng được bộ mặt khiêu khích, sỉ nhục hay thời tiết xấu. Hơn nữa, định lực lại là chìa khóa khai mở trí tuệ sẵn có, để rồi từ từ làm sáng tỏ cái vô minh u ám. Cho nên nhằm tăng trưởng dần sự kiểm soát khí tiết nội tâm, chúng ta phải hồi quang phản chiếu và phát triển Giới, Ðịnh, Huệ. Như vậy mới dứt được Tham, Sân, Si. Dĩ nhiên học thì dễ nhưng thực hành mới là rất khó.

Căn cứ theo bảng ghi cây số treo dọc theo cống nước và mấy cây cầu, thì hôm nay Thầy Hằng Cụ lạy được hơn ba dặm.

 

Ngày 8 Tháng 11 Năm 1973. Hằng Do viết:

Chúng tôi có ý đi theo lộ trình nội địa để tránh bớt bị dầm mưa, nhưng sau đó lại đồng lòng là tốt hơn cứ đi dọc theo bờ biển. Nhận thấy tiến trình trong mấy ngày qua không mấy gì tăng tiến, nên chúng tôi quyết chí sẽ nỗ lực thêm, chỉ ngừng nghỉ khi nào thời tiết quá xấu thôi.

Lề đường dọc trên Xa Lộ Một, hầu như không có lối đi. Chúng tôi phải can đảm lắm mới có thể phủ phục quỳ lạy, khi chỉ cách vài gang tấc từ những chiếc xe vận tải chở hàng ngàn tấn gỗ vội vã chạy vụt qua. Lúc đầu tôi tưởng mấy anh tài xế cố ý chạy gần để đụng, vì đối với họ chúng tôi như hai đứa khùng đang cản trở sự lưu thông. Nhưng về sau tôi mới hiểu, thường là phải vậy thôi, họ không làm sao khác hơn để tránh những chiếc xe đang ngược chiều cũng chạy sát gần bên. Con đường không đủ rộng để cùng một lúc chứa vừa cho hai chiếc xe, lại vừa có chỗ cho một ông Tỳ Kheo quỳ lạy. Cho nên nhiều khi chúng tôi phải tuột xuống lộ để tránh ra xa, khi thấy có nhiều xe đang ào ào chạy tới.

Qua cảnh nầy khiến tôi nhớ đến câu chuyện về Hòa Thượng Hư Vân. Trong chuyến bái hương có lần Ngài gặp một vị Tỳ Kheo đang đắp sửa con đường, mà lối nầy có rất nhiều Phật tử thường hay hành hương ngang qua. Vị sư quyết tâm bền chí lo sửa sang, gìn giữ con đường luôn được bền tốt, nên ngày ngày Sư lo khiêng lót những hòn đá, những lớp cát v. v... để tu bổ mà chẳng một lời đòi hỏi gì riêng cho Sư cả. Lúc đó Sư đã hơn tám mươi tuổi, đã làm việc không ngừng nghỉ cho con đường nầy hơn bốn mươi năm qua. Làm việc vất vả để đem lợi ích cho chúng sanh mà chẳng màng đến sự đền bù báo đáp thì quả thật là hạnh vô ngã của Bồ Tát.

Chúng tôi cắm lều trên một sườn đồi có những con cừu đang nhai cỏ. Mấy lúc mưa gió tạm cơn trút nước, nghe văng vẳng từ phía dưới vọng lên những tiếng sóng biển đập mạnh liên hồi vào ghềnh đá. Những khi nhớ lại câu chuyện vị Sư già sửa đường, tôi cảm thấy bao mệt mỏi trong ngày lại dịu bớt đi.

 

Ngày 9 Tháng 11 Năm 1973. Hằng Do viết:

Có ông lái chiếc cam nhông trắng chạy rà rà theo quan sát chúng tôi lễ lạy, rồi bỏ đi. Nhưng sau đó ông vòng trở lại và chạy thẳng về phía tôi. Lúc đó Thầy Hằng Cụ đang lạy phía trước. Tấp xe vào lề đường, anh tài xế khoảng ba mươi tuổi, tắt máy, bước xuống khỏi xe. Tôi thường có ý nhạy cảm phớt qua trước những lời đối thoại đầu tiên, hoặc là trước khi chạm mặt với bạn thân thiện hay thù nghịch.

Anh nầy xã giao: "Chào ông! Cảm phiền ông xin cho tôi hỏi một câu được không?"

Anh có vẻ thích thú chuyến du hành của chúng tôi, vì anh sẵn sàng chịu lạnh đứng dưới cơn mưa phùn lất phất để trò chuyện.

Trong lúc đối thoại, anh tỏ vẻ ngạc nhiên về nhiều chuyện, nhất là khi biết rằng Chùa Kim Sơn đang tọa lạc ngay trung tâm thành phố San Francisco. Anh nói:

"Tôi không hiểu tại sao các ông không chịu rời bỏ cái thành phố ô nhiễm, ồn ào đầy dẫy những tội ác đó đi. Tôi tin chắc là các ông đã từng đi ngang qua những vùng ngoại ô êm đềm xinh xắn quanh đây, vì đó mới chính là chỗ lý tưởng để lập tu viện mà."

Anh nói cũng có cái lý, tôi lại thầm nghĩ: Chúng tôi đã đi qua gần một trăm dặm trên xa lộ ngoằn ngoèo dọc bên bờ dốc Thái Bình Dương, đã từng chứng kiến dù ngay cả trong cơn mưa tầm tả, vẻ đẹp thiên nhiên cũng hiện thấy rõ. Lắm lúc huyền bí thật thắm thía. Như mưa có thể biến chuyển khói từ xe cộ thành cầu vòng lóng lánh, lại có thể tưới nhuần cây cỏ khiến chúng vươn cao tươi tốt, và làm những khối tuyết tan, trút chảy ra những con sông vòng quanh các thung lũng. Tuy đã thấy rõ những điều đó, nhưng tôi không mấy gì tán thành về ý kiến của anh nầy. Tôi giải thích như sau: Ở đạo Phật, sự tu tập chỉ cốt nhằm ở tâm địa, chỉ là như vậy thôi! Những gì thuộc về vật chất như thân thể con người thì không thể quan trọng hơn những gì đang xảy ra ở nội tâm. Mục đích tu hành hay dụng công về tín ngưỡng là nhằm quét sạch những chuyện bên ngoài cùng những vọng tưởng đang tuôn chảy như vòi nước ở trong tâm. Công phu tu tập nầy có thể đem áp dụng ở bất cứ nơi đâu và vào bất cứ lúc nào.

Lần nọ có người hỏi Sư Phụ rằng trong khi làm việc văn phòng ngoài xã hội thì ngưng niệm chú, như vậy có thích hợp không? Sư Phụ đáp: Nếu ông làm việc với thái độ đúng đắn thì kết quả cũng giống như ông đang trì chú vậy. Thật ra thiền cũng giống như thế, nếu những tiếng ồn ào của thành phố làm chúng ta cảm thấy phiền phức (sẽ càng thấy rõ hơn khi chúng ta rời xa thành phố), và nếu chúng ta không thể nào tập trung để tọa thiền vì những tiếng động, thì phải học cách vượt qua những tiếng động đó! Nếu sự an tịnh của tâm lại tùy thuộc vào sự yên lặng của cảnh vật chung quanh thì chúng ta vẫn còn "chỗ để trụ vào," đó là một vướng mắc. Chúng ta nên dọn sạch các âm thanh ồn náo, những ô nhiễm, và những tội lỗi chính trong tâm ta, như vậy chúng ta đến bất cứ nơi nào cũng đều là thanh tịnh cả, bởi tại thế gian nầy không gì hơn là sự soi chiếu lại bản tâm của chúng ta mà thôi.

Anh nầy có vẻ chăm chú lắng nghe những điều quý báu có giá trị hiếm hoi như vậy. Rồi anh từ giả với lời chúc may mắn. Sau đó Quả Ðôn lại đến và tìm giúp chúng tôi nhà xe cũ đã đổ nát của xưởng máy ở Timber Cove để nghỉ qua đêm.

 

Ngày 10 Tháng 11 Năm 1973. Hằng Do viết:

Hôm nay nước mưa tuôn xuống như bắn đạn, làm đồ đạc ướt chèm nhẹp. Buổi sáng nầy chúng tôi lạy tới vùng Fort Ross thì Quả Diện mang đến bữa cơm trưa nóng hổi.

Tôi phải từ từ lắm mới tập quen dần với việc vừa đi vừa kéo theo chiếc xe hành lý. Thật lòng mà nói, lúc đầu tôi đã không thích gì mấy cái ý kiến nầy. Tuy nhiên có chiếc xe kéo, nó cũng giúp chúng tôi chở được thêm nhiều đồ đạc, dụng cụ, đi từ tỉnh nầy qua tỉnh khác. Sau khi lạy được bốn dặm, chúng tôi lại trở về nhà xe hoang ở Timber để ngủ thêm một đêm. Cảnh vật nơi đây thật buồn áo não. Mưa gió không dứt hoành hành đã khiến cả tòa nhà trở nên đổ nát tiêu điều. Mấy đống máy móc rỉ sét nằm ngổn ngang khắp nơi, lại thêm một cái vỏ sườn hình nón to lớn nặng nề của cái lò hỏa táng thật là buồn ảm đạm.

 

Ngày 11 tháng 11 Năm 1973. Hằng Do viết:

Sáng hôm nay sư huynh một mình trở lại chỗ hôm qua để lễ lạy, chúng tôi đồng lòng đêm nay cũng sẽ nghỉ đêm ở chỗ cũ. Tôi ở lại treo phơi các đồ ướt, nhưng vì không khí quá ẩm nên chẳng mấy gì khô. Tôi đọc lại những trang nhật ký đã được ghi chép từ buổi đầu đến nay, rồi tọa thiền và lo nghĩ không biết sư huynh mình có chuyện gì không? Sau đó có chiếc xe chạy tới, thì ra vợ chồng Quả Chu Rounds đang giải cứu sư huynh tôi thoát khỏi cơn mưa. Họ cung cấp thức ăn và vài vật dụng thường dùng, có cả bánh sô cô la (chocolate) nữa. Nghe chuyện chúng tôi bị hoạn nạn về vụ lá sồi độc, nên Quả Chu động lòng tặng thêm hai cuồn giấy vệ sinh.

Hôm nay là chủ nhật, con đường đã hẹp lại đông xe hơn ngày thường. Những hố rãnh bên đường đầy những cây sồi độc, và sư huynh tôi ghi thêm được ba dặm rưỡi đường nữa.

 

Ngày 12 Tháng 11 Năm 1973. Hằng Cụ viết:

Ðường xa lộ nầy dẫn xuyên qua dãy núi đá, có những dốc núi lửa cao thẳng sừng sửng hằng trăm feet phía trên bờ biển. Phong cảnh ở đây thật hùng vĩ dễ sợ, và thời tiết cũng vậy. Những ngọn gió bão từ biển thổi ập đến, dĩ nhiên là chúng tôi bị nước mưa ngấm ướt lạnh đến tận xương.

Ðể chuyển hướng một chút cho khuây khỏa, hôm nay chúng tôi đi dạo quanh vùng sườn núi. Nghe lúc trước Quả Diện bảo là cách đây bốn dặm, có một lãnh địa của nhóm dân da đỏ sẽ đón chào chúng tôi. Vì vậy buổi sớm trưa nầy, chúng tôi tạm ngưng lễ lạy để đến tiệm tạp hóa vùng Stewarts Point mua ít vật dụng, rồi tiến thẳng vào nội địa bằng con đường nhỏ ngoằn ngoèo. Trời sụp tối rất nhanh, lại trút xuống cơn mưa hung bạo, như mang đến những con rồng tung quậy lồng lộn. Trời chuyển tối đen như mực, vì ánh trăng đã bị những đám mây nặng nề che phủ, khiến tối đến mức độ bàn tay của mình mà còn chẳng thấy, hà huống gì còn nhìn thấy đường xá. Nước mưa như bắn xối xả hàng triệu viên đạn nước vào chúng tôi. Từng bước ngập ngừng dò dẫm lên núi, trong khi bên trái tôi là dòng suối đang ào ạt tuôn chảy, bên phải là vách núi dốc thẳng sừng sựng. Tôi đi trước, Thầy Hằng Do theo phía sau. Thình lình tôi có cảm giác hình như Thầy không còn theo phía sau tôi nữa, nên tôi đã gào to lên:

"Do!"

Không có tiếng trả lời, nỗi sợ hãi tràn khắp trong tôi.

"Do! Ðệ đâu rồi?"

Chỉ có âm thanh hung hãn của mưa bão cùng tiếng hét nổi cơn của con suối mà thôi. Sau cùng tôi nghe được tiếng của Thầy Hằng Do. Chúng tôi bắt đầu la hú kêu nhau cho đến khi bắt được hướng của âm thanh mới tìm được nhau. Thật ra tôi đã không thấy gì hết, chỉ biết chạy ào đến rồi đụng vào Thầy Hằng Do. Thầy Hằng Do bảo là trong cuộc đời chưa bao giờ sợ hãi như thế vì bị trượt té xuống hố, lại trong đêm tối mù mịt cứ thế mà lăn, lăn mãi xuống tận chân núi mới thôi. Chúng tôi khờ khạo đã bỏ quên cây đèn pin ở chỗ lạy, nhưng cũng đở là có mang theo sợi dây nhỏ. Lần mò một lúc mới cột được lẫn nhau, với khoảng cách mười bước, rồi tiếp tục leo lên. Tôi đi trước, thận trọng từng bước giầy dò dẫm, cọ sát mặt đường. Trong khi sư Hằng Do phía sau luôn chuẩn bị sẵn sàng chụp bắt nếu tôi trợt té qua một bên. Ði ì ạch như thế suốt mấy tiếng đồng hồ, vừa bị lạnh, lại vừa bị ướt và lạc loài ngay trên quả đất mình. Ðã quá xa rồi, không thể nào trở lại được. Chỉ hy vọng là còn tiếp tục được đi thôi. Chúng tôi hoang mang lo ngại không biết mình còn được sống sót qua khỏi cơn hiểm nghèo của chuyến đi nhỏ nhoi nầy hay không nữa.

Trời đã quá nửa đêm rồi. Chúng tôi ngừng lại, mở banh tấm ni-lon rồi ngồi đùn cục vào nhau ngay giữa lộ. Tuy cả hai đều lạnh run và ướt loi ngoi, nhưng cũng ráng thắp sáng được ngọn đèn cầy và mở bản đồ tìm vị trí. Theo bản đồ thì chúng tôi phải đi thêm một dặm nữa, nhưng nếu đi theo kiểu nầy chắc cầu cả đêm mới tới nơi. Bỗng đâu xa xa có ánh đèn nhấp nháy từ phía dưới chân núi. Thì ra có chiếc xe đang chạy tới. Ðó là chiếc cam nhông của ông già dân da đỏ. Chúng tôi được ông chở về, nhưng vùng dân da đỏ nầy lại không cho phép người da trắng xâm nhập vào.

Chẳng làm được gì khác hơn vì quá lạnh lại bị ướt nên chúng tôi đành quày trở lại và đi thẳng xuống núi. Lúc nầy thật là khổ sở, nhưng ánh trăng bắt đầu tỏa chiếu xuyên qua những đám mây, và chúng tôi cũng tìm ra đường trở về vùng Stewarts Point trước khi ánh bình minh xuất hiện. Gặp được dãy nhà (motel) với những phòng ngủ cho mướn đã bỏ hoang, nên chúng tôi lẻn vào. Mặc kệ cái xác mèo chết hôi thối nằm chình ình trên chiếc ghế bành, chúng tôi vẫn cảm thấy như mình đang được ở trong khách sạn Hilton sang trọng.