Con đường tu tập của người Phật tử tại gia
qua những bài học thực tiển rút ra từ Kinh Trung Bộ.
Trần
Như Mai
---o0o---
Trước những sự kiện diễn ra trong cuộc sống hằng ngày,
tôi đã từng ngày đêm ray rứt với biết bao câu hỏi ‘tại sao ? ‘Tại sao
cuộc sống đầy rẫy những khổ đau, bất hạnh, bất như ý?’, ‘ Tại sao cùng
sinh ra làm kiếp người, mà lại có muôn vàn sai khác, cách biệt nhau ?’, ‘
Tại sao niềm vui thường chóng tàn và khổ đau, phiền não cứ triền miên như
bất tận?’, và ‘ Làm thế nào để hết khổ được vui ?’
Tất cả những câu hỏi đó, triết học thế gian cũng như nhiều tôn
giáo đã từng đưa ra những lời giải đáp khác nhau, nhưng tôi vẫn chưa cảm
thấy hài lòng. Với lòng khao khát chân lý và mong muốn tìm ra lời giải đáp
cho những vấn đề của chính bản thân và cuộc sống, tôi đã tìm đến đạo Phật
và xin theo học khóa giảng Kinh Trung Bộ tại Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt
Nam.
Trước đây, khi chưa biết gì về đạo Phật, tôi vẫn thường nghe
nhiều người phê bình rằng đạo Phật là đạo bi quan, yếm thế, tiêu cực, là
đạo của những kẻ chán đời, thất bại trong cuộc sống và muốn trốn chạy cuộc
đời...v v . Thế nhưng, sau hơn hai năm theo học lớp Kinh Trung Bộ, tôi
thấy rằng những lời giảng dạy của Ðức Phật rất thiết thực, đã giải tỏa cho
tôi biết bao ưu tư phiền não, đã đem lại cho tôi một nguồn an lạc thanh
cao, một sức mạnh tinh thần vững chắc để làm hành trang cho tôi trên vạn
nẻo đường đời, và đã thay đổi cách nhìn của tôi về con ngườI và cuộc sống.
Từ mỗi bài pháp của Kinh Trung Bộ, tôi đều có thể rút ra một
bài học thực tiển để suy nghĩ và áp dụng trong cuộc sống hằng ngày, dù đó
là bài pháp Ðức Phật thuyết giảng cho các tỷ kheo, cư sĩ hay ngoại đạo.
Những bài học thực tiển rút ra từ Kinh Trung Bộ rất nhiều và
phong phú, nhưng trong phạm vi giới hạn của bài viết này, tôi chỉ xin đề
cập sơ lược đến một vấn đề thiết thân, cốt lõi nhất của chúng ta, đó là
vấn đề ‘ Tại sao con người đau khổ ?’, và ‘ Làm thế nào để hết khổ
?
Giáo pháp của Ðức Phật thật vô vùng thâm sâu, vi diệu, dù ta
bỏ cả cuộc đờI để học hỏi nghiên cứu chắc cũng chưa đủ ! Thế nhưng, nhìn
xuyên suốt quá trình 45 năm hoằng pháp độ sinh, Ðức Phật đã khẳng định :
‘
Này, các tỷ kheo, xưa cũng như nay, ta chỉ nói một điều, đó là sự khổ và
diệt khổ ‘
Vậy, thế nào là khổ ?
Theo cách hiểu thông thường của chúng ta thì Khổ có hai
loại: vật chất và tinh thần. Về vật chất thì bệnh tật, già yếu, đói rách,
thiếu thốn mọi nhu cầu của cuộc sống hằng ngày là khổ. Về tinh thần thì
tất cả những điều trái ý nghịch lòng đều làm ta khổ : phải xa cách người
mình yêu thương là khổ, phải gần gũi người mình oán ghét là khổ, cầu mong
mơ ước không thành là khổ...vv
Nhưng Ðức Phật với trí tuệ của một Bậc Toàn Giác, đã có
một cái nhìn thật rốt ráo về khổ, Ðức Phật đã khẳng định : ‘ Tất cả những
gì vô thường đều là khổ ‘.
Quả thật, từ khi sinh ra cho đến khi lớn lên, học hành,
rồi đi làm việc, ta thấy cuộc sống như một giòng sông phẳng lặng, êm đềm
trôi chảy mãi không thôi. Ta không hề chú ý đến những biến hoại đang âm
thầm diễn ra từng giây phút trong vạn vật cũng như trong chính bản thân
mình. Ngay trong thân thể của chúng ta, mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý...
mỗi ngày qua là mỗi hao mòn suy yếu, thế mà ta cứ tưởng rằng mình vẫn giữ
được mãi nét thanh xuân, nên ta không ngừng mọi nỗ lực để tô bồi cho thân
ta ngày càng trẻ trung tươi tốt ! Ta bị cuốn hút vào việc mưu cầu lợi ích
cho bản thân, nào là tiền tài, danh vọng, địa vị, sắc đẹp, tình yêu..., và
cho rằng đó là mục đích của cuộc sống, là lý tưởng, là hạnh phúc duy nhất
của đời người. Ta say sưa trong men dục của thế gian và tưởng rằng chúng
sẽ mãi mãi là của ta. Cho đến một ngày kia, ta gặp một sự thất bại, một
biến cố bất thường, một sự mất mát lớn lao đập mạnh vào tim khiến ta đớn
đau, bàng hoàng, rời rã, như : mất tài sản, mất địa vị, danh vọng mà ta đã
dày công xây đắp, mất tình yêu, mất sắc đẹp, mất người thân yêu nhất của
ta....Ta giật mình nhìn lại chuổi ngày qua, nhìn lại mình và tự hỏi ‘ Ðây
có phải là hạnh phúc đích thực chăng?’. Nếu là hạnh phúc đích thực, nó
phải trường tồn, vĩnh viễn, không bao giờ mất. Tại sao ta bây giờ không
còn là ta của những ngày đã qua ?Tại sao niềm vui giờ đã tan biến và chỉ
còn lại nỗi chán chường, mệt mỏi, thất vọng, muộn phiền ? Ta giật mình
hoảng hốt, muốn níu kéo lại những gì đã qua, nhưng nào có được! Ta cảm
thấy bất lực và đau khổ muôn vàn ...
Ở đây, lời dạy của Ðức Phật đã soi sáng cho ta chân lý
muôn đời:’ Tất cả các pháp đều vô thường, và tất cả những gì vô thường
đều là khổ ‘
Nhưng nguồn gốc của khổ đau do đâu mà có ?
Ta biết rằng khổ đau có mặt cùng lúc với sự hiện hữu
của con người. Khổ đau do con người phát hiện và cảm nhận. Nếu không có
con người thì vấn đề đau khổ không được đặt ra.
Triết học thế gian đã từng đặt vấn đề: ‘ Tôi là ai ?
Tôi từ đâu đến và sẽ đi về đâu ?’. Nhưng những lời giải đáp
mang tính chất siêu hình của triết học thế gian không làm thoả mãn những
người đang khao khát đi tìm chân lý. Ðôi lúc con ngườI lại nguỵ biện về
sự hiện hữu của mình : ‘ Tôi đâu có muốn sinh ra đời, chính vì do ý
muốn và dục vọng của cha mẹ tôi mà tôi phải có mặt trong cõi đời này, vậy
cha mẹ tôi phải chịu trách nhiệm về mọi đau khổ của tôi !’.
Ðức Phật đã đưa ra một lời giải đáp rốt ráo về nguyên
nhân sự hiện hữu của con người trong cuộc đời qua Lý Duyên Khởi.
Ta sinh ra và có mặt trong đời không phải là một sự
tình cờ hay ngẫu nhiên. Trong Ðại Kinh Ðoạn Tận Ái, Ðức Phật đã dạy rằng,
chính do ái dục, do lòng khao khát được tiếp tục thọ hưởng các dục ở thế
gian mà thức của ta đã gá vaò bào thai của người mẹ vào đúng thời điểm hội
đủ các điều kiện thuận lợi của bốn món ăn: đoạn thực, xúc thực, tư niệm
thực, và thức thực, để từ đó một con người được sinh ra trong cõi đời.
Chính bốn món ăn này do ái dục làm nhân duyên, và ái dục lại kết hợp với
vô minh để cho ra đời toàn bộ khổ uẩn của con người.
Tại sao Ðức Phật dạy rằng vô minh kết hợp với ái dục để phát
sinh toàn bộ nỗi thống khổ của con người ?
Ta đã hiểu rằng do ái dục, con người đã đựơc sinh ra. Lúc còn
nhỏ, tình cảm của ta chưa định hướng rõ ràng, nhưng lúc lớn lên, khi sáu
căn bắt đầu tiếp xúc với sáu trần, tham ái bắt đầu khởi. Ta bắt đầu phát
sinh tình cảm yêu thích, giận hờn, ghét bỏ, ham muốn..., và từ từ ta bị
lôi cuốn vào các dục trưởng dưỡng: sắc, thanh, hương, vị, xúc... Sự cám dỗ
của các dục ngày càng gia tăng theo tốc độ phát triển của nền văn minh vật
chất. Ðược cái này, ta lại muốn cái kia; được cái kia ta lại muốn cái nọ,
cứ muốn sao cho bằng hoặc hơn bà con, bạn bè, thiên hạ. Ta không những
muốn ăn ngon mặc đẹp, muốn có người yêu lý tưởng, mà lại còn muốn giàu
sang, danh vọng, điạ vị ... để cho mọi người nể nang, thán phục. Ta thấy
tự ngã của mình càng ngày càng lớn, ta chẳng muốn thua kém ai, càng ngày
ta càng chìm đắm trong biển dục mênh mông không biết đâu là bờ bến...
Chính vì vô minh nên ta không hiểu được sự nguy hiểm của các
dục, như Ðức Phật đã dạy:’ Này các tỷ kheo, các dục vui ít,
khổ nhiều, não nhiều, ở đây sự nguy hiểm lại càng nhiều hơn ’.
Chính vì vô minh, ta chấp thân làm ngã. Ta chấp sắc, thọ,
tưởng, hành, thức này là ta, là của ta, là tự ngã của ta. Do đó, ta tìm
mọi cách, mọi phương tiện để làm thỏa mãn tấm thân ngũ uẩn này. Ðức Phật
đã dạy rằng, Ác Ma vốn không phải ai xa lạ, nó chính là năm dục trưởng
dưỡng. Khi ta tham đắm dục lạc, chính là lúc ta đã rơi vào bàn tay của Ác
Ma, bị Ác Ma điều khiển, ta mù quáng làm theo mệnh lệnh của Ác Ma, để rồi
dấn thân tạo nghiệp, thọ khổ..., và kết quả là tiếp tục quanh quẩn trong
sáu nẻo luân hồi.
Như vậy, vô minh kết hợp với ái dục : vô minh sinh ái dục, và
ái dục nuôi dưỡng vô minh. Cứ như thế, toàn bộ khổ uẩn của con ngườI bắt
đầ từ đó, như Lý MườI Hai Nhân duyên đã nêu rõ.
Sau khi dạy cho chúng ta hiểu được khổ là gì và nguồn gốc của
khổ, Ðức Phật đã chỉ rõ cho chúng ta con đường diệt khổ.
Ðây quả thực không phải là một vấn đề đơn giản cho những người
phàm phu như chúng ta. Ta có thể hiểu được khổ và nguồn gốc của khổ, nhưng
ta không thể nào diệt được khổ nếu ta không có trí tuệ. Vai trò của trí
tuệ thật hết sức quan trọng đối với người muốn đoạn tận khổ đau và giác
ngộ giải thoát.
Vậy thế nào là người có trí tuệ ?
Trong Kinh Trung Bộ, Ðức Phật đã nhiều lần đề cập đến người có
trí. Người có trí là người có nghe lời dạy của Ðức Phật, có tu tập hành
trì đúng như lời dạy của Ðức Phật, biết rõ sự sanh diệt của các pháp.
Người ấy biết rõ: đây là lậu hoặc, đây là lậu hoặc tập khởi, đây là lậu
hoặc đoạn diệt, đây là con đường đi đến lậu hoặc đoạn diệt. Từ đó, người
ấy tinh tấn tu tập hành trì để dần dần đoạn trừ các lậu hoặc, đưa đến đoạn
diệt các mầm mống của sanh y, tiến tới an lạc, giải thoát, Niết Bàn.
Ðức Phật đã dạy: ‘ Này, các tỷ kheo, phàm như có sự sợ hãi,
nguy hiểm, tai họa nào khởi lên, chúng chỉ khởi từ người ngu, không khởi
từ người trí ’. Vì sao ? Vì người trí đã có tri kiến như thật về sự
sanh diệt của các pháp, người ấy đã biết rõ thế nào là khổ, đâu là nguyên
nhân, và con đường diệt khổ. Từ đó, ngườI ấy biết rõ việc gì nên làm và
việc gì không nên làm. Người ấy biết rõ các pháp bất thiện sẽ đem lại sự
sợ hãi, nguy hiểm, tai họa...nên người ấy cương quyết không làm. Người ấy
biết rõ các thiện pháp sẽ đem lại hạnh phúc, an lạc nên người ấy cố gắng
tinh tấn thực hiện. Do đó, sự sợ hãi, nguy hiểm, tai họa, khổ đau sẽ không
đến gần người có trí.
Ðối với chúng ta đang còn là những phàm phu, bản chất chúng ta
vốn yếu đuối cả về trí tuệ lẫn thể xác, vì vậy, khi một việc bất hạnh,
phiền não xảy ra, chúng ta như người bị trúng hai mũi tên độc: thân ta đau
đớn và tâm ta cũng đau đớn. Muốn nhổ mũi tên độc trong thân, chỉ cần có
thầy hay thuốc tốt là ta có thể lành bệnh, nhưng muốn nhổ mũi tên độc
trong tâm thật vô cùng khó khăn, đòi hỏi chúng ta phải có một sức mạnh
tinh thần phi thường, sức mạnh ấy phát xuất từ trí tuệ.
Do đó, muốn có trí tuệ, ta phải biết thân cận với người có trí
để nghe pháp, tuỳ pháp và hành pháp. Nhờ nghe pháp nhiều, tâm trí ta ngày
càng được soi sáng, ta hiểu được Lý Duyên Khởi, sinh lòng tin vào Phật,
Pháp, Tăng. Ta cố gắng giữ gìn giới luật, hộ trì các căn, sống thiểu dục
tri túc, chế ngự không cho tham ái khởi lên, giữ vững chánh niệm tỉnh giác
trong mọi sinh hoạt hằng ngày. Ta hiểu được nguyên nhân vì sao ta có mặt
trong đời, vì sao ta gặp bất hạnh hay được sung sướng, vì sao cùng là con
người mà lại có muôn vàn sai khác cách biệt nhau. Tất cả đều do hành động
của ta, do nghiệp của ta đã tạo trong quá khứ và hiện tại.
Cảnh giới ta thọ hưởng trong hiện tại hay tương lai đều tùy
thuộc vào hành động của ta trong quá khứ hay hiện tại. Hành động thiện tạo
nghiệp lành sẽ đưa đến an lạc, hành động ác tạo nghiệp dữ sẽ đem lại khổ
đau. Ta đau khổ hay hạnh phúc đều do chính hành dộng của ta quyết định. Ta
là chủ nhân của nghiệp và cũng là kẻ thừa tự nghiệp. Bởi thế ta phải cố
gắng tạo nghiệp lành và từ bỏ những hành động bất thiện.
Sự đau khổ trong hiện tại là do nghiệp của ta đã tạo trong quá
khứ. Vậy, muốn chấm dứt đau khổ, ta phải tích cực làm những hành động
thiện để chuyển nghiệp. Nhưng thế nào là hành động thiện ? Ðức Phật đã
định nghĩa rất rõ :’ Hành động nào đem đến lợi mình, lợi người, lợi cả
hai là hành động thiện. Hành động nào đem đến hại mình, hại người, hại cả
hai là hành động bất thiện’.
Bởi thế, trước khi làm một việc gì, ta phải suy nghĩ, cân nhắc,
đắn đo, xem hành động sắp làm là thiện hay bất thiện; kể cả hành động nào
chỉ có lợi cho mình mà không lợi cho người, ta cũng nên tránh. Ngay cả
trong tâm ta, ta phải luôn luôn giữ vững chánh niệm, tỉnh giác để kiểm
soát giòng tư duy của mình. Khi một ý niệm bất thiện chưa khởi, ta cố gắng
chế ngự đừng cho nó khởi; và khi nó đã khởi, ta cố gắng tìm cách đoạn trừ.
Khi một ý niệm thiện chưa khởi, ta hãy tìm cách tạo điều kiện cho nó sinh
khởi, và khi một ý niệm thiện đã khởi, ta cố gắng nuôi duỡng cho nó tăng
trưởng ngày càng tốt đẹp hơn.
Ta cố gắng tu tập trong từng lời nói, từng cử chỉ, từng hành
động nhỏ hằng ngày. Cố gắng giữ gìn thế nào để tâm chỉ nghĩ đến điều thiện,
miệng chỉ nói những lời thiện, thân chỉ làm những việc thiện. Ðó chính là
quá trình rèn luyện để có chánh tri kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh
nghiệp và chánh mạng.
Ðây quả thực là một con đuờng tu tập rất khó khăn đối với
chúng ta. Bởi vì, ý nghiệp đã ăn sâu vào tiềm thức, đã chi phối, hình
thành nếp suy nghĩ, thói quen và hành động thường ngày của ta. Bây giờ, ta
phải thanh lọc ngay từ ý nghĩ của mình để ngăn cản không cho phát sinh lời
nói hay hành động bất thiện. Bản chất của chúng ta vốn do ái dục sinh, và
ta đang trầm mình trong dục giới với đầy đủ tham, sân, si, mạn, nghi, tà
kiến..., do đó, ta rất dễ bị dục vọng lôi cuốn và trở nên yếu đuối, dễ
quên mất lời Phật dạy, và chìu theo dục vọng, buông thả với chính mình.
Chỉ cần thiếu tỉnh giác, buông lơi phóng dật, dễ dãi với chính mình là ta
đã rơi ngay vào vòng tay của Ác Ma dục vọng !
Vì thế, ta phải luôn luôn phản tỉnh để thanh lọc tâm. Chính
quá trình phản tỉnh để thanh lọc tâm là một quá trình tu tập để tịnh hóa
tam nghiệp. Tu tập chính là một quá trình thanh lọc tâm để chuyển nghiệp
và tiến tới chấm dứt nghiệp.
Muốn tu tập có kết quả, ta phải
nghiêm khắc với chính mình. Giữ giới là một hình thức kỷ luật tự giác của
bản thân, giúp ta chế ngự bản năng, dục vọng để hướng tâm về các
điều thiện. Tiếp đến, hành thiền là con đường giúp ta thanh lọc tâm và
tịnh hóa tam nghiệp một cách hữu hiệu nhất. Vì như Ðức Phật đã dạy:
’Thiền là thay thế năm triền cái bằng năm thiền chi ‘. Trong
quá trình thanh lọc tâm, ban đầu ta từ bỏ các pháp bất thiện về thân, lời,
ý; cố gắng thành tựu các thiện pháp về thân, lời, ý. Rồi tiếp đến, từng
bước, từng bước một..., ta cột tâm vào một đối tượng, dần dần thay thế
Tham, Sân, Hôn Trầm Thụy Miên, Trạo Hối, Nghi, bằng Tầm, Tứ, Hỷ Lạc và
Nhất Tâm.
Ðây là một quá trình tu tập lâu dài và khó khăn đối với
ta. Vì ta biết rằng năm triền cái là kẻ thù bên trong ta. Tiêu diệt kẻ thù
bên trong bản thân mình quả thật vô cùng khó khăn gian khổ, đòi hỏi ta
phải có nghị lưc lớn, quyết tâm cao để có thể tinh tấn hành trì mà không
nản lòng. Chỉ có hành thiền mới giúp ta có một nội lực, một định lực, một
sức mạnh tinh thần để đối trị với các dục, giúp ta vượt qua được những cơn
khủng hoảng, yếu đuối trước sức cám dỗ của Ác Ma.
Khi tâm ta đã được định tĩnh, ta đã tìm được nguồn vui
do thiền đem lại, lòng ta trở nên nhẹ nhàng thư thái, xả bỏ dần những trói
buộc của dục vọng đã làm ta đau khổ bấy lâu nay. Khi ta đã hiểu được vô
thường là qui luật của vạn pháp, không có gì là thường hằng, vĩnh cữu; và
các pháp đều vô ngã, không có gì là ta, là của ta. Ta chỉ là một tập hợp
của năm uẩn, của tứ đại, và rồi sẽ có ngày tan rã thành cát bụi. Như vậy,
tiền tài, sắc đẹp, địa vị, danh vọng, tình yêu..., nói chung là tất cả các
dục của thế gian và ngay cả tấm thân này, tất cả đều như bọt bước, như mây
trôi, như giấc mộng..., tất cả rồi sẽ trở về với cái thực tướng của nó là
KHôNG. Vậy có gì đáng cho ta tham đắm ? Còn gì đáng cho ta chấp thủ, phiền
não, khổ đau ? Chúng đến hay đi, còn hay mất, ta hãy bình thản nhận biết
và cố giữ cho tâm không giao động, không hoảng hốt, không sợ hãi, không
khổ đau. Ta hãy chuẩn bị tinh thần để đón nhận vô thường như một người
khách có hẹn trước. Nhờ vậy, khi vị khách Vô Thường đến, ta không ngạc
nhiên, không hoảng hốt, không sợ hãi, chỉ bình thản nhận biết;’ A, vị
khách Vô Thường đã đến !’.
Khi ta đã giữ được tâm thanh tịnh, bình thản trước mọi
biến cố của vô thường, ấy là lúc ta đã thấy được đạo, ấy là lúc ta hưởng
được cảnh Niết Bàn nơi trần thế, ngay trong hiện tại này. Hạnh phúc chính
là đây! Và đây mới là hạnh phúc đích thực.
Khi ta đã thấy được chân lý, đã tìm được an lạc cho chính mình,
lòng ta bỗng trở nên bao dung, rộng lượng. Ta cảm thấy thương yêu mọi
người, nhìn mọi người bằng cặp mắt từ bi, nhìn cuộc đời với cõi lòng rộng
mở. Ta bỗng cảm thấy xót xa khi
nhìn chung quanh ta có biết bao
người đang đau khổ. Vì thế, ta quyết tâm dấn thân vào đời với tinh thần vô
tham, vô sân, vô si, vô chấp thủ. Với lòng thương yêu tất cả chúng sanh,
ta nguyện đem hết khả năng mình để phục vụ chúng sanh, giúp cho mọi người
bớt khổ dược vui. Ðó là lý tưởng mà bất cứ người Phật tử chân chính nào
cũng ước mơ thực hiện.
Như vậy, người Phật tử
chân chính là người hạnh phúc nhất, vì người ấy biết sống thiểu dục tri
túc, không tham ái, không chấp thủ. Nhờ nội tâm nhẹ nhàng, thanh thản,
người ấy luôn luôn vui vẻ, yêu đời, an nhiên tự tại, biết thương yêu, giúp
đỡ mọi người, biết sống thích nghi với mọi hoàn cảnh, và tìm được an lạc
ngay giữa lòng cuộc sống xô bồ, đầy biến động của thế gian.
Tóm lại, những bài học
thực tiển rút ra từ Kinh Trung Bộ đã giúp cho người Phật tử tại gia tìm
thấy con đường tu tập ngay trong lòng cuộc đời, để vừa có thể đạt đến một
cuộc sống hạnh phúc đích thực cho bản thân, vưà góp phần xây dựng một xã
hội thanh bình, an lạc. Ðiều này đã chứng minh rằng Ðạo Phật không phải là
một tôn giáo tiêu cực, bi quan. Ðức Phật nêu lên vấn đề đau khổvì đó là
một sự thật không thể phủ nhận, ta cần phải mạnh dạn nhìn thẳng vào nó để
tìm cách diệt trừ. Biết khổ và hiểu được nguyên nhân gây ra đau khổ để tìm
phương pháp diệt khổ hầu đem lại an vui hạnh phúc cho mình và cho xã hội,
đó chính là một trong những điểm tích cực nhất của giáo lý đạo Phật.
Trần Như Mai
--- o0o ---
| Mục lục Tác giả |
Cập nhật ngày:
01-04-2002