Tổ chức GĐPT nói chung, và ACE Huynh trưởng nói
riêng, gồm đủ mọi thành phần, không phân biệt giàu nghèo sang
hèn, thành thị hay thôn quê, học cao hay học thấp
cho nên khi nói đến Toán học hay khoa học hiện
đại có nghĩa là Toán học và khoa học cấp phổ thông , chứ
không dám lạm bàn đến Toán học và khoa học cao cấp cở hậu Đại
học - lảnh vực này đã có những bậc thầy của chúng ta như giáo
sư Hồng Dương Nguyễn Văn Hai, GS Trần chung Ngọc, GS Nguyễn Chung Tú . .
. đề cập đến rồi.
Sau đây là những bài học thu lượm được trong
buổi học hôm nay :
1) Khi bước vào thế giới Hoa nghiêm, về tứ pháp
giới, đặc biệt là Sự pháp giới chúng ta thấy rất rõ
một sự gặp gỡ giữa thế giới Hoa nghiêm mà đức Bổn
sư đã nói đến từ cách đây mấy ngàn năm với những lý
thuyết của vật lý học hiện đại về thiên văn, về nguyên tử ,
về năng lượng , lượng tử v..v.. chỉ khác nhau về phương diện
thuật ngữ : thuật ngữ Phật giáo hay thuật ngữ Hoa nghiêm và thuật
ngữ khoa học; chúng tôi đã đề cập một phần trong bài học lần
trước, lần này xin bổ sung thêm .
Thật vậy, trong phẩm thứ 5 ( Hoa Tạng Thế giới- Tập I
tr. 259 - 353) nói về vô số thế giới ( nhiều như vi trần) với thiên
hình vạn trạng hình tướng đặc tính khác nhau :những thế
giới úp, những thế giới ngữa, vô số thế giới có hình xoay
chuyển, hình giang hà, hình nước xoáy . . giăng chéo đan nhau
như lưới trời Đế Thích( lưới Đế châu) . Ở đây,
mấy chữ trùng trùng duyên khởi của Hoa Nghiêm
được Tổ thứ 3 của Hoa Nghiêm Tông là ngài Pháp Tạng đã dùng
sự phản xạ ánh sáng qua các gương phẳng để giải thích ý nghĩa
của lưới Đế châu cho nữ hoàng Võ Tắc Thiên đời
Đường ( bên Tàu) : ngài cho đốt 1 ngọn nến ở giữa phòng rồi
đặt những gương phẳng chung quanh bốn bức tường và cả trên trần
cũng như ở sàn phòng. Ánh sáng phản chiếu cho nhiều ảnh của ngọn
nến qua các gương phẳng, các ảnh này lại trở thành vật ,được
phản chiếu nhiều lần qua các gương phẳng tạo thành vô số ngọn
nến (nhưng thực tế chỉ có 1 ngọn nến THẬT còn tất cả đều là
ảnh Ûo của ngọn nến đó do sự phản xạ ánh sáng gây ra mà
thôi ) Nếu ta lấy ngọn nến đi thì tất cả đều biến mất; nói cách
khác: Một là Tất cả, Tất cả là Một và các pháp hiện hành
trong vũ trụ chỉ là ảnh tượng của Chân như mà thôi . Xong,
ngài Pháp Tạng lấy ra một quả cầu thủy tinh nhỏ đặt trên lòng
bàn tay và giảng cho Võ Tắc Thiên: Trong quả cầu nhỏ bé này
hiện ra đầy đủ tất cả các mặt kính và tất cả sự phản chiếu
của chúng Ngài muốn chứng minh cái nhỏ chứa cái lớn
và cái lớn chứa cái nhỏ (nói theo ngôn ngữ Hoa Nghiêm là
một hạt bụi bao trùm toàn bộ pháp giới hay một
hạt cát là cả đại thiên thế giới vậy.)
Về điểm này, năm xưa sư cô Như Thủy cũng đã nói
cho chúng tôi nghe khi có một chị Phật tử ở Mỹ về kể chuyện bên
Tây bên Mỹ, những nơi mà cô ta đã đi du lịch rồi kể chuyện
Sàigòn mà mấy hôm nay cô ta đã ở. . . Chúng tôi ngồi nghe, sư
cô nói : như vậy đầu óc nhỏ bé của chúng ta đã chứa tất cả
những cảnh mà chị này vừa kể, rồi chúng ta còn hồi tưởng lại
những người, những cảnh do câu chuyện của chị ấy kể ra nữa ,có
phải không ? đầu óc chúng ta không cần phải giãn nở ra
mà những cảnh, những người cũng không cần phải thu nhỏ
lại; đó là tính vô ngại của không gian còn những chuyện
bao la vũ trụ mà chúng ta hồi tưởng lại từ thời thơ
ấu xa xưa cho đến những suy nghĩ toan tính trong tương lai, phải chăng
chúng ta đã thu nhiếp quá khứ và tương lai vào phút giây hiện
tại này ? đó là tính vô ngại của cả không gian và thời gian
vậy.
2)Vật lý cổ điển chỉ xét đến thế giới vĩ mô (
ở bên ngoài, rộng lớn) còn vật lý học hiện đại không dừng
lại ở đó mà còn tiến sâu vào trong lòng nguyên tử
Ngày xưa nhà hoá học Lavoisier chỉ nói đến phân tử và nguyên tử
nhưng ngày nay, không chỉ những nhà khoa học mà cả chúng ta nữa,
cũng đều biết rằng nguyên tử chưa phải là phần nhỏ nhất của
vật chất , bởi vì bên trong nguyên tử còn có nhân và
nhiều âm điện tử ( électrons ) chạy chung quanh; rồi trong nhân còn
có protons và neutrons nữa . . . . Tương tự, về cơ thể học các nhà
sinh vật cho rằng cơ thể con người là do các mô cấu tạo thành mà
mô là do nhiều tế bào hợp lại, mỗi tế bào lại do nhiều phân
tử , phân tử lại do 2 hay nhiều nguyên tử hợp lại mà thành,
nguyên tử lại bao gồm protons, neutrons và electrons . . . . cho nên
cái nguyên nhân đầu tiên của con người hay của thế
giới . . .vẫn không tìm ra . Nhiều lý thuyết, nhiều tranh luận và
nhiều chứng minh nhưng đuợc cái này thì kẹt cái kia, nên
vẫn không đem đến kết quả gì, vậy mới nói đó là thế giới
của sinh tử, trong đó người ta muốn chẻ một sợi tóc ra làm
bốn nhưng vẫn không phát hiện ra được điều gì mới lạ, đó
không phải là thế giới lý tưởng sự sự vô ngại pháp
giới của Hoa Nghiêm.
Trong thế giới Hoa nghiêm ,với tuệ giác tương tức
được diễn bày, cái nhìn của chúng ta được mở rộng : chỉ cần
nhìn chiếc lá cây - nhìn thật sâu- ta có thể thấy được cả bầu
trời xanh , đám mây trắng, nước, người làm vườn và trăm ngàn
yếu tố khác . Nói cách khác ta đã có thể nhìn thấy cả vũ trụ
trong chiếc lá cây bởi vì chiếc lá kia không thể một mình hiện
diện và tồn tại , mà phải cùng có mặt cùng với mặt trời,
nuớc, đám mây v..v..Ta hiểu được một cách sâu sắc hơn cái gì
là Một là Tất cả và Tất cả là một. Rồi khi
lá cây héo úa nó sẽ trở thành phân bón cho những cây khác
đang lớn lên và làm trở lại lá cây, hoa trái . . . Đó chính là
sự sinh hoá vô cùng vô tận , nói theo thuật ngữ Hoa Nghiêm đó
là trùng trùng duyên khởi
3) Bài học trong lần học trước về 4 pháp giới hay
vũ trụ quan Hoa Nghiêm là pháp giới được nhìn như -nó
-là ( as-it-is) , như thật, trong đó thế giới của hiện tương và
thế giới của bản chất giao thiệp với nhau, trộn lẩn vào
nhau một cách hoàn hão, không ngăn ngại (Lý sự vô ngại pháp
giới) Còn cái thấy của phàm phu chúng ta là thấy đủ thứ phân
biệt , ngăn cách ,chướng ngại, đó là thế giới của sinh tử .
Như vậy, chỉ cần thay đổi cách nhìn , cách tư duy, chúng ta có thể
biến thế giới sinh tử thành cảnh giới Hoa Nghiêm toàn hảo, như
cảnh của Hoa tạng thế giới vậy. ( Tuy nhiên, một chữ
đổi rất nhỏ này thôi cũng đòi hỏi công phu tu tập và
trình độ nhận thức không biết đến bao nhiêu kiếp nữa đây !J J !!)
Đến đây, ACE chúng tôi không hẹn mà đều nhớ
đến Phẩm Tịnh hạnh, phẩm thứ 11 ( tr.452- tr.467), tập I. Phẩm Kinh này
rất ngắn nhưng cốt tủy của nó rất vĩ đại đó là : sửa
đổi cái nhìn ; nhìn sao thì sống vậy. Nhìn với đủ thứ phân
biệt, với tâm yêu-ghét lấy-bỏ (xây dựng trên bản ngã nhỏ hẹp
ích kỷ) thì đó là vướng mắc trói buộc ; nhìn thấu suốt với
tâm bình đẳng vô tư thì đó là giải thoát. Sự vĩ đại được
thấy ngay khi ngưòi hỏi là Bồ tát Trí Thủ và người giải đáp
là Bồ tát Văn Thù - hai vị cao thủ của trí tuệ giải
thóat- và tổng số các câu hỏi lên tới hơn 100câu ! Bồ tát Văn
Thù trả lời : đáp án chung cho tất cả các câu hỏi là Tịnh Hạnh,
nghĩa là phải thực hành, đi một bước còn hơn nói 100 chuyện !! J J !! Thế là ngài văn Thù
bắt đầu giảng nói về chìa khóa của việc sửa đổi cái
nhìn ; đó là Xảo Nguyện ( là sự mong cầu, thỉnh nguyện thiện xảo)
. Xảo nguyện là một phương pháp giáo dục cái nhìn, tập nhìn làm
sao để cho nhữngphản xạ tâm lý không bị vướng mắc ,
phiền não. Ngài đề cập đến những chiều sâu của phép Tịnh hạnh
: đổi hướng nhìn, Phá móc xích, Trừ kiến hoặc, Thực nghiệm vô
ngã. Và phương pháp để thực hiện Tịnh hạnh là từng bước thanh
tịnh tâm ý. Ở đây ngài Văn Thù kể lại sinh hoạt bình thường
của một ngưòi từ lúc mới phát tâm bồ đề ở nhà cho đến khi
thành chú Sa Di ở chùa .. .. với đủ thứ nhân duyên ,hoàn cảnh,
điều cốt yếu là ứng với mỗi cử chỉ, hành vi trong mỗi hoàn
cảnh, người hành giả đều khởi lên một xảo nguyện
xuyên qua một bài kệ -phải nói là đại nguyện mới đúng, vì toàn
là những nguyện làm lợi ích cho chúng sanh chứ không nghĩ riêng cho
bản thân mình, không có cáita và của ta trong
đó. Đoạn này ACE chúng tôi rất thích thú vì một số các bài kệ
trong đây chính là nội dung cuả Tỳ ni thiết yếu nhật dụng
mà chúng ta đã biết , và Thầy Nhất Hạnh đã dịch thoát ra tiếng
Việt ; ví dụ như
kệ Thức dậy :
Thức dậy miệng mĩm cười
Hăm bốn giờ tinh khôi
Nguyện sống cho trọn vẹn
Mắt thương nhìn cuộc đời
Kệ Đánh Răng Súc Miệng:
Đánh răng và súc miệng
Cho sạch nghiệp nói năng
Miệng thơm lời Chánh ngữ
Hoa nở tự vườn Tâm
Kệ Rửa tay:
Múc nước để rửa tay,
Xin nguyện cho mọi người
Có đôi bàn tay khéo
Gìn giữ trái đất này
( trong phẩm này 2 câu cuối là : có bàn tay
trong sạch để giữ gìn (thọ trì) Phật Pháp)
Tuy nhiên, Tỳ ni thiết yếu nhật dụng chỉ
dành cho các chú Sa di trong chùa còn trong phẩm Tịnh hạnh thì nói về
cuộc sống từ khi còn ở nhà với đầy đủ thất tình lục dục ,
nên ở đây những bài kệ dành cho bồ tát tại gia có
đầy đủ hình ảnh của cha mẹ, vợ con, v..v.. và với những hình
thức hưởng lạc của thế gian, nhưng đã lồng vào những lời
nguyện rất thiện xảo, có tác dụng thức tỉnh hành giả một cách
rất tài tình ; ví dụ như :
Bồ tát ở nhà
Nguyện rằng chúng sanh
Biết nhà tánh Không
Tránh mọi bức bách
Hay :
Hiếu thảo cha mẹ
Nguyện rằng chúng sanh
Khéo phụng sự Phật
Chăm sóc hết thảy
Vợ con sum vầy
Nguyện rằng chúng sanh
Oán thân bình đẳng
Vĩnh ly tham trước
Được hưởng ngũ dục ,
Nguyện rằng chúng sanh
Nhổ mũi tên dục
Cứu cánh yên ổn
Ca nhạc tụ họp
Nguyện rằng chúng sanh
Vui với chân lý
Biết nhạc là giả
v..v.. và v..v..
Thế cho nên mới nói trước đây chúng ta chỉ thực
tập và đem dạy các em áp dụng một phần nhỏ của Tỳ ni thiết
yếu với vài chục bài kệ, với sinh họat của một chú sa di,
còn ở đây có tới trên 140 bài !! J J !! Hôm nay khi ngồi viết lại bài học kinh Hoa
nghiêm này , chúng tôi còn nhận được 2 cuốn in 2 Phẩm Hoa
Nghiêm ( phẩm Tịnh Hạnh và Phẩm Như Lai Hiện Tướng) do CE dịch và
lược giải, Bảo Phật Thánh Hội ấn tống - 2001 ; thật đúng là
nóng hổi hổi vừa thổi vừa đọc ( thật là một thiểu
sót lớn vì chúng tôi không biết được CE là ai và nguồn gốc
của Bảo Phật Thánh Hội . Xin ACE nào biết vui lòng soi sáng cho. )
4) Bài học thứ 4 là : Thí nghiệm về phản xạ ánh
sáng mà Tổ Pháp Tạng làm cho Võ Tắc Thiên coi đem đến cho ACE
chúng tôi một bài học về các mối tương quan giữa vật thật với
ảnh ảo - cái nào ảo cái nào thật , không quan trọng ,nhưng cái
khả năng được tấm gương phản xạ để tạo thành một ảnh khác ,
rồi ảnh này lại trở thành vật, cho qua 1 tấm gương khác , một ảnh
khác nữa v..v.. bài học này thật sự chỉ đến với ACE trong thời
điểm học Hoa nghiêm mà thôi ( chứ bài vật lý về gương phẳng thì
ai cũng đã biết từ hồi còn nhỏ, từ năm học lớp 8 kia mà !!!J J !!) : đó là : hãy
tưởng tượng đức Phật đang ngồi trước mặt ta và đang giảng
Pháp cho ta ( chúng ta) , xin hỏi : đó có phải là mối liên hệ hai
chiều giữa người nói (đức Phật) và người nghe (ta) hay không?
Thật vậy, nếu ta tưởng tượng như có một tấm kính đặt
trước mặt đức Phật và ta ; tấm kính (vô hình) có khả năng phản
chiếu đức Phật và ta; nghĩa là trong phòng bây giờ có Đức Phật
và ảnh của Ngài, ta và ảnh của ta . Trong đại chúng có 3 ý kiến :
* đó là mối tương quan 4 chiều, trong đó:
a) đức Phật đang giảng Pháp và ta đang lắng nghe ( quan
hệ 2 chiều)
b) đức Phật trong tâm ta đang giảng pháp và người
ở trong tâm Phật đang lắng nghe ( 2 chiều khác)
**quan hệ 4 chiều, trong đó:
- đức Phật đang thuyết pháp và ta đang lắng nghe ( quan hệ 2 chiều)
- đức Phật trong tâm ta đang lắng nghe đức Phật bên ngoài thuyết
pháp ( 2 chiều)
*** nếu tưởng tượng thêm 1 chút là tấm gương đó
ở trong phòng gương thì lúc đó không chỉ có ảnh của
đức Phật và ảnh của ta (chúng ta) mà là có vô số ảnh rồi -
cái nào thật cái nào ảo ? có bao nhiêu mối quan hệ ? Thật hay ảo
có còn quan trọng chăng ? có bao nhiêu mối quan hệ có còn quan trọng
không ? v..v.. Chúng ta hãy dừng lại 1 chút để nhớ về lời dạy
của đức Phật trong kinh Kim cang đi :
Hết thảy các pháp hữu vi ( Nhứt thiết hữu vi
pháp
Như mộng, như huyễn, như bọt nước Như mộng, huyễn,
bào ảnh
Như sương mai, như ánh chớp Như lộ diệc như điển
Nên khởi lên cái nhìn như vậy Ưng tác như thị quán)
Vì không có thầy Cố vấn giáo hạnh ở đây nên
không biết câu hỏi này có nên đặt ra không và câu trả lời
nào thích hợp . Tuy nhiên ý kiến thứ 3 với lời nhắc nhở đến
kinh Kim Cang của bạn ấy làm ACE chúng tôi thật tình giật mình tỉnh
thức.
5) Có một bạn đem điều tâm đắc của mình ra chia xẻ
với Chúng ; đó là trong khi học Hoa Nghiêm đến phẩm thứ 30- phẩm A
tăng kỳ - bạn ấy mới biết được na do tha là gì và mới
phát hiện đức Phật đã đọc tên được những số vô cùng lớn
cách đây mấy ngàn năm , trong khi đó, cho đến bây giờ chúng ta
cũng chỉ đọc tên được đến số 10 lũy thừa 12 = 1triệu triệu mà
thôi . Này nhé, ở trang 170 tập III , phẩm A tăng kỳ , đức Phật
nói :
(1 lạc xoa = 10 vạn tức là 100.000 =10 lũy thừa 5 và
câu chi lần câu chi nghĩa là bình phương của câu chi ):
100 lạc xoa =1 câu chi ; câu chi lần câu chi = 1 A giu đa ;
A giu đa lần a giu đa = na do tha ; na do tha lần na do tha = 1 tần bà la ;
Tần bà la lần Tần bà la =1 căn yết la ; căn yết la lần căn yết la
= 1 A già la ; A già la lần A già la = 1 tối thắng v..v..
Nói theo ngôn ngữ toán của chúng ta ngày nay là :
"Mười lũy thừa mười nhân mười lũy thừa
mười bằng mười lũy thừa hai mươi; mười lũy thừa hai mươi
nhân mười lũy thừa hai mươi bằng mười lũy thừa bốn mươi;
mười lũy thừa bốn mươi nhân mười lũy thừa bốn mươi bằng
mười lũy thừa tám mươi; mười lũy thừa tám mươi nhân mười
lũy thừa tám mươi bằng mười lũy thừa 160; mười lũy thừa 160
bình phương bằng mười lũy thừa 320; ... ... ...; số đó bình phương
bằng mười lũy thừa 101 493 292 610 318 652 755 325 638 410 240; số đó
bình phương làm thành một a tăng kỳ (incalculable=không thể tính toán
được); a tăng kỳ lũy thừa bốn làm thành một vô lượng
(measureless= không thể đo lường được ); vô lượng lũy thừa bốn
làm thành một vô biên (boundless); vô biên lũy thừa bốn làm thành
một vô đẳng (incomparable= không thể so sánh được ); vô đẳng lũy
thừa bốn làm thành một bất khả sổ (innumerable); bất khả sổ lũy
thừa bốn làm thành một bất khả xưng (unaccountable); bất khả xưng
lũy thừa bốn làm thành một bất khả tư (unthinkable); bất khả tư
lũy thừa bốn làm thành một bất khả lượng (immeasurable); bất khả
lượng lũy thừa bốn làm thành một bất khả thuyết (unspeakable);
bất khả thuyết lũy thừa bốn làm thành một bất khả thuyết bất
khả thuyết (untold); bất khả thuyết bất khả thuyết bình phương làm
thành bất khả thuyết bất khả thuyết chuyển."
Thế đấy, từ 1 căn yết la = 10 lũy thừa 112
!! J J !! là ta đã
không có tên gọi nữa nhưng đức Phật thì cứ gọi tiếp cho tới 5
trang kế tiếp ; các bạn cứ tưởng tượng xem từ lạc xoa
đến căn yết la là mới có 5hàng , mà số lượng đã
lên tới 10 lũy thừa 112 ! vậy mà đây Phật cứ gọi tên như vậy
cho tới thêm 5 trang nữa cho đến khi đến cái mà đức Phật gọi
tên là bất khả thuyết bất khả thuyết chuyển mới
chịu ngưng. Hèn gì ngày xưa khi còn bé đức Phật đã nổi tiếng
giỏi Toán nhất, đã đếm được đến những con số không ai hình
dung nỗi ! Tài năng tóan học của ngài cũng đã được kể lại
trong Lalitavistara ( Phổ diệu Kinh) rằng trong 1 cuộc thi đếm số lượng
mà ngài đã thắng giải, ngài đã làm cho vị giám khảo phải qùy
xuống bái phục! Đây là một ngạc nhiên thích thú của ACE chúng
tôi mặc dù không ai đọc nỗi 1 lần những con số khổng lồ ghi ở
đầu phẩm này khi đức Phật trả lời câu hỏi của Tâm Vương Bồ
Tát về thế nào là a tăng kỳ, thế nào là bất khả
thuyết bất khả thuyết. Thật đúng là trí Phật sáng ngời
như Trăng sáng
6) Mặc dù pháp giới trùng trùng vô tận nhưng đức
Phật đã vì Bồ tát Tâm Vương mà tóm tắt những cái vô
cùng nhỏ (trên đầu mỗi sợi lông) chứa đựng những cái vô
cùng lớn ( sơn hà đại địa) để mô tả pháp giới nhiệm mầu kỳ
diệu của Hoa nghiêm ; chúng ta hãy nghe (tr. 174-tr.181) :
"Bất khả ngôn thuyết bất khả thuyết
Sung mãn tất cả bất khả thuyết
Trong những kiếp bất khả ngôn thuyết
Nói bất khả thuyết chẳng hết được.
Bất khả ngôn thuyết các cõi Phật
Thảy đều nghiền nát làm vi trần
Trong một trần, bất khả thuyết cõi
Như một, tất cả đều như vậy.
... ... ...
Ở trên bất khả thuyết đầu lông
Đều có cõi tịnh bất khả thuyết
Nhiều thứ trang nghiêm bất khả thuyết
Nhiều thứ kỳ diệu bất khả thuyết."
. . .
"Chỗ một đầu lông cõi lớn nhỏ
Tạp nhiễm thanh tịnh cõi thô tế
Tất cả như vậy bất khả thuyết
Mỗi mỗi rõ ràng phân biệt được.
Đem một cõi nước nghiền làm bụi
Bụi đó vô lượng bất khả thuyết
Trần số vô biên cõi như vậy
Đều đến đồng nhóm đầu một lông.
Những cõi nước này bất khả thuyết
Đồng nhóm đầu lông không chật hẹp
Chẳng khiến đầu lông có thêm lớn
Mà những cõi kia chung đến nhóm.
Trên lông tất cả những cõi nước
Hình tướng như cũ không tạp loạn
Như một cõi chẳng loạn các cõi
Tất cả cõi nước đều như vậy."
v..v.. và v..v..
- đến dây ACE chúng tôi phải hiểu nghĩa và làm quen với số
lượng bất khả ngôn thuyết bất khả thuyết của ngài
rồi !-
Qua 6 bài học trên đây, ACE chúng tôi kết thúc buổi
học Kinh hôm nay và cũng tạm kết thúc học Kinh Hoa Nghiêm để đi qua
Kinh Duy Ma Cật.
Một bạn vừa lai tỉnh- ra khỏi thế giới Hoa
nghiêm làm bạn ấy ngây ngất - đọc tặng mọi người bài
thơ bạn ấy vừa sáng tác, tạm gọi là tức cảnh Hoa
nghiêm như sau :
Theo em lên tầng phi tưởng
Chợt nghe sắc tướng đi vong
Ngàn lời thoắt hoá thành không
Dấu chân trên cát mênh mông thiên đường
Lạnh tanh nhìn bóng tịch dương
Dửng dưng ảo ảnh chiều buông lặng lờ
Ta nhìn em- lạ tuổi thơ
Rồi nhìn ta lại - Dại khờ như xưa
Trăng tròn rung ánh sao thưa
Có ngôi tinh đẩu gọi mùa Đông qua
Ta nhìn em- lại nhìn ta
Dường như mình đã tiêu pha một đời.
Tài liệu tham khảo:
Kinh Hoa Nghiêm (4 tập- Thầy Trí Tịnh Việt dịch)
Thiền Luận Suzuki ( quyển 3 - Thầy Tuệ Sỹ Việt dịch)
Phật Học ( Bài Viên Dung Vô Ngại của GS
Hồng Dương )
Kinh Hoa Nghiêm-Phẩm Tịnh Hạnh ( CE dịch và lược giảng-
Bảo Phật Thánh Hội xuất bản -2001)