Lá Thư Thầy
Tỳ Kheo Viên Minh
---o0o---
[21]
Ngày ..... tháng ..... năm
.....
Con,
Thầy đã nhận được
thư con, Thầy biết không chính xác nhưng biết chắc rằng
con đang gặp phải một nỗi khó khăn. Thầy tự trách là
quá thờ ơ với những nỗi khổ của con. Nhưng Thầy cũng
trách con là đã không nói thật hoàn cảnh của con cho Thầy
biết. Con sợ làm phiền Thầy, con sợ đánh mất sự thanh
thản của Thầy, và vì vậy con đóng kịch để Thầy yên
tâm. Con đã lầm với thiện ý ấy. Chính ra Thầy cần phải
biết mọi nỗi khổ ở đời để sửa sai mình và nuôi lớn
tình yêu thương nhân loại.
Thầy rất dễ chủ
quan với tâm hồn thanh thản của mình, tưởng cái gì cũng
dễ dàng, tưởng cái gì cũng nhẹ nhõm và rồi phớt tỉnh
trước mọi sự, trước mọi nỗi khổ đau của nhân loại
chúng sanh. Không, con hãy đem đến cho Thầy những nỗi khổ
đau phiền muộn của con để Thầy biết yêu thương và
thông cảm, để Thầy có thể chia sẻ và gánh vác cùng tha
nhân những nỗi thống khổ ở đời.
Có yêu thương là có
đau khổ, điều ấy chỉ đúng cho những ai bị hệ lụy
trong vòng ái luyến vị kỷ. Nhưng nếu lòng từ ái vị tha
có đem lại khổ đau thì khổ đau ấy chỉ giúp ta càng
thêm lớn mạnh.
Chung quanh ta biết bao
là ràng buộc khổ đau! Cha mẹ, chồng con, anh chị em, Thầy,
bạn, xóm giềng và cả sự sống của bản thân ta nữa. Tất
cả đều trở nên hệ lụy nếu ta cứ loay hoay trong vòng
tính toán vị kỷ và tình thương ấy quả chỉ đưa ta vào
khổ não triền miên. Nhưng nếu tình yêu thương lột bỏ
được tính chất ích kỷ thì tất cả mọi khổ đau sẽ trở
thành giải thoát.
Tuy nhiên vị tha không
có nghĩa là đánh mất mình mà cứ loay hoay lo cho kẻ khác.
Vị tha chỉ có nghĩa là gột sạch tính ích kỷ hắc ám để
ta có đư?c một tấm lòng trong sáng, cởi mở, sẵn sàng
chia sẻ và cảm thông với người. Ta có thể giúp đỡ kẻ
khác, ta cũng có thể dửng dưng hoặc thậm chí có thể xua
đuổi kẻ khác, tùy theo hoàn cảnh mà vẫn có lòng vị tha.
Ðôi lúc lo cho kẻ
khác chỉ để được lòng người, để người kính nể, để
người thương mến v.v... Ðôi lúc lo cho kẻ khác vì sợ
hãi, vì cả nể, vì nhu nhược, vì danh dự, vì tự tôn hoặc
tự ti v.v... Ðôi lúc lo cho kẻ khác vì bị nô lệ vào ý tưởng
rằng mình sẽ được một đức tính vị tha mà mọi người
ưa chuộng. Như vậy, không phải là vị tha mà chỉ là vị
kỷ.
Lòng vị tha chỉ có
khi thành thực với chính mình, với hoàn cảnh, với mọi người.
Không nên vị tha quá sức mình, không nên vị tha một cách
bất đắc dĩ, không nên vị tha để khoa trương, không nên
vị tha để hóa trang cho lòng ích kỷ hoặc che giấu một sự
thật chua cay. Khi Thầy đói con chia sớt cho Thầy nắm cơm hạt
muối, đó là thành thực vị tha. Vị tha không phải chỉ
có cho mà không nhận. Vị tha cũng không cân lường bằng số
lượng mà giá trị ở tấm lòng. Tấm lòng chân thành, cởi
mở và thương yêu.
Thầy có thể không có
tiền để cho ai một đồng nào mà Thầy vẫn vị tha. Thầy
có thể sống bằng sự bố thí của tín đồ mà vẫn vị
tha v.v... Bởi vì nếu Thầy có một tấm lòng bao dung cởi mở
thì cho hay nhận đều là vị tha, đón mời hay xua đuổi đều
là vị tha, giúp đỡ hay cầu viện đều là vị tha v.v...
Ở quê Thầy có nhiều
người đỗ đạt, cưới vợ hoặc được thăng quan tiến
chức họ thường có tục lệ đãi đằng hàng xóm. Có khi họ
phải vay nợ đến phải trả hàng chục năm mà vẫn phải
đãi đằng! Họ tưởng như thế là vị tha. Họ có thể phải
nghèo khổ nợ nần cả đời đôi khi chỉ vì một chút hư
danh! Rõ ràng là họ thiếu thành thực và cởi mở.
Bên Lào người ta có
phong tục thật cởi mở. Khi dư thì đem đến chùa cúng, khi
thiếu thì cứ đến chùa mà ăn. Phong tục ấy thành thực hơn
tục lệ đãi đằng của mình rất nhiều.
Tất nhiên nếu chỉ nhận
mà không cho vì lười biếng, ích kỷ thì không được.
Nhưng nhận trong hoàn cảnh khó khăn khách quan nào đó thì
chẳng có gì đáng ngại, chẳng đánh mất lòng vị tha nếu
ta chân thành cởi mở.
Nếu con chân thành
kính mến Thầy thì không phải chỉ cúng dường Thầy mà
khi thiếu hụt con có quyền được Thầy chia sớt. Bởi vì
nếu con chỉ cúng dường thì khi không có gì để cúng dường
con phải lánh Thầy hay sao?
Dân miền Trung thường
bị thiên tai bão lụt, thường phải nhận sự giúp đỡ của
những người hảo tâm ở miền nam. Như vậy chưa hẳn dân
miền Trung đã không có tình yêu thương đồng loại. Nhưng
nếu người miền nam bố thí đồng bào nạn nhân một cách
khinh bỉ, cao ngạo thì họ cũng chỉ là những người ích kỷ,
xan tham.
Thường người ta hiểu
chữ vị tha theo nghĩa lo bao đồng mà quên rằng vị tha cốt
ở tấm lòng thành thực, bao dung và cởi mở.
Thường người ta hiểu
chữ vị tha là lòng tự ái, chỉ giúp người chứ không chịu
để người giúp mình, e đó là một cái nhục.
Vì hiểu như thế người
ta đã tạo cho đời mình thêm phức tạp với những hành động
thiếu thiết thực, thiếu chân thành.
Con thương mến,
Hãy bắt tay vào đời
sống một cách chân thành và thiết thực. Hãy làm những
điều cần thiết, giản dị và cởi mở. Hãy lo cho mình,
cho chồng con, cho cha mẹ, cho anh em một cách thiết thực với
khả năng của mình, không buông trôi hờ hững cũng không
làm quá sức mình, hoặc làm điều không cần thiết.
Thầy mong rằng con có
thể vượt qua được những khó khăn hiện tại bằng cách
sống cởi mở chân thành, giản dị và thiết thực.
Chúc con thành công.
Thầy.
[22]
Ngày ..... tháng ..... năm
.....
Con thân mến,
Khi người ta nói "một
tâm hồn thánh thiện trong một cơ thể tráng kiện"
là người ta lý tưởng hóa đời sống quá, người Tây phương
ưa cái gì cũng hoàn hảo như thế đó. Trái lại người bình
dân Ðông phương có khi thực tế hơn. Họ nói: "Một
mái nhà tranh, hai quả tim vàng". Hai vấn đề tuy không
cùng một lãnh vực vậy mà vẫn nói lên hai cái nhìn khác
biệt về đời sống, người nói câu "Un esprit saint
dans un corps sain" ắt cũng sẽ nói "hai
quả tim vàng trong một tòa cung điện".
Như vậy người Ðông
phương chú trọng đến quả tim vàng hơn là tòa cung điện,
chú trọng đến tâm hồn thánh thiện hơn là một cơ thể
cường tráng. Họ có lý bởi vì quả tim vàng hay tâm hồn
thánh thiện thì cần gì phải có một điều kiện lý tưởng
đến thế! Họ càng có lý hơn vì thực tế đời sống bao
giờ cũng có thăng, có trầm, có vinh, có nhục, có được,
có mất, có hơn, có thua, có thành, có bại, có vui, có khổ,
có lành mạnh, có bịnh tật, có trẻ, có già, có sinh, có
chết v.v... Nếu ta cứ mong cái gì cũng tốt cả thì làm sao
ta chịu nổi sự biến đổi vô thường?
Chính vì thế trong mười
điều tâm niệm mới dạy: "Nghĩ tới thân không cầu
vô bịnh vì thân không bịnh tất tham dục dễ sanh".
Thứ nhất khi ta cầu mong không bịnh là tâm hồn ta đã bịnh
hoạn rồi, nếu tâm hồn ta lành mạnh ắt không cần đòi hỏi
thân phải cường tráng.
Thứ hai nếu thân
không bịnh thì quả là tham dục dễ sanh, như người tham
ăn mà không đau bao tử ắt sẽ tham ăn hơn nữa; người nóng
nảy không đau gan thì còn ai chịu được. Vậy bịnh là
thiên sứ của vô thường, hay bậc thiện tri thức của ta
đó, người ta cứ xem bịnh như kẻ thù mà không biết rằng
nó là bản thân. Khi đưa tay vào lửa nếu tay không nóng,
không phỏng ắt là nó sẽ cháy tiêu mà không hay biết. Vậy
nóng, phỏng là bạn của ta chứ sao gọi là thù. Vì thế ta
còn phải học hỏi nơi người bạn chí thân này nhiều lắm.
Khi con ăn một chất
âm hàn nhiều quá con thấy đau bụng lạnh, vậy là nó dạy
con phải dùng một cái gì dương nhiệt để chế lại. Khi
con đi nắng bị nhức đầu vậy là nó dạy con lần sau phải
đội vào một cái nón v.v... Cho nên ta còn phải học hỏi nơi
người bạn này rất nhiều bài học giá trị. Nhưng nếu ta
xem nó là kẻ thù, ta tiêu diệt nó thì e rồi ta cũng phải
chết theo, vì còn ai báo cho ta biết tử thần sắp tới đâu!
Trong khi bịnh con thấy
đau đớn, thế mà một bức thư Thầy lại viết: "Ðau
chính là tu. Ôi đau đớn mới tuyệt vời làm sao!".
Thầy nói vậy vì trong một cơn đau thập tử nhất sinh Thầy
đã giác ngộ lại chính mình, nhờ đó Thầy mới biết tất
cả chân lý ở nơi mình, Thầy đã thấy ra bản lai diện mục
cũng chẳng là ai khác. Thầy nhớ có một hành giả đến hỏi
đạo, bị thiền sư đóng sầm cánh cửa khi ông ta vừa bước
chân vào, chân gãy, thiền sinh đại ngộ. Như vậy có tuyệt
vời không.
Bây giờ nếu con đau mà
con an ổn được trong chính cơn đau thì con còn tuyệt vời
hơn khi con lành mạnh mà con lại bị đắm chìm. Con không thấy
như thế sao? Lão Tử nói: "Phù duy bịnh bịnh thị dĩ
bất bịnh". Ôi, bịnh chỉ là bịnh thì đâu có gì
là bịnh!
Khi bịnh con biết con
có bịnh. Khi đau đớn, con biết con có đau đớn. Khi phải
uống thuốc, con biết con uống thuốc... Mọi việc đều trầm
tĩnh an nhiên, rồi con sẽ học ra mọi lẽ, rồi con sẽ thấy
thật là tuyệt vời.
Thầy ngừng bút nhé.
Thầy.
[23]
Ngày ..... tháng ..... năm
.....
Con,
Quả là thư trước của
con bị lạc nếu không Thầy đã trả lời rồi, Thầy rất
thông cảm với tâm trạng của con lúc này. Ðó chỉ là một
giai đoạn khủng hoảng tất yếu khi con lột bỏ những quan
niệm cũ để sống một đời sống mới. ở ngoài đời
cũng vậy, một cuộc cách mạng tất yếu phải trải qua thời
kỳ khủng hoảng với bao nỗi mâu thuẫn khó khăn. Nhưng con
hãy an tâm, chẳng qua là vì con đang mất chân đứng cũ mà
chưa lấy lại được thăng bằng trên bước chân mới mà
thôi và rồi việc gì cũng đâu vào đó.
Khi chưa biết đạo,
người ta thấy núi là núi, nhưng sau thuần đạo rồi người
ta lại thấy núi cũng vẫn là núi mà thôi. Cũng vậy, người
đời làm cái gì thì kẹt vào cái đó, như con đã kẹt vào
cái tu, cái học. Sau khi được khai thị cho thì lại bỏ tu,
bỏ học, bỏ hết tất cả. Cuối cùng khi đạo đã thâm trầm
thì té ra cũng tu, cũng học, cũng làm tất cả, không bỏ thứ
gì.
Lúc đầu là thụ
(chấp trước), lúc giữa là xả (buông bỏ),
sau cùng là bất thụ bất xả (không nắm mà
cũng không buông) như Lão Tử nói: "Vô vi nhi vô bất
vi". Vô vi nhưng không việc gì không làm.
Vì vậy Thầy khuyên
con trước hết hãy học hành lại như lúc đầu, xem như đó
là chuyện bình thường. Có thể con sẽ học siêng năng
hơn, có thể con sẽ ganh đua với chúng bạn, có thể con phải
quyết chí đỗ đạt cao v.v... Tuy vậy mà con vẫn thấy
bình thường, không một chút bận tâm như ngày xưa còn mê
muội, còn tham đắm. Ðáng lẽ với sự thanh thản ấy con
phải tiến hơn các bạn trên mọi mặt chứ không thể sa
sút được. Thầy e rằng trong lúc giao thời con còn quá nhiều
phân vân lưỡng lự nên nó đã làm cho con chưa lấy lại
được khả năng của con người ổn định.
Lúc Thầy học lớp 12
bị chi phối bởi ý nghĩ xuất gia, Thầy đã bị sa sút nhiều
trong việc học, và bị thi hỏng một keo, thế mà vào tu Thầy
lại học rất giỏi. Ở Phật Học viện, Thầy lãnh bằng
danh dự hạng nhất, ở trường London School Thầy dẫn đầu
lớp học, ở đại học Thầy dẫn đầu các môn mà Thầy học
sau chúng bạn.
Chính nhờ sự sáng suốt,
bình thản, an nhiên mà Thầy mới học khá như vậy. Cho đến
bây giờ thì Thầy mới hiểu rằng đạo không thay đổi bất
cứ một sinh hoạt nào của ta cả. Ðạo chỉ soi sáng tâm hồn
để ta có thể sinh hoạt chân, mỹ, thiện hơn mà thôi.
Một người làm nông
ngộ đạo sẽ không bỏ cày mà cày cấy với năng suất cao
hơn.
Một người đi học ngộ
đạo, sẽ không bỏ học mà học hành giỏi hơn.
Bây giờ ở tuổi con
là đi học. Hãy học một cách sáng suốt, trầm tĩnh là đạt
được chỗ chân của đạo. Hãy học một cách
chân thành, bài nào thông suốt bài đó, môn nào chu tất
môn đó là đạt được chỗ mỹ của đạo. Hãy
học với thiện ý giúp mình, giúp cha mẹ, gia đình, xã hội
v.v...là đạt đuợc chỗ thiện của đạo.
Ðạo là sáng suốt vững
chắc, không thể là trạng thái buông lung, hững hờ trước
mọi sự. Trái lại mỗi mỗi hành động, mỗi mỗi ý nghĩ,
mỗi mỗi lời nói phải rõ ràng, minh bạch, phải đạt chỗ
chân, mỹ, thiện vô cùng giản dị của nó.
Học đạo quý vô
tâm
Làm, nghĩ, nói không lầm
Sáng trong và lặng lẽ
Giản dị mới uyên thâm.
Ðạo chính là việc học
của con. Khi con học, con nghĩ, con nói minh bạch, không lầm
lẫn là đạo. Khi con học với tâm sáng suốt là chân, với
tâm trong sạch là thiện, với tâm lặng lẽ là mỹ. Việc học
của con như vậy sẽ vô cùng giản dị và vô cùng uyên
thâm.
Vậy ra con tưởng có một
lý tưởng đạo nào đó ngoài công việc hàng ngày, ngoài bổn
phận làm người, ngoài uống, ăn, đi, đứng hay sao?
Người ta thường tưởng
rằng mình phải đâm bổ vào một lý tưởng siêu thoát, một
đạo lý cao siêu, một lối sống phi phàm ra ngoài thế sự.
Nhưng họ lầm to, họ chỉ càng trầm luân như những con thiêu
thân lao đầu vào ánh sáng.
Ngày nọ có một người
Phật tử lật đật dựng xe đạp để vào chùa nghe giảng
Siêu lý (Abhidhamma) đã không biết rằng chiếc xe đạp
của anh ta đè gãy một cành hoa bên tường chùa! Anh ta tưởng
có cái gì siêu lý ngoài việc dựng chiếc xe đạp sao cho đàng
hoàng, trầm tĩnh, sao cho đừng hại tới ai. Và cứ thế anh
ta thả mồi bắt bóng, tìm cái giả, bỏ cái chơn, tìm sinh
tử bỏ Niết-bàn mà cứ tưởng rằng mình sẽ đến nơi siêu
việt.
Con thương mến,
Hãy sáng suốt, hãy trầm
tĩnh, hãy hiền hòa trong mỗi bước đi của mình trên đường
đời. Bỏ mất mỗi giây phút là bỏ mất tất cả, vì thế
tướng dụng trọn vẹn chính là mỗi bước đi, trong từng
giây phút thực tại hiện tiền.
Quá khứ không truy tầm
Tương lai không ước vọng
Quá khứ đã đoạn tận
Tương lai thì chưa đến
Chỉ có pháp hiện tại
Tuệ quán chính là đây
Không động, không rung chuyển
Biết vậy nên tu tập
Hôm nay nhiệt tâm làm
Ai biết chết ngày mai
Không ai điều đình được
Với đại quân thần chết
Trụ như vậy nhiệt tâm
Ðêm ngày không mỏi mệt
Xứng gọi nhất dạ hiền
Bậc an tịnh trầm lặng.
(KINH NHẤT DẠ HIỀN GIẢ)
Nhưng pháp hiện tại
là gì? Là khi con đang học hãy hoàn toàn vào việc học. Khi
con dựng xe hoàn toàn vào việc dựng xe v.v... Không phải học
mà bỏ bê, không phải dựng xe mà mơ siêu lý.
Con thương mến,
Ðạo giản dị biết
là bao phải không con? Nào, hãy bắt tay trở lại việc học
của con, không động, không rung chuyển, hôm nay nhiệt tâm
làm...
Khi nào rảnh con hãy mượn
thư Thầy viết cho các bạn mà đọc lại chứ con còn yếu
lắm đó.
Chào con thương mến.
Thầy.
[24]
Ngày ..... tháng ..... năm
.....
HP con,
Thầy đã nhận được
thư con viết trong kỳ coi thi vừa qua. Ðáng lẽ Thầy trả lời
để gửi ra nhân TH và YT về Ðà Nẵng nhưng rồi đến bây
giờ Thầy mới viết được.
Ðọc thư con Thầy vui
lắm, thư con viết rõ ràng và chân thực chứng tỏ rằng
con thành tâm học đạo. Con đã trình bày rất thành thực về
những niềm tin của con trước đây, về những gì con học
hỏi được qua lần tiếp xúc đầu tiên với Thầy và qua bức
thư ngắn Thầy viết cho các con.
Trước đây con cũng không
hiểu sai khi suy nghĩ: "Ðạo Phật là gì đó hết sức
thiêng liêng cao quý... là nơi nhìn thấu suốt mọi điều của
cuộc sống đúng sai, thật giả... và con người trước tượng
đài uy nghiêm của Ðức Phật không thể để điều ác lấn
điều thiện, không thể có những bóng dáng lừa đảo, dối
trá trong ý nghĩ của mình..." và với niềm tin như vậy
"đã có lúc con nguyện cầu thành khẩn mong gia đình và
tất cả những người thân quen luôn luôn được bình an.
Ðó là lúc con cảm thấy con người sao quá bé nhỏ với
thiên nhiên, con linh cảm đến những điều bất trắc... và
con đã gởi gắm bao điều mong ước tốt lành cầu mong đấng
vô hình che chở cho những người thân yêu..."
Ý nghĩ đó cũng thật
là dễ thương dù có hơi mơ hồ huyền hoặc. Chính ý nghĩ
đó của chúng sinh đã làm xúc động lòng từ của chư Bồ
Tát, và các Ngài xuất hiện ở đời để chỉ bày con đường
thoát khổ.
Ðó là hình ảnh Ðạo
Phật của những người đức tin, lý tưởng, thi vị, linh
thiêng và mơ mộng. Nhưng cũng chính niềm tin ấy đã xoa dịu
biết bao nhiệt não khổ đau của cuộc đời, đã đem đến
cho đời ít nhiều an ổn, hạnh phúc và hướng thượng.
Ngày nay khi con đã nhận
chân được con đường thoát khổ, con đã biết tự mình
giác ngộ, tự mình chế ngự, tự mình chọn lựa thiện
ác, đúng sai... lúc đó một Ðức Phật trong con vẫn uy
nghiêm không để điều ác lấn điều thiện không có bóng
dáng lừa đảo, dối trá trong ý nghĩ của con... Thì ra những
mơ mộng lúc đầu trong niềm tin của con cũng không sai mấy,
bây giờ nó chỉ thực hơn, rõ hơn mà thôi, phải không con?
Và rồi lúc đó con vẫn
tiếp tục thấy chân lý thật là vô biên đối với những
tư kiến, tư dục nhỏ bé của con người, tấm lòng con sẽ
cởi mở bao dung thương yêu muôn loài... Con muốn bình an
hãy đến với mọi loài, con mong mọi người thấy rõ con
đường thoát khổ.
Ðó là hình ảnh Ðạo
Phật của những người đang thoát xác Ðức Tin để đi vào
con đường Trí Tuệ. Ở đây, Ðạo Phật được thể hiện
một cách rõ ràng thiết thực, bằng những bước đi, những
hơi thở, những cảm giác, những suy tư tràn đầy chân lý
sáng suốt - định tĩnh - trong lành. Giải thoát và bình an nằm
ngay nơi những hơi thở, những bước đi hiện thực đó, phải
không con? nhưng muốn thể hiện chân lý và hạnh phúc như vậy
phải trải qua một quá trình tu tập từ tự tri, tự giác,
tự chủ, tùy dụng đến vị tha, nói chung là con đường tự
giác giác tha.
1) TỰ TRI: Là giai đoạn
tập quay lại với chính mình (Chánh niệm) và tự soi
sáng mình (Tỉnh Giác) trong từng hành động của thân
và khẩu, trong từng cảm giác khổ, vui... trong từng tình cảm
ưa ghét... trong từng ý hướng thiện ác thị phi... Có tự
tri mới khám phá ra được mọi khía cạnh, mọi vận
hành, mọi trạng thái của thân tâm, xưa nay bị phủ kín
trong rừng vô minh ái dục. Có tự tri mới "không
ngờ tự tánh mình vốn tự đầy đủ, tự tánh có thể
sinh muôn pháp, tự tánh vốn tự thanh tịnh, tự tánh vốn
không sinh diệt..."
2) TỰ GIÁC: Khi đã tự
tri đúng pháp, con bắt đầu thấy rõ những nguyên nhân vi tế,
ẩn kín và sâu xa nhất của luân hồi sinh tử và thanh tịnh
Niết-bàn. Nghĩa là con thấy rõ đây là khổ, đây là
nguyên nhân vi tế của sự khổ, đây là tịch tịnh giải
thoát, đây là con đường thể hiện tịch tịnh giải thoát
ngay nơi mỗi động tịnh vi tế của thân tâm con. Ðức Phật
dạy khi nào một người thấy được tự nơi mình "đây
là sinh, đây là diệt, đây là không sinh diệt" người
ấy chứng được pháp nhãn.
3) TỰ CHỦ: Khi thấy
rõ mọi động tịnh, mọi vận hành, mọi trạng thái, mọi
khuynh hướng... nơi thân tâm, lại thấy sự sinh diệt và
không sinh diệt của chúng, con bắt đầu có thể chế ngự
các pháp ấy trong con, con làm chủ sinh tử luân hồi và đồng
thời làm chủ thanh tịnh Niết-bàn, nghĩa là con không còn bị
chúng sai sử và buộc ràng nữa.
4) TÙY DỤNG: Khi thoát
khỏi sự ràng buộc của các hoạt động nội tâm và ngoại
giới, con bắt đầu tùy nghi sử dụng các pháp đó nơi con.
Lúc đó con muốn hành động, nói năng, suy nghĩ thế nào đều
như ý mà không sợ sai trái... Mọi pháp tùy con sử dụng,
đến đi vô ngại, tiến thoái tùy nghi.
5) VỊ THA: Tất nhiên
khi con đã sử dụng thân tâm một cách nhuần nhuyễn, tròn
đầy sáng suốt, định tĩnh, trong lành thì mọi động tịnh
đều lợi mình, lợi người. Lúc đó con mới thực sự đem
lại an lạc cho đời, giúp đời mà không làm cho đời xáo
trộn.
Người đời với đầy
tật đố tự cao cũng nói tới vị tha, nhưng khi còn bản
ngã thì càng giúp đời càng làm cho đời đau khổ. Muốn giúp
đời, muốn đem lại an lạc cho đời con phải tu tập để
tự mình giác ngộ giải thoát và dẹp bỏ bản ngã trước
đã.
Trong việc thể nghiệm
quá trình này chánh niệm tỉnh giác đóng vai trò thực hiện.
Và sáng suốt, định tĩnh, trong lành là yếu tố hướng đạo
đầu tiên cho đến cuối cùng.
Những điều Thầy nói
trên không phải là một công thức mà chỉ gợi ý để con
dễ theo dõi tiến trình tu tập của mình mà thôi.
Chúc con tu hành tinh tấn.
Thầy.
[25]
Ngày ...... tháng ......
năm ......
L mến,
Chà, trông L đường
đường một đấng nam nhi như thế mà sao hơi yếu đó nghe!
Ai lại đi mơ một cảnh Tịnh Ðộ ở ngoài cuộc đời nắng
lửa như một kẻ mê tín vậy. Lại còn mê ba cái ông du Tăng
trong Thiền Luận nữa chứ! Không biết các ông du Tăng ngày
xưa ra sao chứ cứ mà làm biếng, vô trách nhiệm cái kiểu
ông VT với một số du sĩ ngày nay thì đáng được lãnh năm
bảy chục hèo mới xứng.
Thầy lại thấy khác:
dường như bây giờ mất rồi cái thời mà những bậc tu
hành lấy phiền não làm Bồ-đề, tức là sẵn sàng chấp
nhận giáp mặt những phiền lụy với một sức mạnh chánh
niệm - tỉnh giác đầy kiên định.
Ðã đành rằng cuộc
đời là nắng lửa nhưng nếu ai ước mong ở ngày mai hay một
nơi nào khác cái cảnh giới không còn nắng lửa thì chính
đó mới là khổ sầu to lớn nhất! Giống như một người
trông đợi một cái gì đó người ấy càng bồn chồn nóng
nảy hơn là một kẻ đang chăm chú một công việc nặng nề,
có phải thế không?
Vậy bí quyết của giải
thoát không phải là ước mơ hay chạy trốn (bằng mọi hình
thức) mà là phải đối mặt với chính cuộc đời. Còn
đau khổ là tại vì còn có cái ta để đau khổ, mà
còn cái ta để đau khổ thì dù ở bất cứ đâu cũng
vẫn cứ đau khổ như thường. Người đời có câu nói rất
thực tế là :
Gánh cực mà đổ lên
non
Cong lưng mà chạy cực còn chạy theo
Thế mà khi ta vui lòng
gánh lấy trách nhiệm, vui lòng đỡ gánh cho người khác,
vui lòng từ bỏ những dục vọng ích kỷ v.v... thì ta lại
thấy tất cả đều là nhẹ nhàng. Người đã thấy cái nhẹ
nhàng đó sẽ đủ sức lấy phiền não làm bồ-đề. Chúa
nói: "Hãy vác thập tự giá mà đi vào nước Chúa",
thật ra nó có nghĩa là hãy làm tròn bổn phận với đầy
đủ phiền não của nó một cách sáng suốt, định tĩnh,
trong lành thì ta sẽ thấy bổn phận ấy, phiền hà ấy thật
nhẹ nhàng và thật dễ thương biết bao. Và chính ở đó ta
hân thưởng được sự thanh tịnh giải thoát (vào Thiên
đàng) giữa những phiền não cuộc đời.
Giống như một người
mẹ, có thể làm mọi việc khó khăn nhất cho đứa con nhỏ
bé của mình, dù phải trải bao nhiêu gian khổ, chỉ vì ngay
lúc đó bà ta đã quên mình đi trong tình thương yêu vô hạn.
Nếu mọi người mà biết quên mình đi trong tình thương yêu
vô hạn thì cuộc đời sẽ trở nên thiên đàng ngay lập tức
dù ngay lúc đó vẫn là nắng lửa dãi dầu.
Thầy có nghe một câu
chuyện nho nhỏ dễ thương về tình bạn: có một hôm, một
người bạn rủ L đi uống rượu. Lúc đó có M.A ngồi chơi.
M.A đã cố ý (nhưng làm như vô tình) ngồi nán lại
chơi với L tới khuya, để giúp L thoát khỏi một sự cám dỗ
không mấy tốt lành. Chỉ vì thương bạn, vì muốn bạn mạnh
khỏe mà phải hy sinh sức khỏe của mình dù M.A vốn đã suốt
ngày này qua ngày khác làm lụng cực nhọc để đỡ cho mẹ
mình một gánh nặng nuôi con.
L ạ, không phải là hạnh
phúc, tịnh độ hay giải thoát cho cái bản ngã của mình,
mà chính phá bỏ bản ngã để làm những việc quên mình lợi
người, dù nhỏ nhặt đến đâu cũng ẩn chứa một thiên
đàng tuyệt diệu. Vâng, đau khổ để đem lại hạnh phúc
cho người (bạn bè, cha mẹ, anh em, xóm giềng và cho cả
cỏ cây, sỏi đá) đấy chính là thiên đàng tuyệt diệu.
Tuyệt diệu làm sao khi
sư GÐ cố gắng lo lắng thêm một chút để chư sư được
nhẹ nhàng, và sư PT cũng vậy, sư TT cũng vậy v.v... Mọi
người đều gánh thêm một chút khổ đau để gánh người
khác được nhẹ nhàng. Ở đây Thầy cũng không thể điềm
nhiên tọa thị mà phải cố gắng thêm một chút để trợ
giúp các sư... và cứ thế cuộc đời mở vòng tay lớn
trong tình yêu thương xả kỷ. Không có thiên đàng nào khác
ngoài sáng suốt, trong lành và tĩnh tại. Không có thiên đàng
nào khác ngoài những gánh nặng mà ta vui lòng gánh vác để
đem lại cho đời một niềm vui, một an ủi, một nụ cười.
Sư GÐ tặng L một số
phong lan với dụng ý muốn giúp L biết thương yêu và tập
dần với những bổn phận, tập dần sự chú ý, sự chăm
chút, sự nhẫn nại... Nghĩa là tập chấp nhận những phiền
não để nuôi dưỡng bồ-đề. Tập thấy được tình thương
yêu như tình yêu thương của người mẹ đối với đứa
con mình. Không có con đường giải thoát nào khác đâu L ạ,
hãy suy nghĩ cho mà xem. Tất cả những con đường khác chỉ
là phản ảnh của lòng tư dục, tư kỷ mà thôi.
Một vị du Tăng hành cước
chỉ có lý khi đến lúc họ phải từ bỏ những tích lũy,
những đeo mang do lòng dục vọng chất đầy trên vai họ. Nhưng
đến khi thấy lại chính mình (ngộ), vị ấy lại chấp
nhận "gánh nước là diệu dụng, bửa củi là thần
thông" và chui vào nhà bếp để làm hỏa đầu quân
hoặc mỗi ngày âm thầm quét lau Tàng Kinh Các. Mới biết những
kẻ ra đi, tìm kiếm, chỉ mới là giai đoạn của người
chưa thấy. Còn khi thấy rồi núi vẫn là núi, sông vẫn là
sông, phiền não vẫn là phiền não. Cuộc đời vẫn hoàn lại
cuộc đời... và nếu có cái gì khác chăng thì chỉ là một
nụ cười trong sáng và nhẹ nhõm.
Thôi viết như thế đã
dài, mong L tìm thấy trong đó đôi lời nhắn nhủ với một
tấm lòng.
Thầy.
[26]
Ngày ...... tháng ......
năm ......
T.U con,
Thầy trả lời thư con
hơi chậm, mấy lúc này Thầy không được rảnh lắm. Có một
số vấn đề còn tồn tại nơi con mà con cần phải có
thái độ dứt khoát, không phân vân nghi ngờ. Tính con có
hai đặc điểm rõ nét là lý trí và mặc cảm.
1) Về lý trí, nó là
con dao hai lưỡi, vừa có thể đi với tuệ để trở thành
trí tuệ, vừa có thể đi với vô minh để trở thành tà kiến,
vọng thức. Phân vân nghi ngờ là mặt trái của lý trí. Ðức
Phật dạy: "Ðức tin
nhiều hơn lý trí thì sinh tham, lý trí nhiều hơn đức tin
thành ra nghi".
Con có thói quen phân
tích, suy diễn một số vấn đề rộng ra mà theo Thầy chỉ
cần thấy vấn đề một cách tổng quát giản dị, hoặc thấy
một số yếu tố có liên hệ đến tu tập là đủ. Khi đề
cập một vấn đề Ðức Phật chỉ nói những khía cạnh cần
thiết cho con đường giác ngộ giải thoát mà thôi. Những
điều cần phải nói như lá trong nắm tay còn những điều
dù biết cũng không cần phải nói thì như lá trong rừng.
Có như vậy mới lấy được lõi cây, không lấy vỏ cây.
Kinh Dịch nói: "Dị
giản nhi thiên hạ chi lý đắc hỷ", hoặc Lão Tử dạy:
"Cố tri chỉ kỳ sở bất tri chí hỷ". Dị giản
và dừng cái biết lại chỗ không biết chính là khai mở
con mắt tuệ, không phải con mắt lý trí vọng thức. Thánh
Kinh dạy: "Hãy trở nên như con trẻ", hoặc Ðức
Phật khuyên thấy cái thấy như thực đều với
nghĩa dẹp bỏ lý trí vọng thức để trở về cái biết như
thực. Lão Tử nói "khí trí" hoặc "tỏa
kỳ nhuệ, giải kỳ phân" cũng đều với nghĩa ấy.
Krishnamurti thì nói là giải trừ kiến thức, dẹp bỏ
kinh nghiệm đều có mục đích khuyên con người bớt
phân biệt, bớt lý luận, bớt tưởng tượng để cho cái
thấy biết (tri kiến) trở nên sáng suốt trong lành. Nếu
không làm như vậy lý trí sẽ đồng nghĩa với khổ đau.
Ðể cân bằng lý trí
và đức tin cần phải tu tập chánh niệm. Chánh niệm sở dĩ
được hầu hết các tông phái vận dụng hàng đầu vì nó
là pháp dẫn đầu các thiện pháp. Chánh niệm tức không thất
niệm, còn một tên khác là không phóng dật (Appamàdo).
Ðức Phật dạy: "Một pháp có nhiều tác dụng trong
các thiện pháp là không phóng dật" (Appamàdo
kusalesu dhammesu ayam eko dhammo bahu-kàro).
Giới chính là chánh niệm
trên hành động của thân và khẩu, vì vậy giới được gọi
là điều học (sikkhàpadam). Không sát sanh có nghĩa là
chánh niệm để giữ thân không hành động sát hại sinh mạng.
Không nói dối có nghĩa là chánh niệm để giữ khẩu không
nói lời không thật v.v... Những người điên, những người
đãng trí không thể giữ giới vì không có chánh niệm.
Những pháp khác như chánh
định cũng nhờ chánh niệm để tập trung sự chú tâm,
chánh tinh tấn cũng nhờ chánh niệm để thấy rõ pháp cần
phải làm, pháp cần phải bỏ, chánh tư duy không có chánh
niệm sẽ trở thành vọng tưởng v.v...
2) Về các mặc cảm,
Thầy thấy dường như con đang bị một mặc c?m nào đó chi
phối sâu xa. Chính những mặc cảm này biến dạng từ tự
ti đến tự tôn, từ tình cảm thành lý trí do đó phát sinh
những đắn đo, phê phán, suy luận, tưởng tượng, thành kiến...
Mặc dù con nói con chịu
được thiệt thòi khi sống theo đạo đức, nhưng cả trong
3 bức thư lời lẽ của con vẫn đầy tính chất bất mãn
đến nỗi Thầy có cảm giác như khi con viết "người
ngay mắc nạn: càng ngay thẳng thật thà bao nhiêu càng gặp
nhiều thiệt thòi, cay đắng bây nhiêu" v.v... con đang bị
bất mãn chi phối một cách vô thức.
Hãy cảnh giác, đừng
để những tư tưởng như thế gặm nhấm tâm hồn con nữa.
Những tư tưởng đến gần như thành kiến do mặc cảm tạo
ra ấy mới thật là nguy hiểm mà nếu không kịp thời chế
ngự hoặc đoạn trừ thì con không sao có thể tiến sâu hơn
vào nội tâm an ổn, trong lành.
Ðức Phật dạy trong
Kinh Pháp Cú: "Nó lăng mạ tôi, chiến thắng tôi, cướp
giựt của tôi. Người nào còn ôm ấp những ý tưởng
tương tự thì lòng oán hận chẳng bao giờ nguôi".
Trước đây trên đường học đạo con có thể đã hiểu lầm
rằng tu hành sẽ được hưởng phước báu như mạnh khỏe,
giàu sang, danh vọng, địa vị, thiên sắc, thiên lạc v.v...
Ðiều đó không hẳn là sai nhưng cũng không hoàn toàn đúng
nếu như người tu hành xem đó là mục đích hay ít ra cũng
là phần thưởng cho sự tinh tấn của mình.
Con muốn an ổn giải
thoát, hay muốn đạt được tịnh lạc thì điều kiện tiên
quyết là phải loại trừ hỷ tham, ái luyến đối với các
phần thưởng ấy. Có thể vì một lý do nào đó một người
tu hành được hưởng những thuận lợi hữu lậu trên, nhưng
tuyệt đối phải cảnh giác đừng để đắm chìm, đừng
để đắm trước, đừng dừng lại ở mục đích ấy, trái
lại thà chịu thiệt thòi còn hơn.
Có thể rằng người
tu hành vì chưa thấy được lợi ích của phước báu vô lậu
nên vẫn còn luyến tiếc những phước báu hữu lậu, vẫn
chưa từ bỏ được sự hấp dẫn, khả hỷ, khả lạc, khả
ý của phước báu hữu lậu, vẫn còn tật đố đối với
những người có phước báu hữu lậu. Nếu con thực sự hiểu
đạo thì đừng tỏ ra bất mãn với những thiệt thòi, đừng
tỏ ra phân vân nghi hoặc khi phải "lựa chọn giữa ngay
thật và gian dối" nữa.
3) Người tu hành đừng
thấy hơn người khác. Thật ra thành quả của sự tu hành
chẳng có công lao gì cả. Chúng ta tự tập nhiễm những
thói hư tật xấu khiến rối loạn thân tâm nay ý thức được
phải tự tu sửa để tự ổn định mình như vậy đâu có
gì đáng hãnh diện mà trái lại đáng hổ thẹn là khác.
Tóm lại mặc cảm tự
ti hay tự tôn đều có nghĩa là thuộc vào giá trị bên
ngoài. Phải quên bên ngoài để tu tập bên trong thì tự
nhiên tất cả mặc cảm, tất cả lý trí vọng thức đều
dần dần lùi bước.
Chúc con đạt được sự
an ổn chính mình trên hành trình tự tu, tự giác
Thầy.
[27]
Ngày ..... tháng ..... năm
.....
T.U con,
Nhận thư con trong thời
gian Thầy đang nhập thất để tĩnh dưỡng tối đa nhân đầu
mùa an cư kiết hạ. Ðáng lẽ ra thất Thầy mới viết cho
con, nhưng Thầy không nỡ để con kéo dài tình trạng khủng
hoảng có thể đưa đến thối giảm tín tâm trên con đường
học đạo.
Tín tâm là đầu mối
của tinh tấn, giác niệm, định tĩnh, trí tuệ, giác ngộ
và giải thoát. Nếu tín tâm thối giảm thì toàn bộ tiến
trình giác ngộ giải thoát sẽ bị lung lay. Ðó là điều Thầy
không thể không quan tâm.
T.U, con hãy bình tĩnh,
Thầy sẽ giúp con hiểu tại sao con đang bị khủng hoảng và
làm thế nào để con có thể ra khỏi tình trạng khủng hoảng
này.
Trước hết con đừng
sợ tình trạng khủng hoảng mà con đang trải qua, vì đó
là quá trình tất yếu. Trên quá trình tiến hóa, con người
tất yếu phải đi qua các giai đoạn khủng hoảng để
đi vào và thoát ra mỗi chặng đường cam
go, khốc liệt, rồi cứ thế họ tiến đến cứu cánh cuối
cùng.
Con đã bước qua được
chặng đường vật chất thô thiển như nghèo khổ, bệnh tật,
khó khăn... mà con đã từng đấu tranh và khắc phục được
chúng, trong khi những người khác đang loay hoay trong cơn sốt
thành bại, được mất, nghèo giàu, hơn thua, yếu mạnh...
Như thế con đã ra khỏi chặng đường bùn lầy đó. Thầy
mừng cho con.
Rồi bây lâu nay con đã
tiến vào một chặng đường mới, đó là chặng đường giá
trị đạo đức. So với giai đoạn vật chất thì nó cao thượng
hơn, nhưng cũng chính ở đó con tìm thấy một tình trạng
khủng hoảng mới khi con phải phấn đấu, lựa chọn giữa
hai con đường thiện và ác, tốt và xấu, ngay thẳng và
gian manh, chân thực và giả dối... Con đã thấy rằng một
bên là đỉnh cao, một bên là vực sâu, và con cũng đã quyết
định phải chọn đỉnh cao cho định hướng của đời con.
Ðó là quyết định đúng và cao quý. Nhưng oái oăm thay trước
mắt con những giá trị đạo đức đó dường như đang lung
lay và không thực! Rõ ràng là những kẻ đạo đức, thực
thà, chất phác đang bị thiệt thòi, đang bị chà đạp và
biếm nhẽ! Còn những kẻ bất lương, gian manh, dối trá lại
nghiễm nhiên được ưu đãi, được tâng bốc và kính nể!
Như vậy đạo đức,
nhân quả, nghiệp báo, luân hồi có thực hay không? Nghi ngờ
này khởi lên nơi con như một thử thách khiến con phải lẩn
quẩn trong vòng thiện ác thị phi và bị bế tắc lâu dài
trong đó. Khổ nỗi bây giờ làm thiện thì khó tin và làm
ác thì cũng không sao làm được! Suy nghĩ, đắn đo, phân
vân , phấn đấu, thất bại, chán nản, nghi ngờ, khủng hoảng,
bế tắc!
Nhưng rồi con cứ yên
tâm, "vật cùng tắc biến, biến tắc thông"
mà. Một ngày nào đó khi đầy đủ nhân duyên con sẽ vượt
ra khỏi thiện ác thị phi để thấy ra một chân trời mới,
một chặng đường mới. ở đây đạo đức sẽ không đòi
hỏi điều kiện nào cả, nó chấp nhận thiệt thòi, chà đạp
và biếm nhẽ vì nó đã thoát thai để trở thành trí tuệ
với chân lý tuyệt đối và tối thượng, không phải nhân
quả thiện ác tầm thường. Giống như con sâu biến thành
con nhộng.
Và khi con bước vào chặng
đường mới này của trí tuệ con lại phải đương đầu với
một cuộc khủng hoảng mới, như nhộng phải biến thành bướm
để bay vào khung trời cao rộng: đó là sự phân vân giữa
chân và vọng, giữa khổ đế với diệt đế, giữa tập đế
với đạo đế.
Nếu con vượt qua chặng
đường này con sẽ "parasangate" như trong câu
chú cuối Bát Nhã Tâm Kinh: "Gate, gate, paragate,
parasangate, Bodhi svàhà" (vượt
qua, vượt qua, vượt qua bờ bên kia, hoàn toàn vượt qua bờ
bên kia, ôi tuệ giác siêu việt!).
Ðó, con thấy không, chặng
đường nào cũng phải có hai bờ để khủng hoảng và để
vượt qua. Con đang vượt qua, vượt qua... tất nhiên con phải
kham nhẫn nhận chịu đớn đau và khủng hoảng. Vậy con
hãy tinh tấn, sáng suốt, định tĩnh, đừng để tín tâm thối
giảm, đừng để phóng dật trổ sinh.
Hãy tin ở con, không
tin ở lý thuyết nhân quả tại sinh một cách máy móc và
kinh điển, không tin ở giá trị đạo đức nào tiền định.
Chân lý chỉ tìm thấy nơi con khi con sáng suốt, định
tĩnh, trong lành, giác ngộ và giải thoát. Có một số vấn
đề về nhân sinh, vũ trụ, đạo đức v.v... Ðức Phật chỉ
tạm dùng để giải thích cho người mới học đạo, rồi
sau những sự thật này cần phải được hành giả tự thấy,
tự chứng ở mức độ thâm sâu, vi tế và như thực chứ
không nhắm mắt tin theo một số khía cạnh nhỏ mà Ðức Phật
vì lòng từ bi tạm tùy cơ ứng hóa để người tu học yên
tâm tu niệm.
Thầy cũng có thể giải
thích cho con một số khía cạnh về nhân quả nghiệp báo nhưng
thật là dài dòng vô ích. Riêng ở khía cạnh con thắc mắc
Thầy có ý kiến thế này:
1) Ðối với người
thiên nặng về vật chất thì đạo đức bị xem thường,
người này có thể làm điều ác để được mục đích lợi
dưỡng. Và khi người này gặp thời, nghĩa là thời mà đa
số con người thiên nặng vật chất thì người ấy được
tôn trọng, được địa vị, danh vọng, uy quyền. Nhưng con
nghĩ thế nào khi họ không gặp thời nữa?
Giống như trên một đồng
lúa, gặp thời con người lười biếng thì cỏ được tốt
tươi, lúa bị èo uột. Còn gặp thời con người siêng năng
thì lúa được tốt tươi, cỏ bị nhổ bỏ. Thời của nhân
quả cũng vậy.
2) Ðối với người
thiên nặng đạo đức thì vật chất bị xem thường, người
này có thể làm thiện để được phước báu tinh thần.
Và khi người này gặp thời, nghĩa là thời mà đa số con
người thiên nặng đạo đức thì người ấy được tôn trọng,
được địa vị, danh vọng và uy quyền. Trái lại thì cũng
bị chê bai, khinh bỉ, chà đạp. Ðời là vậy có gì con phải
ngạc nhiên!
Ngày xưa Khuất Nguyên
thấy đời đục cả chỉ một mình ông trong nên ông khổ sở
lắm. Có lần ông ra bờ sông Thương Lương đứng than thở
trò đời thì nghe một ngư ông hát:
Thương Lương chi thủy
thanh hề khả dĩ trạc ngã anh
Thương Lương chi thủy trược hề khả dĩ trạc ngã túc.
(Nước sông Thương
Lương trong thì ta giặt giải mũ,
còn nước sông Thương Lương đục thì ta dùng rửa chân).
Con cũng vậy, nếu con
đặt trọng tâm của đời sống là giác ngộ thì chính trò
đời này đã phơi bày bản chất của nó cho con giác ngộ.
Nếu cuộc đời không có những nguy hiểm mà chỉ có những
vị ngọt thì khó có người giải thoát, phải không con?
Còn nếu con đã là người chấp nhận con đường đạo đức
mà không gặp thời thì một là con phải thật khiêm tốn
nhu hòa, đừng để lộ đạo đức ra ngoài, "đức hậu
tỷ như xích tử" (đức dày giống như trẻ sơ
sinh), cứ hòa với mọi người, thương yêu và hỷ xả
cho họ, miễn đừng bị đồng hóa là được. Nếu không
được như vậy thì hai là con phải có khí phách cao ngạo một
tí, phải xem thường bình phẩm khen chê ở đời, phải xem
thường những thiệt thòi mà con phải chịu đựng. Con không
nhớ câu nói của Chúa: "Kẻ nào chịu thiệt thòi
trên thế gian này, kẻ ấy được ưu tiên trên nước Thiên
đàng". Thế gian là quyền lợi vật chất, còn thiên
đàng là an lạc tinh thần. Nếu một người thực sự đạo
đức họ sẽ an bần lạc đạo như lời Chúa
và các bậc Thánh hiền dạy. Vì thật ra chưa nói đến tối
thượng an ổn khỏi các ách phược của một bậc hoàn
toàn giải thoát, chỉ những an lạc tinh thần cũng đủ đền
bù biết bao thiệt thòi ở giữa thế gian đầy tranh chấp
nhiệt não, phải không con?
Thật là hay nếu con lắng
sâu hơn nữa để nghe từ bên trong những giá trị đạo đức
đích thực, để bắt gặp một niềm an lạc tinh thần mà
không một quyền lợi nào trên đời có thể so sánh được.
Người nào đạt được thiền tịnh thâm sâu Ðức Phật gọi
là đã đạt được hiện tại lạc trụ của các bậc
Thánh. Lắng sâu cũng có nghĩa là vượt qua, vượt qua cái vỏ
bề ngoài của những tư tưởng, ý niệm hay hành động đạo
đức để hướng vào bên trong (Opanayiko), bên trong nữa...
cho đến khi con bắt gặp sự thâm sâu của thiền tịnh:
sáng suốt, định tĩnh, trong lành, giải thoát và biết mình
giải thoát.
Có sá gì những phần
thưởng bên ngoài của đạo đức, có sá gì những thiệt
thòi mà cuộc đời bắt con gánh chịu, hãy lắng sâu vào
bên trong bằng con đường Chánh niệm Tỉnh Giác, hãy lắng
sâu, lắng sâu đến chỗ uyên áo của đạo.
Thân ái chào con.
Thầy.
[28]
Ngày ..... tháng ..... năm
.....
D.H con,
Bất kỳ ở đâu người
Phật tử cũng chỉ làm tròn phận sự của mình là không
làm việc ác, làm việc lành và giữ tâm thanh tịnh. Cuộc
đời vô thường nay rày mai khác, khi thuận thì yên, không
thuận thì khổ. Nhưng biết làm sao với cái trò xuôi ngược
của cuộc đời, bởi vậy tốt nhất là tự giác để có
thể an vui tự tại và đem lại cho những người chung quanh
cái cao đẹp của một người chơn chánh, hiền lương.
Làm một người Phật
tử thật là dễ nhưng cũng thật là khó, khó là vì nó dường
như đi ngược dòng đời. Ðời thì tranh đấu, giành giật,
hơn thua... để đạt cái mục đích quyền thế, danh lợi...
và mỗi người bị cuốn hút vào hết đợt sóng này qua đợt
sóng khác của cuộc bể dâu. Còn đạo thì âm thầm tinh tấn
để tự thắng mình, thắng tham lam, ích kỷ, ngã mạn, kiêu
căng, tật đố, si mê, thù hận, cố chấp v.v... cho nên đi
ngược dòng đời. Người ta tưởng tự thắng mình là việc
làm ích kỷ cá nhân, không chịu đấu tranh cho xã hội, và
vì vậy người ta cho là dễ dàng và tiêu cực, nhưng cho đến
khi nào thực sự đối diện với mình mới thấy Ðức Phật
nói: "Attà have jitam seyyo" (Quả thật tự
chiến thắng mình là chiến thắng ưu việt) là đúng. Ðức
Chúa cũng nói: "Tự chiến thắng mình hơn chiến thắng
ngàn quân" bởi vì có thắng những xấu xa đê tiện
của mình thì lòng vị tha và những đức tính cao quý mới
phát triển và chỉ khi đó con người mới thực sự là con
người sống vì lợi ích của mọi người, con người vô
ngã, vị tha.
Phật giáo đích thực
không phải là tôn giáo để cầu nguyện mà tự mình phải
thể hiện đời sống tự giác, giác tha. Cầu nguyện có thể
có nhưng với mục đích giúp con người thắng được lòng
ích kỷ, ví dụ khi ta cầu nguyện: "Nguyện cho tất cả
chúng sanh an lạc, bất tranh" (Sabbe sattà averà
hontu sukhità hontu), và cho đến khi nào có tâm hồn như vậy
người ta mới có thể thật sự vị tha, còn không thì vị
tha chỉ là chiêu bài cho cuộc đấu tranh quyền lợi để dành
lấy cho mình một chỗ đứng an toàn.
Nhiều người Phật tử
đã biến chân lý của Ðức Phật thành mê tín dị đoan để
phục vụ cho những khát khao đầy trần tục của họ, và
chính họ đã làm mờ đi con đường chơn chánh mà đáng lẽ
họ phải thực hành để tự mình hoàn thiện.
Chân, Mỹ, Thiện không
đến với những người cầu xin chư đại Bồ-tát ban bố
cho mà đến với những người tự mình sống trong Giới,
Ðịnh, Tuệ, tự biến hành động, lời nói và ý nghĩ
của mình thành chân, mỹ, thiện. Bao lâu trí,
tâm và thân chưa được sáng suốt, định tĩnh, trong lành
thì tất cả khẩu hiệu cao đẹp chỉ là chiêu bài vô nghĩa.
Ví dụ khi người ta nêu khẩu hiệu "Lương y như từ
mẫu" thì có nghĩa là các Thầy thuốc đang tắc trách
bởi vì nếu đã như từ mẫu thì còn phải nói làm gì khẩu
hiệu đó. Vì vậy đạo là hành động hợp với chân, mỹ,
thiện chứ không phải là cầu xin ở thánh thần; cầu xin tức
là chưa có mà cái toàn thiện thì đã sẵn có ở mỗi người,
chỉ cần tự mình phát huy ra thì thể tướng dụng tự tròn
đầy.
Tất cả những đạo lý
mà Ðức Phật dạy đều nhằm phát huy chơn tánh của mỗi
người đến chỗ bản nguyên tốt đẹp nhất, như Tứ niệm
Xứ, Tứ Chánh Cần, Tứ Thần Túc, Ngũ Căn, Ngũ Lực, Thất
Giác Chi, Bát Thánh Ðạo, Thập độ, Tứ Vô Lượng Tâm
v.v... chỉ cần hiểu đúng và hành đúng những đạo lý đó
thì đem lại biết bao an lạc cho đời.
Thầy chúc con thể hiện
tốt con đường Ðức Phật đã dạy và chứng nghiệm được
những kết quả hiện tiền.
Thầy.
[29]
Ngày ..... tháng ..... năm
.....
T.D con,
Thế là con đã thi
xong, bây giờ tốt hơn là nghỉ dưỡng sức, cứ thấy con
ngồi học với cái vẻ lo lắng Thầy không đồng ý chút
nào, việc học chủ yếu ở chỗ biết dùng thời giờ hợp
lý và biết cách chú tâm. Nếu con phân vân bởi ý nghĩ có
đậu hay không, nếu không đậu thì phiền lòng cha mẹ hay xấu
hổ với bạn bè v.v... thì con đâm ra lo lắng, rồi cố gắng
quá mức và kết quả là dù đậu hay hỏng thì con cũng phải
suy nhược thần kinh.
Ðáng lẽ có dịp Thầy
phải góp ý với ba mẹ con là không nên khuyến khích con
cái bằng cách buộc nó phải kỳ vọng ở một sự thành đạt
vinh hiển trong cuộc đời, phải để cho nó thoải mái học
hành, còn tương lai tùy thuộc nơi nhân cách chứ không phải
nơi bằng cấp hay địa vị. M.A chẳng hạn, Thầy thấy nó
thất bại trên đường khoa cử công danh nhưng trái lại về
nhân cách và kinh nghiệm sống thì thật là đáng ca ngợi.
Ba mẹ con đã tặng cho con nhiều ưu ái và đặt nơi con nhiều
kỳ vọng đến nỗi Thầy phải lo ngại và khi con đi khám với
kết quả là suy nhược, Thầy biết mình đã đoán đúng.
Nhiều khi Thầy muốn khuyên con bỏ qua một bên mà đi chơi
cho thoải mái một chút, nhưng Thầy biết con không dám làm
như vậy trong khi mọi người dường như đang chờ đợi ở
con một cái gì, và thế là Thầy đành chịu thua.
Con hãy đọc truyện "Ông
vua cởi truồng" trong cuốn "Vũ nữ
It-Zu", và con sẽ thấy một cách giáo dục sai lạc của
cha mẹ, Thầy giáo, nhà trường, xã hội v.v... đối với
con em như thế nào. Người ta toa rập với nhau để bóp chết
nhân cách và sự sáng tạo của trẻ bằng cách uốn nó
thành những hình nộm vừa tầm vóc với những ước mơ của
họ.
Chẳng phải vì độc
ác mà người ta làm như vậy, người ta vẫn vì tình thương,
vì tương lai của con cháu. Chỉ tiếc họ thiếu hiểu biết
nên không thấy rằng để đổi lấy cái tương lai đó -
cái bóng dáng bản ngã lý tưởng của họ - người ta vô
tình tước đi nơi con em bản chất đích thực của m?t con
người. Thầy không phủ nhận tình thương, nhưng tình thương
như vậy có thật đem lại điều gì lợi ích không?
Thật tình Thầy không
có ý chỉ trích, cũng không phải để con oán trách người
lớn, mà chỉ muốn nói lên một sự thật để con có thể
tự mình phục hồi và phát triển bản chất tự do sáng tạo
của mình.
Dù là trong đạo Thầy
cũng không vạch định một cái đích với những giáo điều
khuôn sáo để kỳ vọng con phải noi theo và thành đạt. Thầy
chỉ khơi cho con cái cảm hứng để tự mình chiêm nghiệm
và nhận chân lẽ sống mà không cần phải lẩn tránh nó, cũng
không bị nó buộc ràng. Và từ đó, như một đóa hoa, nhân
cách, trí tuệ và tự do sẽ chớm nở giữa những thăng trầm
của cuộc sống.
Có những người bị
cha mẹ, nhà trường, tôn giáo nặn thành mẫu người đức
hạnh, hiền hòa, nhỏ nhẹ, văn hoa, lịch sự hoặc kiêu
hùng v.v... đủ để trở thành con người giấy sơn phết ra
trò... Nhưng chỉ để làm mồi cho lửa. Thế mà thực tế
cuộc đời lại là lửa đấy con ạ. Không có một kiểu
cách giả tạo nào có thể chịu được nó ngoài cái nhân
cách chân thật phát sinh từ sự sáng suốt, định tĩnh,
trong lành đủ để thấu hiểu và ngự trị đời mình.
Con và Thầy đã chứng
kiến tận mắt những con người xem ra rất tề chỉnh, thế
mà đùng một cái hoàn toàn trở thành lố bịch, khổ một
nỗi họ không thấy như thế là lố bịch mà cứ tưởng rằng
cái tôi tề chỉnh của mình bị người đời xúc
phạm. Giống như một diễn viên sân khấu, quen đóng vai
ông lớn nào đó, được khán giả hoan hỉ tán thưởng, rồi
tưởng ngoài đời mình cũng là ông lớn thật thì làm sao
không rước lấy tai họa, phải không con?
Bản ngã của một người
được hình thành bởi sự giáo dục của gia đình, trường
sở, tôn giáo, xã hội v.v... cộng với sự tập thành do
thói quen, tình cảm, lòng ham muốn và sự ngu muội của mỗi
cá nhân, khiến họ trở thành những "kẻ xa lạ"
như Albert Camus nói. Xa lạ là xa lạ với chính bản chất đích
thực của mình. Cho đến khi con người thật hoàn
toàn tê liệt thì kẻ xa lạ cũng đã chiếm ngự
hoàn toàn, lúc đó ta hoàn toàn nô lệ cho kẻ chiếm ngự
ta. Ta giả làm ông thánh, người hùng hay nghệ sĩ v.v... còn
con người thật thì muôn đời chẳng bao giờ còn cơ hội
để làm thánh, anh hùng hay nghệ sĩ nữa!
Muốn cứu thoát mình
khỏi những ảo vọng hình thành bản ngã, như Thầy vừa
sơ phác, con người phải làm lại từ đầu bằng cách tự
tri, có tự tri mới có tự giác, có tự giác mới có tự chủ,
có tự chủ mới bắt đầu phục hồi bản chất tự do sáng
tạo của mình. Ðó là con đường giác ngộ mà ta thường gọi
là Ðạo Phật. Ðạo Phật đích thực chứ không phải cái
tôn giáo mang tên nó với đầy rẫy những giáo điều mà những
kẻ mê tín thêm thắt vào.
Những ngày Thầy ở
Huyền Không thật là tuyệt diệu, ngày ngày tự do, lao động
và sáng tạo. Tự do, sáng tạo ngay trong chính những kỷ luật
vi tế nhất mà mỗi người tự ý thức để ngự trị mình
từng giây từng phút. Ai tưởng tự do là vô kỷ luật,
phóng túng, người ấy trả giá bằng chính cái ý tưởng luôn
luôn bị mất tự do. Nhưng ai tự khép mình vào một thứ kỷ
luật rập khuôn nào đó để đóng vai cho ra trò thì người
ấy tình nguyện làm nô lệ cho "kẻ xa lạ"
muôn đời.
Nhưng con thấy đó,
không phải ai đến Huyền Không cũng hưởng được không
khí tự do vi tế ấy nếu họ không có được tâm thái như
vậy, nếu họ đạt được thì họ đã tự do bất cứ nơi
nào, bằng không thì dù ở thiên đàng họ cũng là người
khổ sở. Lục Tổ Huệ năng nói rằng: "nếu người
ta không thanh tịnh ở cõi đời thì có lên cõi Tây Phương
cũng chẳng thể nào thanh tịnh hơn". Còn Ðức Phật
đã dạy: "Ai thanh tịnh
người ấy thấy các pháp đều là thanh tịnh".
Vậy hạnh phúc hay tự
do đều tùy thuộc ở con, đừng hy sinh nó và cũng đừng đánh
mất mình trong cạm bẫy của một ngày mai hứa hẹn. Nhân
cách, trí tuệ và tự do phải có bất cứ lúc nào, không
tùy thuộc vào tương lai hay quá khứ.
Thầy chúc con mạnh khỏe
và thật nhẹ nhàng.
Thầy.
[30]
Ngày ..... tháng ..... năm
.....
H.C con,
Thầy đã nhận được
thư con qua chị HN, và nhất là được xem một số hình con
chụp chung với chị LT và các sư.
Rất tiếc là qua thư
từ Thầy không làm được công việc của một nhà phân tâm
học để giúp con giải tỏa một số stress do quá trình
phấn đấu nội tâm của con gây ra, nhưng Thầy nghĩ rằng
quá trình sống đạo giữa cuộc đời phức tạp tất nhiên
lúc đầu không sao tránh khỏi những khó khăn nhất định nào
đó, con có quyền vận dụng cách tu tập tùy ý miễn là
phải tự tin, trầm tĩnh và sáng suốt.
Thầy nói tự tin là vì
không nên sợ hãi khi thấy mình phải đối diện với
những mâu thuẫn nội tâm, mặc dù con người thì đều có
bản năng, tình cảm, tính dục và mâu thuẫn dồn nén như
nhau. Nhưng giữa chúng ta, những người sống đạo, với người
không sống đạo khác xa nhau lắm. Một bên là mê mờ, một
bên là tỉnh thức, hãy tin vào sự tỉnh thức của mình như
vị Thầy dẫn đường luôn luôn có mặt bên ta. Sở dĩ
những người bạn của con đang bị biến chứng của dồn nén
là vì họ chỉ sống với bản năng, tình cảm, ý chí và lý
trí mà chưa bao giờ tỉnh thức, chưa bao giờ thắp lên
ngọn đuốc của trí tuệ để soi sáng chính mình. Chúng ta
cũng như họ thôi, nhưng nếu chúng ta thắp sáng chính mình
thì không phải là biến chứng của dồn nén mà lại là giác
ngộ giải thoát và diệu dụng đấy con ạ.
Thế tại sao con phải
sợ. Một vị thiền sư nói rằng "Ðừng sợ vọng
khởi chỉ sợ không giác kịp", nghĩa là chỉ sợ không
sáng suốt, tỉnh giác mà thôi. Con đừng nghĩ rằng Thầy có
một phương pháp phi thường nào đó đầy bí ẩn hay rất
phức tạp khó khăn để trở thành một con người siêu
việt, chung qui pháp hành hàng ngày của Thầy chỉ là sáng
suốt, định tĩnh, trong lành trong mọi sinh hoạt của đời
sống từ ngoại giới đến nội tâm, từ hành động đến
ý nghĩ để không tự mình nhận chìm mình vào trong
thế giới huyễn hóa do mình tạo ra.
Con thích thiền định?
đó là một ý hướng tốt, nhưng cũng có thể là một trong
những mâu thuẫn đưa đến dồn nén của con hiện nay.
Thiền định phải hiểu và hành đúng mức, bằng không sẽ
là con dao hai lưỡi: một là thăng hoa thành diệu dụng, hai
là dồn nén và sinh ra biến chứng tâm thần.
Thiền định là một
mức sống tâm linh cao, nhưng nó có nhiều hướng tùy theo người
thực hiện nó. Nói chung có ba hướng (mục đích):
-
Ðể giữ gìn sức khỏe (như
hattha yoga, thiền dưỡng sinh, luyện đan, khí công v.v...).
-
Ðể đạt được một số trạng thái tâm linh: hỷ lạc,
xuất thần v.v... (như ràja
yoga, tu tiên, thiền xuất hồn...).
-
Ðể đạt được một số khả năng, pháp thuật, hoặc
thần thông (như một số phái
thiền của Mật tông, chú thuật, thôi miên v.v...).