Lá Thư Thầy
Tỳ Kheo Viên Minh
---o0o---
[11]
Ngày ..... tháng ..... năm
.....
Con thương mến,
Thầy đã nhận được
thư con và vui mừng thấy con đã trưởng thành trong tinh thần
Huyền Không, mà Thầy muốn trao cho con làm hành trang đi vào
muôn hướng của cuộc đời.
Nói là hành trang, là
tinh thần Huyền Không, thật ra thì không có phương châm
nào buộc con phải theo mà chính là lòng con cởi mở để có
thể theo bất cứ phương châm nào thích ứng với lẽ đời
chân thật. Chân lý là sự sống của vạn pháp và của
thân tâm ta. Tất cả đều trôi chảy, chẳng có gì ngưng đọng
để ta phải bám víu, ngập ngừng. Nó như một dòng sông
mà ta phải hòa mình vào để lắng nghe từ bên trong nhịp sống
trôi chảy vô cùng.
Con thương mến,
Thầy chưa được nghe
bản "Ðóa hoa vô thường" của TCS, để Thầy
hỏi lại các anh chị con xem. Thôi bây giờ con tạm đọc đóa
hoa vô thường của Thầy vậy.
Hôm đó Thầy lại lên
sơn thượng, con đường dốc chênh vênh, băng qua dòng suối
nhỏ, dẫn vào Không động, đã từ lâu ít người qua lại
nên rêu cỏ phủ đầy. Sớm mai nắng chưa lên khỏi núi, sương
còn đọng trên cành, Thầy cũng không có việc gì vội vã,
nên dừng lại nghỉ chân dưới cội tùng già bên bờ suối
vắng. Suối vẫn chảy róc rách, cây chuyển nhựa thì thầm
như nhịp thở ngàn đời c?a sự sống. Thầy cũng thở mà tưởng
chừng chỉ nghe tiếng lá tùng reo!
Yên lặng thay là nhịp
sống dạt dào vô tận!
Thầy đứng dậy, tiếp
tục leo lên dốc núi và chợt thấy bên kia cội tùng già một
đóa hoa vàng mới nở!
Vi diệu thay là nhịp sống,
dạt dào vô tận!
Lúc đó Thầy không thể
làm thơ, cũng không thể vẽ, mà chỉ đứng lặng nhìn. Mãi
đến bây giờ khi viết cho con Thầy mới tạm ghi lại những
cảm xúc đó với ít nét đơn sơ:
Dốc mòn lên sơn thượng
Một buổi sáng còn sương
Bên cội tùng trăm trượng
Ðóa hoa nở lạ thường.
Con ạ, một đóa hoa tất
nhiên phải lạ thường, vì có bao giờ hoa không mới mẻ lạ
thường, phải không con? Nhưng con đừng tưởng nó kỳ diệu
khác thường đâu nhé, nó vẫn chỉ là đóa hoa dại mỏng
manh, nhỏ bé, bình thường. Có thể là nó quá nhỏ so với
cội tùng cao lớn và rất vàng so với đám cỏ thật xanh,
nhưng nó cũng là "đóa hoa vô thường" nếu
con muốn gọi, hay tốt hơn con hãy để yên cho nó tự vô thường.
Con ạ, lúc này Thầy
ít làm thơ hơn là vẽ, thỉnh thoảng Thầy vẽ một vài bức
tranh thật nhỏ bé. Một cọng cỏ, một chiếc thuyền, một
cánh chim, một phiến đá, một mảnh trăng, một đám mây, một
mái nhà cỏ rạ v.v... đều có thể là bức tranh của Thầy
không có gì phải cố gắng, cái gì cũng chỉ là những nét
phất phơ dung dị, điểm xuyết cho cái không vô tận của bức
tranh, của tâm hồn, của sự sống.
Thầy không biết vẽ bằng
bàn tay thành thạo như các họa sĩ nên Thầy vẽ bằng hồn.
Tay của Thầy không có sẵn một kỹ thuật điêu luyện
nào, nhưng khi có hồn vào thì nó vung lên bất chấp tất cả,
chỉ còn vẽ, vẽ và vẽ mà thôi. Cũng có khi tay nó không
chịu hợp tác, lúc ấy Thầy đành để tâm hồn tự vẽ lấy
mình.
Rất tiếc Thầy chưa
thể gửi tranh cho con. Sau này Thầy sẽ tìm cách gửi đi cho
các Phật tử Huyền Không hải ngoại. Lúc bà Huyền Vi, mẹ
Huyền Chi đi, Thầy có gửi bà ba bức tặng Huyền Chi. Con
liên lạc Huyền Chi xin bản photo có được không? Có khi bản
photo đẹp hơn bản chính đấy.
Thầy vừa đi Huyền Không
về, ngoài đó các sư thúc con làm việc siêng năng để tự
túc sinh sống, vất vả thế mà vui. Có lẽ đời sống cần
phải ướp chút mưa, sương, nắng, bụi v.v... để làm phong
phú thêm chất thơ và đạo, phải thế không con?
Có những người không
bao giờ làm thơ và không bao giờ biết họa, nhưng đời sống
của họ đích thị là bài thơ muôn vần muôn điệu, là bức
họa muôn hình muôn sắc. Những người đó không là thi sĩ
nhưng chính là thi nhân lấy cuộc đời viết nên cung điệu.
Con là thi nhân vì con
đang sống. Sống hồn nhiên, cởi mở, bao dung, trong sáng...
sống hòa với cuộc sống thăng trầm, vui khổ, tiếng khóc
tiếng cười, đó là Huyền Không, bài thơ bất tuyệt Thầy
tặng cho con trên vạn nẻo đời.
Thầy.
[12]
Ngày ..... tháng ..... năm
.....
Con thương mến,
Những ngày lưu lại
Ðà Nẵng Thầy thấy con siêng năng đi chùa, học hỏi giáo
lý và tinh tấn tu tập Thầy rất hoan hỷ. Giữa xã hội
loài người hiếm thay là người theo đạo, giữa những người
theo đạo, hiếm thay là người theo đạo chánh, giữa những
người theo đạo chánh hiếm thay là người hiểu đạo lý,
giữa những người hiểu đạo lý hiếm thay là người thực
hành và giữa những người thực hành hiếm thay là người
thành tựu.
Người Phật tử thường
hãnh diện mình theo chánh đạo, nhưng thật ra ít người xứng
đáng với chánh đạo của họ. Xứng đáng là khi nào họ sống
trong đạo lý, hay nói theo Kinh Phật là sống tùy thuận
Pháp (Dhammànudhammà patipanno viharati). Trong Kinh
Anguttara Nikàya, Ðức Phật dạy rằng:
Dù một người suốt
ngày học thuộc lòng Tam Tạng, giảng nói Tam Tạng hay suy
tầm nghĩa lý Tam Tạng thì vẫn không phải sống theo
pháp, nếu người ấy không tự mình sống an tịnh, không
tự ổn định nội tâm, không biết rõ mục đích tối thượng
với trí tuệ.
Con đã siêng năng học
đạo, tinh tấn tu hành thì phải học và hành sao cho chín chắn,
Thầy sẵn sàng giúp con khi con cần đến.
Con hỏi Thầy ý nghĩa
hai chữ Huyền Không, nhưng không dễ gì nói hết vô lượng
nghĩa của chữ này. Thầy chỉ gợi ý cho con một vài nét
để con dễ lãnh hội nhất, và dễ thể hiện nhất, rồi từ
đó con tự mở ra vô lượng nghĩa khác.
Huyền là hòa đồng.
Thế nào là hòa đồng? Là trọn vẹn với chính mình, với
sự sống, với công việc, với tất cả các pháp. Khi con
đi trọn vẹn với đi là huyền, khi con ăn trọn vẹn với
ăn là huyền, khi con ngủ trọn vẹn với ngủ là huyền, khi
con nói năng, hành động, suy nghĩ đều trọn vẹn với mình
là huyền. Nói cho kêu là thể nhập vạn pháp.
Con có khi nào nhìn một
đám mây trôi qua bầu trời, một đóa hoa nở cuối vườn
hay một cơn mưa mùa hạ một cách trọn vẹn không? đó là
Huyền.
Con có khi nào thể nghiệm
các pháp đến và đi trong hoặc ngoài con như dòng sông trôi
chảy một cách trọn vẹn không? đó là Huyền.
Con có khi nào làm mọi
việc dù nhỏ dù lớn, dù dễ dù khó tùy nhân duyên việc
ấy đến với con một cách trọn vẹn không? đó là Huyền.
Con có khi nào từ bỏ
hay chấp nhận điều gì đó một cách trọn vẹn không? đó
là Huyền.
Vân vân và vân vân...
Nhưng thế nào là trọn
vẹn? Bí quyết ấy Thầy dành cho con khám phá một mình.
Còn Không là gì? Là đạm
nhiên, trong sáng, là rỗng rang thanh tịnh, là an ổn giải
thoát, không nắm bắt cũng không từ bỏ một điều gì cả.
Sống hay chết đối với
con không có vấn đề gì, đó là Không.
Ðược hay mất đối với
con không có vấn đề gì, đó là Không.
Thành hay bại đối với
con không có vấn đề gì, đó là Không.
Hơn hay thua đối với
con không có vấn đề gì, đó là Không.
Sinh hay diệt đối với
con không có vấn đề gì, đó là Không.
Có hay không đối với
con không có vấn đề gì, đó là Không.
Thiện hay ác đối với
con không có vấn đề gì, đó là Không.
Tịnh hay động đối với
con không có vấn đề gì, đó là Không.
Niết-bàn hay sinh tử
đối với con không có vấn đề gì, đó là Không.
Vân vân và vân vân ...
Tóm lại Huyền Không
là hòa đồng với tất cả mà không có vấn đề gì cả
và không có vấn đề gì mà vẫn hòa đồng với tất cả.
Tuy nói vậy nhưng khi
con đã lãnh hội và sống được tinh thần huyền không thì
con muốn nói sao cũng được, cái gì lại chẳng huyền, cái
gì lại chẳng không, huyền không vô lượng nghĩa mà.
Và tuy nói vô lượng
nghĩa con đừng cố tìm vô lượng định nghĩa bằng danh bằng
cú. Vô lượng là ý Thầy nói có bao nhiêu pháp là có bấy
nhiêu nghĩa huyền không vậy thôi.
* * *
Ngày nọ thần chết gặp
một gã tiều phu. Thần bảo:
-
Thôi đừng đốn củi làm gì nữa anh sẽ phải chết ngay
bây giờ.
Gã tiều phu nhún vai
nói:
-
Thì chết!
Rồi gã tiếp tục đốn
củi. Thần chết lại bảo:
-
Bây giờ ta đổi ý bắt anh phải sống đốn củi với số
kiếp bằng lá cây trong rừng này.
Gã tiều phu lại nhún
vai:
-
Thì sống!
Thầy gọi tên gã là
Huyền Không.
* * *
Một hôm Thầy ra sau vườn,
thấy chú tiểu đang bỏ cuốc ngồi nghỉ, tay còn lấm đất
bưng một bát trà. Thầy hỏi:
-
Con làm gì đó?
Chú tiểu nuốt ngụm
trà đang uống dở và thưa:
-
Dạ, con uống trà.
Thầy gọi tên tiểu
là Huyền Không.
* * *k
Trời đã trưa, nắng gắt,
Thầy đi bộ đã hơn 10 cây số vẫn chưa về tới chùa,
còn 3 cây số nữa, sợ trễ ngọ Thầy gọi một chiếc
xích lô Bác xích lô hỏi:
-
Thầy đi đâu?
-
Bác cho về chùa Huyền Không.
-
Mời lên xe.
Thầy lên xe. Bác đạp
thật nhanh mồ hôi nhễ nhại. Về đến chùa vừa kịp ngọ
Thầy mừng rỡ cám ơn:
-
Bác cho trả bao nhiêu?
Bác xích lô vừa lau mồ
hôi vừa nói:
-
Bao nhiêu cũng được.
Thầy gọi tên bác là
Huyền Không.
* * *
Bây giờ ngồi kể mãi
với con như vậy biết bao giờ cho hết những tên gọi Huyền
Không.
À, mà con chưa đọc bài
thơ "Gọi tên Huyền Không" của Thầy sao? Thầy
chép lại cho con đọc nhé:
GỌI TÊN HUYỀN KHÔNG
1. Huyền Không Huyền
Không
Gọi tên lần đầu
Chùa tranh nho nhỏ
Ðồi mây cỏ hoang
2. Huyền Không Huyền
Không
Giọt máu tim ta
Yêu từng hơi thở
Ngày qua ngày qua.
3. Huyền Không Huyền
Không
Giòng suối trong xanh
Chờ trăng qua ngõ
Giọt nắng long lanh
4. Huyền Không Huyền
Không
Trời nước mênh mông
Yêu đàn chim nhỏ
Ngủ yên ngủ yên
5. Huyền Không Huyền
Không
Mẹ ru lời kinh
Con ơi hãy ngủ
Sá gì tử sinh
6. Huyền Không Huyền
Không
Xin chào vô cùng
Thuyền ta bỏ bến
Ði vào vô biên
7. Huyền Không Huyền
Không
Xin gọi tên người
Cỏ, cây, rêu, đá
Muôn loài vô danh
8. Huyền Không Huyền
Không
Ðừng nhớ tên nhau
Cho tình yêu mãi
Ngàn sau ngàn sau
9. Huyền Không Huyền
Không
Gọi lần cuối cùng
Vang từ vô thỉ
Vọng đến vô chung.
Thầy.
[13]
Ngày ..... tháng ..... năm
.....
Con thương mến,
Thư con viết khá rành
mạch chứng tỏ con có tiến bộ nhiều. Diễn tả rành mạch
nội tâm mình là kết quả của chánh niệm tỉnh giác. Một
người thiếu sáng suốt, thiếu tỉnh thức và tự tri không
làm được điều đó.
Những điều con giải
bày chứng tỏ con đã bắt đầu lãnh hội và thể nghiệm
được những gì Thầy đã hướng dẫn, Thầy mừng cho con.
Trong thư con có bốn
điểm Thầy còn phải giải thích thêm:
1)
Khi tâm trí ta không bị chi phối bởi những dao động của
tình và lý như vui, buồn, mừng, giận, thương, ghét hay kiến
chấp, vọng tưởng, ý hệ v.v... thì đó không phải là trạng
thái vô cảm giác. Nó không phải là trạng thái
ngưng đọng hoặc thủ động như cơn nhập định, xuất thần,
giấc ngủ hay trạng thái bị thôi miên. Trái lại lúc ấy
là lúc tâm trí bén nhạy nhất mà người ta có thể gọi
nó là trực giác, bát-nhã (pannà) hay trí tuệ quán chiếu
(vipassanà-nàna). Vì tâm lúc ấy có đủ ba yếu tố: sáng
suốt (Tuệ), an tĩnh (Ðịnh) và trong lành (Giới).
Nếu để ý kỹ hơn ta sẽ thấy tâm ấy còn có những trạng
thái phụ thuộc như linh động, thích ứng, ngay thực, tế
nhị, nhẹ nhàng, thoải mái v.v... chắc chắn đó không phải
là bệnh tâm lý đâu. Trái lại, đó là liều
thuốc tối thượng của tâm hồn, như Hoàng Ðế Nội Kinh (một
cuốn sách Ðông y được liệt vào hàng Kinh) đã nói:
Ðiềm đạm hư vô
chân khí tùng chi
Tinh thần nội thủ bịnh an tùng lai
Nghĩa là khi tâm hồn
sáng suốt, định tĩnh và trong lành là khi bịnh tật chóng
tiêu tan và chân khí chóng hồi phục nhất.
Về phương diện sám hối
cũng vậy, khi tâm trí vọng động là tội lỗi phát sinh,
khi tâm trí an tịnh là tội lỗi tiêu tan (tội từ tâm khởi
đem tâm sám, tâm được tịnh rồi tội liền tiêu) cho
nên chỉ cần thấu hiểu được tâm tính mình để tự ổn
định là có ngay một tâm hồn lành mạnh trong sáng.
Tóm lại, sáng suốt,
định tĩnh, trong lành là yếu tố chữa bệnh tâm thần chứ
không phải là bệnh tâm thần như con nói.
2)
Khi chờ đợi con thường tưởng tượng ra một cái gì tốt
đẹp để khỏi sốt ruột và căng thẳng, như vậy cũng tạm
được nhưng quả không phải là thượng sách, vì nó chỉ tạm
giải quyết vấn đề chứ không giải quyết đến tận gốc.
Cũng như khi bịnh ta có quyền uống thuốc để cho qua cơn bệnh,
nhưng nếu bản thân ta vẫn là nguyên nhân gây ra các thứ bệnh
thì ta phải cứ uống thuốc hoài. Người chữa bệnh thực
sự phải tìm hiểu nguyên nhân, điều kiện, bịnh trạng, kết
quả v.v... bịnh của mình và giải quyết ngay từ bản thân
thì không những có thể tự chữa được bệnh mà còn ngăn
ngừa được bịnh nữa. Y học dạy ta phòng bệnh hơn chữa
bệnh, mà muốn phòng bệnh ta phải hiểu biết bệnh ấy là
gì đã chứ, phải không con?
Sốt ruột, căng thẳng,
bực mình không phải phát sinh ở sự chờ đợi, chờ đợi
chỉ là điều kiện (duyên) kích thích cho sốt ruột,
bực mình phát sinh. Vậy quan sát kỹ ta sẽ thấy chính sốt
ruột, căng thẳng, bực mình là bệnh trạng phát xuất từ
nguyên nhân nội tâm thiếu ổn định, thiếu tu tập, một nội
tâm hoang dã. Con phải tự khám phá sự bực mình từ nguồn
gốc của nó để thấy rõ nguyên nhân, và giải quyết nó từ
đấy; chánh niệm tỉnh giác giúp con làm việc đó một
cách dễ dàng. Khi cơn bực mình phát sinh trước hết con hãy
giảm trừ những điều phụ thuộc để đối diện ngay với
yếu tố chính. Sự chờ đợi là phụ thuộc vì nó chỉ là
điều kiện (duyên), đau khổ là phụ thuộc vì nó là
kết quả thụ động, chính sự bực mình (bịnh trạng) mới
phát xuất trực tiếp từ nguồn gốc (nguyên nhân) của
nó là nội tâm. Với chánh niệm, tỉnh giác rất tự nhiên
con soi chiếu vào trạng thái bực mình ấy và theo dõi cho đến
khi nó diệt, nghĩa là nó trở về nguồn gốc chưa sinh của
nó. Ở đó con tìm lại được sự quân bình hay ổn định
của nội tâm.
Trong Phật giáo người
ta gọi hành trình này là Tứ Diệu Ðế: thấy khổ, thấy
nguyên nhân phát sinh ra khổ, thấy khổ đi đến hoại diệt
và thấy yếu tố nào đưa khổ đi đến hoại diệt (khổ,
tập, diệt, đạo).
Trong Ðạo Ðức Kinh của
Lão Tử gọi đó là tiến trình "quy
căn viết tịnh, thị vị viết phục mạng, phục mạng viết
thường, tri thường viết minh" (trở về gốc của tâm
gọi là tịnh, cũng gọi là phục mạng, phục mạng là thường,
biết được tâm thường ấy gọi là minh).
Thấy bực mình, thấy
bực mình trở về gốc, hay diệt, tức là chữa được nó
tận gốc. Như vậy đòi hỏi con phải đối diện với sự
thật, không trốn chạy, không giải quyết tạm thời.
3)
Vấn đề thiền tuệ và thiền định: Thầy có giảng giải
trong nhiều thư chắc con cũng có đọc rồi, rất nhiều người
lầm lẫn thiền tuệ với thiền định. Sống thiền hay sống
đạo theo thiền tông hoàn toàn khác với nhập định. Ðịnh
là tập trung tư tưởng vào một đối tượng để đưa tâm
vào một trạng thái an nghỉ gọi là "ngoại tức chỉ
duyên, nội tâm tĩnh chỉ" (cắt
đứt hoàn cảnh bên ngoài và bên trong tâm ngưng lắng).
Thường người ta gọi
chung thiền gồm cả Ðịnh và Tuệ, nhưng thực ra Tuệ nghiêng
về Quán còn Ðịnh nghiêng về Chỉ. Trong Ðạo Phật cả Chỉ
lẫn Quán đều được dùng. Nhưng phần đông nói tới tu
thiền là nói tới Chỉ (Ðịnh) với những phương pháp
tập trung tư tưởng làm cho tâm tĩnh chỉ, có khi rơi vào trạng
thái không còn hay biết gì nữa. Ngược lại, một số người
khác đả kích thiền định, chủ trương thiền là "kiến
tánh thành Phật" mà thôi. Còn khi nói tới Quán thì
người ta lại hiểu theo nghĩa suy nghĩ về sự chết, về vô
thường, về sự khổ, về vô ngã, về bất tịnh v.v...
Thấy sự lệch lạc đó,
nhiều thiền sư kêu gọi Phật tử trở lại chỉ quán
song tu, tức là tâm vừa sáng suốt vừa định tĩnh,
trong đó chỉ là định tĩnh bất loạn, và quán
là sáng suốt thấy biết như thật. Chỉ quán song tu cũng còn
gọi là định tuệ song tu, theo nghĩa tâm vừa có yếu tố
định (an tĩnh) vừa có yếu tố tuệ (sáng suốt),
chứ không phải dành một thời gian để tu chỉ rồi một
thời gian khác để tu quán như người ta thường làm.
Vì tâm thường dao động,
căng thẳng và tiêu mòn sinh lực nên ta cũng cần phải tu tập
chỉ tịnh (định) để lấy lại thăng bằng phục hồi
nguyên khí, nhưng khi người ta đã biết cách định tuệ
song tu, thì hình như ít ai còn quan tâm đến thiền định nữa.Thực
ra chánh định vẫn được Ðức Phật khuyến khích vì nó
có những lợi ích như:
- Chế ngự tâm tán
loạn
- Ðược định tĩnh
nhất tâm
- Ðược hiện tại lạc
trú
- Phát huy năng lực
thắng trí
- Làm nền tảng cho
trí tuệ
Tiếc rằng thiền định
rất khó tu, cần theo đúng phương pháp và có Thầy hướng
dẫn, bằng không có khi không những không ổn định được
tâm ý mà còn bị tẩu hỏa nhập ma nữa. Vì vậy có nhiều
vị Thiền sư cấm hẳn đệ tử tu chỉ tịnh theo lối tọa
thiền nhập định.
Một hôm, Chí Thành bạch
với Lục Tổ Huệ Năng:
-
Thầy con hằng chỉ dạy đại chúng trụ tâm quán tịnh, ngồi
mãi không nằm .
Tổ nói:
-
Trụ tâm quán tịnh là bịnh, chớ chẳng phải thiền, ngồi
mãi thì bó buộc thân thể, không lợi ích chi, hãy nghe kệ:
Khi sống ngồi không
nằm
Chết rồi nằm chẳng ngồi
Gốc thiệt đầu xương thối
Làm sao lập công tội!
Ðoạn trên Tổ Huệ Năng
chê ngồi trụ tâm là chưa phải đạo, Ngài còn gọi đó
là bịnh vì nó làm ngưng tụ tâm, mất linh động và hoạt
dụng của một tâm sáng suốt. Mặc dù định cũng có lợi
ích nhưng nghiêng về định quá tâm dễ sinh thụ động hôn
trầm. Người tu tập tọa thiền thường rơi vào hai cực
đoan nguy hiểm, một là không định được nên phải gia
công tinh tấn nhiều, đưa đến tâm dao động, căng thẳng,
mệt mỏi. Hai là đạt được định thì dính mắc vào trạng
thái tĩnh chỉ, ngưng tụ, đưa đến tâm thụ động, hôn trầm,
trì trệ. Ðó là chưa kể những sai lầm khác rất dễ đưa
đến điên loạn, mất quân bình nội tâm, và dễ bực mình
với đời sống hàng ngày, với hoàn cảnh chung quanh nữa.
Thiền tuệ hay tuệ
quán Vipassanà thực ra cũng chính là định tuệ song tu. Vì mặc
dù không chuyên về định, thiền tuệ vẫn dùng đến yếu
tố định, nhưng không tập trung tư tưởng vào một đối
tượng duy nhất để đưa tới tĩnh chỉ (nhập định)
mà là chú tâm, nghĩa là tâm định tĩnh vừa đủ để không
bị phân tâm khi quán chiếu thực tại. Trong thiền tuệ,
chánh niệm thuộc về Ðịnh, còn tỉnh giác thuộc về Tuệ.
Cả hai không thể tách rời nhau được.
4)
Tin Thầy và lệ thuộc vào Thầy là hai điều khác biệt.
Có những người tin mù quáng, tôn sùng vị Thầy của mình
triệt để nhưng hoàn toàn bị lệ thuộc vào Thầy, như vậy
chỉ có một phần lợi ích rất nhỏ. Ðức Phật đã từng
tuyên bố rằng: "Ngài là người chỉ đường còn mỗi
người phải tự thắp đuốc lên mà đi". Nếu con
tin Thầy vì con thấy những gì Thầy dạy là đúng và khi thực
hành những lời dạy ấy có đem lại lợi ích thiết thực
thì không ai có thể tước đoạt niềm tin ấy của con. Cho
dù một mai Thầy không còn nữa, con vẫn không mất niềm
tin và những gì con thực hành vẫn đem lại lợi ích cho con
mãi mãi. Bổn phận của vị Thầy là giữ vững niềm tin nơi
người đệ tử, và đồng thời không để người đệ tử
lệ thuộc vào mình. Giữ vững niềm tin không có nghĩa là bắt
đệ tử tin nơi mình, nhưng phải hướng dẫn đúng đắn để
người đệ tử tin tưởng vào chính họ, không để đệ tử
lệ thuộc vào mình không có nghĩa là từ bỏ họ, mà giúp
họ có thể tự đứng vững một mình.
Ðã hiểu được những
điều Thầy dạy, đã thực hành có kết quả những lời dạy
ấy thì con còn sợ gì một mai không còn Thầy nữa. Con cứ
yên tâm, chưa bao giờ Thầy bỏ rơi một người đệ tử và
chẳng bao giờ Thầy bắt một người đệ tử lệ thuộc Thầy.
Thân ái chào con.
Thầy.
[14]
Ngày ..... tháng ..... năm
.....
CK con,
Nhận được thư con một
tuần lễ rồi mà bây giờ mới viết thư cho con được.
Thường thư xa Thầy phải trả lời sớm vì sợ thư đi lâu,
mất công trông đợi. Coi lại thư con đề ngày 11- 8 thì đúng
y một tháng.
Lúc này Thầy đang nhập
hạ, từ rằm tháng 6 đến rằm tháng 9 (ÂL), do đó Thầy
ít đi Bửu Long hơn. Công việc của Thầy rất nhàn, thỉnh
thoảng mới họp Giáo Hội, làm ít công việc văn phòng,
còn chỉ đọc sách, trả lời thư, tiếp khách, ngồi uống
trà với đệ tử, làm non bộ và vẽ tranh.
Thầy có một ước mơ
tương tự như con, ước có một mảnh vườn, một trà thất,
một hồ sen liễu rủ, một con đường lát đá dẫn vào
trà thất, chung quanh trà thất Thầy dựng giả sơn và trồng
ít khóm cây kiểng cho tăng phần u nhã, bên kia hồ sen sau
màn liễu rủ là một gác chuông nho nhỏ dựng trên một gò
đất có cỏ mướt xanh...
Thế rồi chiều chiều
khi các con đi làm về, ghé lại trà thất "nói một
vài chuyện cát đá, pha trà, uống một chung nhỏ, ngậm một
viên kẹo và tưởng như cả tam thiên thế giới đều bình
an như mình" (đoạn này Thầy trích đúng nguyên văn thư
con đó nghe!). Thầy thích cái không khí bình lặng và
thân tình ấy, vì Thầy đã chán ngán tổ chức, tu viện, học
viện, tùng lâm và ngay cả thiền viện nữa.
Con ạ, bây giờ thiền
của Thầy thật là giản dị. Chỉ cần Thầy trồng thêm
ít luống rau, vài cây ăn trái sau trà thất, để rồi sáng
ra tưới bón một mình, hoặc cùng vài ba bạn đạo, giới tử
gì đó, và rồi khi rau đã tốt, các con đến vào một ngày
nghỉ, hái rau, lặt lá, đem ra hồ rửa và làm một bữa cơm
rau thật ngon lành. Thầy nói: "Ý, đứa nào nêm canh
mà mặn thế này, ra vườn hái cho Thầy một trái chanh
coi!". Thế là cả đám Thầy trò đều cười ồ lên
thoải mái. Ðó, bức tranh thiền của Thầy là vậy đó.
Thầy đã từng xây dựng
và sinh hoạt trong những viện Phật học, tu viện, tòng lâm
và cả thiền viện nữa, nhưng cho đến bây giờ thì Thầy
chỉ ngồi xem non bộ, uống trà và viết thư cho các đệ tử
ở xa. Không biết những việc làm như vậy có gọi là thiền
được không con nhỉ? Hình như người ta có thói quen chỉ
xem những gì khuôn phép, qui tắc, bài bản, giờ giấc... mới
gọi là thiền, còn Thầy thì chỉ sống và chiêm nghiệm đời
sống từng giây từng phút trong lặng lẽ tỉnh thức, ai muốn
gọi đó là gì cũng được. Tất nhiên con phải có một mảnh
đất nội tâm thật bình an để con có thể tịch tịnh Niết-bàn,
nhưng trên mảnh đất đó con cứ trồng tỉa ươm bón những
cây ước vọng của con cho khu vườn tâm thêm phong phú, để
con có thể thỏng tay vào chợ, sinh tử thong dong. Công việc
ươm bón đó phải chăng cũng là một vẻ trong muôn vàn vẻ
đẹp của thiền?
Con mơ ước đến trà
thất của Thầy, ăn một viên kẹo, uống một chung trà, thế
mà vẫn ung dung chạy ra xe buýt thật gấp để đi làm cho đúng
giờ ở tận Carbondale, và công việc của con trong sở vẫn
được làm một cách chu đáo, tận tâm, nhiệt tình và sáng
suốt, thì mơ ước đôi lúc giúp con thư giãn thoải mái để
khỏi trở thành chai lì và máy móc trong công việc lặp đi
lặp lại hàng ngày.
Ước mơ chưa hẳn là
vọng động, vì có những ước mơ vĩ đại như ước mơ tự
giác - giác tha của những vị bồ tát đã đem lại biết
bao hạnh phúc cho cõi đời nhiệt náo này, phải không con?
Nhưng cho dù đó là vọng đi nữa, mà con có đủ sáng suốt
để thấy đó là vọng thì lúc đó chính là chơn.
Thầy khuyên các con đừng
vọng động vì Thầy muốn các con thấy lúc không vọng
động thế thôi. Thấy vọng và thấy không vọng một
cách như thực thì đều là chơn cả.
Lúc đầu người ta phải
bỏ vọng tức thế giới khái niệm (Pannatti) để tìm
cái không vọng tức thế giới chân tánh (Paramattha),
nhưng chớ có dừng lại ở đó, phải tiến thêm một bước
nữa, là đi vào thế giới khái niệm tục đế để thấy vọng,
sử dụng vọng cho thật thiện xảo để lợi ích quần
sinh. Bao giờ con thấy tất cả vọng đều không vọng, lúc
đó cả hai đều chơn, chơn không - diệu hữu như người ta
thường nói. À mà thôi, nói một hồi không khéo lại lạc
vào rừng kinh điển lý luận mất.
Con ạ, khi viết thư
cho Thầy con nói Illinois đang bước vào thu, lá vàng bắt đầu
rụng, nhưng bây giờ ở quê nhà trời đã giữa thu, mưa thật
nhiều và thỉnh thoảng có gió lớn. Có lẽ ở miền Trung
chùa Huyền Không đang bị bão, chắc là sư thúc và các sư
đang rầu vì vườn tược bị phá phách. Thầy nhớ lúc Huyền
Không còn ở Hải Vân, có một đêm trời bão lớn Thầy
không sao ngủ được trong một am tranh bé bỏng, mong manh giữa
những tiếng hú ghê hồn của bão tố, tiếng cây rừng gãy
đổ, tiếng đá lăn sau vách núi, cộng với tiếng thét gầm
của biển cả tạo thành một thứ âm thanh cuồng nộ hãi
hùng. Lúc đó Thầy cũng thấy mình bé bỏng và sẵn sàng để
gió cuốn đi...
Và rồi, con có biết
không, bây giờ vô hình trung "cứ để mây bay",
"hốt phùng thiên để nguyệt" v.v... đã trở
thành thơ và họa của Thầy, đó chính là chút mộng mơ đầy
sáng tạo mà nghệ thuật thiền cống hiến cho cõi đời ảo
hóa.
Biết đâu hôm nào cao
hứng Thầy sẽ vẽ cho con một bức tranh, trong đó có mang
ít nhiều giông bão của cuộc đời.
Nhưng thôi chuyện đó
hãy còn chưa đến. Bây giờ Thầy ngừng bút, chúc con học
giỏi để cuối năm ra trường đi làm như ý nguyện, chứ
không làm lụng tất bật như hiện nay với đồng lương ít
ỏi như vậy.
Thầy.
[15]
Ngày ..... tháng ..... năm
.....
Con thương mến,
Thầy nhận được thư
con, nhưng mấy hôm nay bận nên đến bây giờ mới viết cho
con. Cũng như con, Thầy đang soạn "giáo án"
cho những học trò của Thầy. Giáo án của Thầy viết từ
cuộc sống, từ những hơi thở ngắn ngủi, từ những ràng
buộc trong đời...
Ung dung trong ràng buộc
đó là nghệ thuật sống hạnh phúc. Nhưng con có biết
không, ung dung trong ràng buộc chính là biết mình đang
bị ràng buộc đó con ạ. Vì nếu ung dung trong ràng
buộc mà không biết mình bị ràng buộc thì tai hại biết
bao, phải không con? Ví như một đứa con nít ung dung chơi
trong ngôi nhà mục nát, có biết đâu nó sắp bị đè bẹp
một khi ngôi nhà sụp đổ!
Biết mình bị ràng buộc
và chấp nhận ràng buộc một cách can đảm để giác ngộ
cho mình và người nên gọi là ung dung trong ràng buộc, vì nếu
muốn thoát ra ràng buộc để được tự do đó là một
ràng buộc lớn, phải không con?
Chấp nhận ràng buộc
vì biết rằng tất cả đều ràng buộc, thoát ràng buộc
này rơi vào ràng buộc khác, rốt cuộc không lẽ cứ chạy
trốn hoài sao. Vậy tốt hơn ta cứ thích ứng với ràng buộc,
thấy rõ nó và ung dung trong nó.
Nhưng con ạ, chúng ta
có thể ung dung được là vì thực ra tự tánh của chúng ta
vốn là chơn, vốn là ung dung giải thoát. Tự tánh của ta
và vạn pháp vốn rất trong sáng, vắng lặng, hồn nhiên và
dung thông tất cả. Nếu ai biết trở về với nguồn sống
ấy nơi mình thì có thể hóa giải tất cả ràng buộc, tất
cả khổ đau, tất cả nghịch cảnh và trả ta về với tự
do tận mạch nguồn.
Rồi ra con sẽ thấy
ràng buộc hay không ràng buộc đều do nơi một ảo tưởng
nào đó của tâm mình. Tâm mình rỗng lặng thì tất cả
ràng buộc cũng đều không.
Con thương mến,
Con hãy tập nhìn ngắm
và lắng nghe tất cả với tâm trầm lặng, hồn nhiên, cảm
thông và trong sáng rồi cuộc đời sẽ ban cho con biết bao là
tự do và hạnh phúc, chính những ràng buộc cũng là tự do
và hạnh phúc.
Thầy chúc con hưởng
được sự thanh bình thực sự trong suối nguồn của tự
tâm con.
Thầy.
[16]
Ngày ..... tháng ..... năm
.....
Con thương mến,
Lần trước nhận được
thư con Thầy trả lời ngay, Thầy viết rất rõ ràng và giải
thích cặn kẽ. Tiếc là con không nhận được thư ấy.
Nay nhân chị NN ra Thầy
viết lại cho con.
Con là một Phật tử
may mắn. Ngay từ khi vào đạo con đã gặp những Thầy hay,
bạn tốt truyền cho con tinh thần giác ngộ của Ðạo Phật,
đạo Phật có giá trị là khi nào nó đem lại cho con người
một đời sống giác ngộ. Một người học đạo chỉ đến
chùa để cầu phước, van xin khấn vái để được thế này
thế kia theo ước vọng trong lòng họ, vậy là Ðạo Phật
chỉ đáp ứng tham vọng. Người nghèo cầu được giàu, người
bịnh cầu được lành, người thường dân muốn được
danh vọng, người khổ muốn được vui... họ cầu Phật nếu
đuợc thì Phật linh, họ cúng, nếu không được là Phật
không linh, họ bỏ chùa. Còn một hạng người thứ hai tìm
học tất cả pháp môn của Phật, trở thành học giỏi,
thông minh, lý luận, vậy là Ðạo Phật đáp ứng khát vọng
tri thức. Nhưng rồi khi tiếp xúc với đời sống họ lúng
túng, sợ hãi, toan tính, dối gian v.v... cuối cùng họ kết
luận Ðạo Phật chỉ là một mớ lý thuyết.
Không, Ðạo Phật có
nghĩa là sự sống giác ngộ, và giản dị làm sao khi con ăn
biết mình đang ăn; khi đang đi, đứng, nằm, ngồi biết mình
đang làm như vậy. Khi sân biết tâm mình có sân, khi buồn
biết tâm mình có buồn, khi đau đớn biết mình đau đớn,
khi vui thích biết mình vui thích, khi chơn chính biết mình chơn
chính, khi sai lầm biết mình sai lầm. Ðó là sống đạo, đó
là sống hồn nhiên và trong sáng.
Con không cần tính
toán, so đo, lo nghĩ vì dù có lo toan con cũng chẳng giải quyết
được gì hơn, con chỉ cần trầm tĩnh để mọi việc được
giải quyết một cách trực tiếp và bình thường, đời sống
thực sự mới giản dị làm sao, thế mà con người cứ làm
cho nó rắc rối và khó khăn thêm trong khi cố tìm an ổn.
Hai người đi xe đạp
ngược chiều vô ý đụng nhau, xây xát chút đỉnh thế mà
lớn chuyện mới kỳ. Họ nổi nóng gây gổ, xỉ vả rồi
ấu đả... cuối cùng phải bị dẫn tới công an xử phạt
mất hết cả buổi, mất công ăn việc làm, ở nhà cha mẹ,
con cái trông đợi, v.v... Thế tại sao họ không mỉm cười
xin lỗi, phủi bụi, sửa lại dây sên rồi lên xe đi làm
công việc của mình nhỉ? Sống biết mình là thế, là giản
dị biết bao, cuộc đời thế ra có gì rắc rối đâu, phải
không con?
Thầy mong rằng con sẽ
hiểu đạo, sống đạo, nghĩa là sống trung thực với sự
sống.
Chúc con an vui.
Thầy.
[17]
Ngày ..... tháng ..... năm
.....
DT con,
Cách đây khoảng một
tuần, Thầy có viết thư cho con, nhân nghe D nói con bịnh. Hơn
nữa lâu quá Thầy cũng trông thư con, muốn biết con đã tiến
bộ ra sao?
Trước khi C vào, Thầy
có trả lời con một lá thư, trong đó Thầy giải thích làm
thế nào để nhiếp phục tâm sân hận, bằng cách tránh nó
hay bằng cách nhìn thẳng vào nó, không biết con đã nhận
được chưa, hay là thư đó của NT, nếu vậy con mượn NT
để xem nhé. Bây giờ Thầy nói thêm một chút.
Khi giận con cố giữ
tâm bình thản hoặc niệm Phật với tâm thư thả hoặc buột
miệng hát lên... đều là những cách né tránh thực tại.
Né tránh cũng là một phương pháp tu trong trường hợp thích
ứng. Vì vậy con có thể áp dụng nếu con muốn, miễn là
thành công. Nhưng Thầy thích nhìn thẳng vào thực tại hơn,
nghĩa là nhìn thẳng vào cơn giận.
Như Thầy đã nói, có
hai cách tu tâ: một là chỉ, hai là quán. Chỉ là giữ tâm
yên tĩnh bằng cách tập trung tư tưởng vào một đối tượng
nhất định, như niệm Phật, đếm hơi thở v.v... để giữ
tâm không xao động. Hàng ngày lúc nào thuận tiện con có thể
tập an chỉ tâm như vậy trong 5, 10 phút hoặc hơn tùy theo
điều kiện của con.
Còn quán là soi chiếu
tâm, phần nhiều là lúc nó khởi động. Như khi con giận là
tâm khởi động, hãy chú tâm soi chiếu hành tướng của nó
"đây là cơn giận phát sinh"... "đây là cơn
giận hiện hành"... "đây là cơn giận lắng dịu"...
"đây là cơn giận chấm dứt"... trong một vài
niệm như vậy con sẽ thấy không còn đâu là giận cả,
bây giờ chỉ còn lại hơi thở gấp, tim đập mạnh v.v...
Ðó chỉ là sự xáo trộn còn lại trên thân sau tâm sân hận
chứ không phải là sân hận. Con có thể hít vào một hơi
thật sâu, thở ra từ từ bằng miệng để điều hòa nhịp
tim lại, trong năm ba hơi thở là xong. Ðó là cách làm chủ
thân tâm bằng soi chiếu, cùng với một vài phương tiện kỹ
thuật giản đơn mà hiệu nghiệm.
Thầy đã nói rất nhiều
rằng không phải tránh khổ đau, phiền não, không phải
tránh tranh chấp, ganh tị... ở đời. Làm sao con thoát được
khi bản chất cuộc đời là như vậy? Thật ra chính nhờ những
xô đẩy đó con mới biết cách tự điều chỉnh mình sao
cho có thể tự tại giữa những được mất, hơn thua, thành
bại, xấu tốt... và biết bao những mâu thuẫn khác ở đời.
Nếu không có những xô đẩy đó con s? trở thành yếu đuối
không sao giác ngộ, giải thoát được.
Con bảo khi đọc thư
Thầy thì đời có vẻ dễ sống, phiền muộn dễ quên, khó
khăn dễ vượt. Coi chừng, con nói oan cho Thầy đó nghe. Thầy
không bao giờ khuyên con quên phiền muộn, vượt khó khăn đâu.
Thầy thường bảo con phải bình tĩnh đối diện với nó, học
hỏi nó. Chỉ cần con đừng sợ hãi thì khó khăn, phiền muộn
thế mấy cũng như không.
Thầy rất thông cảm với
con khi con phải đương đầu với bao nhiêu phiền lụy của
cuộc sống trên hành trình giác ngộ, có những lúc con sợ
hãi cô đơn. Ai cũng thế cho đến khi nào chưa đứng vững
một mình, nhưng bên cạnh con còn có Thầy và các bạn, sẵn
sàng chia sẻ với con. Nếu Thầy để con một mình thì việc
gì Thầy phải quan tâm hướng dẫn con. Chính con cũng thấy
rằng luôn luôn vẫn có Thầy bên cạnh những khổ đau sợ
hãi của con, tất nhiên không phải để làm vơi đi những
khổ đau đó mà để giúp con có thêm lòng can đảm và giữ
vững niềm tin mà "vác thập tự giá" của
mình. Con đừng sợ hãi phiền não, con không nghe người ta nói
phiền não tức Bồ Ðề sao? Phát tâm Bồ Ðề tức
là con dám đón nhận mọi ưu phiền của cuộc đời cho sự
nghiệp giác ngộ.
Con đừng có ý tưởng
tự ti, cảm thấy mình yếu hèn, tội lỗi, không xứng đáng
với Phật, không xứng đáng với Thầy, con hãy dứt bỏ ý
tưởng ấy đi. Lòng từ bi của Phật, tình thương yêu của
Thầy không đủ lượng bao dung hay sao?
Tất nhiên con còn có
những tình cảm, những ước vọng, những thôi thúc rất yếu
đuối. Nhưng Thầy không bảo con phải thành thánh, phải
tinh khiết, phải hoàn toàn, Thầy chỉ khuyên con nên lấy đó
làm chất liệu cho sự giác ngộ mà thô, hãy cám ơn những
thứ đó đã giúp con chất liệu trui rèn trí tuệ.
Con đừng tưởng Thầy
là thánh, hoặc Thầy tinh khiết hoàn toàn. Không, Thầy cũng
như con với tất cả cảm giác, tình cảm, ước vọng, thôi
thúc của một con người. Thầy không cầu làm thánh, không
cầu tinh khiết, không cầu hoàn hảo, Thầy chỉ làm người
tỉnh giác trước sự bất toàn của đời sống.
Nếu đi con đường của
Thầy, con không cần thêm gì, không cần bớt gì, không cần
bỏ gì, không cần đạt gì, con chỉ cần giác ngộ. Nhưng
giác ngộ là bản tính của con, con đâu cần phải tìm kiếm
đâu xa:
Thấy như thực thấy
Nghe như thực nghe
Xúc như thực xúc
Biết như thực biết
là bản chất sẵn có
nơi con. Cái gì làm cho không thấy được như thực, cái ấy
là vọng; cái gì giúp con thấy được như thực, cái ấy
là chơn. Vậy con không cần tự ti, mặc cảm với cái này
hoặc tự tôn, tự đại với cái kia. Cái gì cũng có giá trị
khi nó là thực, khi nó được nhìn qua cái nhìn giác ngộ.
Những gì con thấy là xấu xa, nó chỉ xấu xa khi mê, nhưng
nó trở thành tốt đẹp khi giác ngộ.
Vậy con đừng tự ti,
đừng sợ hãi, hãy chỉ giác ngộ mà thôi.
Chào con.
Thầy.
[18]
Ngày ..... tháng ..... năm
.....
Tâm Ðạt con,
Hôm nay Thầy góp ý về
pháp danh Tâm Ðạt của con. Ðúng ra Thầy không nên nói vì
pháp danh đó do một vị Thầy khác đặt, tất nhiên vị ấy
có chủ ý riêng làm sao Thầy biết được. Nhưng thôi, theo
lời yêu cầu của con, Thầy cứ giảng theo ý Thầy vậy,
con có đồng ý không?
Theo Thầy, đạt là đắc,
là được, là tới mục đích rốt ráo. Nhưng ở đâu là nơi
rốt ráo của tâm?
Một khi quá khứ tâm
không thể đạt, tương lai tâm không thể đạt, hiện tại
tâm không thể đạt, vậy tâm đạt chỗ nào?
Và khi mà: "Ưng
vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm" nghĩa là nên sinh cái
tâm không trụ vào đâu cả. Vậy tâm trụ chỗ nào?
Ngài Huệ Khả đến viếng
Tổ Ðạt-Ma hỏi: "Xin Hòa Thượng an cái tâm cho
tôi". Tổ Ðạt-Ma nói: "Ông đưa cái tâm đây
ta an cho". Huệ Khả tìm tâm hồi lâu bèn thưa: "Bạch
Hòa Thượng, tôi không thấy tâm đâu cả". Tổ nói:
"Ta đã an cái tâm cho ông rồi đó". Sau này
Ngài Huệ Khả được Tổ truyền y bát.
Qua câu chuyện trên con
thấy Tổ Ðạt-Ma đã an cái tâm cho Huệ Khả ra sao? Thôi,
bao nhiêu câu hỏi đó cũng đủ cho con thấy tâm bất khả
đạt! Tâm không thể đạt được vì đạt chỗ nào thì chỗ
ấy trở thành trụ tướng (tướng ngưng trệ)
và tất nhiên đưa đến sầu, bi, khổ, ưu, não.
Thế thì con phải làm
sao?
Thực ra chỉ đơn giản
là nếu con muốn tâm đạt thì phải đạt
chỗ không đạt mới được. Người tu phần đông
nghĩ rằng tâm phải đạt đến chỗ tịnh, phải an trụ vào
chỗ tịnh. Theo Thầy thì không phải đạt, không phải trụ
mà là thấy, thấy tịnh và động để không bị
rơi vào chỗ nào. Ðể khi đáng tịnh thì tịnh, khi đáng động
thì động.
Ngày nọ có người hỏi
Ðức Phật: "Có phải mục đích tu hành là để đạt
được giới tịnh, tâm tịnh, kiến tịnh, đoạn nghi tịnh,
đạo phi đạo tri kiến tịnh, đạo tri tịnh, tri kiến tịnh
không?". Ðức Phật trả lời: "Không".
Người kia ngạc nhiên: "Nếu mục đích tu hành không
phải thanh tịnh thì để làm gì?". Phật dạy: "Thanh
tịnh là trạm xe, mục đích tối hậu là vô thủ trước Niết-bàn".
Vô thủ trước, vô sở
trụ, bất khả đắc là
những từ để chỉ tâm phải đạt tới chỗ không đạt,
nghĩa là tâm đã buông hết mọi chỗ nắm bắt, mọi sinh y,
mọi dục hỷ... chính vì vậy mà tâm lúc ấy được gọi là
không, vô tướng, vô tác... Niết-bàn.
Khi tôn giả
Mahàkotthita hỏi Ngài Sàriputta có phải mục đích sống phạm
hạnh là để đạt được cảm thọ hay không
cảm thọ như đã hy vọng không, Ngài Sàriputta trả lời:
"Không". Và Ngài nói tiếp: "Với
mục đích để biết, để thấy, để chứng, để ngộ, để
hiện quán đây là khổ... Ðây là nguyên nhân của sự khổ...
đây là khổ diệt... đây là con đường diệt khổ mà phạm
hạnh được sống dưới sự hướng dẫn của Thế Tôn".
Ðoạn trên Ngài Xá-Lợi-Phất
một lần nữa xác nhận mục đích của Ðạo Phật không phải
đạt được một trạng thái tâm nào, mà chỉ để thấy,
để biết, để chứng, để ngộ, để hiện quán những sự
thật ở đời. Mà chứng, ngộ, hiện quán... tức là vô
thụ trước, vô sở
trụ, bất khả đắc.
Nói thì nghe rắc rối
nhưng thật rất giản dị, con có thể thực hiện một cách
dễ dàng:
Khi tâm con có tham, hãy
biết (thấy, chứng, ngộ, hiện quán) tâm có tham,
không dừng lại (đạt, trụ, thủ trước) nơi tham.
Khi tâm con không có
tham, hãy biết tâm không có tham, không dừng lại nơi không
tham.
Khi tâm con có sân,
không sân, có động, có tịnh, có ràng buộc, có giải
thoát, v.v... con đều biết thật có như vậy và không dính
mắc, không trụ trước vào tâm ấy.
Như vậy là không đạt
hay đạt chỗ không đạt, nghĩa là không dính mắc vào đâu,
là tâm thong dong tự tại.
Thấy, biết tâm mình
ở mọi nơi là hiện quán, là chứng ngộ. Tâm mình không
dính mắc vào nơi nào là an nhiên giải thoát.
Nhưng con đừng tưởng
không dính mắc nơi nào là tâm không không đâu nhá, không không
là dính mắc vào không rồi. Dính mắc vào
không còn nguy hại hơn dính mắc vào có
ở trạng thái này hoặc trạng thái kia tùy nhân duyên sinh
khởi "tùy cảm nhi ứng tùy ngộ nhi an" mà, nhưng
chính nhờ không dính mắc vào đâu mới có vô lượng tướng
dụng, vô lượng lợi ích cho mình và người.
Nói thì nghe như lý luận
chơi nhưng ai có thực sống mới thấy thật là dễ dàng,
đơn giản và thiết thực vô cùng.
Tâm Ðạt con, bây giờ
tâm con phải đạt thế nào?
Thầy.
[19]
Ngày ..... tháng ..... năm
.....
Con,
Thư của con bị mưa ướt
lem nhem hết, nhưng Thầy vẫn đọc ra, đọc còn dễ hơn mấy
thư trước của con nữa đó, con biết tại sao không? Tại
vì một lý do rất dễ hiểu là lần này có lẽ vì gấp
nên con viết tự nhiên không nắn nót như trước. Ðó, con
thấy không, tự nhiên lúc nào cũng vẫn hay hơn phải không
con?
Thầy rất thông cảm với
cuộc chạy đua của con, và Thầy biết rằng chẳng bao lâu
con sẽ trở nên một tay chạy đua bản lãnh. Bản lãnh
không phải vì chạy mau hơn ai mà bản lãnh trong trí tuệ biết
thế nào là một cuộc chạy đua: "chạy đua là như thế!",
"thành, bại, hơn, thua của một cuộc chạy đua là như
thế!"... với một nụ cười mãi mãi trong tâm.
Hãy đam mê
cuộc đời đến tận căn để, hãy khinh bỉ cuộc
đời đến tận mây xanh. Ðam mê và khinh bỉ phải cùng hiện
hữu một lúc ở bất cứ đâu, không phải để chúng mâu
thuẫn nhau, cũng không phải để chúng cân bằng với nhau,
mà để chúng đem đến cho ta một nụ cười vô ngại!
Con ạ,
Cho Thầy gửi lời thăm
những cơn mưa buốt giá mùa đông bên đường qua An Cựu
hay phố vắng Ðông Ba... Nơi mà ngày xưa Thầy đã gửi lại
những ngày tháng vui buồn của thời thơ ấu.
Tất cả đều trôi qua
dù là một cuộc vui hay một nỗi khổ, dù là một đêm
Ðông hay một ngày hạ... Nhưng Thầy cũng cám ơn tất cả.
Vì tất cả đã dạy cho Thầy có một nụ cười. Hãy sống,
không cần xót xa, không cần tiếc nuối, không cần hy vọng,
với đôi bàn tay và trái tim mở rộng để đón nhận những
ngày mới đến với ta và phất tay chào những ngày đã lùi
vào dĩ vãng.
Sống cũng như việc làm
của cái bao tử, thu nhận những món ăn nào đắng, cay, ngọt,
mặn... biến chế, rồi cuối cùng bài tiết hết, nếu
không bài tiết được bằng cách này hay cách khác để ứ
đọng thì sinh bệnh. Chúng ta sống tiếp nhận một ngày với
những vui, buồn, mừng, giận... Nhưng chỉ còn lại trong
trí tuệ một nụ cười thôi, còn tất cả đều phải bài
tiết vào dĩ vãng, nếu còn vướng mắc cái gì thì chắc
là phải khổ. Như bao tử cho ta sự sống, cuộc đời cho ta
nụ cười trí tuệ, cho nên chỉ có trí tuệ mới thực là
sự sống của con người: "Duy
tuệ thị nghiệp".
Trí tuệ chính là tự
tánh của con khi con có thể mỉm cười hồn nhiên với tất
cả.
Con, Thầy định kể
chuyện Sài Gòn cho con nghe, nhưng vì Sài Gòn cũng chẳng có
gì để nói. Có lẽ nó cũng như Huế, nhưng thay vì ngoài đó
lạnh, trong này nóng, ngoài đó yên lặng, trong này ồn ào,
ngoài đó có sông Hương, trong này có bến Bạch đằng,
nhưng không nơi đâu hấp dẫn bằng chính sự sống mà con
đang chứng nghiệm, phải không con?
Thân ái chào con.
Thầy.
[20]
Ngày ..... tháng ..... năm
......
Con,
Thầy có nhận được
thư con, nhưng lúc này Thầy ít khi ở chùa nên chưa trả lời
chắc con trông lắm.
Con ạ, sống trên đời
con sẽ thấy đối nội và đối ngoại đều quan trọng cả.
Ðối nội thì mình phải trong sáng, hồn nhiên, bình lặng.
Ðối ngoại thì mình phải thương yêu, giúp đỡ, hòa thuận
với mọi người. Không nên quá vì mình cũng không nên quá
vì người. Cả hai đều cần cả. Hơn thế nữa khi có tâm
hồn trong sáng mới có thương yêu và mới thấy giá trị của
tình yêu thương.
Khi thương yêu đừng nên
thiên chấp, khi được thương yêu đừng nên thủ trước.
Khi trở về với mình đừng nên vị ngã, khi quên mình đi
đừng để vong thân.
Phật có ba đức: Trí
đức là sáng suốt, biết mình, biết người. Tịnh đức là
trong sạch, trầm lặng. Bi đức là xả kỷ vị tha, nghĩa là
thương yêu cứu giúp chúng sanh.
Sống được hài hòa
con sẽ thấy mọi thứ đều giá trị, vì vậy con chớ khinh
suất một sự việc gì dù xấu, dù tốt, dù nhỏ, dù lớn
ở trên đời.
Thôi, Thầy dừng bút,
chúc con mạnh giỏi.
Thầy.
--- o0o ---
| Mục
Lục|
| 01
- 02 -03 -04 - 05 - 06 - 07 - 08 - 09 -10 |
| 11
-12 - 13 - 14 - 15 - 16- 17- 18- 19 - 20 |
| 22 - 23 - 24 - 25 - 26 - 27 - 28 - 29 - 30 |
| 31-
32- 33- 34- 35- 36- 37- 38 - 39- 40- 41- 42|
--- o0o ---
|
Tủ sách Phật Học |
---o0o---
Source :http://www.budsas.org
Vi tính: Hải Hạnh - Chân
Hiền
Trình bày: Nhị Tường
Cập nhật ngày:
01-07-2002