Trang tiếng Việt

 Trang Nhà Quảng Đức

Trang tiếng Anh

Đức Phật và Phật Pháp


 

 

Phật Học Viện Nha Trang, PL. 2513 - TL. 1969

 

Phật và Thánh chúng

Cao Hữu Ðính
 

 

 

THAY LỜI TỰA

Sau bao năm tìm đọc và suy gẫm lịch sử Phật, ấn tượng mạnh nhất đập vào đầu óc tôi là hình ảnh một Đức Phật quá cao xa diệu vợi, mà loài người có lẽ không bao giờ vói tới. Nhưng qua những mẫu chuyện đạo trên bước đường hành hóa của Ngài mà các kinh sách ghi chép rải rác đó đây, thì hình ảnh Ngài hiêïn ra rất "người" với đầy đủ tách chất đẹp đẽ nhất của chữ đó.

Cái hình ảnh vừa gần vừa xa ấy lắm lúc chỉ thoáng qua rồi chợt biến, lắm lúc lại cơ hồ như rất gần mình. Những việc Ngài làm, những lời Ngài nói, những ý Ngài nghĩ, sao quen thuộc sống động lạ thường! Quen thuộc và sống động đến độ hình như mới xảy ra hôm qua ở đây, chứ không phải trên lưu vực sông Hằng cách đây trên hai mươi lăm thế kỷ!

Trong lịch sử nhân loại, chưa có một siêu nhân nào có một đời sống thánh thiện tròn đầy và dài lâu như Đức Phật. Ngài là một người bằng da bằng thịt, xuất hiện giữa thế kỷ loài người, chứ đâu phải nhân vật thần thoại của trí tưởng tượng! Những chứng tích lịch sử xác thực mới khai quật được trong những năm cuối cùng của thế kỷ trước, càng ngày càng được minh xác thêm bởi các chứng tích mới khai quật trong thế kỷ này.

Tất cả những chứng tích kia, phối hợp với những gì còn ghi chép trong bìa son quyển vàng từ nhiều thế kỷ truyền lại, minh xác hùng hồn rằng hình ảnh diệu vợi như gần như xa của Đức Phật trong lòng tín đồ 25 thế kỷ sau, không phải là một ảo giác, nhưng đó là một hình ảnh thực tại cao siêu.

Tất cả những chứng tích kia, lại còn nói lên cho nhân loại hay rằng con người nếu biết khai thác đúng mức và đúng hướng mọi khả năng của mình thì có thể tự thánh hóa đến cùng cực, để cuối cùng trở thành đấng Giác ngộ đồng nhất bất nhị với vạn pháp, với muôn loài. Thánh hóa không có nghĩa là từ bỏ tánh chất người. Càng thánh hóa, tánh chất người lại càng lưu lộ ra rõ rệt hơn. Lìa người ra, không thể có thánh.

Trong khi tôi đang mơ ước có một thiên lịch sử Phật mang đủ ý nghĩa nói trên, không quá thừa chất thánh mà thiếu chất người, hay quá thừa chất người mà thiếu chất thánh như nhiều thiên Phật sử mà tôi đã đọc, thì tình cờ tôi bắt gặp tập bài "Đức Phật và Thánh chúng" quay Ronéo của đạo hữu CAO HỮU ĐÍNH, nguyên giáo sư Đại học Vạn Hạnh, soạn dạy cho học tăng tại Phật Học Viện Nha Trang. Đọc xong tập bài, tôi thấy có phần nào thỏa mãn, vội vàng biên thư khuyến khích đạo hữu nhuận sắc lại để cho xuất bản. Đó là duyên khởi khiến có quyển sách này ra đời.

Khi đề ra ý kiến này với đạo hữu cũng như với nhà xuất bản Phật Học Viện Nha Trang, thiển ý tôi nghĩ rằng dù tập sách đầu tay này chưa lột hết đầy đủ tánh chất "vừa rất người, vừa rất thánh" của Đức Thích Tôn, ít ra trong hiện tại nó cũng giúp đuợc kẻ hậu học tại các Phật Học Viện trên toàn quốc hiểu khái quát - nhưng rất rõ - về đấng Bổn Sư của mình. Hơn nữa, tôi hy vọng tập sách nhỏ này sẽ là chất men khích lệ các học giả Phật giáo khác trong nước tiếp tục khai thác cuộc đời sống động của Đức Phật, dưới nhiều khía cạnh tân kỳ và linh hoạt mới khác.

Nếu đạt được các ước vọng khiêm tốn trên đây, thiết tưởng quyển "Đức Phật và Thánh chúng" này cũng đã sáng giá và đáng được Phật tử trong nuớc tán thán lắm rồi.

 

Từ Đàm, Xuân Kỷ Dậu (1969)
Giáo Thọ,
Phật Học Viện Trung Phần
THÍCH THIỆN SIÊU

 

LỜI NHÀ XUẤT BẢN

Từ ngày thành lập Phật Học Viện Nha Trang cách đây trên mười hai năm, song song với việc dạy nội điển cho chư tăng tại Viện, chúng tôi có lập Nhà Xuất Bản của Viện để phổ biến giáo lý ngoài đại chúng.

Vì thế, ngoài số kinh sách dịch ra quốc ngữ ấn hành hàng năm, năm nào chúng tôi cũng cố gắng cho xuất bản thêm một số trước tác mới, hoặc do Hội Đồng Viện hợp soạn, hoặc do giáo sư của Viện biên khảo riêng.

Năm nay, tập sách trước tác được in là quyển "Đức Phật và Thánh chúng" này. Ước mong chư Phật tử đón nhận nó với tất cả nhiệt tâm, như đã từng đón nhận các ấn phẩm khác về trước của Viện.

Giám Viện,
Phật Học Viện Nha Trang
Hòa thượng THÍCH TRÍ THỦ

 

[01]

ĐỨC PHẬT

Giáo chủ sáng lập Phật giáo là Đức Phật Thích Ca Mâu Ni (Sàkya Muni).

Ngài giáng sanh tại nước Ca Tỳ La (Kapilavastu) ở miền bắc xứ Ấn độ, dưới chân Hy Mã Lạp sơn, nay thuộc lãnh thổ nước Népal với thủ đô là Katmandou. Népal là một quốc gia riêng biệt không thuộc Liên bang Cộng hòa Ấn độ.

Khi mới sanh ra, Ngài mang tên là Tất Đạt Đa (Siddhàrta) do chữ Sarvàrthasiddha, Tàu dịch là "Nhất thế nghĩa thành" (mọi sở nguyện đều thành tựu). Phụ vương ngài là Tịnh Phạn (Suddhodana) vua thành Ca Tỳ La. Mẫu hậu ngài là Ma Da phu nhân (Màyà). Ngài thuộc dòng Cồ Đàm (Gautama), nên đời thường gọi Ngài là Tất Đạt Đa Cồ Đàm (Siddharta Gautama), thuộc chi phái Thích ca (Sàkya), Tàu dịch là "Năng nhân". Lại nhân Ngài đi tu, nên đời tôn xưng Ngài là Mâu Ni (Muni), Tàu dịch là "Tịch Mặc". Thích Ca Mâu Ni có nghĩa là người ẩn dật của dòng họ Thích Ca.

Sự xuất hiện của Thái tử Tất Đạt Đa Cồ Đàm đánh dấu một bước tiến quyết định vĩ đại của lịch sử nhân loại, mà giáo điển Phật giáo gọi là "Phật vị nhất đại sự nhân duyên, xuất hiện ư thế, khai ngộ chúng sinh nhập Phật tri kiến" (Phật vì một nhân duyên lớn mà xuất hiện ở đời, đó là khai thị cho chúng sanh ngộ nhập tri kiến Phật).

Để hiểu tầm quan trọng của lời xác quyết trên đây, ta hãy tìm hiểu Phật ra đời trong hoàn cảnh nào và ảnh hưởng của Ngài đối với đương thời cũng như đối với hậu thế ra sao.

XÃ HỘI ẤN ĐỘ THỜI PHẬT

Khoảng tam thiên niên trước Tây lịch, giống người du mục A Lỵ A (Àrya) từ Trung Á (có thuyết cho rằng từ vùng Caucase) làm một cuộc di dân vĩ đại tràn vào Ba Tư và Bắc Ấn Độ. Người A Lỵ A thuộc giống dân da trắng, thông minh, thể chất cường tráng, và nhờ ở thể chế hữu hiệu, đã chinh phục rất lẹ thổ dân Ấn Độ là giống người Đạt La Tỳ Đồ (Dravida). Dân Dravida vốn người nhỏ thó, da đen, thể chất yếu đuối, nên mặc dù có một truyền thống tâm linh khá vững chải, đã phải quy hàng trong tủi nhục.

Sau khi chinh phục xong Ấn Độ, giai cấp lãnh đạo tinh thần của giống người A Lỵ A là đạo sĩ Bà la môn bèn cho công bố pháp điển Mã Nỗ (Bộ luật Manu), căn cứ vào đó, kẻ chiến thắng xây dựng trật tự xã hội mới.

Luật Mã Nỗ chia toàn thể lãnh thổ Ấn độ của người Dravida thành Ngũ Ấn và chia toàn thể dân chúng sống trên lãnh thổ ấy thành bốn giai cấp, trong đó có hai giai cấp thống trị là Bà la môn và Sát đế lỵ, còn hai giai cấp Phệ xá và Thủ đà la là hai giai cấp bị áp bức.

Để củng cố địa vị, giáo sĩ Bà la môn (Bràhman), tác giả pháp điển Mã Nỗ, tự liệt mình vào hạng nhất, nắm độc quyền về học thuật tư tưởng, buộc ba giai cấp kia phải răm rắp tuân theo. Và để ràng buộc ba giai cấp kia, họ xử dụng nhiều thần chú bí hiểm và giữ độc quyền chủ trì tế lễ.

Trong khi độc quyền tôn giáo văn hóa nằm trọn trong tay Bà la môn, thì độc quyền chánh trị lại nằm trọn trong tay giai cấp Sát đế lỵ (Ksatriya). Giai cấp này gồm những tay thiện xạ, chủ trì việc cai trị, được hưởng quyền thế tập cha truyền con nối, có toàn quyền sanh sát đối với nhân dân và xem lãnh thổ cai trị như tư hữu riêng của họ.

Giai cấp thứ ba là Phệ xá (Vaisya) gồm các giới nông, công, thương không được quyền học hỏi, sống nai lưng làm việc để cung phụng hai giai cấp giáo quyền và chánh quyền trên và tha hồ bị áp bức.

Giai cấp thứ tư là Thủ đà la (Sùdra) gồm các thổ dân tiền trú và giống người Dravida bại trận. Đây là giai cấp hạ tiện bi đát và khốn cùng nhất. Luật Mã Nỗ, chương 8, tiết 270 - 272 quy định rằng Thủ đà la là giai cấp trời sanh ra để làm nô lệ, rằng nếu Thủ đà la kêu tên Bà la môn thì bị cắt lưỡi, rằng nếu không tuân lệnh của giai cấp thống trị thì nấu dầu đổ vào lỗ tai v.v...

Hận thù vì bị nước mất nhà tan vốn đã cao độ, chế độ xã hội bất công càng nung nấu thêm hận thù ấy. Xung đột giữa hai phe, khi ngấm ngầm, khi bộc phát, là một ung nhọt thường trực của xã hội Ấn thời bấy giờ. Nhưng bất cứ một xung đột nào xảy ra cũng đều vị dập tắt một cách tàn nhẫn. Hai giai cấp Thủ đà la và Phệ xá sống trong uất hận của địa ngục trần gian.

Giữa lúc ấy, Phật xuất hiện, Ngài làm một cuộc cách mạng xã hội vĩ đại, tuyên chiến với chế độ giai cấp bất công cao độ này. Ngài thẳng tay xóa bỏ hết mọi giai cấp.

Ngay khi còn ngồi tọa thiền dưới gốc cây Bồ đề, Ngài đã dõng dạc nêu nguyên lý cuộc cách mạng ấy bằng một tuyên ngôn dứt khoát: "Đại địa chúng sanh giai hữu Như lai trí tuệ đức tánh" (Hết thảy chúng sanh đều có đức tánh trí tuệ Như lai).

Đến khi ra hành hóa, Ngài đã thực hiện nguyên lý ấy bằng phương châm: "Tứ tánh xuất gia, đồng qui Thích thị" (Bốn giai cấp xuất gia đều mang tên họ Thích). Đó là trường hợp của Ưu Bà Ly, thuộc giai cấp Thủ đà la vốn xuất thân làm nghề thợ cạo và đổ thùng, về sau trở thành một trong mười vị đại đệ tử của Phật, đứng đầu về giới luật. Đó là trườnfg hợp của dâm nữ Ma Đăng Già cũng thuộc giai cấp Thủ đà la, về sau tu chứng quả A la hán. Đó còn là trường hợp của nhiều vị khác nữa trong thánh chúng của Ngài, vốn sống bằng những nghề ty tiện và tủi nhục nhất trong xã hội Ấn Độ trước khi xuất gia.

TƯ TƯỞNG ẤN ĐỘ THỜI PHẬT

Giống người A Lỵ A sau khi du nhập Ấn Độ, nhờ lưu vực phì nhiêu sông Hằng và bản chất thông minh sẵn có, đã phát triển được tại đây một nền văn minh cực thịnh.

Bắt đầu với bộ Rig Veda gồm những thánh ca lời tươi ý đẹp, xuất hiện cách đây trên bốn ngàn năm, về sau giáo sĩ Bà la môn lại bổ túc thêm bằng ba bộ Yajur Veda, Sama Veda, Atharva Veda quy định các nghi thức tế lễ, tạo thành bốn bộ thánh thư đầu tiên gọi là Tứ Phệ đà. Với bộ Tứ Phệ đà, giáo sĩ Bà la môn giữ độc quyền hoàn toàn cả về tư tưởng và tôn giáo. Tiếp theo, giáo nghĩa Tứ Phệ đà lại được phát triển thêm trong bộ Áo nghĩa thư (Upanishad) với văn cú tường mật tinh vi và nghĩa lý vô cùng uyên áo. Ba đặc điểm của Áo nghĩa thư là giáo nghĩa bất nhị, giáo nghĩa luân hồi nghiệp báo và giáo nghĩa giải thoát, tổng hợp được hai dòng tư tưởng của hai giống người Arya và Dravida mà hoàn thành vũ trụ quan tự ngã trên căn bản nhất thần giáo. Giáo lý vốn đã thâm uyên, cách truyền bá lại mang đầy tính chất thần bí và phiền toái (không bao giờ chịu giải thích), đã tạo được cho giai cấp Bà la môn một địa vị tối cao tha hồ nhân danh "Đấng sáng thế" mà hoành hành. Giai đoạn phát triển của Áo nghĩa thư kéo dài khoảng hai trăm năm, từ 750 đến 550 trước Tây lịch. Tư tưởng Áo nghĩa thư cực kỳ phong phú, nhưng rồi cũng vì thế mà về sau phân hoá kinh khủng.

Vì giáo sĩ Bà la môn quyết tâm giữ độc quyền tư tưởng và tâm linh, nên các giới có học ngoài Bà la môn không cách gì tìm hiểu được. Do đó, phản ứng kịch liệt của các giới này, muốn chống đối lại đành phải hướng về các môn học duy lý. Các môn phái triết học tự nhiên đua nhau ra đời, nghiên cứu và thuyết minh phương diện vật chất của vũ trụ. Có hai xu hướng chính: một cụ thể và một trừu tượng. Xu hướng thứ nhất thuyết minh phương diện cụ thể của vũ trụ, cho ra các bộ đại luận như: Điạ luận, Thủy luận, Hỏa luận v.v... Xu hướng thứ hai cho ra các bộ đại luận như: Thời luận, Phương luận, Hư không luận v.v...

Bấy giờ, tư tưởng Ấn độ phồn tạp đến cực độ. Và trước sự phồn tạp rối ren ấy, quần chúng không còn biết tin ai, hoang mang cũng đến cực độ. Quần chúng bắt đầu nghi ngờ chân lý của giáo lý truyền thống Tứ Phệ đà và Áo nghĩa thư. Kết quả của tình trạng này là hai xu hướng đối nghịch về nhân sinh được quần chúng nhắm mắt hùa theo. Xu hướng thuận thế hưởng lạc thì thiên về vật chất chủ nghĩa với chủ trương hữu kiến triệt để. Xu hướng trốn đời vào núi tu khổ hạnh thì thiên về yếm thế chủ nghĩa với chủ trương không kiến cũng triệt để.

Nhu yếu tối cần thiết lúc bấy giờ hiện ra quá rõ ràng: Phải tìm cho ra mối đạo lớn để khai thông chân lý, làm nơi nương tựa thích hợp cho một nhân sinh quan lành mạnh. Tình thế đòi hỏi một tôn giáo cách mạng về tư tưởng hội đủ hai yếu tố nhất quán và viên mãn.

Giữa lúc ấy Phật xuất hiện, Ngài làm một cuộc cách mạng tư tưởng vĩ đại, bài xích tất cả các xu hướng cực đoan để qui hướng về một mối là : Trung đạo Duyên khởi. Từ đó, Ngài khai triển thành một hệ thống giáo lý mới nhằm tự cứu mình, cứu dân tộc Ấn độ đương thời và cứu hết thảy nhân loại muôn đời về sau.

Phật xuất hiện như một viên ngọc "Định thủy châu" gạn trong cả một ao nước đương bị quấy động đục ngầu, và mở một lối thoát chung cho tư tưởng giới Ấn độ bấy giờ.

GIA PHỔ PHẬT

Khi người A Lỵ A thiết lập Ngũ Ấn, toàn thể lãnh thổ Ấn Độ được chia thành nhiều vương quốc (Thị tộc). Lãnh thổ của dòng họ Thích Ca là một trong những vương quốc ấy. Vị vua đầu tiên của dòng họ này tên là "Chúng sở hứa" (Được mọi người ưa thích). Từ viễn tổ Chúng sở hứa truyền đến đời Đại Thiện Sanh Vương là tổ bảy đời của thái tử Tất Đạt Đa. Hệ thống thừa kế như sau: Đại Thiện Sanh Vương - Sư Ma Ý - Ưu Đà La - Cồ La - Sư Tử Giáp - Tịnh Phạn Vương - Tất Đạt Đa.

A.- PHỤ HỆ THÁI TỬ TẤT ĐẠT ĐA

Sư Tử Giáp cưới Kiến Già Na (Em gái A Noa Thích Ca) sanh được năm người con:

1.- Tịnh Phạn Vương cưới Ma Da phu nhân sanh ra Tất Đạt Đa sau bảy ngày thì từ trần, sau đó Tịnh Phạn Vương cưới Ma Ha Ba Xà Ba Đề sanh ra Nan Đà.

2.- Bạch Phạn Vương có hai người con là Đề Bà Đạt Đa và A Nan.

3.- Cam Lộ Phạm Vương có hai người con là Ma Ha Nam và A Na Luật.

4.- Học Phạn Vương có hai người con là Bà Sa và Bạt Đề.

5.- Cam Lộ Vương Phi lấy Thiện Giác Vương sanh Da Du Đà la.

B.- MẪU HỆ CỦA THÁI TỬ TẤT ĐẠT ĐA

A Noa Thích Ca Vương vua thành Thiện Tý nước Kosala, cưới Da Du Đà La (Em gái Sư Tử Giáp) sanh được ba người con:

1.- Thiện Giác Vương cưới Cam Lộ Vương Phi sanh ra Đề Bà và Da Du Đà La. Da Du Đà La là vợ của thái tử Tất Đạt Đa.

2.- Ma Da phu nhân lấy Tịnh Phạn Vương sanh ra Tất Đạt Đa cưới Da Du Đà la.

3.- Ma Ha Bà Xa Ba Đề cũng lấy Tịnh Phạn Vương (Di mẫu của Phật) sanh ra Nan Đà.

ĐẢN SANH PHẬT

Theo phong tục Ấn Độ, Ma Da phu nhân trước khi hạ sanh con đầu lòng phải về quê mẹ để ở cử.

Nhưng, khi gần mãn nguyệt khai hoa, phu nhân lại xin phép Tịnh Phạn Vương được ra ngoài thành du ngoạn, rồi mới về quê sau. Nhà vua lo ngại, bèn đích thân cùng với một đoàn thị nữ đi theo hộ tống. Đến vườn Lâm tỳ ni (Lumbini) ở phía ngoài thành Ca Tỳ La, phu nhân cảm thấy trong người khó chịu, vừa mới vịn tay vào một cành cây Vô ưu thì đản sanh vương tử tại đây.

Giáo điển ghi chép rằng sau khi đản sanh, Thái tử đứng dậy ngoãnh mặt nhìn bốn phương, rồi bước bảy bước, một tay chỉ lên trời, một tay chỉ xuống đất, mà nói rằng: "Trên trời dưới trời chỉ có ngã là chí tôn". Tiếp theo, Ngài nói : "Từ vô lượng kiếp kiếp đến nay, phen này là hết". Nói xong, Thái tử trở lại như mọi trẻ sơ sinh bình thường khác. Trong khi đó, Tịnh Phạn Vương vừa sung sướng vừa âu lo đứng hầu bên phu nhân và thái tử, mắt đăm chiêu nhìn theo không sót một cử chỉ nào. Quần chúng nghe tin vui cũng đổ xô đến chiêm ngưỡng thái tử.

Trong số người đến xem có một thầy tướng Bà la môn tên là A Tư Đà (Asita) bác học đa văn, thoạt nhìn thái tử, thì nằng nặc xin nhà vua cho phép xem tướng thái tử. Sau một hồi ngắm nghía, A Tư Đà tỏ vẻ hết sức ngạc nhiên, tâu với vua rằng: "Đây là một vị cứu tinh của nhân loại vừa giáng trần. Nếu làm vua thì đó là một vị Chuyển luân thánh vương, đem lại an lạc cho thế gian về mặt chánh trị. Nếu xuất gia thì sẽ thành bậc đại giác tối cao, thành tựu trí tuệ chân thật, giải thoát cho cả nhân loại về mặt tôn giáo".

Năm Thái tử đản sanh cách đây vào khoảng trên hai mươi lăm thế kỷ. Ngài đản sanh nhằm ngày trăng tròn tháng Vesak lịch Ấn độ, tức là đúng ngày rằm tháng tư âm lịch của ta. Về năm sanh, có nhiều thuyết khác nhau, tựu trung có hai thuyết đáng tin cậy nhất. Kết quả của hai thuyết cũng gần sát nhau.

Theo "Chúng Thánh Điểm Ký" tính cho đến ngày nay thì Phật nhập diệt vào năm 485 trước Tây lịch, tức sanh năm 565 trước Thiên chúa, hay cách đây 2533 năm (tính đến 1968 dương lịch).

Theo khảo chứng của các nhà khảo cổ Tây phương thì Phật nhập diệt vào năm 483 trước Tây lịch, tức sanh vào năm 563 trước Thiên chúa, hay cách đây 2531 năm (tính đến 1968 dương lịch).

Nếu hai thuyết trên đây gần đúng thì Đức Phật ra đời trước Khổng Tử khoảng 12 năm hoặc 14 năm. Nhưng theo Hội Phật giáo Thế giới sau khi tham khảo nhiều sử liệu, đã phán quyết rằng Đức Phật nhập Niết bàn cách đây (1968) 1512 năm, như vậy Ngài giáng sanh cách đây 2592 năm, hay trước Tây lịch 642 năm. So với Khổng Tử, Phật ra đời trước 73 năm [1].

Tại chỗ Ngài đản sanh (vườn Mâm tỳ ni), năm 1896, nhà khảo cổ ngưới Anh Cuningham đã khai quật được một trụ đá (một trong bốn trụ đá của vua A Dục chôn để ghi dấu bốn nơi gắn liền với lịch sử Đức Phật gọi là Tứ Động Tâm), trên trụ đá có khắc năm dòng chữ:

1.- Năm Thiên Ái Thiên Kiến thứ 25, A Dục đích thân đến đây chiêm bái.
2.- Đức Phật Đà, dòng họ Thích Ca đi xuất gia, đản sanh nơi dây.
3.- Vua sắc dựng thạch trụ để kỷ niệm nơi Ngài đản sanh.
4.- Thôn Lumbini nơi Phật đản sanh được miễn thuế.
5.- Đó là hồng ân Phật đối với nơi Ngài đản sanh.

Tây phương mệnh danh trụ đá ấy là "bản khai sanh của đức Phật". Và từ đó, Tây phương mới chịu tin rằng Đức Phật là một nhân vật lịch sử. Và cũng từ đó Tây phương lại càng chú trọng đổ xô vào nghiên cứu tư tưởng Phật hơn trước. Vì trước kia họ cho rằng Phật là một nhân vật thần thoại và học thuyết được gán cho Ngài chỉ là một sáng tác tập thể của nhiều đời kết hợp lại.

 

I.- GIÁO DỤC THỜI THƠ ẤU

Theo giáo điển thì liên tiếp trong bảy ngày sau khi Thái tử đản sanh, nhiều điềm lạ xuất hiện. Đến cuối ngày thứ bảy, một đại biến cố xảy ra: Ma Da phu nhân từ trần. Di mẫu Ma Ha Ba Xà Ba Đề (Mahà Prajàpati) đảm nhiệm nuôi nấng Thái tử cho đến khôn lớn. Bà đặc biệt thương yêu Thái tử, và mặc dầu về sau chính bà hạ sanh Nan Đà (Nanda), nhưng tình thương của bà luôn luôn đặt nặng vào Thái tử hơn chính con đẻ mình.

Một đoàn ba mươi hai cung nữ được tuyển chọn để giúp bà trong việc chăm sóc Thái tử: tám người phụ trách bồng ẩm, tám người phụ trách tắm rửa, tám người phụ trách bú mớm, tám người phụ trách bày trò chơi vui. Tuổi ấu thơ trôi qua nhẹ nhàng trong an lạc hoàn toàn.

Dần dần lớn khôn, Thái tử tỏ ra thông minh , lanh lợi hoạt bát và rất dễ thương. Tuy còn trẻ thơ, thái độ Thái tử trang nghiêm phi thường, tánh tình không giống bất cứ một chú bé nào khác. Sống trong cảnh nhung lụa cao sang, tâm hồn Thái tử như gởi vào một cõi xa xăm, dáng mặt luôn luôn đăm chiêu suy nghĩ. Những cuộc vui do cung nữ bày ra trước mắt hàng ngày không đem lại cho Thái tử mảy may hứng thú và hoan lạc.

Khi Thái tử lên bảy tuổi, vua cha cho mời danh sư khắp các nước về dạy. Tất cả kho học thuật tối cao của Ấn độ thời bấy giờ là Tứ Phệ Đà và Ngũ minh, Thái tử đều được truyền dạy đầy đủ.

* Ngũ minh gồm có:

1.- Thanh minh, tức ngữ học và văn học.
2.- Công xảo minh, tức công kỷ nghệ học.
3.- Y phương minh, tức y dược học.
4.- Nhân minh, tức luận lý học.
5.- Nội minh, tức đạo học.

* Tứ Phệ Đà gồm có:

1.- Ly câu Phệ đà (Rig Veda) tuyển tập những thánh ca tươi đẹp của giống người A Lỵ A, mang nhiều tính chất thần thoại, rất phong phú về cảm nghĩ, có công năng luyện phép dưỡng sanh.
2.- Tha mã Phệ đà (Sama Veda) dạy về nghi thức tế tự.
3.- Dạ nhu Phệ đà (Yajur Veda) dạy về binh pháp.
4.- A thát bà Phệ đà (Atharva Veda) dạy về văn hiến chú thuật.

Trong thời gian năm năm, từ bảy đến mười hai tuổi, Thái tử hiểu thông suốt và tường tận mọi môn khoa học trong Ngũ minh cũng như tất cả kiến thức triết học của Tứ Phệ Đà. Với tuổi thơ ấu mà học mau như thế, vì Thái tử là một con người đặc biệt phi thường, nghe một biết trăm, trên thế gian xưa nay chưa từng có. Sau năm năm, các danh sư không còn gì để dạy nữa, nên tất cả đều xin tự động rút lui. Tiếp đó, qua năm mười ba tuổi, Thái tử chuyên luyện võ thuật. Bản chất cường tráng, Thái tử học tất cả bá ban võ nghệ và chiến thuật chiến lược trong một thời gian kỷ lục. Nhứt nhứt Thái tử đều thông suốt thuần thục.

Bấy giờ trong Ngũ Ấn, các nước đương chia rẽ trầm tr?ng và cùng đua tranh bá đồ vương. Trong các nước mạnh có hai nước ở phía nam Ca Tỳ La là Kiều Tát La (Kosala thủ đô Xá Vệ) và Ma Kiệt Đà (Magadha thủ đô Vương Xá) là hai nước hùng cường bậc nhất và không ngớt dòm ngó lãnh thổ các lân bang. Tịnh Phạn Vương nay có con văn võ toàn tài như thế cũng xây mộng về sau Thái tử sẽ là vị Thánh Vương chắc chắn thống nhất được toàn thể lãnh thổ Ấn độ để quy về một mối cho dòng họ Thích Ca.

Nhằm súy đồ ấy, nhà vua hạ lệnh cho tất cả các vương tử thuộc họ Thích Ca phải luyện tập võ thuật. Một hôm, nhà vua triệu tập đại hội để tỷ thí tài cao thấp, Đề Bà Đạt Đa, em con chú, bắn một mũi tên xuyên luôn ba lớp trống đồng. Nan Đà, em ruột cũng với một mũi tên và cũng thành công không kém. Khán chúng vổ tay reo vang. Đến lượt Thái tử, ngài bảo thị giả vào võ khố mang cung nõ tổ truyền ra cho ngài dùng, vì cung nõ của thanh thiếu niên đương thao dượt không đủ mạnh. Một mũi tên buông ra, bảy lớp trống đồng đều bị xuyên thủng. Khán chúng vổ tay như sấm vang. Sau cuộc tỷ thí này, toàn thể dòng họ Thích Ca mở đại yến ăn mừng. Mọi người đều sung sướng vững tin ở đế nghiệp rực rỡ tương lai của dòng họ mình. Nhất là Tịnh Phạn Vương.

II.- NỖI BUỒN CỦA THÁI TỬ VÀ BIỆN PHÁP GIẢI TỎA

Mộng lớn của nhà vua được vuốt ve như thế, nhưng riêng Thái tử thì càng ngày càng kém vui. Sực nhớ lời tiên đoán của A Tư Đà, Tịnh Phạn Vương rùng mình lo sợ. Ngày ngày nhà vua cho mở đại hội ca vũ nhạc linh đình để mong Thái tử đổi sầu làm vui. Không một biện pháp nào xét ra có thể phục vụ cho mục đích ấy mà không được nhà vua đem ra xử dụng, từ dụ dỗ bằng của cải châu báu, bằng gái đẹp rượu ngon, cho đến bằng cung điện bốn mùa thiết lập riêng cho Thái tử ở. Nhưng tất cả đều vô hiệu.

Nỗi buồn của Thái tử không khuây được, là vì bản chất Thái tử là bản chất thánh nhân, mà hàng ngày từ trong triều cho đến ngoài quận, đâu đâu Thái tử cũng chứng kiến thường trực những cảnh tượng bất bình đẳng nghẹt thở của xã hội Ấn độ thời bấy giờ.

Sử liệu ghi chép rằng, lúc còn ấu thơ, một hôm Thái tử theo phụ vương đi thị sát tình hình nông thôn, chứng kiến cảnh lầm than của nông phu, tay lấm chân bùn, mồ hôi nhễ nhại, làm việc đầu tắt mặt tối suốt ngày cho đến đêm khuya mà chưa được nghỉ ngơi, trong khi ấy thì phụ vương và mình ngất ngưởng trên ngựa xe với lọng tía tán vàng, tiêu dao tùy thích. Hai cảnh trái ngược nhau ấy khiến Thái tử không chịu nổi. Lại thêm, nhìn xuống đám ruộng, cảnh sâu bọ côn trùng hiện ra theo luống đất cày, đang lô nhô lúc nhúc một cách thê thảm thì tiếp liền theo hàng trăm quạ diều chim chóc trên trời xà xuống tranh ăn. Cảnh mạnh hiếp yếu phơi bày ra một cách vô tình và tàn khốc như thế, khiến Thái tử bồi hồi đau xót.

Chúng sanh đau khổ, xã hội bất công. Đó là những hình ảnh đã dứt khoát in đậm nét vào tâm khảm bé bỏng của Thái tử. Những chứng kiến kế tiếp về sau chỉ tô thêm nét in ấy mỗi ngày một đậm hơn, không sao tẩy xoá được.

Trước tình trạng mỗi ngày mỗi đem lại nhiều âu lo cho mình, Tịnh Phạn Vương nghĩ đến kế cưới vợ cho con càng sớm càng hay, ý những mong rằng đó là sợi dây thần hiệu nhất để ràng buộc Thái tử. Năm Thái tử mười bảy tuổi, công chúa Da Du Đà La (Yasodharà), người đẹp con vua Thiện giác (Suprabuddha) thành Thiện Tý (Devadarsita), được kén chọn làm vợ Thái tử. Ngoài Da Du, phụ vương còn cưới thêm cho hai phu nhân khác nữa, với rất nhiều cung phi mỹ nữ túc trực chầu hầu.

Nỗi buồn không vì thế mà vơi.

Khi Da Du hạ sanh con đầu lòng là La hầu La (Ràhula), Tịnh Phạn Vương nghĩ rằng từ đây chắc Thái tử sẽ phải vì thương con mà không nghĩ đến việc xuất gia.

Nhưng bệnh của Thái tử là bệnh nan y. Mọi cuộc truy hoan chỉ có tác dụng trong chốc lát. Sau đó, đâu lại trở về đấy. Nỗi buồn vẫn không vơi.

Tương truyền rằng, để giải tỏa nỗi buồn, Thái tử xin xuất thành du ngoạn, có Xa Nặc (Chandaka) theo hầu. Ba lần ra khỏi ba cửa thành, Thái tử chứng kiến ba cảnh nhân sinh thống khổ bi đát. Lần đầu gặp một cụ già dị dạng, thân hình tiều tụy, mặt mày thiểu não, dáng dấp bạc nhược, đi đứng không vững. Lần nhì, gặp một người bệnh, bụng phồng to như cái trống, hơi thở thoi thóp, chân tay gầy đét, miệng rên bi ai, mắt đầy ngấn lệ. Lần ba, gặp một cổ quan tài, theo sau là những thân nhân, đầu bù tóc rối, gương mặt sầu não, từng cơn rú lên những tiếng nấc dài đâm thủng buồng tim lá phổi người nghe.

Sau ba lần Thái tử chứng kiến ba cảnh già, đau, chết, Tịnh Phạn Vương hạ lệnh trang hoàng một chốn viên lâm ở cách xa ngoài thành, phái nhiều cung nữ đến đấy múa hát, rồi mời Thái tử ra dạo chơi. Tịnh Phạn Vương sai một mưu thần tên là Ưu Đà Di (Udàyin) điều khiển đám cung nữ ấy và cho phép toàn quyền dùng mọi mưu thuật, miễn sao cám dỗ được Thái tử. Ưu Đà Di chọn một mỹ nữ xinh đẹp nhất lên là Tôn Đà Lỵ dạy cho phép yêu thuật mê hoặc và quyến rủ Thái tử. Sau suốt một ngày tác động vô hiệu, Ưu Đà Di ra lệnh cho cung nữ rút lui. Rồi trong cảnh vắng lặng tuyệt đối của hoàng hôn đương xuống, Ưu Đà Di cùng Thái tử ngồi chung chiếu, đàm đạo về ba nỗi thống khổ của nhân sinh là già, bệnh, chết, và mối đại họa của ngũ dục. Ưu Đà Di đã chiến bại.

Ít lâu sau, Thái tử xin xuất thành lần nữa, cũng đến viên lâm cũ. Thình lình, ngài gặp một vị sa môn từ xa đi đến dáng dấp thanh thoát khác đời. Thái tử hân hoan tiến đến đón tiếp.

Hỏi: "Xem trang phục của ngài sao không giống ai hết? Thế ngài có phải là người không?"

Đáp: "Tôi là người như tất cả mọi người, nhưng đã ly khai ràng buộc của gia đình, làm sa môn. Vì muốn rời bỏ khổ não của cảnh già, bệnh, chết, tôi chỉ mong cầu được đạo lớn đem lại tự do giải thoát hoàn toàn. Đối với tôi hiện giờ, không có gì đáng gọi là sầu lo, cũng không có gì đáng gọi là hoan hỷ. Tôi không ham của, không ham sắc, trọn ngày ở trong rừng núi u tịch, dứt lìa mọi ràng buộc danh lợi thế gian, không nghĩ đến cái "tôi", cũng không nghĩ đến cái "của tôi". Không có cái gì là uế hay tịnh để lựa chọn, cũng không có cái gì là xấu hay tốt để phân biệt. Tôi đi lang thang khất thực ở các thị trấn, hay ở các thôn trang chỉ là để nuôi sống cái thân giả hợp này mà thôi. Gặp ai bị tai ách khổ não, tôi tìm cách giải cứu họ. Tôi không sợ người khác báo thù, cũng không mong có kẻ ghi nhớ công đức. Tôi chỉ biết chúng sanh đau khổ đang cần được giải cứu!"

Nghe xong, Thái tử thấy lòng mình vô cùng sảng khoái, rồi tự nghĩ sao tư tưởng của sa môn kia rất giống tư tưởng mình. Thái tử cúi xuống đảnh lễ để tỏ lòng ngưỡng mộ, nhưng khi ngẩng dậy thì không thấy sa môn đâu nữa.

Từ đó, Thái tử quyết tâm tìm cho ra đạo cả giải thoát.

Một đêm trăng tròn, sau một cuộc ca vũ kéo dài và cung phi mỹ nữ mỏi mệt lăn đùng ra ngủ say mê. Thái tử chán ngán đứng ngắm cảnh ô trược hiện nguyên hình ấy rồi lén vào phòng nhìn mặt vợ con lần cuối cùng, xong xuống chuồng ngựa bảo Xa Nặc dắt con ngựa Kiền trắc (Kanthaka) ra, rồi hai thầy trò cùng thoát khỏi cung điện dưới ánh trăng vằng vặc. Đến một khu rừng cách thành khoảng mười dặm thì xa xa hiện ra bóng một đạo sĩ đương ngồi tu ở dưới một gốc cây. Đạo sĩ tên là Bạt già và khu rừng ấy gọi là Khổ hạnh lâm. Thoạt thấy bóng đạo sĩ, Thái tử bảo Xa Nặc dừng cương xuống ngựa và ra lệnh cho Xa Nặc đem ngựa trở về thành tâu rõ tự sự cho phụ vương biết. Xa Nặc không chịu và nhất quyết đòi xin theo. Sử liệu còn ghi chép cuộc đối thoại giữa Thái tử và Xa Nặc từ khi còn trong chuồng ngựa cho đến phút từ giả này. Cuộc đối thoại dai dẳng với nhiều chi tiết lâm ly bi thiết, lột hết tình nghĩa thầy trò, đạo nghĩa cha con vợ chồng. Nhưng trước hoài bảo cứng rắn như kim cương của Thái tử, cuối cùng Xa Nặc đành phải trở về, mang theo nắm tóc và áo mão của Thái tử về tâu trình phụ vương.

Xong đâu đấy, Thái tử choàng mảnh cà sa vào, tiến tới trước mặt đạo sĩ Bạt già xin cùng tu.

Từ đây, một cuộc đời mới bắt đầu khác hẳn với cuộc đời vương giả cũ. Một cuộc chuyển mình toàn diện đương lớp lớp xảy ra, đưa đến cuộc thoát xác vĩ đại bi hùng nhất của lịch sử con người mà Thái tử sẽ thực hiện được sáu năm sau.

Năm Thái tử xuất gia, theo sử liệu Bắc phương thì đó là năm ngài mười chín tuổi. Nhưng theo sử liệu Nam phương, thì năm ấy ngài hai mươi chín tuổi. Niên đại sau tưởng rằng hợp lý hơn, và nếu niên đại này đúng, thì năm ngài xuất gia tức là năm 531 trước Tây lịch hay cách đây (1968) là 2502 năm. Nếu theo công nguyên Phật giáo hiện nay thì năm ấy là năm 595 trước Tây lịch, hay cách đây 2563 năm.

III.- TU HÀNH VÀ CHỨNG QUẢ

Khi Thái tử tiến tới thì nhiều đạo sĩ trong nhóm Bạt già thấy tướng mạo siêu phàm của ngài bèn tranh nhau ra tác lễ. Thái tử trình bày mục đích của mình, được họ đáp rằng ở đây họ chỉ tu cầu lên cõi trời, chứ không cầu giải thoát và giác ngộ.

Theo phép tu của nhóm này thì về trang phục họ mặc áo kết bằng lá cây; về thức ăn, hằng ngày họ chỉ ăn rêu xanh, rễ cây, da cây, hoa quả để khỏi đói. Tuyệt đối không dùng vật thực còn tươi tốt. Thỉnh thoảng có đi khất thực thì đem bố thí cho người khác, riêng họ chỉ ăn chút ít đồ thừa, quý hồ đủ cầm hơi mà duy trì sanh mạng. Khi ăn thì bắt chước chim, dùng hai chân kẹp thức ăn đút vào miệng.

Trong nhóm tu khổ hạnh này, có kẻ từ sáng đến chiều dội nước lạnh vào mình từ đầu xuống chân. Có kẻ mỗi ngày hai hoặc sáu lần ngồi trên tảng băng. Có kẻ nằm ngủ sát bên bếp lửa hồng để ướp mình trong tia lửa nóng. Có kẻ suốt ngày lặn dưới nước, cầu đảo ánh quang minh của mặt trời mặt trăng nhiếp vào mình. Thôi thì đủ trò đủ lớp vô cùng kỳ dị. Tất cả các khổ hạnh ấy, theo họ, sẽ chiêu cảm kết quả an vui về sau ở các cõi trời.

Thái tử nghe qua, lấy làm đau xót cho họ, khuyên họ bỏ lối tu ấy đi, viện lẽ rằng: giả sử các phép tu ấy có đem lại khoái lạc ở cõi trời đi nữa thì sau khi hưởng hết quả vui, vẫn phải trở lại chịu khổ như trước khi chưa tu, như vậy khổ nọ chiêu tập khổ kia, chứ không lợi ích gì hết. Hơn nữa, chim chóc cũng ăn trái cây, đâu có vì thế mà sanh lên cõi trời được?

Bên nói qua, bên bác lại, không ai nghe ai. Cuối cùng họ yêu cầu Thái tử nếu chịu ở lại với họ, họ sẽ tôn Thái tử lên bạc trưởng lão tối cao và được tôn kính như trời Đế Thích, tức như Đấng Sáng thế của họ. Dĩ nhiên, Thái tử không chấp nhận.

Trong nhóm Bạt già có một đạo sĩ đang tu phép nằm lăn giữa đất, được nghe Thái tử nói liền đứng dậy giới thiệu đến tiên A La Lam (Arada Kalama) mà đương thời tôn lên ngang hàng thánh giả, hiện đang điều khiển một đạo tràng lớn tại núi Tần đà.

Thái tử ở lại đây chỉ một hôm. Qua hôm sau, lên đường tìm gặp A La Lam.

Trong khi ấy, kinh thành Ca Tỳ La náo loạn vì được tin Thái tử bỏ đi tu, Tịnh Phạn Vương cho hai đại thần cấp tốc đuổi theo đến Khổ hạnh lâm. Được đây mách bảo, hai đại thần ấy lên đường rượt theo nữa, gặp Thái tử ở dọc đường.

Hai ông viện đủ mọi lý lẽ để thuyết phục Thái tử trở về, nhưng vô hiệu. Cuối cùng vì quá cảm phục ý chí sắt đá của Thái tử, họ đành rút lui và hứa sẽ xin chọn một nhóm đạo sĩ theo hầu bầu bạn tu học, hầu giúp Thái tử trên bước đường cầu đạo. Đó là nhóm năm người Kiều Trần Như (Ajnata-Kaundinya), A Xả Bà Thệ (Asvajit), Ma Ha Bạt Đề (Bhadrika), Thập Lực Ca Diếp (Dasabala-Kasyapa), Ma Nam Câu Lỵ (Mahanama-Kulika) về sau cùng tu với nhau ở vườn Lộc Uyển và cũng chính là năm đại đệ tử đầu tiên của Phật.

Sau cùng hai vị đại thần cáo biệt. Thái tử vượt sông Hằng, băng qua núi Linh thứu (tiếng Pháp gọi là Pic des Vautours), rồi vào thành Vương Xá, thủ đô nước Ma Kiệt Đà (Magadha).

Dân trong thành này thấy diện mạo khôi ngô của Thái tử thì đổ xô đến xem. Tiếng đồn tới tai nhà vua Ma Kiệt Đà là Tần Bà Sa La (Bimbisara). Nhà vua xa giá đến yết kiến. Trước kia đã từng nghe đồn về tài năng quán chúng của Thái tử cả văn lẫn võ, nay được chính mắt trông thấy diện mạo oai nghi kỳ vĩ, trong lòng nhà vua cảm thấy mến phục và thương tiếc vô hạn. Thương tiếc là vì theo ông nghĩ, một người như Thái tử sao không chịu làm vua cho thần dân được nhờ. Hay là vì Ca Tỳ La là nước nhỏ chăng? Nghĩ thế, ông liền đề nghị với Thái tử xin nhường nữa phần lãnh thổ nước ông cho Thái tử cai trị. Thấy Thái tử lắc đầu, ông lại đề nghị xin nhường hẳn ngôi vua của ông lại cho Thái tử, và chính ông chỉ xin làm bề tôi phục vụ, hầu mong nước Ma Kiệt Đà nhờ tài đức của Thái tử mà trở nên thạnh trị phú cường hơn. Nhất nhất Thái tử đều từ chối. Lời cuối cùng của nhà vua trước khi tiển biệt là cầu nguyện Thái tử sớm đắc đạo, và sau khi đắc đạo, trước tiên hãy đến cứu độ nhà vua. Thái tử chấp nhận lời thỉnh nguyện này.

Ra khỏi thành Vương Xá, Thái tử tiếp tục hành trình đi tìm đạo sĩ A La Lam.

Buổi đầu mới gặp, Thái tử hết sức hoan hỷ vì A La Lam quả tình là một nhà thông thái bác học đa văn, Ông thông suốt mọi tư tưởng học thuật Bà la môn. Không những thế, ông còn tinh thông cả giáo điển của Số luận (Sámkhya). Những gì ông biết, ông đều tận tình giải bày cho Thái tử nghe. Chính trong thời gian này, Thái tử luyện tập các phép tu Thiền, từ sơ thiền đến thiền phi tưởng phi phi tưởng. Thái tử chỉ học trong một thời gian rất ngắn là thâu nhiếp hết yếu pháp của A La Lam.

Đến khi luyện xong phép thiền phi tưởng phi phi tưởng mà A La Lam cho như thế là đã đạt cứu cánh giải thoát, Thái tử thắc mắc hỏi: "Trong định ấy, còn có tướng ngã không? Nếu không, thì sao gọi được là phi tưởng, phi phi tưởng? Nếu còn, thì ngã ấy có tri giác không? Nếu không tri giác, làm sao tránh khỏi bị cảnh giới nhiễm trước trói buộc? Như vậy chưa phải cảnh giới cứu cánh giải thoát mà tôi mong cầu!".

A La Lam nghe Thái tử cật vấn như trên, một mặt lòng tự thấy hổ thẹn, nhưng mặt khác lại càng cảm phục Thái tử bội phần.

Trên bước đường cầu đạo, sau A La Lam, Thái tử còn được gặp một đạo sĩ lừng danh khác nữa là Uất Đầu Lam Phất, còn gọi là Uất Đà (Udraka-Ramaputra). Uất Đà kiến thức tuy có phần rộng hơn A La Lam, nhưng hướng tu không khác nhau, vì ông này cũng thuộc phái Số luận.

Sau khi từ giả Uất Đà, Thái tử còn đi vân du nhiều nơi khác. Cuối cùng khi đi đến bờ phía đông sông Ni liên thiền (Nairaujanà), một chi nhánh của sông Hằng, Thái tử định lên núi Bạt La Cấp Bồ Đề gần đấy để tịnh tu. Nhưng khi leo lên, thấy núi ấy không phải chốn tịch mịch thanh tịnh. Thái tử lại trở xuống, vượt sông Ni liên thiền, nhắm hướng núi Già Da (Gaya) tiến tới. Gần đấy, có một khu rừng mà các đạo sĩ thường tụ tập để tu khổ hạnh, nên cũng gọi là Khổ hạnh lâm. Vườn Lộc uyển chính ở trong khu rừng này. Rừng Khổ hạnh này thuộc lãnh thổ Ma Kiệt Đà, nằm trong địa phận thôn Ưu lâu tần đà (Uruvilva), cạnh núi Già Da, khoảng giữa sông Hằng và sông Ba la nại, mặt trước nhìn ra sông Ni liên thiền. Phiá bắc sông này lại có núi Tượng Đầu ( núi đầu voi), phong cảnh toàn vùng thật tịch mịch, rất thuận tiêïn cho việc tĩnh tu. Sau khi quyết định chọn nơi này làm đạo tràng, Thái tử thề cương quyết không rời bỏ trước khi chưa đắc đạo. Tại đây, hiện có tháp kỷ niệm gọi là tháp Phật đà Già da (Buddha-Gaya), tiếng Việt gọi là Bồ đề đạo tràng.

Ở đây không bao lâu thì năm người trong nhóm Kiều Trần Như do hai đại thần chiêu mộ cũng đến khẩn cầu xin Thái tử cho phép kết bạn cùng tu.

Tại đây trong sáu năm liền, Thái tử không theo phép tu kỳ quái của nhóm Bạt già trước kia, nhưng những khổ hạnh mà Thái tử trải qua còn vượt xa khổ hạnh của nhóm ấy rất nhiều. Suốt ngày đêm, Thái tử chỉ chuyên lo giử giới tham thiền, quên ăn bỏ ngủ. Thời gian tu như thế kéo dài khá lâu, càng ngày sức khỏe càng giảm sút, mắt trỏm, mũi nhô, xương lớn xương nhỏ lòi ra. Thân hình Thái tử chỉ còn là một bộ xương với lớp da mỏng bao bọc bên ngoài. Thỉnh thoảng voi hay vượn đến tiếp tế cho một ít hoa quả hoặc vài hạt đậu để ăn. Thậm chí về sau mỗi ngày Thái tử chỉ còn ăn một hạt mè hoặc một hạt lúa mạch, cốt chỉ để cầm hơi. Thâm tâm Thái tử nghĩ rằng có chịu kham khổ như vậy mới khắc phục được xác thịt, diệt trừ được phiền não. Nhưng trải qua nhiều năm kham khổ như thế, phiền não vẫn không tiêu, mà thân thể thì không còn gì được gọi là hình dáng con người nữa.

Thử phương pháp này không được, Thái tử đi tìm phương pháp khác. Bịt kín cả mũi lẫn miệng Thái tử luyện phép nín thở, đình chỉ hô hấp. Nhưng kết quả đem lại là: mắt hoa, tai ù, trên trán như có dao đâm, trên đỉnh đầu nhu có roi da quất xuống.

Sáu năm trôi qua, phiền não, vọng tưởng vẫn không đoạn diệt, tình dục, sanh tử vẫn không tiêu trừ. Con đường giải thoát càng mịt mù xa thẳm.

Trong khi ấy, nhóm Kiều Trần Như thấy nhiệt tâm cầu đạo cao độ của Thái từ, hết thảy đều tôn thờ ngài như trời Đế Thích, luôn luôn chầu hầu bên cạnh. Cũng trong khi ấy, Tịnh Phạn Vương nhớ con thỉnh thoảng cho người đến dò la tin tức. Được nghe Thái tử tu khổ hạnh quá sức cực khổ, nhà vua bất giác rú lên khóc. Quá thương con, vua sai A Nặc đem trân tu mỹ vị đến cho Thái tử dùng. Ma Ha Ba Xà Ba Đề và Da Du thương xót không kém, cũng gởi theo tặng phẩm của mình và căn dăïn Xa Nặc phải cố hết sức năn nỉ Thái tử thâu nhận để phụ vương và thân quyến an tâm.

Khi Xa Nặc gặp Thái tử thì Thái tử nhất mực từ chối, viện lẽ rằng làm như thế trở ngại đường tu, Xa Nặc lại kể cho Thái tử nghe những việc xảy ra tại hoàng cung từ ngày Thái tử ra đi, nhưng vừa mới bắt đầu thì bị Thái tử chận lại, bảo Xa Nặc phải cấp tốc lùi bước, để Thái tử yên tâm tu hành.

Sau sáu năm khỗ hạnh, một hôm Thái tử bổng nghĩ rằng: "Đại sự giải thoát đâu cần bắt buộc nhục thể phải chịu khổ? Đói ăn khát uống là việc dĩ nhiên. Điều cần thiết là : không nên để ý đến nhục thể và nên quên nó đi. Vì nếu không quên nó thì tâm không thể thanh tịnh. Mà tâm không thanh tịnh thì ô uế không thể tiêu trừ. Ô uế không tiêu trừ, làm sao đến được đạo lớn giải thoát".

Nghĩ thế xong, Thái tử rời chỗ ngồi, xuống sông Ni liên thiền tắm rửa sạch sẽ. Tắm xong trở lên, chân lê không nổi vì đã kiệt sức. Ngã quỵ bên bờ sông, Thái tử phải dang tay lên vịn một cành cây mới đứng dậy được. Gượng thêm vài bước nữa lại ngã quỵ.

Bấy giờ tại bên bờ sông có một cô gái chăn bò tên là Nan Đà Ba La, còn gọi là Tu Xa Đa (Sujata) thấy tình cảnh thảm não như thế bèn vắt một bát sữa bò tươi đem dâng, Thái tử lãnh thọ. Uống xong giây lát sau thấy trong người sảng khoái, khí lực dần dần hồi phục.

Nhóm Kiều trần Như thấy Thái tử tiếp nhận cúng dường của một cô gái chăn bò thì lòng đầy kinh dị, vì cho như thế là ô uế và nghĩ rằng Thái tử đã thối chí sa đọa. Cả năm người không muốn nhìn Thái tử nữa vì sợ ô uế lây. Thái tử đến với họ, họ bỏ chạy.

Rời bỏ năm người, một mình một bóng, Thái tử lửng thửng nhắm núi Già da thẳng tiến. Dưới một gốc cây Bồ đề, kìa một tòa kim cang cũ của ai bỏ trống mà nay không còn lưu lại dấu vết, Thái tử bứt cỏ non [2] trải lên đó, rồi ngồi kiết già, xong phát thệ rằng: "Nếu phen này không đạt được chánh giác để giải thoát khỏi sanh tử thì thề quyết không đứng dậy rời khỏi nơi đây".

Chính đêm hôm đó, Thái tử ngộ đạo.

Sử liệu ghi chép rằng, trước khi sắp thành đạo, Thái tử b? Ma vương quấy phá dữ dội. Cả ma trong lẫn ma ngoài. Ma trong có ma phiền não, ma vọng tưởng. Ma ngoài có ma thanh sắc, ma uy lực. Đủ các loại ma thường hằng khống chế thế gian mà từ ngàn xưa chưa ai khắc phục nổi, để bước vào con đường giác ngộ chân thật.

Một trận giặc lòng khủng khiếp đã xảy ra trước khi Thái tử thành đạo.

Sau khi hàng phục xong ma vương, Thái tử thấy lòng mình tuyệt đối vắng lặng bằng phẳng như mặt nước hồ thu, tâm hồn rực sáng như ánh mặt trời giữa trưa. Nhờ đó chí nguyện càng thêm kiên cố, trong lòng càng thêm bình tỉnh.

Nhập định tam muôi, Thái tử thả tâm tư tiêu dao các cảnh giới vô niệm vô tưởng. Một thế giới sáng ngời bừng dậy lên trước mắt, trong đó hiện ra cả một dòng sanh tử lưu chuyển của chính mình: khi làm cha, làm con, làm thầy, làm tớ. Khi khóc, khi cười, khi sanh ở địa phương này, lúc sanh ở địa phương khác, không nhất định. Trong dòng sanh tử ấy, lô nhô lúc nhúc, còn vô số chúng sanh khác, khi bạn, khi thù, khi quyến thuộc, khi giao tranh. Tất cả đều bị trói buộc bởi quan hệ nhân duyên sanh khởi. Chính quan hệ nhân duyên này mê hoặc và giam hãm chúng sanh cùng năm mãn kiếp trong ái dục lợi danh, vô phương giải thoát. Nhìn cảnh tượng oan thân bình đẳng ấy, Thái tử cảm thấy xót xa vô hạn và bất giác rơi lệ lúc nào không hay.

Trong cảnh giới bình đẳng ấy, sanh và tử hiện ra không hai. Sanh là đầu mối của tử, mà tử cũng lại là đầu mối của sanh. Sanh tử, tử sanh tiếp nối nhau không cùng tận. Dòng sanh mạng cứ thế khuếch đại ra thêm nữa, cuối cùng đồng hóa hẳn với vũ trụ.

Mọi phiền não tiêu tan, lòng tràn ngập hoan hỷ, Thái tử thấy xung quanh Ngài không còn gì đáng gọi là không gian hay thời gian nữa. Mọi phân biệt đều tan biến, Thái tử tự hỏi đấy phải chăng là giấc mơ? Không! Những hiện tượng thấy trước mắt là những hiện tượng sờ mó được. Đó là những hiện tượng xảy ra trong một cơn cảnh giác cao độ, Ngài đã chứng được quả vô thượng bồ dề: NGÀI ĐÃ THÀNH PHẬT.

Sau khi ngộ được chánh pháp duyên khởi, Phật quán sát chi ly mọi hiện tượng thế gian thì thấy hết thảy đều lưu chuyển kinh qua mười hai nhân duyên, trong đó Khổ đóng vai trò chủ thể. Từ chủ thể ấy triển khai ra mới có các hiện tượng lão, bệnh, tử.

-Vì đâu có Lão, Bệnh, Tử? Vì có Sanh ra.

-Sanh do đâu mà khởi? Do lòng ham muốn tồn tại. Tức Hữu hay nghiệp lực.

-Tồn tại vì nguyên nhân gì phát sanh? Vì có truy cầu nắm bắt. Tức Thủ.

-Truy cầu vì nguyên nhân gì khởi. Vì say đắm dục lạc. Tức Ái.

- Say đắm vì nguyên nhân gì phát sanh? Do có cảm giác khổ vui. Tức Thọ.

- Cảm giác khổ vui vì nguyên nhân gì phát sanh? Vì có đụng chạm xúc tiếp, mở đường cho mọi nhận thức. Tức Xúc.

- Tiếp xúc do đâu phát sanh? Do sáu căn. Tức Lục nhập.

- Sáu căn nương vào đâu mà có? Nương vào các yếu tố tạo nên tinh thần và thể xác loài hữu tình. Tức Danh sắc.

- Tinh thần và thể xác nương vào cái gì để hiện thực? Nương vào chủng tử nghiệp lực quá khứ. Tức Thức.

- Chủng tử nghiêïp lực do đâu mà có? Do tạo tác kiên tục từ quá khứ. Tức Hành.

- Tạo tác liên tục nương vào đâu sanh khởi? Nương vào phiền não mê hoặc. Tức Vô minh.

- Phiền não hay Vô minh chính là nguồn gốc của đau khổ sanh tử vậy.

Do Vô minh khởi Hành.
Do Hành có Thức.
Do Thức triển khai có Danh sắc.
Do Danh sắc có sanh Lục nhập.
Do Lục nhập có Cảm xúc.
Do Cảm xúc có Thọ.
Do Thọ sanh Ái.
Do Ái nên Chấp thủ.
Do Chấp thủ nên tạo Nghiệp (Hữu).
Do Nghiệp có Sanh.
Do Sanh tất có Lão, Tử.

Tất cả chúng sanh sở dĩ có chết đi sanh lại, luân hồi lưu chuyển không dứt là chỉ vì cái vòng lẩn quẩn này.

Quan trọng nhất trong mười hai nhân duyên là ba chi đầu: Vô minh, hành, thức. Chính ba chi đầu này là đầu mối, là nguyên nhân căn bản chi phối mọi hiện tượng không những của riêng nhân sinh, mà còn chung cho cả vũ trụ.

Muốn phá tan cái vòng duyên khởi lẩn quẩn ấy, biện pháp công hiệu nhất là con đường Bát chánh gồm: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiêïp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định.

Chỉ có con đường Bát chánh mới tiêu diệt được tà kiến chấp trước. Tà kiến chấp trước tiêu diệt, ví như củi hết thì lửa tự tắt.

Từ mười hai nhân duyên, Phật triển khai hệ thống giáo lý Tứ diệu đế: Khổ, Tập, Diệt, Đạo.

Với thập nhị nhân duyên, Bát chánh đạo và Tứ diệu đế, Phật hoàn thành chân lý Trung đạo siêu tuyệt của Ngài. Chính ngài đã thực hiện chân lý ấy ngay trên bản thân mà thành tựu tự ngã vô ngã tuyệt đối của con người với một nhân cách vĩ đại, từng được truyền thống tư tưởng Phệ đà hằng mơ ước.

Đã là chân lý thì không vướng mắc, không câu chấp. Xả bỏ tất cả, nhưng trên thực tế không một pháp nào thực sự bị xả bỏ. Đó là Đệ nhất nghĩa đế, đó là Trung đạo Bất nhị hoàn thành con người đích thực muôn thu?.

Nói Phật là tự ngã chân thật, vậy tự ngã ấy là gì?

- Chính là vạn pháp.

- Vạn pháp do đâu mà ra?

- Do nhân duyên sanh khởi.

- Nhân duyên ở đâu?

- Chính ngay nơi cái tâm bình thường của mỗi chúng sanh.

Thập nhị nhân duyên thuyết minh lý duyên khởi ấy.

Bát chánh đạo chế ngự quá trình duyên khởi ấy.

Từ đế trình bày hệ thống dịch biến cả thuận lẫn nghịch của hiện tượng duyên khởi ấy.

Đặc trưng của sự ngộ đạo của Phật là ở điểm TRUNG ĐẠO DUYÊN KHỞI, và chỉ ở mỗi điểm ấy mà thôi. Tất cả đạo phong đều xây dựng trên đó. Tất cả đạo học về sau cũng do ở đó khai triễn ra.

Sau khi đắc đạo, Phật cảm thấy lòng lâng lâng nhẹ nhàng, không chút vướng bận. Hồi tưởng lại kiếp tử sanh ô trược xưa, Ngài hân hoan tự nói với mình: "Ta lang thang trong vòng luân hồi qua bao kiếp sống, tìm mãi mà không gặp kẻ làm nhà. Đau khổ thay kiếp sống cứ tái diễn mãi. Hởi kẻ làm nhà! Nay ta đã tìm được ngươi rồi, ngươi không còn làm nhà được nữa. Bao nhiêu rui và mè của ngươi đều đã gãy hết, kèo cột của ngươi đều đã tan vụn rồi. Trí ta đã đạt đến vô thượng Niết bàn, bao nhiêu dục vọng ta đều dứt sạch".

Giáo điển Phật giáo còn ghi chép rằng, hôm Phật ngồi tại dưới gốc cây Bồ đề, gặp phải một trận mưa to gió lớn, có Long vương tên là Mucalinda hiện lên lấy mình quấn bảy vòng thân Phật, dương bảy đầu lên che, nhờ đó Phật khỏi ướt. Tiếp đó có đoàn xe hai thương gia tên là Đề Lê Phú Bà (Tripussa) và Bạc Ca Lê (Bhallika) đi qua cúng đường, được Phật chúc phước và ban cho ít tóc và móng tay để kỷ niệm. Cũng chính tại đấy, lần đầu tiên, Tứ Thiên vương dâng bình bát để Phật đựng đồ cúng dường. Sau hai thương gia nầy đến kinh doanh tại Miến Điện, dựng tháp thờ hai bảo vật ấy. Nhờ đó, vua Miến và các vua kế cận lúc đó mới biết đến Ấn độ và tìm đến ra mắt Phật. Tháp thờ tóc và móng tay Phật hiện vẫn còn tại kinh đô Rangoon gọi là tháp Shwedagon.

Tìm ra mối đạo rồi, Phật còn ngần ngừ suy tư mãi, không biết có nên đem ra truyền bá ngay được chưa? Sau khi ý đã quyết, Ngài liền rời tòa Kim cang, nhắm hướng thành Ca Thi (Kasi) thẳng tiến. Ca Thi tức là thành Ba la nại (Bénarès) ngày nay vậy.


Ghi chú:

[1] Trong thư dịch Phật giáo, về niên đại Phật giáng sanh có các thuyết sau đây và chia thành hai phe:

a.- Theo Chúng Thánh Điển Ký thì năm đản sanh là năm 565 trước Tây lịch.

Theo bia Phật ở Miến Điện thì là năm 561 trước Tây lịch.
Theo luật Thiện Kiến thì là năm 559 trước Tây lịch.

b.- Theo bia Buddhagaya ở Bồ Đề Đạo Tràng thì năm đản sanh là năm 623 trước Tây lịch.

Theo Phật sử Tích Lan thì là năm 624 trước Tây lịch.
Theo Phật sử Tây Tạng thì là năm 626 trước Tây lịch.

Nếu so sánh các niên đại trên đây với niên đại dịch kinh của các Tổ người Ấn qua Trung hoa thì Phật sử Tích Lan hoàn toàn phù hợp. Vì vậy Hội Phật giáo Thế giới phán quyết rằng Phật đản sanh trước Tây lịch 624 năm.

[2] Có thuyết nói rằng: giữa đường, ngài gặp Tô đế gia (Sothiga) hiến tám lọn cỏ tốt để ngài lót làm tòa ngồi. Nhưng tra cứu thì không tìm ra xuất xứ chính xác.

 

[02]

PHẬT GIÁO HÓA hay PHẬT CHUYỂN PHÁP LUÂN

 

NGƯỜI ĐẦU TIÊN GẶP PHẬT

Trên đường từ gốc Bồ đề đến thành Ca Thi, Phật gặp một người từ xa đi lại. Ông này thấy tướng mạo trang nghiêm của Phật thì bất giác tâm hồn rúng động, liền quỳ mọp bên vệ đường, bạch rằng:

- Ngài có phải là người không? Sao tướng ngài đẹp đẽ từ hòa đến thế? Nhìn ngài, sao tôi tự nhiên thấy vừa rờn rợn ớn lạnh, vừa phơi phới hoan hỷ mà tâm hồn lại yên tỉnh khác thường? Ngài là thiên thần chăng? Ưu Ba Ca này kính mong Ngài khai thị.

- "Này Ưu Ba Ca! Phật bảo. Ta không phải thiên thần. Ta cũng không theo học với thầy nào hết. Không có bạn bè nào cùng học chung với ta. Nhờ tự lực, ta đã giác ngộ được diệu pháp mà trên thế gian này chưa ai đạt được.

Này Ưu Ba Ca! phiền não là kẻ thù đáng sợ nhất. Muốn hàng phục kẻ thù ấy, nhất định phải có gươm báu trí tưệ. Trí tuệ ấy, ta đã chứng được. Đến thành Ca Thi phen này, ta nhất quyết phải dóng trống chánh giác, khua chuông trí huệ, để thức tỉnh thế gian đang chìm đắm trong cơn ác mộng triền miên.

Này Ưu Ba Ca! Lòng ta hiện rất thanh thản. Không kiêu ngạo cũng không nô dịch vì bất cứ một lý do nào. Ta chỉ chuyên chú một việc: lưu bố chánh pháp cứu giúp chúng sanh chìm đắm trong biển khổ. Trong một kiếp trước, ta đã từng phát nguyện làm thuyền trưởng cứu vớt kẻ trầm luân chơi vơi trong khổ hải. Nay điều kiện này đã đầy đủ, ta quyết thực hiện thệ nguyện xưa. Bất cứ ai có thiện căn và nhân duyên sẽ đều được ta cứu vớt. Ta phải thực hiện cho kỳ được sứ mạng của đấng đại trượng phu và đấng đại y vương.

Này Ưu Ba Ca! Không phải nhân vì có bóng tối mà dèn phát ra ánh sáng. Khu trừ hết bóng tối thì ánh sáng tự nhiên của đèn hiện ra. Đèn ấy là đèn trí huệ. Ta đốt đèn ấy lên là làm một việc thuận với tự nhiên để chiếu phá bóng tối ngu si của chúng sanh.

Này Ưu Ba Ca! Cưa gỗ thì có lửa. Không khí chuyển động thì thành gió. Đào đất thì phải được nước. Đó là những việc đương nhiên. Việc ta sắp làm đây cũng vậy"

Lắng tai nghe Phật nói, Ưu Ba Ca tán thán không ngớt. Nghe xong, hứa trong tương lai sẽ tìm gặp Phật và sẽ xin làm đệ tử. Sau đó hai người chia tay.

I.- GIÁO ĐOÀN ĐẦU TIÊN

Đến vườn Lộc Uyển trong rừng Khổ hạnh, Phật gặp ngay nhóm năm người Kiều trần Như vẫn còn ở đấy. Xa trông thấy Phật uy nghi bước đến, thoạt tiên năm ông tưởng Phật hối hận muốn trở lui xin sám hối để cùng tiếp tục tu. Cả năm người ước hẹn cùng nhau tảng lờ, nhắm mắt giả bộ như không trông thấy, để xem Phật xử sự ra sao. Nhưng khi Phật đến gần, không ai bảo ai, tất cả đều bất giác phát sợ và cùng quỳ xuống đảnh lễ.

- Sao các ông không thực hành lời giao ước không đón tiếp ta? Phật bảo.

- Thái tử Tất Đạt Đa! Chúng tôi đâu dám nghĩ thế!

- Các ông từ nay không nên gọi ta bằng tục danh. Hiện ta đã thành tựu chánh giác. Hãy gọi ta là Phật. Phật chính là ánh sánh của vũ trụ. Muốn thành thành Phật đâu cần phải tu khổ hạnh! Trái lại có bỏ lối tu ấy đi thì mới mong thành Phạât được.

Này Kiều trần Như! Năm ông hiện đang mắc phải một cái bệnh hiểm nghèo là bệnh chấp chặt một phía. Bắt nhục thể chịu khổ chỉ càng khiến tâm thần thêm rối loạn. Trái lại, cho thân tâm hưởng lạc thì lại khiến nó say đắm ái trược. Tu hành mà thiên trọng bên này hay bên kia, đều không thể nào thành tựu đại đạo căn bản. Vấn đề này, ta đã thấu rõ khi còn ở trong vương cung và khi ta cùng các ông tu khổ hạnh sáu năm.

Xa lìa cả khổ lẫn lạc, đó là con đường tu hành trung đạo chân chánh, đưa đến giác ngộ tối cao.

Muốn đi đến đó, cần phải thực hiện tám điều:

1.- Kiến giải phải chính xác (chánh kiến)
2.- Tư tưởng phải thuần chơn (chánh tư duy)

3.- Nói phô phải hiền hòa thanh tịnh (chánh ngữ)
4.- Việc làm phải chánh đáng (chánh nghiệp)
5.- Mưu sinh phải hợp lý (chánh nghiệp)

6.- Tinh thần phải tích cực (chánh tinh tấn)
7.- Tín ngưỡng phải hợp chơn lý (chánh niệm)
8.- Sinh hoạt tâm linh phải quy nhất (chánh định)

Tu học phải theo đúng tám hướng này mới giải thoát được khổ đau của phiền não tích tụ từ lâu đời lâu kiếp. Có giải thoát đau khổ mới đạt được cảnh giới tịch tịnh an vui.

Này Kiều trần Như! Trên thế gian này, tất cả chúng sanh không ai thoát khỏi khổ đau do sanh,già, bệnh, chết gây nên. Đã thế, lại còn dồn dập bao nhiêu tai ương của tự nhiên giới như hỏa tai, thủy tai, phong tai, chấn tai v.v... Ái ân mà phải xa lìa cũng khổ. Oán cừu phải gặp gỡ cũng khổ. Ham muốn không được cũng khổ. Năm ấm thiêu đốt ngày đêm cũng khổ. Tất cả các nổi KHỔ đau ấy đều bắt gốc từ cái ảo tưởng Ngã. Do ảo tưởng ngã ấy mà tham, sân, si dấy khởi triền miên, tích lũy đời nọ qua kiếp kia thành TẬP. Muốn giải trừ khối tham, sân, si tích tập ấy, cần phải tu ĐẠO. Có tu đạo mới tiến nhập được cảnh giới tịch DIỆT.

Này Kiều trần Như! Ta cần chỉ cho các ông biết:

- Đó là Khổ, vì tánh nó hay bức bách.
- Đó là Tập, vì tánh nó thường chiêu cảm.
- Đó là Diệt, vì tánh nó có thể chứng được.
- Đó là Đạo, vì tánh nó có thể tu được.

Này Kiều trần Như! Ta khuyên các ông hãy tích cực:

- Vì nó là Khổ, các ông cần phải biết.
- Vì nó là Tập, các ông cần phải trừ.
- Vì nó là Diệt, các ông cần phải chứng.
- Vì nó là Đạo, các ông cần phải tu.

Này Kiều trần Như! Hãy xem gương ta thì rõ:

- Đó là Khổ, ta đã biết rồi.
- Đó là Tập, ta đã trừ xong.
- Đó là Diệt, ta đã chứng được.
- Đó là Đạo, ta đã tu thành.

Bốn sự thật căn bản Khổ, Tập, Diệt, Đạo chỉ có thánh trí mới hội thông, nên gọi là Bốn Thánh đế. Nếu không rốt ráo thấu hiểu Bốn Thánh đế ấy thì không thể nào giải thoát. Các ông nghe rõ chưa?

Này Kiều trần Như! thân năm uẩn này là thường chăng? Là không thường chăng? Là khổ chăng? Là không khổ chăng? Là không chăng? Là không không chăng? Là ngã chăng? Là vô ngã chăng?

- Bạch Phật! Năm uẩn sắc, thọ, tưởng, hành, thức đích thực là vô thường, khổ, không và vô ngã.

- Hay thay! Các ông đã lãnh hội được giáo pháp ta.

Sau khi nghe Phật dạy, năm ông Kiều trần Như, A Xả Bà Thệ, Bạt Đề, Thập Lực Ca Diếp và Ma Nam Câu Ly (con trưởng Học Phạn Vương) đều xin nguyện quy y Phật. Đây là năm đệ tử đầu tiên. Với lời thuyết giáo trên là bài giảng đầu tiên cho năm đệ tử dầu tiên ấy [1]. Đến đây ngôi Tam Bảo đã đầy đủ với đức Thích Ca là Phật bảo, Bốn Thánh đế là Pháp bảo và năm đệ tử đầu tiên là Tăng Bảo.

II.- CƯ SĨ VÀ TÍN NỮ ĐẦU TIÊN

Sau khi lập xong giáo đoàn, hàng ngày Phật cùng đệ tử đi hành hóa dọc theo ven sông Phược Ra Ca.

Một hôm trời hừng sáng, Phật xuống sông rửa mặt thì bổng thấy một thanh niên từ bên kia thành Ca Thi lội bộ qua, mặt mày hốt hoảng, tinh thần thác loạn, mồm không ngớt kêu khổ. Hỏi ra mới biết thanh niên ấy giữa đêm thức giấc, thấy vợ (vốn là một vũ nữ), trong lúc ngủ mê hiện rõ chân tướng xấu xí, bèn nổi khùng, lén bỏ nhà ra đi lang thang vô định. Kịp đến sáng thì gặp Phật, Phật đem giáo lý vô thường ra giảng dạy. Bừng tỉnh ngộ, thanh niên nằng nặc xin Phật xuất gia. Đây là đệ tử thứ sáu của Phật tên là Da Xá, con của trưởng giả Câu lê Da, người thành Ca Thi.

Sau khi Phật chấp nhận Da Xá làm đệ tử thì Câu lê Da trên bước đường tìm con, cũng gặp Phật, được Phật giảng dạy về những nỗi khổ đau của kiếp nhân sanh vô thường, như bọt nước, như sương sa. Để chế ngự khổ đau, Phật nói công đức trì giới, bố thí. Sau đó, Câu lê Da phát nguyện quy y làm đệ tử tại gia. Đó là vị Ưu bà tắc đầu tiên.

Hôm sau Câu lê Da mời Phật và đệ tử về thọ trai tại nhà. Vợ Câu lê Da thấy Phật tướng mạo trang nghiêm, trong lòng vô cùng phấn chấn, cũng theo gương chồng xin quy y. Đây là vị Ưu bà di đầu tiên.

Tiếp theo, năm mươi thanh niên bạn của Da Xá thấy Da Xá xuất gia đầu Phật, được Phật cảm hóa tánh tình khác xưa, nhân đó cũng xin xuất gia. Giáo đoàn giờ đây lên đến trên năm mươi người, hàng ngày chia nhau đi bố giáo các vùng lân cận.

1.- BA ANH EM CA DIẾP QUY CHÁNH

Ngay trong vùng Phật và đệ tử hoằng hóa, có một đạo sĩ nổi tiếng tên là Ưu Lâu Tần Loa Ca Diếp (Uruvilvà Kàsyapa) cầm đầu năm trăm đệ tử theo đạo Bái Hỏa (thờ thần lửa). Phật quyết đưa ông này về nẻo chánh, lập tâm đến nhiếp phục cho được.

Trên đường đi đến đền thờ thần Lửa của Ca Diếp, tình cờ Phật gặp ba mươi thanh niên đương tìm kiếm một cô gái, trước kia vốn là gái điếm, nhưng được cả nhóm mua về làm vợ cho một gã trong bọn họ. Lý do tìm kiếm là vì dâm nữ ấy, đêm vừa rồi thừa lúc trong nhà ngủ say, đánh cắp tiền bạc quần áo bỏ trốn. Thấy thanh niên mất vợ, vẻ mặt thiểu não u sầu, Phật giảng giải đạo lý nhân sanh vô thường cho nghe, xong ngài hỏi: "Anh thử nghĩ kỹ, nên đi tìm tự ngã anh hơn hay đi tìm người đàn bà ấy hơn".

Thanh niên chợt tỉnh ngộ, rồi cùng với hai mươi chín người bạn kia xin quy y theo Phật làm đệ tử.

Khi đến gặp Ca Diếp thì trời gần tối. Ông này tỏ ý khinh khi cao ngạo, tự coi mình là một thánh nhân. Quả thật, ông cũng thuộc hạng bác học đa văn và nhất là ông đang đuợc vua quan và dân chúng quanh vùng thành kính tôn sùng.

Phật biết vậy, bèn mượn cớ là người lữ hành đi nhỡ độ đường, xin cho tạm trú một đêm. Ca Diếp cho ngủ trong đền dành riêng để chứa những khí cụ bái hỏa, trong đó có một con độc long rất dữ. Ca Diếp có ác ý muốn cho độc long hại Phật. Chính Phật cũng biết thâm ý ấy. Nhưng bằng những huyền năng siêu nhiên, Phật hàng phục độc long một cách dễ dàng, khiến Ca Diếp và nhóm đệ tử trở lại khiếp phục. Hôm sau tại đền Bái Hỏa có lễ lớn, đông đảo dân cư quanh vùng quy tụ về xem Ca Diếp thi thố thần thông. Ca Diếp có lòng đố kỵ, không muốn Phật hiện diện trong buổi lễ ấy, định kiếm cách mời Phật ra khỏi đền để Ca Diếp khỏi áy náy. Phật biết ý tránh mặt. Nhưng sau khi tan lễ, Ca Diếp vô cùng kinh dị, thấy Phật còn y nguyên ở chổ cũ trong đền. Kết quả của chuyến gặp gỡ kỳ thú này là Ca Diếp và năm trăm đệ tử đều vứt hết khí cụ bái hỏa xuống sông, dẹp đền thờ thần lửa và xin quy y theo Phật.

Hai em của Ưu Lâu Tần Loa Ca Diếp là Nan Đềø Ca Diếp (Nadi Kàsyapa) và Già Da Ca Diếp (Gayà Kàsyapa) cũng thờ thần lửa và hai người thống lãnh hai trăm năm mươi đồ chúng tu gần đấy, nghe tin anh mình quy y Phật, rất đổi ngạc nhiên, tìm đến can ngăn, nhưng sau khi nghe anh ca tụng Phật và chính tự mắt được nhìn thấy phong độ của Ngài, cũng bị nhiếp phục mà tình nguyện xin theo luôn. Do sự quy chánh của ba anh em Ca Diếp, đệ tử Phật tăng thêm được một ngàn người.

Nhân ba anh em Ca Diếp thờ thần lửa, Phật khai thị cho họ biết về tai họa của lửa. Ngài dạy họ rằng những cảm giác của chúng sanh bừng cháy đêm ngày như lửa đốt. Đó là lửa tham, sân, si, lửa ảo mộng, lửa sanh tử v.v.. Các thứ lửa ấy dấy khởi vốn có thủy tất phải có chung. Tiêu diệt các thứ lửa ấy khiến cái quá trình hữu thủy hữu chung của nó ngưng lại, thì sẽ đạt được tịch diệt và bất tử ở cõi an lạc tối cao.

2.-VUA TẦN BÀ SA LA QUY Y

Nhớ lời kết ước xưa, Phật dẫn đồ chúng đến gặp vua Tần Bà Sa La (Bimbisara) tại thành Vương Xá, nước Ma kiệt đà. Dọc đường ngài dừng lại ở núi Linh Thứu cách thành khoảng vài ba dậm, thiết lập đ?o tràng tại đấy xong rồi mới tiến vào thành sau.Dân trong thành, khi nghe tin đồn ba anh em Ca Diếp đầu Phật, đã vô cùng kinh ngạc, nay lại nghe Phật quang lâm đến Vương Xá có ba anh em ấy theo hầu, không ai bảo ai, tất cả đều thiết lập hương án chưng hoa xông trầm, quỳ mọp hai bên vệ đường đợi Phật và chúng đệ tử đi qua để chiêm bái. Riêng vua Tần Bà Sa La thì cho sứ giả đến tận núi Linh Thứu nghênh đón. Đích thân nhà vua ra tận ngoài thành đảnh lễ. Thoạt nhìn thấy Phật với diện mạo uy nghi rực rỡ bội phần hơn xưa, nhà vua biết rằng Phật đã chứng quả đích thực rồi.

Đáp lời nhà vua hỏi: "Nếu không có ngã thì ai thọ quả báo", tại vương cung Phật dạy rằng:

- Ngã này chỉ là một ảo tưởng của chúng sanh. Quả báo mà chúng sanh thọ lãnh cũng là ảo tưởng nốt. Ảo tưởng nọ dấy khởi ảo tưởng kia. Phá được ảo tưởng ngã thì đồng thời phá luôn được ảo tưởng quả báo mà giải thoát.

Nếu bảo rằng nhất định phải có ngã để thọ quả báo thì hà tất phải tu khổ hạnh? Nếu bảo rằng nhất định không có gì hết thì cầu giải thoát làm gì? Trên thế gian này, thật không có sở tác của ngã. Cũng không có ngã làm chủ tể. Chỉ có tự nghiệp lưu chuyển mà thôi.

Vì nghiệp nên hình như có ngã. Hết thảy phiền não tham, sân, si đều bắt gốc từ cái giả ngã ấy. Hiện tượng giống như đá chọi đá. Đá chọi đá có khi phát tia lửa, có khi không phát . Khi đá không chọi đá, thì không thể nói rằng đá là lửa. Sự kiện đó, trải qua những năm tu hành, ta đã thấu rõ. Nhờ đó mà ly khai được ảo tưởng ngã (tức ngã chấp). Nhưng ly khai ngã chấp không phải việc dễ. Hễ chưa ly khai được ngã chấp thì còn đầy rẫy mê lầm, ngu si, điên đảo.

Muốn phá trừ ảo tưởng ngã (tức ngã chấp), phải quên nó đi và thay vào đó, tạm lấy chung sanh làm ngã. Tiếp theo, lại phải quên luôn chúng sanh mà đi vào lãnh vực của tâm bất động. Đem tâm bất đ?ng ấy thể nhập vũ trụ, hoà đồng với vũ trụ trong một bản thể chung cùng rộng lớn; đó mới chính là thật ngã, mà cũng tức là Niết bàn bất sanh bất diệt vậy. Thật ngã ấy hay Niết bàn chính là thật tướng bản lai của vũ trụ. Trong thật tướng bản lai ấy, đâu còn sanh tử nữa.

Nghe Phật dạy xong về vô ngã và thật ngã, vua Tần Bà Sa La và tất cả thính chúng đều phát nguyện quy y.

Để đền đáp ơn Phật, nhà vua cho xây cất tại vườn trúc Ca Lan Đà ở cạnh thủ đô Vương Xá, một ngôi tịnh thất lấy tên là Trúc lâm tịnh xá, gồm mười sáu ngôi nhà, mỗi ngôi gồm sáu chục phòng, năm trăm lầu gác, bảy mươi hai giảng đường. Cất xong, nhà vua mời Phật và chúng tăng về thường trú tại đó.

Sau khi Phật tiếp nhận Tịnh xá Trúc lâm, tiếng đồn vang khắp đó đây. Bấy giờ có hai đạo sĩ cự phách thuộc môn phái San Xa Dạ (Sanyaya, một trong số sáu phái Luận sư ngoại đạo), là Ưu Ba Thất Sa (Upatisya) tức Xá Lợi Phất (Sariputra) và Câu Luật Đà, cũng gọi là Câu Ly Ca (Kolita) tức Mục Kiền Liên (Maudgalyayana hay Maudgalaputra), mỗi người lãnh đạo khoảng một trăm đồ chúng, do môi giới của A Xả Bà Thệ, đem tất cả đồ chúng đến xin đầu Phật.

Hai vị này về sau đều là cao đệ của Phật, thuộc nhóm Thập Thánh chúng. Xá Lợi Phật là Trí tuệ đệ nhất, Mục Kiền Liên là Thần thông đệ nhất.

Xá Lợi Phất có người cậu ruột gọi là Trường Trảo phạn chí (đạo sĩ Bà la môn để móng tay dài), nghe tin cháu mình đã theo Phật, kinh ngạc bèn tìm đến xem sự tình ra sao, bị khiếp phục rồi cũng xin quy y làm đệ tử. Đó là Ma Ha Câu Hy La, cũng gọi là Câu Sắc Chỉ La (Maha Kausthila) mà đoạn mở đầu các kinh thường nhắc đến.

Một hôm, Phật nhuốm bệnh, vua Tần Bà Sa La phái ngự y tên là Kỳ Bà đến chăm sóc điều trị. Nhân thấy Phật đắp tấm y quá cũ, Kỳ Bà đem phép vệ sinh ra thuyết giải và dâng Phật một tấm y mới do một quốc vương láng giềng trao tặng để tạ ơn ông đã có công trị liệu cho chính quốc vương ấy, nhưng Kỳ Bà tiếc không mặc, cất giữ đã lâu ngày. Phật lãnh thọ. Từ đó, nhân dân thành Vương Xá noi gương, đua nhau dâng cúng y cho chư tăng. Và cũng do đó, lần đầu tiên, Phật chế pháp phục cho tăng đoàn.

Phong trào dâng cúng lan tràn. Tiếng đồn tới tai một vị đại phú hào, giàu địch quốc tên là Ma Ha Ca Diếp (Maha Kàsyapa) người ở thôn Sa lan đà, không xa thành Vương Xá lắm. Ông này là một nhân vật cự phách thuộc dòng Bà la môn, học rộng tài cao, thông minh quán chúng, nghe tin đồn đãi, ông tìm đến Vương Xá xin yết kiến Phật. Cảm phục đức độ tài năng cửa Phật, sau mấy lần tiếp xúc, ông dẹp bỏ việc nhà, xin Phật thâu nạp làm đệ tử. Về sau, ông trở thành vị Đầu đà đệ nhất, thuộc nhóm Thập Thánh chúng. Ông còn là người thừa kế Phật thống lãnh tăng đoàn sau khi Phật nhập diệt. (Nên biết rằng, bấy giờ Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên đều đã thị tịch rồi).

Sau khi nhiếp phục được Ma Ha Ca Diếp, tiếng tăm Phật thật là lẫy lừng rực rỡ. Trí thức trong toàn cõi nước Ma kiệt đà đều đổ xô về xin thọ giáo. Cơ sở Phật giáo của nước Ma kiệt đà như vậy là đã thành tựu viên mãn. Tịnh xá Linh Thứu hoàn thành cũng chính lúc này.

Từ đây sắp sau, Phật giáo bành trướng sang nước Kiều Tát La (Kosala) [2] với thủ đô là Xá Vệ, do môi giới của cư sĩ Tu Đạt tức trưởng giả Cấp Cô Độc. Kiều Tát La là một trong hai trung tâm văn hóa sáng chói bậc nhất của toàn cõi Ấn Độ thời bấy giờ (trung tâm kia là Ma Kiệt Đà).

3.-TỊNH XÁ KỲ VIÊN VÀ CƯ SĨ TU ĐẠT

Lúc Phật ở tịnh xá Trúc lâm, một hôm có một đệ tử tại gia là trưởng giả Thủ La (Cùda) thiết trai mời Phật và chúng Tăng thọ cúng tại nhà. Trước đó một hôm, có trưởng giả Tu Đạt (Sudatta) biệt hiệu là Cấp Cô Độc (người thành Xá Vệ, nước Kiều Tát La, ở phía Tây Bắc Ma Kiệt Đà) đến dạm hỏi con gái Thủ La cho người con thứ bảy của ông. Trong khi hai bên đàm đạo, Tu Đạt rất ngạc nhiên thấy trong nhà rộn rịp treo đèn giăng hoa cực kỳ linh đình rực rỡ, kẻ đi người lại trang trọng tấp nập. Hỏi thì được biết toàn gia đang chuẩn bị cuộc tiếp rước Phật và chúng Tăng vào hôm sau. Thủ La còn cho Tu Đạt biết rất tận tường về tư cách, phong độ và trí tuệ siêu đẳng của Phật.

Ngay đêm hôm đó, Tu Đạt tìm đến gặp Phật tại Trúc lâm. Cuộc gặp gỡ tay đôi xảy ra dưới vầng trăng thanh, trong bầu không khí tịch mịch tuyệt đối yên lặng.

Phật giảng cho Tu Đạt nghe về pháp bố thí (chí tâm thí, tinh tấn thí, thời thí, tịch mịch thí, vô úy thí v.v...), về quan hệ nhân duyên, về sức chiêu cảm quả báo của nghiệp nhân.

Nghe xong,Tu Đạt đại hoan hỷ, đảnh lễ xin quy y làm đệ tử tại gia và thỉnh cầu Phật cùng chúng Tăng đến Xá Vệ (Sràvasti) hoằng truyền chánh pháp. Tu Đạt cũng phát nguyện xin vì Phật và chúng Tăng, kiến lập tại đấy một tịnh xá như Trúc lâm, để làm cơ sở hoằng hoá Phật giáo tại Kiều tát La.

Hôm sau, Tu Đạt vội vàng trở về Xá Vệ.

Bấy giờ, vua nước Kiều Tát La là Ba Tư Nặc (Prasenajit) có người con trưởng là thái tử Kỳ Đà (Jeta), có một khu vườn rất rộng ở sát ngay thủ đô Xá Vệ, phong cảnh kỳ tú an nhàn, trồng đầy kỳ hoa dị thảo, bốn mùa chim hót hoa cười. Tu Đạt đến thương lượng xin mua, Thái tử trong lòng không muốn bán, nhưng vì nể tình trưởng giả là người có địa vị, có danh phận trong nước, nên nói đùa rằng, ai muốn mua thì đem vàng đến lót khắp rừng. Nói đùa như thế, khôngngờ hôm sau Tu Đạt cho người chở vàng đến thật, Kỳ Đà rất đổi ngạc nhiên, không hiểu Phật là người thế nào mà khiến Tu Đạt hoang phí cả gia tài của ông như thế. Sau khi nghe Tu Đạt tỏ rõ hết nguồn cơn, Kỳ Đà bèn giao ước lại, là chỉ bán đất mà không bán cây. Số cây trong rừng, Kỳ Đà xin lưu lại để tự mình cúng riêng Phật.

Mua xong khu rừng, Tu Đạt lại trở qua Vương Xá báo cáo tự sự với Phật và thỉnh thị ý kiến Phật về kiểu mẫu tịnh xá mới. Phật dạy từ nay đổi tên khu rừng ấy là Kỳ Thọ Cấp Cô Độc Viên (vườn của Cấp Cô Độc, cây của Kỳ Đà) và phái trưởng lão Xá Lợi Phất cùng đi theo Tu Đạt qua Xá Vệ trong nom việc xây cất.

Tịnh xá Kỳ Viên này, sau khi hoàn thành, so với tịnh xá Trúc lâm, còn huy hoàng và trang nghiêm hơn bội phần. Phòng ở, phòng ngủ kể đến mấy trăm; ngoài ra lại còn có lễ đường, giảng đường, tụ hội đường, nhà dưỡng bệnh, nhà tắm, nhà đọc sách .v... Nhà cao sân rộng không thua gì trong vương cung của vua Ba Tư Nặc.

Trong thời gian đang xây cất, có ngoại đạo thấy thế ganh ghét, tìm đến gặp Xá Lợi Phất, nói giọng trịch thượng và đòi tranh biện. Trí tuệ và tài hùng biện của Xá Lợi Phất đã khiến cả trăm luận sư ngoại đạo chịu thua. Chính ngài Xá Lợi Phất đã đưa số ngoại đạo ấy về với Phật, trước khi Phật chưa đích thân đến giáo hóa. Vì vậy, khi kiến thiết xong tịnh xá này, ngày Phật và chúng Tăng tiến vào Xá Vệ, nhân dân trong thành tấp nập đón rước linh đình.

Từ đấy, Phật giáo bành trướng ở trung tâm văn hóa thứ hai của Ấn Độ: Kiều Tát La.

4.- VUA BA TƯ NẶC QUY Y

Việc làm kỳ đặc của Tu Đạt và sự hưởng ứng nồng nhiệt của nhân dân Xá Vệ đồn đến tai vua Ba Tư Nặc (Prasenajit). Một hôm, vua dẫn bá quan đến yết kiến Phật tại Kỳ Viên.

Vua hỏi: "Tôi được nghe nhiều kẻ tu hành xưa nay, thường phải trải qua nhiều năm khổ hạnh trong rừng núi thâm u, mãi cho đến khi tóc bạc răng rụng mà có rất nhiều người vẫn chưa chứng đạo quả. Ông nay tuổi mới trên dưới bốn mươi mà đã chứng quả rồi sao?".

Đáp: "Tâu Đại vương! rất nhiều người xua nay có thói quen miệt thị tuổi trẻ. Đại vương nên biết rằng trên thế gian này có bốn điều không thể khinh thị được. Một là vương tử hài nhi; hai là rồng con mới đẻ; ba là tàn lửa cỏn con (tinh linh chi hỏa); bốn là tu sĩ thiếu niên. Vì sao vậy? Vương tử tuy nay là hài nhi, nhưng mai sau khôn lớn sẽ là đại vương thống trị cả một quốc gia. Rồng con mới đẻ tuy nay không ra gì, nhưng về sau quyết sẽ thành rồng lớn. Tàn lửa cỏn con tuy nhỏ, nhưng gặp gió có thể thiêu rụi cả lâu đài thành quách và rừng lớn cây cao. Tu sĩ mới xuất gia nay tuy còn non dại, nếu tinh tấn tu hành, mai sau chắc chắn sẽ đạt đến quả vị vô thượng chánh giác. Đại vương tàng ẩn trong vương tử hài nhi. Rồng lớn tàng ẩn trong rồng con mới đẻ. Lửa lớn tàng ẩn trong tàn lửa cỏn con. Chánh giác tàng ẩn trong chú tiểu non dại.

Vua Ba Tư Nặc vốn là người cống cao ngã mạn, nhưng sau khi nghe xong, tâm thần liền rúng động. Nhân đó Phật giảng đạo lý giải thoát cho nghe, vua bèn phát tâm quy y và trở thành một trong những đệ tử hộ pháp đắc lực và trung thành của Phật.

PHẬT TRỞ VỀ CA TỲ LA

Thành Xá Vệ không cách thành Ca Tỳ La bao xa. Nhìn trên bản đồ thì Ca Tỳ La ở về đông bắc Xá Vệ, cách Xá Vệ khoảng hơn một kinh tuyến, nghĩa là phỏng chừng trăm cây số. Vì hai thành gần nhau nên tin tức qua lại không khó lắm.

Một hôm, vua Ba Tư Nặc cho sứ giả đến yết kiến Tịnh Phạn Vương, hết lòng ca ngợi công đức của Phật. Sau ngót mười mấy năm xa cách, Tịnh Phạn Vương cũng đang nóng lòng muốn gặp lại con, bèn sai đại thần là Ưu Đà Di sang Xá Vệ đáp lễ vua Ba Tư Nặc, và nhân tiện dò thăm ý kiến Phật có muốn trở về thăm quê không. Phật cho biết sẽ về một ngày nào đó xét ra thuận tiện. Tịnh Phạn Vương chuẩn bị đón tiếp. Nhưng không ngờ khi Phật về, Phật chẳng chịu báo tin trước. Thình lình một buổi sáng nọ, khắp thành Ca Tỳ La xuất hiện vô số cà sa vàng rực, bước từng bước chậm rãi, chia thành từng đoàn vào khất thực từng nhà bất kể quý tiện.

Tịnh Phạn Vương nghe tin, lấy làm kinh hoàng. Điều mà lâu nay ông chờ đợi là được thấy con vinh quy võng trước lọng sau, dè đâu lại đi mang bình bát xin ăn khắp xóm, ngay cả ở những nhà ty tiện Thủ đà la.

Nhà vua cấp tốc xa giá đến yêu cầu Phật mau mau lên xe nhập cung, Phật từ chối:

- Tâu Phụ vương, bần đạo nay không còn là thái tử Tất Đạt Đa nữa. Xin phụ vương chiếu theo nề nếp tổ truyền của bần đạo mà xưng hô cho phải lẽ.

- Tổ tiên nhà ngươi à! Tổ tiên nhà ngươi làm vua ở trong cung cấm. Tổ tiên nhà ngươi đâu có đi lang thang khất thực ở đầu đường cuối ngõ như vậy.

- Tâu Phụ vương, khi nói đến tổ tiên là bần đạo muốn nói đến chư Phật, tổ tiên của người xuất gia; nay vì bần đạo đã chứng Phật quả và đang thừa kế pháp thống chư Phật.

Tịnh Phạn Vương ngao ngán, không hiểu sau mười lăm năm xa cách, giờ đây con mình đang nghĩ gì.

Phật tiếp: "Phụ vương đã cho bần đạo một cái thể xác. Điều đó bần đạo không chối cải. Bần đạo cũng không chối cải rằng buổi thơ ấu và ngay cả đến ngày nay, bần đạo được phụ vương thương yêu tột mức. Ân đức cao dày ấy, bần đạo những mong có ngày đền đáp xứng đáng. Theo bần đạo nghĩ, đền đáp như thường tình thế gian dù trọng hậu đến đâu, cũng chỉ là lấy vô thường nọ đáp ứng vô thường kia. Vàng bạc châu báu có tụ thì có tán. Quyền cao chức trọng một ngày nào đó rồi cũng tiêu ma. Bần đạo chỉ muốn dùng của báu cam lồ thù thắng hy hữu để báo đáp công ơn sanh thành dưỡng dục của phụ vương, khiến phụ vương trở thành bất tử.

Tâu phụ vương! trên thế gian này, mọi người đều vì tranh sống mà tự giết mình. Họ tự giết bằng cách gây nên nguyên nhân luân hồi trong ba cõi sáu đường, với kết quả tất nhiên là phải đem đến những khổ đau. Gốc khổ đau bắt rễ từ Ái và Dục. Trừ khử gốc Ái dục vị kỷ đó đi, thì thanh tịnh hóa được ba nghiệp thân, khẩu, ý, tích tụ được mười nghiệp lành, khiến niệm niệm thuần thiện tiếp nối nhau ngày đêm không xen hở. Nhờ đó, lục trần mới không nhiểu động tâm tư, vô minh mới không mê hoặc lý trí, và tự do giải thoát thật sự mới thực hiện được. Đó là lợi ích lớn lao nhất.

Tâu phụ vương! cảnh giới tự do giải thoát là cảnh giới vô ngã. Cảnh giới vô ngã ấy chắc chắn không còn niệm ái dục của ba cõi. Ba cõi giống như nhà lửa. Lại cũng giống như biển sâu không đáy. Đâu có gì là vui sướng? Ra khỏi ba cỏi, một cảnh giới khác hiện ra, bấy giờ tâm chúng sanh quang minh chiếu diệu như ánh sáng mặt trời mặt trăng soi khắp vũ trụ không giây phút nào ngừng nghĩ. Đó là niềm hoan lạc chân chánh và thường tại. Đó là Niết bàn vĩnh cửu mà người con hiếu này muốn đền đáp công ơn phụ vương".

Nghe Phật nói và nhất là nhìn gương mặt vừa điềm đạm từ hòa vừa lộng lẫy sáng ngời của Phật, Tịnh Phạn Vương cảm thấy con mình hẳn đã thật sự chứng một cái gì đó cao siêu xa vời lắm, khác với Tất Đạt Đa xưa kia, nên tự nhiên lửa lòng cũng dìu dịu lắng xuống mà trở nên thoải mái nhẹ nhàng, mặc dù lòng chưa hẳn tin.

Sau cuộc gặp gỡ kỳ đặc này, Phật cùng Tịnh Phạn Vương dắt tay nhau tiến về vương cung. Theo sau là chúng tăng đội ngũ chỉnh tề, tiếp theo nữa là bá quan văn võ.

Tại vương cung, sau phút tái ngộ mừng mừng tủi tủi giữa cha con, chồng vợ, anh em, quyến thuộc, Phật tiến lên pháp tòa nói cho cả nhà biết lý do ngài xuất gia và đem giáo pháp truyền giảng cho cả vương tộc và bá quan cùng nghe.

Ma Ha Ba Xà Ba Đề, Da Du Đà La, La Hầu La và ngay cả Tịnh Phạn Vương, sau khi lãnh hội đều hoan hỷ tán thán. Trong lúc cả gia đình đang hoan lạc đến tột bực đó, Tịnh Phạn Vương đứng dậy bạch Phật: "Nay phụ vương đã rõ mục đích của Phật. Mục đích ấy là cứu khổ ban vui. Vậy vì mục đích cao cả ấy và nhớ lại nỗi đau khổ của chính bản thân suốt mười lăm năm qua, thỉnh cầu Phật từ rày về sau đừng chấp thuận cho bất cứ một ai xin xuất gia mà không được cha me cho phép trước".

Phật cười và chấp nhận lời thỉnh cầu ấy.

1.- CÁC VƯƠNG TỬ VÀ ƯU BÀ LY XUẤT GIA

Sau khi được Phật giáo hóa, các vương đệ, con của Bạch Phạn Vương là Đề Bà Đạt Đa (Devadatta) và An Nan (Annanda); con của Cam Lộ Vương Phi là A Na Luật (Anirudha); con của Học Phạn Vương là Bà Sa (?) đều xin xuất gia. (Chú ý: Mahà NàMa tức Ma ha Nam, anh của A Na Luật, và Mahà Bhadrika tức Ma Ha Bạt Đề anh của Bà Sa đều đã xuất gia từ trước, trong nhóm Kiều trần Như). Hăng hái nhất trong số vương đệ là A Na Luật. A Na Luật cho gọi ngay người thợ cạo tên là Ưu Ba Ly (Upàli) vốn là nô lệ hầu hà Bạt Đề ngày trước, đến cạo đầu cho mình. Ưu Ba Ly thấy cảnh xuất gia vui vẽ của các vương tử thì khóc nức nở, tủi hổ cho thân phận mình, vì giai cấp mà ngay cả việc muốn thoát tục xuất gia cũng không được phép.

Nhân gặp Xá Lợi Phất, Ưu Ba Ly đem tâm sự trình bày, được Xá Lợi Phất chuyển trình lên Phật và Phật chấp thuận ngay. Đây là người nô lệ Thủ Đà La đầu tiên xuất gia. Vì Ưu Ba Ly lớn tuổi hơn Bạt Đề, và để thể hiện giáo pháp bình đẳng của mình. Phật muốn Bạt Đề phải đảnh lễ Ưu Ba Ly. Cách đối xử này khiến Ưu Ba Ly vô cùng xúc động và dõng mãnh tinh tấn tu hành, về sau được dự vào hàng Thập Thánh chúng, Trì giới đệ nhất. Trong đại hội kiết tập lần đầu dưới quyền chủ tọa của Ma Ha Ca Diếp, chính Ưu Ba Ly là vị chủ trì kiếp tập Luật tạng từ đó mà có bộ Bát Thập Tụng Luật căn bản đầu tiên.

Trong số các vương tử cùng xuất gia một lần với Ưu Ba Ly, về sau có hai người cũng được dự vào hàng Thập Thánh chúng là A Na Luật, Thiên nhãn đệ nhất và A Nan, Đa văn đệ nhất.

Ở trong vương cung chỉ mấy hôm, sau đó Phật dẫn đệ tử ra ngoài thành, trú đóng tại rừng Ni Câu Đà (Niagirdha), Phật thấy Tịnh Phạn Vương càng ngày càng già yếu mà các lân quốc bốn phía đều là những nước lớn có ý dòm ngó Ca Tỳ La, trong khi ấy La Hầu La (Rahula) còn non dại, và vương đệ Nan Đà (Nanda) lại chỉ say mê tửu sắc, suốt ngày mãi mê quấn quýt bên cô vợ đa tình là Tôn Đà Lỵ (Sundari). Bất nhất nếu phụ vương trăm tuổi, vận mệnh dân chúng Ca Tỳ La thật như trứng để đầu đẳng. Nghĩ đến tương lai đen tối ấy, Phật bèn phương tiện bày kế dỗ La Hầu La và Nan Đà tạm thời xuất gia ít lâu để rèn luyện đức tánh trước khi kế vị cha ông.

Trước tiên, Phật cho gọi La Hầu La đến rừng Ni Câu Đà, bảo Xá Lợi Phất làm lễ thế phát cho La Hầu La thọ giới sa di. Đây là vị sa di đầu tiên, vì hoàn cảnh nên Phật phương tiện chế ra giới pháp cho nhập chúng. Nhưng nhờ túc duyên, về sau La Hầu La quyết chí tu hành và được dự vào hàng Thập Thánh chúng, Mật hạnh đệ nhất.

Sau khi La Hầu La xuất gia, một hôm Phật mang bình bát đến khất thực trước cổng nhà của Nan Đà, dụ Nan Đà vào rừng Ni Câu La, đem những lạc thú cỏi trời nói cho Nan Đà nghe, khiến Nan Đà say mê, đành hy sinh người đẹp trần gian là Tôn Đà Lỵ để mong về sau được hưởng lạc thú thiên giới với vô số tiên nữ đẹp hơn ở cõi trời. Sơ phát tâm của Nan Đà vốn chỉ nhằm mỗi mục đích ấy. Nhưng nhờ Phật khéo giáo hóa, về sau Nan Đà nhất quyết tu luôn và cũng chứng quả A la hán. Vì vậy mà vương vị Ca Tỳ La kế tiếp Tịnh Phạn Vương đáng lý phải về tay, hoăïc của Nan Đà hoặc của La Hầu La, thì về sau thuộc về Ma Ha Nam tức là Ma Nam Câu Ly, một trong năm đệ tử đầu