Trang tiếng Việt

 Trang Nhà Quảng Đức

Trang tiếng Anh

DANH NHÂN PHẬT GIÁO VIỆT NAM


 

 

 

 

 

GƯƠNG SÁNG NGƯỜI XƯA

Biên soạn: Thích Huyền Vi

 

 

 

LỜI MỞ ĐẦU

Để ghi lại những công –tác Hoằng-pháp và Giáo-dục trong niên-khóa vừa qua, chúng tôi đã thuyết-pháp và giảng-giải các lớp ở Ấn-Quang cho hàng Phật-Tử tại gia, cũng như tại Viện Đại Học Vạn-Hạnh cho sinh-viên Phật-khoa năm thứ IV (73-74) về môn các tác phẩm Trung-Hoa. Và cũng thể theo lời yêu cầu của đa-số Phật-tử muốn có tài-liệu để học-tập và nghiên-cứu, nên chúng tôi gom góp các bài đã biên-soạn, đúc kết thành một tập sách với nhan đề: “GƯƠNG SÁNG NGƯỜI XƯA”.

Tập sách này gồm có bốn phần chính yếu:

-Phần thứ nhứt nói về gương sáng Đức Phật, Ngài đã trọn đời hy-sinh cho công cuộc cứu khổ nhân-loại. Phần nầy soạn theo tài-liệu Phạn-ngữ để giảng dạy cho Phật-tử Thủ-đô, đầu năm 1973.

-Phần thứ hai luận về gương sáng Tối-Thượng-Thừa do Hoằng-Nhẫn Tổ-sư cho ghi chép lại. Đây là gương chứng ngộ của đệ ngũ tổ, tuy bản văn hơi ngắn, nhưng đầy đủ huyền-nghĩa Đại thừa của Cổ-Đức về cách tìm lại chân tâm. Tập luận nầy giảng dạy cho sinh viên Phật-khoa năm thứ IV tại viện Đại-học Vạn-Hạnh.

-Phần thứ ba là bản văn gương sáng người xưa của Tổ-sư Tĩnh-Am, trong lúc Ngài ở chùa Phạm-Thiên, thuộc đất Cổ-Hàn. Ngài giảng dạy cho hàng thất chúng đệ-tử rất là thành khẩn và thống thiết. Bản văn này, chúng tôi đã giảng tại Ấn-Quang, sau khi từ Phật-quốc trở về. Noi theo gương sáng của Tổ Tĩnh-Am khuyên nhắc Phật-tử “phát tâm-bồ-đề, cầu đạo Vô-thượng chánh chân”.

-Phần thứ tư nói về gương sáng chư tổ Việt Nam: Đinh, Lê, Lý Trần và Hậu Lê, mỗi triều-đại đều có ghi lại một vị để làm gương-mẫu. Các bài này, chúng tôi giảng dạy cho các học-viên dự khóa thứ năm về lớp Lược-sử Phật –giáo Việt Nam thuộc cấp giáo-sử căn-bản.

Đức Thích-Tôn đã giảng trong kinh Pháp-cú như sau:

“Suppabuddham pabujjhanti sadà Gota-masàvakà,

Yesam divà ca ratto ca niccam Buddha-gatà sati.

Suppabuddham pabujjhanti sadà Gota-masàvakà,

Yesam diva ca ratto ca niccam Dham-ma-gatà sati.

Suppabuddham pabujjhanti sadà Gota-masàvakà,

Yesam diva ca ratto ca niccam Sangha-gatà sati”.

Người thường tự tỉnh giác là đệ tử của Đức Phật, ngày đêm phải suy nghĩ, một lòng tưởng kính Phật (noi gương chư Phật). Người hiểu biết khôn khéo là đệ tử Đức Phật, ngày đêm phải tìm hiểu, hết lòng tưởng niệm Chánh-pháp (noi theo Chánh-pháp). Người thường suy nghĩ cao xa là đệ tử Đức Phật, ngày đêm phải lo lường, nhất tâm nhớ nghĩ chân sư (noi gương Tổ-sư).

Những lời dạy cao thượng, những ý hướng siêu-việt và những hành động chân-chánh của chư Phật, tổ còn lưu lại, chúng ta cần phải noi theo để “tự hành, hóa tha” thì đời sống của chúng ta mới có ý nghĩa.

Tập sách nhỏ nầy chỉ là những bài thuyết trình giảng dạy được gom góp lại, nên không có sự liên tục từ phần nầy sang phần khác. Và cũng vì nhu cầu cấp bách của Phật-tử, nên không sao tránh khỏi những lỗi lầm đáng tiếc. Chúng tôi hy-vọng các bậc cao-minh và quí vị thiện-hữu tri-thức nhận thấy điểm nào sai lầm, xin hoan-hỷ cho biết, tôn ý, để kỳ tái-bản chúng tôi sẽ tu chỉnh lại cho được hoàn-bị hơn.

ẤN QUANG,ngày 15 tháng 8 năm Giáp-dần.

Điều-Ngự-Tử THÍCH HUYỀN-VI

 

01. GƯƠNG SÁNG ĐỨC PHẬT

 

Mừng thay chư Phật ra đời!

Mừng thay chánh pháp khắp nơi hoằng truyền!

Vui thay tăng chúng tịnh,thiền!

Vui thay thiện tín thắng duyên tu trì!

                                                H.V.

Muốn tìm hiểu và nghiên cứu bất cứ một tôn-giáo nào, trước hết chúng ta cần phải nhìn vào Giáo-pháp của Tôn-giáo ấy đối với xã-hội và nhân sinh thế nào. Tôn giáo ấy có đủ phương pháp đưa nhân sinh đến chỗ giải thoát an vui thật sự không? Đời sống của vị Giáo chủ ấy thế nào? Có đủ nhân cách, trí tuệ, tài năng để cho chúng ta sùng bái kính trọng không? Có hoàn toàn Chân,Thiện, Mỹ để soi đường cho chúng ta học tập và thực hành không? Đây là những điều kiện nhận thức đầu tiên của những ai muốn tin theo Tôn giáo mình đã, đang hay sẽ thực hành theo cho đúng đường lối.

Một trong những Tôn giáo lớn nhứt thế giới là Phật Giáo. Hiện nay Giáo Pháp của Phật đà đã truyền rộng khắp cả năm châu, bốn biển. Lẽ dĩ nhiên đời sống vị Giáo chủ của đạo này, mọi người đều muốn biết rõ ràng và thích tìm hiểu xác thật.

Sau đây, chúng tôi xin lược thuật đời sống của Ngài từ khi giáng sanh, xuất gia, thành đạo, rồi truyền bá Giáo pháp cho đến lúc nhập Niết Bàn.

Giáo chủ của Đạo Phật là Đức Thích Ca Mâu Ni (Sàkyamuni) hoặc gọi là Cù-Đàm (Gautama),hoặc xưng là Tất Đạt Đa (Siddhàrtha). Mỗi danh từ trên đều có ý nghĩa đặc biệt riêng. Thích Ca là họ của Ngài, Tất Đạt Đa là tên của Ngài khi còn là Thái Tử. Các danh từ Mâu Ni, Phật Đà, Thế Tôn là do người đời tôn xưng, sùng kính, sau khi Ngài thành đạo, chứng quả. Cù Đàm là tên của hoàng tộc đặc ra, có nghĩa là “Võ môn thế hệ”.Sát đế lợi (Ksatriya) cũng thuộc về chủng tộc này. Chủng tộc Sát đế lợi trước kia từ Trung Á Tế Á, dần dần di chuyển về Tây bộ Ấn Độ, về sau lan khắp lưu vực sông Hằng (Gangà).

Thỉ tổ của giòng họ Thích gồm 33 đời truyền thống. Đời vua cuối cùng tên Thiện Tư (Vessantara). Từ vua Thiện Tư về sau mười đời thừa kế thịnh đạt. Đời vua thứ mười tên là Ma-di (Màtrkà). Từ vua Ma-Di về sau cùng một chủng tộc nối nhau, vua tên là Đại-thiện-Sanh (Mahàsujàto). Đây là thỉ tổ bảy đời của Đức Thích-Ca Mâu-Ni kế vua Thiện-Sanh là Sư-Ma-Úy (Sìmhanàda), Ưu-đà-La (Uttarà),Cù-đà-La (Godàna),Sư-tử-Giáp (Sìmhàsannaha). Vua Sư-từ-Giáp sanh được bốn vị hoàng-tử.Vị lớn nhứt là vua Tịnh-Phạn (Suddhodana), tức là phụ-hoàng của thái-tử Tất-đạt-Đa (Siddhàrtha) và Nan-Đà (Nanda), người thứ hai là vua Bạch-Phạn (Svetodana), tức là thân phụ của Đề-bà Đạt-Đa (Devadatta) và A-Nan (Ànanda). Người thứ ba là vua Cam-lộ-Phạn (Amrtodana), tức là hoàng-thân của thái-tử Ma-ha-Nam (Mahànàma) và A-na-luật-Đà (Anuruddha), người thứ tư là vua Hộc-Phạn (Dronodana) tức là thân phụ của Bà-ta (Vatsa) và Bạt-Đề (Bhadrika).

Hoàng -hậu, vợ vua Tịnh-Phạn là bà Ma-Gia phu nhân (Mayà-Devi). Nhờ phước đức của tổ tiên lưu lại, hoàng-hậu hạ sanh được một hoàng tử tên là Tất-đạt-Đa.Bảy ngày sau khi sanh vị hoàng tử cao quí này, Hoàng-hậu Mayà đã rửa sạch nghiệp báo, trút được xác phàm và sanh về cung trời Đao-Lợi (Tusita). Hoàng-tử được bà Di Mẫu ma-Ha Ba-Xà-Ba-Đề (Mahàprajàpati) nuôi dưỡng vô cùng chu đáo. Đến tuổi trưởng thành, vua Tịnh-Phạn chọn công chúa Gia-Du Đà-La (Yasodharà) cho Ngài. Một thời gian sau, công chúa sanh được một người con trai tên là La-hầu-La (Ràhula).

Thái-tử Tất-đạt-Đa đản sanh vào rằm tháng tư âm lịch, tức là ngày trăng tròn tháng năm (Vaisàkha) bên Ấn -Độ, cách đây 2598 năm,nhưng chúng ta tính theo ngày nhập Niết-Bàn (Parinirvàna) thì cách nay 2518 năm.

Nơi đản-sanh của Ngài là miền Bắc Ấn-Độ, thuộc địa phận nước Nepal ngày nay, một nước có nhiều phong cảnh tuyệt đẹp, ở ven sườn núi Hy-mã-lạp-sơn (Himalaya), một dãy núi cao nhứt thế giới.

Một hôm Hoàng hậu Mayà từ Ca-tỳ-la-Vệ (Kapilavastu), đến thành Câu-Lợi (Koliyan), quê quán song thân của bà. Đi được nửa đường, thấy vườn Lâm-tì-Ni (Lumbini), hoa cỏ xinh tươi, hoàng hậu bảo đoàn tùy tùng ghé vào cho bà ngoạn cảnh. Bỗng Thấy cành hoa Vô-Ưu (Asoka) mới nở, thơm ngát, bà đưa tay phải vói hái, thì Thái-tử cũng vừa xuất hiện nơi ấy.

Trên hư không, hoa Mạn đà La (Mahàmandàla) tung rải khắp nơi, hào quang chiếu sáng cả mười phương. Ngay lúc ấy có chín con rồng phun nước trong bồn vàng để tắm gội cho Thái tử. Ngài đi trên bảy hoa sen, tung hoành bốn hướng, từ kim khẩu của Ngài thốt ra câu : “Thiên thượng thiên hạ duy ngã độc tôn” (Aggo hamasmi setthohamasmi jetthohamasmi). Câu nói ấy báo hiệu đời sống huy hoàng, cao đẹp của Thái tử sau này.

Tin lành được tung ra, ai nấy đều vô cùng hoan hỷ. Ngày đản sanh Thái tử, cảnh vật đều vui vẻ lạ thường, khí hậu trở nên mát mẻ, cây cỏ đều đơm hoa, kết trái, sông, hồ, ao, giếng, nước đều tràn đầy. Trong chốc lát, tin này truyền đến dân chúng hai bên bờ sông Hằng, khắp nước, rồi lan rộng cả thế giới. Mọi người đều ca ngợi và sùng bái tin này, vì họ tin tưởng đóa hoa Ưu đàm vừa mới xuất hiện, sẽ mang lại nhiều vinh quang cho nhân loại trong tương lai. Thái-tử-Tất-đạt-Đa là một Vương-tử tôn-quí, tiêu biểu dung nghi đỉnh đặc, chí khí cao nhân của bậc trượng phu. Ngài sẽ là bậc gương mẫu của dân chúng Ấn-độ và Nepal thời bấy giờ. Dân chúng tin tưởng Thái-tử sẽ là một vị lãnh đạo anh minh cho tương lai xứ sở.

Vui Tịnh Phạn vui mừng khôn xiết, Ngài cho mời các vị tiên tri đến để xem tướng cho Thái-tử. Đạo-sĩ A-Tư-Đà (Asita-rsị) cho biết: “ Thái-tử có đủ tam thập nhị tướng (Dvàtrimsad-varalaksana) và bát thập chưởng hảo (Asittyanuvyanjàni), là tướng của bậc anh-kiệt trên đời, nếu làm vua, Ngài sẽ là vị Chuyển-luân-thánh-vương, còn nếu xuất gia thì chắc chắn sẽ thành Phật”.

Thuở còn niên thiếu, Thái tử đã tỏ ra có nhiều thiên tài xuất chúng, trí huệ tuyệt luân, vì thế vua Tịnh Phạn thương mến, quí trọng hơn cả viên ngọc Ma ni báu đẹp. Năm lên tám, Thái tử bắt đầu nhập học, kiến thức của Ngài có thừa “ nhứt văn thiên ngộ”. Chưa bao lâu Ngài đã thông suốt bốn kinh Vệ-Đà (Veda), cùng các môn học về Ngũ Minh (Pancavidyà): Nội minh, công xảo minh, y phương minh, nhân minh và thanh minh. Từ văn chương cho đến võ nghệ, Thái tử học với thầy nào, chỉ trong ít hôm, vị ấy cũng phải xin cáo thối, vì không còn đủ sức để dạy Thái tử nữa. Cho đến ông thầy danh tiếng nhất thời bấy giờ, là Sằn-Đề-Đề-Bà (Visvàmitra) cũng đành chịu khuất phục.

Một hôm, trong nước có mở cuộc thi bắn dành cho Vương tôn, công tử. Các tay thiện xạ đều tập trung về để thi thố tài năng. Những người tài giỏi cũng chỉ bắn qua ba trống sắt, hoặc bốn trống sắt là nhiều, duy có Thái tử Tất Đạt Đa bắn thông bảy trống sắt. Các quan văn võ trong triều hoan hô nhiệt liệt, khán giả bốn phía reo mừng vang dậy cả xạ trường rộng lớn. Vua Tịnh Phạn hoan hỷ vô cùng, Ngài tin tưởng với tài trí tuyệt vời đó, Thái tử sẽ là người kế vị xứng đáng để giáo dân, trị nước.

Mặc dù thông minh xuất chúng, tài trí hơn người, nhưng Thái tử không bao giờ tỏ vẻ ngạo mạn, khinh người. Ngài luôn luôn có thái độ hòa nhã, vô tư, lòng thương người và thương vật của Ngài thật không ai sánh kịp.Vì thế lúc nào Ngài cũng được quan quân yêu quí, nhân dân kính thờ.

Chí hướng của Thái tử khác hẳn với người thường, Ngài không muốn hưởng sự an vui một mình, mà quyết tâm cứu độ chúng sanh, vượt qua biển khổ sanh tử. Năm 15 tuổi, Thái tử theo vua cha ra ngoại thành, dự lễ hạ điền hàng năm. Ngài nhìn thấy sự vất vả nhọc nhằn của các nông phu, và cảnh cầm thú ăn tươi, nuốt sống lẫn nhau, mạnh được yếu thua. Rồi Ngài liên tưởng đến đời sống xa hoa của hàng quí tộc, xây dựng bất hợp lý trên những thống khổ của dân lành. Ngài quán xét tất cả chúng sanh chỉ vì sự ăn mặc, mà tìm cách giết hại lẫn nhau, khôn lấn dạu, mạnh hiếp yếu, kẻ có thế lực đàn áp kẻ cô thế, thật không gì đau xót cho bằng! Ngồi dưới cội cây, Thái tử trầm tư mặc tưởng, tìm cách giải khổ cho muôn vạn sanh linh.

Thấy Thái tử lộ vẻ suy tư, biếng ăn ít nói, vua Tịnh Phạn lo lắng vô cùng. Ngài truyền lịnh xây dựng ba tòa lâu đài nguy nga, tráng lệ, để Thái tử thay đổi nơi ăn chốn ở cho hợp với thời tiết ba mùa và chọn hàng trăm cung phi mỹ nữ tài sắc, đàn hay múa giỏi để giúp cho Thái tử yêu đời. Thấy chừng ấy cũng chưa đủ, Đức vua còn ra lịnh thiết lễ quán đảng (Mùrdhàbhiskta) trao Ngọc ấn, ngôi vị cho Thái tử. Năm 17 tuổi, muốn an tâm chắc ý hơn, Đức vua làm lễ thành hôn cho Thái tử với công chúa con vua Thiện Giác (Suppabuddha) tên là Gia-du-đà-La, một thiếu nữ tài sắc, đức hạnh vẹn toàn.

Tuy sống trong cung vàng, điện ngọc, cung nữ đàn hát suốt ngày, nhưng Thái tử tự xem như bị giam hãm, không chút an vui. Một hôm, Ngài bảo người đánh xe ra bốn cửa thành dạo chơi. Ra cửa đông, Thái tử bỗng thấy một ông già, râu tóc bạc phơ, thân hình gầy yếu, run rẩy chống gậy, đi đứng rất khó khăn. Thái tử ngạc nhiên hỏi người đánh xe:

-Đó là người gì?

-Đó là một người già, thân thể ốm yếu, sức lực hao mòn, cảnh già nua không ai tránh khỏi.

Nghe nói như vậy, trong lòng không vui, Thái tử liền bảo quay xe qua cửa khác. Đến cửa nam, Thái tử thấy một người bịnh tật, nằm bên vệ đường rên la thảm thiết. Thấy vậy càng khổ tâm hơn, Thái tử truyền lịnh quay xe về hướng khác. Đến cửa tây, Thái tử thấy một xác chết, nằm ở đầu đường, ruồi lằng bu bám. Kinh hãi, Thái tử bảo đánh xe cấp tốc trở về hoàng cung.

Thái tử suy gẫm: giàu, nghèo, sang,hèn, không ai tránh khỏi cảnh khổ sanh,già, bịnh,chết, nếu không khéo ta cũng sẽ là nạn nhân của công lệ ấy mãi mãi.

Lần sau cùng, ra dạo chơi cửa phía bắc, Thái tử gặp một vị tu sĩ, tướng mạo đoan trang, mặc pháp y, mang bình bát, từ từ mà đi, thản nhiên như người vô sự. Tự nhiên thấy trong lòng phát sanh cảm mến, Thái tử vội vã đến gần, hỏi qua mục đích của sự tu hành, Tư sĩ đáp rằng:

-Tôi tu phạm hạnh, mục đích để cầu thành đạo quả, rồi tiết độ chúng sanh, thoát vòng lục đạo.

Thái tử nghe qua, chí xuất trần phát khởi , Ngài quyết định về xin phụ vương cho Ngài xuất gia (Pravrajjita) tầm đạo.

Mặc dù sống đầy đủ tiện nghi trong cung vàng điện ngọc, cạnh vợ đẹp hầu xinh, ngày đêm có trăm ngàn cung phi mỹ nữ đàn ca xướng hát, nhưng Thái tử không chút say đắm.Tâm trí Ngài lúc nào cũng suy nghĩ tìm phương pháp để cứu độ chúng sanh, thoát khỏi cảnh triền phược của đời ngũ trược (Pancakasàya):kiến trược, kiếp trược, phiền não trược, chúng sanh trược và mạn trược, để đưa mọi loài đến bờ giác ngộ.

Năm 19 tuổi, chí xuất trần quá mạnh, Thái tử quyết định ra đi, để giải thoát cho muôn loài chúng sanh. Một đêm khuya, thừa dịp quân lính canh gác và cung phi mỹ nữ ngủ say, sau một buổi dạ yến linh đình, Thái tử lén dậy, nhìn vợ con từ biệt lần cuối, rồi vội vã ra đi, Ngài đánh thức tên cận vệ Xa-Nặc (Channa), bảo thắng con ngựa Kiền-Trắc (Kanthaka) cho Ngài, rồi hai Thầy trò cùng nhau trốn ra khỏi thành. Đến Tuyết-Sơn, Thái tử bảo Xa-Nặc dắt ngựa trở về, còn Ngài đi vào khu rừng gần đấy, cạo bỏ râu tóc, trở thành một tu sĩ hiền đức. Nơi rừng sâu núi thẳm, Ngài tìm cầu chân lý với các Ngài A-Lam Ka-Lam (Àlàra Kàlàma), Uất-đầu-Lam (Gayasiya), theo tìm học với ông Aratakalama và các đạo sĩ khác.

Trải qua năm năm trường tầm đạo gian lao khổ sở, nay đây mai đó, học hỏi với các vị đạo sĩ danh tiếng,thăm hỏi các vị tiên nhân ở thâm sơn cùng cốc, rốt cuộc Ngài vẫn chưa tìm ra phương pháp giải thoát cho mình và cứu độ chúng sanh.

Lúc bấy giờ, Bồ -tát Tất-đạt-Đa mới đến Khổ hạnh lâm (Dongosirì), quyết chí tu khổ hạnh một mình, mỗi ngày chỉ ăn một ít mè, một ít bắp, thân hình càng ngày càng tiều tụy, chỉ còn da bọc xương. Ngài sống như thế ròng rã sáu năm trường, nhưng cũng không thấy ánh sáng giác ngộ đến với Ngài, Bồ-tát nhận thấy tu khổ hạnh chỉ là một lối ép xác, làm thân thể trở nên khờ khạo vô ích, nếu muốn tìm đạo cho có kết quả, cần phải bồi dưỡng thân thể cho được khỏe mạnh.Ngài chuyển biến tác phong, thọ lãnh bát sữa bột của nàng Su-già-Ta (Sujàtà) dâng cúng.

Sau khi thọ thực, sức khỏe của Ngài dần dần phục hồi, Ngài thấy mình có đầy đủ sức lực có thể chiến đấu cuối cùng với bóng tối si mê và dục vọng, để đem lại ánh sáng giác ngộ cho đời. Lúc bấy giờ Bồ tát giác ngộ cho đời. Lúc bấy giờ Bồ tát đến dưới cội cây Bồ đề, ngồi kiết già (Ujkutukàsana), vận dụng tất cả trí lực, bi lực và vô hạn tinh tấn lực để tu thiền định, Ngài phát đại nguyện:

-“Nếu không thành bậc Đại Giác Ngộ, thà chết không đứng dậy chổ ngồi này”.

Với chí hùng dũng cương quyết ấy, Ngài nhập Đại định (Mahàsamàdhi) 49 ngày, chiến đấu với bọn giặc phiền não ở nội tâm như: tham lam (Lobho), giận tức (Doso), si mê (Moho), ngạo mạn (Mãno) v.v cũng như bọn giặc thiên ma ngoại cảnh do Ma vương ba tuần làm đầu.

Sau khi quét sạch nội chướng cũng như ngoại chướng, Ngài hoát nhiên đại ngộ, thành bậc Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác (Anuttara Samyak sambodhi) thấu triệt mọi vấn đề vũ trụ nhân sanh, thành bậc Vô thượng trong nhân gian, hiệu là Thích-Ca-Mâu-Ni.

Đức Phật thân chứng bậc Chánh Giác, năm Ngài được 30 tuổi. Đại nguyện được thành, “ cầu thành Phật quả, trên đền đáp bốn ân sâu, dưới cứu vớt ba đường khổ”. Ngài quyết đem chân lý mà Ngài đã giác ngộ, tìm phương tiện truyền lại cho chúng sanh. Quyết định giảng nói lý nhiệm mầu của vũ trụ nhân sanh, Đức Phật trụ nơi hải ấn tam muội, nói Kinh Đại phương quảng Phật Hoa Nghiêm (Buddhàvatamsaka- Mahàvaipulya Sùtra), để khai thị nhân hoa “ Như lai tu chứng vạn hạnh”, trang nghiêm quả đức “ Nhứt thừa”. Nhưng vì giáo pháp quá cao siêu,hàng thính chúng trình độ thấp kém, không thể hiểu nổi, nên Đức Phật mới quyền nói giáo lý thấp hơn. Do lời thỉnh cầu của các Phạm thiên-Vương (Bragmanam), Ngài giảng nói 4 bộ A-Hàm (Catvàri Àgamas):

1-Kinh Trường A-Hàm (Dìrghàgamas)

2-Kinh Trung A-Hàm (Madhymàgamas)

3-Kinh Tăng nhứt A-Hàm (Ekottarikàgamas)

4-Kinh Tạp A-Hàm (Samyahatàgamas)

Đức Phật đến thành Ba-la-Nại (Vàrànasi) vào vườn Lộc-Giã (Sarnath) bắt đầu thuyết pháp Tứ diệu Đế (Catvàri àrayasatyàni), độ cho năm anh em ông Kiều-trần-Như trước kia đã cùng tu khổ hạnh với Ngài. Năm vị ấy là :A-Nhã Kiều-trần-Như (ajnàta-Kaundinya), Át-bệ (Asvajit), Thập lực Ca Diếp (Dasabala Kãsyapa), Ma-ha-Nam Câu-Lợi (Mahànàma-Kulika) và Bạt-Đề (Bhadrika).

Pháp Tứ đế cũng gọi là Tứ chân đế hay Tứ thánh đế , có nghĩa là chắc chắn hiện thật.Bốn pháp ấy là: Khổ, Tập, Diệt. Đạo.

Đức Thế Tôn (Lokajyestha) thương xót chúng sanh, muốn khai ngộ cho chúng sanh biết rõ nhân và quả khổ của pháp thế gian và nhân quả vui của pháp xuất thế gian.

Hai quả trước: Khổ-đế (Duhkhaàryasatya) và Tập đế (samudaya àryasatya) là quả và nhân của pháp thế gian.

Hai pháp sau: Diệt để (Nirodha àrayasatya) và Đạo-đế (Màrga àryasatya) là quả và nhân của pháp xuất thế gian.

Vì sao không nói Nhân trước mà lại nói Quả trước? Vì Đức Thế Tôn muốn cho chúng sanh nhận thấy quả khổ, rồi tìm nguyên nhân để đoạn trừ và cũng chỉ cho chúng sanh nhận thức được quả vui, rồi mới tìm nguyên nhân để tu tập.

Con người sanh ra ở cõi trần gian này, có thân thì phải khổ nào là sanh khổ (jàti duhkhah), già khổ (jarà duhkhah), bịnh khổ (Vyàdhi duhkhah), chết khổ (Mrtyu duhkhah), thù oán mà gần gũi là khổ (Apriyaith Samprayogo duhkhah) ân ái chia ly là khổ (Priyaith viprayogo duhkhah),muốn không được là khổ (Yam api iccham nà labhati tam api duhkhah), năm ấm hưng thạnh là khổ (Pancùpà-dànaskandha duhkhah). Tất cả những khổ báo ấy đều do tham, sân, si, mạn, nghi, tà kiến v.v ,mê lầm của chúng sanh, kết hợp lại thành, vì thế gọi nguyên nhân khổ là tập đế. Đã hiểu rõ nhân của khổ đế là tập Đức Thế Tôn mới chỉ dạy cho quả an vui là diệt đế, tức là cảnh tịch diệt Niết Bàn, an vui giải thoát đời đời. Chúng sanh muốn chứng được Niết bàn thì phải cố công tu nhân, tức là đạo đế . Trong kinh Phật dạy có 37 phẩm trợ đạo (Bodhi-pàksika-dharma), như là:

-Tứ niệm xứ (Smrtyupasthàna)

-Tứ chánh cần (Samyakaprahàna).

-Tứ như ý túc (Rddhipàda)

-Ngũ căn (Panca indriyàni).

-Ngũ lực (Panca balàni),

-Thất Bồ Đề phần (Sapta bodhyangàh)

-Bát Chánh đạo phần (Asta màrga).

Thực hành các đạo phẩm ấy, đến lúc nào thân tâm thanh tịnh hết phiền não tập nhân, diệt hết khổ quả, lúc bấy giờ chứng được quả thanh tịnh Niết-Bàn (Nibbhàna).

Đức Thế Tôn giảng nói pháp Tứ diệu Đế, năm anh em ông Kiều trần Như đều được khai ngộ, chứng quả A-la-Hán, trở tành năm vị đệ tử đầu tiên của Ngài. Kế đó đức Phật thuyết liên tiếp trong ba tháng độ ông Gia-xa (Yasà) và các bạn của ông đều làm lễ thế phát xuất gia. Một hôm, Phật đi giữa đường, gặp hai thương gia là ông Đế lê phú Bà (Tapassu) và Bạt lê Ca (Bhallika) Hai vị này thành tâm dâng phẩm vật cúng dường, sau   khi nhận lãnh, đức Phật thuyết cho một bài kệ:

Người nào thích cúng thí

Quyết được nhiều lợi ích

Nếu người ưa bố thí

Sau ắt đặng an vui.

Đức Phật giảng cho hai thương gia, độ cho ông Gia-Xá và các bạn của ông, cũng như đã độ cho năm vị Tỳ kheo (Bhiku). Đây là lần đâu tiên ngôi Tam bảo (Triratna) xuất hiện trong nhân gian: Đức Phật là Phật bảo, Tứ Đế là Pháp bảo, các vị Tỳ kheo là Tăng bảo.

Sau ba năm đắc đạo, đức Phật đến ngoại thành Vương Xá, hóa độ cho ba vị Hỏa giáo Bà-la-Môn: Ưu-lầu -tần-loa Ca-Diếp (Uruvilavà Kàsyapa), Già Gia Ca-Diếp (Gayà Kasyapa) và Na-Đề Ca-Diếp (Nadi Kàsyapa) và một ngàn môn đệ của ba vị này cũng đều xin qui y theo Phật.

Kế đó đức Phật vào trong nội thành độ vua Tần-Bà-Ta-La (Bimbisàra), vua truyền lịnh kiến lập Trúc lâm tịnh xá, và thỉnh Phật đến ở để giảng đạo, thuyết pháp. đức Phật chỉ giáo cho hàng Thượng túc đệ tử kiến lập đạo tràng, hướng dẫn tăng chúng kiết hạ an cư và hoằng dương chánh pháp. Lúc ấy Phật Giáo xương minh, dân chúng bốn phương tấp nập kéo về, để nghe pháp và làm lễ qui y thọ giới. Trong số đó có Ngài Xá-lợi-Phất (Sàriputra), Ngài Mục-kiền-Liên (Maudgalyàyana) và các môn đệ của hai Ngài tương kế qui đầu. Đặc biệt vua Tần Bà Ta La là vị quốc vương đầu tiên qui y với Phật và đây cũng là lúc Tăng đoàn truyền giáo đầu tiên của đạo Phật xuất hiện ở trần gian.

Đức Phật thành đạo đến năm thứ năm, nhân vụ Tỳ kheo Tư đề Na (Sidinna) ở thành Từ xá Ly (Vaisali), trần tình chưa dứt, nghiệp chướng còn mang, nên đức Phật mới chế ra giới luật: Tỳ kheo phải giữ 250 giới (Pràtimoksa), Sa-di phải giữ 10giới (Siksàpada), cư sĩ phải giữ 5 giới (Panca veramàni). Trải qua mấy năm trường mới hoàn thành các giới luật này.

Đức Phật đến thành Xá Vệ (Sarvàsti), kinh đô nước Kiều tất La (Kausala), thuộc quyền thống trị của vua Ba-tư-Nặc (Prasenajita). Ở thành này, có vị đại thần Tu Đạt Đa (Sudatta), giàu lòng bố thí cho kẻ bần cùng côi cút,nên được người đời gọi là Cấp Cô Độc Trưởng Giả (Anàthapindika). Vì ngưỡng mộ đức Phật, nên ông đem vàng ra mua vườn của Thái tử Kỳ Đà (Jeta), kiến lập Kỳ Viên tịnh xá, thỉnh đức Phật và chúng tăng về giảng đạo thuyết pháp, rộng độ quần sinh ở nước này. Ông kiến tạo dần dần được 72 đại giảng đường, hơn ba ngàn phòng xá, năm trăm lâu đài nguy nga, rộng lớn. Đức Phật thường trụ ở đây giảng kinh Bát Nhã Ba La Mật (Prjnà Pàramità Sùtra) và dạy kinh Phương Đẳng (Vaipulya Sùtra).

Đức Phật thành  đạo đến năm thứ sáu, Ngài trở về thành Ca Tỳ La Vệ thăm phụ hoàng Tịnh Phạn Vương. Thấy thân phụ buồn rầu trên giường bịnh, Phật thuyết về lý Vô -thường (Anitya) , khổ (duhkha),không (Sùnya) và Vô ngã (Anàtman) cho vua nghe. Nghe pháp xong, đức vua liền hết phiền não, gương mặt trở nên vui tươi, Ngài cất tiếng niệm Phật, rồi băng hà một cách êm ái, hưởng thọ được 97 tuổi. Sau đó đức Phật cảm hóa tất cả giòng họ Thích và có một số xin xuất gia theo Phật, như Ngài Nan Đà (Nandà) A Nâu Lâu Đà (Aniruddha) v.v..

Đức Phật thành đạo đến năm thứ tám, nhớ lời khẩn cầu của Ngài A Nan nên đức Phật mới hứa khả cho bà Ma Ha Ba Xà Ba Đề, Di mẫu của Phật xuất gia, tu phạm hạnh,cùng các phụ nữ trong giòng họ Thích cũng được phép thọ giới xuất gia. Đây là lần đầu tiên trong Phật giáo có hàng Tỳ kheo ni (Bhiksunì).

Đức Phật thành đạo đến năm thứ ba mươi tám, ông Đề Bà Đạt Đa (Devadatta), bàn tính bảo thái tử A xá Thế (Ajàtasátru), nước Ma kiệt Đà (Magadha), tìm cách sát hại phụ vương là vua Tần Bà Ta La, còn phần ông thì tìm phương kế để giết hại đức Phật, nhưng âm mưu bị bại lộ không thành. Sau đó đức Phật dùng oai đức cảm hóa ông Đề Bà Đạt Đa và thái tử A Xà Thế đều qui đầu Phật pháp

Thái tử A Xà Thế lên ngôi, xưng là Minh chúa ở Trung Ấn, thâu phục được nhiều nơi như thành Thất la Phiệt (Sràvana) và Ca tỷ La (Kapila) v.v..Lúc ấy có nhiều nơi bị loạn lạc, nhưng nhờ sự cảm hóa của đức Phật, nên mọi nơi đếu được thái bình thạnh trị trở lại.

Đức Phật thành đạo đến năm thứ bốn mươi bốn, tại Linh Thứu Sơn (Grdhrakùtà), thuyết kinh Đại Thừa Diệu Pháp Liên Hoa (Mahà Saddharma pundarìka Sùtra), Ngài đem chân lý siêu việt giáo hóa nơi này trong vòng bốn năm năm. Giáo pháp của Phật triển chuyển đến hai bờ sông Hằng (Gangà), độ cho người được giải thoát nhiều vô số. Sau cùng, từ nước Ma kiệt Đa, Ngài đến thành Tỳ Xá Ly, tuần tự du hóa khắp nơi ở địa phương này, Đức Phật nhận lãnh thức ăn do ông Thuần Đà cúng dường và độ cho người đệ tử cuối cùng Tu Bạt Đà La (Subhadra) 80 tuổi.

Suốt bốn mươi lăm năm trường giáo hóa chúng sanh, đức Thế Tôn không phân biệt giàu nghèo, sang hèn, từ hàng cao quí như vua Tần Bà Ta La, đến kẻ hạ tiện, làm nghề gánh phân như ông Ưu Ba Ly, tất cả đều được thọ lãnh giáo pháp của Ngài. Đức Phật hoan hỷ xâu kim cho một bà lão mù lòa, nhận lãnh đồ vật bằng đất do trẻ em dâng cúng…Sự bình đẳng độ sanh của Ngài, trong kinh Niết Bàn (Parinirvàna Sùtra) có ghi như sau: “Đức Thế Tôn không những thuyết pháp cho bậc quyền qúi như vua Bạt Đề Ca (Bhadrika), mà cũng giảng đạo cho hạng người nghèo như ông Ưu Ba Ly. Không những thọ lãnh đồ cúng dường của nhà triệu phú như Tu Đạt trưởng giả, mà còn nạp thọ đồ dâng cúng của kẻ cùng đinh như ông Thuần Đà, không riêng chỉ cho phép hành đạo các hạnh người không tham như Ngài Ca Diếp, mà còn khuyến khích xuất gia những người có tánh đam mê như ông Nan Đà. Không những thuyết pháp cho người an tịnh không dự việc đời, mà còn giảng đạo cho vua Tần Bà Ta La trong lúc đang bận việc nước. Không phân biệt giảng đạo cho hạng thanh niên ưu tú, mà còn nói diệu pháp cho ông già 80 tuổi. Không những thuyết pháp cho bà Mạt Lợi phu nhân (Mallikà) mà còn giảng giải đạo lý cho nàng dâm nữ Liên Hoa (Ambapàlì)…”

Đời sống của đức Phật là một tấm gương sáng cho mọi người soi chung.

Cơ duyên giáo hóa gần viên mãn, đức Phật giảng kinh Đại Niết Bàn (Mahàparinirvàna Sùtra) và dạy bảo các hàng đệ tử: Tỳ kheo (Bhiksu) Tỳ kheo ni (Bhiksuni), Ưu bà Tắc (upàsakà), Ưu bà Di (Upàsikà) và thiên long ,bát bộ (Devas, Nàgas)v.v..những lời dạy cuối cùng: “ Từ nay về sau, giáo pháp của ta, các đệ tử phải triển chuyển hành trì, khiến cho pháp thân thường trú của Như Lai không bị tiêu diệt”.

Tin đức Phật sắp nhập Niết Bàn được loan ra như một tiếng sét, các đệ tử từ các phương xa vội vã trở về , để cùng đấng Giác Ngộ chia ly lần cuối.Lúc bấy giờ đức Thế Tôn được 80 tuổi, Ngài nhập Niết Bàn tại thành Câu thi Na (Kusinagara), trong rừng SaLa Song Thọ (Sàla).

Sau chín mươi ngày, đức Thế Tôn nhập Niết Bàn, 500 vị đại A La Hớn , thượng túc đệ tử của Phật, đã hội nghị lần đầu tiên tại động Pippala, ở gần thành Vương Xá (Rajagraha) để kết tập giáo pháp của đức Phật, nói ra trong suốt thời kỳ giáo hóa, để làm trọng tâm truyền thống chánh pháp. Trong hội nghị đầu tiên này, Ngài Đại Ca Diếp được suy tôn làm chủ tọa. Ngài A Nan đa văn quảng kiến, đọc lại tạng kinh (Sùtra Pitaka), tôn giả Ưu Ba Ly trì giới kiên cố, tụng lại tạng luật (Vinaya Pitaka). Hội nghị này kết thúc sau bảy tháng làm việc . Đây là lần kết tập (Samgiti) thứ nhứt .

Đức Thế Tôn nhập Niết bàn vào khoảng một trăm năm, 700 vị Tỳ kheo ở các phương câu hội về tại thành Tỷ xá Ly (Vaisàlì), chọn hoa viên Ba lợi Ca (Paricitra) làm hội trường, để cử hành đại hội nghị Phật gáo. Kỳ kết tập này chỉ đặt trọng tâm giải quyết về giới luật mà thôi. Đây là lần kết tập thứ hai.

Trước Tây lịch , khoảng 320 năm có vua A Dục (Asoka) nước Ma Kiệt Đà là vị vua triệt để tuân hành lời Phật dạy và hết lòng phụng sự Phật giáo.

Đức vua tổ chức thống nhất giáo hội Phật giáo thành một mối, xác định trọng tâm giáo nghĩa Phật Đà duy trì giáo lý cổ truyền. Lúc ấy, Ngài Mục Kiền Liên Tu Đế (Moggaliputta Tissa) được cử làm Tăng Thống chọn 1000 vị Tỳ kheo xuất sắc tới thành Hoa Thị (Pàtaliputra), thuộc tiểu bang Bihar, Patna ngày nay. Kỳ hội nghị này dung hòa sự tranh chấp giữa Thượng tọa Bộ (Theravàdinas) và Đại chúng Bộ (Mahàsanghikas).Giáo hội ra chỉ thị cho Tăng đoàn truyền bá giáo lý ở khắp quốc nội và phái các vị danh tăng trải thân đi hoằng hóa ngoại quốc. Tăng thể truyền giáo ở ngoại quốc chia làm hai phái đoàn đi về phương Bắc bằng đường bộ, xuyên qua các nước như Nepal, Tây Tạng, Bhutam, Trung Hoa, Nhật Bản, Triều Tiên, Việt Nam, dùng kinh điển bằng chữ Sanskrit để hoằng hóa, sau được gọi là Bắc Tôn Phật giáo; đoàn thứ hai đi về phương nam, bằng đường thủy, qua các nước như Tích Lan, Miến Điện, Thái Lan, Ai Lao,Cao Miên, dùng kinh điển Pàli để hoằng truyền, sau được gọi là Nam Tôn Phật Giáo.

Sau sáu trăm năm, đức Thích Ca Mâu Ni nhập Niết Bàn, vua Canị Sắc Ca (Kaniska), một vị Đại đế Ấn Độ, qui y theo Phật giáo,mỗi khi rảnh rỗi, Ngài thường để tâm tìm học Phật pháp, nghiên cứu giáo lý thâm diệu của đấng Từ Bi. Hằng ngày đức vua cung thỉnh một vị danh tăng vào cung để giảng đạo cho vua nghe. Có nhiều dịp, nhận thấy chư tăng giảng giải bất đồng, bộ phái sai khác,nên Ngài chiếu chỉ các Đại Đức danh sư họp lại để kết tập kinh điển, chọn danh từ thống nhất. Cuộc kết tập này gồm có 500 vị Bồ tát (Bodhisattvà), 500 vị Tỳ kheo (Bhiksu) và 500 vị tại gia cư sĩ (Upàsakà,Upàsikà) họp tại thành Ca Thắp Di La (Kàsmira), dưới quyền chủ tọa của Ngài Hiếp Tôn Giả (Parsvika) và Ngài Thế Hữu (Vasu-mitra). Đây là lần kết tập kinh điển thứ tư.

Tóm lại, tất cả giáo pháp của đức Thế Tôn, khi Ngài còn tại thế, các vị A-La-Hớn đích thân nghe Phật giảng nói, lúc Phật nhập Niết Bàn chư vị Thánh tăng y lời Phật dạy thực hành giáo hóa. Những người y theo giáo pháp tu hành đắc độ nhiều vô số kể. Các vị lãnh sứ mạng hộ trì chánh pháp của đức Thế Tôn, chẳng những hồi xưa, mà hiện nay khắp thế giới đâu đâu cũng đều có. Như thế, chúng ta đủ biết tinh thần truyền thống giáo pháp của Phật đà rất vĩ đại từ xưa đến nay, mà sẽ trường cửu mãi mãi với thời gian và không gian.

 

02. GƯƠNG SÁNG TỐI THƯỢNG THỪA

Luận về GƯƠNG SÁNG cao siêu

Tối thắng là điểm Tổ nêu muôn đời

Thượng căn suy xét trau dồi

Thừa cơ quyết chí theo lời NGƯỜI XƯA.

                                                H.V

 

 

Gương sáng Tối Thượng Thừa

Hoằng Nhẫn Thiền sư thuật

Luận về bản thể của người tu hành làm đạo, chúng ta cần phải biết từ lâu đời nhiều kiếp cho đến ngày nay, thân tâm của mỗi chúng ta vốn thanh tịnh, không sanh cũng không diệt, không phân biệt, tự tánh viên mãn, bản thân trong sạch. Đây chính là Bổn sư và cũng là thắng niệm của chư Phật trong khắp mười phương.

Hỏi: Làm sao biết được tâm mình xưa nay vốn thanh tịnh?

Đáp: Trong kinh Thập Địa (Dasá-bhùmi Sùtra) chép rằng: Trong thân tâm của mỗi chúng sanh đều có sẵn Phật tánh Kim Cang, cũng giống như vừng thái dương, thể chất của nó sáng suốt soi khắp mười phương, viên mãn, rộng lớn, không ngằn mé. Chỉ vì mây đen của “ năm ấm”[1]che phủ ánh sáng, giống như chiếc đèn trong bình, không thể chiếu sáng được. Thí dụ như giữa không gian, nếu tám hướng mây mù đồng che phủ thì khắp trong thiên hạ sẽ tối tăm, vì mặt trời không thể soi sáng được. Vì sao mặt trời không thể soi sáng? Ánh sáng vốn không hoại, chỉ vì mây mù che lấp. Tâm thanh tịnh của tất cả chúng sanh cũng bị ngăn che giống như thế. Chỉ vì vin níu vọng niệm, gây nên phiền não, do các kiến chấp ngăn che bởi mây đen tội lỗi, muốn cho ngưng lại không phát khởi, thì phải giữ gìn tâm niệm, tất nhiên vọng tưởng không sanh. Pháp tánh tự nhiên hiển hiện, vì thế phải biết tâm mình từ nhiều đời đến nay vốn thanh tịnh.

Hỏi: Làm sao biết được tâm mình từ nhiều đời đến nay không sanh, không diệt?

Đáp: Kinh Duy ma Cật (Vimalakirtinirdesa Sùtra) nói: “Như” không có sanh, “ như” không có diệt. “ Như” là chơn như Phật tánh, tự nó thanh tịnh trong nhiều đời. Thanh tịnh là do nơi tâm mà có. Chơn như sẵn có hay không , đều do nhân duyên phát sanh. Lại nói rằng: “Chúng sanh đều có bản tánh như vậy và các hiền thánh cũng có bản tánh như vậy”.

Tất cả chúng sanh là chúng ta và toàn thể muôn loài, còn các vị hiền thánh là chư Phật trong mười phương. Danh tướng chư Phật tuy khác, nhưng chơn tâm pháp tánh trong thân đều đồng, không sanh cũng không diệt, cho nên đều nói “ như” vậy. Vì thế cho nên phải biết rằng tâm mình từ xưa đến nay vốn không sanh, không diệt.

Hỏi: Thế nào gọi tâm mình là Bổn sư?

Đáp: Chơn tâm đây tự nhiên sẵn có, không do bên ngoài đem đến, mà cũng không phải nhờ sự tu tập trong ba đời, dù cho có hết sức cố gắng cũng không ra ngoài bản tâm thanh tịnh của mỗi người. Nếu biết giữ gìn chơn tâm thì dễ đến bờ giác, còn mê mờ bỏ phần chơn thì sẽ đọa lạc vào ba đường khổ (Địa ngục,Ngạ quỉ, súc sanh). Cũng vì thế nên chư Phật trong ba đời dùng tâm mình làm Bổn sư.

Trong Luận có nói: “ Biết được chơn tâm thì vọng niệm không phát khởi, do đó gọi là vô sanh”. Vì thế nên biết Chơn tâm là Bổn sư.

Hỏi: Thế nào gọi tâm mình “ thắng” (hơn) sự niệm Phật?

Đáp: Thường suy nghĩ Đức Phật không khởi sanh tử, khéo gìn giữ bản tâm nên được đến bờ kia. Trong kinh Kim Cang (Vajraprajnàparamita Sùtra) nói: Nếu dùng sắc tướng để thấy “ ta”  dùng âm thanh để cầu “ta”, người đó thực hành tà đạo,không thể thấy được “ Như Lai”. Cho nên nói rằng : “ Giữ gìn chơn tâm căn bản hơn niệm danh hiệu chư Phật”. Lại nữa: Chữ “ thắng” chỉ dùng lời nói tóm tắt để khuyên bảo người, thời quả thể rốt ráo bình đẳng không hai.

Hỏi:Phật cùng chúng sanh đều đồng chơn thể, cớ sao chư Phật bất sanh, bất diệt, tự tại vô ngại, được vô lượng an lạc, còn chúng sanh lại bị đọa lạc trong biển sanh tử, lãnh chịu biết bao điều khổ não?

Đáp: Chư Phật trong mười phương ngộ nhập được pháp tánh, đều do tự nhiên soi sáng tâm nguyên, vọng tưởng không sanh,thì chánh niệm không bao giờ mất. Tâm “ ngã sở”[2] diệt cho nên không thọ sanh tử, vì không sanh tử nên rốt ráo tịch diệt.

Muốn sự an vui tự bản thể phát xuất, tất cả chúng sanh mê chơn tánh, không biết căn bản của tâm có nhiều vọng tưởng, không tu theo pháp chánh niệm, do đó tánh ái phát khởi, vì thế tâm niệm luôn luôn bị xao động, nên sanh tử chồng chất, khổ não xuất hiện.

Kinh Tâm Vương (Citta Sùtra) nói rằng: Chơn như Phật tánh chìm trong biển “ sáu thức tri kiến”[3], trầm luân sanh tử không được thoát ly, chúng ta gắng sức hiểu như thế, giữ gìn chơn tâm, căn bản,vọng niệm không sanh, tâm ngã sở đoạn diệt, tự nhiên cùng với Phật tánh bình đẳng không hai.

Hỏi:Chơn như Phật tánh đồng có một không hai, mê theo đường mê, ngộ theo đường ngộ. Vì sao giác tánh của Phật và sự hôn mê của chúng sanh lại có sai khác?

Đáp: Từ đây trở lên thuộc về phần khó thể nghĩ bàn, phàm phu hiểu rõ tâm thì ngộ, mất bản tánh cho nên mê, duyên họp thì họp , không thể diễn giải được, chỉ tin chân lý giữ gìn bản tâm của mình.

Kinh Duy ma Cật (Vimalakirti Nirdesa Sùtra) nói: Không có tánh của mình, mà cũng không có tánh của người. Chơn lý vốn không sanh không diệt. Ngộ được điểm nầy tức là lìa cả hai bên, vào trí vô phân biệt.Nếu ai hiểu được điểm nầy, thì ở nơi pháp yếu “ tri và hành” giữ gìn tâm đệ nhứt. Giữ tâm là thế nào?-Chính là căn bản của Niết bàn, là yếu môn nhập đạo, là tôn chỉ của 12 bộ kinh[4].

Hỏi: Làm sao biết gìn giữ chơn tâm là căn bản của Niết bàn?

Đáp: Thể của Niết bàn là tịch diệt, vô vi, an lạc, tâm ta đã là chơn tâm, phải đoạn vọng tưởng, vì vọng tưởng đoạn, nên đầy đủ chánh niệm. Có đầy đủ chánh niệm thì trí tịch chiếu mới sanh. Trí tịch chiếu sanh nên thông cùng pháp tánh, nhờ pháp tánh được thông suốt nên ngộ được Niết bàn. Vì thế nên nói giữ gìn chơn tâm chính là căn bản Niết bàn.

Hỏi: Làm sao biết giữ gìn chơn tâm căn bản là yếu môn nhập đạo?

Đáp: Cho đến dùng một ngón tay vẽ hình tượng Đức Phật, hoặc tạo công đức nhiều như số cát sông Hằng, đó chỉ là Phật sự, vì muốn hướng dẫn chúng sanh không trí tuệ tạo thêm nghiệp thắng báo ở tương lai và thấy chánh nhơn Phật tánh. Nếu muốn chính mình sớm được thành Phật, thì phải giữ gìn chơn tâm căn bản. Các Đức Phật trong ba đời, nhiều vô lượng vô biên, nếu có người ác không giữ gìn chơn tâm, mà lại thành Phật thì thật không có lý. Trong Khế kinh có nói: “ Chú tâm một chỗ, không việc gì chẳng làm xong. Cho nên biết giữ gìn chơn tâm căn bản là yếu môn nhập đạo.” Đây chính là yếu môn nhập đạo vậy.

Hỏi:Làm sao biết giữ gìn chơn tâm căn bản là Tôn chỉ của 12 bộ kinh?

Đáp: Trong tất cả Khế kinh Như Lai nói: Tất cả tội phước, quả báo, nhân duyên dẫn thành tất cả núi, sông, đất liền, cỏ cây, muôn vật, các thứ tạp vật, đưa nhiều thí dụ không lường, không ngằn mé, hoặc hiện thần thông vô lượng, các thứ biến hóa, chỉ vì Phật sự, vì giáo đạo cho chúng sanh không trí tuệ, nên có các thứ dục tâm, tâm hành muôn sự sai khác. Vì thế nên Như Lai theo tâm môn của chúng sanh dẫn vào Nhứt thừa. Ta đã hiểu biết Phật tánh của chúng sanh xưa nay vốn thanh tịnh, cũng như mặt trời dưới có mây che, chỉ rõ ràng giữ chơn tâm căn bản. Mây vọng niệm tan biến thì mặt trời trí tuệ xuất hiện, cần gì phải nhiều học vấn mới thoát khổ sanh tử, mới hiểu biết tất cả nghĩa lý và những sự việc trong ba đời, như gương sạch bụi, ánh sáng tự nhiên hiện ra. Thế nên trong tâm vô minh, người học giỏi không kham được.Nếu có thể rõ biết như thế thì không mất chánh niệm. Trong tâm vô vi của người học thức là thật học, tuy nói thật học nhưng không có sở học. Vì sao? Ta và Niết Bàn cả hai đều không, lại không hai không một, cho nên không có sở học, pháp tánh tuy không cần phải rõ biết giữ gìn chơn tâm căn bản, vọng niệm không sanh, tâm “ ngã sở” diệt trừ.

Trong Kinh Niết Bàn (Nirvàna Sùtra) nói rằng: Người biết Đức Phật không nói pháp, ấy là đầy đủ đa văn, cho nên biết rằng giữ gìn chơn tâm căn bản là Tôn chỉ của 12 bộ kinh vậy.

Hỏi: Làm sao biết giữ gìn chơn tâm căn bản là Tổ của chư Phật trong 3 đời?

Đáp: Chư Phật trong ba đời đều từ tâm phát sinh, giữ gìn chơn tâm thì vọng niệm không sanh, tâm “ ngã sở” đoạn diệt, sau được thành Phật. Vì thế nên biết rằng giữ gìn chơn tâm căn bản là Tổ của chư Phật trong 3 đời vậy.

Từ trên đến đây bốn câu vấn đáp, nếu nói rộng ra, làm sao cho cùng? Ta nay hy vọng các vị tự biết bổn tâm căn bản là Phật. Do đó ta ân cần khuyên các vị, ngàn kinh, muôn luận, không gì hơn giữ gìn chơn tâm căn bản, đó là điều cốt yếu vậy. Hôm nay đây chúng ta hãy gắng sức xét kỹ, trong kinh Pháp Hoa (Saddharmapundarika Sùtra) đã chỉ cho các vị xe Đại bạch ngưu chứa các món châu báu, ngọc minh châu, thần dược nhiệm mầu…chính các vị không nhận, không dùng lại than nghèo, trách khổ? Vọng niệm không sanh, tâm “ ngã sở” đoạn diệt, tất cả công đức lành tự nhiên viên mãn, không phải nhờ bên ngoài để cầu dứt sanh tử, đối với tất cả chỗ chánh niệm quan sát, không nên vì ham vui hiện tại mà gieo nhân khổ cho đời sau. Chúng ta hãy cố gắng, đừng để mình đã mê lầm lại làm cho người khác mê lầm theo. Hôm nay tuy bị cảnh vô thường, nhưng sẽ là nhân thành Phật ở tương lai, đừng để ba đời chìm mất hết công phu. Trong Kinh nói: “Ở nơi điạ ngục như vui thú điền viên, ở nơi ác đạo như trong nhà mình”. Chúng ta cùng chúng sanh hiện cảnh là như thế, không hiểu, không biết, sợ hãi, giết người, không khỏi bị lương tâm dày vò, quở phạt. Thật lạ thay! Thật khổ thay!

Nếu có người mới phát tâm học tọa thiền, y như trong kinh Quán Vô lượng Thọ (Amitayus Sùtra), ngồi đoan tranh chánh niệm, nhắm mắt, ngậm miệng, tâm trực chỉ nhứt như, tùy ý gần xa, khởi tưởng một ngày, gìn giữ chơn tâm mỗi niệm chớ trụ, tức là khéo điều hòa hơi thở, chớ cho vừa thô vừa tế, khiến cho thành bịnh khổ. Khi ngồi thiền ban đêm, hoặc thấy tất cả cảnh giới thiện ác, hoặc vào sắc tam muội xanh, vàng, đỏ, trắng hay thấy tâm phóng ra hào quang sáng lớn, hoặc thấy thân tướng Như Lai hay thấy các thứ biến hóa, nhưng biết thâu nhiếp vọng tâm không trụ trước, hiểu tất cả đều do không tưởng, vọng tưởng tạo thành.

Trong Khế kinh nói: Cõi nước trong mười phương đều như hư không , ba cõi hư huyễn chỉ do vọng tâm tạo tác, nếu không được định, nếu không thấy tất cả cảnh giới cũng không có gì lạ. Nhưng khi đi, đứng, nằm ngồi thường phải giữ gìn chơn tâm căn bản. Lãnh hội như thế thì vọng niệm không sanh, tâm “ ngã sở” diệt, tất cả muôn sự vật không ngoài tâm của mình. Do đó chư Phật nhiều lời chỉ giáo, cho nhiều thí dụ, nhưng vì chúng sanh thực hành không đồng, khiến cho giáo môn có sự sai khác, kỳ thật tám muôn bốn ngàn pháp môn, vị thể có ba thừa[5], tám chánh đạo [6]cũng như hành tông của 72 bậc thiền, chẳng có gì qua được tâm của mình, chính tâm của mình là căn bản. Nếu có thể tự biết tâm mình, mỗi niệm rèn luyện, chớ nên trụ trước tức là chính mình thấy tánh thành Phật vậy. Ở trong mỗi niệm thường cúng dường mười phương chư Phật, nhiều như số cát sông Hằng, mười hai bộ kinh, mỗi niệm thường chuyển, nếu người nào rõ tâm nguyên nầy, tất cả tâm nghĩa tự hiện, tất cả hạnh nguyện đầy đủ, tất cả công hạnh viên mãn, tất cả mọi việc làm xong, không thọ lãnh thân hiện hữu. Lãnh hội như thế thì vọng niệm không sanh, tâm “ ngã sở” đoạn diệt, bỏ xác thân nầy rồi, quyết định được pháp thân vô sanh. Vì thế gắng sức chớ tạo nghiệp lớn, lời nói tuy chân thật không vọng, nhưng thất khó tin khó hiểu. trong số đại chúng đông đảo, người nghe và hay thực hành đạt được mục đích, trong vô số ức chỉ có một, còn số tự an tự tịnh, khéo điều hòa các giác quan, chính phải nhìn nơi tâm trong sáng vắng lặng, đừng để tâm vô ký móng sanh.

Hỏi: Thế nào gọi là tâm vô ký?

Đáp: Đừng để tâm phóng túng và duyên ngoại cảnh, tâm xấu chưa dứt, khi luyện tập chơn tâm khó thanh tịnh. Đối với việc đi, đứng, nằm, ngồi, phải theo dõi ý và xem xét tâm. Tâm vô ký là tâm chưa rõ biết trong sạch và soi sáng căn nguyên. Cũng gọi là tâm vô lậu, không khỏi sự sanh tử luân hồi. Người không giữ gìn chơn tâm, sẽ bị chìm đắm trong biển sanh tử, không biết bao giờ mới được thoát ly. Thật đáng thương xót, biết như thế chúng ta cần phải cố gắng. Trong Khế kinh nói: “ Nếu chúng sanh thật tâm mà sở nguyện không phải xuất phát tự bên trong, thì chư Phật trong 3 đời, nhiều như số cát sông Hằng, cũng không cứu vớt được”. Trong Kinh cũng có nói: “ Chúng sanh phải biết tự độ, Phật không thể độ cho chúng sanh”. Nếu Phật độ chúng sanh dễ dàng, thì với vô số vô lượng Phật trong quá khứ cớ sao chúng ta không thành Phật? Chỉ vì lòng chí thành của chúng ta không tự phát ở bên trong, nên phải chịu chìm nổi mãi trong biển sanh tử luân hồi. Chúng ta phải tinh tấn siêng tìm tâm căn bản, đừng để vọng tưởng xem vào, quá khứ đã qua, tương lai chưa đến, thân hiện tại nầy được nghe pháp nhiệm mầu, sáng suốt khuyên nhau giải quyết lời nói nầy, chúng ta hiểu rằng gìn giữ bản tâm là con đường duy nhứt. Sao không chịu phát tâm chí thành cầu nguyện thành Phật, thọ lãnh vô lượng an lạc tự tại? Đừng chạy theo thế tục ham cầu lợi danh, mà tương lai phải bị đọa vào địa ngục, chịu nhiều điều khổ sở, không gì sánh được. Phải gắng sức mặc áo rách, ăn cơm hẩm, một lòng gìn giữ chơn tâm căn bản. Những người si mê không hiểu , phải tự xét mình để bồi đắp công lai, đó là người rất tinh tấn vậy. Người si mê trong thế gian không hiểu lý nầy, trong tâm vô minh phần nhiều hành sự gian khổ, rộng tu điều thiện mong được giải thoát, như thế là qui sự sanh tử về một mối. Nếu sáng suốt, không mất chánh niệm để cứu độ chúng sanh là hàng Bồ-Tát có nghị lực siêu phàm. Qua lời nói trên, các vị phải giữ gìn tâm thứ nhứt, nếu không chuyên cần giữ gìn là người si mê vậy. Không chịu một đời hiện tại mang khổ, lại muốn tương lai muôn kiếp chịu tai ương.

Các vị nên biết lời dặn nầy tám gió không lay động được, thật là núi cao quí báu vậy. Phải biết bản thể kết quả đối với muôn cảnh vật tác dụng nhiều vô lượng vô biên, dùng biện tài vô ngại, theo bịnh cho thuốc, để cho vọng niệm đừng sanh, tâm “ ngã sở” diệt. Ấy thực là bậc Trượng phu xuất thế. Như Lai lúc sinh thời, dùng không biết bao lời khen ngợi, ta nói lời nầy thực lòng khuyên các vị “ vọng niệm” và “ngã sở” phải đoạn diệt. Được như thế là kẻ sĩ xuất phàm.

Hỏi: Làm sao tâm “ ngã sở” đoạn diệt?

Đáp: Vì tâm tự phụ cho mình hơn người, tự nghĩ ta có thể làm như vậy, đó là tâm “ ngã sở” bị sa đọa trong cảnh Niết Bàn. Trong kinh Niết Bàn (Nirvàna Sùtra) nói: “ Vì như hư không bao trùm muôn vật, nhưng hư không chẳng tự nghĩ rằng ta có thể chứa đựng như thế”. Theo thí dụ nầy ,tâm “ ngã sở” đoạn diệt chứng Kim Cang tam muội (Vajrasamàdhi).

Hỏi: Các người tu hành cầu chơn thường tịch tịnh như thế nào?

Đáp: Ưa thích cảnh vô thường trong thế gian, không ưa thích đệ nhứt nghĩa đế chơn thật nhiệm mầu, chưa thấy lý, chỉ muốn khởi tâm dựa theo lý trí so sánh giác tâm phát khởi, là tâm vô lậu. Nếu muốn quên tâm ấy thì bị vô minh che lấp, lại không hợp lý, chỉ muốn tâm không ngăn dứt, không có duyên nghĩa , tức là chấp không, mặc dù thọ thân người , nhưng hành động theo loài súc sanh. Lúc bấy giờ không có phương tiện định huệ, không hiểu rõ Phật tánh, đây là chỗ người tu hành bị chìm đắm. Nếu ai vượt hẳn các điểm trên, sẽ chứng được Vô dư Niết Bàn (Anupadhisésa).

Hỏi: Thế nào là nguyện nếu rõ chơn tâm?

Đáp: Lãnh hội được lòng tin đầy đủ, chí nguyện thành tựu, thong dong tâm tịch tịnh, phải chỉ giáo cho người thích thân tâm nhàn lạc, không cần nương tựa. Nếu ngồi ngay thẳng biết điều hòa hơi thở, gạn lọc tâm, không ở trong, ở ngoài hay chính giữa, tốt đẹp,sáng suốt, xem xét mọi việc rõ thấy tâm Phật, lưu động như nước chảy, ánh sáng mặt trời không ngừng tắt.

Khi đã nhận thấy tâm không ở trong, ở ngoài, như như bất động, xem mọi việc đều viên dung, thường trú, lúc ấy vọng thức bỗng nhiên đứt hẳn, dứt vọng thức nầy mới diệt được các chướng ngại ở trong. Hàng Thập địa  bồ tát (Dasabhùmi Bodhisattva) vọng thức diệt rồi, thì tâm bừng sáng như ánh mặt trời. Đó là sự việc không thể nghĩ bàn, người nào muốn được tâm ấy phải xem kinh Niết Bàn, phẩm thứ ba, về phẩm Kim Cang Thân và phẩm 3 kinh Duy Ma Cật, phẩm Phật A Súc,dần dần lưu tâm tìm xét kỹ lưỡng tối đa. nếu hiểu được kinh này rõ ràng thì những lúc đi, đứng, nằm, ngồi cũng như đối với ngũ dục, bát phong, không để mất tâm niệm phạm hạnh đã lập. Được vậy thì mọi việc đã giải quyết xong và sẽ không thọ thân sanh tử khác nữa. Ngũ dục là :Sắc, thinh, hương, vị, xúc.Bát phong là: lợi,suy,hủy, dự xưng, cơ, khổ,lạc. Đây là chỗ của người tu hành rèn luyện trau dồi Phật tánh.

Trong kinh nói: Thế gian không có chỗ Phật trụ ,Bồ Tát không được thiện dụng cần phải giải thoát báo thân nầy. Chúng sanh đời quá khứ bản tánh có kẻ thông minh, có người ngu độn, không nên phê phán. Hạng thượng trí chỉ trong một niệm là giác ngộ, bậc hạ trí phải trải qua nhiều kiếp mới thành tựu. Nếu khi có hiệu nghiệm, tùy theo tánh của chúng sanh mà phát khởi thiện căn của Bồ Tát, lợi mình, lợi người, trang nghiêm cõi Phật. Cần phải hiểu rõ phương pháp tứ y [7] mới được thật tướng. nếu y theo văn tự chấp trước thì quên mất chơn tâm. Các vị Tỳ kheo xuất gia tu tập để ra khỏi gông cùm sanh tử, gọi là chơn chánh xuất gia. Một niệm tu hành đầy đủ đến rõ biết chi tiết về thân, đến khi mạng chung không mất chánh niệm, tức là được thành Phật quả.

Từ trên đến đây luận về đạo lý, chỉ do lòng tin theo văn, hiểu nghĩa khởi ra những lời nói như thế, thật không phải rõ ràng chứng biết, nếu trái đạo lý phải sám hối trừ nghiệp, nếu hợp chánh đạo thì hồi hướng bố thí cho chúng sanh, phát nguyện đều biết bản tâm một đời thành Phật. Người nghe phải gắng sức trong tương lai sẽ thành Phật. Hy vọng rồi đây sẽ độ cho môn đồ của ta.

Hỏi: Luận Tối thượng thừa nầy từ đấu đến cuối nói rõ tâm mình là chánh đạo, nhưng chưa biết hạnh quả 2 môn, đứng về môn nào?

Đáp: Luận nầy nói rõ Nhứt thừa làm tôn chỉ đến nơi ý đạo dứt trừ đường mê, giải thoát con đường sanh tử, mới có thể độ mình độ người. Đứng về hạnh môn thì lợi mình không nói, chỉ nói những điều lợi người. Nếu có người thực hành thì được thành Phật ngay. Ta xin chỉ Trời Đất thề nguyện, nếu ta nói dối các vị thì ta phải đọa vào 18 cảnh địa ngục. Nếu ai không tin lời ta thì đời đời sẽ bị khổ về nạn hổ lang, ác thú vậy.

 

03. GƯƠNG SÁNG NGƯỜI XƯA

GƯƠNG soi trần thế tối tăm

SÁNG trưng ba cõi muôn năm hãy còn

NGƯỜI đời theo gót đường mòn

XƯA kia chư Tổ phận tròn độ sanh.

                                                H.V.

 

Phát Bồ Đề Tâm Văn

1-NGUYÊN DO BẢN VĂN:

Bản văn này do Tổ sư Tịnh Am trước tác, trong lúc Ngài đang ở tại chùa Phạm Thiên (Brahmadeva), thuộc đất Cổ Hàn. Ngài cư trú tại chùa A Dục Vương (Asoka-Vihàra).Sau khi cúng dường chân thân bửu tháp Thích Ca Mâu Ni Như Lai (Sàkyamuni-Tathàgata), Ngài phát khởi hai mối cảm hoài: Một là không được sinh ra trong thời kỳ có Phật, không thấy kim thân đức Phật, hai là nhờ chút duyên lành đời trước, được đọc tụng kinh điển và thấy chân thân Xá Lợi (Sarìra-Kàya) của Phật. Nhằm ngày đại hội, kỷ niệm Phật nhập Niết Bàn (nirvana: to enter into rest Nibbhàna), trước Phật đài của chùa A dục Vương, Tổ sư noi theo gương sáng của Đức A Di Đà (Amitàbha- Buddha), phát bốn mươi tám (48) đại nguyện (The forty-eight vows of Him that he could not enter in to his final Nirvàna or heaven unless all being shared it), sự cảm ứng thật khó nghĩ bàn, là từ Xá Lợi Phật (Sàrira-Buddha) phóng ra nhiều đạo hào quang ngũ sắc.Ngài tức cảnh trước tác “ Khuyên Phát tâm Bồ đề” này, để khuyến khích hàng tứ chúng (Bhiksu, bhiksunì,upàsaka,upàsikà), mong mỏi những ai được duyên lành đọc qua bản văn, sẽ phát tâm bồ đề (Bodhi-citta), lập chí vững bền , tu học chánh pháp, tinh tấn trên đường đạo hạnh.

2-GIÁ TRỊ BẢN VĂN:

“Khuyên phát tâm Bồ đề” tuy không phải Kinh (Sùtra), không phải Luật (Vinaya), cũng không phải Luận (Abhidharma), nhưng tinh thần lại bao gồm cả ba tạng (Tripitaka) Kinh, Luật và Luận. Tác giả khuyên nhắc mọi người phát tâm dũng mãnh để cầu thành quả Phật (Buddhaphala). Vì muốn được khai thông pháp thân (Dharmakàya) và nối truyền huệ mạng (Prajna-Jivita), nên bản văn này đáng làm Khế Kinh để đọc tụng, đáng làm Giới luật để phụng trì và cũng đáng làm Luận giải để người đời nghiên cứu. Vì thế nên giảng giải bản văn này, tức là thuyết giảng về Kinh, Luật và Luận vậy.

3-TIỂU SỬ CỦA TÁC GIẢ:

Ngài pháp danh Thật Hiền, pháp tự Tư Tề và pháp hiệu Tĩnh Am, xuất gia học đạo lúc còn nhỏ, chuyên trì giới Luật (Sìla-Vinaya). Ngài không bao giờ vắng mặt trong các buổi giảng kinh, thuyết đạo, tinh thông Pháp tánh Tôn (Bhùtatatàyàna) lẫn Pháp tướng Tôn (Dharmala-ksanayãna), thực hành các pháp tham thiền (meditation),niệm Phật (rememberance Buddha). Một hôm, Tổ hoát nhiên khai ngộ, thoát được giấc mộng đêm trường, Ngài trở thành bậc chứng ngộ đạo mầu. Ban ngày duyệt lại các kinh điển của chư Phật, tối lại tham thiền, tịnh niệm.

Niên hiệu Ung Chánh, ngày 14 tháng 4 năm thứ 12, Ngài ngồi xoay mặt về phương Tây an nhiên thị tịch (To indicate the way of Nirvàna). Trong khi chư Thượng tọa, Đại đức, Tăng Ni và đa số Phật tử đang tham dự lễ tống táng, bỗng nhiên Ngài mở mắt ung dung nói rằng:

-“Tôi đi tức là đến, đại sự sinh tử muốn được thoát ly phải từ tịnh tâm niệm Phật mà được kết quả tốt đẹp”.

Toàn thể chấp tay đồng xưng niệm danh hiệu Phật, Ngài nhắm mắt thâu thần về cảnh giới bên kia (Nirvàna). Chúng ta nên chí thành tán thán công nghiệp tu tập của đời Ngài:

            “Lòng từ mở rộng,

            Khuyến trọng Bồ-Đề.

            Bốn tám đại nguyện,

            Trinh sạch liên huê.

            Hành, giải chân thật,

            Quả Phật hóa sinh.

            Gương sáng hữu tình,

            Đồng lên nước Phật”.

4-THÔNG, BIỆT,NĂNG,SỞ CỦA BẢN VĂN

Đầu đề bản văn này chia ra hai phần: Thông và Biệt. Bản văn là Thông đề, “ Khuyên phát tâm Bồ đề” là biệt đề. Ngoài ra có ba lớp năng và sở.

            a)Bản văn là năng thuyên, “ Khuyên phát tâm Bồ đề”là sở thuyên.

            b)Tổ sư là bậc hay khuyên, đại chúng là những người được khuyên.

            c)Phát là phát khởi, tâm Bồ đề là vật bị phát khởi.

5-NĂM LỚP HUYỀN NGHĨA:

Năm lớp huyền nghĩa, chính là tôn chỉ để khai thông các diệu nghĩa sâu xa, cao rộng của từng bộ kinh. Các Tổ sư thuộc tông Thiên Thái mỗi khi giảng giải kinh văn, đều theo qui tắc của năm lớp huyền nghĩa này:

1-Giải tên kinh.2-Chỉ rõ thể chất.3-Biện minh tông chỉ. 4-Luận về diệu dụng.5- Chỉ tướng trạng.

1-Giải tên kinh:

Đầu đề của bản văn này dùng “Đơn pháp”. Tất cả đề mục trong kinh tạng có thể chia thành bảy loại: Đơn nhơn, đơn pháp, đơn dụ, nhơn pháp, nhơn dụ và nhơn pháp dụ. Đầu đề “ Khuyên phát tâm Bồ đề” này là pháp, không nhân, không dụ, cho nên gọi là đơn pháp.Chữ “pháp” gồm cả “ tánh pháp” và “tu pháp”. Tâm Bồ đề là “tánh pháp” (tánh đức đầy đủ), siêng phát khởi các pháp từ tâm (hiển bày tu đức) là “tu pháp”.

Tâm tức là lương tâm của mỗi người suy nghĩ hằng ngày. Tâm này có thể thiện (kusala), có thể ác (akasala),có thể vô ký (avyàkrta). Thành Phật (Buddha) cũng tại tâm này, làm người (manusya) cũng do tâm này, mà sa vào địa ngục cũng chính tại tâm này.

Bồ đề (Bodhi) là tiếng Phạn, Trung Hoa dịch là Giác đạo , cũng tức là tâm (citta), nhưng tâm ở đoạn trước là vọng tâm (misleading mind), còn đây là chân tâm (the true mind). Nhưng vọng tâm cũng từ chân tâm mà ra, trái lại chân tâm toàn vọng tức là chân. Đây có ba nghĩa:

            1-Chân tánh (The true Nature)

            2-Thật trí (The knowledge or wisdom of Reality)

            3-Phương tiện (convement to the place).

Luận về chân tánh Bồ đề tức là một niệm tâm tánh ngã (àtma), nhân (Manusya) hiện tiền. Trên từ chư Phật (Buddha), dưới đến địa ngục (Naraka), chúng sanh trong mười pháp giới (dasadhàtu) đều đầy đủ, đây là tự tánh “ Như Như Lý” (The absolute indifferentiation) sẵn có đầy đủ. Chỗ khác nó được gọi là bản giác (Original bodhi i.e.enlightenment), không nương nhờ các việc tạo tác, lìa các hư vọng (Vitatha: unreal and false, base-less) cho nên gọi là chân tánh Bồ-đề (The true natural enlightenment).

Thật trí Bồ đề (The wisdom of enlightened Reality) y theo “ Như Như Lý” để phát khởi “ Như Như Trí” (Substance),. Nó cũng thường gọi là thỉ giác (The initial functioning of mind), như chúng ta phát thiện tâm nghe giảng kinh thuyết pháp đều thuộc thỉ giác. Trí này tức là Huệ tâm sở (inàna-cetasika), tương ứng cùng ý thức. Dùng Huệ tâm sở này soi lý bổn giác (original bodhi), như thật rõ biết. Cho nên gọi là Thực trí Bồ đề (The knowledge of enlightened Reality).

Thế nào gọi là phương tiện bồ đề? Vận dụng tâm bồ đề này để hành Bồ tát đạo (Bodhisattva màrga), quán sát căn cơ để thuyết pháp, thi thố mọi Phật sự, độ thoát mọi loài chúng sanh. Đây là phương tiện Bồ đề vậy (Convement to the enlightened situation).

Chữ tâm ở đây là chỉ tâm Phàm phu (The common underlying nature of all men). Bồ đề là tâm nhiệm mầu của chư Phật tức là Thánh tâm (The Holy mind, that of Buddha)

Tổ sư muốn chúng ta từ tâm phàm liễu ngộ tâm Thánh , y theo bổn trí (The original wisdom), để tìm cầu Phật trí (The Buddha wisdom). Tâm bồ đề mỗi người đều có, phàm thánh bình đẳng, chúng sanh cùng Phật bản tính (The spirit one possesses by nature) chỉ là một, không luận trí ngu, hiền ác đủ, nhưng tại sao cùng sự giác ngộ của chư Phật không đồng? Tại vì không có chữ “ Phát”này vậy.

Luận về chữ “Pháp” (To produce, grow,intitiate): Tâm vốn không sanh, nhờ cảnh mới phát khởi, như các cảnh giới thuận, nghịch trong thế gian có thể khiến sanh tâm thiện (kusala), hoặc ác (akusala). Nay phát tâm bồ đề, chúng ta cũng phải vin nơi cảnh.

Tóm lại có bốn loại:

            1)Ngoài thấy Phật, trong quán thân, tự động tiến tới.

            2)Thương nghĩ chúng sanh đồng một Phật tánh với mình, rồi muốn tịnh hóa tất cả.

            3)Quán công đức, tướng tốt của Phật, sanh tâm hoan hỷ.

            4) Quả vị Phật tối thắng đều có thể chứng đặng, ta phải siêng cầu. Chữ “khuyên” nghĩa là khuyên gắng khích lệ.Trong bản văn nói mười thứ nhân duyên là những điều khuyến khích.

            Hai chữ “Bản văn” của Thông đề, “ Văn” tức là văn chương. Nhiều danh từ thành câu, nhiều câu thành văn chương.

2-Chỉ rõ thể chất:

Bản văn này lấy chân tánh (The true nature,i,e,the Buddha-nature) là thể thông,suốt,sáng,soi,vắng lặng, hằng còn,bản thể của nó tịch, chiếu không hai. Chẳng những ba tạng (tạng Kinh: Sùtrapitaka, tạng Luật: Vinayapitaka, tạng Luận: Abhidharmapitaka), mười hai bộ (Tu đa la: Sùtra, Kỳ dạ: Geya, Già đà: Gàthà, Ni đà Na: Nidàna, Y đế mục Đa; Itivrttaka, Xà đa Giá:Jàtaka, A phù Đạt Ma: Adbhuta-dharma, A bà đà Na: Avadàna, Ưu bà đế Xá: Upadesa, Ưu đà na: Udàna, Tỳ Phật Lược :Vaipulya, Hòa già La: Vyàkarana), tất cả kinh điển đều lấy tâm Bồ đề làm bản thể, mà núi, sông, đất liền, hư không cũng do tâm Bồ đề làm thể chất vậy.

3-Biện minh Tông chỉ:

Bản văn này lấy Từ,Bi (Maitrì karunà) làm Tông chỉ. Sau khi phát tâm Bồ đề , lòng Từ, Bi, tự nhiên sanh trưởng. ban vui gọi là Từ, cứu khổ gọi là Bi.

4-Luận về diệu dụng:

Bản văn này dùng sự ban vui cứu khổ làm diệu dụng. Đem tâm Từ, Bi quan sát bốn diệu đế (Catvàri àrya satyàni: duhkha, samudaya,nirodha,màrga), phát bốn lời nguyện rộng lớn (To save all living being without limit, to put an end to all passions and delusions however numerous, to study and learn all methods and means without end, to become perfect in the supreme Buddha-law), không ngoài diệu dụng ban vui, cứu khổ cho toàn thể chúng sanh.

5-Chỉ tướng trạng:

Bản văn này dùng phương đẳng sanh tô làm giáo tướng. Trọn đời thuyết pháp lợi sanh của đức Từ phụ chia ra làm năm thời: Hoa nghiêm (Avatamsaka), A hàm (agama), Phương đẳng (Vaipulya), Bát nhã (Prajnà) và Pháp hoa, Niết bàn (Saddharmapundarika, Nirvàna). Thí dụ cho năm vị: Sữa nguyên chất (nhũ), màn sữa (lạc), sữa sống (sanh tô), sữa chín (thục tô), sữa đặc (đề hồ). Bản văn này thuộc về thời thứ ba, mà không nhiếp thuộc bốn thời khác. Thời thứ ba là thời giáo pháp từ Tiểu thừa (Hìnayàna) sang Đại thừa (Mahàyàna).

Bản văn này chia ra ba đại khoa, cũng như ba phần chính của các bộ kinh khác: Phần tựa từ câu đầu đến câu “ Mới được gọi là chân chính phát tâm Bồ đề vậy” Phần Chánh tôn từ câu “ Tâm Bồ đề này vượt hơn các việc tu thiện khác” đến câu “Đây là nhân duyên thứ mười phát tâm Bồ đề vậy”. Phần Lưu thông từ câu “ Mười nhân duyên như thế đủ biết” cho đến cuối tập văn.

Tổng quát phần tựa:

Phần tựa có chung và có riêng. Các bộ Kinh đều có phần tựa chung, vì từ Tây độ truyền sang, nên phải có tựa chung để làm chứng tín. Bản văn này trước tác từ Đông độ, mọi người đều tin tưởng chắc chắn không sai, Do đó nên không có tựa chung mà chỉ có tựa riêng. Tựa riêng cũng gọi là “ Tựa phát khởi”. Phần tựa này chia thành hai khoa:

A-TÂM NGUYỆN LÀ BƯỚC ĐẦU CỦA SỰ TU HÀNH:

“Tôi là Thật Hiền, một vị Tăng phàm phu bất tiếu. Hết lòng cúi xin bộc bạch cùng Đại chúng hiện tiền và toàn thể thiện nam tín nữ v.v… Xin mở rộng lòng từ bi, gia tâm xét lại. Tôi từng nghe nói yếu điểm cho người vào đạo, việc phát tâm làm đầu mối cấp bách cho sự tu hành, lập nguyện là tiên phuông, thiết yếu. Có lập nguyện, hành giả mới độ tận chúng sanh, phát tâm mạnh mẽ thì mới trọn thành Phật quả. Nếu hành giả không phát tâm rộng lớn, lập nguyện vững bền, thì dù trải nhiều kiếp số, sự luân hồi (samsàra) vẫn y nguyên tồn tại. Mặc dù có tu hành, cũng chỉ luống công không được giải thoát. Vì thế cho nên trong kinh Hoa Nghiêm (Avatamsaka Sùtra) đã nói: “ Quên mất tâm Bồ đề, thực hành các pháp lành chỉ trở thành ma nghiệp”. Quên mất mà còn bị như thế, huống chi là chưa phát tâm? Vì lẽ đó, chúng ta nên biết rằng muốn học tập Như Lai Thừa (Tathàgatayàna), trước phải phát đầy đủ nguyện Bồ tát (Bodhisattvapranihita) không thể trì hưỡn được”.

Đoạn văn này nói tổng quát tâm nguyện thứ nhứt, mà cũng là một khoa trước tiên về sự tu tập. “ Phàm phu” là hạng người tầm thường, không thông minh xuất chúng , không sáng suốt giác ngộ. “ Bất tiếu” là không phải bậc hiền thánh. Vì trong pháp hội lúc bấy giờ có đủ các từng lớp trong thiên hạ: già trẻ, nam nữ, tăng tục, có nhiều vị tu Bồ tát hạnh hay theo lời nguyện tái sanh làm Đạo sư cho pháp giới chúng sanh , theo kiểu “ nội bí, ngoại hiện”, khó biết được tất cả, nên Tổ sư phải dùng lời khiêm tốn, tự xưng là phàm phu bất tiếu. Chữ tăng nói cho đủ là Tăng giả (Sangha) nghĩa là hòa hiệp chúng. Đây là lời tự tín của Tổ sư. Nói về chữ hòa tức là lục hòa: Thân hòa cùng ở, miệng hòa không tranh cãi, ý hòa cùng vui vẻ, giới hòa cùng tu, thấy hòa cùng giải, lợi hòa cùng chia.

Câu “ hết lòng cúi xin…” vì chúng sanh trôi lăn trong đường sanh tử, không có kỳ hạn thoát ra, nên Tổ sư khuyên người phát tâm tu tập để liễu thoát sanh tử. Ngài đem tâm chí thành khẩn thiết, mong cầu chúng sanh phát tâm Bồ đề (Bodhi Citta). Chính cũng như Ngài Thường Bất Khinh Bồ tát (Sadàparibhuta Bodhisattva) mỗi khi gặp bất cứ ai cũng đều xá chào, lễ lạy chúc nguyện “ Các vị đều sẽ thành phật” “ Nhữ đẳng giai đương tác Phật).

Câu “ Bộc bạch cùng đại chúng hiện tiền” là muốn biểu lộ lòng thương xót, nên dùng tiếng lân mẫn để nói lên những lời thống thiết cùng mọi người, mọi giới. “Đại chúng hiện tiện” là thính chúng hiện đang ngồi nghe giảng, không phải quá khứ, cũng không phải vị lai, nên gọi là hiện tiền đại chúng.

Câu “ toàn thể thiện nam tín nữ v.v…” là chỉ cho đại chúng trong hội Niết Bàn (Nirvàna) lúc bấy giờ. Bản văn này đã được truyền bá khắp mọi nơi, cho nên nói toàn thể tức là các từng lớp người thới bấy giờ, hoặc lưu truyền cho toàn thể thiện nam, tín nữ đời vị lai. Đức tin là nguồn đạo, là từ mẫu các công đức lành, ai có lòng chánh tín, mới có thể học tập nghiên cứu bản văn này. Từ đây phát tâm, do đây lập hạnh. Một niệm thanh tịnh không có vọng tưởng tạp niệm, chúng ta mới có thể chân thật tín chứng.

“ Xin mở rộng lòng Từ bi”… “ Xin” là lời cầu mong “ mở rộng” là tâm niệm đã phát khởi. Đem tâm tha thiết, phát khởi lời đại nguyện. Tổ sư hy vọng đại chúng hiện tiền, phát khởi tinh thần mạnh mẽ, nghe Ngài khuyến cáo trong các đoạn sau..

Câu “ gia tâm xét lại” là biết đại chúng hiện tiền phần đông đều đa đoan công việc, nhưng văn cú, đề mục quá dài, Ngài muốn đại chúng lưu ý, nên bảo “gia tâm”. “Xét lại” là khéo suy nghĩ kỹ, nghe giảng mà thiếu sự xét lại là nghe qua loa không lợi ích nhiều cho thân tâm. Nghe là văn huệ (from hearing), xét lại là tư huệ (from reflection), xét lại rồi mới có thể thực hành gọi là tu huệ (from pratice). Nghe chỉ được phước lợi, xét lại mới có thể sanh trí huệ.

“ Từng nghe nói yếu điểm cho người vào đạo v.v…” “ Từng nghe” là từng nghe trong kinh điển của chư Phật thuyết ra, chớ không phải Tổ sư nói ra. Bồ đề là cánh cửa mầu nhiệm, chúng ta cần phải đi vào, nếu không thì phải chịu trầm luân nhiều kiếp lâu dài, khó lòng giải thoát (mukti). Nếu không phát tâm thì làm sao tiến bước trên đường đạo hạnh. Nếu hay phát tâm thì dù đường sá xa xôi “ thiên sơn vạn thủy”, cũng không có gì đáng sợ sệt cả. Sự tu hành có nhiều pháp môn như: Tu Tịnh độ (Sukhàvàti), tu các hạnh thiện thế gian (loka-kusala), tu hạnh xuất thế, giới (Sìla), định (samàdhi) và huệ (prajnà).

“Lập nguyện là v.v…”  lập nguyện như đức Phật Thích Ca (Sàkyamuni-Buddha) lập bốn lời nguyện rộng lớn, nên dễ dàng thành tựu đạo Vô thượng Bồ đề (Anuttara-Bodhi). Đức Quán Thế Âm Bồ tát (Avalokitesvara Bodhisattva) phát mười hai lời đại nguyện, chi nên có thể thực hành đạo Bồ tát (Bodhisattvamàrga). Đức Phổ hiền Bồ tát (Samantabhadra Bodhisattva) lập mười đại hạnh nguyện cho nên thành tựu công đức Như Lai (Tathàgata) . Phật A Di Đà (Amitàbha-Buddha) phát bốn mươi tám lời nguyện, nên dễ dàng thành Phật ở thế giới Cực lạc (Sukhàvati-loka).

Bốn lời thệ nguyện rộng lớn là:

Chúng sanh không số lường, thệ nguyện đều độ khắp,

Phiền não không cùng tận, thệ nguyện đều dứt sạch,

Pháp môn không kể xiết, thệ nguyện đều tu học,

Phật đạo không gì hơn, thệ nguyện được viên thành.

Tâm chúng ta có phát khởi thì cánh cửa cốt yếu mới được mở rộng. Bồ đề là pháp của Phật, Phật là bậc Giác Ngộ, Chư Phật là người năng chứng, Bồ đề là pháp được chứng.

“ Tâm  rộng lớn” là từ xưa đến nay nhận lầm vọng tâm, không biết chân tâm của chúng ta, dọc cùng ba đời[8], ngang khắp mười phương [9], Tổ sư muốn chúng ta phát tâm, chính là phát tâm rộng lớn ấy. Chúng sanh nhiều vô số, chúng ta cần phải hóa độ họ trong tinh thần và tâm niệm rộng lớn đó. Vì chúng ta và tất cả chúng sanh liên quan rất mật thiết nên chúng ta muốn phát tâm độ họ, phải độ khắp tất cả. Sự mong cầu của tâm gọi là Nguyện, yếu chế của nguyện gọi là Thệ. Người mới phát tâm tu tập giữa đường gặp khó khăn thường hay thối chuyển. Cho nên có bài tụng nói: Như “ Trứng cá và bông xoài, mới phát tâm Bồ-tát, thời gian đầu rất nhiều, kết quả chỉ số ít”. Do đó, nên cần phải thiết yếu chế ngự. Như bài kệ trong khế kinh đã nói: “ Giả sử bị vòng sắt mang trên trán,không nên quên mất tâm Bồ đề”. Nếu chỉ phát tâm sơ sài thực hành một ít hạnh môn, đâu có thể liễu thoát sanh tử, lên,xuống,qua,lại, như bánh xe quay tròn, cho nên gọi là luân hồi (Samasàra). Tạo phước được sanh lên cõi trời, khi hưởng hết phước bị đọa lạc, có khi sanh làm người giàu sang, đến khi mạng sống chấm dứt, của cải tiêu tan, cho nên nói “ luống công khó nhọc”.

Từ câu “ Trong kinh Hoa nghiêm” đến câu “ huống chi là chưa phát tâm ư?”. Đây là đem kinh Hoa nghiêm (Avatamsaka sutra) làm bằng chứng.Khi đức Phật Thích Ca (Sàka Buddha) mới thành bậc Chánh Giác (Sambuddha), xứng theo “pháp giới tánh” (Dharmadhàtuta) đã diễn nói kinh pháp Đại thừa này. Lý của kinh Xưa kia có một vị Bồ Tát gặp Phật, đã phát tâm Bồ đề, về sau tu trong thế gian, thực hành Bồ Tát đạo, nhưng vì quên mất chỗ phát tâm lúc trước, mà phải bị thối thất đạo tâm..Không nhớ gọi là “quên”, trong lòng không còn nghĩ ngợi là “mất”. Trong hàng Ma vương (Màra Ràja) cũng có người tu pháp thập thiện [10], nhưng chưa được kết quả tốt, vì chưa phát tâm rộng lớn. Vì thế họ chỉ hưởng phước báo được sanh lên cõi trời Dục giới (Kàmadhàtu), biến hóa tự tại, hưởng thụ đủ cách. Các cảnh khoái lạc làm họ mê đắm rất khó phát tâm mạnh mẽ, nên họ phải trôi lăn mãi trong Dục giới.

Không ứng dụng tâm Bồ đề tức là dùng tâm sanh diệt. Tâm sanh diệt là pháp hữu vi (Samskrtadharma), mặc dù sanh lên các cõi Trời, nhưng vẫn chưa khỏi nghiệp chướng nội ma, thường gọi là “ma nghiệp” khuấy phá. Sự tu tập ngày nay, y theo tôn chỉ Tịnh độ, phát nguyện cầu sanh Tây phương, nếu không gia công phát tâm Bồ đề cũng đồng với ma chướng.

Có người hỏi: “ Sự mong cầu được sanh về Tây phương (Sukhàvtì) cùng sự phát tâm Bồ đề làm sao phân biệt được?” Trả lời: “ Cũng là một, mà cũng là hai, vì sao? Vì có người tinh tấn niệm Phật, chí thành cầu nguyện, quyết định sẽ được về Lạc quốc. Đây là nguyện vọng về Tây phương , mà cũng tha thiết cầu mong tất cả chúng sanh đồng sanh Cực lạc, tức là phát tâm Bồ đề. Có tâm Bồ đề, khi sanh về Tây phương, chắc chắn được lên Thượng phẩm Thượng sanh, nếu không phát tâm Bồ đề, dù được vãng sanh về Tây phương cũng chỉ được vào hàng Trung phẩm trung sanh. Điểm này rất quan yếu, chúng ta cần phải ghi nhớ phụng hành đến mức tối đa”.

“Chúng ta nên biết rằng muốn học Như Lai thừa…” Đạo nhiệm mầu sáng suốt tức là Tối Thượng Thừa (The Supreme vehicle) hay Như Lai thừa (The Tathàgata vehicle). Trong kinh Pháp Hoa có thí dụ chiếc xe “đại bạch ngưu” (The great white bullock-cart of the Lotus Sùtra), không đồng với những chiếc “dương xa, lộc xa” (The inferior,deer carts) của hàng Thinh văn (Sràvaka), Duyên giác (Pratyekabuddha) mà cũng không thể so sánh những chiếc “ Thủy ngưu” (The water bullock cart) của hành Quyền Thừa  Bồ-tát (The temporary bodhisattva), cho nên gọi là “ Tối thượng thừa”

“Phát đầy đủ nguyện” là phát bốn lời nguyện rộng lớn. Chúng sanh nhiều vô số kể thệ nguyện độ. Rộng độ không dễ, phiền não không đoạn, không thể nào độ tận chúng sanh. Phiền não không tận cùng tận, thệ nguyện dứt sạch. Muốn đoạn phiền não phải học nhiều pháp môn. Do đó nên nói: Pháp môn không lường thề quyết phải học tập. Ba lời nguyện trên đã phát, nhưng chưa lập nguyện thành Phật, thì không có mục đích, nên chúng ta phải phát nguyện thành Phật. Đây là phát đầy đủ đại nguyện vậy.

B-PHÂN BIỆT TÂM NGUYỆN LÀ TIÊU CHUẨN LẬP HẠNH

Nhưng tâm nguyện sai khác, có nhiều tướng trạng không đồng, nếu không chỉ bày rõ ràng làm sao tiến thủ? Nay vì Đại chúng lược nói có tám tướng trạng khác nhau, đó là: Tà, Chánh, Chân, Ngụy, Đại, Tiểu, Thiên, Viên. Thế nào là tà, chánh, chân, ngụy, đại, tiểu, thiên , viên? Trong đời này có nhiều người tu hành hướng về một chiều, không xét đến tự tâm (tâm của chính mình), chỉ lo các việc bên ngoài, hoặc cầu các việc lợi dưỡng, hoặc thích tiếng khen, hoặc ham dục lạc hiện đời, hoặc hy vọng quả báo đời sau, Ai phát tâm như thế gọi là Tà. Không cầu lợi dưỡng và tiếng khen, lạo cũng không ham quả báo dục lạc (the joys of the five desires) chỉ vì liễu thoát sanh tử, chứng đạo Bồ đề.Phát tâm như thế gọi là Chánh. Mỗi ý niệm trên cầu mong thành Phật đạo, tâm thức lúc nào cũng nghĩ dưới hóa độ chúng sanh. Nghe thành được Phật đạo quá lâu xa, không sanh tâm thối chuyển, quán sát chúng sanh khó độ, không sinh tâm mỏi mệt. Như người lên núi cao muôn dặm, quyết tâm lên tận đỉnh, cũng như kẻ lên ngôi tháp chín tầng, phải lên đến tầng chót. Phát tâm như thế gọi là Chân. Có tội không sám hối, có lỗi không từ bỏ, trong nhơ nhớp ngoài làm như trong sạch. Trước siêng năng sau biếng nhác tuy có lòng tốt, phần  nhiều bị danh lợi xen vào,mặc dù có nhiều pháp lành, lại bị tội nghiệp nhuốm nhơ. Phát tâm như vậy gọi là Ngụy. Độ hết chúng sanh trong thế giới, lời nguyện của ta mới hết, thành tựu được đạo Bồ đề, lời nguyện ta mới thành, ai phát tâm như thế gọi là Đại. Xem ba cõi[11] như lao tù, nhìn sanh tử như oan gia. Chỉ lo cho mình , không muốn độ người. Phát tâm như vậy gọi là Tiểu. Nếu người nào ngoài tâm thấy có chúng sanh, thấy có Phật đạo rồi nguyện cứu độ, nguyện khó thành tựu, công lao không quên, thấy biết không dứt. Phát tâm như thế gọi là Thiên, Nếu biết tánh mình là chúng sanh, nên nguyện độ thoát, tánh mình là Phật đạo nên muốn thành công, không thấy một pháp nào ngoài tâm riêng có, đem tâm hư không, phát nguyện hư không, thực hành hạnh hư không để rồi chứng quả hư không, cuối cùng cũng không có tướng hư không để tu chứng nữa. Người nào phát tâm như vậy gọi là Viên. Biết tám tướng trạng sai khác như thế thì biết xét kỹ, biết xét kỹ thì biết lựa chọn hoặc lấy hoặc bỏ, biết lấy bỏ là có thể phát tâm. Thế nào gọi là xét kỹ? Nghĩa là xem chỗ phát tâm của ta, trong tám tướng trạng ở trên, nó là tà hay chánh, chân hay ngụy, đại hay tiểu, thiên hay viên. Lấy hay bỏ thế nào? Tức là bỏ tà, ngụy, tiểu,thiên, lấy chánh, chân, đại viên. Phát tâm như thế mới được gọi là chân chính phát tâm Bồ đề vậy.

Đoạn trên đây là để phân biệt tâm nguyện, mà cũng là phần tiêu chuẩn lập hạnh vậy. Cả hai danh từ Phát tâm và lập nguyện, không thể không biện biệt.Nếu chúng ta gặp thầy sáng suốt, bạn hiền lương, thì sự phát tâm và lập nguyện của ta rất tốt, trái lại nếu gặp thầy và bạn ác, hướng dẫn ta phát tâm lập nguyện sai lầm rất là nguy hiểm, Người thường cũng có thể phát tâm lập nguyện, nhưng phải sáng suốt cẩn thận mới mong biết được đường chánh trong các nẻo đường tu tập. Tĩnh Am Tổ sư là bậc đại thiện tri thức, đủ sức phân biệt chỉ giáo, khiến chúng ta kính trọng phụng trì.

“ Tướng trạng” tức là hình thức phát tâm lập nguyện . Tà, chánh, chân, ngụy, đại, tiểu, thiên, viên, trong tám tướng trạng đó bốn tướng trạng trước khai thị chánh nhãn cho phàm phu, bốn tướng trạng sau  để chỉ thị cho hàng Nhị Thừa (sràvaka, Pritiyekabuddha) và Bồ tát (Bodhisattva). Đây là chỉ tiêu chuẩn về Nhân, Ngã tu hành vậy.

Tà, chánh v.v.. đều từ trên sự phân biệt của ý chí phát tâm, lập nguyện. Khi phát khởi tâm tà,