Kỷ
Yếu
Tưởng Niệm
Hòa Thượng Thích Trung Quán
(1918 – 2003)
Paris P.L 2547-2004
---o0o---
Mục lục
Lời
Ngỏ
Mùa
nắng ấm lại về, những đọt non xanh mát đang cười trong nắng sớm, mặt
trời được đánh thức bằng những tiếng ríu rít của bầy chim. Hoa đào nở
hồng cả gốc phố, nắng vàng rãi sáng khắp sân vườn. Không gian tỉnh lặng,
ấm áp chan hòa nhưng trong lòng của chúng con đều cảm nhận sự giá lạnh
khi chợt nghĩ đến hình bóng Tôn sư.
Mới đó
mà trãi qua mấy mùa trăng, tất cả tưởng chừng như giấc mộng chiều hôm,
anh em chúng con, ngồi quanh quần trong căn phòng để gom góp những hình
ảnh của tang lễ, soạn thảo những bài viết của những trái tim hướng về
Thầy. Lật đi lật lại những hình ảnh, đọc tới đọc lui những tư liệu về ân
sư để rồi chúng con chợt hiểu, làm sao có thể gom góp tất cả để kết
thành một kỷ niệm ghi lại dấu ấn vàng son một đời của Người?
Có lẽ
không bút mực nào có thể viết hết hàng trang của Thầy trong suốt hơn
nửa thế kỷ gửi thân cho Ðạo, có lẽ không có hình ảnh có thể ghi rõ nét
bao dung của Thầy trong hiện thân đầu tròn áo vuông. Tất cả chỉ là cảm
nhận của chúng con khi quỳ dưới chân Thầy. Tình thương vốn vô bờ, vòng
tay lại nhỏ bé vậy mà Thầy đã che chở và nuôi dưỡng anh em chúng con mấy
mươi năm dài. Y bát còn đây, giới thể còn đó, hình bóng Thầy vẫn hiển
hiện bàng bạt trong ký ức của mỗi chúng con.
Cuộc
đời tu hành của ân sư trải dài hơn 60 năm, từ Bắc vào Nam, sang Lào qua
Pháp, để gầy dựng ngôi nhà Phật pháp, tất cả hành trình nghe kể cũng rất
tình cờ. Như thể một chuyết đi xa, không mong cầu điều gì mới lạ chẳng
qua chỉ vì tấm lòng thành cẩn thiết tha với Ðạo, thực hiện hoài bảo của
người phát túc siêu phương để thiệu long thánh chủng, tiếp dẫn hậu lai,
báo Phật ân đức, đền đáp bốn ân.
Viết về
Sư cụ thì không thể diễn tả hết mọi điều, gìn giữ gom góp những tình cảm
đồng sư, đồng đạo, trân quý những thâm ân nghĩa phụ tử tình Thầy trò,
chúng con mạo muội làm thành quyển Kỷ yếu, ghi lại những hành trang của
Thầy, thể hiện những tình cảm của những người con, những pháp lữ dành
cho Thầy. Tất cả dệt nên những dòng chữ, kết thành những trang thơ, gói
ghém bao điều thương tiếc, hoài niệm trong trang giấy thơm để anh em
chúng con và những thiện tín mỗi khi đọc lại sẽ thấy Thầy mãi mãi trong
trái tim của mọi người.
Làm
công việc này, huynh đệ chúng con chỉ xin được thành tâm dâng lên cúng
dàng Giác Linh Hòa thượng Tôn sư cũng là để sách tấn anh em chúng con
trong bước đường tu học.
Kính
mong Chư tôn Thiền đức, thiện hữu tri thức từ mẫn cố đại từ mẫn cố bố
thí cho những khiếm khuyết trong tập Kỷ yếu này. Ðồng thời chúng con xin
thành tâm tri ân mọi sự đóng góp bài vở, hình ảnh, tư liệu và khuyến
khích của tất cả quý vị. Nguyện hồng ân Tam bảo che chở, gia hộ tất cả
chúng ta đầy đủ phúc duyên để luôn luôn được sống trong ngôi nhà Chánh
pháp, tôn kính Tam bảo, phát tâm phụng sự chúng sinh, cúng dàng chư Phật.
Trân trọng
Chùa Hoa Nghiêm, ngày 1 tháng 6 năm 2003
Ban thực hiện Kỷ yếu
Phần I
Tiểu Sử
Hòa Thượng Tôn Sư
Thượng Trung Hạ Quán
Nam Mô
Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Ðại Từ Ðại Bi A Di Ðà Phật
Nam Mô
Kim Liên Ðường Thượng Lịch Ðại Tổ Sư Tác Ðại Chứng Minh
I - Thân Thế
Hòa
Thượng Thích Trung Quán, đạo hiệu Thanh Quất, thế danh Vũ Thanh Quất
sinh ngày 9 tháng 6 năm Mậu Ngọ trong một gia đình hiền lương tại làng
Hạ Kỳ, phủ Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Ðịnh, miền bắc Việt Nam.
Thân
phụ là cụ ông Vũ Ðình Duật, thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Nhiên. Hòa
thượng là người con thứ hai trong gia đình gồm 2 trai và 2 gái.
II - Xuất Gia Tu Học
Hòa
thượng thân đọc lịch sử tổ Huyền Quang thi đỗ trạng nguyên mà vẫn cắt
tóc xuất gia, rời bỏ vinh hoa, không màn danh lợi, thiết tha cầu Ðạo,
lấy am tranh làm đạo tràng, nhận vải thô làm y phục; nhờ đó Hòa thượng
đã thấu hiểu lý vô thường của vạn hữu, mùi tạm bợ của quyền uy, Ngài
tìm đến Tổ đình Kim Liên (Ðồng Ðắc) Ninh Bình để tầm sư học đạo. Tổ đình
Kim Liên vốn là chốn địa linh nhân kiệt, sản sinh nhiều bậc xuất trần
thượng sĩ. Hòa thượng cầu xin thế phát xuất gia với Hòa thượng thượng
Ðức hạ Nhuận (Tổ Ðồng Ðắc). Sau đó, Ngài được Sư tổ truyền cho giới Sa
di và giới Tỳ khưu.
Từ khi
sơ tâm xuất gia, Ngài luôn tinh tiến tu hành, chuyên cần học tập giáo
pháp Phật đà và đặc biệt Ngài có nhân duyên thù thắng với bộ kinh Diệu
Pháp Liên Hoa; cho nên Ngài đã nhập tâm và hằng ngày đều trì tụng bộ
kinh Ðại thừa thâm nghĩa này. Dưới sự dìu dắt dạy bảo ân cần của Sư tổ,
cộng với sự quyết chí cầu tiến của bản thân. Hòa thượng luôn nhất tâm
học tập kinh luật và hành trì lễ bái, cung kính tôn trọng các bậc trưởng
thượng, hòa nhã nhún nhường với đệ huynh.
Hòa
thượng là một trong những đệ tử đắc pháp với Sư tổ Ðồng Ðắc (đức Ðệ nhất
Pháp chủ Giáo hội Phật giáo Việt Nam).
III – Sự Nghiệp Hoằng Truyền Chánh Pháp
Hòa
thượng được Tổ truyền thừa và giao trách nhiệm vào Nam để hoằng pháp.
Tại Thanh Minh thiền viện, Hòa thượng đã đem giáo lý Phật đà giảng dạy
và khai hóa tâm địa cho nhiều người hữu duyên.
Năm
1959, Hòa thượng nhận lời thỉnh cầu của cố đại Hòa thượng Thích Lương
Sơn (cụ Thanh Tuất) sang Ai Lao để hoằng dương Phật pháp. Ngài đã phát
huy vai trò “tác Như Lai sứ, hành Như Lai sự” tại nơi đây và là một
trong những vị đầu tiên truyền bá tư tưởng Phật giáo Ðại thừa tại xứ này.
Khắp 3 miền: Thượng, Trung, Hạ Lào, Ngài đã khai sơn cũng như đóng vai
trò lãnh đạo tinh thần 10 ngôi chùa. Trong những ngôi Phạm vũ huy hoàng
đó, nổi bậc nhất là ngôi chùa Phật Tích tại miền Thượng Lào (Luang
Prabang) và chùa Bàng Long tại thủ đô Viên Chăn.
Năm
1977, cố đại lão Hòa thượng Thích Chân Thường viện chủ chùa Quan Âm cung
thỉnh Hòa thượng sang Pháp hoàng dương Phật Ðạo, Ngài đã truyền bá Giáo
lý Ðại thừa tại các Tổ đình Quan Âm và Hồng Hiên.
Năm
1981, vì sự nghiệp “Hoằng pháp vi gia vụ, Lợi sinh vi bổn hoài” Hòa
thượng sáng lập chùa Hoa Nghiêm. Ðây là dấu ấn đầu tiên Ngài hóa Ðạo
trên đất Pháp.
Trong
hơn một thập niên, Hòa thượng đã kiến tạo thêm 2 ngôi chùa: Ðó là chùa
Pháp Vương tại Noyant và chùa Hoa Nghiêm tại Bruxelles (Vương Quốc Bỉ).
Ngoài ra, cũng có nhiều ngôi chùa đã nương vào công đức Ngài được thành
lập và suy tôn Hòa thượng là vị lãnh đạo tinh thần tối cao cho các đạo
tràng, tiêu biểu là chùa Phật giáo Việt Nam tại Seattle (Mỹ Quốc), chùa
Nhân Vương tại Troyes, chùa Hoa Nghiêm tại Grenoble, chùa Kim Quang tại
Bobygny, chùa Hộ Quốc tại Roubaix, chùa Từ Ân tại Bonneville.
Năm
1991 Ngài được cung thỉnh làm Yết - ma tại Giới đàn chùa Vạn Phật Thánh
Thành ở Mỹ quốc, trong Giới đàn này Hòa thượng Tuyên Hóa làm Ðàn Ðầu Hòa
thượng.
IV - Sự Nghiệp Dịch Thuật và Biên Soạn
Hơn 60
năm xuất gia tu đạo, với trình độ Phật học uyên thâm, quảng bác và giới
đức trang nghiêm, thanh tịnh; Hòa thượng được suy tôn là một trong những
tàng cây đại thụ cho Phật giáo Việt Nam tại Hải ngoại.
Ngoài
sự nghiệp tiếp dẫn hậu lai, báo Phật ân đức, Hòa thượng dành nhiều thời
giờ cho việc phiên dịch và biên soạn kinh điển để giúp Tăng Ni, Phật tử
có thêm tài liệu nghiên cứu, tu học. Hòa thượng đã để lại một gia tài
Pháp bảo vô giá. Trong gia tài Pháp Bảo trân quý này, nổi bậc nhất là:
bộ Ðại Trí Ðộ luận, kinh Hiền Ngu, kinh Phật Bản Tập Hạnh, kinh Thiện Ác
Nhân Quả, kinh Sám Hối Diệt Tội Trang Nghiêm Thành Phật, kinh Nghiệp Báo
Sai Biệt, kinh Ðại Thông Phương Quảng, kinh Phật Thuyết Ðại Thừa Tạo
Tượng Công Ðức, Chư Kinh Toát Yếu Truyện, kinh Vãng Sinh Luận, kinh Nhân
Vương Hộ Quốc, kinh A Hàm (cảo bản), Biện Minh Tu Chứng tập I, Biện Minh
Tu Chứng tập II, v.v..
Với
trên 30 tác phẩm biên soạn và dịch thuật, Hòa thượng đã để lại hàng hậu
học một gia tài Pháp bảo vô giá và góp phần xiển dương Chính Pháp làm
cho Giáo lý đức Phật trường tồn bất diệt.
V - Nhiếp Hóa Ðộ Chúng
Hòa
thượng đã truyền thụ Tam quy Ngũ giới, cho hàng nghìn thiện nam tín nữ
từ Việt Nam, đến Ai Lao, rồi các nước trên Châu Âu cũng như trên khắp
thế giới.
Tại các
đạo tràng ở Lào, Hòa thượng đã độ được hơn 20 vị Tăng và hơn 30 vị Ni
xuất gia cũng như ngàn nghìn thiện nam, tín nữ quy y.
Nơi Tổ
đình Hoa Nghiêm, Paris Pháp quốc, Hòa thượng đã thế phát xuất gia và lập
đàn truyền giới cho 12 vị Tăng và 26 vị Ni, đồng thời hàng nghìn thiện
nam, tín nữ cũng phát tâm quy y và thụ giới với Ngài.
Những
đệ tử xuất gia trung kiên với Hòa thượng như: Thượng tọa Thích Minh
Chiếu, Thích Ðức Thắng; Ðại đức Thích Minh Ðịnh, Thích Minh Ðăng, Thích
Viên Giác, Thích Viên Mãn… Các vị đệ tử xuất gia nay y chỉ với Hòa
thượng như: Ðại đức Thích Viên Minh… Về Ni giới như: Ni sư Thích Nữ Ðàm
Lương (nay kế vị Hòa thượng trong chức vị Trú trì tổ đình Hoa Nghiêm),
quý Sư cô Thích Nữ Ðàm Phương, Thích Nữ Ðàm Chất, Thích Nữ Ðàm Liên,
Thích Nữ Ðàm Như…
VI - Lập Hạnh Tu Trì
Hòa
thượng bản tính vốn hiền hòa, Ngài thường dùng thân giáo hơn là khẩu
giáo để khích lệ tứ chúng tu hành. Suốt cuộc đời tu hành, Hòa thượng chỉ
một lòng với Ðạo, lấy sự tu nhẫn nhục làm đầu, nương đức từ bi hỷ xả làm
trọng, lập nguyện bố thí làm hạnh, lục thời lễ lạy Hồng danh chư Phật,
trì tụng bộ Ðại thừa Diệu Pháp Liên Hoa kinh. Ðó chính là thời khóa công
phu hằng ngày của Hòa thượng, dù trong lúc khỏe mạnh hay khi tứ đại bất
hòa, Ngài vẫn không bao giờ xao lãng.
Một nét
đẹp trong cuộc đời hành đạo của Hòa thượng là cho dù ở đâu, trong hoàn
cảnh nào, Ngài cũng lập chùa, tạo tượng. Nhiều tôn tượng đức Bổn Sư, chư
vị Bồ tát do chính tay Ngài đắp lấy. Ðó cũng là một hạnh nguyện đặc biệt
rất hiếm có với bất kỳ Tăng sĩ nào.
Rồi,
thời gian đã trãi qua hơn nữa thế kỷ, dù hoàn cảnh có đổi dời, xuân hạ
thu đông 4 mùa thay áo, Hòa thương hoằng pháp ở bất cứ nơi đâu, giáo hóa
chúng sinh ở bất cứ nơi nào. Ngài từ sơ tâm xuất gia cho đến ngày nay
vẫn chỉ có ba y, bình bát cùng với công phu tu hành, lập nguyện độ sinh,
khiêm cung hòa nhã, mà đức độ của Ngài vẫn tỏa sáng khắp mọi nơi làm
bóng mát che chở cho muôn người, làm gương sáng cho hàng tứ chúng nương
tựa.
VII – Viên Tịch
Thế rồi:
Sinh như thể đắp chăn đông
Tử như cởi áo hạ nồng khác chi
Xưa nay các pháp hữu vi
Không sao tránh khỏi biệt ly vô thường
Dòng
thời gian dần trôi, nhật nguyệt hằng đắp đổi. Bước chân Hòa thượng ngày
càng mệt mỏi, thân tứ đại hiển hiện lý vô thường, Hòa thượng đã nhẹ gót
quy Tây, xả bỏ báo thân, hội nhập pháp thân thường trụ vào lúc 2 giờ 30
phút sáng ngày 1 tháng 4 năm 2003 (nhằm ngày 30 tháng 2 Quý Mùi), trụ
thế 86 năm, hạ lạp 66 tuổi.
Thế là
Hòa thượng đã từ bỏ huyễn thân trong cõi hồng trần, đi vào cõi Niết bàn
bất sinh bất diệt, nhưng gương sáng về trí tuệ, giới hạnh và tinh thần
phục vụ Ðạo pháp của Ngài vẫn còn lưu mãi với thế gian, trong tâm tư ký
ức của những người con Phật và trong lịch sử Phật giáo hiện tại và mai
sau.
Nam Mô
Ma Ha Sa Môn Tỷ Khưu Bồ Tát Giới Thích Trung Quán, Hiệu Thanh Quất, Ðại
Lão Hòa Thượng Thiền Tọa Hạ Tác Ðại Chứng Minh.
Phần II
Ðiếu văn, tưởng
niệm, cảm tạ ban tổ chức
Thượng Thủ
Giáo-Hội Phật-Giáo Việt-Nam Trên Thế-Giới
Ðiếu Niệm
Giác Linh Cố Hòa-Thượng Thích-Trung-Quán
Viên-tịch tại chùa Hoa Nghiêm, Paris, 02 giờ
30 sáng ngày 01.04.2003 (30.02.Quý mùi), hưởng thọ 86 tuổi
Nam Mô
Bổn Sư Thích Ca Mưu Ni Phật
Kính
bạch Chư tôn Hòa thượng, Thượng tọa, Ðại đức Tăng, Ni,
Kính
thưa chư vị trong Môn đồ, Pháp quyến,
Kính
thưa chư vị Phật tử,
Hôm nay
là ngày thứ bảy: 12 tháng 04 năm 2003, tức ngày 11 tháng Ba năm Quý mùi,
Phật lịch 2547, ngày tiễn đưa kim quan lên trà tỳ, hỏa thiêu nhục thân
cố Hòa thượng Thích Trung Quán.
Trước
kim quan Hòa thượng, tôi nhất tâm mật niệm Giác linh Hòa thượng: “Sa-bà
báo mãn, Cực-lạc hoa khai, Sinh tử băng tiêu, chân thân tự tại, thể nhập
Vô-sinh” và chia buồn cùng môn đồ, pháp quyến.
Tôi
cũng xin chân thành tri ân công đức chư tôn Hòa thượng, chư Thượng tọa,
Ðại đức Tăng, Ni cùng chư thiện tín đã phát tâm vô ngại, trợ niệm về mọi
mặt từ ngày mất, đến lễ trà tỳ, tang lễ cố Hòa thượng được nhiều phần
chu tất.
Giờ
đây, trong đạo tình, tôi xin phép, được ngỏ ít lời cùng cố Hòa thượng
Trung Quán:
“Hòa
thượng Trung Quán, tôi được gặp Hòa thượng tại chùa Ðồng Ðắc, huyện Kim
Sơn, tỉnh Ninh Bình.
Tôi có
duyên cùng Phật pháp, được học và được thụ giới Sa di tại chùa Ðồng Ðắc
năm tôi 17 tuổi (tức năm 1937) và thụ Tỳ Khưu giới năm 20 tuổi (tức năm
1940), tại chùa Bát Long của Tổ Phúc Chỉnh, cạnh thị xã Ninh Bình.
Tôi
tham học tại chùa Ðồng Ðắc, một nơi, đông đảo Tăng Ni về tu học, được
coi như Phật học đường, do Hòa thượng Pháp chủ Thích Thanh Thiệu, thế
danh Phạm Ðức Nhuận chủ trì. Sau năm thụ Tỳ Khưu giới, tôi thường đảm
trách chức vị Tri khách và Duy na tại Phật học đường Ðồng Ðắc. Năm tôi
giữ chức vị Tri khách, Phật học đường Ðồng Ðắc, tôi gặp Hòa thượng, khi
đó, Hòa thượng là chàng trai họ Vũ. Tôi tiếp chàng trai có đôi mắt sáng.
Tôi được tỏ bầu tâm sự và có ý nguyện xuất gia. Tôi thương cảm và khích
lệ thêm. Tôi hướng dẫn chàng vào đỉnh lễ Hòa thượng Pháp chủ. Ngài hoan
hỷ chấp thuận cho chàng trai họ Vũ, thế phát xuất gia làm đệ tử của Ngài
và, được pháp danh là Thanh Quất.
Sau vài
năm là tới năm 1945 là năm, miền Bắc Việt Nam, mất mùa, đói lạnh, Nhật
đảo chính Pháp. Tháng Ba năm 1945, tôi hướng dẫn Sa-di Thanh Phước và
Hòa thượng, ba anh em gòng gánh đi tham học tại chốn Tổ Phù Lãng, Bắc
Ninh. Tháng 8 năm 1945, chúng ta trở về Ðồng Ðắc. Hòa thượng làm Thị giả
cho Hòa thượng Pháp chủ, Thanh Phước tìm nơi ẩn tu và tôi đi dạy học tại
chốn Tổ Phượng Ban, làm Phật sự tại vùng Ninh Bình vào năm 1948, Hòa
thượng Pháp chủ đặc cử tôi trụ trì chùa Phúc Ðiền, làm Bí thư tòa Giám
Luật Phật giáo Ninh Bình, Chủ tịch Phật giáo Kim Sơn kiêm Chủ tịch Phật
giáo Nam, Ninh, Thanh, Thái. Tuy bận Phật sự, nhưng mỗi mùa an cư, tôi
đều gặp Hòa thượng tại chốn Tổ Ðồng Ðắc. Sau năm 1954, di cư vào Nam,
tôi biết Hòa thượng ở bên Lào, tôi có sang thăm tại chùa Phật Tích
(Luang Pranbang). Sau năm 1975, tại Pháp, tôi thỉnh Hòa thượng về an trụ
tại chùa Hồng Liên, Fréjus do tôi lãnh đạo tinh thần.
Với Hòa
thượng, trong lúc trẻ, sớm thức tỉnh, tìm đường giải thoát, nên tính
tình Hòa thượng ít nói cười, ít giao dịch, ít xông pha cho Phật sự,
chuyên tâm tu niệm, xem sách, dịch kinh và tùy duyên độ chúng, làm chùa.
Ngày nay, Hòa thượng còn có những Tăng Ni kế thừa, còn có những chùa
truyền lưu lại, còn có những người được xem kinh sách của Hòa thượng để
tiến tu, công đức ấy thực đáng tán thán.
Tuổi về
già, trong bảy, tám năm nay, Hòa thượng vẫn khỏe, nhưng mang trong người
một chứng bệnh hơi khó chịu, mỗi khi sang Pháp, tôi tới thăm Hòa thượng.
Tôi thương cảm Hòa thượng! Ðột nhiên, khi tôi đang làm Phật sự tại Mỹ,
được tin Hòa thượng thị tịch vào 2 giờ 30 sáng ngày 01 tháng 04 năm
2003. Hòa thượng thọ 86 tuổi.
Thôi,
chúng ta gặp nhau trên cõi đời, chúng ta sống đạo trong giữa đời, chúng
ta hiểu đời quá rõ. Mỗi người một công hạnh. Hòa thượng làm trọn cuộc
đời, Hòa thượng an nhiên, theo chân các bậc Tiên-giác trở về nơi Niết
bàn tịch tĩnh. Tôi mong, những người thừa kế công nghiệp của Hòa thượng,
noi gương Hòa thượng, cố gắng tiến tu và hòa đồng cùng đại chúng đem lại
nhiều lợi lạc cho đời và cho đạo.
“Tâm
cảnh như như chỉ giá thị, hà lự bồ đề đại bất thành”.
Hòa
thượng! “An định thức thần, vô sinh trực vãng!”.
Ðiếu Văn
Hòa thượng Thích Minh Tâm
Nam Mô
Bổn Sư Thích Ca Mưu Ni Phật
Kính bạch Hòa
thượng Thượng Thủ,
Kính
bạch Chư tôn Hòa thượng, Thượng tọa, Ðại đức Tăng, Ni,
Kính
thưa Môn đồ pháp quyến cố Ðại lão Hòa thượng Thích Trung Quán.
Sự ra
đi của cố Ðại lão Hòa thượng trong lúc này, quả là một mất mát to lớn
đối với Giáo hội, đối với chư Tăng Ni, nhất là hàng hậu học, những người
mới phát tâm xuất gia, cần phải nương nhờ nơi ân đức của bóng cây cổ thụ,
của các bậc tôn trưởng. Giờ đây, Ngài đã ra đi… Giáo hội Phật giáo Việt
Nam Thống Nhất Âu Châu xin chân thành phân ưu cùng với môn đồ pháp quyến
của cố Ðại lão Hòa thượng và nguyện cầu Giác linh cố Hòa thượng Cao Ðăng
Phật Quốc, Thượng Phẩm Thượng Sanh, Ðắc Vô Sanh Pháp Nhẫn, nhiên hậu
hoàn đáo ta bà, hướng dẫn hậu lai theo con đường tu hành, báo ân Phật
đức mà cố Hòa thượng đã vạch ra từ bao lâu nay.
Kính
bạch Giác linh cố Hòa thượng,
Ðối với
Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất Âu Châu, với cương vị Chứng minh
Ðạo Sư, Ngài luôn luôn hoan hỷ phủ dụ, khuyến tấn Tăng Ni trong sứ mệnh
hoằng pháp lợi sinh. Mặc dầu Ngài tuổi cao, sức yếu, không thể trực tiếp
gần gũi. Nhưng mỗi lần chư Tăng Ni đến vấn an đảnh lễ, Ngài đều ân cần
thăm hỏi, khích lệ tu hành. Ðó là những thông điệp quý báu gởi đến tất
cả hàng Phật tử, nhất là giới xuất gia luôn luôn coi trọng để học hỏi,
noi theo. Ân đức cao cả đó, không làm sao có thể quên được.
Riêng
đối với chùa Khánh Anh thì cá nhân chúng tôi không thể quên được ân đức
của cố Ðại lão Hòa thượng. Gần đây thôi, khi rước tôn tượng Bổn Sư về
chùa mới và làm lễ tôn trí vào ngày 20/10/2002. Chúng tôi nghĩ rằng ngôi
chùa cũng chưa hoàn thành và sức khỏe của Hòa thượng cũng không được khả
quan cho lắm. Nên không dám cung thỉnh Ngài đến chứng minh buổi lễ.
Trong lòng nghĩ đến ngày đại lễ an vị hay Khánh thành sẽ tổ chức trang
nghiêm trọng thể hơn, và lúc đó sẽ cung thỉnh Hòa thượng. Nào ngờ trưa
hôm ấy, Ngài đột suất viếng thăm đạo tràng chùa Khánh Anh mới ở Evry
giữa tiếng reo mừng của Phật tử và sự xúc động của chư Tăng, Ni hiện
diện hôm đó.
Hôm
nay, ngày Lễ an vị tại chùa Khánh Anh cũng chưa tới, ngày đại lễ Khánh
thành lại còn xa hơn. Nhưng Hòa thượng đã ra đi về cảnh giới của chư
Phật. Chắc Ngài đã biết trước điều này chăng, nên mới có sự xuất hiện
bất ngờ ngày hôm ấy. Ðó là hình ảnh sau cùng của Hòa thượng đã khích lệ
chúng tôi rất nhiều để cố gắng hoàn thành ngôi Tam Bảo ngõ hầu cúng
dường chư Phật, chư liệt vị Tổ Sư đã dày công thắp sáng ngọn đèn Chánh
pháp trong hoàn cảnh khó khăn ở hải ngoại từ bao lâu nay.
Kính
bạch Giác linh Hòa thượng,
Kính
thưa chư Tôn Ðức và quý liệt vị,
Lẽ vô
thường không ai tránh khỏi. Các pháp hữu vi đều không ra khỏi vòng sinh
diệt. Nhưng vẫn còn mãi mãi những gì không bị chi phối trong tử sanh
biến đổi thường tình.
Chính
vì lẽ đó, trước giờ di quan, trả huyễn thân trở về cát bụi, đệ tử tứ
chúng, chư Tăng, Ni chí thành cầu nguyện Giác linh cố Hòa thượng luôn
luôn hiện chứng trong cảnh Vô Dư Niết Bàn để hóa độ chúng sanh đồng
thành Phật đạo.
Nam Mô
Từ Lâm Tế Chánh Tông, Nhịp Thập Thất Thế, húy thượng
TRUNG hạ
QUÁN Giác linh Hòa thượng tác đại chứng minh.
Cảm niệm Ân Sư
của Môn Ðồ
Pháp Quyến
(Ðọc trước giờ cung thỉnh Kim quan Hòa thượng
Trà tỳ, ngày 12/04/2003)
Nam Mô
Tiếp Dẫn Ðạo Sư A Di Ðà Phật
Kính
bạch Giác linh Hòa thượng Tôn sư
Ðất Pháp hôm nay trải nắng vàng
Hoa Nghiêm cảnh vật đượm màu tang
Thầy đà yên nghỉ nghìn thu giấc
Ngơ ngác chúng con lạc mất đàn.
Than
ôi!
Chỉ còn
vài giây phút nữa thôi, chúng con thực sự vĩnh viễn không còn nhìn thấy
tôn dung của Ân-sư, mãi mãi không còn được quỳ dưới chân Người để được
nghe những lời giáo huấn khi tiết hạ hay xuân về. Tất cả chỉ còn ghi
trong ký ức, cô đọng thành những nét son tô đậm tình phụ tử, nghĩa thầy
trò.
Nhớ lại
ngày nào!
Từ khi
huynh đệ chúng con có cơ duyên xuống tóc theo Thầy xuất gia, Tôn sư đã
hết lòng răn dạy bao điều không những chỉ bằng ngôn từ trong Tam Tạng
Thánh Ðiển mà còn qua thân giáo uy nghiêm.
Chúng
con từng nghe!
Thân giáo dưỡng một đời nên huệ mạng
Nghĩa Tôn sư muôn kiếp khó báo đền.
Trong
kiếp đời này, huynh đệ chúng con thân được 3 y, tâm tròn giới thể đều
nhờ Ân sư mà được. Hiểu đạo nhiệm mầu, tinh tiến lễ tụng đều do Ân sư mà
nên. Thử hỏi công đức đó, ân thâm này bao thuở đền đáp cho cân?
Và rồi!
Tuổi đã cao niên vóc hạc gầy
Thanh cao cốt cách gậy cầm tay
Nắng chiều loang loáng vàng y áo
Ngõ trúc còn vương nhẹ gót thầy
Chúng
con mong tưởng Ân sư sẽ trụ thế lâu dài với chúng con trong mái ấm đại
gia đình Hoa Nghiêm, bởi vì huynh đệ chúng con tuy có lớn có nhỏ nhưng
đạo tâm chưa vững, đạo lực chưa sâu, chưa thể nào gánh vác được sự
nghiệp Tôn sư đã suốt đời gầy dựng. Nhưng nào ngờ:
Trăng Lăng già im bóng
Mây Linh thứu ngừng trôi
Bát nhã thuyền rời bến
Hương sen tỏa ngát miền.
Sự ra
đi của Ân sư là một sự mất mát to lớn của chúng con và của những người
thiện nam tín nữ một lòng khát khao mong tìm bình an trong tâm hồn.
Chúng con tự nghĩ: Cho dù trăm nghìn kiếp lăn lộn trong chốn nhân gian
cũng không thể nào tìm được vị Thầy đức độ khoan dung như Tôn sư. Thầy
đã sống một cuộc đời khiêm cung giản dị, lấy nhẫn nhục làm trang sức,
lấy từ bi làm gấm hoa. Cho nên, chúng con dù có khôn lớn đến bao nhiêu
vẫn mãi là những trẻ dại mỗi khi quỳ dưới chân Thầy.
Than
ôi!
Lẽ tử sinh còn còn mất mất
Luật vô thường sắc sắc không không
Thân người như đám bụi hồng
Như cơn gió thoảng như triều hương giang.
Giờ đây,
trước giờ phút thiêng liêng, huynh đệ chúng con quỳ trước Ân sư xin
nguyện thực hành những lời dạy qua thân giáo của Thầy, qua công hạnh của
Thầy và cúi xin Thầy tha thứ những lỗi lầm huynh đệ chúng con lỡ gây tạo.
Cúi xin Giác linh Hòa thượng Tôn sư thùy từ chứng giám. Và gia hộ cho
huynh đệ chúng con được đầy đủ tâm lực, đạo lực để gánh vác và phát huy
vĩ nghiệp mà Tôn sư để lại.
Huynh
đệ chúng con xin đê đầu bái biệt Ân sư tôn kính.
Nam mô
Tôn sư Ðại lão Hòa thượng húy thượng TRUNG
hạ QUÁN hiệu Thanh Quất Giác linh
thùy từ chứng giám.
Ân Thầy Nhớ Mãi
Ðọc tại buổi lễ Di quan của Sư cụ Trung Quán
tại chùa Hoa Nghiêm (Pháp Quốc) (Thứ bảy 12-04-2003)
Kính
bạch chư Tôn đức Hòa thượng, Thượng tọa, Ðại đức, Tăng Ni hiện diện
trong buổi Lễ hôm nay.
Kính
thưa quý vị đại diện các đoàn thể cùng quý đạo hữu, thân hữu.
Thay
mặt Phật tử của Hội Phật Giáo Hoa Nghiêm tại Pháp, chúng con xin thành
tâm đảnh lễ chư Tôn đức, Tăng Ni khắp nơi đã hoan hỉ vân tập tại nơi nầy
để cầu nguyện và tiễn đưa Giác linh của Sư cụ chúng con đi về cõi Phật.
Chúng
con không biết lấy gì để đền đáp thâm ân của chư liệt vị và chỉ xin cầu
nguyện thập phương thường trú Tam bảo gia hộ cho quý Hòa thượng, Thượng
tọa, Ðại đức Tăng Ni và quý liệt vị thân tâm thường lạc, pháp thể khinh
an, chúng sinh di độ, đạo quả viên thành.
Bây giờ
chúng con xin phép được bày tỏ vài lời với Sư cụ chúng con trước giờ
tiễn biệt.
Trước
khi tiễn đưa Kim quan của Sư cụ ra khỏi ngôi Tổ đình Hoa Nghiêm để đi
đến Les Ulis làm lễ Trà tỳ, chúng con xin thay mặt chư Phật tử hội Phật
Giáo Hoa Nghiêm bày tỏ vài lời tiễn biệt để nói lên tấm lòng tri ân sâu
xa của toàn thể tín đồ Phật tử Hoa Nghiêm nơi trú xứ của Sư cụ từ khi
Ngài đặt chân lên xứ lạ quê người.
Phần
đông Phật tử hiện diện hôm nay đều không quên một điều quan trọng là sau
những năm tháng biến động tại Vương Quốc Lào bắt đầu từ 1972, rồi sau đó
biến cố lịch sử đau thương năm 1975 tại Việt Nam, khiến cho một số đông
đồng bào Việt Nam chúng ta phải bỏ quê cha đất tổ và quê hương thứ hai
của họ tại Vương Quốc Lào cũng cùng chung số phận.
Thuận
theo sự thăng trầm của lịch sử, Sư cụ cũng đã phải từ bỏ ngôi chùa Bàng
Long tại Vientiane, thủ đô của Vương Quốc Lào để lánh nạn sang Pháp.
Ðã là
người xuất gia, sự ra đi của Cụ không phải như trường hợp của chúng con,
mà là để tiếp nối dìu dắt đàn con thơ dại, đã phải sống bơ vơ không nơi
nương tựa, mỗi khi đặt chân lên xứ lạ quê người, vì không được ai hướng
dẫn trong đời sống tâm linh.
Ðến xứ
Pháp chúng con được gặp lại Sư cụ, đang như người lạc lõng giữa biển
khơi, bỗng vớ được chiếc bè làm nơi nương tựa để vào bờ thoát khổ. Vì lẽ
ấy mà chúng con cũng như mọi người Việt sống ở Vientiane trước đây cùng
với một số người Lào gốc Việt đã tìm đến Sư cụ để được người an ủi, họ
quay quần chung quanh Sư cụ để mong được Người tế độ.
Duyên
quá khứ đã gieo, quả hiện tại đã trỗ, nên nhiều gia đình Phật tử đã đóng
góp nhân lực, tài lực và cổ động để ngôi Già Lam tại Villeneuve le Roi
do chính Sư cụ đặt tên là hội Phật Giáo chùa Hoa Nghiêm tại Pháp Quốc –
Paris được hình thành. Hoa Nghiêm ngày nay, sau gần 30 năm Phật sự đã
hiện diện trên khắp thế giới, công đức ấy làm sao nói hết được.
Lẽ
thường, có sinh phải có diệt, duy chỉ có pháp thân mới là thường trụ.
Nay thân tứ đại của Sư cụ đã hoại, nhưng hình bóng (pháp thân) của Sư cụ
vẫn tồn tại mãi trong tâm hồn chúng con. Nhờ sự giáo hóa của Sư cụ, Phật
tử Hoa Nghiêm trí khai, huệ mở, biết rõ việc thiện phải làm, việc ác
phải tránh, giữ tâm ý cho trong sạch, đó cũng là khế hợp với lời chư
Phật Thế Tôn đã dạy.
Sư cụ
đã không quản ngại nhọc nhằn, nhất là tuổi đã quá cao và sức lại yếu,
thế mà công việc giáo hóa của Sư cụ vẫn không gián đoạn. Nếu không có
được Sư cụ hướng dẫn tu tập thì có lẽ suốt cuộc đời nầy và mãi mãi cho
đến các kiếp vị lai, chúng con cũng chỉ sống mãi trong đêm dài tăm tối.
Cho nên với người Phật tử Hoa Nghiêm, việc tri ân cao quý nhất đối với
Sư cụ chính là pháp cúng dường có nghĩa là tuân theo lời Sư cụ đã chỉ
dạy, noi theo gương lành của Sư cụ, cố gắng làm những gì như Sư cụ đã
làm khi còn tại thế.
Giờ
chia ly tiễn biệt đã đến, chúng con biết làm sao bộc bạch hết nỗi lòng
thương tiếc đối với Sư cụ, nỗi đau buồn trước cảnh phân ly, thậm chí như
đức A Nan mà cũng phải ngậm ngùi rơi lệ khi Ðức Thích Tôn sắp vào Niết
bàn, thì làm sao chúng con tránh khỏi thông lệ ấy, giây phút nầy chúng
con bèn nhớ lại lời Phật dạy với các đệ tử là “Có sinh phải có tử, các
ông không nên quá bi sầu”, để tự kềm chế những giọt lệ sắp tuôn trào.
Kính
xin vĩnh biệt Sư cụ, xin Sư cụ chứng giám cho lòng thành của toàn thể Ðệ
tử chúng con và xin kỳ nguyện Giác linh Sư cụ cao đăng Phật Quốc.
Chúng
Ðệ tử hội Phật Giáo Hoa Nghiêm tại Pháp kính bái.
Tâm
Hương
(Ðọc trong lễ tưởng niệm trước khi thỉnh Kim
quan Trà tỳ)
Nam Mô
Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Trăm
năm thân tạm bợ,
Ba cõi
cuộc phù du,
Ðấng
trượng phu lấy huyễn thân đắp bồi đạo nghiệp
Bậc
thiện trí nương hơi thở thăng hoa trí giác,
Nhớ
bình sinh một kiếp,
Sinh
một nơi,
Tu học
một nơi,
Hoằng
đạo một nơi,
Ðâu đâu
cũng làm cõi Phật,
Giới
riêng tu,
Y riêng
mầu,
Nguyện
riêng mang,
Nhất
thiết chúng sinh đều là quyến thuộc.
Từ
trong lòng,
Cảm
Phật ân,
Không
qua dài giòng lý sự.
Nơi
kinh cổ,
Tường
lẽ đạo,
Vượt
ngoài thế trí biện thông.
Tuổi
cao mà chí nguyện dịch kinh, trước tác,
Khiến
hậu sinh phải thẹn.
Lạp
trưởng mà hạnh đức khiêm nhu,
Làm bốn
chúng học đòi.
Kìa Trí
độ luận nọ Ðại bảo tích kinh,
Sách
Bản hạnh nghi ân xưa từ phụ.
Kinh
Phật sử chép hạnh lớn Thế tôn,
Ðạo
tràng cứu độ khách trầm luân,
Ðức lớn
cảm hóa người hữu hạnh,
Sống
làm thân tùng bách che chở môn đồ đệ tử,
Thác
nêu đức trí,
Gương
sáng, vị thiện tín tăng ni,
Nguyện
Ngài chóng thành đạo cả.
Dâng
nén tâm hương,
Thành
tâm kính bái.
Thượng tọa
Thích Chơn Trí
Ðiếu
Văn
Nam Mô
Kim Liên Ðường Thượng Lịch Ðại Tổ Sư Tác Ðại chứng minh
Nam Mô
Ma Ha Sa Môn Bồ Tát giới Pháp húy thượng Trung hạ Quán Ðại lão Hòa
thượng ân sư thùy từ chứng giám.
Nhớ
Giác linh xưa:
Xuất
thân nơi địa linh thánh triết
Tại
làng Hạ Kỳ thế phiệt gia phong
Phú
Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Ðịnh Vũ công
Dòng lễ
giáo, tổ tông của nhân kiệt.
Một
lòng với đạo mầu tha thiết
Từ giả
lợi danh, chí quyết hạnh ly gia
Vách lá
am tranh, “an bần hạnh” là nhà
Ngộ lý
vô thường, nhận ra mùi chung đỉnh.
Theo
năm tháng dần trôi tăng thêm tịnh tín
Ngài
đến tỉnh Ninh Bình để học đạo tầm sư
Tại tổ
đình Kim Liên hội kiến bậc Ðại từ
Thế
phát xuất gia với Tổ sư Ðồng Ðắc.
Thuở sơ
tâm xuất gia được tổ sư dìu dắt
Ngài nổ
lực tinh cần với giáo nghĩa Bắc truyền
Kinh
Diệu Pháp Liên Hoa là một trong những thắng duyên
Trì
tụng nhập tâm nghĩa diệu huyền vô lượng.
Học tập
kinh, luật, lễ bái hành trì theo sư trưởng
Sống
đời sống khiêm cung, hòa nhã nhún nhường
Ngài
được tổ truyền thừa đi bố giáo Nam phương
Thiền
viện Thanh Minh là chặng đường đầu giáo hóa.
Tâm
nguyện học và sống theo Ðạo cả
Dùng
giáo lý Phật Ðà chuyển hóa khai tâm
Tăng
tục hữu duyên quy tụ chốn tòng lâm
Ðều hỷ
dạ thanh tâm đón nhận dòng sửa pháp.
Ngài
nhập hạnh vô duyên từ của Bồ tát
Sang Ai
Lao chuyển vận pháp Ðại thừa
Thượng-Trung-Hạ Lào noi theo dấu chân xưa
Bao
Thiện tín, Tăng ni, bao Phạm vũ huy hoàng được đượm nhuần mưa Pháp.
Chùa
Hoa Nghiêm đầu tiên Ngài sáng lập
Nơi ánh
sáng kinh đô trải mấy thập niên qua
Với
công hạnh độ sanh, hoằng pháp là nhà
Ngài
kiến tạo thêm Già lam, Phạm sát.
Chùa
Pháp Vương, chùa Kim Quang nơi đất Pháp
Rồi Hộ
Quốc, Từ Ân… đều tọa lạc tại Châu Âu
Ðức dĩ
hóa nhơn, Hòa thượng Ðàn đầu
Truyền
giới pháp cho Tăng Ni hậu duệ.
Thiện
tín thọ Tam quy với Ðạo mầu xuất thế
Nương
theo Ngài vượt bể khổ, sông mê
Hiểu
được trần gian là cõi tạm, nẻo đi về
Ðạo
giải thoát mới là đường siêu thế.
Hơn sáu
mươi năm Ngài hành theo đại thệ
Nguyện
báo Phật ân, hầu kế vãng khai lai
Bằng
giới đức trang nghiêm, Tư-Tu-Huệ biện tài
Xứng
danh bậc “Thạch thụ tòng lâm” nơi hải ngoại.
Nhiều
tác phẩm trước thuật Ngài lưu lại
Là gia
tài Pháp bảo cho hậu lai
Là Kim
chỉ nam; là tâm huyết của đời Thầy
Là hạnh
nguyện, là cây đại thọ.
Ðại Trí
Ðộ Luận, kinh Hiền Ngu còn đó
Phật
Bản Hạnh kinh in rõ dáng chân sư
Thiện
Ác Nhân Quả kinh đượm hương đức bậc đại từ
Sám hối
Diệt Tội kinh… có dư hơn 30 tác phẩm.
Cuộc
đời Thầy luôn nêu gương tinh tấn
Hỷ xả
từ bi, hạnh nhẫn nhục ba la
Thân
giáo của Thầy là đức tính hiền hòa
Hành Bố
thí, trì Pháp Hoa miên mật.
Lễ bái
lục thời Hồng Danh chư Phật
Là thời
khóa hằng ngày, là mật hạnh của Ân sư
Luôn hạ
thủ công phu hơn nữa thế kỷ dư
Luôn
thắng vượt lẽ thật hư của tứ đại.
Công
hạnh Thầy là “tương ưng hạnh giải”
Vì
hoằng pháp vi gia Thần quản ngại khó khăn
Vì lợi
ích chúng sanh Thầy chẳng sờn lòng
Dẫu
xuân hạ thu đông bốn mùa thay áo.
Với một
bình bát, ba y giản đơn hành đạo
Với
hạnh khiêm cung mà bố giáo muôn nơi
Với
tính nhu hòa mà đức tỏa rạng ngời
Với tâm
vô duyên từ chính là nơi y chỉ.
Thế
rồi,
Dòng
thời gian trôi qua không tư vị
Không
nể tình, không chú ý pháp hữu vi
Không
nương tay, không trừ cảnh biệt ly
Không
thấu hiểu nỗi sầu bi của pháp quyến.
Kính
bạch Ân sư,
Tuy vẫn
biết là Thầy theo hạnh nguyện
Thuận
thế vô thường hiển hiện chân như
Quảy
dép về Tây hội kiến đấng Ðại Từ
Duyên
ký tất, ghi danh vào Phật sử.
Chúng
con vẫn biết:
“Bí
thảo điêu tàn du vị tử
Ðàm hoa
lạc khứ hữu dư hương”
Nhưng
thiếu vắng Ân sư nỗi kính tiếc không lường
Không
ngăn được giọt sầu vương trong tâm khảm.
Nói sao
biết trái tim Thầy từ mẫn
Cả đời
Người luôn nghĩ việc giáo nhân
Càng
nhớ, càng thương, càng kính tiếc bội phần
Khi Ân
sư đã thâu thần thị tịch.
Than
ôi!
Cõi
trời Âu, khói sương giăng mờ mịt
Ðất
Pháp mây sầu như cảm kính bậc danh Tăng
Thất
chúng rưng rưng nhỏ lụy triêm cân
Pháp
quyến ngậm ngùi sầu dâng khóe mắt.
Bởi lẽ,
Bậc
hiền nhân đã dự vào dòng sử Phật
Như hạc
vàng đã cất cánh nhàn du
Sự
nghiệp bao năm nay gửi lại chốn Diêm phù
Xả
huyễn thân Thầy về nơi Vô Trụ.
Nhìn
lại:
Nơi
Thiền thất đèn mờ hương khói phủ
Phương
trượng án nghi hoa ủ rũ khóc Người
Ðâu
dung mạo từ bi, đâu giọng nói, đâu nụ cười?
Ðâu hơi
ấm của người Thầy khả kính?
Kể từ
nay, cuộc hành trình vô hạn định
Ai sẽ
dìu dắt, ai thức tỉnh khuyên răn
Ai rọi
ánh từ quang cho thêm lớn tín căn
Ai giữ
tâm thăng bằng cho hội chúng?
Chắc là
phải nương vào sở dụng
Những
công trình bậc trí dũng đã gởi trao
Ðể giảm
lược niềm đau, để ngăn bớt lệ sầu
Ðể “kế
vãng khai lai,” để tròn câu Thích tử.
Giờ
đây,
Trước
phút giây tiễn biệt Ân sư
Chúng
con nguyện giữ hạnh “Văn-Tư-Tu.”
Quyết
noi dấu chân sư, quyết không phụ lòng từ
Cung
kính nguyện Kim đài Thầy đoan ngự.
Nhất
tâm đảnh lễ
Nam mô
Từ Lâm Tế Chánh Tông Nhị Thập Thất Thế Hải Ngoại Pháp Quốc, khai sơn Hoa
Nghiêm viện chủ húy thượng TRUNG
hạ QUÁN Vũ Công Hòa thượng Giác
linh thùy từ chứng giám
Pháp tử
Thích Ðức Thắng
Cảm Tạ
Ban tổ chức Tang lễ và Môn đồ pháp quyến
Ðọc trong lễ cung nghinh Kim quan cố Hòa
thượng thượng Trung hạ Quán Trà tỳ ngày 11.03 Quý mùi – (12-04.2003) tại
phòng tưởng niệm Crématorium L’Orme à Moineaux, Ulis.
Nam mô
Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Ngưỡng
bạch Chư Tôn Hòa thượng Chứng minh
Kính
bạch chư Tôn Hòa thượng, chư Thượng tọa, Ðại đức Tăng Ni
Kính
thưa toàn thể Phật tử,
Kính
thưa quý liệt vị!
Cố Hòa
thượng THÍCH TRUNG QUÁN
Khai sơn
chùa Hoa Nghiêm, Paris – Pháp quốc
Ðã viên
tịch vào lúc 02 giờ 30 phút ngày 01 tháng 4 năm 2003
(tức nhằm
ngày 30 tháng 2 năm Quý mùi)
tại bệnh
viện Villeneuve Saint Georges,
Trụ thế 86
năm - Hạ lạp 66 năm.
Tang lễ
cố Hòa thượng đã được tổ chức trang nghiêm trọng thể trong thời gian 12
ngày, từ ngày 01.04.2003 (nhằm ngày 30-02 Quý mùi) đến 112.04.2003 (nhằm
ngày 11-03 Quý mùi) tại tổ đình Hoa Nghiêm 20 rue Jean Jacque Rousseau,
94290 Villeneuve le Roi, France, và hôm nay lễ tưởng niệm, cung nghinh
Kim Quan Hòa thượng Trà tỳ đến đây thập phần viên mãn.
Thay
mặt Ban tổ chức Tang lễ và Môn đồ Pháp quyến, chúng con thành kính niệm
ân:
- Ðức Ðại lão Hòa thượng
thượng TÂM hạ CHÂU Thượng Thủ Giáo hội Phật giáo Việt Nam trên thế giới.
Chứng minh và trưởng ban tổ chức Tang lễ.
- Hòa thượng Thích Minh
Tâm, Hội chủ Hội đồng Giáo phẩm Trung Ương kiêm Chủ tịch Ðiều hành
GHPGVN Thống nhất Âu châu. Chấp lệnh Tang lễ.
- Thượng tọa Thích Tánh
Thiệt, viện chủ chùa Thiên Minh Lyon, Phó ban thường trực tổ chức Tang
lễ.
- Thượng tọa Thích Trí
Minh, Phương trượng chùa Khuông Việt Na Uy, Sám chủ tang lễ.
- Chư Tôn Thượng tọa,
chư Ðại đức trong ban Kinh sư đạo tràng hộ niệm.
- Chư Tôn Hòa thượng,
chư Thượng tọa, Ðại đức Tăng Ni các Giáo hội, Tổ Ðình, Tự viện, Tịnh
thất, Niệm Phật Ðường, trên khắp thế giới.
- Chư Tôn Hòa thượng,
chư Thượng tọa, Ðại đức Tăng Ni Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất
Âu Châu.
- Chư Tôn đức Giáo hội
Phật giáo Nguyên Thủy Pháp quốc.
- Giáo hội Phật giáo
Việt Nam Thống Nhất Hải ngoại tại Hoa Kỳ, văn phòng 2 Viện Hóa Ðạo.
- Giáo hội Phật giáo
Việt Nam Thống Nhất Hải ngoại tại Úc Ðại Lợi, Tân Tây Lan.
- Chư Tăng Ni, Phật tử
thuộc Môn hạ Vạn Phật Thánh Thành, Mỹ quốc.
- Giáo hội Phật giáo
Việt Nam, Thành hội Phật giáo Tp.HCM, Việt Nam, Tổ đình Vĩnh Nghiêm Tp.
HCM.
- Tổ đình Hương Tích, xã
Hương Sơn, huyện Mỹ Ðức, tỉnh Hà Tây, Việt Nam.
- Chư Tôn đức Tăng Ni
thuộc các tự viện ở miền Bắc, miền Trung và miền Nam Việt Nam.
- Chư Tôn đức thuộc Sơn
môn Pháp phái, Tổ đình Ðồng Ðắc, Hòe Nhai, Quãng Bá ở Hà Nội.
- Giáo hội Phật giáo
Tăng già Khất Sĩ Thế giới tại Pháp.
- Hội Phật giáo Việt Nam
San Diego. Chùa Vạn Hạnh.
- Ðạo tràng Hộ niệm, Gia
đình Phật tử của các chùa Hoa Nghiêm, Khánh Anh, Linh Sơn, Quán Âm,
Khuông Việt. Quý vị Phật tử trong các ban Công quả, Trai soạn, Hành
đường, Trang hoàng… Chấp tác trong thời gian Tang lễ.
- Ðại diện của Mairie
Villeneuve le Roi, đội Công an giao thông.
- Y, Bác sĩ và nhân viên
bệnh viện Villeneuve Saint Georges.
- Văn phòng Mai Táng Á
Châu, quí vị Nhân viên của Crématorium L’Orme à Moineax, Ulis.
Kính thưa quý liệt vị.
Trong suốt thời gian
tang lễ và thể theo sự thỉnh cầu của chúng con. Chư Tôn Ðức không ngại
đường xá xa xôi, Phật sự đa đoan, cung tựu về đây chứng minh, hộ niệm,
phúng điếu, chia buồn, gởi điện, fax, điện hoa, email phân ưu, giờ này
buổi lễ được thập phần viên mãn. Chúng con không biết lấy gì để đền đáp
công đức ấy, chỉ biết đầu thành đảnh lễ quý Ngài, thành tâm cầu nguyện
chư Tôn Ðức Pháp Thể Khinh An, chúng Sanh Dị Ðộ.
Chúng
tôi cũng xin chân thành cảm tạ các hội đoàn gia đình Phật tử và quý
thiện hữu, đã dành thời gian quý báu đến đây cung tiễn Giác linh cố đại
lão Hòa thượng cao đăng Phật quốc. Xin cầu nguyện chư Phật gia hộ quý vị
thân tâm thường An Lạc, hạnh phúc miên trường.
Trong
suốt thời gian tang lễ, vì quá đau buồn nên dù cố gắng đến đâu cũng
không sao tránh khỏi những thiếu sót, ngưỡng mong chư Tôn thiền đức cùng
quý liệt vị, niệm tình hoan hỉ.
Nam Mô
Công Ðức Lâm Bồ Tát Ma Ha Tát.
---o0o---
Phần III
Thơ Văn, Tưởng Niệm
Hãy Noi Gương Sáng
TP.
HCM, ngày 02-06-2003
Nam Mô A Di Ðà Phật
Kính gửi chư Tôn đức Tăng Ni
Và quí Phật tử trong Mô đồ Pháp quyến chùa Hoa Nghiêm
20 rue J.J. Rousseau
94290 Villeneuve LeRroi – France.
Thưa Quí vị,
Ngay sau được tin Giác linh Hòa thượng Thích Trung Quán, Viện
chủ chùa Hoa Nghiêm tại Pháp viên tịch, chúng tôi đại diện chư
Tăng Ni và Phật tử chùa Vĩnh Nghiêm, TP.HCM quê nhà, đã gửi điện
sang phân ưu cùng Quý vị, và cầu nguyện Giác linh cố Hòa thượng
được cao đăng Phật Quốc.
Sau tang lễ và Tuần chung thất Giác linh cố Hòa thượng, quý vị
lại phát vô thượng Hiếu tâm, biên soạn tập kỷ yếu để cung tiến
Hòa thượng Tôn sư nhằm đền đáp công ơn giáo dưỡng trong muôn một.
Cảm niệm Hiếu tâm và Hiếu Ðạo sâu đậm của Quý vị, chúng tôi chân
thành chia sẻ Ðạo tình, kính dâng lên Giác linh cố Hòa thượng.
Tôi còn nhớ, đầu xuân 1950, trước khi trở lại Hà Nội, tôi có tới
kính thăm Sư tổ chùa Ðồng Ðắc, là một trong mười vị Ðại Giới Sư
của tôi. Thành ra cố Hòa thượng là pháp tử và tôi là giới tử
của Sư tổ Ðồng Ðắc.
Vào Saigon, đầu năm 1955, tôi gặp cố Hòa thượng ở chùa Thanh
Minh thiền viện. Lúc đó Ngài đang dịch kinh Hiền Ngu. Về sau từ
Lào sang Pháp, trụ trì chùa Hoa Nghiêm, Ngài lại dịch thêm hai
bộ: Kinh Phật Bản Hạnh 60 quyển và Luận Ðại Trí Ðộ 100 quyển.
Sau khi Việt Nam thống nhất 1975, Sư tổ Ðồng Ðắc (Thích Ðức
Nhuận) lên ngôi Pháp chủ Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam 1981. Rồi
đức Pháp viên tịch tại chùa Quán Sứ Hà Nội, Trụ sở Trung Ương
của Giáo hội, vào thập niên 90. Trong đại tang này, tôi lại được
gặp cố Hòa thượng Thích Trung Quán, từ Paris về Hà Nội để thụ
tang và báo hiếu Tôn sư đức Pháp chủ.
Ðó là đôi điều mà chính tôi đã viết về quá trình Hoằng Pháp lợi
sinh của Giác linh cố Hòa thượng. Mong rằng: Chư Tôn đức Tăng Ni
và Quý Phật tử tại Pháp và Bỉ hãy noi gương sáng của Ngài để duy
trì tốt ngôi chùa Hoa Nghiêm tại Pháp, bằng cách làm cho Tốt Ðạo
Ðẹp Ðời cũng như một bông sen tươi mát luôn luôn làm cho cuộc
đời được ngát thơm và tươi đẹp.
Nam Mô Ma Ha Sa Môn, Tỳ Khưu Bồ Tát Giới cố Hòa thượng Thích
Trung Quán Thiền sư Giác linh thiền tọa hạ, tác Ðại chứng minh.
Hòa thượng Thích Ðức Nghiệp,
Thành viên Hội Ðồng Chứng minh Trung Ương, Giáo Hội Phật Giáo
Việt Nam,
Trưởng ban quản trị chùa Vĩnh Nghiêm,và chùa Giác Minh, TP.HCM,
Việt Nam, kính bái!
Thành Kính Cảm Niệm
Giác linh cố Hòa thượng Thích Trung Quán Ngài sinh ngày 09 tháng
6 năm Mậu ngọ tỉnh Nam Ðịnh - Bắc Việt.
Viên tịch 2 giờ 30 sáng ngày 30 tháng 02 năm Quí mùi (1-4-2003)
tại tổ đình Hoa Nghiêm, Pháp quốc, trụ thế 86 năm, hạ lạp 66.
Ðêm nay cánh hạc lưng trời
Ðón Người sứ giả rạng ngời, hồi hương
Tổ Ðình chuông điểm sầu vương
Môn đồ, Pháp quyến hoa hương lệ thầm!
Trời Nam, đất Việt tin Người tịch!
Xúc động sầu dâng dạ đầy vơi…
Nhớ lại năm xưa ngồi đối ẩm
Dáng, lời siêu thoát nét tuyệt vời.
Biết nói gì, trùng dương muôn dặm
Người về, kẻ ở trĩu nặng sầu!
Sứ mệnh trăng tròn Người về trước
Trọn vẹn rồi, xin hẹn cùng nhau…
Trăm năm cõi mộng Người sớm tỉnh
Nương bóng từ quang nguyện ngoài vòng…
Gió sương mưa nắng không lùi bước…
Hóa độ ngàn nơi vẹn một lòng.
Ai cũng hiểu: có sinh thì có tử
Nhưng nào ai ngăn nổi lệ phân ly!
Biết đấy, mà lòng người đâu vượt thoát
Chăng là, còn nặng nghiệp, kiếp sầu bi?
Ðường trần muôn ngã đời son phấn
Bẩy chúng nương ai ở xứ người
Lênh đênh mặt nước thuyền không lái
Biết cậy ai đây giữa biển khơi!
Trãi qua năm tháng bao công đức
Quẩy dép về Tây chẳng vấn vương
Tăng ni, Phật tử lòng mến tiếc
Thành kính dâng Người nén tâm hương.
Trần thế từ đây Người vắng bóng
Thượng phẩm đài sen nét đặc thù
Hạnh nhẫn lòng người in đậm nét
Gương trong Từ Ðức mãi tăng thu.
Ðêm nay hoa tuyết trắng ngần
Tiền Người đức độ cõi trần về Tây
Hoa Nghiêm chánh điện hương bay
Vang vang lời nguyện bóng Thầy Tây Phương.
HT. Thích Quang Khải
Việt Nam – Quý mùi 2003
Tưởng Nhớ về
Hòa thượng Thích Trung Quán
Vào một buổi chiều Xuân ngày 1-3 năm Quý mùi, khi mà Tăng Ni
Phật tử trong Tổ đình chùa Hòe Nhai đang chuẩn bị làm lễ kỷ niệm
ngày húy nhật tiền tổ, thì được tin Hòa thượng Thích Trung Quán
ở bên Pháp thâu thần thị tịch, tôi và Tăng Ni Phật tử thật bàng
hoàng xúc động. Vẫn biết thế gian vô thường, có sinh tất có diệt,
nhưng sự ra đi của Hòa thượng đã làm cho Tăng Ni và Phật tử
trong sơn môn pháp phái chúng tôi “vô cùng kính tiếc”:
Quảy dép về Tây chốn nghỉ ngơi
Hạc vàng cất cánh chốn chân trời
Bóng nhạn đã khuất nơi trần thế
Kẻ ở người đi luống ngậm ngùi
Tôi và Hòa thượng Thích Trung Quán là anh em huynh đệ, cùng sơ
tâm xuất gia tu học dưới mái chùa Ðồng Ðắc. Nay Hòa thượng cưỡi
hạc về Tây, đã làm cho những kỷ niệm về Hòa thượng trong tôi
được sống lại.
Nhớ Hòa thượng xưa, bản tính hiền hòa, mộ đạo Phật từ khi còn
thơ ấu, thường đắp tượng Phật để tôn thờ, việc làm đó làm cho
tôi liên tưởng tới hình ảnh cháu bé đã từng cúng dàng Ðức Phật
nắm đất ở trong kinh có lẽ được tái sinh nơi Hòa thượng.
Vốn có duyên lành với Phật pháp, sau khi nhận ra lẽ vô thường,
chí xuất trần phát khởi nơi tâm, Hòa thượng đã quyết chí xuất
gia, được sự dìu dắt dạy bảo ân cần của Thầy Nghiệp sư là đức
Pháp chủ đầu tiên của GHPGVN hiện tại, Hòa thượng một lòng cầu
đạo, tinh tiến tu học, bao năm tháng nấu sử sôi kinh, giới luận
tinh cần, sớm chiêu, chiều mộ; Từ khi còn là một vị Tỳ kheo trẻ
tuổi cho đến sau này trở thành bậc thạch trụ trong tùng lâm,
chưa bao giờ Hòa thượng sao lãng việc trì tụng kinh Pháp Hoa và
đỉnh lễ hồng danh chư Phật, công năng tu tập của Hòa thượng, đã
cho chúng ta thấy được là sau khi viên tịch làm lễ trà tỳ, Hòa
thượng đã để lại cho đời rất nhiều những viên ngọc xá lợi quý
báu.
Trong cuộc sống tu hành hằng ngày, Hòa thượng là người luôn luôn
giữ phép lục hòa cộng trụ, thượng tùy hạ tiếp – Trên kính dưới
nhường, thân ái với mọi người đã góp phần tạo nên sự đoàn kết
giữa các hệ phái Phật giáo với nhau, cũng như sự hài hòa giữa
đời với đạo.
Hòa thượng là bậc chân tu thạc đức, học vấn uyên thâm, vì thế dù
hành đạo ở trong nước hay ở nước ngoài Hòa thượng đều đã hoàn
thành xuất sắc nhiệm vụ của một “Như lai sứ giả”. Nay Hòa thượng
viên tịch, bao nhiêu chùa của ở Lào, Pháp, Bỉ do Hòa thượng sáng
lập lấy ai là người lãnh đạo tối cao về tinh thần? Bao nhiêu
Tăng Ni và Phật tử lấy ai là người hướng dẫn trên con đường tu
tập? Câu hỏi này đã được Hòa thượng giải đáp bằng chính trên 30
tác phẩm do Hòa thượng dịch thuật, Ngài đã để lại cho hàng hậu
học một gia tài pháp bảo vô giá, để các Tăng Ni và Phật tử biết
nương vào chính pháp, nương tựa vào chính mình mà tu tập, góp
phần xiển dương chính pháp lợi lạc quần sinh.
Thuận theo lẽ vô thường, ngày nay tuy Hòa thượng đã xả bỏ huyễn
thân, nhưng công đức và đạo hạnh của Hòa thượng còn in đậm và
sống mãi trong lòng Tăng Ni và Phật tử của Sơn môn pháp phái.
Hòa thượng
Thích Thanh Khánh
Tổ
Ðình Hòe Nhai
Mùa An Cư Kiết Hạ Phật Lịch 2547
Tưởng Niệm
Cố Hòa thượng Thích Trung Quán
Mới đó mà đến 100 ngày rồi. Quả thật thời gian trôi qua nhanh
quá! Người xưa ví thời gian như bóng ngựa non chạy nhanh qua cửa
sổ cũng như thế. Mới ngày nào đó Hòa thượng vẫn còn mạnh khỏe,
da dẻ hồng hào. Với dáng điệu từ bi, bước đi khoai thai, thiền
vị, luôn tôn kính giới luật và lấy giới luận làm đầu; nên có vị
khách tăng nào xin đảnh lễ Ngài, Ngài đều luôn khua tay chối từ
bằng một cử chỉ rất ư là từ ái.
Hôm nay có thầy Ðức Thắng là đệ tử của Hòa thượng có biên thư và
nhờ tôi viết một bài để đăng vào kỷ yếu sau tuần bách nhật. Do
vậy tôi chắp bút để viết lên những dòng chữ tâm thành nầy, nhất
là sau khi đã tham dự tang lễ của Ngài và xem qua cuốn Video đã
quay lại đời Ngài lúc còn hiện tiền cũng như lúc lâm chung. Tôi
biết nói và biết viết gì đây cho một bậc Ðại Tăng có công với
Ðạo trong việc xây dựng chùa chiền từ Việt Nam qua Lào, rồi từ
Lào sang Pháp, qua Bỉ và đặc biệt là đào tạo Ni chúng cũng như
Tăng tài và nhất là phiên dịch những bộ kinh có giá trị, trong
đó có bộ Ðại Trí Ðộ Luận gồm 9 cuốn; mỗi cuốn độ 500 trang, gồm
100 quyển trực dịch từ Ðại Tạng kinh chữ Hán.
Tôi vốn ham đọc sách từ thuở nhỏ; nên đã có duyên đọc tác phẩm
kinh Hiền Ngu của Ngài dịch từ năm 1964, 1965. Lúc ấy thấy có
nhiều mẩu chuyện tìền thân của Ðức Phật rất hay nên tôi đã chăm
chú đọc; nhưng không để tâm mấy đến tên của dịch giả. Mãi về sau
nầy, những năm 1977, 1978, 1979 khi nào chùa Khánh Anh ở Paris
cần sự hiện diện của tôi, lúc Hòa thượng Minh Tâm đi vắng, thì
tôi lại qua xứ Pháp nhiều hơn và mỗi lần như thế, tôi đều có ghé
thăm vấn an Hòa thượng. Lúc nào cũng thế, cũng chỉ một nụ cười
rất đơn giản và trông có vẻ như một nhà nho, một vị Thiền sư.
Thông thường tôi chỉ thăm Ngài chừng một tiếng đồng hồ và cáo
từ. Vì Ngài rất bận rộn cho việc dịch kinh, dạy chúng.
Một hôm trong năm 1991 tôi đến thăm Hòa thượng, Hòa thượng có
hỏi rằng: Chùa khánh thành rồi; nhưng thấy chưa xong, vì lý do
vì thế? Tôi bạch rằng: Bạch Ngài. Lý do duy nhất chỉ vì vấn đề
tài chánh còn trở ngại thôi. Nhân cơ hội nầy tôi đã xin phép Hòa
thượng cho chùa Viên Giác tại Hannover mượn 20.000 FF, tương
đương với 3.000 Euro bây giờ và Hòa thượng đã hoan hỷ. Ðến năm,
1998, khi Viên Giác đã thư thả, tôi có đem số tiền ấy xin hoàn
lại Hòa thượng; nhưng Hòa thượng đã chối từ và bảo rằng: Ðó là
Phật sự chung, hãy để đó chăm sóc cho chùa. Ơn nghĩa ấy biết bao
giờ mới đền đáp được, mà lúc nào tôi cũng tâm tâm niệm niệm nơi
cõi lòng, phải làm sao đây để báo ân Hòa thượng.
Sau nầy khi dạy cho chúng xuất gia ở Viên Giác, tôi đã đem bộ
Ðại Trí Ðộ Luận của Ngài dịch từ chữ Hán sang tiếng Việt và do
Phật Học Viện Quốc Tế ở Mỹ ấn hành năm 1992 tại Hoa Kỳ và nay
đang đọc đến quyển thứ 59 về phẩm Xá Lợi. Ðây là một bộ kinh Ðại
Thừa rất vi diệu. Chúng tôi đã học 5 năm rồi, đến bây giờ mới
hơn phân nửa kinh và còn 41 phẩm nữa có lẽ sẽ hoàn thành trong 4
năm tới. Vì lẽ mỗi tuần chúng xuất gia chỉ học với tôi một lần
vào ngày thứ hai và chỉ có 1 tiếng rưỡi đồng hồ mà thôi.
Bơi lội trong biển cả bao la của Phật Pháp ấy do Ngài Long Thọ
đề bạt chủ xướng, Ngài Cưu Ma La Thập dịch từ chữ Phạn sang chữ
Hán và ở cuối thế kỷ thứ 20, gần 2.000 năm sau bộ kinh ấy đã
được Hòa thượng Thích Trung Quán dịch sang tiếng Việt và vì thế
mà chúng ta ngày nay mới có cơ hội học hỏi, đọc tụng, tham khảo.
Công đức ấy như một trí tuệ cao viễn tuyệt vời, chúng ta cho
hoài không hết, học hoài không xong, tu hoài không ngán.
Ngày nay Hòa thượng đã ra đi; nhưng những giá trị tinh thần ấy
do sự miệt mài phiên dịch của Hòa thượng mà đàn hậu học chúng ta
mới có cơ hội để tu trì và nghiên cứu.
Ðã đến ngày tuần 100 của Hòa thượng, chúng con cũng đang học
phẩm Xá Lợi thứ 59 của Ðại Trí Ðộ Luận và cũng nhân tuần 100
ngày nầy chùa Hoa Nghiêm tại Bỉ cung nghinh Xá Lợi của Hòa
thượng về tôn trí tại đây. Có một cái gì đó trùng hợp chăng? Hay
là Bồ Tát đã thị hiện để vào đời bằng nhiều hình thức khác nhau
của thân giáo, khẩu giáo và ý giáo? Ðây là một hình ảnh nhiệm
mầu khi chúng ta đi sâu vào Trí tuệ của Bát Nhã mà trong Ðại Trí
Ðộ Luận đã có không biết bao nhiêu lần Ngài Long Thọ nhấn mạnh
như thế.
Trong Ðại Trí Ðộ Luận có nhiều câu chuyện khuyên dạy rất hay, mà
tâm đắc nhất với tôi là câu chuyện nầy:
Cũng như thế đó, vàng ròng được đựng trong một túi dơ. Vậy thì
ngươi lấy vàng hay lấy túi?
Dĩ nhiên là con chọn vàng.
Ðiều ấy đúng; nhưng nếu không có túi dơ làm sao đựng vàng được?
(*Chú: Túi dơ dụ cho thân của ta. Còn vàng tượng trưng cho Phật
tánh)
Lại nữa! nếu như ngươi đang ở trong đêm tối. Bỗng có một người
mù đưa đuốc cho ngươi soi đường. Vậy ngươi chê người mù không
lấy đuốc, hay ngươi lấy đuốc mà không cần đến người mù?
Dĩ nhiên là con chọn cây đuốc.
Nhưng nếu không có người mù thì làm sao ngươi có được cây đuốc?
(*Chú: Người mù dụ cho chúng sanh. Cây đuốc dụ cho Phật tánh)
Giống như thế, có nhiều mẩu chuyện đối đáp rất tuyệt vời. Ða
phần chúng ta chấp vào hình tướng đẹp xấu; nhưng chúng ta quên
đi tâm Phật của mình hay của người đối diện. Vì lẽ ai cũng có
Phật tánh; nhưng vì vô minh sanh tử đã khiến ta phải nổi trôi
trong sáu nẻo luân hồi, không tự biết mình; chỉ biết tự làm khổ
mình và khổ người mà thôi.
Tôi và Tăng chúng chùa Viên Giác chỉ đến đảnh lễ nhục thân Ngài
trước một ngày làm lễ trà tỳ. Vì chúng tôi có nhiều Phật sự vào
cuối tuần ấy. Dĩ nhiên là trong Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam
Thống Nhất Ấu Châu đã có Hòa thượng Thích Minh Tâm, Thượng tọa
Thích Tánh Thiệt, Thượng tọa Thích Trí Minh cùng với hơn 50 Tăng
Ni trong Giáo Hội đã đến tham dự tụng kinh, phúng điếu, trợ
niệm. Còn chúng tôi đã không tham dự lễ tống tang và trà tỳ của
Ngài được, thật lấy làm áy náy và khổ tâm.
Ðám tang của Ngài quá vĩ đại. Vì có Ðại Lão Hòa thượng Thích Tâm
Châu từ Canada sang tham dự. Ngài có đọc điếu văn tưởng niệm và
chư Tăng Nam Tông, Bắc Tông cùng tất cả các tự viện tại Paris
như Linh Sơn, Quan Âm, Khánh Anh, Trúc Lâm, Khuông Việt v.v..
đều đến tham dự. Vả chăng nhờ công đức phiên dịch của Ngài mà đã
động lòng đến tứ chúng, cảm thọ đến chư Thiên; cho nên đám tang
của Ngài được cử hành một cách trang nghiêm trọng thể như thế.
Tôi chưa trực tiếp học với Ngài giờ nào; nhưng qua kinh sách của
Ngài dịch, tôi đã học hỏi thâu thập được rất nhiều để làm hành
trang trong cuộc sống tu học của mình.
Mong rằng 4 chúng đệ tử của Ngài, xuất gia cũng như tại gia luôn
luôn hòa thuận, chia xẻ những khó khăn trong cuộc sống cũng như
san sẻ cho nhau những niềm vui khi ân sư đã vắng bóng và mặc dầu
Ngài đã tịch; nhưng Ngài vẫn còn. Ðó là hình ảnh của đạo đức,
tác phong, đức hạnh của đời Ngài. Ðó là một bài học không lời;
nhưng tôi tin rằng rất mãnh liệt, có thể soi rọi cho mọi người
trở về con đường chân thiện mỹ.
Cung kính cúi đầu đảnh lễ.
Thích Như Ðiển
Phương trượng chùa Viên Giác
Hannover, Ðức quốc
Ðôi Dòng Kỷ Niệm
“Vòng đời phải chăng là duyên khởi
Lý vô thường-có, có chi đâu
Chốn dương đài-cuộc bể dâu
Nơi trần thế, là không không sắc sắc.”
Thật vậy, Ngài không đến không đi, chỉ ghé thăm cõi nhân gian
này, hơn tám thập niên mà thôi, nhưng Ngài đã để lại cho thế
gian biết bao ký ức tốt đẹp về Ngài.
Ðời Ngài là một tấm gương sáng, Ngài điềm đạm, hiền hòa, khiêm
cung và độ lượng. Ngài nghe thật nhiều mà nói thật ít. Ðời Ngài
như chưa bao giờ làm mất lòng bất cứ ai, nhưng không phải thế mà
lập trường sắt son của Ngài bị lay chuyển.
Ngài sinh ra dưới chân núi Gôi bên bờ sông Vị tỉnh Nam Ðịnh vào
tuổi thành niên, Ngài thoát tục theo thầy (Sư tổ Thích thượng
Ðức hạ Nhuận) xuất gia và tu học tại chốn Tổ Ðồng Ðắc tỉnh Ninh
Bình, miền Bắc Việt Nam. Sau đó Ngài lại vào miền Nam, rồi sang
Lào, Pháp, để nhằm mục đích trau dồi trí tuệ, một lòng tham
phương học đạo khắp cảnh đất khách trời Tây. Rồi cũng đã đến lúc:
“Trụ pháp vương gia, trì Như Lai tạng” Ngài đảm nhiệm chức viện
chủ chùa Hoa Nghiêm tại Pháp quốc ngỏ hầu truyền đăng tục diệm,
hoằng dương chánh pháp, tiếp dẫn hậu lai báo Phật ân đức. Trong
quảng thời gian đó, mặc dầu Ngài cũng gặp nhiều chướng duyên
trên bước đường tu hành của mình. Nhưng bởi, bẩm tính từ bi,
hiền hòa đức độ sẳn có và sớm giác ngộ cõi đời huyền ảo, nên
Ngài không bị các chướng duyên ấy làm khuấy động chí xuất trần
thượng sĩ của Ngài. Ngài vẫn một mực chuyên tâm giữ gìn giới đức,
coi trọng đạo pháp, lập hạnh nguyện chuyên tu, để sớm dứt được
cái lụy phiền ràng buộc nơi cõi nhân gian và mong mỏi ngày đêm
tạo được nhiều ân đức để rồi:
“Sự thế tục giang tay phổ tế
Cuộc hồng trần chia trí dung thông”
Cho nên, Ngài được bao người kính thương, bao người cảm mến. Nét
đẹp của Ngài không chỉ hiển hiện mãi bên tôi, bên mọi người đã
từng hơn một lần được gặp và tiếp xúc với Ngài, mà nó sẽ còn mãi
mãi với thời gian. Có lẽ thế mà cái tên gọi gần gũi thân thương
“Sư ông Thanh Quất” được mọi người xứ Ninh Bình, đất Bắc tại
Việt Nam, nơi Ngài đã từng sinh ra và lớn lên giành cho Ngài mà
tôi được nghe hẳn là có cơ sở.
Vào một ngày đẹp trời gần đây nhất, khi di ảnh của Ngài được
rước về chốn tổ Ðồng Ðắc, tôi cùng quý Sư cô - đệ tử của Ngài
tại hải ngoại về được và đến Hòa thượng Thức Minh tức viện chủ
chùa Yên Bình, trưởng ban tri sự Phật giáo tỉnh Ninh Bình, xưa
kia cũng là huynh đệ đồng môn với Ngài kể cho nghe rằng: tính
tình của Ngài rất từ tốn và khiêm cung, luôn hòa đồng cùng với
huynh đệ, không những thế Ngài còn luôn cần mẫn tinh tiến trong
việc tu học đêm khuya thanh vắng Ngài thường ngồi gốc cây gạo
bên bờ hồ bán nguyệt trước chùa trầm tư mặc niệm tọa thiền. Ðặc
biệt ngay khi còn làm tiểu tại chốn Tổ, Ngài đã siêng năng thọ
trì bộ kinh Diệu Pháp Liên Hoa. Chẳng bao lâu sau, cái gì đến đã
đến, cánh cửa Diệu Pháp đã hé mở đón Ngài. Ngài đã nhập tâm được
bộ kinh này. Và kể từ đó cho đến sau này, Ngài vẫn luôn trì tụng
không một lần xao lãng. Quả là một cao Tăng thạc đức, đáng được
chư thiên và loài người nể phục lắm thay!
Ðến năm 1985, cũng đã hơn 50 năm vân du hoằng hóa tại hải ngoại,
lần đầu tiên trở về nước thăm quê hương và thầy tổ, đó cũng là
lần đầu tiên huynh đệ tôi được diện kiến nhau. Những ngày sống
bên Ngài, tôi cảm thấy vô cùng an lạc như có một sức sống lạ
thường đến với tôi, và tất cả những gì được thấy và kể về Ngài
khi xưa, nay như đang sống động trước mắt tôi. Với những tưởng:
“Trống chuông chiều khua tỉnh đêm trường mộng mị
Kinh vàng kệ ngọc bảo ban khách tục đam mê”
Nào hay: Chiếc dép hữu tình còn rơi lại đó, con thuyền vô để đã
ngự đi đâu? Chắc hẳn nơi Ngài đến cũng có nhạc trời hầu hạ, xe
kiệu đón đưa; chắc hẳn cũng có tràng phan bảo cái, cung nghinh
tiếp rước Ngài. Bởi lẽ, đuốc quang minh đâu còn lạc còn lầm.
Ngài ra đi là để trở về với tự tính vốn có của Ngài. Ngưỡng
nguyện giác linh Ngài:
Một mai thân xác tiên tan
Danh thơm vẫn ở thế gian muôn đời
Pháp thân lồng lộng tuyệt vời
Chiếu soi pháp giới rạng ngời chân như.
Trụ trì Tổ đình Ðồng Ðắc
Sư đệ: Thích Thọ Lạc
Cẩn phụng
Hóa Ðạo Thong Dong
Nước khuya soi bóng ngàn sao lạnh
Ngọn cỏ hây hây tiễn nguyệt tà
Hoa Nghiêm chuông vẫn vang xa
Cảnh đây người đó… bàng hoàng tiếc thương.
Nhớ ngày nào
Trung, hạ Lào…lời Ngài chuyển hóa
Miền Tây xa cất bước vân du
Kim Liên đất tổ sơ tu