Tiếng Việt

Trang nhà Quảng Đức

   Tiếng Anh 

Nhân Vật Phật Giáo Việt Nam


...... ... .

 

 

Kỷ Yếu Tưởng Niệm
Hòa Thượng Thích Trung Quán
(1918 – 2003)
Paris P.L 2547-2004

---o0o---


Mục lục


Lời Ngỏ
Phần I
- Tiểu sử
Phần II
– Ðiếu văn, tưởng niệm, cảm tạ ban tổ chức
Ðiếu niệm – Hòa thượng Thích Tâm Châu
Ðiếu văn - Hòa thượng Thích Minh Tâm
Cảm niệm Ân sư – Thích Minh Chiếu
Cảm niệm Tôn sư - của Ðại diện Phật tử Hoa Nghiêm
Tâm Hương - Thượng tọa Thích Chơn Trí
Ðiếu văn – ÐÐ Thích Ðức Thắng
Cảm tạ ban tổ chức – ÐÐ Thích Ðức Thắng

Phần III
 Thơ văn, Tưởng niệm

Hãy noi gương sáng – Hòa thượng Ðức Nghiệp
Thành kính cảm niệm – Hòa thương Thích Quang Khải
Tưởng nhớ về Hòa thượng – Hòa thượng Thích Tâm Khánh
Tưởng niệm - Thượng tọa Thích Như Ðiển
Ðôi dòng tưởng niệm – Thích Thọ Lạc
Hóa đạo thong dong
Tri hành hợp nhất – Thích Giác Dũng
Ai điếu – Thích Thiện Quý
Hoài niệm Ân sư – Thích Nữ Diệu Minh
Thầy ơi – Thích Nữ Ðàm Phương
Giã từ - Thích Nữ Tịnh Nguyện
Bạch Thầy
Tưởng niệm cố Hòa thượng - Nguyễn Tất Tài
Hoài niệm Tôn sư – Môn đồ pháp quyến chùa Bàng Long
Bàng Long lưu dấu – ÐÐ Thích Ðồng Văn
Nhân Duyên Thầy trò – ÐÐ Thích Minh Ðịnh
Nhớ Thầy – ÐÐ Thích Ðức Thắng
Thầy là tất cả - ÐÐ Thích Ðức Thắng
Thùy niệm Ân sư – Thích Nữ Ðàm Phương
Tưởng niệm – ÐÐ Thích Quang Thạnh
Cành sen dâng Thầy – Thích Nữ Ðàm Lương
Hồi tưởng – Thích Nữ Ðàm Chất
Nhớ mãi trong tôi – ÐÐ Thích Quang Thạnh
Bậc Ðạo sư tôn kính – Môn đồ pháp quyến chùa Hoa Nghiêm - Bỉ Quốc
Ðược biết – ÐÐ Thích Thiện Quý
Những kỷ niệm sống mãi trong tôi – ÐÐ Thích Viên Minh
Thế rồi – ÐÐ Thích Thiện Quý
Khuất bóng thiền tôn – ÐÐ Thích Thiện Quý
Hồi tưởng Ân sư – Thích Nữ Ðàm Liên
Vài kỷ niệm về công đức hành đạo – Nguyên Quang Phạm Hoàng
Tưởng niệm Ân sư – Thích Nữ Ðàm Như

Phần IV
 Tư Liệu và Tang lễ

Cáo phó
Cáo phó – Pháp ngữ
Ban tổ chức Tang lễ
Chương trình Tang lễ
Chương trình lễ truy niệm
Chương trình thỉnh Kim quan trà tỳ
Lịch trình đoàn cung nghinh Kim quan trà tỳ
Tác bạch thỉnh sư
Những khoảnh khắc không quên
Ðiện văn, thư, fax
Sổ tang lưu niệm
Trướng liễn

Phần V
Trích lục một số văn khuyến tu, và thủ bút của Hòa thượng

Thủ bút của Hòa thượng
Một lời phát nguyện
Duyên khởi của cuốn sách Biện minh tu chứng
Hai mươi điều khó
Công hành tu chứng
Chết về đâu

Phần VI
 Phụ lục lễ chung thất và Bạch Phật

Thư cung thỉnh
Chương trình chung thất
Tác bạch cúng dàng trai tăng tại Hoa Nghiêm Paris – Pháp Quốc
Chương trình Lễ tưởng niệm Bách nhật
Tách bạch cúng dường trai tăng tại Hoa Nghiêm Bruxelle - Bỉ Quốc
Nghi cúng tiến Giác linh

Phần VII
 Hình ảnh Tang lễ

Lễ Cung nghinh nhục thân hồi tự
Trần thiết bàn thờ và xe hoa
Lễ nhập Kim Quan
Lễ bạch Phật khai Kinh
Lễ cung thỉnh Giác Linh An vị
Lễ thọ trai
Cúng Ðiếu
Lễ cung tiễn Giác linh
Lễ trai tăng
Lễ yết Phật, Tổ tại Chánh Ðiện
Nghi lễ Trà tỳ
Lễ Chung thất
Lễ tưởng niệm Hòa thượng tại Ấn Ðộ
Lễ cung nghinh Xá lợi an vị tại chùa Pháp Vương – Noyant
Lễ Thủy tán tro tàn  của Hòa thượng
Lễ cung thỉnh Xá lợi và Bách nhật tại chùa Hoa Nghiêm - Bỉ
Lễ cung nghinh Xá lợi an vị chùa Bàng Long – Vientiane – Lào
Lễ rước di ảnh cố Hòa thượng nhập Tổ đường - Việt Nam
Phướng liễn cúng điếu
Xá lợi của Hòa thượng


 

Lời Ngỏ

Mùa nắng ấm lại về, những đọt non xanh mát đang cười trong nắng sớm, mặt trời được đánh thức bằng những tiếng ríu rít của bầy chim. Hoa đào nở hồng cả gốc phố, nắng vàng rãi sáng khắp sân vườn. Không gian tỉnh lặng, ấm áp chan hòa nhưng trong lòng của chúng con đều cảm nhận sự giá lạnh khi chợt nghĩ đến hình bóng Tôn sư.

Mới đó mà trãi qua mấy mùa trăng, tất cả tưởng chừng như giấc mộng chiều hôm, anh em chúng con, ngồi quanh quần trong căn phòng để gom góp những hình ảnh của tang lễ, soạn thảo những bài viết của những trái tim hướng về Thầy. Lật đi lật lại những hình ảnh, đọc tới đọc lui những tư liệu về ân sư để rồi chúng con chợt hiểu, làm sao có thể gom góp tất cả để kết thành một kỷ niệm ghi lại dấu ấn vàng son một đời của Người?

Có lẽ không bút mực nào có thể viết hết hàng trang của Thầy trong suốt  hơn nửa thế kỷ gửi thân cho Ðạo,  có lẽ không có hình ảnh có thể ghi rõ nét bao dung của Thầy trong hiện thân đầu tròn áo vuông. Tất cả chỉ là cảm nhận của chúng con khi quỳ dưới chân Thầy. Tình thương vốn vô bờ, vòng tay lại nhỏ bé vậy mà Thầy đã che chở và nuôi dưỡng anh em chúng con mấy mươi năm dài. Y bát còn đây, giới thể còn đó, hình bóng Thầy vẫn hiển hiện bàng bạt trong ký ức của mỗi chúng con.

Cuộc đời tu hành của ân sư trải dài hơn 60 năm, từ Bắc vào Nam, sang Lào qua Pháp, để gầy dựng ngôi nhà Phật pháp, tất cả hành trình nghe kể cũng rất tình cờ. Như thể một chuyết đi xa, không mong cầu điều gì mới lạ chẳng qua chỉ vì tấm lòng thành cẩn thiết tha với Ðạo, thực hiện hoài bảo của người phát túc siêu phương để thiệu long thánh chủng, tiếp dẫn hậu lai, báo Phật ân đức, đền đáp bốn ân.

Viết về Sư cụ thì không thể diễn tả hết mọi điều, gìn giữ gom góp những tình cảm đồng sư, đồng đạo, trân quý những thâm ân nghĩa phụ tử tình Thầy trò, chúng con mạo muội làm thành quyển Kỷ yếu, ghi lại những hành trang của Thầy, thể hiện những tình cảm của những người con, những pháp lữ dành cho Thầy. Tất cả dệt nên những dòng chữ, kết thành những trang thơ, gói ghém bao điều thương tiếc, hoài niệm trong trang giấy thơm để anh em chúng con và những thiện tín mỗi khi đọc lại sẽ thấy Thầy mãi mãi trong trái tim của mọi người.

Làm công việc này, huynh đệ chúng con chỉ xin được thành tâm dâng lên cúng dàng Giác Linh Hòa thượng Tôn sư cũng là để sách tấn anh em chúng con trong bước đường tu học.

Kính mong Chư tôn Thiền đức, thiện hữu tri thức từ mẫn cố đại từ mẫn cố bố thí cho những khiếm khuyết trong tập Kỷ yếu này. Ðồng thời chúng con xin thành tâm tri ân mọi sự đóng góp bài vở, hình ảnh, tư liệu và khuyến khích của tất cả quý vị. Nguyện hồng ân Tam bảo che chở, gia hộ tất cả chúng ta đầy đủ phúc duyên để luôn luôn được sống trong ngôi nhà Chánh pháp, tôn kính Tam bảo, phát tâm phụng sự chúng sinh, cúng dàng chư Phật.

Trân trọng

Chùa Hoa Nghiêm, ngày 1 tháng 6 năm 2003

Ban thực hiện Kỷ yếu

Phần I

Tiểu Sử

Hòa Thượng Tôn Sư
Thượng Trung Hạ Quán

Nam Mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Ðại Từ Ðại Bi A Di Ðà Phật

Nam Mô Kim Liên Ðường Thượng Lịch Ðại Tổ Sư Tác Ðại Chứng Minh

I - Thân Thế

Hòa Thượng Thích Trung Quán, đạo hiệu Thanh Quất, thế danh Vũ Thanh Quất sinh ngày 9 tháng 6 năm Mậu Ngọ trong một gia đình hiền lương tại làng Hạ Kỳ, phủ Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Ðịnh, miền bắc Việt Nam.

Thân phụ là cụ ông Vũ Ðình Duật, thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Nhiên. Hòa thượng là người con thứ hai trong gia đình gồm 2 trai và 2 gái.

II - Xuất Gia Tu Học

Hòa thượng thân đọc lịch sử tổ Huyền Quang thi đỗ trạng nguyên mà vẫn cắt tóc xuất gia, rời bỏ vinh hoa, không màn danh lợi, thiết tha cầu Ðạo, lấy am tranh làm đạo tràng, nhận vải thô làm y phục; nhờ đó Hòa thượng đã thấu hiểu lý vô thường của vạn hữu,  mùi tạm bợ của quyền uy, Ngài tìm đến Tổ đình Kim Liên (Ðồng Ðắc) Ninh Bình để tầm sư học đạo. Tổ đình Kim Liên vốn là chốn địa linh nhân kiệt, sản sinh nhiều bậc xuất trần thượng sĩ. Hòa thượng cầu xin thế phát xuất gia với Hòa thượng thượng Ðức hạ Nhuận (Tổ Ðồng Ðắc). Sau đó, Ngài được Sư tổ truyền cho giới Sa di và giới Tỳ khưu.

Từ khi sơ tâm xuất gia, Ngài luôn tinh tiến tu hành, chuyên cần học tập giáo pháp Phật đà và đặc biệt Ngài có nhân duyên thù thắng với bộ kinh Diệu Pháp Liên Hoa; cho nên Ngài đã nhập tâm và hằng ngày đều trì tụng bộ kinh Ðại thừa thâm nghĩa này. Dưới sự dìu dắt dạy bảo ân cần của Sư tổ, cộng với sự quyết chí cầu tiến của bản thân. Hòa thượng luôn nhất tâm học tập kinh luật và hành trì lễ bái, cung kính tôn trọng các bậc trưởng thượng, hòa nhã nhún nhường với đệ huynh.

Hòa thượng là một trong những đệ tử đắc pháp với Sư tổ Ðồng Ðắc (đức Ðệ nhất Pháp chủ Giáo hội Phật giáo Việt Nam).

III – Sự Nghiệp Hoằng Truyền Chánh Pháp

Hòa thượng được Tổ truyền thừa và giao trách nhiệm vào Nam để hoằng pháp. Tại Thanh Minh thiền viện, Hòa thượng đã đem giáo lý Phật đà giảng dạy và khai hóa tâm địa cho nhiều người hữu duyên.

Năm 1959, Hòa thượng nhận lời thỉnh cầu của cố đại Hòa thượng Thích Lương Sơn (cụ Thanh Tuất) sang Ai Lao để hoằng dương Phật pháp. Ngài đã phát huy vai trò “tác Như Lai sứ, hành Như Lai sự” tại nơi đây và là một trong những vị đầu tiên truyền bá tư tưởng Phật giáo Ðại thừa tại xứ này. Khắp 3 miền: Thượng, Trung, Hạ Lào, Ngài đã khai sơn cũng như đóng vai trò lãnh đạo tinh thần 10 ngôi chùa. Trong những ngôi Phạm vũ huy hoàng đó, nổi bậc nhất là ngôi chùa Phật Tích tại miền Thượng Lào (Luang Prabang) và chùa Bàng Long tại thủ đô Viên Chăn.

Năm 1977, cố đại lão Hòa thượng Thích Chân Thường viện chủ chùa Quan Âm cung thỉnh Hòa thượng sang Pháp hoàng dương Phật Ðạo, Ngài đã truyền bá Giáo lý Ðại thừa tại các Tổ đình Quan Âm và Hồng Hiên.

Năm 1981, vì sự nghiệp “Hoằng pháp vi gia vụ, Lợi sinh vi bổn hoài” Hòa thượng sáng lập chùa Hoa Nghiêm. Ðây là dấu ấn đầu tiên Ngài hóa Ðạo trên đất Pháp.

Trong hơn một thập niên, Hòa thượng đã kiến tạo thêm 2 ngôi chùa: Ðó là chùa Pháp Vương tại Noyant và chùa Hoa Nghiêm tại Bruxelles (Vương Quốc Bỉ). Ngoài ra, cũng có nhiều ngôi chùa đã nương vào công đức Ngài được thành lập và suy tôn Hòa thượng là vị lãnh đạo tinh thần tối cao cho các đạo tràng, tiêu biểu là chùa Phật giáo Việt Nam tại Seattle (Mỹ Quốc), chùa Nhân Vương tại Troyes, chùa Hoa Nghiêm tại Grenoble, chùa Kim Quang tại Bobygny, chùa Hộ Quốc tại Roubaix, chùa Từ Ân tại Bonneville.

Năm 1991 Ngài được cung thỉnh làm Yết - ma tại Giới đàn chùa Vạn Phật Thánh Thành ở Mỹ quốc, trong Giới đàn này Hòa thượng Tuyên Hóa làm Ðàn Ðầu Hòa thượng.

IV - Sự Nghiệp Dịch Thuật và Biên Soạn

Hơn 60 năm xuất gia tu đạo, với trình độ Phật học uyên thâm, quảng bác và giới đức trang nghiêm, thanh tịnh; Hòa thượng được suy tôn là một trong những tàng cây đại thụ cho Phật giáo Việt Nam tại Hải ngoại.

Ngoài sự nghiệp tiếp dẫn hậu lai, báo Phật ân đức, Hòa thượng dành nhiều thời giờ cho việc phiên dịch và biên soạn kinh điển để giúp Tăng Ni, Phật tử có thêm tài liệu nghiên cứu, tu học. Hòa thượng đã để lại một gia tài Pháp bảo vô giá. Trong gia tài Pháp Bảo trân quý này, nổi bậc nhất là: bộ Ðại Trí Ðộ luận, kinh Hiền Ngu, kinh Phật Bản Tập Hạnh, kinh Thiện Ác Nhân Quả, kinh Sám Hối Diệt Tội Trang Nghiêm Thành Phật, kinh Nghiệp Báo Sai Biệt, kinh Ðại Thông Phương Quảng, kinh Phật Thuyết Ðại Thừa Tạo Tượng Công Ðức, Chư Kinh Toát Yếu Truyện, kinh Vãng Sinh Luận, kinh Nhân Vương Hộ Quốc, kinh A Hàm (cảo bản), Biện Minh Tu Chứng tập I, Biện Minh Tu Chứng tập II, v.v..

Với trên 30 tác phẩm biên soạn và dịch thuật, Hòa thượng đã để lại hàng hậu học một gia tài Pháp bảo vô giá và góp phần xiển dương Chính Pháp làm cho Giáo lý đức Phật trường tồn bất diệt.

V - Nhiếp Hóa Ðộ Chúng

Hòa thượng đã truyền thụ Tam quy Ngũ giới, cho hàng nghìn thiện nam tín nữ từ Việt Nam, đến Ai Lao, rồi các nước trên Châu Âu cũng như trên khắp thế giới.

Tại các đạo tràng ở Lào, Hòa thượng đã độ được hơn 20 vị Tăng và hơn 30 vị Ni xuất gia cũng như ngàn nghìn thiện nam, tín nữ quy y.

Nơi Tổ đình Hoa Nghiêm, Paris Pháp quốc, Hòa thượng đã thế phát xuất gia và lập đàn truyền giới cho 12 vị Tăng và 26 vị Ni, đồng thời hàng nghìn thiện nam, tín nữ cũng phát tâm quy y và thụ giới với Ngài.

Những đệ tử xuất gia trung kiên với Hòa thượng như: Thượng tọa Thích Minh Chiếu, Thích Ðức Thắng; Ðại đức Thích Minh Ðịnh, Thích Minh Ðăng, Thích Viên Giác, Thích Viên Mãn… Các vị đệ tử xuất gia nay y chỉ với Hòa thượng như: Ðại đức Thích Viên Minh… Về Ni giới như: Ni sư Thích Nữ Ðàm Lương (nay kế vị Hòa thượng trong chức vị Trú trì tổ đình Hoa Nghiêm), quý Sư cô Thích Nữ Ðàm Phương, Thích Nữ Ðàm Chất, Thích Nữ Ðàm Liên, Thích Nữ Ðàm Như…

VI - Lập Hạnh Tu Trì

Hòa thượng bản tính vốn hiền hòa, Ngài thường dùng thân giáo hơn là khẩu giáo để khích lệ tứ chúng tu hành. Suốt cuộc đời tu hành, Hòa thượng chỉ một lòng với Ðạo, lấy sự tu nhẫn nhục làm đầu, nương đức từ bi hỷ xả làm trọng, lập nguyện bố thí làm hạnh, lục thời lễ lạy Hồng danh chư Phật, trì tụng bộ Ðại thừa Diệu Pháp Liên Hoa kinh. Ðó chính là thời khóa công phu hằng ngày của Hòa thượng, dù trong lúc khỏe mạnh hay khi tứ đại bất hòa, Ngài vẫn không bao giờ xao lãng.

Một nét đẹp trong cuộc đời hành đạo của Hòa thượng là cho dù ở đâu, trong hoàn cảnh nào, Ngài cũng lập chùa, tạo tượng. Nhiều tôn tượng đức Bổn Sư, chư vị Bồ tát do chính tay Ngài đắp lấy. Ðó cũng là một hạnh nguyện đặc biệt rất hiếm có với bất kỳ Tăng sĩ nào.

Rồi, thời gian đã trãi qua hơn nữa thế kỷ, dù hoàn cảnh có đổi dời, xuân hạ thu đông 4 mùa thay áo, Hòa thương hoằng pháp ở bất cứ nơi đâu, giáo hóa chúng sinh ở bất cứ nơi nào. Ngài từ sơ tâm xuất gia cho đến ngày nay vẫn chỉ có ba y, bình bát cùng với công phu tu hành, lập nguyện độ sinh, khiêm cung hòa nhã, mà đức độ của Ngài vẫn tỏa sáng khắp mọi nơi làm bóng mát che chở cho muôn  người, làm gương sáng cho hàng tứ chúng nương tựa.

VII – Viên Tịch

Thế rồi:

                        Sinh như thể đắp chăn đông

                        Tử như cởi áo hạ nồng khác chi

                        Xưa nay các pháp hữu vi

                        Không sao tránh khỏi biệt ly vô thường

Dòng thời gian dần trôi, nhật nguyệt hằng đắp đổi. Bước chân Hòa thượng ngày càng mệt mỏi, thân tứ đại hiển hiện lý vô thường, Hòa thượng đã nhẹ gót quy Tây, xả bỏ báo thân, hội nhập pháp thân thường trụ vào lúc 2 giờ 30 phút sáng ngày 1 tháng 4 năm 2003 (nhằm ngày 30 tháng 2 Quý Mùi), trụ thế 86 năm, hạ lạp 66 tuổi.

Thế là Hòa thượng đã từ bỏ huyễn thân trong cõi hồng trần, đi vào cõi Niết bàn bất sinh bất diệt, nhưng gương sáng về trí tuệ, giới hạnh và tinh thần phục vụ Ðạo pháp của Ngài vẫn còn lưu mãi với thế gian, trong tâm tư ký ức của những người con Phật và trong lịch sử Phật giáo hiện tại và mai sau.

Nam Mô Ma Ha Sa Môn Tỷ Khưu Bồ Tát Giới Thích Trung Quán, Hiệu Thanh Quất, Ðại Lão Hòa Thượng Thiền Tọa Hạ Tác Ðại Chứng Minh.

 

Phần II

Ðiếu văn, tưởng niệm, cảm tạ ban tổ chức

Thượng Thủ Giáo-Hội Phật-Giáo Việt-Nam Trên Thế-Giới

Ðiếu Niệm

Giác Linh Cố Hòa-Thượng Thích-Trung-Quán

Viên-tịch tại chùa Hoa Nghiêm, Paris, 02 giờ 30 sáng ngày 01.04.2003 (30.02.Quý mùi), hưởng thọ 86 tuổi

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mưu Ni Phật

Kính bạch Chư tôn Hòa thượng, Thượng tọa, Ðại đức Tăng, Ni,

Kính thưa  chư vị trong Môn đồ, Pháp quyến,

Kính thưa chư vị Phật tử,

Hôm nay là ngày thứ bảy: 12 tháng 04 năm 2003, tức ngày 11 tháng Ba năm Quý mùi, Phật lịch 2547, ngày tiễn đưa kim quan lên trà tỳ, hỏa thiêu nhục thân cố Hòa thượng Thích Trung Quán.

Trước kim quan Hòa thượng, tôi nhất tâm mật niệm Giác linh Hòa thượng: “Sa-bà báo mãn, Cực-lạc hoa khai, Sinh tử băng tiêu, chân thân tự tại, thể nhập Vô-sinh” và chia buồn cùng môn đồ, pháp quyến.

Tôi cũng xin chân thành tri ân công đức chư tôn Hòa thượng, chư Thượng tọa, Ðại đức Tăng, Ni cùng chư thiện tín đã phát tâm vô ngại, trợ niệm về mọi mặt từ ngày mất, đến lễ trà tỳ, tang lễ cố Hòa thượng được nhiều phần chu tất.

Giờ đây, trong đạo tình, tôi xin phép, được ngỏ ít lời cùng cố Hòa thượng Trung Quán:

“Hòa thượng Trung Quán, tôi được gặp Hòa thượng tại chùa Ðồng Ðắc, huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình.

Tôi có duyên cùng Phật pháp, được học và được thụ giới Sa di tại chùa Ðồng Ðắc năm tôi 17 tuổi (tức năm 1937) và thụ Tỳ Khưu giới năm 20 tuổi (tức năm 1940), tại chùa Bát Long của Tổ Phúc Chỉnh, cạnh thị xã Ninh Bình.

Tôi tham học tại chùa Ðồng Ðắc, một nơi, đông đảo Tăng Ni về tu học, được coi như Phật học đường, do Hòa thượng Pháp chủ Thích Thanh Thiệu, thế danh Phạm Ðức Nhuận chủ trì. Sau năm thụ Tỳ Khưu giới, tôi thường đảm trách chức vị Tri khách và Duy na tại Phật học đường Ðồng Ðắc. Năm tôi giữ chức vị Tri khách, Phật học đường Ðồng Ðắc, tôi gặp Hòa thượng, khi đó, Hòa thượng là chàng trai họ Vũ. Tôi tiếp chàng trai có đôi mắt sáng. Tôi được tỏ bầu tâm sự và có ý nguyện xuất gia. Tôi thương cảm và khích lệ thêm. Tôi hướng dẫn chàng vào đỉnh lễ Hòa thượng Pháp chủ. Ngài hoan hỷ chấp thuận cho chàng trai họ Vũ, thế phát xuất gia làm đệ tử của Ngài và, được pháp danh là Thanh Quất.

Sau vài năm là tới năm 1945 là năm, miền Bắc Việt Nam, mất mùa, đói lạnh, Nhật đảo chính Pháp. Tháng Ba năm 1945, tôi hướng dẫn Sa-di Thanh Phước và Hòa thượng, ba anh em gòng gánh đi  tham học tại chốn Tổ Phù Lãng, Bắc Ninh. Tháng 8 năm 1945, chúng ta trở về Ðồng Ðắc. Hòa thượng làm Thị giả cho Hòa thượng Pháp chủ, Thanh Phước tìm nơi ẩn tu và tôi đi dạy học tại chốn Tổ Phượng Ban, làm Phật sự tại vùng Ninh Bình vào năm 1948, Hòa thượng Pháp chủ đặc cử tôi trụ trì chùa Phúc Ðiền, làm Bí thư tòa Giám Luật Phật giáo Ninh Bình, Chủ tịch Phật giáo Kim Sơn kiêm Chủ tịch Phật giáo Nam, Ninh, Thanh, Thái. Tuy bận Phật sự, nhưng mỗi mùa an cư, tôi đều gặp Hòa thượng tại chốn Tổ Ðồng Ðắc. Sau năm 1954, di cư vào Nam, tôi biết Hòa thượng ở bên Lào, tôi có sang thăm tại chùa Phật Tích (Luang Pranbang). Sau năm 1975, tại Pháp, tôi thỉnh Hòa thượng về an trụ tại chùa Hồng Liên, Fréjus do tôi lãnh đạo tinh thần.

Với Hòa thượng, trong lúc trẻ, sớm thức tỉnh, tìm đường giải thoát, nên tính tình Hòa thượng ít nói cười, ít giao dịch, ít xông pha cho Phật sự, chuyên tâm tu niệm, xem sách, dịch kinh và tùy duyên độ chúng, làm chùa. Ngày nay, Hòa thượng còn có những Tăng Ni kế thừa, còn có những chùa truyền lưu lại, còn có những người được xem kinh sách của Hòa thượng để tiến tu, công đức ấy thực đáng tán thán.

Tuổi về già, trong bảy, tám năm nay, Hòa thượng vẫn khỏe, nhưng mang trong người một chứng bệnh hơi khó chịu, mỗi khi sang Pháp, tôi tới thăm Hòa thượng. Tôi thương cảm Hòa thượng! Ðột nhiên, khi tôi đang làm Phật sự tại Mỹ, được tin Hòa thượng thị tịch vào 2 giờ 30 sáng ngày 01 tháng 04 năm 2003. Hòa thượng thọ 86 tuổi.

Thôi, chúng ta gặp nhau trên cõi đời, chúng ta sống đạo trong giữa đời, chúng ta hiểu đời quá rõ. Mỗi người một công hạnh. Hòa thượng làm trọn cuộc đời, Hòa thượng an nhiên, theo chân các bậc Tiên-giác trở về nơi Niết bàn tịch tĩnh. Tôi mong, những  người thừa kế công nghiệp của Hòa thượng, noi gương Hòa thượng, cố gắng tiến tu và hòa đồng cùng đại chúng đem lại  nhiều lợi lạc cho đời và cho đạo.

“Tâm cảnh như như chỉ giá thị, hà lự bồ đề đại bất thành”.

Hòa thượng! “An định thức thần, vô sinh trực vãng!”.

 

Ðiếu Văn

Hòa thượng Thích Minh Tâm

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mưu Ni Phật
            Kính bạch Hòa thượng Thượng Thủ,

Kính bạch Chư tôn Hòa thượng, Thượng tọa, Ðại đức Tăng, Ni,

Kính thưa  Môn đồ pháp quyến cố Ðại lão Hòa thượng Thích Trung Quán.

Sự ra đi của cố Ðại lão Hòa thượng trong lúc này, quả là một mất mát to lớn đối với Giáo hội, đối với chư Tăng Ni, nhất là hàng hậu học, những người mới phát tâm xuất gia, cần phải nương nhờ nơi ân đức của bóng cây cổ thụ, của các bậc tôn trưởng. Giờ đây, Ngài đã ra đi… Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất Âu Châu xin chân thành phân ưu cùng với môn đồ pháp quyến của cố Ðại lão Hòa thượng và nguyện cầu Giác linh cố Hòa thượng Cao Ðăng Phật Quốc, Thượng Phẩm Thượng Sanh, Ðắc Vô Sanh Pháp Nhẫn, nhiên hậu hoàn đáo ta bà, hướng dẫn hậu lai theo con đường tu hành, báo ân Phật đức mà cố Hòa thượng đã vạch ra từ bao lâu nay.

Kính bạch Giác linh cố Hòa thượng,

Ðối với Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất Âu Châu, với cương vị Chứng minh Ðạo Sư, Ngài luôn luôn hoan hỷ phủ dụ, khuyến tấn Tăng Ni trong sứ mệnh hoằng pháp lợi sinh. Mặc dầu Ngài tuổi cao, sức yếu, không thể trực tiếp gần gũi. Nhưng mỗi lần chư Tăng Ni đến vấn an đảnh lễ, Ngài đều ân cần thăm hỏi, khích lệ tu hành. Ðó là những thông điệp quý báu gởi đến tất cả hàng Phật tử, nhất là giới xuất gia luôn luôn coi trọng để học hỏi, noi theo. Ân đức cao cả đó, không làm sao có thể quên được.

Riêng đối với chùa Khánh Anh thì cá nhân chúng tôi không thể quên được ân đức của cố Ðại lão Hòa thượng. Gần đây thôi, khi rước tôn tượng Bổn Sư về chùa mới và làm lễ tôn trí vào ngày 20/10/2002. Chúng tôi nghĩ rằng ngôi chùa cũng chưa hoàn thành và sức khỏe của Hòa thượng cũng không được khả quan cho lắm. Nên không dám cung thỉnh Ngài đến chứng minh buổi lễ. Trong lòng nghĩ đến ngày đại lễ an vị hay Khánh thành sẽ tổ chức trang nghiêm trọng thể hơn, và lúc đó sẽ cung thỉnh Hòa thượng. Nào ngờ trưa hôm ấy, Ngài đột suất viếng thăm đạo tràng chùa Khánh Anh mới ở Evry giữa tiếng reo mừng của Phật tử và sự xúc động của chư Tăng, Ni hiện diện hôm đó.

Hôm nay, ngày Lễ an vị tại chùa Khánh Anh cũng chưa tới, ngày đại lễ Khánh thành lại còn xa hơn. Nhưng Hòa thượng đã ra đi về cảnh giới của chư Phật. Chắc Ngài đã biết trước điều này chăng, nên mới có sự xuất hiện bất ngờ ngày hôm ấy. Ðó là hình ảnh sau cùng của Hòa thượng đã khích lệ chúng tôi rất nhiều để cố gắng hoàn thành ngôi Tam Bảo ngõ hầu cúng dường chư Phật, chư liệt vị Tổ Sư đã dày công thắp sáng ngọn đèn Chánh pháp trong hoàn cảnh khó khăn ở hải ngoại từ bao lâu nay.

Kính bạch Giác linh Hòa thượng,

Kính thưa chư Tôn Ðức và quý liệt vị,

Lẽ vô thường không ai tránh khỏi. Các pháp hữu vi đều không ra khỏi vòng sinh diệt. Nhưng vẫn còn mãi mãi những gì không bị chi phối trong tử sanh biến đổi thường tình.

Chính vì lẽ đó, trước giờ di quan, trả huyễn thân trở về cát bụi, đệ tử tứ chúng, chư Tăng, Ni chí thành cầu nguyện Giác linh cố Hòa thượng luôn luôn hiện chứng trong cảnh Vô Dư Niết Bàn để hóa độ chúng sanh đồng thành Phật đạo.

Nam Mô Từ Lâm Tế Chánh Tông, Nhịp Thập Thất Thế, húy thượng TRUNG hạ QUÁN Giác linh Hòa thượng tác đại chứng minh.

Cảm niệm Ân Sư

của Môn Ðồ Pháp Quyến

(Ðọc trước giờ cung thỉnh Kim quan Hòa thượng Trà tỳ, ngày 12/04/2003)

Nam Mô Tiếp Dẫn Ðạo Sư A Di Ðà Phật

Kính bạch Giác linh Hòa thượng Tôn sư

Ðất Pháp hôm nay trải nắng vàng

Hoa Nghiêm cảnh vật đượm màu tang

Thầy đà yên nghỉ nghìn thu giấc

Ngơ ngác chúng con lạc mất đàn.

Than ôi!

Chỉ còn vài giây phút nữa thôi, chúng con thực sự vĩnh viễn không còn nhìn thấy tôn dung của Ân-sư, mãi mãi không còn được quỳ dưới chân Người để được nghe những lời giáo huấn khi tiết hạ hay xuân về. Tất cả chỉ còn ghi trong ký ức, cô đọng thành những nét son tô đậm tình phụ tử, nghĩa thầy trò.

Nhớ lại ngày nào!

Từ khi huynh đệ chúng con có cơ duyên xuống tóc theo Thầy xuất gia, Tôn sư đã hết lòng răn dạy bao điều không những chỉ bằng ngôn từ trong Tam Tạng Thánh Ðiển mà còn qua thân giáo uy nghiêm.

Chúng con từng nghe!

Thân giáo dưỡng một đời  nên huệ mạng

Nghĩa Tôn sư muôn kiếp khó báo đền.

Trong kiếp đời này, huynh đệ chúng con thân được 3 y, tâm tròn giới thể đều nhờ Ân sư mà được. Hiểu đạo nhiệm mầu, tinh tiến lễ tụng đều do Ân sư mà nên. Thử hỏi công đức đó, ân thâm này bao thuở đền đáp cho cân?

Và rồi!

Tuổi đã cao niên vóc hạc gầy

Thanh cao cốt cách gậy cầm tay

Nắng chiều loang loáng vàng y áo

Ngõ trúc còn vương nhẹ gót thầy

Chúng con mong tưởng Ân sư sẽ trụ thế lâu dài với chúng con trong mái ấm đại gia đình Hoa Nghiêm, bởi vì huynh đệ chúng con tuy có lớn có nhỏ nhưng đạo tâm chưa vững, đạo lực chưa sâu, chưa thể nào gánh vác được sự nghiệp Tôn sư đã suốt đời gầy dựng. Nhưng nào ngờ:

Trăng Lăng già im bóng

Mây Linh thứu ngừng trôi

Bát nhã thuyền rời bến

Hương sen tỏa ngát miền.

Sự ra đi của Ân sư là một sự mất mát to lớn của chúng con và của những người thiện nam tín nữ một lòng khát khao mong tìm bình an trong tâm hồn. Chúng con tự nghĩ: Cho dù trăm nghìn kiếp lăn lộn trong chốn nhân gian cũng không thể nào tìm được vị Thầy đức độ khoan dung như Tôn sư. Thầy đã sống một cuộc đời khiêm cung giản dị, lấy nhẫn nhục làm trang sức, lấy từ bi làm gấm hoa. Cho nên, chúng con dù có khôn lớn đến bao nhiêu vẫn mãi là những trẻ dại mỗi khi quỳ dưới chân Thầy.

Than ôi!

Lẽ tử sinh còn còn mất mất

Luật vô thường sắc sắc không không

Thân người như đám bụi hồng

Như cơn gió thoảng như triều hương giang.

Giờ đây, trước giờ phút thiêng liêng, huynh đệ chúng con quỳ trước Ân sư xin nguyện thực hành những lời dạy qua thân giáo của Thầy, qua công hạnh của Thầy và cúi xin Thầy tha thứ những lỗi lầm huynh đệ chúng con lỡ gây tạo. Cúi xin Giác linh Hòa thượng Tôn sư thùy từ chứng giám. Và gia hộ cho huynh đệ chúng con được đầy đủ tâm lực, đạo lực để gánh vác và phát huy vĩ nghiệp mà Tôn sư để lại.

Huynh đệ chúng con xin đê đầu bái biệt Ân sư tôn kính.

Nam mô Tôn sư Ðại lão Hòa thượng húy thượng TRUNG hạ QUÁN hiệu Thanh Quất Giác linh thùy từ chứng giám.

Ân Thầy Nhớ Mãi

Ðọc tại buổi lễ Di quan của Sư cụ Trung Quán tại chùa Hoa Nghiêm (Pháp Quốc) (Thứ bảy 12-04-2003)

Kính bạch chư Tôn đức Hòa thượng, Thượng tọa, Ðại đức, Tăng Ni hiện diện trong buổi Lễ hôm nay.

Kính thưa quý vị đại diện các đoàn thể cùng quý đạo hữu, thân hữu.

Thay mặt Phật tử của Hội Phật Giáo Hoa Nghiêm tại Pháp, chúng con xin thành tâm đảnh lễ chư Tôn đức, Tăng Ni khắp nơi đã hoan hỉ vân tập tại nơi nầy để cầu nguyện và tiễn đưa Giác linh của Sư cụ chúng con đi về cõi Phật.

Chúng con không biết lấy gì để đền đáp thâm ân của chư liệt vị và chỉ xin cầu nguyện thập phương thường trú Tam bảo gia hộ cho quý Hòa thượng, Thượng tọa, Ðại đức Tăng Ni và quý liệt vị thân tâm thường lạc, pháp thể khinh an, chúng sinh di độ, đạo quả viên thành.

Bây giờ chúng con xin phép được bày tỏ vài lời với Sư cụ chúng con trước giờ tiễn biệt.

Trước khi tiễn đưa Kim quan của Sư cụ ra khỏi ngôi Tổ đình Hoa Nghiêm để đi đến Les Ulis làm lễ Trà tỳ, chúng con xin thay mặt chư Phật tử hội Phật Giáo Hoa Nghiêm bày tỏ vài lời tiễn biệt để nói lên tấm lòng tri ân sâu xa của toàn thể tín đồ Phật tử Hoa Nghiêm nơi trú xứ của Sư cụ từ khi Ngài đặt chân lên xứ lạ quê người.

Phần đông Phật tử hiện diện hôm nay đều không quên một điều quan trọng là sau những năm tháng biến động tại Vương Quốc Lào bắt đầu từ 1972, rồi sau đó biến cố lịch sử đau thương năm 1975 tại Việt Nam, khiến cho một số đông đồng bào Việt Nam chúng ta phải bỏ quê cha đất tổ và quê hương thứ hai của họ tại Vương Quốc Lào cũng cùng chung số phận.

Thuận theo sự thăng trầm của lịch sử, Sư cụ cũng đã phải từ bỏ ngôi chùa Bàng Long tại Vientiane, thủ đô của Vương Quốc Lào để lánh nạn sang Pháp.

Ðã là người xuất gia, sự ra đi của Cụ không phải như trường hợp của chúng con, mà là để tiếp nối dìu dắt đàn con thơ dại, đã phải sống bơ vơ không nơi nương tựa, mỗi khi đặt chân lên xứ lạ quê người, vì không được ai hướng dẫn trong đời sống tâm linh.

Ðến xứ Pháp chúng con được gặp lại Sư cụ, đang như người lạc lõng giữa biển khơi, bỗng vớ được chiếc bè làm nơi nương tựa để vào bờ thoát khổ. Vì lẽ ấy mà chúng con cũng như mọi người Việt sống ở Vientiane trước đây cùng với một số người Lào gốc Việt đã tìm đến Sư cụ để được người an ủi, họ quay quần chung quanh Sư cụ để mong được Người tế độ.

Duyên quá khứ đã gieo, quả hiện tại đã trỗ, nên nhiều gia đình Phật tử đã đóng góp nhân lực, tài lực và cổ động để ngôi Già Lam tại Villeneuve le Roi do chính Sư cụ đặt tên là hội Phật Giáo chùa Hoa Nghiêm tại Pháp Quốc – Paris được hình thành. Hoa Nghiêm ngày nay, sau gần 30 năm Phật sự đã hiện diện trên khắp thế giới, công đức ấy làm sao nói hết được.

Lẽ thường, có sinh phải có diệt, duy chỉ có pháp thân mới là thường trụ. Nay thân tứ đại của Sư cụ đã hoại, nhưng hình bóng (pháp thân) của Sư cụ vẫn tồn tại mãi trong tâm hồn chúng con. Nhờ sự giáo hóa của Sư cụ, Phật tử Hoa Nghiêm trí khai, huệ mở, biết rõ việc thiện phải làm, việc ác phải tránh, giữ tâm ý cho trong sạch, đó cũng là khế hợp với lời chư Phật Thế Tôn đã dạy.

Sư cụ đã không quản ngại nhọc nhằn, nhất là tuổi đã quá cao và sức lại yếu, thế mà công việc giáo hóa của Sư cụ vẫn không gián đoạn. Nếu không có được Sư cụ hướng dẫn tu tập thì có lẽ suốt cuộc đời nầy và mãi mãi cho đến các kiếp vị lai, chúng con cũng chỉ sống mãi trong đêm dài tăm tối. Cho nên với người Phật tử Hoa Nghiêm, việc tri ân cao quý nhất đối với Sư cụ chính là pháp cúng dường có nghĩa là tuân theo lời Sư cụ đã chỉ dạy, noi theo gương lành của Sư cụ, cố gắng làm những gì như Sư cụ đã làm khi còn tại thế.

Giờ chia ly tiễn biệt đã đến, chúng con biết làm sao bộc bạch hết nỗi lòng thương tiếc đối với Sư cụ, nỗi đau buồn trước cảnh phân ly, thậm chí như đức A Nan mà cũng phải ngậm ngùi rơi lệ khi Ðức Thích Tôn sắp vào Niết bàn, thì làm sao chúng con tránh khỏi thông lệ ấy, giây phút nầy chúng con bèn nhớ lại lời Phật dạy với các đệ tử là “Có sinh phải có tử, các ông không nên quá bi sầu”, để tự kềm chế những giọt lệ sắp tuôn trào.

Kính xin vĩnh biệt Sư cụ, xin Sư cụ chứng giám cho lòng thành của toàn thể Ðệ tử chúng con và xin kỳ nguyện Giác linh Sư cụ cao đăng Phật Quốc.

Chúng Ðệ tử hội Phật Giáo Hoa Nghiêm tại Pháp kính bái.

Tâm Hương

(Ðọc trong lễ tưởng niệm trước khi thỉnh Kim quan Trà tỳ)

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Trăm năm thân tạm bợ,

Ba cõi cuộc phù du,

Ðấng trượng phu lấy huyễn thân đắp bồi đạo nghiệp

Bậc thiện trí nương hơi thở thăng hoa trí giác,

Nhớ bình sinh một kiếp,

Sinh một nơi,

Tu học một nơi,

Hoằng đạo một nơi,

Ðâu đâu cũng làm cõi Phật,

Giới riêng tu,

Y riêng mầu,

Nguyện riêng mang,

Nhất thiết chúng sinh đều là quyến thuộc.

Từ trong lòng,

Cảm Phật ân,

Không qua dài giòng lý sự.

Nơi kinh cổ,

Tường lẽ đạo,

Vượt ngoài thế trí biện thông.

Tuổi cao mà chí nguyện dịch kinh, trước tác,

Khiến hậu sinh phải thẹn.

Lạp trưởng mà hạnh đức khiêm nhu,

Làm bốn chúng học đòi.

Kìa Trí độ luận nọ Ðại bảo tích kinh,

Sách Bản hạnh nghi ân xưa từ phụ.

Kinh Phật sử chép hạnh lớn Thế tôn,

Ðạo tràng cứu độ khách trầm luân,

Ðức lớn cảm hóa người hữu hạnh,

Sống làm thân tùng bách che chở môn đồ đệ tử,

Thác nêu đức trí,

Gương sáng, vị thiện tín tăng ni,

Nguyện Ngài chóng thành đạo cả.

Dâng nén tâm hương,

Thành tâm kính bái.

Thượng tọa Thích Chơn Trí

Ðiếu Văn

Nam Mô Kim Liên Ðường Thượng Lịch Ðại Tổ Sư Tác Ðại chứng minh

Nam Mô Ma Ha Sa Môn Bồ Tát giới Pháp húy thượng Trung hạ Quán Ðại lão Hòa thượng ân sư thùy từ chứng giám.

Nhớ Giác linh xưa:

Xuất thân nơi địa linh thánh triết

Tại làng Hạ Kỳ thế phiệt gia phong

Phú Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Ðịnh Vũ công

Dòng lễ giáo, tổ tông của nhân kiệt.

Một lòng với đạo mầu tha thiết

Từ giả lợi danh, chí quyết hạnh ly gia

Vách lá am tranh, “an bần hạnh” là nhà

Ngộ lý vô thường, nhận ra mùi chung đỉnh.

Theo năm tháng dần trôi tăng thêm tịnh tín

Ngài đến tỉnh Ninh Bình để học đạo tầm sư

Tại tổ đình Kim Liên hội kiến bậc Ðại từ

Thế phát xuất gia với Tổ sư Ðồng Ðắc.

Thuở sơ tâm xuất gia được tổ sư dìu dắt

Ngài nổ lực tinh cần với giáo nghĩa Bắc truyền

Kinh Diệu Pháp Liên Hoa là một trong những thắng duyên

Trì tụng nhập tâm nghĩa diệu huyền vô lượng.

Học tập kinh, luật, lễ bái hành trì theo sư trưởng

Sống đời sống khiêm cung, hòa nhã nhún nhường

Ngài được tổ truyền thừa đi bố giáo Nam phương

Thiền viện Thanh Minh là chặng đường đầu giáo hóa.

Tâm nguyện học và sống theo Ðạo cả

Dùng giáo lý Phật Ðà chuyển hóa khai tâm

Tăng tục hữu duyên quy tụ chốn tòng lâm

Ðều hỷ dạ thanh tâm đón nhận dòng sửa pháp.

Ngài nhập hạnh vô duyên từ của Bồ tát

Sang Ai Lao chuyển vận pháp Ðại thừa

Thượng-Trung-Hạ Lào noi theo dấu chân xưa

Bao Thiện tín, Tăng ni, bao Phạm vũ huy hoàng được đượm nhuần mưa Pháp.

Chùa Hoa Nghiêm đầu tiên Ngài sáng lập

Nơi ánh sáng kinh đô trải mấy thập niên qua

Với công hạnh độ sanh, hoằng pháp là nhà

Ngài kiến tạo thêm Già lam, Phạm sát.

Chùa Pháp Vương, chùa Kim Quang nơi đất Pháp

Rồi Hộ Quốc, Từ Ân… đều tọa lạc tại Châu Âu

Ðức dĩ hóa nhơn, Hòa thượng Ðàn đầu

Truyền giới pháp cho Tăng Ni hậu duệ.

Thiện tín thọ Tam quy với Ðạo mầu xuất thế

Nương theo Ngài vượt bể khổ, sông mê

Hiểu được trần gian là cõi tạm, nẻo đi về

Ðạo giải thoát mới là đường siêu thế.

Hơn sáu mươi năm Ngài hành theo đại thệ

Nguyện báo Phật ân, hầu kế vãng khai lai

Bằng giới đức trang nghiêm, Tư-Tu-Huệ biện tài

Xứng danh bậc “Thạch thụ tòng lâm” nơi hải ngoại.

Nhiều tác phẩm trước thuật Ngài lưu lại

Là gia tài Pháp bảo cho hậu lai

Là Kim chỉ nam; là tâm huyết của đời Thầy

Là hạnh nguyện, là cây đại thọ.

Ðại Trí Ðộ Luận, kinh Hiền Ngu còn đó

Phật Bản Hạnh kinh in rõ dáng chân sư

Thiện Ác Nhân Quả kinh đượm hương đức bậc đại từ

Sám hối Diệt Tội kinh… có dư hơn 30 tác phẩm.

Cuộc đời Thầy luôn nêu gương tinh tấn

Hỷ xả từ bi, hạnh nhẫn nhục ba la

Thân giáo của Thầy là đức tính hiền hòa

Hành Bố thí, trì Pháp Hoa miên mật.

Lễ bái lục thời Hồng Danh chư Phật

Là thời khóa hằng ngày, là mật hạnh của Ân sư

Luôn hạ thủ công phu hơn nữa thế kỷ dư

Luôn thắng vượt lẽ thật hư của tứ đại.

Công hạnh Thầy là “tương ưng hạnh giải”

Vì hoằng pháp vi gia Thần quản ngại khó khăn

Vì lợi ích chúng sanh Thầy chẳng sờn lòng

Dẫu xuân hạ thu đông bốn mùa thay áo.

Với một bình bát, ba y giản đơn hành đạo

Với hạnh khiêm cung mà bố giáo muôn nơi

Với tính nhu hòa mà đức tỏa rạng ngời

Với tâm vô duyên từ chính là nơi y chỉ.

Thế rồi,

Dòng thời gian trôi qua không tư vị

Không nể tình, không chú ý pháp hữu vi

Không nương tay, không trừ cảnh biệt ly

Không thấu hiểu nỗi sầu bi của pháp quyến.

Kính bạch Ân sư,

Tuy vẫn biết là Thầy theo hạnh nguyện

Thuận thế vô thường hiển hiện chân như

Quảy dép về Tây hội kiến đấng Ðại Từ

Duyên ký tất, ghi danh vào Phật sử.

Chúng con vẫn biết:

“Bí thảo điêu tàn du vị tử

Ðàm hoa lạc khứ hữu dư hương”[1]

Nhưng thiếu vắng Ân sư nỗi kính tiếc không lường

Không ngăn được giọt sầu vương trong tâm khảm.

Nói sao biết trái tim Thầy từ mẫn

Cả đời Người luôn nghĩ việc giáo nhân

Càng nhớ, càng thương, càng kính tiếc bội phần

Khi Ân sư đã thâu thần thị tịch.

Than ôi!

Cõi trời Âu, khói sương giăng mờ mịt

Ðất Pháp mây sầu như cảm kính bậc danh Tăng

Thất chúng rưng rưng nhỏ lụy triêm cân

Pháp quyến ngậm ngùi sầu dâng khóe mắt.

Bởi lẽ,

Bậc hiền nhân đã dự vào dòng sử Phật[2]

Như hạc vàng đã cất cánh nhàn du

Sự nghiệp bao năm nay gửi lại chốn Diêm phù[3]

Xả huyễn thân Thầy về nơi Vô Trụ.

Nhìn lại:

Nơi Thiền thất đèn mờ hương khói phủ

Phương trượng án nghi hoa ủ rũ khóc Người

Ðâu dung mạo từ bi, đâu giọng nói, đâu nụ cười?

Ðâu hơi ấm của người Thầy khả kính?

Kể từ nay, cuộc hành trình vô hạn định

Ai sẽ dìu dắt, ai thức tỉnh khuyên răn

Ai rọi ánh từ quang cho thêm lớn tín căn

Ai giữ tâm thăng bằng cho hội chúng?

Chắc là phải nương vào sở dụng[4]

Những công trình bậc trí dũng đã gởi trao

Ðể giảm lược niềm đau, để ngăn bớt lệ sầu

Ðể “kế vãng khai lai,” để tròn câu Thích tử.

Giờ đây,

Trước phút giây tiễn biệt Ân sư

Chúng con nguyện giữ hạnh “Văn-Tư-Tu.”

Quyết noi dấu chân sư, quyết không phụ lòng từ

Cung kính nguyện Kim đài Thầy đoan ngự.

Nhất tâm đảnh lễ

Nam mô Từ Lâm Tế Chánh Tông Nhị Thập Thất Thế Hải Ngoại Pháp Quốc, khai sơn Hoa Nghiêm viện chủ húy thượng TRUNG hạ QUÁN Vũ Công Hòa thượng Giác linh thùy từ chứng giám

Pháp tử

Thích Ðức Thắng

Cảm Tạ

Ban tổ chức Tang lễ và Môn đồ pháp quyến

Ðọc trong lễ cung nghinh Kim quan cố Hòa thượng thượng Trung hạ Quán Trà tỳ ngày 11.03 Quý mùi – (12-04.2003) tại phòng tưởng niệm Crématorium L’Orme à Moineaux, Ulis.

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Ngưỡng bạch Chư Tôn Hòa thượng Chứng minh

Kính bạch chư Tôn Hòa thượng, chư Thượng tọa, Ðại đức Tăng Ni

Kính thưa toàn thể Phật tử,

Kính thưa quý liệt vị!

Cố Hòa thượng THÍCH TRUNG QUÁN

Khai sơn chùa Hoa Nghiêm, Paris – Pháp quốc

Ðã viên tịch vào lúc 02 giờ 30 phút ngày 01 tháng 4 năm 2003

(tức nhằm ngày 30 tháng 2 năm Quý mùi)

tại bệnh viện Villeneuve Saint Georges,

Trụ thế 86 năm - Hạ lạp 66 năm.

Tang lễ cố Hòa thượng đã được tổ chức trang nghiêm trọng thể trong thời gian 12 ngày, từ ngày 01.04.2003 (nhằm ngày 30-02 Quý mùi) đến 112.04.2003 (nhằm ngày 11-03 Quý mùi) tại tổ đình Hoa Nghiêm 20 rue Jean Jacque Rousseau, 94290 Villeneuve le Roi, France, và hôm nay lễ tưởng niệm, cung nghinh Kim Quan Hòa thượng Trà tỳ đến đây thập phần viên mãn.

Thay mặt Ban tổ chức Tang lễ và Môn đồ Pháp quyến, chúng con thành kính niệm ân:

- Ðức Ðại lão Hòa thượng thượng TÂM hạ CHÂU Thượng Thủ Giáo hội Phật giáo Việt Nam trên thế giới. Chứng minh và trưởng ban tổ chức Tang lễ.

- Hòa thượng Thích Minh Tâm, Hội chủ Hội đồng Giáo phẩm Trung Ương kiêm Chủ tịch Ðiều hành GHPGVN Thống nhất Âu châu. Chấp lệnh Tang lễ.

- Thượng tọa Thích Tánh Thiệt, viện chủ chùa Thiên Minh Lyon, Phó ban thường trực tổ chức Tang lễ.

- Thượng tọa Thích Trí Minh, Phương trượng chùa Khuông Việt Na Uy, Sám chủ tang lễ.

- Chư Tôn Thượng tọa, chư Ðại đức trong ban Kinh sư đạo tràng hộ niệm.

- Chư Tôn Hòa thượng, chư Thượng tọa, Ðại đức Tăng Ni các Giáo hội, Tổ Ðình, Tự viện, Tịnh thất, Niệm Phật Ðường, trên khắp thế giới.

 - Chư Tôn Hòa thượng, chư Thượng tọa, Ðại đức Tăng Ni Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất Âu Châu.

- Chư Tôn đức Giáo hội Phật giáo Nguyên Thủy Pháp quốc.

- Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất Hải ngoại tại Hoa Kỳ, văn phòng 2 Viện Hóa Ðạo.

- Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất Hải ngoại tại Úc Ðại Lợi, Tân Tây Lan.

- Chư Tăng Ni, Phật tử thuộc Môn hạ Vạn Phật Thánh Thành, Mỹ quốc.

- Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Thành hội Phật giáo Tp.HCM, Việt Nam, Tổ đình Vĩnh Nghiêm Tp. HCM.

- Tổ đình Hương Tích, xã Hương Sơn, huyện Mỹ Ðức, tỉnh Hà Tây, Việt Nam.

- Chư Tôn đức Tăng Ni thuộc các tự viện ở miền Bắc, miền Trung và miền Nam Việt Nam.

- Chư Tôn đức thuộc Sơn môn Pháp phái, Tổ đình Ðồng Ðắc, Hòe Nhai, Quãng Bá ở Hà Nội.

- Giáo hội Phật giáo Tăng già Khất Sĩ Thế giới tại Pháp.

- Hội Phật giáo Việt Nam San Diego. Chùa Vạn Hạnh.

- Ðạo tràng Hộ niệm, Gia đình Phật tử của các chùa Hoa Nghiêm, Khánh Anh, Linh Sơn, Quán Âm, Khuông Việt. Quý vị Phật tử trong các ban Công quả, Trai soạn, Hành đường, Trang hoàng… Chấp tác trong thời gian Tang lễ.

- Ðại diện của Mairie Villeneuve le Roi, đội Công an giao thông.

- Y, Bác sĩ và nhân viên bệnh viện Villeneuve Saint Georges.

- Văn phòng Mai Táng Á Châu, quí vị Nhân viên của Crématorium L’Orme à Moineax, Ulis.

Kính thưa quý liệt vị.

Trong suốt thời gian tang lễ và thể theo sự thỉnh cầu của chúng con. Chư Tôn Ðức không ngại đường xá xa xôi, Phật sự đa đoan, cung tựu về đây chứng minh, hộ niệm, phúng điếu, chia buồn, gởi điện, fax, điện hoa, email phân ưu, giờ này buổi lễ được thập phần viên mãn. Chúng con không biết lấy gì để đền đáp công đức ấy, chỉ biết đầu thành đảnh lễ quý Ngài, thành tâm cầu nguyện chư Tôn Ðức Pháp Thể Khinh An, chúng Sanh Dị Ðộ.

Chúng tôi cũng xin chân thành cảm tạ các hội đoàn gia đình Phật tử và quý thiện hữu, đã dành thời gian quý báu đến đây cung tiễn Giác linh cố đại lão Hòa thượng cao đăng Phật quốc. Xin cầu nguyện chư Phật gia hộ quý vị thân tâm thường An Lạc, hạnh phúc miên trường.

Trong suốt thời gian tang lễ, vì quá đau buồn nên dù cố gắng đến đâu cũng không sao tránh khỏi những thiếu sót, ngưỡng mong chư Tôn thiền đức cùng quý liệt vị, niệm tình hoan hỉ.

Nam Mô Công Ðức Lâm Bồ Tát Ma Ha Tát.

 


 

[1] Tạm dịch: Cỏ Bí (Bí Sô, Bí Khu, Tỷ Khưu) dẫn tàn nhưng chẳng mất – hoa Ðàm tuy rụng vẫn còn hương.

[2] Phỏng theo câu: “Hạc vàng vổ cánh về Tây Trúc Ðông độ danh Tăng Phật sử ghi.”

[3] Diêm phù đề/đàn, Nam diêm phù đề: cõi Ta bà, chỉ cho thế gian, cuộc đời này.

[4] Ý  nói đến công trình trước tác, dịch thuật Tam tạng của Hòa thượng.


---o0o---

Phần III

Thơ Văn, Tưởng Niệm

Hãy Noi Gương Sáng

TP. HCM, ngày 02-06-2003

Nam Mô A Di Ðà Phật

Kính gửi chư Tôn đức Tăng Ni

Và quí Phật tử trong Mô đồ Pháp quyến chùa Hoa Nghiêm

20 rue J.J. Rousseau

94290 Villeneuve LeRroi – France.

Thưa Quí vị,

Ngay sau được tin Giác linh Hòa thượng Thích Trung Quán, Viện chủ chùa Hoa Nghiêm tại Pháp viên tịch, chúng tôi đại diện chư Tăng Ni và Phật tử chùa Vĩnh Nghiêm, TP.HCM quê nhà, đã gửi điện sang phân ưu cùng Quý vị, và cầu nguyện Giác linh cố Hòa thượng được cao đăng Phật Quốc.

Sau tang lễ và Tuần chung thất Giác linh cố Hòa thượng, quý vị lại phát vô thượng Hiếu tâm, biên soạn tập kỷ yếu để cung tiến Hòa thượng Tôn sư nhằm đền đáp công ơn giáo dưỡng trong muôn một.

Cảm niệm Hiếu tâm và Hiếu Ðạo sâu đậm của Quý vị, chúng tôi chân thành chia sẻ Ðạo tình, kính dâng lên Giác linh cố Hòa thượng.

Tôi còn nhớ, đầu xuân 1950, trước khi trở lại Hà Nội, tôi có tới kính thăm Sư tổ chùa Ðồng Ðắc, là một trong mười vị Ðại Giới Sư của tôi. Thành ra cố Hòa thượng là pháp tử và tôi là giới tử của  Sư tổ Ðồng Ðắc.

Vào Saigon, đầu năm 1955, tôi gặp cố Hòa thượng ở chùa Thanh Minh thiền viện. Lúc đó Ngài đang dịch kinh Hiền Ngu. Về sau từ Lào sang Pháp, trụ trì chùa Hoa Nghiêm, Ngài lại dịch thêm hai bộ: Kinh Phật Bản Hạnh 60 quyển và Luận Ðại Trí Ðộ 100 quyển.

Sau khi Việt Nam thống nhất 1975, Sư tổ Ðồng Ðắc (Thích Ðức Nhuận) lên ngôi Pháp chủ Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam 1981. Rồi đức Pháp viên tịch tại chùa Quán Sứ Hà Nội, Trụ sở Trung Ương của Giáo hội, vào thập niên 90. Trong đại tang này, tôi lại được gặp cố Hòa thượng Thích Trung Quán, từ Paris về Hà Nội để thụ tang và báo hiếu Tôn sư đức Pháp chủ.

Ðó là đôi điều mà chính tôi đã viết về quá trình Hoằng Pháp lợi sinh của Giác linh cố Hòa thượng. Mong rằng: Chư Tôn đức Tăng Ni và Quý Phật tử tại Pháp và Bỉ hãy noi gương sáng của Ngài để duy trì tốt ngôi chùa Hoa Nghiêm tại Pháp, bằng cách làm cho Tốt Ðạo Ðẹp Ðời cũng như một bông sen tươi mát luôn luôn làm cho cuộc đời được ngát thơm và tươi đẹp.

Nam Mô Ma Ha Sa Môn, Tỳ Khưu Bồ Tát Giới cố Hòa thượng Thích Trung Quán Thiền sư Giác linh thiền tọa hạ, tác Ðại chứng minh.

Hòa thượng Thích Ðức Nghiệp,

Thành viên Hội Ðồng Chứng minh Trung Ương, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam,

Trưởng ban quản trị chùa Vĩnh Nghiêm,và chùa Giác Minh, TP.HCM, Việt Nam, kính bái!

Thành Kính Cảm Niệm

Giác linh cố Hòa thượng Thích Trung Quán Ngài sinh ngày 09 tháng 6 năm Mậu ngọ tỉnh Nam Ðịnh - Bắc Việt.

Viên tịch 2 giờ 30 sáng ngày 30 tháng 02 năm Quí mùi (1-4-2003) tại tổ đình Hoa Nghiêm, Pháp quốc, trụ thế 86 năm, hạ lạp 66.

Ðêm nay cánh hạc lưng trời

Ðón Người sứ giả rạng ngời, hồi hương

Tổ Ðình chuông điểm sầu vương

Môn đồ, Pháp quyến hoa hương lệ thầm!

Trời Nam, đất Việt tin Người tịch!

Xúc động sầu dâng dạ đầy vơi…

Nhớ lại năm xưa ngồi đối ẩm

Dáng, lời siêu thoát nét tuyệt vời.

Biết nói gì, trùng dương muôn dặm

Người về, kẻ ở trĩu nặng sầu!

Sứ mệnh trăng tròn Người về trước

Trọn vẹn rồi, xin hẹn cùng nhau…

Trăm năm cõi mộng Người sớm tỉnh

Nương bóng từ quang nguyện ngoài vòng…

Gió sương mưa nắng không lùi bước…

Hóa độ ngàn nơi vẹn một lòng.

Ai cũng hiểu: có sinh thì có tử

Nhưng nào ai ngăn nổi lệ phân ly!

Biết đấy, mà lòng người đâu vượt thoát

Chăng là, còn nặng nghiệp, kiếp sầu bi?

Ðường trần muôn ngã đời son phấn

Bẩy chúng nương ai ở xứ người

Lênh đênh mặt nước thuyền không lái

Biết cậy ai đây giữa biển khơi!

Trãi qua năm tháng bao công đức

Quẩy dép về Tây chẳng vấn vương

Tăng ni, Phật tử lòng mến tiếc

Thành kính dâng Người nén tâm hương.

Trần thế từ đây Người vắng bóng

Thượng phẩm đài sen nét đặc thù

Hạnh nhẫn lòng người in đậm nét

Gương trong Từ Ðức mãi tăng thu.

Ðêm nay hoa tuyết trắng ngần

Tiền Người đức độ cõi trần về Tây

Hoa Nghiêm chánh điện hương bay

Vang vang lời nguyện bóng Thầy Tây Phương.

HT. Thích Quang Khải

Việt Nam – Quý mùi 2003

Tưởng Nhớ về Hòa thượng Thích Trung Quán

Vào một buổi chiều Xuân ngày 1-3 năm Quý mùi, khi mà Tăng Ni Phật tử trong Tổ đình chùa Hòe Nhai đang chuẩn bị làm lễ kỷ niệm ngày húy nhật tiền tổ, thì được tin Hòa thượng Thích Trung Quán ở bên Pháp thâu thần thị tịch, tôi và Tăng Ni Phật tử thật bàng hoàng xúc động. Vẫn biết thế gian vô thường, có sinh tất có diệt, nhưng sự ra đi của Hòa thượng đã làm cho Tăng Ni và Phật tử trong sơn môn pháp phái chúng tôi “vô cùng kính tiếc”:

Quảy dép về Tây chốn nghỉ ngơi

Hạc vàng cất cánh  chốn chân trời

Bóng nhạn đã khuất nơi trần thế

Kẻ ở người đi luống ngậm ngùi

Tôi và Hòa thượng Thích Trung Quán là anh em huynh đệ, cùng sơ tâm xuất gia tu học dưới mái chùa Ðồng Ðắc. Nay Hòa thượng cưỡi hạc về Tây, đã làm cho những kỷ niệm về Hòa thượng trong tôi được sống lại.

Nhớ Hòa thượng xưa, bản tính hiền hòa, mộ đạo Phật từ khi còn thơ ấu, thường đắp tượng Phật để tôn thờ, việc làm đó làm cho tôi liên tưởng tới hình ảnh cháu bé đã từng cúng dàng Ðức Phật nắm đất ở trong kinh có lẽ được tái sinh nơi Hòa thượng.

Vốn có duyên lành với Phật pháp, sau khi nhận ra lẽ vô thường, chí xuất trần phát khởi nơi tâm, Hòa thượng đã quyết chí xuất gia, được sự dìu dắt dạy bảo ân cần của Thầy Nghiệp sư là đức Pháp chủ đầu tiên của GHPGVN hiện tại, Hòa thượng một lòng cầu đạo, tinh tiến tu học, bao năm tháng nấu sử sôi kinh, giới luận tinh cần, sớm chiêu, chiều mộ; Từ khi còn là một vị Tỳ kheo trẻ tuổi cho đến sau này trở thành bậc thạch trụ trong tùng lâm, chưa bao giờ Hòa thượng sao lãng việc trì tụng kinh Pháp Hoa và đỉnh lễ hồng danh chư Phật, công năng tu tập của Hòa thượng, đã cho chúng ta thấy được là sau khi viên tịch làm lễ trà tỳ, Hòa thượng đã để lại cho đời rất nhiều những viên ngọc xá lợi quý báu.

Trong cuộc sống tu hành hằng ngày, Hòa thượng là người luôn luôn giữ phép lục hòa cộng trụ, thượng tùy hạ tiếp – Trên kính dưới nhường, thân ái với mọi người đã góp phần tạo nên sự đoàn kết giữa các hệ phái Phật giáo với nhau, cũng như sự hài hòa giữa đời với đạo.

Hòa thượng là bậc chân tu thạc đức, học vấn uyên thâm, vì thế dù hành đạo ở trong nước hay ở nước ngoài Hòa thượng đều đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của một “Như lai sứ giả”. Nay Hòa thượng viên tịch, bao nhiêu chùa của ở Lào, Pháp, Bỉ do Hòa thượng sáng lập lấy ai là người lãnh đạo tối cao về tinh thần? Bao nhiêu Tăng Ni và Phật tử lấy ai là người hướng dẫn trên con đường tu tập? Câu hỏi này đã được Hòa thượng giải đáp bằng chính trên 30 tác phẩm do Hòa thượng dịch thuật, Ngài đã để lại cho hàng hậu học một gia tài pháp bảo vô giá, để các Tăng Ni và Phật tử biết nương vào chính pháp, nương tựa vào chính mình mà tu tập, góp phần xiển dương chính pháp lợi lạc quần sinh.

Thuận theo lẽ vô thường, ngày nay tuy Hòa thượng đã xả bỏ huyễn thân, nhưng công đức và đạo hạnh của Hòa thượng còn in đậm và sống mãi trong lòng Tăng Ni và Phật tử của Sơn môn pháp phái.

Hòa thượng Thích Thanh Khánh

Tổ Ðình Hòe Nhai

Mùa An Cư Kiết Hạ Phật Lịch 2547

Tưởng Niệm

Cố Hòa thượng Thích Trung Quán

Mới đó mà đến 100 ngày rồi. Quả thật thời gian trôi qua nhanh quá! Người xưa ví thời gian như bóng ngựa non chạy nhanh qua cửa sổ cũng như thế. Mới ngày nào đó Hòa thượng vẫn còn mạnh khỏe, da dẻ hồng hào. Với dáng điệu từ bi, bước đi khoai thai, thiền vị, luôn tôn kính giới luật và lấy giới luận làm đầu; nên có vị khách tăng nào xin đảnh lễ Ngài, Ngài đều luôn khua tay chối từ bằng một cử chỉ rất ư là từ ái.

Hôm nay có thầy Ðức Thắng là đệ tử của Hòa thượng có biên thư và nhờ tôi viết một bài để đăng vào kỷ yếu sau tuần bách nhật. Do vậy tôi chắp bút để viết lên những dòng chữ tâm thành nầy, nhất là sau khi đã tham dự tang lễ của Ngài và xem qua cuốn Video đã quay lại đời Ngài lúc còn hiện tiền cũng như lúc lâm chung. Tôi biết nói và biết viết gì đây cho một bậc Ðại Tăng có công với Ðạo trong việc xây dựng chùa chiền từ Việt Nam qua Lào, rồi từ Lào sang Pháp, qua Bỉ và đặc biệt là đào tạo Ni chúng cũng như Tăng tài và nhất là phiên dịch những bộ kinh có giá trị, trong đó có bộ Ðại Trí Ðộ Luận gồm 9 cuốn; mỗi cuốn độ 500 trang, gồm 100 quyển trực dịch từ Ðại Tạng kinh chữ Hán.

Tôi vốn ham đọc sách từ thuở nhỏ; nên đã có duyên đọc tác phẩm kinh Hiền Ngu của Ngài dịch từ năm 1964, 1965. Lúc ấy thấy có nhiều mẩu chuyện tìền thân của Ðức Phật rất hay nên tôi đã chăm chú đọc; nhưng không để tâm mấy đến tên của dịch giả. Mãi về sau nầy, những năm 1977, 1978, 1979 khi nào chùa Khánh Anh ở Paris cần sự hiện diện của tôi, lúc Hòa thượng Minh Tâm đi vắng, thì tôi lại qua xứ Pháp nhiều hơn và mỗi lần như thế, tôi đều có ghé thăm vấn an Hòa thượng. Lúc nào cũng thế, cũng chỉ một nụ cười rất đơn giản và trông có vẻ như một nhà nho, một vị Thiền sư. Thông thường tôi chỉ thăm Ngài chừng một tiếng đồng hồ và cáo từ. Vì Ngài rất bận rộn cho việc dịch kinh, dạy chúng.

Một hôm trong năm 1991 tôi đến thăm Hòa thượng, Hòa thượng có hỏi rằng: Chùa khánh thành rồi; nhưng thấy chưa xong, vì lý do vì thế? Tôi bạch rằng: Bạch Ngài. Lý do duy nhất chỉ vì vấn đề tài chánh còn trở ngại thôi. Nhân cơ hội nầy tôi đã xin phép Hòa thượng cho chùa Viên Giác tại Hannover mượn 20.000 FF, tương đương với 3.000 Euro bây giờ và Hòa thượng đã hoan hỷ. Ðến năm, 1998, khi Viên Giác đã thư thả, tôi có đem số tiền ấy xin hoàn lại Hòa thượng; nhưng Hòa thượng đã chối từ và bảo rằng: Ðó là Phật sự chung, hãy để đó chăm sóc cho chùa. Ơn nghĩa ấy biết bao giờ mới đền đáp được, mà lúc nào tôi cũng tâm tâm niệm niệm nơi cõi lòng, phải làm sao đây để báo ân Hòa thượng.

Sau nầy khi dạy cho chúng xuất gia ở Viên Giác, tôi đã đem bộ Ðại Trí Ðộ Luận của Ngài dịch từ chữ Hán sang tiếng Việt và do Phật Học Viện Quốc Tế ở Mỹ ấn hành năm 1992 tại Hoa Kỳ và nay đang đọc đến quyển thứ 59 về phẩm Xá Lợi. Ðây là một bộ kinh Ðại Thừa rất vi diệu. Chúng tôi đã học 5 năm rồi, đến bây giờ mới hơn phân nửa kinh và còn 41 phẩm nữa có lẽ sẽ hoàn thành trong 4 năm tới. Vì lẽ mỗi tuần chúng xuất gia chỉ học với tôi một lần vào ngày thứ hai và chỉ có 1 tiếng rưỡi đồng hồ mà thôi.

Bơi lội trong biển cả bao la của Phật Pháp ấy do Ngài Long Thọ đề bạt chủ xướng, Ngài Cưu Ma La Thập dịch từ chữ Phạn sang chữ Hán và ở cuối thế kỷ thứ 20, gần 2.000 năm sau bộ kinh ấy đã được Hòa thượng Thích Trung Quán dịch sang tiếng Việt và vì thế mà chúng ta ngày nay mới có cơ hội học hỏi, đọc tụng, tham khảo. Công đức ấy như một trí tuệ cao viễn tuyệt vời, chúng ta cho hoài không hết, học hoài không xong, tu hoài không ngán.

Ngày nay Hòa thượng đã ra đi; nhưng những giá trị tinh thần ấy do sự miệt mài phiên dịch của Hòa thượng mà đàn hậu học chúng ta mới có cơ hội để tu trì và nghiên cứu.

Ðã đến ngày tuần 100 của Hòa thượng, chúng con cũng đang học phẩm Xá Lợi thứ 59 của Ðại Trí Ðộ Luận và cũng nhân tuần 100 ngày nầy chùa Hoa Nghiêm tại Bỉ cung nghinh Xá Lợi của Hòa thượng về tôn trí tại đây. Có một cái gì đó trùng hợp chăng? Hay là Bồ Tát đã thị hiện để vào đời bằng nhiều hình thức khác nhau của thân giáo, khẩu giáo và ý giáo? Ðây là một hình ảnh nhiệm mầu khi chúng ta đi sâu vào Trí tuệ của Bát Nhã mà trong Ðại Trí Ðộ Luận đã có không biết bao nhiêu lần Ngài Long Thọ nhấn mạnh như thế.

Trong Ðại Trí Ðộ Luận có nhiều câu chuyện khuyên dạy rất hay, mà tâm đắc nhất với tôi là câu chuyện nầy:

Cũng như thế đó, vàng ròng được đựng trong một túi dơ. Vậy thì ngươi lấy vàng hay lấy túi?

Dĩ nhiên là con chọn vàng.

Ðiều ấy đúng; nhưng nếu không có túi dơ làm sao đựng vàng được?

(*Chú: Túi dơ dụ cho thân của ta. Còn vàng tượng trưng cho Phật tánh)

Lại nữa! nếu như ngươi đang ở trong đêm tối. Bỗng có một người mù đưa đuốc cho ngươi soi đường. Vậy ngươi chê người mù không lấy đuốc, hay ngươi lấy đuốc mà không cần đến người mù?

Dĩ nhiên  là con chọn cây đuốc.

Nhưng nếu không có người mù thì làm sao ngươi có được cây đuốc?

(*Chú: Người mù dụ cho chúng sanh. Cây đuốc dụ cho Phật tánh)

Giống như thế, có nhiều mẩu chuyện đối đáp rất tuyệt vời. Ða phần chúng ta chấp vào hình tướng đẹp xấu; nhưng chúng ta quên đi tâm Phật của mình hay của người đối diện. Vì lẽ ai cũng có Phật tánh; nhưng vì vô minh sanh tử đã khiến ta phải nổi trôi trong sáu nẻo luân hồi, không tự biết mình; chỉ biết tự làm khổ mình và khổ người mà thôi.

Tôi và Tăng chúng chùa Viên Giác chỉ đến đảnh lễ nhục thân Ngài trước một ngày làm lễ trà tỳ. Vì chúng tôi có nhiều Phật sự vào cuối tuần ấy. Dĩ nhiên là trong Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Ấu Châu đã có Hòa thượng Thích Minh Tâm, Thượng tọa Thích Tánh Thiệt, Thượng tọa Thích Trí Minh cùng với hơn 50 Tăng Ni trong Giáo Hội đã đến tham dự tụng kinh, phúng điếu, trợ niệm. Còn chúng tôi đã không tham dự lễ tống tang và trà tỳ của Ngài được, thật lấy làm áy náy và khổ tâm.

Ðám tang của Ngài quá vĩ đại. Vì có Ðại Lão Hòa thượng Thích Tâm Châu từ Canada sang tham dự. Ngài có đọc điếu văn tưởng niệm và chư Tăng Nam Tông, Bắc Tông cùng tất cả các tự viện tại Paris như Linh Sơn, Quan Âm, Khánh Anh, Trúc Lâm, Khuông Việt v.v.. đều đến tham dự. Vả chăng nhờ công đức phiên dịch của Ngài mà đã động lòng đến tứ chúng, cảm thọ đến chư Thiên; cho nên đám tang của Ngài được cử hành một cách trang nghiêm trọng thể như thế.

Tôi chưa trực tiếp học với Ngài giờ nào; nhưng qua kinh sách của Ngài dịch, tôi đã học hỏi thâu thập được rất nhiều để làm hành trang trong cuộc sống tu học của mình.

Mong rằng 4 chúng đệ tử của Ngài, xuất gia cũng như tại gia luôn luôn hòa thuận, chia xẻ những khó khăn trong cuộc sống cũng như san sẻ cho nhau những niềm vui khi ân sư đã vắng bóng và mặc dầu Ngài đã tịch; nhưng Ngài vẫn còn. Ðó là hình ảnh của đạo đức, tác phong, đức hạnh của đời Ngài. Ðó là một bài học không lời; nhưng tôi tin rằng rất mãnh liệt, có thể soi rọi cho mọi người trở về con đường chân thiện mỹ.

Cung kính cúi đầu đảnh lễ.

Thích Như Ðiển

Phương trượng chùa Viên Giác

Hannover, Ðức quốc

Ðôi Dòng Kỷ Niệm

“Vòng đời phải chăng là duyên khởi

Lý vô thường-có, có chi đâu

Chốn dương đài-cuộc bể dâu

Nơi trần thế, là không không sắc sắc.”

Thật vậy, Ngài không đến không đi, chỉ ghé thăm cõi nhân gian này, hơn tám thập niên mà thôi, nhưng Ngài đã để lại cho thế gian biết bao ký ức tốt đẹp về Ngài.

Ðời Ngài là một tấm gương sáng, Ngài điềm đạm, hiền hòa, khiêm cung và độ lượng. Ngài nghe thật nhiều mà nói thật ít. Ðời Ngài như chưa bao giờ làm mất lòng bất cứ ai, nhưng không phải thế mà lập trường sắt son của Ngài bị lay chuyển.

Ngài sinh ra dưới chân núi Gôi bên bờ sông Vị tỉnh Nam Ðịnh vào tuổi thành niên, Ngài thoát tục theo thầy (Sư tổ Thích thượng Ðức hạ Nhuận) xuất gia và tu học tại chốn Tổ Ðồng Ðắc tỉnh Ninh Bình, miền Bắc Việt Nam. Sau đó Ngài lại vào miền Nam, rồi sang Lào, Pháp, để nhằm mục đích trau dồi trí tuệ, một lòng tham phương học đạo khắp cảnh đất khách trời Tây. Rồi cũng đã đến lúc: “Trụ pháp vương gia, trì Như Lai tạng” Ngài đảm nhiệm chức viện chủ chùa Hoa Nghiêm tại Pháp quốc ngỏ hầu truyền đăng tục diệm, hoằng dương chánh pháp, tiếp dẫn hậu lai báo Phật ân đức. Trong quảng thời gian đó, mặc dầu Ngài cũng gặp nhiều chướng duyên trên bước đường tu hành của mình. Nhưng bởi, bẩm tính từ bi, hiền hòa đức độ sẳn có và sớm giác ngộ cõi đời huyền ảo, nên Ngài không bị các chướng duyên ấy làm khuấy động chí xuất trần thượng sĩ của Ngài. Ngài vẫn một mực chuyên tâm giữ gìn giới đức, coi trọng đạo pháp, lập hạnh nguyện chuyên tu, để sớm dứt được cái lụy phiền ràng buộc nơi cõi nhân gian và mong mỏi ngày đêm tạo được nhiều ân đức để rồi:

“Sự thế tục giang tay phổ tế

Cuộc hồng trần chia trí dung thông”

Cho nên, Ngài được bao người kính thương, bao người cảm mến. Nét đẹp của Ngài không chỉ hiển hiện mãi bên tôi, bên mọi người đã từng hơn một lần được gặp và tiếp xúc với Ngài, mà nó sẽ còn mãi mãi với thời gian. Có lẽ thế mà cái tên gọi gần gũi thân thương “Sư ông Thanh Quất” được mọi người xứ Ninh Bình, đất Bắc tại Việt Nam, nơi Ngài đã từng  sinh ra và lớn lên giành cho Ngài mà tôi được nghe hẳn là có cơ sở.

Vào một ngày đẹp trời gần đây nhất, khi di ảnh của Ngài được rước về chốn tổ Ðồng Ðắc, tôi cùng quý Sư cô - đệ tử của Ngài tại hải ngoại về được và đến Hòa thượng Thức Minh tức viện chủ chùa Yên Bình, trưởng ban tri sự Phật giáo tỉnh Ninh Bình, xưa kia cũng là huynh đệ đồng môn với Ngài kể cho nghe rằng: tính tình của Ngài rất từ tốn và khiêm cung, luôn hòa đồng cùng với huynh đệ, không những thế Ngài còn luôn cần mẫn tinh tiến trong việc tu học đêm khuya thanh vắng Ngài thường ngồi gốc cây gạo bên bờ hồ bán nguyệt trước chùa trầm tư mặc niệm tọa thiền. Ðặc biệt ngay khi còn làm tiểu tại chốn Tổ, Ngài đã siêng năng thọ trì bộ kinh Diệu Pháp Liên Hoa. Chẳng bao lâu sau, cái gì đến đã đến, cánh cửa Diệu Pháp đã hé mở đón Ngài. Ngài đã nhập tâm được bộ kinh này. Và kể từ đó cho đến sau này, Ngài vẫn luôn trì tụng không một lần xao lãng. Quả là một cao Tăng thạc đức, đáng được chư thiên và loài người nể phục lắm thay!

Ðến năm 1985, cũng đã hơn 50 năm vân du hoằng hóa tại hải ngoại, lần đầu tiên trở về nước thăm quê hương và thầy tổ, đó cũng là lần đầu tiên huynh đệ tôi được diện kiến nhau. Những ngày sống bên Ngài, tôi cảm thấy vô cùng an lạc như có một sức sống lạ thường đến với tôi, và tất cả những gì được thấy và kể về Ngài khi xưa, nay như đang sống động trước mắt tôi. Với những tưởng:

“Trống chuông chiều khua tỉnh đêm trường mộng mị

Kinh vàng kệ ngọc bảo ban khách tục đam mê”

Nào hay: Chiếc dép hữu tình còn rơi lại đó, con thuyền vô để đã ngự đi đâu? Chắc hẳn nơi Ngài đến cũng có nhạc trời hầu hạ, xe kiệu đón đưa; chắc hẳn cũng có tràng phan bảo cái, cung nghinh tiếp rước Ngài. Bởi lẽ, đuốc quang minh đâu còn lạc còn lầm. Ngài ra đi là để trở về với tự tính vốn có của Ngài. Ngưỡng nguyện giác linh Ngài:

Một mai thân xác tiên tan

Danh thơm vẫn ở thế gian muôn đời

Pháp thân lồng lộng tuyệt vời

Chiếu soi pháp giới rạng ngời chân như.

Trụ trì Tổ đình Ðồng Ðắc

Sư đệ: Thích Thọ Lạc

Cẩn phụng

Hóa Ðạo Thong Dong

Nước khuya soi bóng ngàn sao lạnh

Ngọn cỏ hây hây tiễn nguyệt tà

Hoa Nghiêm chuông vẫn vang xa

Cảnh đây người đó… bàng hoàng tiếc thương.

Nhớ ngày nào

Trung, hạ Lào…lời Ngài chuyển hóa

Miền Tây xa cất bước vân du

Kim Liên đất tổ sơ tu