GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM
PL.2536 – DL.1993
HÒA
THƯỢNG
THÍCH TRÍ THỦ
KỶ YẾU
VĂN PHÒNG TRUNG ƯƠNG
GIÁO HỘI PHÂT GIÁO VIỆT NAM
Ấn hành
---o0o---
LỜI PHÁT BIỂU
CỦA HOÀ THƯỢNG THIỆN SIÊU
TRONG BUỔI LỄ CHUNG THẤT
CỐ HÒA THƯỢNG THÍCH TRÍ
THỦ TẠI GIÀ LAM
Ngày 20-4 Giáp Tý (20-5-1984)
Nam mô A Di Đà Phật
Giờ đây trước bàn linh
trang nghiêm của cố đại lão Hòa thượng, tất cả Tăng Ni Phật tử chúng ta
đang còn mang nặng trong tâm tư nỗi niềm bùi ngùi xúc động, thương tiếc
nhớ tưởng một vị Cao Tăng, một bậc Thầy đạo hạnh cao thâm, chí nguyện kiên
trinh, trọn đời hiến mình cho Đạo pháp và Dân tộc. Với cố giác linh Hòa
thượng, tất cả chúng ta những người đã gần gũi, những người đã thọ ân pháp
hóa, không ai không khắc cốt ghi tâm, những nụ cười hoan hỷ, những
dáng điệu vui tươi, những cái nhìn từ mẫn, những câu nói hiền hòa đậm đà
đạo lý, nên một khi nghe Hòa thượng viên tịch, tất cả Tăng Ni Phật tử nơi
nơi không ai cầm được giọt lệ, như thấy mình đã mất một bóng cây đại thọ
che mát, như thấy mình thiếu giọt nước cam lồ, như thấy mình không còn nơi
nương tựa. Sự xúc động, sự nghẹn ngào đã dâng trào khắp tất cả mọi hàng
Tăng Ni Phật tử, ở trong chùa, ở giữa đường , ở ngoài chợ, sau khi nghe
tin Hòa thượng viên tịch. Sự thông cảm đó đã nói lên công lạnh lớn lao,
cái chí nguyện cao cả của Hòa thượng đã ban bố cho hàng Tăng Ni Phật tử.
Nên trước cái công lạnh lớn lao đó, dầu có nói mấy cũng không cùng, dầu có
tả mấy cũng không hết, chỉ chúng ta lắng lòng suy tư, lắng lòng nhớ tưởng,
chúng ta mới thấy rõ được những nét cao siêu, những nét thâm huyền, những
nét đạo hạnh nơi Hòa thượng, Hòa thượng luôn luôn phát nguyện rằng
:
Một lòng kính lạy Phật
đà,
Đời đời con nguyện ở
nhà Như lai.
Con hằng mặc áo Như
lai,
Con ngồi pháp tọa Như
lai muôn đời.
Đó là một lời nguyền thâm
sâu phát xuất từ kinh Pháp Hoa, với ý nghĩa nhà Như lai là tâm đại từ bi,
áo Như lai là tâm nhu hòa nhẫn nhục, tòa Như lai là Nhất thiết pháp không,
đại từ bi là Đại bi, nhu hòa nhẫn nhục là Đại hùng, Nhất thiết pháp không
là Đại trí. Hòa thượng đã lấy câu kinh trong kinh Pháp Hoa làm cái chí
nguyện cao cả của mình, suốt đời tuân theo suốt đời hành đạo. Nhờ đó mà
trải qua bao nhiêu việc làm của Hòa thượng đều mang một sắc thái đậm đà
đạo lý, mang một sắc thái tư lợi lợi tha, ích đời lời đạo. Dù tuổi già đã
76, nhưng Hòa thượng vẫn mỗi buổi sáng dậy thật sớm, hai giờ rưỡi, uống
nước, tắm, rồi đi vào chùa lễ Phật 108 lạy trên một giờ đồng hồ, tiếp tục
lại trì chú thêm một giờ đồng hồ nữa. Sự tu niệm chuyên cần đó không phải
chỉ một ngày hai ngày mà luôn luôn hằng cả hai ba chục năm, không phải ở
tại chùa mình mà bất cứ ở chùa nào, sáng nào cũng làm y như thế, không
phải ở trong nước mà trong khi đi ra ngoại quốc dự đại hội, làm những việc
Phật sự, Hòa thượng vẫn giữ công hạnh đó. Qua cái công hạnh đó để thấy rõ
rằng chí nguyện Hòa thượng sâu xa biết chẳng nào, nếu ngược lại, một chí
nguyện mỏng manh hời hợt thì làm sao thực hiện được một đạo hạnh thâm sâu
lâu dài như thế. Một điều ấy cũng đủ cho tất cả hàng Tăng Ni phật tử chúng
ta đời đời ghi nhớ, tất cả hàng Tăng Ni Phật tử chúng ta đời đời noi gương
Hòa thượng và kính lạy bao nhiêu lạy cũng không vừa. Huống chi Hòa thượng
không phải chỉ nghĩ riêng việc lợi mình giải thoát, còn nghĩ đến việc
hoằng đạo lợi sanh, dìu dắt Tăng Ni trên đường chánh pháp. Hòa thượng từng
tổ chức bao nhiêu Phật học đường ở Linh Quang, Báo Quốc Hải Đức,
Già Lam, đào tạo những lớpTăng Ni nhỏ, đào tạo những lớp Tăng Ni lớn. Hòa
thượng đã đeo đuổi công hạnh đào tạo Tăng Ni của mình suốt bao chục năm
trường không biết mệt mỏi. Nhờ đức tánh từ hòa hoan hỷ bao dung, ngồi với
Hòa thượng thì Hòa thượng trở thành Hòa thượng, đối với thanh niên thì Hòa
thượng trở thành thanh niên,đối với Tăng trẻ Hòa thượng trở thành người
trẻ, đối với em bé Hòa thượng cũng nói chuyện vui vẻ như một em bé. Do vậy
đó mà bao nhiêu năm Hòa thượng sống với chúng Tăng không phải toàn là
những người tu đạo lâu ngày, mà những người mới nhập đạo có, những người
đi sâu trên con đường tu niệm có, những người mới pháp tâm có, tánh tình
mỗi người mỗi chứng, đức hạnh mỗi người mỗi cách) thế mà Hòa thượng bao
dung được tất cả dưới sự nâng niu giáo dục của mình, không từ bỏ một ai.
Người có khả năng, Hòa thượng nâng đỡ theo khả năng, người khả năng kém
Hòa thượng nâng đỡ theo khả năng kém, không để cho ai trở thành người vô
dụng. Đó là một công đức lớn lao, một chí nguyện lớn lao, một bức gương
sáng để hàng Tăng Ni Phật tử chúng ta soi sáng noi theo muôn đời không
hết. Trong khi tổ chức giáo dục Tăng Ni, Hòa thượng đã có những cái nhìn
xa thấy rộng, không phải chỉ gò bó trong một cách cổ xưa mà nâng đỡ Tăng
Ni, giáo dục Tăng Ni có những kiến thức, những đức hạnh thích hợp với hoàn
cảnh với thời cơ để phụng đạo lợi đời Hòa thượng đã từng mở ra đưa Tăng Ni
đi thi để có những bằng Tiểu học rồi bằng Đại học đủ phương tiện để truyền
dương chánh pháp. Không phải chỉ lo mặt tinh thần, Hòa thượng còn lo mặt
vật chất cho Tăng Ni, đi đâu cũng mở những cơ sở kinh tế tự túc để cho
Tăng Ni vừa làm vừa học, vừa nuôi sống vật chất; thể chất.,vừa nuôi sống
tinh thần, để cho một người vừa có đủ cả hạnh cả bi cả trí cả thể, không
thiếu mặt nào. Hòa thượng cũng đã góp chung với tất cả đồng bào, thương
yêu tổ quốc, làm những điều mình có thể làm được, trải qua bao thời đại,
khi nghe tin Hòa thượng viên tịch, không những chỉ những hàng Tăng Ni Phật
tử trong đạo bùi ngùi xúc động, mà bao nhiêu những người không phải Tăng
Ni Phật tử cũng bùi ngùi xúc động. Cố lắng lòng ôn lại những ánh mắt từ
hòa, những nụ cười hoan hỷ, những dáng điệu bao dung, những cử chỉ êm đềm
và những tâm tư rộng rãi quảng đại, chúng ta mới nhớ hết được những công
đức cao dày, những công hạnh sâu xa của Hòa thượng, và có noi theo công
hạnh của Hòa thượng để thực hành bước lên con đường sáng suốt lợi mình lợi
đạo lợi đời) chúng ta mới có thể báo đáp được công đức của Hòa thượng một
phần nào.
Hôm nay trước Linh đài
trang nghiêm hàng Tăng Ni Phật tử chúng ta vô cùng thành kính để tưởng
niệm công đức Hòa thượng làm lễ ngày chung thất, chúng ta cầu mong Hòa
thượng cao đăng Phật quốc, hồi nhập Ta bà, để dìu dắt chúng ta bước thêm
những bước dài trên con đường đạo.
Nam Mô Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật
THƠ CẢM NIỆM
KHÓC ÔN
Ngày ÔN đi con buồn
hoen ánh mắt,
Trái tim côi hiu hắt
giữa màn đêm
ÔN và
Con - bao kỷ
niệm êm đềm
Chừ ÔN mất
- đời con ôi bé bỏng !
ÔN với con vốn như hình
với bóng
Bóng theo hình đây đó
khắp non sông
Và mấy ai hiểu được chí
tang bồng
Chân dấn bước lòng chưa
hề nao núng.
Suốt cả đời ÔN thích hòa
với chúng,
Sáu mươi năm chăm sóc
những đàn con,
Cho đến khi sức lực sắp
hao mòn
ÔN vẫn nhắc: "Tre tàn
măng mọc nhé !”
Trải thân tâm cho hàng
Tăng chúng trẻ,
Báo tứ ân xướng lạy
Phật hàng ngày,
Ôm ấp trong lòng ước
nguyện lâu nay,
Lễ tứ động và hoàn
thành tự điển
Thời gian trôi như dòng
sông hằng chuyển,
Nhưng trái tim nồng ấm
vẫn còn đây
Kính dâng ÔN giọt lệ
nóng vơi đầy,
Xin chứng giám cho lòng
con ấm lại.
Ngày
11/5/1984
THÍCH ĐẠT ĐẠO
THỦ BÚT CỦA HÒA THƯỢNG

Dịch âm:
TRÚ
BA LA MẬT tự tụng Hoa Nghiêm Kinh hữu cảm:
Phần hương nhất nguyện Pháp không vương,
Đại hạnh đồng tham biến cát tường,
Sát hải trần thân thi diệu lực,
Trầm kha chướng loại tận an khương.
Dịch nghĩa: Do
chính Hòa thượng dịch và ký tên.

CẢM TÁC
Viếng cảnh Hương Sơn
Cỏ hoa có
nhớ ta chăng?
Thời gian trai trẻ ta
từng đến đây.
Hôm nay dù khác râu
mày!
Non sông gấm
vóc nơi nầy như xưa.
Đây khe Yến, nọ rừng
Mơ,
Hỏi thăm người cũ tiếng
tơ bàng
hoàng !
Am cửa Võng, suối Giải
Oan,
Nam Thiên đệ nhất nét vàng còn tươi.
Chim kêu suối chảy hoa
cười,
Đào nguyên e cũng hổ
ngươi kém phần.
Bước lên mỗi bước tần
ngần,
Bình yên đất mẹ trong
ngần bề
khơi!
A Di Đà Phật ai ơi
Ba ngàn thế giới gởi
lời nhắn nhe.
THÍCH TRÍ THỦ
(Làm tại Chùa Hương ngày 11.4.1980)
Thiền sư tán

Phiên âm:
VIỆT NAM PHẬT GIÁO
GIÁO HỘI
TRUNG ƯƠNG TRỊ SỰ HỘI ĐỒNG NGUYÊN CHỦ TỊCH
CỐ
ĐẠI LÃO HÒA THƯỢNG
THÍCH thượng TRÍ hạ THỦ THIỀN SƯ TÁN
Nhất thiết giai không tánh bổn lai
Tiêu diêu tự tại tuyệt trần ai
Trang nghiêm bi trí quang thiền viện
Viên mãn giới châu ánh điện đài
Giáo hội Tăng đoàn tiêu đại thụ
Việt Nam giác uyển điểm Hoàng Mai
Vô
tri
Bát-nhã Ba-la-mật
Hỏa lý liên hoa
đóa đóa khai. .
Phật lịch nhị ngũ tam nhất niên,
tuế thứ Đinh-mão, Mạnh xuân,
Vĩnh-Nghiêm tự trụ trì
Tỳ-kheo THÍCH-THANH-KIỂM phụng tán
Dịch nghĩa:
LỜI TÁN CÔNG ĐỨC CỐ ĐẠI LÃO HÒA THƯỢNG
THÍCH thượng TRÍ hạ THỦ THIỀN SƯ
NGUYÊN CHỦ-TỊCH HỘI-ĐỒNG TRỊ-SỰ TRUNG-ƯƠNG
GIÁO-HỘI PHẬT GIÁO VIỆT
NAM.
Tự
tại tiêu diêu tánh bản lai
Sắc không chẳng vướng bụi trần ai
Trí bi rực rỡ nơi thiền-viện
Giới đức hòa chan chốn điện đài .
Cột trụ nhà Tăng xây giáo-hội
Vườn thiền đất Việt trổ hoàng mai
Tròn đầy Bát-nhã Ba-la-mật
Trong lửa
hoa sen đóa đóa khai.
PL. 2581, năm Đinh Mão, tháng Mạnh xuân
Tỳ kheo THÍCH-THANH-KIỂM
Trụ trì chùa Vĩnh Nghiêm phụng tán.
CUNG DUY
Dạ
sĩ THÍCH THIỆN TRÍ
Nghe Hòa thượng xả
thân...rất kinh ngạc
Như sấm vang sét nổ
giữa lưng trời
Khiến bà con choáng
váng cả óc tai
Chan lệ nóng dầm dề
khắp xứ sở.
Đời Hòa Thượng rất
nhiệt tình Phật sự
Dẫu gian lao nhưng Ngài
vẫn quên mình
Đem giáo lý mà hóa độ
quần sanh
Bất chấp sự chông gai
thời mạt pháp.
Bao lâu nay Ngài dày
công đóng góp
Bất tận tâm với sự
nghiệp vị tha
Ở trần gian Phật tử
khắp gần xa
Đều luyến cảm bởi nhờ
ơn giáo hóa.
Gương đạo hạnh ngày
càng thêm rạng tỏ
Cả Tăng Ni đều kính mến
trông vào
Niềm hy vọng chan chứa
biết là bao
Kết ruột tằm cùng nhau
thêu Phật sự.
Những ước mong tự tại
với trời đất
Cùng xây đắp
cội phúc giữa sông
Gieo an vui giữa vô
tận vô cùng
Cho muôn loại ướp xông
hương giải thoát.
Chuyện bất ngờ biết nói
sao cho xiết
Lẽ vô thường sanh diệt
dễ ai hay
Mới xuân nay hội ngộ ở
nơi này.
Sau hơn tháng đã an
vui tịch diệt.
Bái niệm Hoà Thượng

Phiên âm:
Việt Nam Phật giáo Giáo
hội Trung ương Trị sự
,
Hội đồng Cố Chủ tịch
THÍCH thượng TRÍ hạTHỦ
Đại lão Hòa thượng Linh
giám
VẠN CỔ TÂM CƠ HUYỀN TRÍ
NGUYỆT
THIÊN THU SỰ NGHIỆP TẢI
THIỀN PHONG.
Phật lịch nhị ngũ nhị bát niên.
Giáp Tý quý xuân.
An Lạc tự trú trì
Tỳ kheo Thích Quảng Thạc bái niệm.
Dịch nghĩa:
Bái niệm Đại
lão Hòa thượng THÍCH thượng TRÍ hạ THỦ.
Cố Chủ tịch Hội đồng
Trị sự Trung ương
Giáo hội Phật
giáo Việt
Nam.
BÁT NGÁT RỪNG THIỀN,
SỰ NGHIỆP NGÀN ĐỜI, GIÓ
QUYỆN
HUONG ĐƯA NGÀO NGẠT
MÃI. .
MÔNG MÊNH BIỂN TRÍ, TÂM
CƠ MUÔN THUỞ, TRĂNG LỒNG HOA
NỞ RÕ RÀNG THAY !
Quý xuân
năm giáp Tý. Phật lịch 2528
Trú trì
chùa An Lạc
Tỳ Kheo
THÍCH QUẢNG THẠC
Kính bái.
Tôn sư thùy niệm
Phiên âm:
Thanh sơn bất lão
Lục thủy trường minh
Tưởng huệ mạng ân
Kỉnh tham Khánh hỷ.
Giáp Tý quý xuân
Chuyết đồ THÍCH ĐỨC TÂM
cẩn chí.
Dịch nghĩa:NHỚ
ƠN TÔN SU'
Non xanh xanh mãi không
già
Nước trong trong sáng
khôn lòa sáng trong
Âs sâu giáo dưỡng ghi
lòng
Tấm gương Khánh-Hỷbóng
lồng xưa sau.
Cuối xuân Giáp Tý 1984
Đệ tử Thích Đức Tâm
Kính bái.
Kết dòng tiểu sử
NGUYÊN HỒNG
Ấy là lúc cửa thiền đôi
cánh khép,
Bóng chim nào lưu ảnh
giữa trường
giang?
Trong dáng từ
bi chiếc áo the vàng,
Thùy kim thủ nâng niu
hồn thảo mộc...
Vòi nước tưới cây cọng
rau cho cá,
Con chó lân la làm bạn,
con heo vòi vĩnh đòi ăn.
Chén trà đắc ý câu thơ,
Bên võng ngồi nghe
chuyện kể.
Đêm tĩnh mịch bưng đèn
thăm giấc ngủ chúng Tăng,
Chuông sớm điểm sương
tan, một trăm lẻ tám gối già chưa mệt.
Chăm sóc đạo tràng
thiền tịnh: hai lớp còn mường tượng âm dung.
Đốc suất làm tự điển
bách khoa: giấy mực hai lần còn ngơ ngẩn
Ôi hạnh nguyện vô cùng,
thân người có hạn,
Bảy mươi sáu tuổi đời,
năm mươi sáu tuổi đạo.
Ngày hai tháng tư người
giải thoát an nhiên,
Biết làm sao? Biết làm
sao ngăn niềm xúc động vô biên !
Thế giới vô thường,
không có ngã ai mà sinh diệt,
Nhưng giọt lệ nhân
thiên nghẹn ngào giờ ly biệt.
BẢO THÁP
HÒA THƯỢNG THÍCH TRÍ THỦ
THÍCH MINH TUỆ
Từ trước đến nay, đa phần chùa tháp, danh Tăng
và Phật sự không được ghi lại. Bởi thế, khi cần tra cứu, tìm hiểu, chúng
ta thiếu tư liệu, hoặc có chăng nữa thì tư liệu không được ghi lại ngay
lúc đương thời, do người có trách nhiệm sưu tập. Trừ một số tự viện có bi
ký, nhưng lại quá đại lược; số còn lại phải mãi đến thời gian lâu xa về
sau mới được nghiên cứu, tìm hiểu, do người ngoại cuộc ghi chép. Từ đó, có
thể có những ghi chép, phán quyết, đánh giá không thật chính xác, hơn nữa,
còn bị lệch lại, xuyên tạc. Một số chùa tháp, danh Tăng, chúng ta phải tìm
rãi rác trong Đại Nam nhất thống chí, . Ô châu cận lục, tư liệu các
triều vua chúa...Ngoài sách viết bằng chữ Hán, chúng ta còn phải tìm trong
những sách viết bằng tiếng Pháp, thí dụ như, tháp Tổ Liễu Quán, do toàn
quyền thực dân Pháp là Sogny viết trong BAVH, năm 1928. Tổ khai sơn Chùa
Quốc Ân, do một cố đạo Thiên Chúa, Cardière viết (BAVH,1941)... Vì thế,
vừa để được phổ biến cho Phật tử phương xa rõ biết, vừa để ghi lại một bảo
tháp tuy mới nhưng đã đi vào lịch sử, vừa để kỷ niệm ngày giỗ đầu Hòa
thượng Thích Trí Thủ, đặc biệt là những sự kiện chung quanh vấn đề hình
thành bảo tháp; chúng tôi thiết nghĩ phác họa lại hình ảnh bảo tháp Hòa
thượng là một vấn đề cần thiết.
Hiện tại, có hai bảo tháp, một theo kiểu cổ,
một theo tự phát họa của Hòa thượng lúc sinh tiền. Nhưng cả hai đều mang
màu sắc tân kỳ. Tháp kiểu cổ, được xây dựng tại khuôn viên chùa Báo Quốc
Huế, theo mong cầu của Hòa thượng và cũng đã được môn phái nhất trí (có
phụ bản đính kèm ở cuối bài) để bái vọng. Tháp xây bằng đá chẻ, bảy tầng,
đường nét rất nghệ thuật, quang cảnh thật hùng vĩ. Nhưng tháp này hiện chỉ
để bái vọng. Còn tháp được xâydựng tại khuôn viên Tu viện Quảng Hiương Già
Lam, nơi Hòa thượng đang an nghỉ là tháp rỗng, bảy tầng, kết hợp chan hòa
sắc thái Việt Nam và mẫu hình kiểu kiến trúc của Phật giáo phương Nam. Đây
là bảo tháp mà chúng tôi đang đề cập.
Bảo tháp được tôn trí sau chánh điện về phía
tay phải ( từ ngoài nhìn vào ) song hàng với Tổ đường, chệch về
phía trái ngôi nhà lưu tàng vật kỷ niệm của Hòa thượng. So với toàn khuôn
viên của chùa, khuôn viên của tháp chiếm khoảng 1 phần 8 diện tích, trong
số hơn
400 thước vuông. Mặt tháp quay về hướng Tây.
Khi vào cổng tam quan, đi qua dãy lầu phía tay phải, có vẻ sâu hun hút,
chúng ta nhìn thấy bảo tháp bảy tầng. Trước tháp là một sân rộng tráng xi
măng, với hai cấp đủ cho khoảng 500 Phật tử đứng hành lễ. Sân được trang
trí với nhiều chậu cây kiểng, hoa lá và bồn cây, như mai , trắc bá diệp,
sa kê, nguyệt quý.
Tháp dài cao bay tầng, khoảng 10 thước tây, uy
nghiêm đẹp đẽ, nhưng khiêm nhường, thanh nhã. Châu tháp hình vuông rộng 9
thước tây, cao 9 tấc.Chung quanh chân tháp xây bằng gạch thẻ, ngoài gắn
một lớp đá chẻ hình chữ nhật, màu xanh, kẻ mạch. Trên nền
Tháp, bao quanh bằng một lớp tường cao 6 tất,
tô đá rửa màu xi măng đen. Khoảng giữa ba phía tường (sau và hai bên ) có
chậu xi măng gắn liền với tường, hình chữ nhật, rộng 5 tấc, dài 1thước 3
tấc trồng sứ Thái Lan, hoa màu đỏ, tết đến khoe sắc với mai vàng.
Bốn góc tường là bốn trụ vuông, mỗi bề 5 tấc,
không cao hơn tường bao nhiêu (1thước 3 tấc), trên gác bốn đèn chậu cũng
bằng xi măng đen. Tường phía trước bảo tháp, cao giống tường ba phía,
nhưng hai đầu không nối liền với trụ. Hai khoảng trống là hai cấp thang
lên nền tháp, với năm cấp, rộng 9 tấc và bốn con kỳ lân chồm về phía chân
thang.
Khoảng giữa tường, ngay với chánh điện bảo tháp
là bia bằng xi măng, giữa gắn đá cẩm thạch màu đen,bề 60 phân, bề 90 phân
tây. Lòng bia được khắc chữ in chân phương, sơn
Trắng, rất nổi. Bài bia "Tưởng niệm" do Hòa
thượng Thích Thiện Siêu kính ghi.
Phía trước bia, nối liền với hai chân thang là
một hồ cạn, hình bán nguyệt, đường kính 3 thước 7 tấc, giữa có 5 hòn non
bộ , gọi là ngũ hành sơn : kim, mộc, thuỷ, hỏa thổ. Non bộ nhấp nhô
trên mặt nước trong xanh và cá chép vàng bơi lội nhởn nhơ, tăng thêm vẻ
hữu tình cho bảo tháp. .Non nước quyện với nhau nói lên sự hội ngộ, trung
hòa, không thiên lệch, có mặt này mà vẫn không thiếu mặt khác, vừa khế lý,
vừa khế cơ, tùy lúc, tùy môi trường, sắc không diệu hữu, chân trực như
thị. Có thế, công đức mới trang nghiêm.
“Như thị chân, như thị huyễn, như thị công đức
trang nghiêm”.( Câu kết của bài bia tưởng niệm cố Hòa
thượng).
Trên nền tháp, còn có một đế tháp hình vuông,
mỗi bề 4 thước 9 tấc,cao 8 tấc, trong đổ xà bần. Bốn phía xây gạch, ngoài
gắn lớp đá Place, màu vàng sậm, nhiều hình, kẻ mạch. Trên mặt bằng, bao
quanh chân trụ tháp, tô đá mài bằng xi măng trắng như một dãy lụa trắng
cao viền, dài 4 thước 9 tấc, rộng 4 tấc.
Sừng sững trên tháp đài hai tầng là ngọn tháp
cao bảy tầng, cũng hình vuông, đứng trên đài sen, trải sỏi trắng.Bao quanh
đài sen là các cánh sen nở, ôm nâng bảo tháp.Tầng thứ nhất rỗng, cao 3
thước, rộng mỗi bề 1 thước 6 tấc tây, với bốn trụ tròn, có hình rồng nổi.
Mặt sau, nối liền hai trụ là một bức phong mai,
lan có rồng chầu mặt trăng, có hoa văn, chữ thọ, đường nét xuyên rỗng.
Khung giữa là hình bán thân nhìn nghiêng của Hòa thượng hình đội mũ hiệp
chưởng, mang y gấm, tay phải bắt ấn cam lồ, tay trái lần tràng hạt. Hình
đắp bằng thạch cao, màu trắng ngà nằm trên khung hình chữ nhật, rộng 8
tấc, dài 1 thước 2, do một điêu khắc gia đình hình thành, với sự phụ trợ
của một đệ tử Hòa thượng, Sư cô Diệu Trang. Giữa lòng tầng một của bảo
tháp là tượng Phật A Di Đà, cao 1 thước 2 kể cả đài sen, do Hòa thượng
thỉnh từ hồi còn sinh tiền. Tượng được tô đắp theo kiểu Trung Quốc, nhưng
xiêm y không có màu sắc sặc sỡ mà thuần màu nhà chùa, vàng nhạt gần gũi
với thị giác Việt Nam hơn. Tượng đứng trên nền sỏi trắng.
Trên tầng một của tháp là sáu tầng tháp hình
dáng cổ lầu, được bóp dần để có hình tháp nhọn. Đỉnh tháp là hình tháp Xá
lợi, kiểu nam truyền.Thân tháp toàn láng bằng xi măng. Các góc tháp nơi
cong, có hình đầu long phụng. Các, hình rồng, phụng, lân mang ý nghĩa kiến
trúc cổ truyền của đình chùa Việt Nam. Con số bảy tiêu biểu, theo truyền
thống Ấn Độ. Bảy tầng tháp tiêu biểu cho lý tưởng siêu tuyệt viên mãn tối
thượng của Đức Phật. Số tầng tháp xây cho các vị sư, tiêu biểu cho đức
hạnh của vị sư viên tịch. Vào thời phong kiến, các Hòa thượng, Tăng cang
và Trú trì được xây tháp từ 5 tầng đến 7 tâng. Còn những vị sư bậc dưới có
thể xây từ 1 đến 3 tầng.
Trong lòng nền tháp dưới chân đức Di Đà là nơi
tàng Kim quan của Hòa thượng, kim tĩnh đổ toàn cát suối. Phần dưới đáy kim
tĩnh vẫn là đất vườn và cũng ngang bằng với mặt vườn, phần trên để trống,
bốn phía xây gạch, có hình chữ nhật rộng một thước rưỡi, dài hai thước
rưỡi. Trên dưới không xây, để trống, có mục đích để Hòa thượng tiếp cận cả
thiên lẫn địa. Khi thiên, địa và nhân hài hòa, thiên hạ được thái bình
thịnh vượng.
Mặt bằng của chân tháp dài trải toàn sỏi đá
trắng. Kim quan được tôn trí bằng cách từ trên hạ xuống, chứ không đẩy từ
hộc ngoài vào hộc trong như khi tháp các vị Hòa thượng đã sẵn có tháp
phần. Kiểu nhập tháp, Kim quan được đẩy từ ngoài vào, ở Á đông chỉ dành
cho nhà Vua và nhà Sư, người thường không được hưởng truyền thống như thế.
Kim quan của Hòa thượng là một loại gỗ quý.
Phương pháp trị quan áp dụng theo lối cổ truyền đặc biệt. Những vật liệu
để trị quan, gồm có 12 ký đất sét khô rây mịn, 1 ký xà phòng bột, 3 ký nếp
nấu thành xôi nhão, 4 lít dầu phong, 3 xấp lá chuối hột, luộc chín. Ba thứ
dầu quết trộn với nhau thành một chất dẻo, trét vào thành trong Kim quan,
các kẻ mạch đắp thành hình con lươn bò quanh. Sau khi đất ráo và dínhchặt
vào gỗ, đổ dầu phụng vào vài ba cái mâm, tiếp theo cứ từng tấm lá chuối
một thả vào dầu cho thật thấm đều rồi dán vào phía trong, cả nắp Kim quan.
Nhờ phương thức trị quan như thế, Kim quan khỏi cần bọc kẽm mà vẫn để được
cả tuần, kể cả sự chịu đựng chao động, khi rước từ chùa Già Lam đến chùa
Xá Lợi, quàng tại đây cho các phái đoàn tụng niệm, phúng điếu, chiêm bái,
và từ đây trở về nhập tháp tại khuôn viên chùa Già Lam, không có một điều
gì đáng tiếc xảy ra.
Hình ảnh Bảo tháp do Hòa thượng phác họa, được
thiết trí tại khuôn viên Tu viện Quảng Hương Già Lam. Nơi nhục thân Hòa
thượng an nghỉ cũng chính là nơi mà nhiều lần cố Hòa thượng nói đùa, nay
trở thành hiện thực. Hòa thượng thường hay nói: Lúc hết làm Phật sự, mình
xin về Tổ đình Từ Hiếu đánh chuông hầu Tổ. Nếu muốn an nhàn thích hợp hơn,
mỗi năm có bốn mùa, ở bốn nơi. Tết và xuân ở Huế, hè ở Sài Gòn, thu ở Nha
Trang, đông ở Đà Lạt. Còn nếu Phật Tổ có gọi về khẩn cấp thì cứ quàng ở
luống rau khoai này (tức nơi tôn trí Bảo tháp hiện nay), trong ba năm, rồi
chuyển về Huế hầu bên cạnh tháp Tổ khai sơn, Tổ Giác Phong, Tôn Tào Động.
Bảo tháp tại Tu viện Quảng Hương Già Lam được
khởi công xây dựng sau ngày cúng thất và hoàn chỉnh hình thành trong ngày
đại tường của Hòa thượng, năm1986.
TƯỞNG NIỆM
HT. THÍCH TRÍ THỦ
( 1909 - 1984 )
Hòa-thượng họ Nguyễn, húy
Văn Kính, Pháp danh Tâm Như, tự Đạo Giám, hiệu Thích Trí Thủ, sinh ngày 19
tháng 9 năm Kỷ Dậu (1909) tại Trung Kiên, Quảng Trị. 17 tuổi xuất gia, 20
tuổi thọ cụ túc giới, tự pháp đời thứ 48 phái thiền Lâm Tế .
Với chí nguyện thượng cầu
hạ hóa Hòa thượng là một trong những vị đi đầu trong các cuộc chấn hưng
phật giáo nước nhà. Mở nhiều Phật-học viện, trùng tu nhiều phạm vũ, khái
sơn Quảng Hương Già Lam, mở nhiều đại giới đàn và phiên dịch giảng giải
Kinh Luật Luận, Hòa-thượng không ngừng tiếp dẫn hậu lai cho Tăng tín đồ
được nhờ ơn pháp vũ.
Xuất thế tinh chuyên đã
vậy, nào quên nhập thế độ sinh. Dầu tuổi già chẳng ngại đến thân, hạnh
Phổ- hiền lợi đời lợi đạo. Biết thế sự lắm phen khe khắt, tâm hồn luôn
hoan hỷ bao dung. Mãn cơ duyên tứ đại trả về đây. Song thọ Ta la chúng
sanh truy niệm. .
NHƯ THỊ CHÂN, NHƯ THỊ
HUYỄN
NHƯ THỊ CÔNG ĐỨC TRANG
NGHIÊM
(Hòa thượng viên tịch ngày
mồng 2 tháng 3 năm Giáp Tý 1984) :
Tháp bia hình thành 19.9 Ất sửu 1985
Thất chúng đệ tử phụng lập
Kính ghi
Hòa thượng THÍCH THIỆN SIÊU
NHÂN MỘT BÀI THƠ VỀ HT.
THÍCH TRÍ THỦ
THÍCH THIỆN HẠNH
NĂM 1937 Hòa thượng Thích Trí Thủ, vâng lệnh
Bổn sư là Ngài ViênThành, về trú trì chùa Ba La. Nhân sự kiện này Hòa
thượng Bích Phong, trú trì chùa Quy Thiện, cũng vừa là một nhà văn chương
thi phú lỗi lạc trong giới Tăng sĩ Huế thời bấy giờ, đã đề tặng Hòa thượng
Trí Thủ một bài thơ Đường, tựa đề " TRÍ THỦ PHÁP KHẾ TÂN NHẬM BA LA TỰ CHỦ
CHI TẶNG, HÒA VẬN” - (Thơ tặng Hòa thượng Trí Thủ, người bạn đạo thân
thiết, vừa được bổ nhiệm trú trì chùa Ba La). Bài thơ như sau:

. Phiên
âm:
"Quân thị nhân trung ương bát la
Y truyền bất quý tác dương gia
Pháp thừa sơ tổ đình tiền tuyết
Đạo khế năng nhân thủ lý hoa,
Giảng tịch nhi kim xưng cự phách
Phật trường ức tự chiếm cao khoa
Thí tương pháp trao hoành Nam Phổ
Nguyệt sắc quang hàm vạn khoảnh ba”.
. Tạm
dịch:
"Thầy là đóa Đàm Hoa vô nhiễm
Thọ bát y không thẹn Đạo nhà
Thừa Tổ nghiệp ví bằng Tuệ
Khả
Ngộ Phật tâm sánh với Diếp Ba
Chốn đèn sách Thầy không thua
kém
Tuyển Phật trường lại chiếm thủ khoa
Pháp thuyền một mái về Nam Phổ
Bát Nhã trăng soi sáng mọi nhà
“
1-2:
Ưu bát la (Utpala) tức Ưu bát la Long vương, là
tên của một trong tám vị Long vương theo đó, họ thường cùng nhau dẫn theo
nhiều quyến thuộc đến non Linh Thứu nghe Phật thuyết kinh Pháp Hoa và
nhiều kinh Đại thừa khác.
Ưu bát la, còn là tên một loài hoa, hoa Ưu đàm
bát la (Uđambara) mà ta quen gọi là hoa Ưu đàm hay hoa Ưu bát la. Loại hoa
này thật hiếm hoi trổ bông, sử chép những ba trăm năm mới một lần trổ) và
khi ấy có Thánh nhân ra đời, có Phật xuất thế. Bởi thế trong Hoa ngữ gọi
là Linh Thụy hoa ; loài hoa ra đời mang niềm vui điềm lành đến cho nhân
thế. Kinh Niết Bàn còn ví những hành giả hành trì Kinh Niết Bàn, sống
trong phiền não mà không bị phiền não sử sai, như hoa Ưu bát la, hoa Bát
đầu ma, hoa Câu- vật-đầu, hoa Phân-đà- lợi -mà cả hoa sen nữa chứ - là
những loài hoa sanh ra và lớn lên từ chốn bùn lầy nước đọng nhưng chẳng
chút lấm ô.
Người mà công hạnh uy dũng như tượng vương,
long vương, và tâm hồn trong sáng vui tươi như hoa linh thụy, hoa vô
nhiễm, ngữa lên không phụ ân Phật, nhìn xuống không thẹn chí kế thừa Tổ
nghiệp. Đó là đức tánh, là đạo phong cốt cách của một Như Lai sứ giả, hành
Như Lai sự, mà Thiền sư thi sĩ Bích Phong mang tặng Hòa thượng Thích Trí
Thủ, lúc Người đến nhậm chức Trí trì chùa Ba La năm 1937.
"Thầy là đóa
Đàm hoa vô nhiễm
Thọ bát y không thẹn đạo nhà
".
3-4:
Thuở xưa Tổ Bồ Đề Đạt Ma, từ Ấn Độ sang Trung
Hoa không tìm được người để tâm truyền Chánh pháp, trọn ngày ngồi nhìn vào
vách im lặng, trong chín năm tại chùa Thiếu Lâm Ở Trung Sơn. Chúng tăng
không ai hiểu được. Người đời gọị Ngài là Bích quán Sa môn. ít lâu
sau, có vị Tăng tên là Thần Quang, đến cầu đạo. Đường đi "Thiên Trượng) và
nhiêu khê. Tới "Thiếu thất đình tiền", Thần Quang chấp tay im lặng “hàn
lập tuyết” hướng về Ngài. Đến sáng, tuyết ngập đến đầu gối mà gương mặt
vẫn thản nhiên. Bồ Đề Đạt Ma thấy thế thương tình quay trở ra quở: "Pháp
chân thừa đâu dễ truyền. ông lấy gì để minh chứng cho lòng cầu đạo ?" Nghe
qua Thần Quang lén lấy dao chặt đứt cánh tay trái để chứng minh lòng khẩn
cầu chánh pháp của mình. Về sau Thần Quang được Sơ Tổ Bồ Đề Đạt Ma, tâm
truyền Chánh pháp và có tên là "Tuệ Khả" làm vị nhị Tổ Trung Hoa.
Hồi Phật tại thế, có vị đại đệ tử tên là Ca
Diếp) còn gọi là Ca Diếp Ba. Vị đệ tử này nổi tiếng về khổ hạnh, phạm
hạnh, là lối tu nhằm tịnh hóa tâm hồn. Ông cũng còn nổi tiếng là bậc xuất
chúng về thâm hiểu mật ý của Phật. Một hôm, Phật Thích Ca, dịch là “Năng
Nhân", Ở trong hội Linh Sơn, tay cầm hoa sen đưa cao lên, cả hội chúng đều
ngơ ngác, chẳng ai hiểu gì, chỉ một mình Ca Diếp Ba là đắc ý mĩm cười –
niệm hoa vi tiếu - một cử chỉ biểu lộ sự lĩnh hội ý Phật. Về sau, Ca Diếp
Ba được Phật Năng nhân, truyền trao Chánh pháp nhãn tạng, làm vị Sơ Tổ Ấn
Độ, thống lãnh Tăng đoàn kế thừa Như Lai sự nghiệp.
Nhìn lại quảng đường mà Hòa thượng Thích Trí
Thủ đã đi qua, trong ngót 3/4 thế kỷ, công hạnh tu trì, sự nghiệp truyền
thừa chánh pháp và những cống hiến lớn lao cho Giáo hội, cho ngôi nhà Phật
giáo nói chung, mẫu người như vậy, thấy cũng hiếm hoi trong hậu bán thế kỷ
20. Cho nên Thiền sư thi sĩ Bích Phong đã ví von Hòa thượng Thích Trí Thủ
với những nhân vật lịch sử thời Phật, như Ca Diếp và sau Phật như Huệ Khả.
Quả thật là không ngoa ngôn.
“Thừa Tổ nghiệp ví bằng Tuệ Khả
Ngộ Phật tâm sánh với Diếp Ba.”
5-6:
Nay thì với bạn bè đồng thuyền cùng hội trong
sự nghiệp học hành tham cứu hoằng pháp lợi sanh, Hòa thượng cũng là người
lỗi lạc. Đã vậy, trong kỳ thi tuyển để thọ giới cự túc, tại chùa Từ vân Đà
Nẵng vào năm 1928, Hòa thượng đã trúng tuyển thủ Sa di trong số 300 giới
tử. Bổn sư là Ngài Viên Thành lấy làm hài lòng và ban cho pháp hiệu Thích
Trí Thủ.
"Chốn đèn sách thầy không thua kém
Tuyển Phật trường lại chiếm thủ khoa.”
7-8:
Chùa Ba La do Hòa thượng Viên giác, bổn sư Ngài
Viên Thành, dựng lập. Ngài Viên Thành là bổn sư của Hòa thượng Thích Trí
Thủ. Chùa tọa lạc tại làng Nam Phổ, xã Phổ Thượng, huyện Phú Vang, tỉnh
Thừa Thiên.
Nay với tay chèo cự phách, Hòa thượng sẽ đưa
con thuyền Chánh pháp về cập bến Ba La. Nơi đây, Hòa thượng sẽ rót ánh
sáng trăng Lăng Già mầu nhiệm, nhuần thấm muôn nhà.Thật vậy, bây giờ tại
vùng đất trời Ba La Vỹ Dạ, hễ nhắc đến Hòa thượng Ba La thì không mấy ai
không biết, vì trong thời gian dừng trú tại dây, Hòa thượng đã gieo rắc
ánh Đạo đến khắp vùng.
"Pháp thuyền một mái
về Nam Phổ
Bát Nhã trăng soi
sáng mọi nhà.”
Bây giờ, bài thơ còn đó, mà người làm bài thơ
đã tặng lẫn người được tặng bài thơ, đều đã đi cách xa chúng ta những muôn
vạn dặm dường chân lý! Vói thì không thấu mà tìm thì biết đâu !
Nhạn quá trường
không
Ảnh trầm hàn thủy
Nhạn vô di tích chi
ý
Thủy vô lưu ảnh chi
tâm
(Hương Hải Thiền Sư)
Cho hay, thiền sư đến và đi không hề để lại dấu
tích. Người khổ lụy hữu tình ở lại, thì còn chưa sạch được âm thừa bi lụy.
Hôm nay, ngày lễ giỗ đầu của Hòa thượng, đọc lại bài thơ mà tưởng nhớ đến
Người ! Tâm tư dạt dào thương tiếc không nguôi!
50 năm qua rồi, 50 năm, kể từ ngày bài thơ xuất
hiện (1937), vun vút băng qua trên ngút ngàn sự đổi thay qua nhân tâm và
thế sự, hình bóng Người cũng thôi không còn nữa với thời gian, nhưng công
hạnh của Người được xưng tụng trong bài thơ thì hãy còn kia và ngày một
hiện thực rõ nét. "Đàm hoa lạc khứ hữu dư hương".
KHAI KIẾN QUẢNG HUƠNG GIÀ
LAM
THÍCH ĐỨC CHƠN
Để kỷ niệm lần thứ 30, ngày khai kiến Quảng
Hương Già Lam (26.l.1962 -
26.l.1992) chúng tôi xin ghi lại đôi nét đại cương về nguồn gốc và quá
trình tạo dựng ngôi chùa nầy, với ý niệm "uống nước nhớ nguồn, ăn trái nhớ
người trồng cây.”
Người đầu tiên tạo dựng tu viện Quảng Hương
Già Lam là Hòa thượng Thích Trí Thủ.
Sự nghiệp hàng đầu trong đời sống đạo của Hòa
thượng Thích Trí Thủ là đào tạoTăng tài để hoằng pháp lợi sanh. Thực hiện
sự nghiệp ấy, Hòa thượng đã thành lập nhiều Phật-học-viện: Phật học viện
Linh Quang, Phật học viện Báo Quốc- Huế, Phật học viện Phổ Đà - Đà Nẵng,
Phật học viện Hải Đức - Nha Trang , Phật học viện Linh Sơn - Đà Lạt. Rồi
Hòa thượng quan tâm đến việc lập Phật học viện tại miền Nam, nên vào năm
l961, Hòa thượng đích thân tìm đất xây chùa tại Sài Gòn. Mãi đến ngày
26.1.1962 Hòa thượng mới chính thức ký giấy mua đất hiện tại có diện tích
3940 m2, để xây dựng chùa Già Lam. Tổng số diện tích đất hiện nay là 4.211
m2, vì năm 1964 mua thêm 96 m2. Năm 1981 mua thêm 175 m2, tất cả đều đã
trước bạ xong, tọa lạc tại xã Hạnh Thông, quận Gò Vấp, tỉnh Gia Định.
Chủ trương ban đầu của Hòa thượng xây dựng
Quảng Hương Già Lam để có nơi cư trú tu học cho lớp Tăng sinh trẻ, có
trình độ đại học đời cũng như đạo
Tăng sinh đến Quảng Hương Già Lam nhập chúng tu
học khóa đầu tiên vàonăm 1962 là 6 vị. Về sau mỗi năm mỗi đông và cao điểm
nhất là vào đầu năm 1975 với tổng số Tăng sinh viên là 120 vị.
Chương trình Phật học, tất cả sinh viên Tăng
đều học trường Cao đẳng PhápHội, các khóa đầu, về sau học tại Viện Đại học
Vạn Hạnh. Chương trình thế học,tùy khả năng và sở trường của sinh viên
Tăng tự chọn Ngành học: y, dược, luật, triết, kiến trúc, văn chương... Sau
một thời gian đào tạo, một số lớn đã ra trường, được phân bố đi các nơi
phục vụ Đạo pháp, Dân tộc.
Chùa Già Lam, lúc đầu Hòa thượng đặt tên là
Giải Hạnh Già Lam, Giải là học, để hiểu, để nâng cao kiến thức , phát
triển trí tuệ. Hạnh là hành trì, tu chứng, nâng cao công hạnh tu tập để
phát triển mặt phước đức. Học để biết (Giải) mà tu, để có khả năng và
trình độ trong sự nghiệp hoằng pháp lợi sanh, là mặt lợi tha. Tu để thực
chứng (Hạnh), để hoàn thành đại nguyện giải thoát sinh tử, là mặt tự lợi.
Do đó học và tu, hay giải và hạnh là hai vấn đề tương quan mật thiết (Giải
hạnh tương ứng) trong đời sống của một Như Lai sứ giả. Đây chính là mục
tiêu đào tạo Tăng tài của Hòa thượng. Trong ý hướng đó, Hòa thượng đã đặt
tên chùa là GIẢI HẠNH GIÀ LAM.
Năm 1964, Hòa thượng lại đổi tên chùa là QUẢNG
HƯƠNG GIÀ LAM. Quảng Hương là Pháp danh của một Tăng sinh tu học tại Phật-
học-viện Trung phần Hải Đức Nha Trang, sau được bổ nhiệm làm trú trì chùa
Khải Đoan Ban Mê Thuột, đã tự thiêu lúc12 giờ 25 phút ngày 18 tháng 8 năm
Quý Mão (5.10.1963), trước mặt chợ Bến Thành Sài Gòn, để phản đối chính
sách kỳ thị tôn giáo của chính quyền Ngô Đình Diệm trước đây. Sau cái chết
vì Đạo cao cả của Tăng sinh Quảng Hương, Hòa thượng Thích Trí Thủ đã quyết
định đổi tên chùa là Quảng Hương Già Lam thay thế Giải Hạnh Già Lam, để kỷ
niệm một Tăng sinh tuẩn đạo. Từ dạo đó, có tên gọi Quảng Hương Già Lam.
Già Lam là phiên âm Phạn văn Asharam là nơi
thanh vắng, yên tĩnh, nơi thờ Phật, nơi chúng Tăng cư ngụ tu hành. Già Lam
là tên khác của chùa. Cho nên,đúng ra phải gọi chùa Giải Hạnh hy chùa
Quảng Hiương. Phật tử đến chùa , thay vì phải gọi là Giải Hạnh Già Lam,
Quảng Hương Già Lam, chỉ gọi tắt chùa Già Lam. Về sau, Phật tử còn gọi Hòa
thượng khai sơn Quảng Hương Già Lam là Ôn Già Lam, Hòa thượng Già
Lam...Gọi lâu thành quen, nên Già Lam là danh từ chung đã trở thành danh
từ riêng, chùa Già lam.
Về mặt kiến thiết cơ sở, chúng tôi không căn cứ
theo thứ tự thời gian, mà phân làm hai phần chính và phụ cho dễ thấy:
.
Phần chính gồm có: Chánh điện, nhà
Tăng, nhà Tổ, Thiền thất, cổng Tam quan, Tháp Hòa thượng khai sơn.
1. Ngôi chánh điện:
Lễ đặt đá xây dựng chánh điện ngày 19.9. Giáp
Thìn(24.10.1964) Lối kiến trúc theo hình bát giác, mỗi cạnh 5 mét, do kiến
trúc sư Kỳ vẽ đúc bê tông cốt thép, hai tầng, tầng trên là điện thờ Phật,
tầng dưới là thư viện. Sau ngày đặt đá 5 tháng là việc xây dựng hoàn tất.
Lễ thỉnh Phật an vị vàongày 15.2 Ất Ty (17.3.1965).
Năm 1981, chánh điện được nới rộng thêm để đáp
ứng nhu cầu lễ bái của Phật tử ngày càng đông. Phần nới rộng này cũng gồm
hai phần; phần trong nối chung với chánh điện: 8m x 8m; phần ngoài là tiền
đường, hai bên thờ linh và để chuông trống: l4m x 7m. Toàn bộ đều đúc bê
tông cốt thép, hai tầng. Tầng trên là chánh điện, tầng dưới là lớp học.
2. Nhà Tổ:
Gồm dãy lầu hai tầng, nằm phía sau lưng chánh
điện: 11m x 7m.
Tâng trên thờ Tổ, tầng dưới làm trai đường. Xây
xong năm 1967.
3. Thiền thất:
Xây dựng năm 1970. Bê tông cốt thép hai tầng:
11m x 6m.Trước 1975 có đức Tăng Thống Hòa thượng Thích Tịnh Khiết ở, sau
đó Thượng tọa Thích
Trí Quang ở. Sau 1975, Thượng tọa Thích Thiện Minh ở. Hiện nay làm nhà lưu
niệm lưu trữ những kỷ vật của Hòa thượng Thích Trí Thủ. .
4. Tháp Hòa thượng Thích
Trí Thủ: Diện
tích mặt bằng: 7m50 x 7m50, cao12m, gồm 7 tầng, bê tông cốt thép. Xây xong
ngày 19.9. ất Sửu (1985). Nằm sau chánh điện bên cạnh nhà Tổ phía trái. Do
thất chúng đệ tử Hòa thượng phụng lập
5. Cổng Tam quan:
Phía trước sân, ngay
với chánh điện, cao 6m ngang 2m40, rộng 7m, bê tông cốt thép, cổ lầu, lợp
ngói âm dương, trên thờ tượng Thiên Thủ Thiên Nhãn và tượng Hộ Pháp. Xây
xong năm 1988.
6. Nhà Tăng: Gồm có
hai dãy lầu hai bên chánh điện, hai tầng bê tông cốt thép:
Dãy lầu phía bên trái
chánh diện 24m x 11m. Xây xong năm 1966. Tầng trên phòng chư Tăng ở, tầng
dưới, một nửa ở, một nửa làm phòng khách. Dãy lầu phía bên phải chánh
điện: 20m x 7m, xây xong năm 1967, phần trên phòng chư Tăng ở. Tầng dưới,
một nửa làm giảng đường, một nửa làm kho.
.
Phần phụ:
1. Nhà bếp: Xây
gạch, lợp tôn xi măng: 9m x 5m, trên nóc nhà bếp có một hồ chứa nước, bê
tông cốt thép, cao 8m, dung tích 16m3. Xây xong năm 1965.
2. Nhà kho:
Xây gạch, lợp tôn: 12m x
6m dùng làm nhà kho. Dãy nhà này được xây dựng đầu tiên đối với cơ sở Già
Lam hiện nay. Xây năm 1962. Số học Tăng nhập học khóa đầu tiên, ở dãy nhà
này.
3. Nhà thờ cốt:
Dãy nhà này 15m x 7m
nằm phía bên phải sân chùa, gần hai ngôi mộ cổ. Xây năm1972, làm nhà ký
nhi, nhà trệt. Sau 1975 sửa lại làm nhà thờ cốt. Năm 1986 đúc mái bằng bê
tông cốt thép dự bị lên lầu để thờ cốt.
4. Hai ngôi mộ cổ:
Ngày đầu tiên Hòa
thượng vào mua khu đất này, hai ngôi mộ cổ đã rêu phong cũ kỹ rồi, lại
thêm cây cối um tùm, hai tấm bia bị mòn khuyết không còn chữ. Từ ngày xây
dựng Già lam đến nay không thấy thân nhân đến thăm viếng. Tuy vậy chùa vẫn
bảo quản tốt, hằng ngày lo hương khói đầy đủ.
Ngoài hai ngôi mộ cổ trong
khuôn viên chùa còn có một dãy mộ 12 ngôi đã chôn sẵn. Có lẽ chủ đất trước
đây dự định làm nghĩa trang nên chôn một dãy kế tiếp nhau có hàng lối. Số
mộ này chùa vẫn bảo quản và hương khói mỗi ngày, thỉnh thoảng có thân nhân
đến thăm viếng chạp giỗ.
.
Chuông, Tượng:
Tượng Bổn Sư bằng xi măng
ngồi, cao 2m5, thếp vàng, thờ tại chánh điện, an vị ngày 17.3.1965.
Tượng Quán Âm lộ thiên,
cao 4m5, đứng giữa hồ sen đường kính 6m, sâu 2m.Thiết trí năm 1968
Một chuông u minh, đường
kính 1m, nặng 330 ký. Đúc năm 1966 tại chùa Hải Đức Nha Trong chuông có
khắc bài ký sự nguyên văn như sau, chúng tôi xin trích ra đây để quý vị
thấy rõ tiến trình xây dựng cơ sở Già Lam. Những gì đã xây dựng trước năm
1966 đều có ghi trong đó, ngoài ra là tiếp tục xây dựng sau năm 1966 đến
nay, 1992.
KÝ SỰ
Quảng Hương Già Lam là chi
nhánh của Phật-học-viện Trung phần, thành lập năm 1956, đến năm 1961,
Phật-học-viện Trung phần đã đào tạo được một số học Tăng học xong Trung
học, (nội điển cũng như ngoại điển) cần vào Sài Gòn tiếp tục các ngành đại
học.
Để có nơi cư trú thuận
tiện cho số học Tăng ấy, ban quản trị Phật-học-viện ủy nhiệm tôi thiết lập
Già Lam này.
Quảng Hương Già Lam tọa
lạc trên một khu đất rộng 4000 m2
thuộc xã Hạnh Thông, quận Gò Vấp, số 300đường
Lê Quang Định, Gia Định. Cơ sở của Già Lam hiện gồm có:
- Một chánh điện bát giác,
hai tầng, trên thờ Phật, dưới thư viện.
- Một Tăng xá lầu hai
tầng, 24m x 11m.
- Một Tăng xá trệt 20m x
7m.
- Một nhà kho 12m x 6m.
- Một nhà trai 11m x 7m.
- Một nhà bếp 9m x 5m.
Tất cả đều vách gạch, mái
Fibrociment, lầu đúc bê tông cốt sắt. Pháp khí và vật dụng trang bị đầy đủ
Mọi giấy tờ về động sản và
bất động sản của Phật-học-viện Trung phần ở Nha Trang cũng như của Quảng
Hương Già Lam ở SàiGòn đều do tôi đứng tên với tư cách Giám-viện, thừa ủy
nhiệm của Ban Quản trị Phật-học-viện Trung phần.
Như vậy Già Lam nầy đương
nhiên và là tài sản của Phật-học-viện Trung phần, trước đây thuộc hội Phật
giáo Trung phần, nay thuộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất.
Làm tại
SàiGòn 31.3.1966
Giám viện
Phật-học-viện Trung phần
(đã ký
tên)
THÍCH TRÍ
THỦ.
Trên đây là nói về nguồn
gốc và sự kiến tạo Già Lam. Tiếp theo là vấn đề nhân sự. Có nhân sự tốt
mới kiến tạo và giữ vững hướng đi của Phật học viện được.
Già Lam được kiến tạo cơ
sở tương đối đầy đủ tiện nghi và đã đào tạo được một số Tăng sĩ có khả
năng phục vụ Giáo hội các nơi. Kết quả ấy trước hết là nhờ công lao đức độ
của Hòa thượng Thích Trí Thủ, kế đến là Thượng tọa Thích Đổng Minh rất
nhiệt tình trong việc xây dựng Già Lam từ đầu.
Khi Già Lam hình thành, có
các vị trú trì giúp việc Hòa thượng, chăm lo đời sống hằng ngày của Tăng
chúng. Hòa thượng Thích Trí Thủ với chức vụ Giám viện. Trong thời gian đầu
Hòa thượng ở tại Hải Đức Nha Trang nhiều hơn. Từ1964 về sau, Hòa thượng ở
Già Lam nhiều hơn. Vị trú trì đầu tiên của Già Lam là Đại đức Thích Phước
Chương. Vị thứ hai là Đại đức Thích Huyền Giác Vị thứ ba là Đại Đức Thích
Đức Nhơn.
GIỚI PHẬT TỬ CÓ:
- Ông bà chủ đất Bùi Văn
Sử cúng một nửa, chỉ trả tiền 1/2.
-
Đạo hữu Trần Đình Long, lo thủ tục giấy tờ nhà đất, điện
nước và xây dựng giai đoạn đầu
-
Đạo hữu Trần Đình Lợi, lo việc đốc công xây dựng nhà
Tăng, nhà Tổ...
- Đạo hữu Võ Đình Diệp
giúp việc thiết kế họa đồ xây dựng.
- Đạo hữu Nguyên Thành,
Nguyên Thắng, Tâm Nghĩa là những đại thí chủ trong việc xây dựng cơ sở
chính của Già Lam. Ngoài ra còn nhiều vị khác nữa, nhưng không ghi hết vào
đây được.
Nhân ngày kỷ niệm tròn 30
năm xây dựng Quảng Hương Già Lam, tôi xin ghi lại đôi nét đại cương để tỏ
lòng biết ơn những người đã dày công xây dựng.
Chúng tôi hằng mong được
sự nhất tâm hộ trì của các bậc Tôn túc trưởng lão, chư Đại đức Tăng Ni
cùng Thiện nam tín nữ gần xa, để Quảng Hương Già Lam mãi mãi là nơi truyền
thừa Chánh pháp, lợi lạc quần sanh, như tâm nguyện của Hòa thượng Thích
Trí Thủ, khai kiến Quảng Hương Già Lam.
CẢM NIỆM
Hòa Thượng THÍCH TRÍ THỦ
C.T.H.Đ.T.S.T.Ư.G.H.P.G.V.N
T.T THÍCH
TRÍ QUẢNG
Trưởng
Ban Hoằng Pháp T. Ư.GHPGVN
Con xin kính lễ
Hòa-thượng, vị Ân Sư luôn luôn là bóng câyche mát chúng con.
Con xin kính lễ
Hòa-thượng, vị Minh sư thường thắp sáng ngọn đèn trí tuệ soi đường cho
chúng con.
Con xin kính lễ
Hòa-thượng, vị Bồ-Tát đời đời hằng hữu bên cạnh những người cùng mang tâm
nguyện dìu dắt chúng sanh đồng đến bờ giác.
Mỗi khi tưởng nhớ đến
Hòa-thượng, như khơi dậy một tình cảm kính mến, quý trọng lưu lại đậm nét
trong tâm hồn tôi, cùng gợi nhắc lại hình ảnh một bậc danh Tăng gương mẫu
của thời đại đã từng đóng góp nhiều công đức và trí tuệ trong việc đào tạo
Tăng tài cũng như chấn hưng Phật giáo.
Dõi theo quá trình hành
đạo của Hòa-thượng, mọi người không khỏi thán phục hạnh nguyện tiếp dẫn
hậu lai của Ngài được thể hiện tích cực trong việc Ngài đích thân mở nhiều
Phật Học Viện, nhiều đại Giải đàn, phiên dịch, giảng giải Kinh, Luật,
Luận. Sự hiện hữu của các Chánh Đại Diện các Tỉnh, Quận, Trụ trì, Hiệu
trưởng, Giám học các trưởng Bồ Đề, Giảng sư Đại học do Hòa-thượng đào tạo
đã nói lên sự xây dựng thành công tốt đẹp của Ngài trong việc phục vụ lợi
ích cho Đạo cũng như đời.
Đặc biệt khởi đầu từ thời
kỳ đen tối của lịch sử Phật Giáo năm 1963, tôi có điều kiện gần gũi, làm
việc chung với Hòa thượng, tôi càng quý mến đức hạnh Ngài hơn. Nơi Hòa
thượng tôi luôn bắt gặp tấm lòng ưu tư miệt mài xây dựng trong tương lai
đạo pháp cho tươi sáng. Hòa thượng thường bày tỏ sự kỳ vọng ấy với tôi
trong việc nâng đỡ, đào tạo những nhân tố tốt đẹp để lãnh đạo Phật giáo.
Tôi thiết nghĩ sống dưới sự dẫn dắt chỉ dạy của Hòa thượng, tất cả chúng
ta, Tăng Ni cũng như Cư sĩ không ai không cảm thấy đã thọ ơn giáo dưỡng
của Ngài.
Thành tựu được những công
đức rộng lớn như vậy, Ngài luôn luôn biểu lộ đức tính hiền hòa khiêm tốn,
kính trọng người trên, hoan hỷ bao dung, nâng đỡ người dưới. Khi xét thấy
công việc nào cần cho Đạo pháp, Ngài sẵn sàng tiếp nhận dù có phải tự hạ
mình trước người nhỏ hơn. Trong giại đoạn tình hình Phật giáo đầy khó khăn
phân hóa, tôi không sao quên được hành động rất mực khiêm tốn của Ngài khi
Ngài dẫn đầu Ban trừ bị các Hòa thượng đến đảnh lễ Hòa thượng Thiện Hòa để
thỉnh Hòa thượng Thiện Hòa ra đảm trách lãnh đạo Viện Hóa Đạo mặc dù Hòa
thượng Thiện Hòa chỉ là học trò của Ngài.
Tuy nhiên, nhận thấy đức
tính ôn hòa, bao dung, khiêm nhường, một lòng vì Đạo pháp của Hòa thượng
yếu tố cần thiết dể đưa con thuyền Phật giáo ra khỏi cơn sóng gió bấy giờ,
nên các Hòa thượng Thượng tọa trong Ban chỉ đạo Viện Hóa Đạo đã cung thỉnh
Ngài giữ nhiệm vụ Viện trưởng Viện Hóa Đạo nhiệm kỳ 5.
Chính tại đức lãnh đạo
sáng suốt của Ngài qua hai nhiệm kỳ 5 và 6 làm tăng thêm niềm mến phục,
nâng cao uy .tín Ngài trong hàng Giáo phẩm các hệ phái nên Ngài được lời
làm Trưởng Ban vận động thống nhất Phật giáo sau khi đất nước hoàn toàn
độc lập.
Mặc dù Ngài tuổi lớn bận
rộn nhiều Phật sự, Hòa thượng không bao giờ xao lãng thời khóa tu niệm
hằng ngày. Đặc biệt nhất khi Ngài ra Hà Nội họp Đại hội Thống nhất Phật
giáo Hòa Thượng phải giải quyến biết bao nhiêu việc khó khăn, Ngài vẫn giữ
đúng công phu hành trì lễ Sám mỗi ngày của Ngài. Tôi còn nhớ đã thưa với
Ngài rằng: "Hòa thượng già yếu nên giữ gìn sức khỏe". Hòa thượng dạy tôi
một điều, tôi thiết nghĩ mọi người tu hành chúng ta đều phải đổ tâm suy
nghĩ và ghi nhớ: "Bây giờ còn đủ sức khỏi mà không sám hối, mai kia bịnh
hay chết bấy giờ có muốn lạy Phật cũng không lạy được”.
Ngoài ra, tôi cũng không
sao qụên được lời tâm sự chân thành của Hòa thượng, một bậc Cao Tăng nhiều
uy đức nhưng vẫn không hề tự mãn với những thành quả của Ngài. Hòa thượng
hiện hữu trên cuộc đời, tâm hết sức trong trắng, không so đo tính toán
hoặc không vướng phải kiêu mạn của một người giỏi cứu nhân độ thế. Đức
hạnh Ngài càng cao, tâm càng khiêm tốn luôn phụng sự chúng sanh với tất cả
chân tình. Ngài dạy: "Điều Ngự Giác Hoàng TRẦN THÁI TÔN tuy làm được nhiều
việc cho Nước cho Đạo còn cảm thấy chưa đủ, nay mình tự xấu hổ chưa giúp
ích gì cho Đạo”. Câu nói thật dễ mến, đầy khiêm nhường của Ngài như vẫn
còn văng vẳng bên tôi, nhắc nhở chúng ta đừng tự thỏa mãn với những việc
làm nhỏ bé của mình, phải nổ lực đóng góp cho Đạo pháp và Dân tộc nhiều
hơn.
Tôi còn nhớ mỗi những lúc
sống kề cận với Ngài, luôn luôn nghe Ngài nhắc đến lời phát nguyện duy
nhất dù bất cứ nơi nào và đối với bất cứ ai: "Nguyện đời đời kiếp kiếp
chúng ta cùng nhau làm bà con quyến thuộc trong ánh đạo Từ bi để hộ trì
Chánh pháp còn mãi ở thế gian lợi lạc chúng hữu tình.”
Trên bước đường hành đạo,
mỗi khi chạm phải chông gai khó khăn nhớ đến lời phát nguyện của Hòa
thượng, tôi lại tìm được một nguồn an ủi ấm áp, một sự khích lệ nồng nhiệt
cho những ai mang tâm nguyện dấn thân trên lộ trình hành Bồ tát đạo.
Nơi Ngài, tỏa sáng hình
ảnh một hành giả Pháp Hoa kiểu mẫu với tâm từ bi tràn đầy lòng nhu hòa
nhẫn nhục cao độ và luôn trụ ở Pháp không, làm tất cả mọi việc khó khăn
trên cuộc đời, nhưng trước vinh nhục khen chê Ngài chỉ mỉm cười:
“Một lòng kính lạy Phật
Đà
Ngàn đời con nguyện ở
nhà Như Lai