Tiếng Việt

Trang nhà Quảng Đức

   Tiếng Anh

Nhân Vật Phật Giáo Việt Nam


...... ... .

 

KỶ YẾU

TANG LỄ NI TRƯỞNG THÍCH NỮ DIỆU KHÔNG

--- o0o ---

PHẦN HAI - TANG LỄ

THÀNH PHẦN

TỔ CHỨC TANG LỄ

 

1. PHẦN NGHI LỄ

 A. CHỨNG MINH:

· HòA THƯng thích thiỆn siêu,

 Phó Chủ tịch thường trực HĐTSGHPGVN kiêm Trưởng Ban Giáo dục Tăng Ni Trung ương, Viện trưởng Học viện Phật giáo Việt Nam tại Huế; Trú trì Tổ đình Từ Đàm và Thiền Tôn - Huế.

· HòA THƯỢng THích khẢ TẤn,

 Hàng Giáo phẩm Chứng minh Tỉnh hội Phật giáo Thừa Thiên Huế, Trú trì chùa Giác Lâm - Huế.

· HòA THƯỢng THích đỨc phương,

 Ủy viên Hội đồng Trị sự GHPGVN, Trưởng Ban Trị sự Tỉnh hội Phật giáo Thừa Thiên Huế, Trú trì chùa Tra Am và Lam Sơn - Huế.

· HòA THƯỢng THích đỨc Trì

 Ủy viên Hội đồng Trị sự GHPGVN, Phó Ban Trị sự Tỉnh hội Phật giáo Thừa Thiên Huế, Trú trì chùa Ba La Mật - Huế.

 

 B. BAN CHẤP LỆNH:

· HòA THƯỢng THích khẢ TẤn,

 Hàng Giáo phẩm Chứng minh Tỉnh hội Phật giáo Thừa Thiên Huế.

· THƯỢng ta THích Tâm th

 Ủy viên Ban Trị sự Tỉnh hội Phật giáo Thừa Thiên Huế, Chánh Đại diện Phật giáo huyện Hương Trà, Trú trì chùa Vạn Phước - Huế.

 

 C. SÁM CHỦ:

 THƯỢng ta THích TỪ PHƯƠNG,

 Ủy viên Thường trực Ban Trị sự, Trưởng Ban Nghi lễ Tỉnh hội Phật giáo Thừa Thiên Huế, Giám tự Tổ đình Tây Thiên - Huế.

 

 D. CÔNG VĂN:

 THƯỢng ta THích THANH LiÊN,

 Ủy viên Thường trực Ban Trị sự, Phó Ban Đại diện Phật giáo huyện Phú Vang, Trú trì chùa Từ Hoá - Huế.

 

 E. BAN KINH SƯ:

 TT. Thích Quán Hạnh, TT. Thích Thanh Đàm,

 Đại đức Thích Phước Minh, Đại đức Thích Trường Định,

 Đại đức Thích Khế Viên, Đại đức Thích Tâm Pháp,

 Đại đức Thích Giác Mãn, Đại đức Thích Giải Hòa.

 

 F. XƯỚNG NGÔN ViÊN:

 Thượng Tọa Thích Khế Chơn

 

ii. PHẦN TỔ CHỨC

- Trưởng ban: Hòa Thượng Thích Đức Trì

- Phó ban:

 TT. Thích Quang Tạng, TT. Thích Giác Quang,

 TT. Thích Lưu Đoan, TT. Thích Lưu Thanh,

 TT. Thích Lưu Hòa, TT. Thích Tánh Tịnh,

 TT. Thích Khế Chơn, N.T. Thích Nữ Diệu Trí

 N.T. Thích Nữ Viên Minh, N.T. Thích Nữ Cát Tường

- Thư ký:

 TT. Thích Quán Chơn TT. Thích Từ Vân

 Đại đức Thích Huệ Phước Ni sư Thích Nữ Trí Hải

 Sư cô Tích Nữ Diệu Trì

- Tài chánh, thủ quỹ:

 Ni trưởng Thích Nữ Cát Tường Ni sư Thích Nữ Chơn Viên.

 

CÁC TIỂU BAN

1. Nghi lễ:

 TT. Thích Huệ Ấn TT. Thích Thanh Liên

 Đại đức Thích Giác Đạo Đại đức Thích Tâm Phú.

2. Tư thơ Tư hóa:

 Ni sư Thích Nữ Minh Bảo, Ni sư Thích Nữ Minh Liễu

 Sư cô Thích Nữ Như Giải Sư cô Thích Nữ Minh Đạt

3. Thiết trí trang hoàng:

 Thượng tọa Thích Thanh Liên Thượng tọa Thích Lưu Hòa

 Đại đức Thích Phước Chánh Đại đức Thích Thế Thanh

 Sư cô Thích Nữ Huệ Nhẫn Sư cô Thích Nữ Huệ Hải

 Đạo hữu Nguyên Nghĩa Đạo hữu Hồ Đắc Sâm

4. Hương đăng:

 Sư cô Thích Nữ Thanh Đàm Sư cô Thích Nữ Minh Phước

 Sư cô Thích Nữ Hạnh Đức Ni cô Thích Nữ Phước Thiện

5. Tiếp tân:

 TT. Thích Đức Thanh TT. Thích Chơn Tế

 TT. Thích Chơn Hương TT. Thích Lưu Thanh

 TT. Thích Tánh Tịnh TT. Thích Tánh Đạt

 TT. Thích Giác Quả N.T. Thích Nữ Diệu Tấn

 N.T. Thích Nữ Chơn Hiền Ni sư Thích Nữ Bảo Nguyệt

 Ni sư Thích Nữ Minh Bổn Sư cô Thích Nữ Diệu Thành

 Sư cô Thích Nữ Diệu Đạt Cô Thích Nữ Tịnh Chơn

 Sư cô Thích Nữ Diệu Thường Cô Thích Nữ Diệu Phương

 Cô Thích Nữ Tịnh Như Cô Thích Nữ Tịnh Thường

6. Tiếp lễ:

 Đại đức Thích Tánh Nhơn, Đại đức Thích Thanh Toàn,

 Đại đức Thích Thường Chiếu, Đại đức Thích Thông Đạt;

 Cô Thích Nữ Phước Hải Cô Thích Nữ Nhật Tuệ,

 Cô Thích Nữ Tịnh An, Cô Thích Nữ Tịnh Nghĩa.

7. Nam Bắc Trà:

 Sư cô Thích Nữ Huệ An, Sư cô Thích Nữ Diệu Đàm,

 Sư cô Thích Nữ Tịnh Trí, Sư cô Thích Nữ Tịnh Tâm,

 Sư cô Thích Nữ Tịnh Thiện, Cô Thích Nữ Tịnh Thành.

8. Âm thanh, ánh sáng:

 TT. Thích Hải Ấn, TT. Thích Quang Nhuận.

9. Hành đường:

 Sư cô Thích Nữ Huyền Thâm, Sư cô Thích Nữ Huệ Tâm,

 Sư cô Thích Nữ Tịnh Diệu, Sư cô Thích Nữ Huệ Dung.

10. Trai soạn:

 Sư cô Thích Nữ Diệu Tín, Sư cô Thích Nữ Diệu Lạc,

 Sư cô Thích Nữ Huệ Thành.

11. Ẩm thực:

 Sư cô Thích Nữ Huệ Từ, Sư cô Thích Nữ Huệ Mãn,

 Sư cô Thích Nữ Minh Tâm, Sư cô Thích Nữ Tịnh Hòa

12. Trật tự:

 Thượng tọa Thích Chơn Hiền, Thượng tọa Thích Trí Hải

 Đại đức Thích Tịnh Quang; Đạo hữu Lê Quý Quang.

13. Y Tế:

 Thượng Tọa Thích Hải Ấn, Đại đức Thích Từ Phong

 Đại đức Thích Tịnh Quang; Y Bác sĩ Tuệ Tĩnh Đường

14. Xướng ngôn viên:

 Thượng Tọa Thích Khế Chơn

15. Di chuyển:

 Sư cô Thích Nữ Diệu Ý, Sư cô Thích Nữ Huệ An;

 Đạo hữu Trần Ngọc Thùy.

16: Quay phim nhiếp ảnh:

 Đạo hữu Ngô Văn Mẫn, Đạo hữu Võ Văn Ái. 

 

 

CHƯƠNG TRÌNH TANG LỄ

CỐ NI TRƯỞNG THÍCH NỮ DIỆU KHÔNG

 

- ỦY VIÊN HỘI ĐỒNG TRỊ SỰ GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM

- ỦY VIÊN THƯỜNG TRỰC BAN TRỊ SỰ TỈNH HỘI PHẬT GiÁO THỪA THIÊN HUẾ

- TỌA CHỦ CHÙA HỒNG ÂN - HUẾ

 

Ngày 23-08-Đinh Sửu (24/09/1997)

 - 17 giờ: Lễ trị quan nhập liệm

Ngày 24-08-Đinh Sửu (25-09-1997)

 - 06 giờ: Cúng trà

 - 10 giờ: Bạch Phật khai kinh

 - 11 giờ: Lễ Thành phục

 - 14 giờ: Tụng kinh

 - 19 giờ: Tịnh độ

Ngày 25-26-27/08-Đinh Sửu (26-27-28/09/1997)

 - 06 giờ: Cúng trà

 - 07 giờ: Tụng kinh

 - 10 giờ: Cúng ngọ

 - 10 giờ 30: Cung tiến chơn linh

 - 14 giờ: Tụng kinh

 - 19 giờ: Tịnh độ

Ngày 28-08-Đinh Sửu (29-09-1997)

 - 06 giờ: Cúng trà

 - 09 giờ: Lễ phúng điếu của:

 * Hội đồng Trị sự GHPGVN

 * Ban Trị sự Tỉnh hội Phật giáo Thừa Thiên Huế

 * Các Môn phái, Tổ đình, Tự viện

 - 09 giờ 30: Lễ phúng điếu của chính quyền, Mặt trận và các cơ quan đoàn thể

 - 10 giờ 30: Cúng ngọ

 - 11 giờ: Cung tiến chơn linh

 - 14 giờ: Lễ phúng điếu của các đơn vị Niệm Phật đường, đoàn thể trực thuộc Giáo hội

 - 19 giờ: Tịnh độ

Ngày 29-08-Đinh Sửu (30-09-1997)

 - 06 giờ: Cúng trà

 - 09 giờ: Khai kinh sơ tuần – Cúng ngọ

 - 10 giờ: Cung tiến chơn linh

 - 14 giờ: Thỉnh chơn linh yết tổ tại Tổ đình Báo Quốc, Tây Thiên, Trúc Lâm

 - 17 giờ: Thỉnh chơn linh yết Phật tại bổn tự

 - 19 giờ: Sái tịnh bảo tháp

Ngày 01-09-Đinh Sửu (01-10-1997)

 - 07 giờ: Lễ khiển điện

 - 08 giờ: Lễ truy niệm (có chương trình riêng)

 - 09 giờ: Lễ phất trần

 - 09 giờ 30: Di quan

 - 11 giờ: Thỉnh kim quan nhập bảo tháp

 - 12 giờ: Thỉnh chơn linh an vị

 - Tạ Phật hoàn kinh

 

BAN TỔ CHỨC TANG LỄ

 

 

 

TƯỞNG NIỆM

NI TRƯỞNG DIỆU KHÔNG

 Hòa thượng THíCH THIỆN SIÊU

 

Trong những ngày đầu phong trào chấn hưng Phật giáo Việt Nam, năm 1933, khi còn là một cư sĩ tại gia, Ni trưởng đã cùng với các bậc Tôn túc, các hàng cư sĩ trí thức như bác sĩ Tâm Minh – Lê Đình Thám v.v… góp sức xây dựng, làm cho Phật giáo Thừa Thiên - Huế và các tỉnh miền Trung mỗi ngày một phát triển.

Là một người con trong dòng quý tộc, Ni trưởng đã ngộ lẽ vô thường, thế gian hư huyễn, nên đã phát nguyện xuất gia để thực hiện hạnh tu giải thoát, hoằng pháp lợi sinh. Đặc biệt, Ni trưởng đã hết sức chú trọng đến việc đào tạo Tăng tài, cho nên Ni trưởng đã đem hết vốn hiểu biết hiện có của mình để hướng dẫn giáo dục Ni chúng vững tiến trên con đường giải thoát. Ni trưởng đã cùng với Ni bộ Bắc tông mở nhiều lớp học, Ni viện Phật học để đào tạo Ni tài cho Ni bộ. Lúc còn sinh tiền Ni trưởng luôn luôn ước nguyện tại tỉnh Thừa Thiên - Huế có nhiều cơ sở Phật giáo hơn nữa để giáo dục Tăng ni. Ước nguyện đó hôm nay đã thành hiện thực. Riêng tại Thừa Thiên - Huế đã mở được Trường Cơ bản Phật học và nay lại thêm Học viện Phật giáo Việt Nam, trong đó ngay từ những ngày đầu thành lập, Ni trưởng đã đóng góp một cách tích cực từ tinh thần cho đến vật chất, trước sau một lòng vì đạo, trước sau một lòng vì sự tu học của Tăng ni hầu có nhiều Tăng ni đủ tài đức để gánh vác việc hoằng dương Chánh pháp, kế tục sự nghiệp của các tiền nhân. Lúc còn sinh tiền, khi chúng tôi vào thăm, Ni trưởng không giây phút nào là không nhắc nhở, khôngmong mỏi làm sao mở được trường này, mở được trường khác để cho Tăng ni có nơi tu học. Thưa Giác linh Ni Trưởng, sự mong mỏi đó hôm nay đã thành hiện thực, nhưng trong những năm tháng sau này vẫn còn tiếp tục cần sự hỗ trợ, sự khuyến khích, khích lệ của bao nhiêu vị thiện tâm đại trí mới có thể viên mãn. Ni trưởng là một vị trong các vị năng lực hộ đạo, giúp đỡ cho Học viện, cho Trường Cơ bản, thế mà nay Ni trưởng đã ra đi, làm cho Học viện và Trường Cơ bản chúng tôi mất đi một vị hộ pháp, một vị hỗ trợ tích cực.

Tuy nhiên, mặc dầu Ni trưởng đã ra đi, nhưng cái chí nguyện cao cả của Ni trưởng, chúng tôi tin chắc vẫn còn mãi và trong môn đồ Pháp quyến, Phật tử của Ni trưởng chắc cũng có nhiều vị noi theo, nhiều vị tiếp tục chí nguyện của Ni trưởng là ủng hộ để làm cho Học viện Phật giáo Việt Nam tại Huế và Trường Cơ bản Phật học Việt Nam tại tỉnh nhà mỗi ngày mỗi phát triển và thành tựu viên mãn, để có những vị Tăng ni đủ đức đủ tài kế tục sự nghiệp của các bậc tiền nhân.

Với sự ra đi của Ni trưởng trong giai đoạn này, đó là một sự mất mát lớn. Chúng tôi hết sức xúc động, nhưng không biết làm sao hơn vì luật vô thường hễ có sinh thì có tử. Nhưng sinh tử trong Chánh pháp, đi trong Chánh pháp như Ni trưởng, thực là một điều hết sức cao cả.

Vì vậy hôm nay, đối trước ngôi Tam bảo, chúng tôi đại diện cho Học viện Phật giáo Việt Nam tại Huế, Trường Cơ bản Phật học tỉnh Thừa Thiên - Huế cùng toàn thể Tăng ni, chí thành đại vị Ni trưoỏng đảnh lễ, cầu mong Giác linh Ni trưởng cao đăng Phật quốc.

Nam mô Tiếp dẫn Đạo sư A-di-đà Phật

 

 

LỜI CẢM NIỆM CỦA BAN TRỊ SỰ TỈNH HỘI PHẬT GIÁO THỪA THIÊN HUẾ

(Đọc trong Lễ Di quan Sư bà Thích Nữ Diệu Không)

 

NAM MÔ TIẾP DẪN ĐẠO SƯ A DI ĐÀ PHẬT

 

Kính Chơn linh Sư bà,

Hôm nay Ban Trị sự Tỉnh hội và Tăng Ni Phật tử Thừa Thiên Huế vô cùng thương tiếc, kính tiễn đưa Sư bà, vị ủy viên thường trực kính quý của Ban trị sự về xứ Phật.

Kính thưa Sư bà,

Thế là giờ ly biệt đã đến. Mới ngày nào còn nghe Sư bà bày tỏ mối quan tâm đến ngày Đại hội đại biểu kỳ iii của Phật giáo tỉnh nhà và ngày khai giảng khóa i Học viện Phật giáo Việt Nam tại Huế và bảo: “Nếu mỗi người đều phát tâm thì Phật sự nào cũng thành tựu”. Lời thiền còn đó, những tưởng Sư bà sẽ còn duyên nhìn thấy nét hân hoan của ngày tốt nghiệp khóa đầu Học viện và sự khởi sắc của Tỉnh hội vào đầu thiên niên kỷ thứ 3, nào ngờ đâu cơn vô thường lại đến giữa những ngày mưa gió se thắt.

Nhớ về xưa, nét ngọc mảnh mai, từ những năm thập kỷ 30, Sư bà đã tiên phong thành lập ni viện đầu tiên tại Huế, rồi các ni viện kế tiếp ở Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Nha Trang, Sài Gòn, Sa Đéc, rồi Hồng Ân, Kiều Đàm, Đông Thuyền … Những năm thập kỷ 60 Sư bà nhiệt tình đóng góp vào sự nghiệp xây dựng Đại học Vạn Hạnh, các lớp học ni, rồi đến nay trường Cơ bản Phật học và Học viện Phật giáo Việt Nam tại Huế …

Suốt quãng đời xuất gia hành đạo, Sư bà đã không mệt mỏi tiếp độ ni đồ, lo dạy các ni sinh, kiêm lo các cô nhi, ký nhi viện và công tác từ thiện xã hội. Thật là:

“Chiêm ngưỡng hạnh tiền đức, lòng vời vợi thương đạo thương đời, ngày tháng hồng ân báo đáp.

Quán soi tâm hữu tình, trí miên man cứu nạn cứu khổ, sớm chiều đại nguyện lo toan”.

Hình ảnh của Sư bà đã gợi chúng tôi nhớ về hình ảnh Tôn Ni Đại Ái Đạo. Hỡi ôi!

Gương xưa còn đó, rướm gót chân đi, đảnh lễ vầng dương cầu diệu pháp.

Nếp cũ còn đây, giữ lòng tu lại, sách cần hội chúng phát bồ-đề.

Sinh tiền Sư bà luôn luôn tỏ nét tự tại mà khiêm cung, trí thức mà giản dị, quả là:

Tự tại hòa khiêm cung, khắp miền quê hương in bóng ngọc góp phần hưng chánh pháp,

Đa văn mà giảng dị, toàn viện học chúng tạc lời vàng hội ý chấn thiền phong.

Trước giờ vĩnh biệt này chỉ còn lại sự ngậm ngùi, nuối tiếc chúng tôi chỉ biết nói lên lời cảm niệm.

Vẫn biết: Hữu vi là vô thường, có sinh thì có diệt, có hợp thỉ có ly, cuộc sống bể dâu như mộng, như huyễn, tựa bào ảnh tợ ngưng sương, phải tinh tiến mà viễn ly.

Nhưng làm sao chúng tôi nén được niềm thương cảm!

Chúng sinh còn khổ lụy, có đến phải có đi, có vui ắt có khổ, cảnh đời vô thường, tợ mong manh như đèn treo trước gió, cần chuyên cứu khổ.

Chúng tôi rất xúc động, xúc động nhiều trước bao Phật sự Sư bà đã làm thành tựu. Sư bà ra đi đã yên phần tròn hạnh nguyện. Còn chúng tôi những người còn ở lại, sẽ tiếp tục nhẫn nại trước những khó khăn lớn nhỏ trong sự nghiệp hoằng hóa độ sinh. Quyết sẽ dựng cao Học viện Phật giáo và trường Cơ bản Phật học, sẽ bảo trì, phát triển các cô nhi, ký nhi viện, các lớp mẫu giáo tình thương, mong Chơn linh Sư bà chứng giám.

Kính thưa Sư bà, như một lời dạy trong Trung Luận mà Sư bà đã dịch:

 “Không sinh cũng không diệt

 Không thường cũng không đoạn

 Không một cũng không khác

 Không đến cũng không đi

 Ngài dạy ấy nhân duyên

 Khéo dập tắt hý luận

 Con nay đảnh lễ Ngài

 Bậc Đạo sư đệ nhất”.

Sư bà cứ thanh thản ra đi theo đường hạnh nguyện. Con đường của Tăng ni Phật tử cố đô mãi mãi vẫn là:

 Chúng sinh vô biên thệ nguyện độ,

 Phiền não vô tận thệ nguyện đoạn,

 Pháp môn vô lượng thệ nguyện học,

 Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành.

Nam Mô Trung Thiên Giáo Chủ Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật. 

Kính bái biệt Sư Bà.

 

ĐIẾU VĂN

CỦA NI BỘ THỪA THIÊN HUẾ 

Trước giờ phút trang nghiêm hương trầm quyện tỏa, trước Kim quan Người, chúng tôi Ni bộ Thừa Thiên Huế xin được bộc bạch đôi lời tưởng niệm, mong Chơn linh Ni trưởng thùy từ chứng giám.

Kính Ni trưởng, vẫn biết sinh là ký tử là quy, cuộc đời là quán trọ, đến để rồi đi, con người là lữ khách. Cái gì đã có sinh phải có diệt, có tụ phải có tán cũng như nước chảy xuôi đi không bao giờ trờ lại, hoa tàn lá rụng là định luật tự nhiên, sự biến thiên của vũ trụ là như vậy. Nhưng chúng tôi nhữngngười còn lại đây đồng pháp lữ với Ni trưởng đã cùng nhau chung lo Phật sự tronglĩnh vực thượng cầu hạ hóa tiếp dẫn hậu lai báo Phật ân đức từ thưở thanh xuân đến tóc trắng phủ đầu, làm sao khỏi bùi ngùi xúc động khi hồi tưởng lại công đức của Người.

Vì sứ mệnh hoằng dương chánh pháp, Ni trưởng đã đặt chân khắp mọi miền đất nước khai sáng nhiều ni tự, tiếp độ vô số ni lưu có nơi nương tựa học hỏi. Đặc biệt nhất là tại cố đô Huế; ni viện Diệu Đức là nơi Ni trưởng đã dày công sáng lập đóng góp nhiều vào công việc đào tạo cơ sở từ lúc ban sơ đến nay đã trở thành Trung tâm Ni bộ mà Ni chúng các nơi đều hướng về. Chúng tôi không bao giờ quên hình ảnh cố Đại lão Hòa thượng ni thượng Diệu Hạ Hương đã khai sơn và Ni trưởng là người có công sáng lập cũng như cố Ni trưởng tân viên tịch trú trì Diệu Đức đã tận tụy hy sinh cho hậu thế dù biết với hạnh hành xả, quý Ngài không bao giờ lưu ý.

Để hướng dẫn các Phật tử tại gia tu tập, Ni trưởng đã chỉ dạy mấy vần thơ:

 Tu hành khó lắm chị em ơi

 Thuyền nhỏ lênh đênh giữa biển khơi

 Sóng nghiệp lao xao muôn lớp nước

 Gió yêu thổi động bốn phương trời

 Gặp cơn giông tố nên bình tĩnh

 Cực lạc rồi ra sẽ thảnh thơi

Với Giáo hội, Ni trưởng đã đóng góp nhiều Phật sự đáng kể nhưng luôn luôn tôn trọng Đại Tăng với tinh thần Bát Kỉnh Thị Y. Trải qua bao biến cố thăng trầm gian lao trong thời pháp nạn nhưng chí Người như núi vững không lay, một lòng trung kiên quả cảm.

Chúng tôi vô cùng phục khi ôn lại quá trình hành đạo của Ni trưởng. Một quá trình không dấu vết vì cõi lòng người như hư không làm sao kể hết. Chúng tôi cứ tưởng Người sẽ mãi mãi của chúng tôi:

 Cùng nhau lái con thuyền Ni chúng

 Chung đôi vai gánh sứ mệnh hoằng dương

 Nào ngờ đâu giờ tử ly đã điểm

 Cảnh vĩnh biệt chia rồi

 Lòng chúng tôi khó tả hết nỗi buồn

 Dạ môn đệ khôn nguôi niềm tưởng nhớ

 Than ôi!

 Những tưởng rằng cây tùng bá mãi vươn vai cùng sông núi

 Nào ngờ đâu giữa đường nhạn trắng lẻ đường bay

 Ngôi nhà cao gãy một cột đớn đau thay

 Trời đất lịm phút giây ngôi sao rụng.

Đễ tán dương công hạnh của Ni trưởng, Hòa thượng thượng Trí hạ Quang đã truy điếu Người bốn chữ ÁI ĐẠO DƯ HƯƠNG. Thật vậy, Người đúng là dư hương của Ngài Đại Áo Đạo. Đối với Người đến đây hạnh nguyện đã mãn, Phật sự tạm xong, Ni trưởng quyết tâm trở về cố hương nơi chơn thường tịch diệt để lại cho chúng tôi vô vàn thương tiếc. Sau đây tân cựu Ni học chúng tại Thừa Thiên Huế kính dâng Ni trưởng lời hoài niệm.

Kính lạy Chơn linh Ni trưởng,

Chúng con hàng hậu học trải bao thế hệ đã tụ tán nơi đây và trưởng thành khắp các tỉnh, từ thuở thiếu thời tại cố đô Huế đã được Ni trưởng ban cho chúng con tình mẹ; một tình thương bao la như nước lan tràn biển cả, như ánh sáng mặt trời không chiếu riêng ai.

Chúng con cứ ngỡ rằng Ni trưởng mãi là con thuyền không bao giờ cặp bến vì đàn con còn lênh đênh trong đại dương ngũ trược.

Nhưng hỡi ơi! sự bất hạnh vụt đến với chúng con, tin sét đánh ngang tai, Ni trưởng đã xả báo thân để riêng mình nhẹ bước, chúng con hết sức đau lòng nhưng đành bật lực trước định luật vô thường, biết vô thường nhưng giọt lệ vẫn tràn mi. Vâng lời Phật dạy chúng con cố gắng thay vì bi lụy là niềm giải thoát, biến đau thương thành dũng cảm, nhưng lòng chúng con vẫn quặn thắt trước sự mất mát lớn lao này. Biết kể sao cho hết công ơn Ni trưởng, nói sao cho vừa nỗi niềm thương tiếc của chúng con:

 Chúng con nhớ lại Ni trưởng ngày xưa

 Nơi thiền môn dựng bảng trường chiêu sinh tiếp chúng

 Phòng học đơn sơ phên vách đất gió lộng

 Từ bốn phương chiêu tập học ni

 Một lòng học đạo từ bi

 Đốt đèn mài mực chuyên cần bút nghiêng.

 Núi rừng cảnh vật buồn tênh

 Nắng sang mưu đọng bên hiên cỏ lồng

 Sư về ra sức gắng công

 Đắp trường lấp hố hoa trồng nhà xây

 Mái trường nên dạng từ đây

 Học ni tu học tháng ngày yên vui

 Chúng con cứ nghĩ bánh xe cửu trụ vạn kiếp vần xoay

 Đớn đau thay sự thế vô thường

 Nghìn thu vĩnh biệt

 Than ôi! Cây tùng đổ giữa đêm thu gió lộng

 Đàn chim côi vỡ tổ xạc xào bay

 Diệu Đức - Hồng Ân còn đó với tháng ngày

 Mà hình bóng Người vĩnh biệt từ đây.

Kính lạy Ni trưởng, gần một thế kỷ trên trần thế, Ni trưởng đã tận tụy hy sinh cho Đạo pháp và riêng hàng hậu tấn chúng con hết nữa cuộc đời, cho đến lúc tuỏi già sức yếu mạng sống còn trong gang tấc vẫn cố gắng đem hết sức tàn hưởng ứng, và đóng góp vào công việc xây dựng cơ sở giáo dục tại tỉnh nhà để Tăng Ni sinh có thêm phương tiện tu học.

Chúng con thiết nghĩ Người đã sống xứng đáng, một cuộc sống tuyệt vời như vậy mà vẫn chưa quyên hạnh nguyện độ sinh trước ngày xả báo thân, thấy chúng con lo buồn Người đã gắng sức thều thào: “Khóc chi, tôi về tịnh độ một thời gian rồi còn trở lại hành Phật sự”. Ôi hạnh nguyện cao siêu quá, chúng con chỉ biết thành kính lạy Chơn linh Người.

Kính lạy Chơn linh Ni trưởng,

Trong giờ phút phân ly này và trước mắt chúng con đây các Tôn túc Ni tuổi già đã phủ, sức khỏe như đèn trước gió, e rồi các ngài lại lần lượt ra đi mà hậu tấn chúng con thì đức bạc tài sơ. Rồi đây ai hướng dẫn chúng con trên đường tu học. Trước bối cảnh này, nghĩ đến tương lai chúng con đã cảm thất bơ vơ làm sao khỏi thao thức tủi buồn, nhưng chúng con không vì nghĩ vậy mà lơ là Phật sự. Chúng con nguyện khắc phục khó khăn noi gương đại hạnh của Người, nghiêm trì giới luật tiến tu đạo nghiệp, mong khỏi phụ công ơn giáo dưỡng cao dày của Ni trưởng cũng như quý Tôn túc Ni hiện tại.

Kính bạch Ni trưởng, còn vài phút nữa thôi huyễn thân của Người sẽ được đưa vào Bảo tháp, toàn thể pháp hữu và học chúng ni bộ Thừa Thiên Huế thành kính nguyện cầu chư Phật tiếp độ Chơn linh Ni trưởng cao đăng Phật quốc.

Kính vĩnh biệt Ni trưởng. 

NAM MÔ TRÚC LÂM PHÁP PHÁI TỨ THẬP NHỊ THẾ THƯNG TRỪNG HẠ HẢO HIỆU DIỆU KHÔNG TRƯỞNG LÃO NI TRƯỞNG 

THÙY TỪ CHỨNG GIÁM

NS Diệu Tấn 

 

ĐIẾU VĂN

CỦA MÔN ĐỒ PHÁP QUYẾN

 

Nam mô Lạc bang Giáo chủ Tiếp dẫn Đạo sư A di đà Phật

- Ngưỡng bạch Chư tôn Hòa thượng Chứng minh

- Kính bạch Chư Thượng tọa Đại đức Tăng Ni

- Kính thưa Quý vị quan khách

- Thưa toàn thể thiện nam tín nữ Phật tử

Trong giây phút mà khoảnh khắc sẽ đi vào thiên thu này, trước khi cung tiễn Kim quan nhập Bảo tháp – nơi an nghỉ cuối cùng trên trần thế của Tôn sư chúng con: Cố ni trưởng THÍCH NỮ DIỆU KHÔNG.

Môn đồ pháp quyến chúng con thành kính đảnh lễ Chư tôn Hòa thượng, Chư Thượng tọa Đại đức Tăng Ni. Xin chân thành cảm tạ quý quan khách và toàn thể Phật tử. Quý Ngài và quý vị đã nghĩ đến đạo tình thắm thiết quang lâm Hồng Ân ni tự tiễn đưa ân sư chúng con vào cõi vô sinh bất diệt. Tình Linh sơn cốt nhục của quý Ngài và quý vị, chúng con nguyện khắc ghi tâm, đời đời tưởng nhớ.

Kính bạch quý Ngài,

Kính thưa quý vị.

 Thuyền lục độ thung dung.

 Pháp nhất thừa thấu triệt

 Những tưởng bánh xe cử trụ, vạn kiếp vần xoay

 Nào ngờ đâu, cơn lốc vô thường, ngàn năm vĩnh biệt!

Xin phép quý Ngài và quý vị cho chúng con được bộc bạch đôi lời dâng Chơn linh ân sư chúng con trong giây phút cuối cùng này.

Ngưỡng bạch Chơn linh Thầy!

Trời cuối thu, lá thu dìu dặt, mãn duyên cõi Ta bà, Thầy nhẹ bước ra đi, nơi Liên đài Thầy an nghỉ, chốn hồng trần đệ tử khóc đơn côi.

Nhớ năm xưa, Thầy mượn chiếc thân tứ đại giả hợp để làm thuyền chở mình, chở người qua bến giác, lấy đức tánh nhẫn nại siêng năng, từ hòa khiêm tốn của chính mình để sách tấn môn đồ đệ tử. Từ đạo hạnh sáng ngời ấy, chúng con trưởng thành và chắp cánh bay cao. Cuộc đời của Thầy khi ở trần thế hay trong chốn thiền môn đều là tấm gương về lòng hy sinh tận tụy, một sự hy sinh vô bờ bến ít ai có được. Sống trong lầu son của chốn vương tôn nương tử mà lòng mãi quặn thắt trước mỗi đau của kiếp người, để rồi từ đó, Thầy dấn bước lo toan và hoàn thành ý nghĩa của hai chữ nhân ái. Vào nơi cửa thiền, một lòng một dạ, mãi mãi thao thức trước thịnh suy thăng trầm của đạo, tâm hồn luôn gắn bó với đắt nước quê hương. Những vần thơ, những lời văn đậm đà đạo nghĩa mà Thầy để lại đã nói lên được điều đó, cuộc đời mãi tôn xưng!

Kính lạy Thầy,,

Riêng chị em chúng con từ khi cắt ái ly gia, theo Thầy học đạo, ngôi chùa Hồng Ân thân thương này là tổ ấm cưu mang chúng con trong những năm tháng sơ cơ học Phật. Và Thầy la bậc ân sư giáo dưỡng tác thành cho giới thân huệ mạng, dìu dắt chúng con từng bước trên nấc thang chánh pháp.

Mấy chục năm sống đầm ấm trong ngôi nhà Đạo, Thầy đùm bọc chúng con không những bằng đức độ của bậc Thầy mà còn bằng tình thương của người mẹ. Chị em chúng con nhờ nguồn sữa pháp ngọt ngào ấy mà trưởng thành trong cuộc sống và có được thiện căn hôm nay.

Chúng con lớn khôn, mỗi người đi một ngả. Có người ở lại quê hương, có người lên đường du hóa, đem giáo lý Phật đà mà Thầy dạy dỗ đi vào lòng cuộc đời phổ độ quần sinh, làm nhiệm vụ “Tác Như Lai sứ, hành Như Lai sự”. Ở nơi xa xôi hoặc cạnh bên Thầy, chị em chúng con vẫn tâm niệm có một lần quy tụ về đây báo đáp công ơn. Nào ngờ đâu, ngày về đoàn tụ cũng chính là ngày vĩnh biệt chia xa. Thầy ra đi không trở lại nữa rồi. Phải chăng Thầy muốn tròn hạnh nguyện là người cho đi mà không nhận lại bao giờ ! …

Thầy ơi! Hồng Ân ni viện giờ đây cát đá ngậm ngùi, cỏ cây rơi lệ, đất trời cũng nhỏ giọt tiễn đưa. Biết bao giờ chúng con nhìn thấy được tôn dung, nghe lại câu pháp nhũ ấm lòng con trẻ.

 Trăm năm cuộc thế nào khác đêm dài

 Một phút vô thường còn đâu bóng chiếc.

Đó đây hiu quạnh, chốn rừng thiền tĩnh mịch, bóng hình hài huyễn ảnh lắng xa. Sau trước êm đềm, lan nhã vắng không, tiếng pháp nhũ thanh âm cách tuyệt. Đau xót nỗi từ đây bơ vơ chiều vắng lạnh, nào thiền sàng đâu nữa bậc cao minh!

Vẫn biết dòng đời là ảo mộng, kiếp phù sinh như sương gá đầu cành, nhưng ân sư nghĩa nặng, lá phải lìa cành khi phải lìa cành xa nhánh, làm sao khỏi bi ai trước cảnh vô thường bi cách.

Hồng Ân còn đây! Diệu Giác - Diệu Tràng còn kia! Rồi Kiều Đàm - Diệu Pháp ở miền Nam xa xôi còn in dấu chân phổ độ, mà phút chốc trở thành thấm lạnh giữa dòng đời sinh diệt.

 Ân phú pháp làm sao trả đặng,

 Nghĩa sư đồ chúng con biết tính sao đây?

Ngưỡng bạch Chơn linh Tôn sư!

Thầy vẫn thường dạy chúng con: “Sắc tướng vốn không, mượn huyễn cảnh độ người mê muội - Tử sinh nào có, nương thuyền từ vớt kẻ trầm luân”.  Nhưng sao lòng chúng con vẫn quá đau xót ngậm ngùi trước giờ phút cung tiễn kim thân của Thầy nhập thể Liên đài. Xin thời gian dừng lại cho thầy trò đôi phút đoàn viên! Song, không còn nữa. Hành trang TÍN-HẠNH-NGUYỆN đã chuẩn bị đưa Chơn linh Thầy về cõi Lạc bang, chim Ca lăng Tần già đang thánh thót reo ngâm thánh hiệu Vô lượng thọ Phật, cảnh giới thất trùng la võng, thất trùng hàng thọ đang hiện ra muôn ngàn tia sáng của Đại hùng bửu điện xứ Phật. Con đường thượng phẩm thượng sinh chờ bước chân thầy về cõi Tây phương.

 Mây đi ai biết bao giờ lại

 Xa tắp chân trời dấu nhạn bay

 Ánh lửa về đâu khi diêm tắt

 Ai nghe tiếng vỗ một bàn tay?

Trong ý nghĩ thiền vị đó, chúng con kính cẩn tiễn đưa Thầy về cõi chân không, ngưỡng vọng thần thức sớm quay lại cõi Tà-bà cứu độ chúng sinh.

Toàn thể pháp quyến chúng con xin nguyện noi theo hạnh nguyện của thầy đi trọn con đường mà Thầy đã vạch, hướng dẫn đàn em thăng tiến trên đường đạo để không phụ lòng tin của Thầy giao phó.

 Hồng Ân vẫn là đây!

 Trăng vẫn mảnh trăng này!

 Ngàn sau, ngàn sau nữa!

 Lồng lộng giữa trời mây!

Nam Mô Lâm Tế Tôn Tứ Thập Nhị Thế Trúc Lâm Pháp phái, Sung Việt Nam Phật giáo Giáo Hội Trị sự Hội Đồng Ủy viên, Thừa Thiên Huế Tỉnh Giáo Hội Trị sự Ban Thường trực ủy viên, sáng lập Diệu Đức Ni viện Khai Kiến Hồng Ân Ni Tự Chủ húy thượng Trừng hạ Hảo hiệu Diệu Không Ni Trưởng Chơn Linh Tôn Sư Thùy Từ chứng giám.

Môn đồ pháp quyến đồng đảnh lễ

Thích nữ Bảo Nguyệt

 

 

NHẬT KÝ LỄ TANG 

Được tin buồn, chúng tôi vội vã ra ga Sài Gòn về Huế với hi vọng kịp đảnh lễ tôn dung Thầy lần cuối. Đến ga Huế, trời mưa rỉ rả như khóc thay cho bao người từ đây mất đi một bậc minh sư, một chân thiện tri thức.

Khi cả bốn người chúng tôi vừa bước vào nơi tôn trí kim quan tại chùa Hồng Ân, thì kỳ lạ làm sao, trời đang mưa rỉ rả bỗng đổ ồn ào xuống một trận, hệt như thay chúng tôi mà òa khóc. Tôi không khóc nhưng cõi lòng tê tái. Đây là một chặn đường mà ai cũng phải đi qua và đau khổ hơn nữa, chứng kiến người thân của mình đi qua. Bởi có như vậy Phật mới ra đời để vì chúng sinh mà nói lên Pháp ngài đã chứng và cách chữa trị sinh tử.

Sau khi lễ kim quan và đứng lặng một hồi xong, tôi mới có dịp quan sát mọi người xung quanh. Tất cả đệ tử Thầy tôi và học trò của họ đều về đông đủ, nên tuy khách ni chưa đến mà chùa đã đông nghẹt cả người. Có vài người ở xa chưa về kịp thì người ta đã thắc mắc tại sao không về. Lại có người cũng đệ tử mà đi xa đã quá lâu, cả chùa quên bẵng mặt mày họ, khi nhắc tên mới moi óc để nhớ lại, đó là sư cô Quảng Trí. Cái tên nghe rất quen nhưng mặt thì thay đổi quá nhiều sau hơn bốn mươi năm gió bụi. Vô thường nên vô ngã là như vậy, giản dị quá chừng. Ta không nhận ra người và người cũng không nhận ra ta. Ai cũng chào nhau với câu nhủ thầm hay nói rõ: Sao già quá vậy? Mà không thấy vô thường vô ngã ngay trên chính bản thân mình.

Có điều đặc biệt là vắng bóng cư sĩ tại gia. Có lẽ vì Thầy tôi ngọa bệnh quá lâu, những năm sau này ít ai lui tới nhiều như trước. Không phải vì Thầy không còn hơi sức để tiếp chuyện, nhưng suốt những năm cuối đời, Người sống nhiều hơn với cảnh giới nội tâm. Chỉ khi nào gặp người đồng điệu thì Người mới phát ngôn rất vui vẻ. Người thường bảo tôi: “Nói chuyện vô duyên thì nói làm gì”.  Mỗi khi có chư vị đại tăng đến thăm, Người thường ngồi thẳng dậy, bàn Phật sự không khác gì cách nay mấy mươi năm. Nhưng khi các ngài ra về, Người lại im lặng nằm thiếp, quay vào vách. Tôi nhớ mãi mùa an cư 1995, mới cách đây hai năm, tôi về chùa xin nhập chúng an cư ba tháng để được gần Thầy. Vâng lời Thầy, mỗi chiều tôi hướng dẫn các cô tân thọ giới và những điệu nhỏ trong chùa ngồi thiền, kinh hành và nghe Pháp. Mỗi chiều sau giờ công phu, chúng tôi lên Chánh điện gần chỗ Thầy nằm để lễ Phật, tĩnh tọa nữa tiếng rồi thiền hành quanh điện Quan Âm trước chùa ba vòng trước khi ngồi xuống nghe Pháp thoại giữa trời, bên cạnh những nấm mồ vô chủ sau lưng chùa. Mặc dù đang nằm thiêm thiếp Thầy đều rõ biết mọi việc diễn tiến xung quanh, nên vào giờ nghe Pháp Thầy đều cho các thị giả đang quạt hầu đi ra vườn nghe, để Thầy nằm một mình cũng được. Sư cô Diệu Ý thường túc trực bên Thầy có khi cũng hiện diện vào lúc nghe Pháp. Quý sư cô lớn trong chùa cũng tham dự buổi pháp thoại mỗi chiều. Thấy nhiệt tình học Pháp của ni chúng, tôi bèn dành riêng một thời để trùng tuyên Giới luật trước khi nói Pháp thoại với chúng nhỏ. Đặc biệt có một buổi chiều, khi chúng tôi đang trùng tuyên giới luật, Thầy thình lình xuất hiện trên chiếc ghế mây do hai thị giả khiên ra. Lúc đó, tim tôi chấn động mảnh liệt trước cảm ứng đạo giao nan tư nghì ấy. Vì chính lúc đó chúng tôi đang học những điểm khó trong giới Bồ tát về các loại tâm cao cấp như thập phát thú, thập trưởng dưỡng, thập kim cang tâm. Đến bây giờ tôi vẫn không hiểu được làm sao Thầy biết chúng tôi đang học Bồ tát giới mà bảo thị giả khiêng ra chứng minh buổi học như thế. Phải chăng động đến giới Bồ tát là động đến tim của Người nên dù đang nằm thiêm thiếp Thầy cũng biết được.

Người rất thích nghe kinh Kim Cang, nên mỗi khi về hầu Người, tôi lại tụng kinh Kim Cang cho Người nghe mỗi sáng chiều, ngay bên giường Người. Người ngồi thẳng lưng nhắm mắt, hoàn toàn đăm chiêu trong lời kinh. Bởi thế mà mỗi khi trì kinh Kim Cang hàng ngày, lúc đi đứng nằm ngồi, tồi đều mường tượng bóng dáng Thầy bên cạnh đang lắng nghe mình dù tụng lớn tiếng hay đọc thầm trong tim. Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng. Nhược kiến chư tướng phi tướng tức kiến Như lai. Thế cho nên, giữa Phật và thầy và trò chẳng bao giờ có sự ngăn cách. Kinh Kim Cang quả đã đem lại cho ta một lối nhìn thật khoáng đạt, một niềm lạc quan bi tráng.

Những ngày kế tiếp, nhiều đoàn khách tăng và phật tử từ các tỉnh xa xôi như Bà Rịa Vũng Tàu và các tỉnh miền Nam; miền Trung từ Bình Thuận, Ninh Thuận, Khánh Hòa, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên; từ cao nguyên Trung phần như Buôn Mê Thuột, Pleiku, Kontum, Daklak; từ miền Bắc Trung phần như Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị … lục tục kéo về, xe cộ tấp nập suốt đêm rồ máy chạy vào sân chùa. Những đoàn phúng điếu này là các ban đại diện Giáo hội, đại diện Ni bộ, đại diện các Phật học viện, ni viện, thiền viện lớn tại TP.HCM và các tỉnh thành khắp nước. Có nhiều đoàn phúng điếu mà đối với Thầy chúng tôi thuộc hàng hậu học. Họ lặng lội đến viếng tang lễ từ những địa phương rất xa xôi, lại gặp mùa miền Trung đang bão lụt, làm cho môn đồ hiếu quyến chúng tôi rất cảm kích. Cảm động nhất là lời phát biểu của đại diện chư tăng và phật tử Tổ đình Thập Tháp Bình Định trước kim quan. Các vị ấy chưa từng biết mặt Ni trưởng chúng tôi mà chỉ nghe cố Hòa thượng Thầy họ kể lại đức hạnh của Người. Lúc còn sinh tiền cố Hòa thượng trú trì Tổ đình Thập Tháp, mỗi khi tôi đến hầu thăm, ngài đều kể: “Ngày xưa, tôi đã nhờ Sư bà Diệu Không mà được đi học. Bà đóng tiền ăn học cho tôi”. Lời Ngài dạy khiến tôi cảm khái vô vàn; thực bậc chí nhân luc’nào cũng nhớ ơn thật lâu: Bát cơm Phiếu mẫu mấy vạn cho cân. Nay quý thầy đệ tử Ngài cũng vì nhớ ơn Thầy mình mà không quản ngại khó nhọc, từ xa bương chải đến đi điếu một người mình chưa từng gặp mặt, đấy quả thực là hổ phụ sinh hổ tử vậy.

Hàng ngàn người ở lại mà vẫn có đủ chỗ cho tất cả mọi người. Lại cũng có nhiều nhà và tịnh thất xung quanh chùa được trưng dụng để đón khách từ xa về ở lại, nên sự sắp xếp chỗ nghỉ ngơi và đón tiếp khách ni, Phật tử thậ chu đáo. Tuy đông, mà nhà bếp rất thanh tịnh vì do quý sư cô trông coi. Tất cả mọi người đều làm việc trong chánh niệm tưởng nhớ công đức bậc Thầy. Ai cũng bảo Sư bà thật có phước, người ra đi khi chùa vừa hoàn tất công việc trùng tu không lâu, nên mới có chỗ để cử hành đám tang trọng thể như vậy. Ngay cả củi, nước cũng đầy đủ trong những ngày tang lễ. Trước đấy trời hạn hán, giếng chùa khô cạn, phải ra múc nước ở giếng làng, thế mà khi Người nằm xuống, trời đổ giông tố bão bùng suốt mấy hôm làm cho các giếng trong chùa đều tràn đầy nước đủ dùng cho tất cả mọi người. Các đệ tử hầu cận cho biết nhiều năm trước, Thầy đã nói khi Thầy chết, sẽ có giông bão và nước sẽ tràn trề, thì nay quả đúng như vậy. Trời đất như cùng lo việc lễ tang Thầy. Càng về sau, nhất là vào ngày đưa đám và ngày tạ tháp, chúng tôi càng thấy rõ sự cảm ứng bất khả tư nghì này, mà kẻ không đích thân chứng kiến và thiếu lòng tin sẽ cho là thần thánh hóa.

Kim quan được quàn một lễ. Những ngày đầu trời mưa ra rả nhưng gần đến ngày nhập tháp, khi nước đã đủ dùng, khi có nhiều đoàn phúng điếu từ phương xa đến, thì trời lại tạnh ráo mát mẻ. Ban đem vì quá đông người không đủ mùng che nên tất cả đều nằm ngủ giữa nền xi măng láng bóng trong các phòng của chư ni cựu trú. Mỗi phòng bình thường chứa một hai người thì vào dịp này ban đêm chứa đến mười mấy người. Nhớ lại hai tuần lễ trước chúng tôi vừa về thăm Thầy, Thầy bảo ở lại. Thế mà vì khí trời quá nóng bức, chúng tôi đã phải ra về. Nào ngờ có lẽ Thầy linh cảm chúng tôi sẽ không gặp lại Thầy, nên mới bảo chúng tôi ở lại. Chúng tôi hình như cũng có linh cảm ấy, nên đã y áo chỉnh tề đảnh lễ Người trước khi ra đi, một điều mà tôi chưa từng làm trong những lần viếng thăm trước đấy. Bây giờ ban đem trời lạnh, nên đông người không sao cả, chứ như hai tuần trước thì một người cũng không ở lại nổi, khi mà nhiệt độ lên đến 38°C.

Vì có mang theo mùng cá nhân nên tôi không biết ngoài mùng nhiều muỗi hay ít muỗi, nhưng theo lời các chị trong phòng, thì những đêm trước ngày tiễn đưa kim quan nhập bảo tháp, tự nhiên muỗi lặn đâu mất cả, trong lúc mọi người đều phải ngủ không mùng vì đông quá.

Sáng mồng một tháng chín là lễ khiển điện di quan cử hành hết sức trọng thể với sự hiện diện di quan cử hành hết sức trọng thể với sự hiện diện đông đủ của chư tôn thiền đức Tăng Ni phật tử ở Thừa Thiên và từ khắp nơi đến, cùng đại diện các đoàn thể tôn giáo và chính quyền.

Hòa thượng Thiện Siêu làm lễ phất trần kim quan. Rất lâu, Ngài đứng nhìn chăm chăm không chớp mắt vào linh vị. Không gian lặng im phăng phắc, thời gian như ngừng đọng lại, lùi về dĩ vãng. Tôi như cùng tâm tư Ngài, đi ngược thời gian trở lùi về thuở mà bản thân mình còn chưa gá mẫu thai, đầu thập niên 1930, để tìm lại hình bóng một công nương quận chúa hoa nhường nguyệt thẹn, tuy mang thân liễu vì dời, vì tương lai của đạo pháp mà dám hi sinh cả tài sản, cả thân mạng, và ngay cả danh tiết của mình. Hiểu được thầy tôi, có lẽ chỉ có những bậc Thầy và thiện tri thức đồng hành của Người nhu uhai vị trụ trì tổ đình Trúc Lâm thuộc hai thế hệ - Cố Hòa thượng Giác Tiên và Cố Hòa thượng Mật Hiển - Cố Hòa thượng Già Lam và nhiều vị đã viên tịch. Nay hiện diện trong buo73i lễ chỉ còn duy nhất Hòa thượng Thiện Siêu và vài vị tôn ni như Sư bà Viên Minh, Sư bà Diệu Trí. Chư vị cao đức ấy đã cùng nhau trải qua những thăng trầm của lịch sử, làm tường cột chống đỡ ngôi nhà Phật pháp trải qua bao nhiêu cuộc tang thương, trong đó Thầy tôi – lúc còn để tóc trong 12 năm thọ sa di ni giới – có lúc phải đem bản thân mình ra làm kế mỹ nhân, có lúc suýt thành thánh tử đạo, tất cả chỉ vì Pháp không vì danh, dù là cái danh “tử đạo”. Vâng đúng hơn, Thầy tôi đã sống đạo cho đến hơi thở cuối cùng. Nhớ lúc sinh tiền Người, tôi là một đứa đệ tử ngang bướng, không ngại nói ra những gì mình nghĩ. Nếu có tâm địa hẹp hòi, chắc Thầy tôi sẽ giận tôi lắm, và tôi đã không có ngày hôm nay. Mỗi khi ngồi bên Thầy lúc vui chuyện, tôi thường bày tỏ những điều làm tôi ngạc nhiên thắc mắc. Tôi đã phát ngôn như sau: “Bạch Sư bà, con thấy Sư bà trụ trì (chỉ Sư bà Viên Minh trú trì chùa Hồng Ân) thọ giới một lần với Sư bà, dịch kinh hay hơn Sư bà, viết chữ cũng đẹp hơn Sư bà, văn hay chữ tốt là thế, mà sao đối với Sư bà, Sư bà trụ trì luôn luôn xem như bậc Thầy chứ không coi như bạn ?” Thầy chỉ phá lên cười khoái chí mà không giải thích. Tôi lại nhớ có lần cũng đã phát ngôn tương tự với bổn sư tôi là đức đại lão Hòa thượng cố đệ nhất Tăng thống GHPGVNTN lúc ấy còn sinh tiền quý vị Hòa thượng trú trì các tổ đình Thuyền tôn, Thây Thiên… những vị cao niên hơn Thầy bổn sư tôi, sống đến trên trăm tuổi, và được Phật tử Huế xem như Phật sống. Những lúc quý ngài đến chùa Tường Vân thăm Thầy bổn sư tôi – lúc ấy tôi hãy còn là một nhóc tì học Trung học, cách nay nữa thế kỷ - tôi thấy quý ngài này đối với bổn sư tôi rất mực cung kính, ngồi dưới thấp, còn thầy bổn sư tôi vẫn chiễm chệ ngồi cao trên pháp tòa của ngài, không đứng dậy chào mà chỉ cười hoan hỷ mời: “Mấy Thầy ngồi đó đi”. Thị giả xuống bếp bưng lên một khay trà nóng để lên “hộc tợ” rồi khom lưng cung kính vái chào. Các vị tôn khách mặc chiếc áo nâu bình dị, đeo mỗi người một tràng hạt to dài, ngồi thẳng lưng lấy chuỗi ra lần. Thầy bổn sư tôi chẳng bắt chuyện gì cả, các ngài khách cũng chẳng tỏ vẻ gì là bực mình sốt ruột, cứ ngồi đó mà nhấp trà và lần chuỗi. Trong bầu không khí trang nghiêm thanh tịnh của ngôi chùa núi, tôi chỉ nghe tiéng lần tràng “tróc, tróc, tróc” khoan thai đều đặn. Rồi đột nhiên, các vị khách đứng dậy chào về. Thầy bổn sư tôi mỉm cười thật tươi: “Khi nào rảnh, mấy thầy lại đến chơi, nghe”. Rồi bước xuống pháp tòa, cùng đi với khách một đoạn đường ra đếnhàng rào dâm bụt thì trở vào, lại lên pháp tòa ngồi làm thinh, lưng thật thẳng, nét mặt tự tại uy nghiêm. Tôi ngồi học bài ở nơi ngưỡng cửa nhưng không bỏ sót một chi tiết nào của cuộc viếng thăm kỳ quặc ấy. Thái độ của của vị chủ nhân cũng như những vị khách quý đã gây một ấn tượng sâu sắc trong tim tôi. Lựa lúc thầy bổn sư vui chuyên, tôi cũng nêu lên thắc mắc: “Bạch Ôn, sao quý Hòa thượng Tây Thiên, Thuyền Tôn, Từ Hiếu … cũng là trụ trì những Tổ đình lớn còn đẹp hơn chùa mình, con tưởng các ngài ấy còn lớn hơn Ôn nữa, sao mà họ cung kính nể nang Ôn đến thế ?” (hồi đó Thầy bổn sư tôi chưa được tấn phong chức Tăng Thống, chỉ là vị trú trì tổ đình, nên tôi nghĩ các ngài đều ngang nhau). Thầy bổn sư tôi chỉ nói: “Con làm sao hiểu được. Những người ngang hàng nhau mới hiểu nhau”. Chỉ có nhữngngười ngang cơ, cùng một ca líp (calibre), một tầng số, mới biết được giá trị của nhau và kính nể nhau, thật đúng như vậy. Cổ nhân có câu “vô tri bất mộ” có lẽ là thế. Thế cho nên, có là Bồ-đề, thì mới hiểu được Bồ-tát. Trong cuộc đời bon chen danh lợi, địa vị đầy ngã pháp hơn thua này, mấy ai hiểu được tấm lòng vô ngã của một Bồ-tát ?

Ngày tiễn đưa kim quan, trời tạnh ráo mà không quá nắng, có lẽ vì (?) tất cả chúng tôi những đệ tử phải đi chân không trên quãng đường hai cây số đầy gai và miểng chai và đá nhọn từ chùa lên đến đỉnh đồi, nơi mà Bảo tháp Thầy đã được các đệ tử xây từ mười năm trước. Cũng may không một ai bị dẫm phải gai, mặc dù đường rất xấu, càng iđ lên càng đầy những cây gai, dứa mọc hoang và đá nhọn lởm chởm. Từ bảo tháp trông xuống, cNảh trí hết sức thanh nhã u nhàn, làm cho ta thấy cái chết không có vẻ gì là u sầu ảm đạm, mà chết là một sự an nghỉ, trở về viớ cỏ cây mây nước:

 Từ đây ngàn kiếp rong chơi

 Người ôm trăng ngủ trên đồi mây bay

 (thơ điếu Thượng tọa Viên Ngộ Đà Lạt, 1995)

Sống thực là rộn ràng đau khổ và nhiều điều lắm chuyện, làm gì cũng thấy áy náy trong tâm, mà không làm gì cả thì cũng không được. Nhìn tấm ảnh Thầy nằm trong quan tài, tôi thấy Người đầy vẻ an lạc, như cố ni sư Thể Thanh cũng mỉm cười khi nằm trong quan tài. Những bậc chân nhân đều mỉm cười an lạc lúc thở ra hơi thở cuối.