KỶ YẾU
TANG LỄ NI TRƯỞNG THÍCH
NỮ DIỆU KHÔNG
--- o0o ---
PHẦN MỘT
TIỂU SỬ
Ni trưởng
THÍCH NỮ DIỆU KHÔNG
-
Ủy viên Hội đồng Trị sự
Giáo hội Phật giáo Việt Nam.
-
Ủy viên Thường trực Ban
Trị sự Tỉnh hội Phật giáo Thừa Thiên Huế.
-
Trú trì chùa Hồng Ân -
Huế.
I.
THÂN THẾ VÀ THIẾU THỜI
Ni trưởng thế danh
Hồ thị Hạnh, húy thượng Trừng hạ Hảo, hiệu là Nhất Điểm Thanh, sinh năm
1905, là con gái út của quan Đông Các Đại học sĩ Hồ Đắc Trung và Bà Châu
Thị Lương, người làng An Truyền, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế.
Xuất thân từ một
danh gia vọng tộc, gặp buổi giao thời giữa hai nền văn hóc cũ và mới, nên
từ tấm bé Sư đã được hấp thụ một nền giáo dục dung hòa cả hai truyền thống
Đông Tây. Thân phụ muốn cho du học ở Pháp, nhưng Sư không đi. Chí hướng
của Sư là khôi phục truyền thống Á Đông và nâng cao tinh thần phụ nữ. Bản
hoài cao rộng đó thật khó mà thực hiện nếu không thoát ly đời sống gia
đình nhỏ hẹp, bởi thế Sư đã nhiều lần xin cha mẹ xuất gia. Nhưng vào thập
niên 1920, ở Huế chưa có chùa Ni, chỉ có các bà lớn tuổi mới được vào chùa
Tăng làm dì vải nấu bếp. Sư lại là con gái út của một vị đại thần đương
thời, được nâng niu như cành vàng lá ngọc, cha mẹ không bao giờ cho phép.
Trước trở ngại lớn lao đó, Sư đành ở nhà cho trọn hiếu, chờ dịp thuận
tiện. Song thân mong Người yên bề gia thất, cứ khuyến khích tham dự các
tiệc tùng, dạ hội, nhưng Người một mực nuôi chí xuất trần. Thế rồi năm 23
tuổi (1928), vì cảm từ tâm của song thân, Người phát bi nguyện độ sinh,
bằng lòng kết duyên với cụ Cao Xuân Xang để nuôi đàn con dại bơ vơ vừa mất
mẹ. Thời gian không lâu ông qua đời. Từ đây duyên trần nhẹ gánh, Người
vừa nuôi đàn con côi, vừa làm Phật sự đắc lực.
II.
XUẤT GIA
Năm 1932 (27) tuổi,
Sư được Hòa thượng Giác Tiên trụ trì Tổ đình Trúc Lâm truyền thập giới làm
Sa di ni với pháp tự Diệu Không, nhưng vẫn đễ tóc để làm Phật sự. Lúc bấy
giờ, Sư thường xuyên giao dịch với người Pháp trong chính quyền Bảo họ với
tư cách đại diện hội An Nam Phật Học mà Sư là một sáng lập viên. Sau khi
thọ thấp giới 12 năm, vào mùa thu năm Giáp Thân (1944), Sư được thọ tam
đàn cụ túc tại đại giới đàn Thuyền Tôn do Hòa thượng Giác Nhiên đệ nhị
Tăng Thống Giáo hội Phật giáo Viện Nam Thống Nhất làm đàn đầu.
III.
CÔNG HẠNH
Sau khi thọ giới
Sa-di-ni, Sư bán tư trang và vay mượn thêm để xây cất Ni viện đầu tiên cho
nữ giới có chỗ tu học, đó là Ni viện Diệu Đức. Sư còn góp phần sáng lập
và trùng tu nhiều chùa Ni và tịnh viện khác tại Thừa Thiên Huế như Diệu
Viên, Khải Ân, Hồng Ân, Kiều Đàm, Định Huệ, Đông Thuyền, Hồng Đức, Liên
Trì, Liên Hoa; Bảo Thắng - Hội An, Bảo Quang – Đà Nẵng, Tịnh Nghiệm -
Quảng Ngãi, Ni viện Diệu Quang – Nha Trang. Tại miền Nam, Sư là người góp
công thành lập Ni trường đầu tiên ở Sa Đéc, Ni viện Từ Nghiêm, Dược Sư,
Diệu Giác, Diệu Tràng, Diệu Pháp tại Hố Nai, Long Thành. Su còn góp công
rất nhiều trong việc xây dựng viện Đại học Phật giáo đầu tiên của Việt Nam
là Đại Học Vạn Hạnh, cùng với Hòa thượng Trí Thủ, Hòa thượng Minh Châu,
Hòa thượng Nhất Hạnh và cư sĩ Ngô Trọng Anh … là những vị khai sáng đầu
tiên. Ngoài ra, cơ sở Kiều Đàm tại đường Công Lý (ngày nay là Nam Kỳ Khởi
Nghĩa) cũng do Sư cổ động xây cất. Ngoài các cơ sở văn hóa và Chùa, Sư
còn góp công đắc lực khai sáng cô nhi viện Tây Lộc Huế và các cô, ký nhi
viện trên khắp thành thị thôn quê miền Trung từ 1964 trở đi. Năm 1952, Sư
góp phần đắc lực trong việc sáng lập nhà in Liên Hoa để in kinh sách Phật
giáo và nguyệ sang Liên Hoa, do Hòa thượng Đôn Hậu làm Chủ nhiệm, Hòa
thượng Đức Tâm làm Chủ bút, Sư làm Quản lý và Biên tập viên, là tờ báo
Phật giáo sống lâu nhất tại miền Trung. Ngoài công tác hội trì chánh pháp
và làm từ thiện xã hội, Sư còn dịch thuật trước tác và cộng tác với nhiều
tạp chí Phật giáo như Viên Âm, Giác Ngộ, Từ Quang, Liên Hoa… Các bộ kinh
luận quan trọng do Sư dịch gồm có Thành duy thức luận, Du-già Sư địa
luận, Lăng-già Tâm ấn, Di-lặc hạ sinh kinh, Đại trí độ luận, Trung quán
luận lược giải (của Long Thụ Bồ Tát), Hiện thật luận (của Thái
Hư đại sư) v.v… Ngoài ra, Sư còn sáng tác rất nhiều tập thơ văn khuyến tu
và giáo dục phụ nữ, như câu chuyện đạo lý, v.v…
Mặc dù Phật sự đa
đoan, Sư luôn luôn học hỏi, tham cứu kinh sách Đại Tiểu thừa, và thường
nhập thất tham thiền tại chùa Khải Ân, núi Châu Ê. Tuy mang thân nữ, Sư
gần như không có thói nhi nữ thường tình mà Phật thường thống trách.
Nguyện của Sư là đời đời mang thân nữ để độ cho nữ giới và không cầu sinh
Tịnh độ: “Nguyện Phật chứng minh muôn vạn kiếp, con xin lăn lóc cõi Ta
Bà”. Có lẽ do hạnh nguyện ấy mà đến đâu Sư cũng được phụ nữ đoanh
vây, già trẻ lớn bé đều yêu mến. Và cũng có lẽ nhờ Sư am hiểu nhân tình,
tùy cơ giáo hóa, có biện tài vô ngại. Nhưng trên tất cả, chính nhờ tâm
hồn Sư bao dung quảng đại, bình đẳng đối với người thân cũng như sơ, xa
cũng như gần. Câu thơ Sư làm “lưới trời bao phủ một tình thương”
đủ nói lên chính xác tâm hồn Sư vậy.
Mặc dù là vị hộ trì
đắc lực cho chư Tăng tu học, mặc dù được đặc cách học chung với chư Tăng
trong các lớp giảng đầu tiên tại Huế, Sư không vì vậy mà xao lãng Bát kỉnh
pháp. Ngược lại, đối vớ ichư Tăng Sư luôn luôn kính nể, dù là một vị tỳ
kheo tân thọ giới hay chỉ một chú tiểu, Sư cũng đối xử lễ độ và hết lòng
nâng đỡ. Đối với Ni chúng, Sư là bạn của tất cả mọi người, ai gần Sư cũng
kính mến như bậc Thầy do bởi bản tánh bình dị, uy nghi khả kính. Tính
bình dị của Sư quả là một tấm gương cho Ni giới: xuất thân từ nơi phú quý,
mà khi vào chùa, Sư đã sống một cuộc đời hoàn toàn buông xả, đối với bốn
vật cần dùng là ẩm thực, y phục, sàng tòa và dược phẩm Sư không chú trọng,
có gì tốt đẹp đều đem cúng dường bố thí. Trước khi ngọa bệnh, nơi thường
trú của Sư tại chùa Hồng Ân chỉ là một gian nhà thấp u tối, nhưng Sư không
hề quan tâm sửa chữa, vì tâm hồn Sư luôn luôn để vào những chương trình
rộng lớn hộ trì Tam Bảo, phục vụ chúng sinh đương thời và mai hậu.
IV.
NHỮNG NGÀY CUỐI CÙNG
Năm 1978 sau một
cơn bệnh Sư đã tắt thở, được chư Tăng vây quanh tiếp dẫn. Nhưng khi thời
kinh hộ niệm chấm dứt, Sư cô Bảo Châu đau đớn khóc thét lên, Sư bèn giật
mình tỉnh dậy vì bi nguyện dộ sinh. Kể từ đấy, Sư thường dạy: “Khi đã
thấy cảnh tịnh độ rồi thì tôi xem cảnh đời này toàn là giả”. Có lẽ
nhờ thấy giả mà Sư kham nhẫn được mọi sự. Gần 5 năm già yếu ngọa bệnh, Sư
luôn luôn hoan hỷ với mọi người, đón nhận sự săn sóc chu đáo của tất cả
các đệ tử, sự chữa trị tận tình của các bác sỹ Tây y như thầy Hải Ấn, Bác
sĩ Lê Văn Bách, và quý vị bác sĩ, y tá Bệnh viện Trung ương Huế; Đông y
như Sư Tuệ Tâm và quý vị Y Bác sĩ tại Tuệ Tĩnh Đượng Diệu Đế v.v…
Mặc dù già bệnh,
tinh thần Sư luôn minh mẫn cho đến giây phút cuối, mỗi khi ai có việc quan
trọng đến thỉnh ý, Sư đều dạy những lời khuyên hết sức sáng suốt. Cách 2
tháng trước khi qua đời, Sư còn phát tâm cúng dường cơ sở Hồng Đức cho
Giáo hội để sử dụng trong việc đào tạo Tăng tài.
Như một trái cây
chín mùi, như đi cuộc hành trình đã đến đích, Sư an nhiên thâu thần thị
tịch vào lúc 2 giờ khuya ngày 22 tháng 8 năm Đinh Sửu tức 23 tháng 9 năm
1997, hưởng thọ 93 tuổi đời với 53 hạ lạp
V.
KẾT
Tóm lại, một đời
Sư: Ở trong phú quý mà không vướng vinh hoa, học nhiều mà không sở tri
chướng, làm thơ mà không là thi sĩ, viết lách mà không là văn nhân,
nghiên cứu mà không là học giả, giúp đời mà không là chuyên gia xã hội …
Thuyết pháp mà không là pháp sư; tọa thiền mà không là thiền sư, xây dựng
nhiều chùa mà không trụ trì một ngôi nào cả, giữ giới mà không câu nệ, độ
người mà không vướng mắc đệ tử. Ở cảnh động không mất thiền, cảnh tịnh
không bỏ rơi chúng sinh. Cuộc đời hành đạo của Sư thật đa dạng mà không
lưu dấu vết, vì cõi lòng Sư như hư không. Sự nghiệp vật chất Sư lưu lại
đã nhiều, nhưng cái đáng nói hơn, cái đáng nói nhất, cái thâu tóm cả cuộc
đời Sư - Tấm lòng vì pháp và thương tưởng hậu lai - thì lại càng
khó tả. Cho nên, dù có nói bao nhiêu về Sư, chúng con vẫn thấy thiếu và
có lỗi với Sư, bởi vì cái đáng nói nhất đã không có ngôn từ diễn đạt. Có
lẽ hai chữ tôn hiệu của Sư, (thượng) Diệu (hạ) Không đã biểu trưng quá đủ
cuộc đời Sư. Hay nếu dài lời hơn, thì chỉ một câu này: “Thật tế lý địa
bất thọ nhất trần, vạn sự môn trung bất xả nhất pháp”.
Trước giờ tạm biệt
bùi ngùi này, môn đồ hiếu quyến chúng con đầu thành đảnh lễ xin Sư đừng
quên đại nguyện, sớm hội nhập Ta-bà để hoằng dương Chánh pháp, cứu độ
chúng sinh.
NAM MÔ THUẬN TỊCH TỪ LÂM TẾ TÔNG
TỨ THẬP NHỊ THẾ TRÚC LÂM PHÁP PHÁI, HÚY
THƯỢNG TRỪNG HẠ HẢO HIỆU DIỆU KHÔNG ÂN SƯ
GIÁC LINH THÙY TỪ CHỨNG GIÁM.
--- o0o ---
[Mục
Lục ] [ Phần 1] [Phần 2]
[Phần 3 ]
--- o0o ---
Vi tính: Hương Lâm
Trình
bày: Nhị Tường - Nhân Văn
Cập nhật: 01-10-2004