Ni trưởng NHƯ HOA.
Khắp trời sen nở
^
Trụ thế năm mươi ba xuân
Ðộ đời hằng chuyển pháp luân mọi miền
Ðến đi tự tại an nhiên
Lìa thân như huyễn cõi thiền thong dong.
Thấm thoát đã hai mùa trăng tháng tám, những hàng cây chốn tổ Huệ Nghiêm
vẫn chưa thôi ủ dột, thương tiếc thầy vội vả ra đi, các giảng đường Phật
học như còn văng vẵng âm ba mưa pháp của thầy, bàn làm việc tại các văn
phòng giáo hội vẫn như thiếu vắng một bóng người không ai có thể hoàn toàn
thay thế được. Ngoài ra nữa, bao hạ trường cùng đạo tràng tu Thập Thiện và
Bát Quan trai... tất cả cũng cảm nhận không thể quên thầy - bậc đạo sư
thân thương, hiền hòa dung dị.
Vội vã mà thật an nhiên, thầy đã vĩnh viễn ra đi để lại bao nhớ tiếc cho
đời, hàng hậu học, thiếu một người thầy anh minh dìu dắt. Cả chúng xuất
gia lẫn tại gia còn đang chơi vơi giữa đôi bờ sanh tử, hướng về ân sư các
pháp lữ đều thốt lên nỗi niềm luyến tiếc khôn nguôi.
Ngẩn ngơ trước cảnh vô thường
Hiểu mà vẫn thấy đau thương ngút ngàn
Trong thâm tình linh sơn cốt nhục, ai trong chúng ta không kính thương
tưởng nhớ về thầy, bậc chân tu đạo hạnh cao dày, xứng ở ngôi chúng trung
tôn của đức Từ Phụ. Cả cuộc đời Thầy là tấm gương tận lòng phụng sự, vì
Phật Pháp trường tồn và tăng chúng an hòa, vì nhu cầu giải thoát giác ngộ
của kẻ hậu học, thầy đã lăn bánh xe chuyển pháp, với những tháng năm dài
không mõi mệt. Dưới mỗi bước chân thầy dạo đi hoằng hoá, từng cánh sen
hồng nở thắm, tô đẹp mọi miền. Theo mỗi lời thầy tuyên, Phật pháp sâu mầu,
hương giải thoát nhẹ nhàng lan tỏa, huân ướp niềm an lạc mọi nơi.
Ðể tỏ lòng kính quí và tiếc nhớ thầy - bậc ân sư khả kính, chúng ta hãy
gạt đi mọi sầu thương bi lụy thường tình, giữ trong lòng từng lời, từng ý
pháp thâm sâu, tôi luyện thành chất liệu an lạc trạm nhiên, hầu nối gót
thầy trên hành trình phổ độ. Hãy tỏa rộng tấm gương đạo hạnh của thầy đến
khắp nơi mọi chỗ, cho hoa sen đua nở ngập trời, chuyển Ta Bà thành cõi
Tịnh an vui, ấy cũng chính là bản hoài của mười phương chư Phật vậy.
Ni Trưởng Tịnh Thường
Pháp lữ không xa
^
Sự hiện hữu của thầy là một dấu ấn sâu đậm vượt thoát thời gian
trong lòng tăng ni phật tử. Thầy là một nhà mô phạm sống một đời gương
mẫu, giản dị tràn trề tình thương và rộng lượng nhân từ. Thầy đã thể hiện
tinh thần vị tha, trong sáng. Những lời giảng dạy của thầy đã đi sâu vào
tâm thức bao thế hệ học trò, tạo nên một ấn tượng không nhỏ trong đời sống
tu tập của họ.
Lần cuối cùng gặp thầy trong sự thinh lặng, trong khoảnh khắc của thời
gian bất động, trong sự xúc động thầm kín. Giây phút ấy, thầy đang thuyết
pháp bằng ngôn ngữ vô thanh, nhưng làm cho mọi người tỉnh ngộ, tiếp xúc
được với thầy qua hiện tướng vô thường, vô ngã, cái bất sanh bất diệt của
tự tánh Niết bàn muôn thuở.
Trở
về ký ức trong giao thoa mầu nhiệm, những gì tôi biết và hiểu về thầy, tất
cả giờ đây hiện hữu như nắng sớm mùa thu, như cánh hoa vàng của thiền sư
Mãn Giác. Tôi không cần phải tìm hình hài thầy nơi quá khứ, vì thầy vẫn
luôn đang hiện hữu tồn sinh thì tại sao tôi phải ngậm ngùi thương tiếc?
Nhớ nhung thương tiếc là ảo vọng của dòng đời trôi chảy, như dòng suối về
gặp đại dương, như bông hoa khoe sắc thắm. Con người sở dĩ đau khổ vì chưa
hiểu rõ được bản thể của cái sanh và cái diệt, giác ngộ được tự tánh vô
thường là Niết bàn, thì vượt thoát được phiền não khổ đau.
“Túy trúc huỳnh hoa phi ngoại cảnh
Bạch vân minh nguyệt lộ toàn chân”.
Trúc biếc hoa vàng đâu cảnh khác, trăng trong mây trắng đều là bản thể.
Thầy đã trở về với tự tánh bất sanh bất diệt, thầy đã đạt được hạnh phúc
tối thượng (tịch diệt vi lạc). Nhưng vì quá thương thầy, nên mọi người đã
bao lần nhắc đến chuyện tử sinh. Kỳ thật thầy đang hiện hữu trong lòng mọi
người từ vô thỉ đến vô chung.
Tưởng nhớ thầy, những người còn lại phải thực hiện con đường hoằng pháp,
thực hiện ước mơ và hoài bảo mà thầy để lại cho sự nghiệp hoằng pháp.
Trong khi viết những dòng hoài niệm này, tôi xin nghiêng mình kính cảm. từ
nơi cõi lòng sâu thẳm tôi như thấy thầy đang thong dong nơi cõi Niết bàn.
Pháp đệ : Thích Nguyên Thiện
Hoa xưa vẫn nở
^
Tôi làm sao có thể quên được bao kỷ niệm trong những ngày đầu
xuân. Năm nào cũng vậy, một số anh em trong ban Hoằng pháp Trung ương Giáo
hội thường tổ chức đi khánh tuế và chúc tết chư tôn đức. Ðến chùa Huệ
Nghiêm luôn thầyï đón tiếp nồng hậu. Ngoài những lời trao đổi thân mật,
tôiø còn nhớ một câu thật mộc mạc nhưng chứa đầy tình cảm: “Tôi thì ăn tết
đơn giản như thế, nhưng anh em đến tôi cũng có chút gì để mừng tuổi với
nhau”. Rồi thầy lì xì cho mọi người và cầu chúc: “ Chúc cho quí thầy luôn
an lạc và thành tựu mọi Phật sự”. Lời chúc bình thường cũng như mọi lời
chúc nhưng tấm lòng của người chúc thì thân ái thiết tha và nhiệt thành
khiến người được chúc cảm nhận được sự thân tình. Phong thái cởi mở, đĩnh
đạc và cung cách tiếp đón hòa nhã của thầy đã mang lại cho chúng tôi niềm
vui tươi tắn của ngày xuân. Vườn hoa kiểng chùa Huệ Nghiêm đẹp hơn trong
mắt mọi người cũng nhờ có thầy. Cứ mỗi lần đến chúc tết là mỗi lần thầy
đưa đi xem, nói chuyện, giải thích và chụp hình lưu niệm. Ở chùa đa đoan
công việc, ngày tết chúng tôi bận nhiều, ít có dịp đi ra ngoài như mọi
người, chỉ đến khi đi chúc tết thầy mới có điều kiện thả lòng chiêm ngưỡng
hương sắc mùa xuân của trời đất. Thầy đã khéo nhắc chúng tôi quay về với
thực tại hồn nhiên sau những giờ đa đoan phật sự. Tôi bỗng thấm thía hơn
lời kinh Mangala Sutta:
Khi xúc chạm việc đời
Tâm không động không sầu
Tự tại và vô nhiễm
Là phúc lành cao thượng.
Vườn hoa Huệ Nghiêm mỗi lần xuân đến vẫn vô tư khoe sắc an nhiên, thầy đã
đến và đi cũng an nhiên tự tại, nhưng chúng tôi – những người ở lại – vẫn
không thể nào nguôi lòng nhớ tiếc mỗi khi nhắc đến thầy.
TT.THÍCH TẤN ÐẠT
Những đợt sóng
^
Quyển Thành Thật Luận nằm trên kệ sách lúc nào cũng như
một ánh mắt cứ dõi theo tôi. Từ ngày TT. Chơn Thanh viên tịch, tôi được
BGH trường phân công dạy thay môn này. Tôi cảm thấy một áp lực nặng nề đè
nặng. Mỗi lần cầm đến quyển kinh, tôi thấy lòng nặng trĩu, không biết rồi
mình có làm tốt được công việc còn lại này của thầy hay không?. Ðối với
tăng ni sinh, thầy như một vòm trời bao la tin cậy, sẻ chia và che chở.
Thầy để lại cho họ nhiều ấn tượng quá, thầy choáng ngợp lòng họ, bao phủ
họ bằng những tình cảm vô bờ. Hơn nữa, giờ đây, lòng tiếc thương của họ
dành cho thầy vẫn chưa phai...tất cả đều như mới hôm qua...
Ngày trước, tôi bước lên bục giảng bằng tất cả thành quả của những năm
miệt mài đèn sách, tinh tấn tu học; tôi giảng bài cũng bằng tất cả sự thao
thức, lòng nhiệt huyết của tuổi trẻ mình. Nhưng qua nhiều năm truyền đạt,
tôi chợt giật mình, nhìn lại học trò, họ không như mình tưởng, sự thu thập
giáo lý của họ có khác với những suy nghĩ của mình. Từ đó, tôi thường
quan tâm nghiên cứu cách giảng của các vị giảng sư khác, hầu có thêm kinh
nghiệm cho sự nghiệp giảng dạy của mình.
Thượng tọa là vị thầy tôi thọ giáo đầu tiên khi bước lên bục giảng. Thầy
đã ân cần chỉ bảo nhiều điều hay cho tôi: “...Dạy Phật học không phải như
thế học, một vị thầy Phật học không cần chờ đợi kết quả của học trò sau 10
năm, 20 năm mà phải thấy kết quả ấy trong từng ngày, từng tháng, từng năm.
Vì vậy người thầy phải hoàn thiện mình trong từng giây, từng phút nơi lời
nói, hành động và suy nghĩ, nơi thân giáo, khẩu giáo và ý giáo. Có điều
tôi muốn nhắc nhở quí thầy, người tu mình cần nhất là ở thân giáo và ý
giáo; như vậy sự trao nhận giữa thầy và trò mới sâu sắc, hiệu quả”.
Tôi
lắng nghe một cách chân thành, cảm thấy thầy thật gần gũi. Từ lần ấy, tôi
hay tư vấn thầy trong việc giảng dạy, hoặc điện thoại, hoặc gặp trực tiếp.
Lần nào, tôi cũng cảm thấy mình như được sáng ra, tháo được những gút mắc
trong đời sống nội tâm. Bên thầy, tôi cảm nhận sự bình an, nương tựa. Năng
lực toát ra từ thầy khiến tôi nhẹ nhàng hơn giữa cuộc đời đầy sự phức tạp,
rối rắm.
Tôi
lật từng trang giáo án Thành Thật Luận, chợt nghiệm ra rằng mỗi
cuộc đời là những trang mầu nhiệm. Cuộc đời thầy cũng tợ như một quyển
kinh, rất nhiều điều hay mà chư tăng ni và phật tử đã đọc được và đang áp
dụng vào cuộc sống tu tập hằng ngày của họ.
Môn
Thành Thật Luận tôi đã vinh dự thay thầy truyền đạt cho các tăng
ni sinh, tạm xem như đã hoàn tất. Tôi thở phào nhẹ nhõm. Cám ơn thầy đã
gia bị cho tôi và những tăng ni sinh hoàn thành việc dạy việc học..
Tôi
thấy mình là lớp sóng sau thầy. Những lớp sóng dập dồn nối đuôi nhau.
Thầy như lớp sóng trước, tôi là lớp sóng sau, và những tăng ni sinh mà
thầy và tôi dốc lòng truyền trao giáo pháp là những lớp sóng sau nữa.
Những đợt sóng cứ như thế nối tiếp nhau trên mặt biển. Tất cả rồi cũng có
ngày về đến bến bờ giải thoát an vui.
Thích Hoằng Dự
Pháp thân bất diệt
^
Vẫn biết tử sanh là cửa ngỏ ra vào, là trò chơi cút bắt, là
định luật tất nhiên, không một ai trốn tránh được, nhưng sao lòng chúng
con vẫn quá ngậm ngùi..
Chúng con hạnh phúc biết bao vì đã có những ngày được tiếp thu lời pháp
nhũ ân cần của Thầy. Bây giờ thì đâu còn nữa, thầy đã ra đi, chúng con
biết rằng sự đến đi của thầy là tự tại vì nguyện lực độ sanh mà thầy hiện
hữu cỏi Ta Bà, mãn duyên Thầy trở về bảo sở. Nhưng chúng con còn là phàm
phu tu tập làm sao chúng con không đau thương kính tiếc bậc thầy đã ban
cho hàng tứ chúng tấm lòng từ bi – hỹ xã, trí tuệ soi đường để cho chúng
con khỏi bị sai lầm lạc lối trên con đường tu tập.
Lời
nào mà nói cho cùng! Bút mực nào mà diễn tả cho tận nỗi niềm đau thương và
tấm lòng tri ân của chúng con đối với thầy. Chúng con nghĩ rằng tuy thầy
không còn nữa, nhưng pháp thân thầy vẫn bất diệt với thời gian và hình ảnh
thân thương của thầy vẫn còn mãi ttrong tâm niệm của đại chúng trong các
đạo tràng tu tập chánh pháp Thế Tôn.
Xác thân huyễn giả tiêu tan
Pháp thân vẫn ở thế gian muôn đời
TN. HẠNH NGỌC
Ân sư
^
Ngày tôi còn nhỏ ở chùa Minh Ðức tại xã Suối Hiệp, Nha Trang,
Ni sư có nói sau này lớn lên sẽ gửi cho thầy Chơn Thanh, thế là tôi bắt
đầu khởi lên ý niệm có thầy từ thuở ấy. Tôi ao ước cái ngày đó lắm và đã
nhiều lần nhắc, xin với Ni sư: “Thầy cho con vào trong nam để theo thầy
Chơn Thanh tu học”.
Mùa
thu 1983 tôi theo Ni sư vào Sài Gòn để đảnh lễ Thầy. Lần đầu tiên gặp thầy
nhưng tôi có cảm giác như đã từng gặp thầy ở đâu đó rồi. Thầy đẹp lắm,
tướng mạo uy nghi đĩnh đạc, khả kính; giọng nói từ hòa trầm ấm. Thầy mặc
bộ đồ vạt khách màu lam, đeo kiếng trắng, ngồi nơi bàn viết với xấp tài
liệu Kinh Thập Thiện mà thầy biên soạn để dạy các trường Cơ Bản.
Thầy bảo muốn vào học các Phật Học viện thì ít nhất cũng phải học hết
những bộ Hán văn như Tam Thiên Tự, Thiền Lâm Bảo Huấn.v..v...
Tôi đem quyển sách Tam Thiên Tự về Long Thành và học theo lời chỉ
dẫn của thầy.
Lời
thầy sách tấn vẫn còn hiển hiện trong tôi như kim chỉ nam định hướng trong
cuộc đời tu hành của mình. Thầy thường dạy: “Chỉ sợ mình không đầy đủ tài
đức và tu hành giới luật, chứ đừng nghĩ mình không làm được gì để phục vụ
chúng sanh”. Thầy hoạt động Phật sự hết lòng, từ công việc Giáo hội, đến
công việc giảng dạy các lớp giáo lý cho tăng ni và phật tử, công việc nào
thầy cũng tận tâm.
Công việc bận rộn nên mỗi năm tôi chỉ hai lần vào đảnh lễ thầy vào dịp sau
khóa An Cư và tết Nguyên Ðán. Mỗi lần gặp thầy tôi luôn có cảm giác là
mình có lỗi bởi sự lơ là, “bất hiếu” của mình đối với ân sư. Vậy mà thầy
thì bao giờ cũng bao dung, độ lượng. Thầy luôn từ tốn ôn hòa khuyên bảo,
nhắc nhở tôi những điều cần thiết trong đời sống tu tập. Những lời dạy bảo
rất nhẹ nhàng, bình dị, nhưng đến khi gặp chướng duyên, vấp ngã trong đời,
thì những lời ấy lại như bàn tay từ phụ, có mặt kịp thời nâng tôi đứng
lên.
Những ngày đi học xa, mỗi lần về nước, đến thăm thầy, tôi có cảm giác như
mình vừa mới gặp thầy hôm qua đây thôi. Thầy bao giờ cũng vậy, vẫn ánh mắt
và giọng nói từ hòa không bao giờ thay đổi.
Vẫn
biết rằng vô thường lão bệnh là quy luật tất yếu kiếp nhân sinh, nhưng một
phàm tăng như tôi thì làm sao tránh khỏi những bi lụy nhân thế. Tôi thấy
quá tủi thân và cảm giác mình luôn có lỗi với thầy. Ngày xưa Ngài A Nan
dẫu sùi sụt khóc tiễn đưa nhục thân của Ðấng Từ Phụ vào cõi Vô dư Niết Bàn
nhưng Ngài còn có niềm an ủi là đã bao năm được theo hầu bên đức Phật.
Ngày nay tôi vô phước, chưa được chăm sóc thầy bao nhiêu, những giây phút
cuối đời của thầy tôi lại không có mặt! Là người đệ tử đầu tiên mà thầy
nhận chăm lo sách tấn, thầy đã dành cho tôi biết bao lời dạy bảo ân cần,
đặt ở tôi nhiều mong ước mà tôi chưa kịp làm gì đề đền đáp công ơn, chưa
kịp chứng tỏ điều gì để thầy có chút an tâm về một người đệ tử ... Vậy mà
thầy đã ra đi.
Ngôn ngữ trần gian cũng có sự giới hạn của nó nên không thể diễn tả hết
được những điều muốn nói. Chỉ biết rằng từ nay trên con đường gian lao
trước mặt, hình ảnh, những lời dạy bảo của thầy sẽ luôn có mặt bên tôi,
nâng dắt, chỉ lối và động viên, truyền sức mạnh cho tôi noi tấm gương thầy
tu học và hoằng hóa.
Thích Quảng Long
Tình huynh đệ
^
Tết nào cũng vậy, nhóm tăng ni sinh trường trung cấp Phật học
khóa III chúng tôi đi đãnh lễ chư vị tôn túc trong ban giám hiệu và ban
giảng sư.
Như
thường lệ, tết năm Nhâm Ngọ, đúng với câu: “mồng một tết cha, mồng ba tết
thầy”, chúng tôi hẹn nhau cùng đến tổ đình Huệ Nghiêm. Ngọn gió mang đầy
hương vị tết ùa vào liêu phòng. Chúng tôi quì bên bàn Phật để nghe lời
giáo huấn đầu năm mới của thầy, nhẹ nhàng mà sâu sắc.
Tết
năm Quí Mùi, chúng tôi lại về nhưng chỉ để thắp hương dâng lời tưởng niệm.
Chỉ còn nụ cười trong di ảnh của thầy vẫn ngọt ngào bao dung đón chúng
tôi. Thầy mất, chúng tôi không đi mồng ba, mà lại về mồng bốn để thể hiện,
kỷ niệm về một sự thay đổi... Ngày trước, con đường tương lai của chúng
tôi luôn có đôi bàn tay thầy dìu dắt. Bây giờ thầy không còn nữa, chúng
tôi đành gói ghém những lời giảng quí báu ngày xưa làm hành trang cho cuộc
đời mình.
Thượng toạ Thiện Pháp kể cho chúng tôi nghe về những kỷ niệm khó quên thời
còn là học tăng dưới ngôi trường Cao đẳng Phật học Huệ Nghiêm:
-
Thấy mấy đứa bây giờ, thầy nhớ lại hồi đó, gần đến ngày thi, cả nhóm (thầy
Chơn Thanh, thầy Thiện Pháp, thầy Minh Thông) xuống chùa Long Khánh huyện
Bình Chánh để ôn bài thi. Mọi người hứa với nhau hễ ai không thuộc sẽ bị
phạt, rồi phân công người công phu, người nấu cơm, người rửa chén. Sau
này, làm việc trong giáo hội, thầy chở ổng (thầy Chơn Thanh) trên chiếc xe
cánh én. Sáng chở đi, chiều chở về. Lúc thầy về chùa Phước Thành, trưa
cũng chở ổng về, thầy ngủ giừơng, ổng ngủ võng. Vậy mà bốn mươi năm đã
trôi qua, mãi đùm bọc thương yêu, quí trọng nhau, chưa bao giờ giận hờn,
nặng lời cho đến ngày ổng về Phật...
Thượng toạ kể xong, cười giòn tan, hình như TT. tâm đắc lắm về cái thời
ấy. TT. đưa cho chúng tôi tấm hình, sau lưng có ghi dòng chữ nghịch ngợm:
“hai nhà lãnh tụ”, trong ảnh: một người cao lớn ốm nhom, một người bề thế,
tròn trịa. Trông dáng vẽ bên ngoài thật so le, nhưng trên hai gương mặt
đều cùng toát lên vẻ nhiệt thành đáng kính. Nhóm tăng ni trẻ chúng tôi
thường gọi vui một cách kính trọng, thân mật: thầy Chơn Thanh là Ba và
thầy Thiện Pháp là Má, bởi cả hai người – dù mỗi người một cách, nhưng
đều lo lắng và thương yêu chúng tôi như con. Thầy Chơn Thanh với vẻ uy
nghiêm, nhân từ, thân thiết như một người cha; thầy Thiện Pháp với tính
xởi lởi gần gũi như một người mẹ. “Má” thường ngày vô tư, tuệch toạc là
vậy, nhưng khi nhắc đến “Ba” bỗng trầm ngâm, giọng đầy xúc động:
-
Kìa, trên chiếc xe đó, mùng bốn tết, họp đầu năm tại thành hội xong, thầy
chở ổng thẳng về chùa Huệ Nghiêm, chơi cả ngày. Mùng bốn tết năm nay,
chiếc xe nhẹ tênh, buồn bã, thầy về lại Huệ Nghiêm, ngồi trên xe một mình,
cứ nghe trống vắng phía sau! Ờ, mà không chỉ phía sau, khi bước xuống xe
vào Huệ Nghiêm là thấy trống vắng tứ phía! Ði qua phòng ổng là thấy... Mà
thôi, mấy đứa uống nước đi - TT. lại cười, giả lả lãng sang chuyện khác
như muốn tránh nỗi xúc động đang tràn ngập trong lòng.
Vào
đảnh lễ TT. Minh Thông, vừa dặt chân đến cửa phòng, chúng tôi đã nhìn thấy
di ảnh của thầy được đặt ngay bên cạnh chiếc đơn của TT. như một người
thân thiết nhất. TT. Minh Thông là người trầm lắng, sâu sắc. Ngày thầy còn
sống, hai người như tay mặt tay trái. Mỗi sáng dậy sớm cùng tập thể dục đi
bộ quanh chùa. Bây giờ còn lại một mình, buổi sáng là lúc TT. nhớ đến
thầy nhiều nhất! Căn phòng nhỏ ở Văn phòng II TUGH mà hai thầy được dành
riêng để nghỉ trưa hằng ngày khi lên lớp, kể từ khi thầy mất đi, TT. không
bao giờ bước chân vào đó nữa! Không kể gì nhiều với chúng tôi, bởi TT. là
người tính tình lặng lẽ, kín đáo, nụ cười điềm đạm vẫn nở nhẹ nhàng trên
môi khi trò chuyện với chúng tôi, nhưng trong sâu thẳm ánh mắt TT. tôi
thấy rất rõ những giọt sương ẩn chứa... Những giọt sương ấy sẽ lặng lẽ rơi
vào những đêm thâu, khi chỉ còn có một mình TT. bên tách trà khuya. TT.
vẫn rót cho thầy một tách và vẫn pha thêm nước sôi vào cho tách trà nhạt
bớt đúng theo thói quen của thầy khi còn sống. Trong căn phòng trước đây
hai người đã từng ngồi, giờ một mình TT. lặng yên với hai tách trà! Uống
hết tách của mình, châm thêm vào tách của bạn... tách trà ấy cứ đầy, cứ
đầy... như nỗi lòng nhớ tiếc xót xa của người ở lại! Nghĩ đến cảnh đó,
tôi không sao kềm được nước mắt!
Cổ
nhân từng nói: “Trên đường có bạn đồng hành, niềm vui được nhân đôi và nỗi
buồn vơi đi một nửa”. Tình huynh đệ cao cả thiêng liêng của quí thầy là
bài học thân giáo vô cùng sâu sắc mà quí thầy dành cho chúng tôi.
Chư
Phật giáng sinh đã cứu khổ ban vui cho thế giới, con người từ đó có
bậc đạo sư chỉ ra con đường tìm về chân lý giải thoát. Quí thầy không
những đã dạy cho chúng tôi hiểu được Giáo Pháp cao minh mà còn là
những tấm gương sống về mối quan hệ Tăng Già hòa hợp. Mong rằng với
kho tàng vô giá ấy, Tứ Chúng đồng tu sẽ mang lại hạnh phúc, giải
thoát cho tất cả muôn loài.
TN. Thánh Tâm
Còn mãi bóng hình^
Cũng như mọi ngày, mỗi khi chiều xuống, tôi lại một mình dạo
bước giữa vườn hoa trong khuôn viên chùa, nhìn ngắm những đóa hoa trong
ánh hoàng hôn và cảm thấy lòng mình nao nao kỳ lạ...
Những đóa hoa màu trắng, màu vàng, màu tím... thiết tha, lặng thầm dâng
hết sắc hương làm đẹp cho đời, lúc nào cũng hồn nhiên nở hết mình, vắt hết
sức dâng đời mà không cần biết có ai người đang cảm nhận hay không. Thật
là cao quý biết bao! Lời của một bài nhạc tôi nghe tự lúc nào, giờ bỗng
trỗi dậy bên tai: “...Thầy là bóng cây che mát chúng con, thầy là ánh sáng
dắt dìu lòng son, thầy là con thuyền thanh lương đưa chúng con đến bờ thơm
hương...” làm tôi da diết nhớ về thầy...
Cũng như những bông hoa sân chùa này. Thầy đã một đời hy sinh cho sứ mệnh
hoằng pháp, nhất là cho thế hệ tăng ni trẻ chúng con.
Con
nhớ thầy mỗi khi lên bục giảng, lời pháp đầu tiên là nụ cười thật nồng ấm,
đã tạo cho chúng con một nghị lực để vươn lên trong cuộc sống. Những pháp
âm chân thật đầy tình thương vẫn còn văng vẵng đâu đây, nào là kinh Di
Giáo, kinh Di Ðà, kinh Tứ Thập Nhị Chương... những bài
kinh dẫu ngắn gọn nhưng thầy đã khéo léo triển khai đưa vào cuộc sống thực
tiễn cho chúng con làm kim chỉ nam tu tập. Những lời vàng ngọc ấy đến hôm
nay con mới thấy quý giá làm sao!
Thầy ơi! hơn bao giờ hết, lúc này con rất muốn được thầy gõ nhẹ trên đầu,
gõ nhẹ vào trí não cho con bừng tỉnh cơn mê. Mỗi khi thầy rảo bước xuống
lớp, thấy thầy gần đến con đã chuẩn bị tinh thần để nói lên những câu tinh
nghịch đại khái như: “Sư phụ hôm nay mặc áo đẹp quá”, vậy là bị gõ lên đầu
một cái; “Sư phụ mang dép mới kìa”... cứ như thế, mỗi lần nói lại được
thầy xoa đảnh thọ ký. Những cử chỉ thân thiện ấy khiến cho con cảm thấy
tình cảm thầy trò thật thiêng liêng mà gần gũi biết bao!
Nhớ
những lần chúng con đến thăm thầy, không lúc nào thầy quên dặn dò chúng
con phải cố gắng tu học cho xứng đáng là vị tu sĩ. Nhất là tăng ni trẻ,
trước những phiền toái, phải có sự nổ lực tự thân, đừng để những chuyện
không hay xảy ra sẽ ảnh hưởng đến đời sống tu tập của mình.
Còn
và còn rất nhiều những lời dạy, những kỹ niệm giữa thầy trò thật cao đẹp,
chúng con không sao kể hết được. Trong lòng chúng con từng ngày từng giờ
vẫn thì thầm nhắc đền thầy, đến một con người mang tâm nguyện hoằng pháp
lợi tha thật sâu nặng. Cuộc đời của thầy sống là để cho thế hệ tăng ni,
phật tử chúng con mà không một lời than trách. Thầy luôn hướng cho chúng
con một tương lai tươi sáng vì đạo pháp và dân tộc. Thầy luôn dõi theo
bước chúng con. Mỗi khi vấp ngã đều có thầy nâng bước cho chúng con đứng
dậy. Cuộc đời thầy sống là thế đó, chúng con chưa kịp đền trả thâm ân, vậy
mà thầy vội bước ra đi. Thầy có hay ở nơi này đôi cánh chúng con vẫn còn
yếu mềm lắm, chưa thể tự nâng được thân mình.
Thế
là hết, còn đâu nữa hình bóng người thầy khả kính! Thầy có biết mỗi lần
ban hoằng pháp tổ chức lễ, chúng con đứng làm hàng rào đón rước chư tôn
đức, con lại lặng nhìn từng hình bóng chư tôn đi qua, rồi con lại hụt hẩng
khi đã hết người qua mà lại thiếu bóng hình thầy. Nghe những lời giới
thiệu, dẫn chương trình vang lên con lại ngỡ là thầy...
Hôm
nay những hình ảnh, pháp âm của thầy tuy không còn hiện hữu trên thế gian
này nhưng con vẫn tin rằng pháp thân thầy vẫn tỏa rạng muôn nơi, vẫn còn
dõi theo bước chúng con đi.
Hướng vọng về thầy, chúng con chỉ biết tự xem mình là những kiến trúc sư
tự xây dựng đời mình, giữ gìn giới luật, giữ gìn tam nghiệp, sống đời phạm
hạnh, thao thức việc tu học trong từng sát na. Ngưỡng mong giác linh thầy
được mĩm cười nơi miền lạc cảnh.
Lạy
Thầy! Cho chúng con lần cuối gọi lên hai tiếng “ Sư Phụ” và xin hướng vọng
về thầy bằng tất cả tấm lòng thành kính trọng ân. Dẫu không gian có đổi
đời, thời gian như gió thoảng nhưng bóng hình thầy trong chúng con vẫn mãi
đượm hương.
Chúc Hiếu
Lời thầy không quên
^
Nhớ lại ngày đầu đi học có biết bao điều mới lạ. Một dấu ấn sâu
đậm nhất trong đời, con không bao giờ quên được, đó là lần đầu con gặp
Thầy. Buổi trưa hôm ấy, dưới ánh nắng chói chang, con đạp xe chen chúc
trong dòng người đông đúc của đất Sài thành, trên những con đường chưa
quen thuộc. Con đã đến cổng trường Phật học Vĩnh Nghiêm, áo ướt đẫm mồ hôi
và mệt nhoài trong không khí ngột ngạt giữa khí trời nóng bức, chợt con
gặp được ánh mắt dịu hòa, trìu mến nhìn con của một vị thầy dáng người
cao cao thanh thoát, khả kính. Con khẻ cúi chào, Thầy với nụ cười hoan hỉ
nở tự bao giờ, khẻ bảo: “ Ði học trưa nắng mệt quá con hả? Vô lớp nghỉ
chút cho khoẻ rồi học, ráng cố gắng học đi nha.” Rồi Thầy khoan thai đi
vào văn phòng, con cũng vào lớp với câu hỏi trong đầu thầy là ai? Con chưa
từng gặp thầy, sao thầy đã dỗ con với sự thương yêu triều mến như mẹ
hiền? Thầy có dạy con học không? Ước gì con sẽ được thầy dạy bảo. Với câu
nói thương yêu thân thiện ấy, thầy đã làm tan biến cái mệt nhọc giữa trưa
của con lúc nào con không hay, mà còn nghe mát dịu cả lòng.
Ðang ngồi suy nghĩ bâng quơ và cố nhìn ra ngoài, cố tìm lại hình ảnh khả
kính ấy. Ba hồi chuông vào lớp, đang thấp thỏm xem thầy có vào lớp dạy con
không. Cầu được ước thấy, con sung sướng muốn reo lên khi nhìn thấy thầy
cùng thầy chánh văn phòng bước vào lớp, thầy chánh văn phòng đã giới thiệu
với lớp đây là Thượng toạ Thích Chơn Thanh - trưởng Ban Hoằng Pháp Thành
Hội - sẽ đảm nhiệm dạy lớp suốt trong bốn năm...
Ðúng là tên hợp với người, nhìn thầy thật thanh thoát khoan dung, giản dị
thân thương và tràn đầy đạo vị. Bài học đầu tiên, Mười điều thiện
thầy đã dạy con luôn ghi nhớ. Suốt buổi học, con chăm chú lắng nghe và
thỉnh thoảng len lén nhìn thầy với lòng đầy cảm kích. Với giọng trầm bổng
thiết tha, nhiệt thành thân ái, những bài Pháp thầy giảng nghe thật dễ
hiểu và sáng rỡ. Sau mỗi giờ học, thầy luôn dỗ dành sách tấn truyền trao
những kinh nghiệm cho chúng con. Mỗi tuần thầy đến lớp một lần, bao giờ
cũng từ tốn, nhã nhặn, khoan dung, nhẹ nhàng mà sâu sắc. Con nhớ có lần đã
vào giờ học mà lớp chưa ổn định, chia thành năm, bảy nhóm bàn tán nói
chuyện rối cả lên như cảnh hát xã giàn. Vậy mà thầy vẫn kiên nhẫn, hiền
từ, bao dung ngồi đó lặng yên chẳng nói chẳng rằng, mặc cho đàn con tha hồ
rúi rít. Sau một lúc, Thầy mới điềm đạm, nhẹ nhàng hỏi: “ Các chị hai của
tôi đã nói xong chưa, nếu nói xong rồi thì để cho thầy nói.” Thế là cả
lớp im phăng phắc. Ai cũng xúc động hối hận thấy lỗi của mình. Rồi thầy an
nhiên, từ bi, bắt đầu bài giảng mới. Con vô cùng cảm kính và thấy lòng
tràn ngập sự kính ngưỡng. Lời thầy sao nhẹ nhàng quá! Lòng thầy mênh mông,
bao dung quá! Con thầm tâm niệm hướng về thầy sám hối thay cho lớp, có lẽ
tâm truyền tâm, dường như thầy thấu hiểu, ánh mắt hiền hòa thầy nhìn
xuống con cùng với nụ cười thân thuộc, nhân hậu. Con nghe lòng ấm áp lạ
kỳ. Buổi học hôm ấy trôi qua thật mau, chẳng ai muốn kết thúc, chỉ muốn
được nghe, được nhìn, được thầy dạy mãi...
Thầy - với thân giáo, khẩu giáo, ý giáo, cùng với ánh mắt nghiêm từ và nụ
cười khoan dung - đã như một ngọn đèn soi sáng chúng con, giúp cho bước
chân chúng con vững vàng hơn trên con đường tu học.
Con
cứ tưởng những tháng ngày được thầy dạy dỗ còn được dài lâu, ngờ đâu con
bạc phước vụng tu để trang giáo án thầy ngưng lại giữa chừng không lật
nữa! Thầy ơi!
Thời gian được học nơi thầy không lâu lắm, nhưng cũng đủ để con học được
bao điều đáng học. Tất cả những gì thầy đã dạy vẫn vang vọng hiển hiện
trong con. Con đã khắc cốt ghi tâm cố gắng thực hành những gì thầy dạy, để
con vẫn thấy thầy ung dung tự tại, đại Phật tuyên dương chánh pháp.
“Cố
gắng học” – Lời dạy của thầy trong phút gặp gỡ đầu tiên, con sẽ luôn ghi
nhớ. Không chỉ trong những năm ngồi ghế trường Phật học, mà mãi mãi sau
này trong suốt cuộc đời tu.
Huệ Nghiêm
Tấm gương tinh tấn ^
Bốn năm trôi qua dưới mái trường Phật học Vĩnh Nghiêm, chúng
con được núp dưới bóng từ bi của thầy che chở. Thầy đã cho chúng con
những dòng sữa Pháp, cơm Thiền.
Chúng con được hiểu thêm những ẩn dụ của Phật từ những bộ kinh mà thầy đã
giảng dạy như là: Hai thời công phu ( Lăng Nghiêm; Di Ðà). Di
Giáo, Thập Thiện, Giáo Nghĩa 10 Tông ... qua những phương cách tu tập
thiết thực nhất mà thầy đã rút ra từ kinh nghiệm bản thân và nhiệt tâm
truyền dạy để chúng con nghiên cứu, học hỏi, áp dụng vào sự tu học hằng
ngày. Ân ấy, đức ấy của thầy rộng lớn vô biên, tấm lòng từ bi, bao dung,
hòa ái của thầy đã như những hạt mưa ngọt ngào mỗi ngày tưới mát, thấm
sâu, vun bón cho tâm hồn chúng con để cây xanh đạo pháp ngày một đâm chồi
cắm rễ xanh tươi vững chắc.
Thầy dạy kinh điển thật nhiều, nhưng thầy vẫn khuyên nhủ chúng con về pháp
môn niệm Lục Tự Di Ðà rằng:
Nhất cú Di Ðà vô biệt niệm
Bất lao đàn chỉ đáo Tây phương.
Bây
giờ, thầy đã đi về miền Tây phương lạc cảnh, bỏ lại đàn hậu học chúng con,
trong bộ Thành Thật Luận còn dang dở.
Nhớ
lại chiều ngày thứ bảy 20-7-2002. Ðó là ngày thầy đã dạy chúng con lần
cuối trong cuộc đời hoằng pháp lợi sinh của thầy, phẩm Thập Lục về
mười trí lực đầy đủ của Phật. Thầy hay nhắc chúng con: ráng học nha, thầy
sẽ ra đề thi phẩm này... Chúng con lắng lòng thật thanh tịnh để tỏ ngộ
những lời pháp ấy. Giờ đây, phẩm Thập Lục đã kết thúc thật rồi!
Thầy đã trở về bổn quốc, nhưng những pháp âm của thầy vẫn còn vang vọng,
từng ngày, từng giờ khuyên nhủ, sách tấn chúng con trên bước đường tìm về
bến giác:
Vô minh là áng mây mù
Khiêu đèn trí huệ phải nhờ sách kinh
Thầy hay dạy cho chúng con phải thường xem kinh điển vì kinh điển là người
thầy cửu trụ lâu dài nhất trong suốt cuộc đời tu tập của mỗi chúng con.
Giờ
đây, thầy đã đi xa, bảng đen còn đó, phấn trắng còn đây, muốn thấy bút
tích của thầy, muốn nghe pháp âm đều đã trở thành hoài niệm. Chúng con vẫn
biết rằng sự đến hay đi của thầy đều là sự thong dong tự tại, nhưng trong
lòng mỗi chúng con vẫn tràn ngập một niềm tiếc thương vô hạn.
Noi
gương Người, chúng con xin cố gắng hết sức nổ lực thực tu thực học, giống
như tấm gương của thầy: dù bận trăm công ngàn việc, nhưng hầu như không
bao giờ thầy bỏ tiết dạy chúng con.
Bây
giờ, mỗi khi mệt mỏi, có việc, muốn nghỉ một buổi học, con bỗng nhớ về
thầy và lại tự động viên mình phải cố gắng đến trường, không được giãi
đãi. Thầy đã dạy chúng con bài học về sự tinh tấn rất sâu sắc, hiệu quả.
Bài học ấy vô cùng quan trọng, quyết định đường tu lâu dài cho cả đời của
chúng con.
Thánh Nhã
Thầy vẫn quanh đây
^
Ðứng dưới sân chùa làm hàng rào vinh dự nhân ngày lễ Phật Ðản,
con ngước nhìn lên lễ đài, lòng mong tìm lại hình dáng thầy thân thương:
Cái dáng cao cao, lưng khom khom như dáng một người cha hiền hòa cúi xuống
đàn con thơ dại ... và giọng nói sang sảng vang khắp vùng trời Vĩnh
Nghiêm. Nhưng con không còn tìm thấy được nữa. Con nghe tràn ngập sự
trống vắng, hụt hẫng! Có muốn khóc đâu mà mắt cứ nhòa dần...
Cũng tại nơi này, những mùa Phật Ðản trước, thầy là vị xướng ngôn viên,
đọc lời giới thiệu chương trình, từ niệm Phật cầu gia bị, hướng dẫn toàn
thể đạo tràng một phút nhập Từ Bi Quán, cho đến thả chim bồ câu và bong
bóng hòa bình – giọng nói thầy thật trang trọng, uy nghi mà đầm ấm, con
nghe lòng mình lâng lâng bay cao cùng với chim bồ câu, cùng với những
chiếc bong bóng rực rỡ sắc màu, tự hào về vị thầy mà mình có cơ duyên được
học hỏi.
Ngày ấy, mỗi buổi chiều thứ tư, thầy lên bục giảng trong tiếng vỗ tay hân
hoan của 270 ni sinh từ dưới lớp như đón bước chân thầy. Thầy cười tươi
đáp trả. Chúng con không ai nói ra, nhưng đều cảm thấy lòng mình tràn ngập
niềm vui. Có bao nhiêu ngày thứ tư trong đời được học thầy là chúng con đã
có bao nhiêu niềm pháp lạc. Con còn nhớ như in dáng thầy đi vòng xuống
lớp, tay chắp sau lưng, xoa đầu hỏi thăm tụi con có khoẻ không? Chúng con
thường đùa với nhau là đã được thầy thọ ký...
Rồi
một ngày tin dữ đến, chúng con ngơ ngác, buồn đau, lòng tự hỏi rằng: Sao
vô thường quá vô tình, bất ngờ, vội vã? Trú xứ Huệ Nghiêm lâu nay vắng vẻ,
nay bỗng dồn dập, thổn thức những bước chân người. Hàng ngàn tăng ni đau
lặng trở về đây khi nhận được tin thầy vừa viên tịch!!!
Vì
lòng kính mến vô biên đối với vị thầy khả kính, tăng ni sinh chúng con đã
tổ chức buổi tụng kinh Ðịa Tạng vào cái đêm cuối cùng tiễn đưa linh cữu.
Tiếng tụng kinh âm vang cả vùng trời. Lần đầu tiên con nghe trong tiếng
niệm Phật thành khẩn lại xen những tiếng nấc nghẹn ngào, tức tưởi... con
mới thấm thía pháp Vô Thường, Thầy ơi!
Mùa
Phật Ðản năm nay, lễ đài buồn tênh bởi thiếu dáng thầy, thiếu chất giọng
xướng ngôn viên trầm hùng chắc nịch, thiếu đoá sen thiêng đầu hạ dâng cúng
dường ngày kỷ niệm Ðức Phật đản sinh...
Dõi
mắt nhìn theo chùm bong bóng ngũ sắc bay lên cao giữa khoảng trời xanh
mênh mông, con như thấy thấp thoáng dáng thầy! Rồi những chiếc bong bóng
sẽ vỡ ra, không khí từ đó tan loãng vào hư vô, hòa mình vào không khí của
đất trời, cũng như hơi thở của thầy đã hòa vào hơi thở chung của nhân
loại, thân tứ đại của Người tan ra là để hoà nhập với đất trời.
Hiểu được điều này, con thấy lòng mình như nhẹ nhõm. Thầy như không khí
bàng bạc khắp cõi hư không, hiện hữu quanh con, quanh mọi người đau khổ.
Vĩnh Tâm
Khóc và cười
^
Trước di ảnh thầy, con nhìn thấy nụ cười ẩn hiện theo làn hương
khói nhẹ bay. Nụ cười thầy mờ trong làn nước mắt, nhưng hiện lên rất rõ
trong tâm hồn chúng con ánh nhìn hòa ái, nhân hậu, bao dung và thân thương
biết mấy!
Suốt bốn năm được thầy dạy dỗ trong mái trường Trung cấp Phật học thầy đã
dạy chúng con không chỉ qua khẩu giáo, ý giáo mà quan trọng nhất là thân
giáo, qua những phạm hạnh trong đời sống của thầy. Ðó là bài học sâu sắc
mà chúng con không thể nào quên được.
Con còn nhớ cứ mỗi lần ra hạ và ngày tết, huynh đệ chúng con đi đãnh lễ
thầy và luôn được thầy nhắc nhở rằng: “Tuổi các con còn nhỏ, trước mắt nên
cố gắng học, trước nhất là để tạo dựng nền tảng vững chắc về kiến thức
Phật pháp để tu tập bản thân, sau nữa là làm hành trang trên con đường
phục vụ cho đạo pháp, cho chúng sinh. Ðiều cần nhớ nhất là các con còn non
nớt, chưa từng trãi qua các chướng duyên nhiều, cần phải biết né tránh bớt
các trần cảnh, để bớt buông lung ý”. Những lời dạy ấy, chúng con hằng ghi
khắc trong tim, để làm kim chỉ nam trên bước đường tu học.
Con
còn nhớ rất rõ là trong đám tang của HT. Viện chủ chùa Vĩnh Nghiêm, thầy
làm xướng ngôn viên, hôm ấy thầy đã nói với con rằng: “Ta nên biết, ta
phải sống sao để khi ta xuôi tay nhắm mắt, mọi người đều thương tiếc
khóc, còn ta thì an lạc cười...”
Bây
giờ đúng thật! Hàng ngàn đôi mắt đỏ hoe đang nhìn lên di ảnh thầy, thầy
như vẫn đứng đó với nụ cười an lạc và ánh mắt hiền hòa, nhân hậu gởi lại
cho tất cả mọi người tình yêu thương bao la vô tận.
Diệu Liên
Người thầy thân thiết, bao dung
^
Lần đầu tiên học chữ Hán tôi rất sợ vì ám ảnh bởi câu nói của
những người già: “mắc như chữ Nho”. Ðến giờ Phật học giáo khoa thư,
tôi lo lắng nhìn ra cửa lớp để xem vị nào phụ trách môn học này.
Từ
xa tôi nhìn thấy vị thầy cao lớn phong thái đỉnh đạc bước vào. Sau khi cả
lớp niệm phật cầu gia bị xong, thầy gọi từng người lên đọc bài. Thầy cầm
cây thước đến trước mặt tôi bảo đọc bài mới. Tôi ấp úng trả lời :
-
Thưa thầy con chưa biết đọc.
Thầy hỏi:
-
Con mới vào học phải không?
-
Thưa phải.
-
Vậy con phải ráng phấn đấu nhiều hơn nữa để theo kịp các huynh đệ.
Thầy bảo tôi ngồi xuống. Lúc đó mặt