| ...... ... |
. |
THIỀN PHÁI TRÚC LÂM
TẠI CỐ ÐÔ HUẾ
TT Thích
Tín Nghĩa
Tổ Đình Từ Đàm Hải Ngoại -
2003
---o0o---
VÀI NÉT VỀ NGÔI
TỔ ÐÌNH TRÚC LÂM TẠI CỐ ÐÔ HUẾ
Sơ Lược:
Tổ Ðình Trúc Lâm được hình thành năm Duy
Tân thứ ba (1902), Ðầu tiên do bà Tỳ kheo Ni Hồ Thị Nhàn, pháp danh Thanh
Linh, hiệu là Diên Trường đứng ra thành lập. Trúc Lâm khi còn trong tình
trạng chỉ là mái tranh vách đất đơn sơ, thì Sư bà Diên Trường đã cung
thỉnh Hòa thượng Giác Tiên làm tọa chủ Khai sơn.
Cảnh
chùa được tạo dựng trên một ngọn đồi rất thanh lịch và hữu tình. Ðồi có
tên là Dương Xuân Thượng, thuộc làng Thuận Hòa, xã Thủy Xuân, huyện Hương
Thủy - Cố đô Huế.
Ngọn
đồi tuy không cao lớn, quang cảnh tuy không hùng vĩ; nhưng, ngọn đồi ấy đã
thể hiện được sự hiền dịu, cân đối và thích hợp cho những tâm hồn yêu
thiên nhiên hơn.
Ðồi
Dương Xuân Thượng nầy nằm thoai thoải mà hai bên sườn đồi có khe và suối
làm tả phù hữu bậc. Toàn ngọn đồi là một dãy thông xanh biếc. Ðồi thông
lúc nào cũng hòa âm với gió để tạo những bản nhạc thiền muốn đưa người
thoát tục.
Về địa dư:
Ngọn đồi, Bắc giáp với
đàn Nam Giao. Ðàn Nam Giao nầy quanh năm dân chúng cúng tế tỏa hương trầm
quyện, khói trầm bay, hướng dẫn lòng người đi vào nếp sống đạo đức, nhân
ái đầy tình người muôn đời của tổ tiên, nòi giống; không vọng ngoại, không
bị ngoại lai.
Nam
giáp với dãy núi Truồi dài thăm thẳm đến xứ Quãng Ðà. Dãy núi nầy cao ngất
nghễu đã tạo thành một chiếc bình phong kiên cố để bảo vệ cho ngọn đồi
thêm phần vững chắc của mặt tiền.
Hướng Ðông thì có núi Thiên Thai luôn luôn im lìm để chờ đón nắng nhạt khi
chiều về mát dịu.
Phía
Tây, kết bạn với núi Kim Phụng luôn dang đôi cánh vàng để khoe sắc với
thiên nhiên và tô thắm cho phong cảnh của ngọn đồi thêm phần thoát tục.
Ngọn
đồi cũng được đổi sắc thay màu tùy theo thời tiết của bốn mùa, tạo thành
những vầng thơ không lời tuyệt diệu cho cả tình đời nghĩa đạo.
Xuân
đến hoa rừng nở rộ, khoe sắc đổi màu điểm tô cho cảh vật của ngọn dồi càng
thêm phần duyên dáng.
Thu
về, một vầng mây trắng phủ mờ cảnh vật, đưa cảnh vật vào khung cảnh thâm u
huyền diệu.
Mùa
đông với giá rét căm căm, nhưng lũy tre và đồi thông lúc nào cũng giữ màu
nguyên ủy của nó trư thế bất biến vẹn toàn, nói lên cái định lực thiền
quán của Trúc Lâm mà chư Tăng ở đạy đang dồn hết tâm lực và ý lực để chấn
hưng Phật giáo miền Trung.
Trên
mấy dãy thông xanh, chim chóc thi nhau hòa nhữg bản nhạc thiền ca trầm
tĩnh như mời gọi khác thập phương đưa lòng mình vào sự tĩnh thức của hương
đạo mỗi lần ngoạn cảnh chốn Trúc Lâm thiền tự.
Những ai đã hơn một lần bước chân đến đây để viếng cảnh thì cũng tưởng
tượng được cảnh vật ở chùa Hương
(Bắc Việt)
mà nhà thơ Tản Ðà Nguyễn Khắc Hiếu đã từng xưng tụng:
... “Thỏ thẻ rừng mai
chim cúng trái,
Lững lờ khe yên cá nghe
kinh...”.
Dưới
chân đồi là một dòng khe uốn khúc lượn quanh co. Tiếng nước chảy róc rách
qua các kẻ đá đã tạo nên một bài ca bất tận. Lưu huyền vạn cổ cầm là ở
đây.
Hè
đến, một bầu trời xanh thăm thẳm tỏa xuống ngọn đồi. Cảnh vật chung quanh
chùa hòa đồng với sự tịnh tâm thiền quán của chư Tăng trong chùa dệt nên
một tấm thảm sống thảm sống động, vô giá. Trước mặt của ngôi chùa có một
cái hồ đào theo hình cong chư S, hình bản đồ Việt Nam như muốn nhắc nhở
cho quần chúng và Phật tử xa gần biết rằng: Ðạo Pháp gắn liền
với Dân Tộc. Hồ được trồng toàn sen. Mùa sen nở, những làn gió mạnh
thổi qua mặt hồ mang theo hương vị của sen đưa vào tận thiền thất để cúng
dường chư Tăng và lam cho tâm hồn của chư Tăng càng thắm đượm hưong thiền
Từ Bi Hỷ Xả.
Cảnh
vật của Tổ đình Trúc Lâm tuy không hùng vĩ, nhưng oai nghiêm và có một lối
sống đạo giải thoát làm sao. Với cuộc sống đầy tình đời nghĩa đạo, cụ cư
sĩ Ðoàn Lục Quán mỗi lần lên chùa lạy Phật, viếng cảnh hay đàm đạo giaó lý
với Hòa thượng Thích Mật Hiển cũng phải thốt lên thành thơ:
Vịnh Cảnh
Trúc Lâm
Trúc Lâm chùa ở chốn Thần kinh,
Phong cảnh nhìn xem thật hữu tình,
Trước mặt, bờ khe ùn cát trắng,
Sau lưng, chòm núi lợp cây xanh.
Gió Từ, quét sạch rừng phiền não,
Mưa Pháp, trôi đùa áng lợi danh.
Y
Bát, mai sau truyền gốc Ðạo,
Tre già, măng
mọc ngắm càng xinh.
Ðoàn
LụcQuán
Tất cả những khách thập phương từ kinh
thành Huế muốn viếng cảnh Trúc Lâm thì phải theo con đường Nam Giao, hướng
về quận Nam Hòa, đổ xuống dốc Cầu Lim độ năm trăm mét (500 mét), rẽ vào
con đường đất phía bên tay trái. Con đường đất nầy, hai bên được trồng
toàn dương liễu song song nhau
(Khi người viết và là
hậu duệ của Trúc Lâm thiền phái chưa ra khỏi quê hương thì như vậy, bây
giờ thì ra sao không biết được. Vì khi viết tác phẩm nầy và cho đến bây
giờ là năm 2000,
chúng tôi chưa một lần
được
về với
quê hương). Ðây là con
đường chính sẽ dẫn du khách vào tận chùa khoảng một cây số hơn.
(Quý vị nào có về quê
thăm, có lên viếng cảnh Trúc lâm, nếu biết thêm chi tiết cùng những hình
ảnh sinh hoạt nơi đây của chư Tăng và Ðại chúng, xin vui lòng cho chúng
tôi, để chúng tôi bổ sung vào những phần thiếu sót. Ða tạ).
Ðặc biệt bờ khe chạy uốn quanh ngôi cổ
tự nầy trồng toàn tre. Lá tre xanh um, chụm đầu vào nhau tạo thành những
hòn giả sơn, nhìn từ xa trông khá đẹp. Vưuờn chùa trông toàn những thứ gỗ
quý như: Lim, Sến, Gõ, Bạc hà, Thông, ... tỏa lá, cành sum sê như những
tàng lộng. Ðây là những loại gỗ đặc biệt và quý để gia dụng.
Cảnh vật lúc nào cũng nên thơ. Mỗi lần
cụ Ðại thần Hồ Ðắc Trung là thân phụ của quý Sư bà Diệu Huệ và Diệu Không.
Hai Sư bà nầy là tiêu biểu cho giới Nữ đạo Ni lưu xuất sắc của Ni phái
Việt Nam và miền Trung, mà đặc biệt là tại cố đô Huế.
(Cụ Ðại thần Hồ Ðắc
Trung đã từng đứng ra bảo bọc và viết thư chịu tội với Pháp để cho nhà vua
yêu nước Duy Tân khỏi bị đày ải).
Bài thơ của cụ Ðại thần Hồ Ðắc Trung
vịnh về Tổ đình Trúc Lâm như sau:
Trúc Lâm Vịnh
Trúc Lâm
phong cảnh tối thâm u,
Ẩn tại sơn
trung, thiểu lộ du,
Nguyệt chiếu,
phong xuy, thân bất động,
Vân lai, vũ
khứ, thể vô thù,
Ðầu đầu thủy
địa, tâm phương dẫn,
Tiết tiết
không tậm, chỉ hướng tu.
Quán trúc tri
nhơn, nhơn thị trúc,
Trúc nhơn phi
dị, cảnh tưong phù.
Dịch:
Trúc
Lâm phong cảnh thật thâm u,
Ẩn tại trong
non, khách thiểu du,
Trăng rọi, gió
lay, tâm chẳng động,
Mây đi, nước
đến, thể không thù.
Ðầu đầu sát đất,
tìm phưong dẫn,
Giữa đốt không
tâm, chỉ hướng tu.
Thấy trúc biết
người, người tựa trúc,
Trúc người
không khác, cảnh tương phù.
Trên đây là vài nét của ngọn đồi Dương
Xuân Thượng, nhưng kỳ thật, đây chính là vị trí của ngôi Tổ Ðình Trúc Lâm
Ðại Thánh.
Ghi chú:
Vị nào muốn rõ thêm cảnh trí, cách thờ phụng, cách cấu trúc của Trúc Lâm
Ðại Thanh tự, xin trực tiếp đón đọc cuốn Trúc Lâm Thiền Phái Tại Huế của
tác giả ghi trên đây. Mọi chi tiết xin liên lạc theo số điện thoại, Fax,
và E-Mail đã có sẵn trong Website nầy. Kính đa tạ.
TIỂU SỬ TỔ
GIÁC TIÊN
Khai Sơn TỔ ÐÌNH TRÚC LÂM TẠI CỐ ÐÔ HUẾ
1. Thân thế:
Pháp danh:
Trừng Thành,
Pháp tự:
Chí Thông,
Pháp hiệu:
Thích Giác Tiên
Thuộc dòng Lâm Tế Chánh
Tông đời thứ 42
Thế danh: Ngài
họ Nguyễn Duy húy là Quyển.
Thọ sanh năm
Canh thìn, niên hiệu Tự Ðức đời thứ 33 (1879).
Chánh quán làng
Giạ Lệ Thượng, xã Thủy Phương, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên.
Năm 1883, lên
bốn tuổi thì song thân đều mất. Ngài được ông bà bác đồng tộc đem
về nuôi dưỡng.
Nhờ bẩm chất
thông minh nên thân thuộc cho theo Nho học một thời gian. Nhận
thấy giáo lý Phật đà mới là con đườg hướng đến cảnh giải thoát; từ
đó, ngài xin với thân thuộc xuất gia đầu Phật.
Năm 1890, được
11 tuổi, ngài cầu thọ giáo với tổ Tâm Tịnh.
2. Sự nghiệp tu học:
Ðầu tiên, ngài
lên tu học tại Tổ đình Từ Hiếu. Nơi đây, ngài Hải Thiệu đang là
Trú trì và ngài Tâm Tịnh làm Giám tự.
Năm 1883, lên
14 tuổi, ngài được tổ Tâm Tịnh cho thọ Sa di Thập giới.
Năm Ðinh Mùi
(1907), Hòa thượng Ðàn đầu Vĩnh Gia, tổ chức Ðại giới đàn tại chùa
Phước Lâm, thị xã Ðà Nẵng, tỉnh Quảng Nam. Ngài được bổn sư cho
đăng đàn thọ Cụ túc giới và đỗ Thủ khoa, đúng 28 tuổi.
Sau khi đắc
giới, ngài đang chuyên tinh hành trì giới luật và nghiên cứu những
bộ kinh khó; đồng thời, hầu cận bên cạnh sư phụ, thì ngài Hải
Thiệu lại công cử đứng ra lo cho chùa Phổ Quang gần dốc Bến Ngự.
Vì, ngài Trú tyrì chùa Phổ Quang đã viên tịch và cúng dưòng chùa
lại cho ngài Hải Thiệu.
Cùng chung lo
Phật sự với ngài tại Phổ Quang có sư bà Diên Trường. Sư bà cũng
thọ Ðại giới cùng một lần với ngài ở Ðại giới đàn Vĩnh Gia (Ðà
Nẵng).
Vì sự huyên náo
của ngành hỏa xa ở trước cổng chùa Phổ Quang có ảnh hưỏng đến sự
tu niệm của ngài cũng như của chúng lý; năm Tân hợi (1911), sư bà
Diên Trường vào thôn Thuận Hòa, đồi Dương Xuân Thượng lập thảo am
để tịnh tu. Sư bà đã cung thỉnh ngài nhận ngôi Hóa chủ cho chùa.
Trước khi nhận
nhiệm vụ làm Tổ khai sơn, ngài đã cùng với Sư bà đi tham vấn đó
đây, nhất là vùng Yên Tử (Bắc Việt).
Khi đến Trúc Lâm Yên Tử, ngài đã ở lại đây một thời gian ngắn.
Ngài đã sưu tầm một số pháp bảo ở Trúc Lâm và lấy làm mãn nguyện
lắm.
Sau khi trở lại
Huế, ngài quyết định đặt tên chùa là Trúc Lâm với thâm ý của ngài
là muốn nối chí truyền thống Trúc Lâm tam tổ ở núi Yên Tử vậy.
Ngài là vị đệ
tử xuất sắc nhất của tổ Tâm Tịnh (Khai
sơn Tổ đình Tây Thiên
Di Ðà). Ngài đã xứng đáng
là vị Tổ khai sơn cũng như sự mong cầu và ngưỡng mộ của sư bà Diên
Trường nữa.
Với công trình
hành đạo của ngài như vậy, trong Việt Nam Sử luận của Giáo sư
Nguyễn Lang có đoạn viết:
“... Như ta đã biết, hội An nam Phật học không những đã có được sự
yểm trợ của hầu hết các phần tử trong sơn môn mà còn có được sự
cộng tác tích cực của những vị Tăng trẻ tuổi và có học của sơn môn
đào tạo nữa. Sự cộng tác nầy phần lớn nằm trong phạm vi hoằng pháp;
giảng diễn cho tín đồ, trước thuật bài vở và kinh sách. Tuy nhiên,
nhìn hội An nam Phật học với những thành quả mà nó thu lượm được
chỉ là nhìn thấy một bông hoa nở trên một nhánh cây mà chưa nhìn
thấy từ thân cái cây ấy.
Tuy nói rằng: Phật giáo suy yếu, cần phải phục hưng, nhưng nếu căn
bản và tiềm lực không có thì sự phục hưng ấy sẽ trở nên rất khó
khăn.
Sở dĩ ta có được
một Mật Khế, một Tâm
Minh Lê Ðình Thám
là nhờ có được
Giác Tiên
chẳng hạn thì ta thấy được
Tâm Tịnh,
bổn sư của Ông,
Huệ Pháp,
Giáo thọ sư của Ông,
Viên Thành
là bạn thân của Ông. ...”
(Việt Nam Phật Giáo Sử Luận, quyển 3, trang 112 và 113).
Ngài không
những chỉ đem hết tâm lực và tâm nguyện để lo cho Trúc Lâm trở
thành một chốn già lam đầy thiền vị như ý nguyện, mà ngài còn nhìn
xa hơn nữa cho tiền đồ của Ðạo pháp, bằng cách biến Trúc Lâm trở
thành nơi đào tạo Tăng tài, hoằng pháp lợi sanh và nhất là quần
chúng hóa Phật giáo ngày một hưng thịnh.
Với công hạnh
và đức độ, tổ Tâm Tịnh đã làm một bài kệ phú pháp cho ngài như sau:
Giác đạo kiếp
không tiên,
Không không
bát nhã thuyền,
Quả nhân
phù hạnh giải,
Xứ xứ tức
an nhiên.
Dịch:
Ðường giác vượt hậu tiền,
Thuyến bát nhã không không,
Hạnh giải hợp nhân quả,
Ở đâu cũng thông dong.
Bài kệ trên
cũng phù hợp với sự chuyên tâm hành thiền của ngài. Hằng ngày ngài
thường nghiên cứu vào những câu thoại đầu để làm công án thiền như
sau:
- “Chư
pháp tùng bản lại,
Thường tự
tịch diệt tướng.”.
Dịch:
Các pháp vốn xưa nay,
Tự tướng thường vắng lặng.
Ngài ngồi thiền
định liên tiếp ba bốn giờ là chuyện thường. Có lúc ngài ngồi nhập
định luôn cả hai ngày. Xả định rồi, thấy thời gian như bóng câu
qua cửa sổ, thân người rồi cũng tự lụi tàn theo năm tháng; ngài tự
nhủ: Nếu như không chịu tự tu chứng lấy cho bản thân, không chịu
hành trì giới luật, không chuyên tâm tu niệm rồi một ngày nào đó
rất gần, cái thân giả huyễn nầy cũng sẽ ra tro bụi, vô minh rồi
cũng sẽ đến với mình. Vĩnh kiếp luân hồi trong lục đạo. Ngài đã
cảm nhận được cơn vô thường của kiếp sống, nên sau khi xả thiền,
ngài có làm bài thơ như sau:
Giác mộng tàn tinh điểm
bán không,
Trường
thiên cô nhạn ảnh vô tung,
Sơ minh
nguyệt sắc tà lan ý,
Tức nhập
thiền tâm tiêu tức trung.
Dịch:
Tỉnh mộng tàn canh thấy cảnh không,
Dưới trời chim nhạn vốn không tông,
Vầng trăng chiếu rọi ngoài hiên vắng,
Thâm nhập thiền tâm, tiêu tức trung.
Dịch theo vần
Lục bát:
Tàn canh thấy
mộng trống không,
Dưới trời chim nhạn vốn không tông
(tích)
loài.
Vầng trăng chiếu rọi hiên ngoài,
Thiền tâm chứng nhập, trong ngoài tiêu
tan.
3.
Ảnh Hưởng Của Ngài Ðối Với Ðạo Pháp:
Trong Việt Nam
Phật Giáo Sử Luận của Giáo sư Nguyễn Lang có đoạn:
- “Thiền sư Giác Tiên có thể nói là người khởi xướng công trình
phục hưng Phật Giáo tại miền Trung. Giác Tiên Thiền sư hướng đạo
cho hội An Nam Phật Học được bốn năm thì thị tịch.
Các đệ tử của Giác Tiên Thiền sư là Mật Khế, Mật Hiển, Mật Nguyện
và Mật Thể đều đóng những vai trò quan trọng trong phong trào phục
hưng Phật Giáo sau nầy, ...” (Việt nam Phật giáo Sử luận quyển
3, trang 85 và 86)
Năm Giáp tý
(1924), đời vua Ðồng Khánh thứ 9, ngài vân tập Ðại Tăng và tổ chức
an cư kết hạ.
Năm Giáp ngọ
(*), đời vua Khải Ðịnh thứ ba, ngài mở giới đàn ở chùa Từ Hiếu,
cung thỉnh Hòa thượng bổn sư là tổ Tâm Tịnh đăng đàn truyền giới.
Năm Ất sửu
(1925), đời vua Bảo Ðại thứ nhất, ngài được chiếu chỉ của triều
đình mời làm Trú trì Diệu Ðế quốc tự.
Năm Bính dần
(1926), ngài lo đại trùng tu Phật điện và Tăng xá của Trúc Lâm.
Năm Mậu thìn
(1928), ngài biến Trúc Lâm thành nơi đào tạo Tăng tài và cũng là
khởi điểm đầu tiên cho Ðại học Phật giáo tại Cố đô Huế. nói riêng
và miền Trung nói chung.
Năm Kỷ tỵ
(1929), ngài vào tận Tổ đình Thập Tháp Di Ðà để cung thỉnh Hòa
thượng Phước Huệ ra làm chủ giảng cho lớp Ðại học đầu tiên nầy.
Năm Canh ngọ
(1930), ngài khuyến khích và giúp đỡ cho Sư bà Diệu Hương mở Ni
trường Diệu Ðức.
Năm Tân mùi
(1931), ngài đứng ra vận động thành lập hội An Nam Phật Học. Ngài
một mình tự đi cung thỉnh chư vị Hòa thượng, Thượng tọa có tài đức
ra chung lo Phật
pháp.
Năm Quý dậu
(1933), ngài ủy thác cho Thiền sư Mật Khế, vị đệ tử lớn và xuất
sắc nhất của ngài mở một trường Tiểu học Phật học tại chùa Vạn
Phước, để cho lớp Sa di của các chùa có nơi đến học.
Năm Giáp tuất
(1934), ngài cùng với đệ tử Mật Khế tổ chức trường An Nam Phật Học
tại Trúc Lâm, thu nhận đúng 50 học tăng. Cuối năm nầy ngài quy tụ
các học tăng có trình độ khá cao về Trúc Lâm để mở trường Ðại học
Phật giáo. Ðại học Phật giáo đầu tiên có từ đó.
Ngoài vị đệ tử
lớn là thiền sư Mật Khế ra, ngài còn có một vị đệ tử lớn thọ tại
gia Bồ tát giới đã theo học với ngài từ năm 1928 là Bác sĩ Tâm
Minh Lê Ðình Thám. Cụ Tâm Minh vâng lời sư phụ để lo cho hội An
Nam Phật Học, lo soạn thảo chương trình giáo dục thanh thiếu nhi
và kết hợp thành đoàn ngũ hóa quần chúng Phật tử có tu học. Hạnh
nguyện của ngài là làm thế nào đưa Phật giáo vào lòng dân tộc một
cách trong sáng và hữu hiệu. Tuy nhiên, việc làm vừa được một đoạn
đường thì ngài thọ bệnh.
Ngày mồng Hai (Tân sửu),
tháng Mười (Kỷ hợi),
năm Bính tý (nhằm ngày
15 tháng 11 năm 1936),
ngài cho vân tập Tăng chúng đứng chung quanh giường để nghe ngài
giảng kinh Pháp Bảo Ðàn. Hai hôm sau, khi ngài giảng xong phẩm Bát
Nhã, rồi ngài nhìn từng vị đệ tử một để truyền kệ.
Vào
lúc 20giờ, ngày mồng Bốn (Ất mão),
tháng Mười cùng năm (tức ngày
17-11-1936), niên hiệu
Bảo Ðại thứ 11, ngài im lặng và từ từ đi vào cõi tịnh. Ngài thọ
thế 57 tuổi.
Chư Tôn đức
Tăng già, quần chúng Phật tử và hội An Nam Phật Học tề tựu về Trúc
Lâm Ðại Thánh tự để lo lễ cúng dường cũng như phò nhục thân ngài
nhập bảo tháp rất trọng thể.
Ngài viên tịch
trong lúc đang đãm nhiệm trách vụ Trú trì hai chùa Trúc Lâm và
Diệu Ðế và Chứng minh Ðại đạo sư cho hội An Nam Phật Học.
Trước sự thương
kính của hội, Hội đã thành tâm cúng dường câu đối như sau:
*
Trúc Lâm không quãi tam canh nguyệt,
*
Diệu Ðế tri văn ngũ dạ chung.
Ðại diện hội
Phật giáo Bắc kỳ cúng dường hai câu:
*
Vân nạp Bắc lai, đàm luận di tuần kham Giác chỉ,
*
Trúc lâm Nam vọng, vãng sanh hà xứ mích Tiên tung.
Trước tháp ngài,
cụ Tâm Minh Lê Ðình Thám có cúng dường hai câu để ghi nhớ và vâng
chỉ di huấn của Tổ trên con đường chấn hưng, phục vụ Phật pháp,
như sau:
Quán tướngnguyên vọng,
quán tánh nguyên chơn, viên giác diệu tâm ninh hữu ngã,
Chúc pháp linh truyền, chúc sanh linh độ, thừa đương di huấn khởi
vô nhơn.
Nghĩa là:
Quán sắc tướng vốn vọng, quán thể tánh vốn chơn, viên giác diệu
tâm đâu còn ngã,
Chúc chánh pháp khiến truyền, chúc chúng sanh khiến độ, thừa
đương di huấn vẫn còn có người.
Ngài đã đi vào
cõi tịnh, nhưng âm ba và uy đức của ngài vẫn còn nối tiếp mãi mãi.
Nhìn những vị đệ tử xuất gia lẫn tại gia và hậu duệ của ngài còn
gánh vác việc Giáo hội thì đủ rõ.
Không những
ngài là vị xuất trần thượng sĩ, ngài còn là một thi sĩ đã để lại
những áng thơ hay, những di bút xuất thần mà các tổ đình Tường Vân,
Từ Quang, Tra Am, v.. v... vẫn còn tôn thờ trong hậu tổ hay nơi
chan1h điện. Bên cạnh đó, mỗi lần Giáo hội tại cố đô Huế hữu sự
vẫn còn tưởng niệm đến danh hiệu ngài.
Những vị đệ tử
xuất gia của ngài gồm có:
Mật Tín, Mật Khế, Mật
Hiển, Mật Nguyện, Mật Nhơn, Mật Thể, Diệu Huệ và Diệu Không.
Tại gia thì có:
Ðại thần Hồ Ðắc Trung, bác sĩ Tâm Minh Lê Ðình Thám
(Linh hồn của tổ chức Gia đình Phật tử miền Trung và Việt nam)
và
bác sĩ Trương Xướng.
Ghi chú:
(*) Trong bài minh của Ngài thì cụ Thượng thơ Lê Nhữ Lâm phụng
soạn đề là: Khải Ðịnh Giáp ngọ
niên, tập thiền môn pháp lữ, kiến Giới đàn
Từ Hiếu tự, thỉnh Tâm Tịnh Hòa thượng
truyền thọ Tỳ ni. ... Nghĩa là:
Năm Giáp ngọ, đời vua Khải Ðịnh, ngài
mở Giới đàn tại chùa Từ Hiếu, cung thỉnh Hòa thượng Tâm Tịnh
truyền trao giới pháp.
Theo vấn đề tra cứu lịch Vạn niên thì: Từ năm 1906 đến năm 1930,
không có năm nào là Giáp ngọ hết; chỉ có: Bính ngọ (1906), Mậu ngọ
(1918) và Canh ngọ (1930). Chỉ có năm Giáp ngọ đời vua Thành Thái
thứ sáu, thì Ngài mới xuất gia. Vậy thì, lòng bài minh là năm Mậu
ngọ (1918) thì không phù hợp. Có lẻ là năm Mậu ngọ (1930). ???
Y sử, đối chiếu
cũng có một vài chỗ chưa ổn. Người viết tra lục, đưa ra đây một
vài dữ kiện để sau nầy những nhà chép sử Phật giáo lưu ý cho.
*
*
*
DỊCH ÂM BÀI
MINH
(tức là bài Bia văn bằng Hán tự nói về tiểu sử và hạnh nguyện của
Tổ)
Ghi chú:
Bài Minh nầy trong tác phẩm Trúc Lâm Thiền Phái Tại Huế là có chữ
Nho, có phiên âm, có dịch nghĩa hẵn hoi. Ở đây chúng tôi chỉ ghi
lại phần phiên âm và dịch nghĩa mà thôi.).
Phần phiên âm:
Ngự chế Diệu Ðế
tự Trú trì, Lâm tế tứ thập nhị thế, Khai sơn Trúc Lâm Ðại thánh tự
Giác Tiên Hòa thượng chi tháp.
Khai sơn Trúc
Lâm Ðại thánh tự, sáng lập An Nam Phật Học hội, chứng minh Ðại đạo
sư Trừng Thành Chí Thông Giác Tiên Hòa thượng chi minh.
Giác Tiên Hòa
thượng, Lâm tế chánh tông tứ thập nhị thế chi đại sư giả. Sư bản
tánh nguyên tịch, Thừa Thiên phủ, Hương Thủy huyện, Dã Lê Thượng
xã, dĩ Tự Ðức thập tam Canh thìn lạc trần.
Thành Thái lục
niên Giáp ngọ (*), thị khô tử tán sư, cảm thế sự vô thường, nhân
đô Báo Quốc tự giới đàn, phiêu nhiên hữu xuất trần chi chí.
Toại chiêu Từ
Hiếu tự, lễ Tâm Tịnh Hòa thượng, viện tức thế nhiễm. Căn tánh
thông lợi, kinh luật am tường, lũ dục Dương Xuân sơn kết am vị tự
tu chi vị cánh. Tỳ kheo ni Hồ Thị Nhàn pháp danh Thanh Linh, hiệu
Diên Trường gia kỳ chí, vị kiến Trúc Lâm tự, thỉnh sư vi khai sơn
tọa chủ. Ư thị thiền tâm viên đốn, pháp vũ hoằng khai. Tự ngộ
Quảng Nam tỉnh, Phước Lâm tự, Vĩnh Gia Hòa thượng khai Ðại giới
đàn, sự thọ Cụ túc giới thời, vu Thiên Hưng tự, tăng ni đại chúng,
lợi ích đàm triêm; cầu Tâm Tịnh Hòa thượng, diệu khế phú pháp kệ
vân:
Giác đạo kiếp không tiên,
Không không Bát nhã thuyền,
Quả nhân phù hạnh giải,
Xứ xứ tức an nhiên.
Phật ngôn tý
bát, thánh thiền thiệu long, sư phục hà khả giải.
Khải Ðịnh Giáp
ngọ niên, tập thiền môn pháp lữ, kiến Giới đàn Từ Hiếu tự, thỉnh
Tâm Tịnh Hòa thượng truyền thọ Tỳ ni, hành hóa viễn diêu, sái
dương chi thủy, cam bị Tây Thiên. Kỵ Khải Ðịnh cửu niên Giáp tý,
đại tập thiền hòa ư Tường Vân tự, cửu tuần kết tập giới, hạnh mãn
công viên, phước huệ song tu, tự tha kiêm lợi, Phật Tổ chi cán ty,
thiền hòa chi lương đống sư tai. Bình nhật thường tham chi kệ vân:
“Chư pháp tùng bản lai,
Tự tánh thường diệt tướng.”.
Bảo
Ðại nguyên niên, mông chỉ chuẩn chi Diệu Ðế Trú trì. Bảo Ðại lục
niên, sùng tu Trúc Lâm tự điện vũ, Phật Tăng xá, hoán nhiến nhất
tân. Nhi sư hành, Phổ Hiền thị tâm, nguyện độ nhất thế, viên thỉnh
Phước Huệ Hòa thượng, trách tịch Trúc Lâm tự, khai đàn giảng kinh,
lực giác quần mộng. Sát na gian, thiện nam tín nữ, phát bồ đề tâm
gia vân tập. Dĩ nguyện lực hoằng thâm, cố Phật học triêu xướng chi
mộ thành. Kế tắc đại, tiểu chư Học đường, diệc ư yên sáng thỉ. Ngã
An Nam Phật Học hội chi khoáng trương, duy ngô sư thị nguyện.
Ư Bảo Ðại thập
nhất niên, thập nguyệt, sơ nhị nhật triệu thỉnh đệ tử tụng Bảo Ðàn
kinh, chí Bát Nhã phó chúc Phật pháp gia nghiệp vãng sơ tứ nhựt
hốt xả thế duyên, du nhiên viên tịch, thế thọ ngũ thập thất, hạ
lạp thập cửu. Kiến tháp vu tự bàng chi tả.
Bát nhã vân:
- “Viễn ly mộng tưởng,
cứu cánh niết bàn, tín tai.”.
Pháp giới vô sanh tử, ư hà hữu giác duyên ?
Tư
trích trần lự, tiếu niêm tháp chi bi, chi kệ, chi tụng, chi pháp
môn. Hữu kế năng vô kềnh chi lũng, chi hồ. Hành kính bất ma năng
vô kim thạch chi hồ. Ðạo phong cao diệu, pháp độ hoằngviên, như
ngã sư giả, hậu nhơn nghi tư. Sở dĩ xiển dương, nhi lịch lịch di
tích, soạn thứ như tả, dữ thế gian tưong cập nhơn đạo nhơn duyên,
tích chú (1) vu thạch. Duy nguyện Phật nhựt bồi bồi, tăng huy yên
nhỉ.
Minh viết:
Hương bình linh dục,
Viện đản Phật tăng,
Ðồng niên diệu ngộ,
Trần lự trừng (2)
trừng,
Xả thân tuyên pháp,
Thiện nghiệp trung
hưng,
Hồng chung lôi hống,
Quần mộng thần linh,
Tăng đồ tế tế,
Duy sư thị thừa,
Man man trường dạ,
Sư chúc chi đăng,
Mang mang bỉ ngạn,
Sư dẫn chi đăng,
Ðàm hoa nhứt tiếu,
Bí diễn thiên tằng,
Trần hoàn khả chuyển,
Ðạo sơn bất băng,
Hoàng hoàng tư kiệt,
Miên miên tụng xưng.
Hoàng triều Bảo Ðại thập nhị niên, tuế thứ Ðinh sửu, lạp nguyệt,
Phật thành đạo nhựt.
An Nam Phật Học
Hội trưởng Hiệp tá Ðại học sĩ Nguyễn Ðình Hòe đồng bổn hội đồng
phụng lập.
Phó
hội Trưởng Thượng thơ sung Quốc sử quán Tổng tài Lê Nhữ Lâm phụng
soạn.
Ghi chú:
(1) Trong bài viết chữ Thọ, nó
không hợp nghĩa. Phải viết là chữ Chú thức là
Ghi, Khắc vào, mới đúng nghĩa
bài minh.
(2)
Trong bài viết chữ Chứng,
nhưng theo bài minh thì phải viết là
Trừng. (Trừng trừng:
nghĩa là sạch trong, tức là sạch sẽ một cách trong suốt).
Vậy,
quý vị, khi được đọc bài chữ Nho thì nó là
Chứng Trừng ??? Còn theo đúng
nghĩa của nó là Trừng Trừng. Xin
lưu ý. Người viết cố tra cứu thì biết đến ngang đây. Xin quý thức
giả và độc giả cao minh tha thứ và bổ khuyết cho. Kính cám ơn. Tín Nghĩa.
VIỆT DỊCH BÀI
MINH
Bia ký tạm dịch:
Bài
minh khắc nơi tháp của Hòa thượng Giác Tiên, pháp danh Trừng Thành,
thụy hiệu Chí Thông, thuộc giòng Lâm Tế chánh tông dời thứ 42.
Nguyên Trú trì Ngự chế Diệu Ðế, khai sơn chùa Trúc Lâm Ðại Thánh,
sáng lập hội An Nam Phật Học và Chứng minh Ðại đạo sư cho hội ấy.
Ðại
sư nguyên người Giạ Lê Thượng, huyện Hương Thủy, phủ Thừa Thiên.
Sinh năm Canh thìn niên hiệu Tự Ðức thứ 33.
Năm
Giáp ngọ, niên hiệu Thành Thái thứ sáu, nhân đám tang thầy mà cảm
nhận về tánh chất vô thường của cuộc đời; thêm vào đó, nhờ xem
Giới đàn ở chùa Báo Quốc cố đô Huế, nên bỗng nhiên khơi dậy chí
nguyện xuất trần (đi tu). Ngài đến chùa Từ Hiếu đảnh lễ Hòa thượng
Tâm Tịnh và xin xuống tóc xuất gia.
Ngài là người căn tánh thông lợi, khá am tường về kinh luật đã
nhiều lần muốn dựng am ở núi Dương Xuân để tịnh tu, nhưng không
thành.
Thế
nhưng, sau đó Tỳ kheo ni họ Hồ, pháp danh Thanh Linh, hiệu Diên
Trường tán thưởng ý chí của ngài, đứng ra lập chùa Trúc Lâm và mời
ngài làm tọa chủ.
Gặp
lúc Hòa thượng Vĩnh Gia mở Ðại giới đàn ở chùa Phước Lâm, tỉnh
Quảng Nam, ngài liền xin thọ Cụ túc giới, bấy giờ vừa đúng 29 tuổi.
Thọ
Cụ túc giới xong, ngài trở về chùa Thiên Hưng, Huế, mở trường dạy
học; rất nhiều Tăng Ni nhờ sự giaó huấn của ngài mà được thấm
nhuần Phật pháp.Ngài đắc pháp với Hòa thượng Tâm Tịnh
qua bài kệ phú pháp như sau:
“Giác đạo vượt hậu tiền,
Không không thuyền
bát nhã,
Hạnh giải hợp quả
nhân,
Nơi nơi đều an lạc.”.
Ngài quả thật đã thấu rõ yếu chỉ cửa Phật giòng Thiền.
Năm
Giáp Ngọ (*) (Ðã có chú thích ở phần âm), đời vua Khải Ðịnh, mở
Giới đàn ở chùa Từ Hiếu và cung thỉnh Hòa thượng Tâm Tịnh truyền
thọ giới pháp. Khắp nơi xa gần đều nhờ ơn tế độ, nước cành dương
đã rưới đến Tây thiên.
Ðến
năm Giáp tý (1924), niên hiệu Khái Ðịnh thứ chín, ngài tập họp Ðại
Tăng và tổ chức an cư kết hạ ba tháng ở chùa Tường Vân. Mãn hạ,
cũng tức là phương thức lợi mình, lợi người, phước huệ song tu một
cách đầy đủ. Ngài đúng là rường cột của cửa thiền, sứ giả của Phật
Tổ.
Hằng ngày thường tham cứu:
“Các pháp tứ xưa
nay,
Chơn tướngvốn tịch
diệt.”.
Ðời
vua Bảo Ðại thứ Nhất, ngài được sắc chỉ làm Trú trì chùa Diệu Ðế,
qua năm sau, lo trùng tu Phật điện, Tăng xá Trúc Lâm.
Noi
theo đại hạnh của Bồ tát Phổ Hiền, muốn độ thoát tất cả; do đó,
ngài mời Hòa thượng Phước Huệ từ Bình Ðịnh đến chùa Trúc Lâm để
giảng dạy kinh điển. Chẳng bao lâu, thiện tín phát tâm tu học khắp
nơi tụ tập về và cũng nhờ thế mà hội An Nam Phật Học đã được hình
thành trong một thời gian rất ngắn. Tiếp theo, các Phật học đường
lớn nhỏ bắt đầu dựng lên.
Hội
Phật Học ngày nay lớn mạnh, phần nhiều cũng đều do nguyện lực của
ngài. Thế rồi, ngày mồng Hai, tháng Mười năm Bảo Ðại thứ 11, ngài
cho mời các đệ tử tới tụng kinh Pháp Bảo Ðàn, đến phẩm Bát Nhã;
đem sự nghiệp Phật pháp phú thác xong xuôi, vào ngày mồng Bốn
tháng Mười, Bảo Ðại năm ấy, ngài an nhiên viên tịch. Ngài thọ thế
57 tuổi đời và 29 tuổi đạo. Tháp ngài được xây bên chùa Trúc Lâm.
Ðúng như Bát Nhã tâm kinh:
- “Xa lìa mộng tưởng điên đảo,
đạt đến niết bàn.”
Trong pháp giới nếu không có mê mờ sanh tử thì lấy gì làm duyên
cho giải thoát giác ngộ ?
Vì
thế, tôi đem một vài ý nghĩ thô cạn viết thành bia, kệ, tụng, pháp
môn niêm khắc nơi tháp với hy vọng người sau sẽ nhân đây mà tiến
xa hơn, hoàn bị hơn.
Ðạo
phong cao diệu, pháp độ hoằng viên như Ðại sư, thật đáng để cho
đời sau suy tư, tuyên dương.
Nay
đem di tích của ngài soạn thành văn, khắc vào đá để lại cho đời;
đồng thời, kính nguyện Phật giáo ngày một thêm rạng rỡ, huy hoàng.
Nội
dung bài minh như sau:
“Ðất linh Hương Bình,
Sinh được cao Tăng,
Diệu ngộ từ bé,
Trần niệm sạch trong,
Xả thân vì đạo,
Thiền nghiệp vượng
hưng,
Hồng chung vang dội,
Vua dân đều mừng,
Tăng đồ đông đúc,
Chỉ một mình Thầy,
Ðêm dài mờ mịt,
Thầy là đuốc soi,
Bờ giác mênh mông,
Thầy là hải đăng,
Hoa đàm một tập,
Bí điển một tầng,
Sao dời vật đổi,
Núi đạo không băng,
Bia đá rạng rỡ,
Xưng tụng vĩnh hằng.”.
Tháp Chạp năm Ðinh sửu, niên hiệu Bảo Ðại thứ 12, ngày đức Phật
Thành đạo,
Dựng bia:
Hiệp tá Ðại học sĩ Nguyễn Ðình Hòe, Hội trưởng hội An Nam Phật Học
và toàn thể hội viên, (Dựng bia),
Soạn văn:
Thượng thơ phụ trách Tổng tài Quốc sử quán kiêm Phó hội Trưởng hội
Phật học Lê Nhữ Lâm.
TIỂU SỬ
THIỀN SƯ THÍCH MẬT KHẾ
Ngài họ Lê, quý danh là Chánh. Quê quán làng Thần Phù, xã Thủy Phù, huyện Hương Thủy, tỉnh
Thừa Thiên.
Ngài thọ sanh năm Giáp Thìn
(1904).
Năm Quý Sửu (1913), lên chín tuổi, xuất gia đầu Phật với tổ
Giác Tiên, chùa Trúc Lâm, cố đô Huế.
Ngài tỏ ra thông minh xuất chúng trước tuổi.
Năm Giáp Tý (1924), được đăng đàn thọ Cụ túc giới tại Đại giới
đàn Từ Hiếu. Tổ Tâm Tịnh làm Đàn đầu Hòa thượng. Ngài đổ thủ
khoa vào năm 21 tuổi tròn.
Pháp danh:
Tâm Địa,
Pháp tự:
Mật Khế,
Thuộc giòng Lâm
Tế chánh tông đời thứ 43.
Sau khi đắc giới,
ngài xin với bổn sư ra tổ đình Thiên Hưng để tham cầu thêm
giáo lý với Hòa thượng Huệ Pháp.
Năm 23 tuổi, ngài xin vào thọ giáo với Hòa thượng Phước Huệ ở
chùa Thập Tháp, tỉnh Bình Định.
Năm 1932, ngài cùng với bổn sư là tổ Giác Tiên và chư tôn đức
Tăng già đứng ra thành lập An Nam Phật Học hội. Ngài là vị
giảng sư đầu tiên của hội. Và, ngài cũng là vị sư trẻ đầu
tiên tại cố đô Huế sớm ý thức đem đời vào đạo và đem đạo vào
đời bằng con đường chấn hưng Phật giáo.
Với tư chất và hạnh
nguyện ấy, nên được tổ Tâm Tịnh (Tổ khai sơn Tây Thiên Di
Đà tự) tặng y bát để hành trì.
Năm Quý Dậu (1933), ngài vâng lời sư phụ đứng ra lập trường
Tiểu học Phật giáo tại chùa Vạn Phước và trực tiếp làm Hiệu
trưởng.
Năm Giáp Tuất
(1934), ngài hợp tác với Hòa thượng Giác Nhiên (tọa chủ tổ
đình Thuyền tôn, đệ nhị Tăng Thống Giáo Hội PGVN Thống Nhất
1973-1979), mở trường An Nam Phật Học tại Trúc Lâm. Ngài
làm việc với hội trong tư thế là Tổng thư ký.
Các bài giảng của
ngài dạy tại trường Vạn Phước và chùa Từ Quang gồm:
Tam quy ngũ giới, Trạch pháp tu tâm,
Thanh văn thừa, Bồ tát thừa, Pháp môn
niệm Phật,
… đều có đăng trong báo Viên Âm.
Năm Ất Hợi (1935),
ngài muốn cho quần chúng thấy sự hưng thịnh của Phật giáo tại
miền Trung, nhất là tại tỉnh nhà và cố đô Huế, ngài đã đi đó
đây để vận động giới Tăng sĩ bản tỉnh đem hết tâm lực ra để
cúng dường ngày Đản sanh thật long trọng, thật vĩ đại.
Ngày 10 tháng 05 năm 1935, trong lúc đại lễ Phật đản đang được
cử hành rất trọng thể tại chùa Diệu Đế, thì ngài lại viên tịch
ở Trúc Lâm.
Tổ Giác Tiên không
có mặt trong ngày đại lễ này. Trước khi viên tịch, ngài bảo
huynh đệ trong chúng mang bức tượng Di Đà phóng quang để trước
mặt ngài. Ngài ngồi ngay ngắn như nhập định, chấp tay và niệm:
Nam Mô A Di Đà Phật.
Lúc ấy, tổ Giác Tiên vào đứng bên cạnh và phú kệ như sau:
Tâm Địa (*) quai hàm pháp tánh
viên,
Tây lai diệu chỉ hiểu Nam thiên,
Hoát nhiên trực triệt Tào Khê lộ,
Miễn tại linh bình ngũ thập niên.
Dịch:
Cõi tạm bao hàm pháp giới
tánh,
Trời Nam sáng tỏ ý Tây truyền,
Bỗng nhiên thấu triệt Tào Khê lộ,
Khỏi mất công dài năm chục năm.
(*) Tâm Địa là Pháp danh của
ngài. Nguyễn Lang dịch.
Ngài bái nhận phú kệ
xong, xin Tổ được lấy ảnh Di Đà đắp lên mặt và từ từ nhắm mắt
thị tịch.
Ngài xả thân tứ đại
đúng vào lúc 08 giờ sáng, ngày mồng Tám tháng Tư năm Ất Hợi
(tức ngày 20 tháng 05 năm 1935). Hưởng dương trần thế 31
tuổi.
Ngài là vị sư trẻ duy nhất được Giáo hội xây tháp phụng thờ và
lo liệu mọi nghi lễ trong lúc nhục thân của ngài chưa nhập
tháp.
Giáo hội đã tặng câu đối:
*
Khả hạnh giải, chánh đạo bất chung yên, nguyệt san đề xuất,
Phật học liên trường cố đa cô vũ, phông trào vô tận đăng quang
tường phúc lãng,
*
Thử nhật tùng tâm, cang phùng khánh tiết, thiên tãi hạ trùng
quang Phật nhựt, hồ nhi lạc quốc thốc tiên đăng.
Câu đối Nôm của thầy
Vân Đàm tặng như sau:
*
Rừng mai đạp
tuyết, cay đắng trải bao phen, cơ hóa độ còn nhiều hy vọng
chứa chan, tằm kéo tơ lòng thêu sử Phật,
* Sàng Trúc
trổ hoa, tỉnh mê trong nửa kiếp, tình tương tri quá nặng, sầu
trường man mác, quyện rơi giọt lụy gọi hồn thiêng.
Ngài ra đi giải
thoát cho chính ngài, nhưng An Nam Phật Học hội mất đi một vị
tăng trẻ tài cao, học chúng Trúc Lâm mất đi một hướng đạo sư
tận tụy, đồng sự pháp lữ mất đi một bạn hiền vô giá.
Hằng năm, cứ vào ngày tưởng niệm ngài, chư Tăng Ni và Giáo hội
bản tỉnh đều vào Trúc Lâm thắp nén hương long và đảnh lễ trước
long vị của ngài. Di ảnh cũng như long vị được phụng thờ bên
gian tả của hậu tổ.
Sự ra đi sớm của ngài, theo Giáo sư Nguyễn Lang trong Việt Nam
Phật Giáo Sử Luận quyển ba, trang 102 có đoạn nói như sau:
- “… Có lẽ
giảng sư Mật Khế đã phí sức nhiều quá trong những ngày vận
động cho lễ Phật Đản, một cuộc biểu dương đầu tiên của lực
lượng quần chúng Phật giáo trong phong trào phục hưng. Như ta
đã biết, đại lễ này có vua Bảo Đại tham dự, đã làm cho báo chí
trong nước nói lên nhiều lần và câu hỏi về sự cần thiết hay
không cần thiết của một sự phục hưng Phật giáo đã được đặt ra
giữa dư luận quần chúng quảng đại.
… Trước đó đã
vận động vua Bảo Đại chấp nhận vị Hội Trưởng Danh Dự của hội. Từ năm trước, tức năm 1934, vua Bảo Đại đã ban hành sắc tứ cho
các chùa Tường Vân, Tây Thiên và Trúc Lâm. Chùa Tường Vân
nguyên trước đã được sắc tứ rồi, bây giờ lại được sắc tứ một
lẫn nữa, chùa Tây Thiên bây giờ là: “Tây Thiên Di Đà tự”
và chùa Trúc Lâm: “Sắc Tứ Trúc Lâm Đại Thánh tự”,
Đại Thánh Trúc Lâm tức là vua
Trần Nhân Tông ngày xưa vậy.
Đến đây chúng ta
hiểu thêm một phần nữa là: Qua biển sắc mà nhà vua ban cho
Trúc Lâm Đại Thánh tự bây giờ có một phần liên hệ với Trúc Lâm
Đại Đầu Đà ở núi Yên Tử (Bắc Việt) vậy.
1.Thân Thế:
Hòa thượng họ Nguyễn Duy húy là
Quảng.
Thọ sanh dưới triều Nguyễn, đời
vua Duy Tân năm thứ ba, ngày 04 tháng 03 năm 1907
(tức nhằm ngày Nhâm Tý 20 tháng
Giêng năm Đinh Mùi theo lịch
vạn niên), tại làng
Gịa Lê Thượng, xã Thủy Phương, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa
Thiên. Một làng chạy dọc theo dãy Trường Sơn và quốc lộ số
Một, nhưng có một đồng ruộng phì nhiêu nổi tiếng nhất ở Hương
Thủy.
Thân phụ là cụ
Nguyễn Duy Bút, một bậc thâm nho lại có nghiên cứu về Phật học,
đạo đức, khi xả báo thân thọ 93 tuổi.
Thân mẫu là bậc mẫu nghi hiền
hòa, hiếu đạo. Nhờ phúc ấm ấy mà ngài đã sớm xuất gia, tầm sư
phỏng đạo.
Lên năm tuổi, ngài được theo Nho học và Phật học với phụ thân.
Năm Giáp Dần (1914), được bảy
tuổi liền đầu sư với tổ Giác Tiên tại Tổ đình Trúc Lâm.
2. Sự Nghiệp Tu Học:
Với bẩm chất thông minh, ngài
học kinh điển rất nhậm lẹ. Thời công phu mà chúng tăng thường
tụng mỗi buổi sáng, ngài chỉ học trong một tuần là thuộc nằm
lòng. Sư phụ cũng hài lòng mà chúng lý ai ai cũng nể phục. Chuyên tinh học hành kinh, luật và luận với sư phụ suốt bảy
năm liền.
Năm Tân Dậu (1921),
nhơn cậu Hoàng Cả (tức vua
Khải Định khi chưa tức vị),
lên chùa lạy Phật và viếng cảnh, nhận thấy ngài thông minh
đỉnh ngộ, cậu Hoàng Cả bèn xin tổ Giác Tiên cho đưa vào hoàng
cung để đào tạo thêm phần Nho học. Nhưng vì quyết chí học đạo
giải thoát, chí xuất trần quá mạnh, ngài chỉ ở trong hoàng
cung nội phủ vỏn vẹn một năm rồi cũng xin trở lại chùa cùng sư
phụ.
Năm Nhâm Tuất (1922), lên 15
tuổi, được bổn sư cho đăng đàn thọ Sa di Thập giới tại Đại
giới đàn Từ Hiếu.
Pháp danh:
Tâm Hương,
Pháp tự:
Mật Hiển,
Thuộc giòng Lâm
Tế chánh tông đời thứ 43.
Với đạo hạnh và uy
đức ấy, bổn sư cho ngài ra đảm nhiệm việc sơn môn để phát huy
đạo pháp trong thập niên đang chấn hưng Phật giáo tại miền
Trung, mặc dầu trong lúc này ngài chưa thọ Cụ túc giới.
Năm Ất Sửu (1927), vừa tròn
20 tuổi, ngài thọ giáo Mật tông với một vị Pháp sư người Tây
Tạng tại nhà ông Lương Tế Xuyên, ở Quảng Nam
(bấy giờ là
tòa Hành Chánh của thị xã Đà Nẵng). Theo học được hai năm, trong chuyến về thăm chùa và sư phụ,
ngài định muốn sang tận Trung hoa để học thêm Mật tông và có
cơ hội nghiên cứu thêm giáo lý Phật đà, thì Tổ bảo ở nhà để
cùng sơn môn chung lo công cuộc chấn hưng Phật giáo đang còn
phôi thai, cán bộ thì hiếm hoi, cuối cùng ngài đành phải vâng
lời và ở nhà lo Phật sự.
Lớp Đại học Phật giáo đầu
tiên được mở tại Trúc Lâm, sau đó dời qua Tổ đình Tây Thiên,
ngài đã theo học hết tất cả những chương trình một cách rốt
ráo và trọn vẹn. Bẩm chất thông minh nên ban Giảng huấn vô
cùng thương mến. Đặc biệt Hòa thượng Giám đốc Phước Huệ
thường tấm tắc khen thầm trong lúc chấm bài nộp quyển của ngài
cũng như khi đang giảng dạy tại lớp.
Hòa thượng Phước Huệ
vì tuổi già sức yếu, vả lại, cán bộ của đạo lúc này cũng tương
đối vững mạnh, ngài trở về lại Tổ đình Thập Tháp (Bình Định). Trước khi trở về, đức Từ Cung (mẹ của vua Bảo Đại) có
thưa hỏi lên ngài Phước Huệ như sau:
- “Sau khi
Hòa thượng về rồi, chúng con muốn học thêm giáo lý, kinh điển
thì biết làm sao ?”.
Hòa thượng
hoan hỉ trả lời:
-
“Sau này quý vị nào muốn học thêm kinh điển thì nên theo học
với chú Hiển (tức Hòa thượng Thích Mật Hiển bây giờ).
Cũng chính từ lời dạy ấy của Hòa
thượng Phước Huệ, mà năm Đinh Sửu (1937), vua Khải Định và đức
Từ Cung đã cung thỉnh ngài về cung An Định ở An Cựu để hướng
dẫn kinh điển cho Nguyễn Phước tộc.
Vì hoàn cảnh của đất nước trong
thời tao loạn do thực dân Pháp chiếm giữ làm thuộc địa, việc
đi lại ngày càng thêm khó khăn, mọi sinh hoạt từ chốn thiền
môn ra đến dân dã cũng đều bị đình trệ.
Năm Bính Tý (1936), vừa đúng 29
tuổi mới có Đại giới đàn mở tại Bình Định, ngài được đăng đàn
cầu thọ. Ngài thọ Tỳ kheo và Bồ tát giới do ngài Phước Huệ
làm Đàn đầu, đổ Thủ khoa, được chư vị Trưởng lão trong đàn
giới truyền trao Y bát và Tích trượng.
Tổ Giác Tiên cũng truyền kệ phú
pháp như sau:
Tâm Hương
(*)
pháp giới huân,
Xứ
xứ kết tường vân,
Phú
nhữ Tâm Hương tánh,
Cừ
kim chánh thị quân.
(*)
Tâm Hương
là Pháp danh của ngài Mật Hiển. Căn cứ vào Pháp danh để Tổ
đặt kệ phú pháp.
3. Ảnh Hưởng Của
Ngài Đối Với Đạo:
Ngài là một trong
bảy vị giảng sư đầu tiên “Cốt
Tủy Nghi Lễ Phật Giáo”.
Năm Kỷ Mão (1939) được bộ Lễ và
Sơn môn cung thỉnh chức vị Trú trì quốc tự Thánh Duyên (tức
chùa Túy Vân tại quận Vĩnh Lộc bây giờ).
Năm Nhâm Ngọ (1942), ngài
đứng ra vận động chư Tôn đức Tăng già để mở Đại giới đàn tại
Tổ đình Thuyền Tôn. Thiền sư Mật Thể và Sư bà Diệu Không đắc
giới ở Đại giới đàn này.
Năm 1949-1951, vì nhu cầu hoằng
truyền giới pháp, ngài phải vào tận Sa Đéc để giảng dạy kinh
điển cho Tăng Ni ở đây. Có đến 106 vị theo học với ngài trong
thời gian này. Trong số 106 vị ấy, có vị là cán bộ cao cấp của
Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất bây giờ.
(trước 30 tháng Tư – 1975).
Năm 1953-1955, Sơn môn Tăng già
cung thỉnh ngài đảm nhận chức Tổng trị sự Tăng già Trung Việt.
Năm Bính Thân (1956), ngài đại
diện Giáo hội và chính phủ Đệ Nhất Cộng Hòa đi dự Đại lễ Phật
đản tại Đông Hồi. Nhân dịp này, ngài đã được đi chiêm bái,
thăm viếng các Phật tích, chùa chiền, thắng cảnh của các nước
Thái Lan, Tích Lan, Miến Điện và Ai Lao … Khi trở về, ngài có
thuật lại chuyến đi này bằng một tác phẩm nhỏ:
Phật Đản Đông Hồi
(Năm 1965,
người viết có đọc được một lần, Tết Mậu Thân (1968), chùa
chiền bị hư hại, nên tác phẩm này cũng tan nát theo tủ kinh
sách của người viết).
Năm Mậu Tuất (1958), Giáo hội và
chính phủ cử đi dự Đại hội Hòa bình thế giới tại Nhật Bản.
Kể từ năm 1962 trở về sau này,
ngài là vị Đặc ủy Tăng sự của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam
Thống Nhất tỉnh Thừa Thiên - Huế. Ngài cũng là vị Giám luật
của Tăng Ni bản tỉnh.
Năm Quý Mão (1963), ngài là
Trưởng ban tổ chức Đại lễ Phật Đản 2507 tại Thừa Thiên. Cũng
trong mùa Phật Đản lịch sử này đã mở ra một trang sử mới cho
Phật giáo là xóa tan dụ số 10 mà nhà Ngô Đình đã lợi dụng để
tận dụng trong thời gian cầm quyền đàn áp Phật giáo c |