TIỂU SỬ
DANH TĂNG
VIỆT NAM
THẾ KỶ XX
Thích Đồng Bổn
chủ biên
TẬP II
--- o0o ---
V
PHẬT GIÁO GIAI ÐOẠN THỐNG NHẤT ÐẤT NƯỚC
(1975 – 1980)
Thống nhất đất
nước, một mơ ước lớn nhất của dân tộc và của Phật giáo đồ hai miền Nam
Bắc. Vận hội này là cơ sở để thực hiện thống nhất Phật giáo toàn quốc thực
sự được mở ra, tiếp nối công việc mà lần thống nhất Phật giáo trước chưa
làm được.
Tuy nhiên, còn
bao vấn đề khác biệt tồn tại giữa hai miền do hoàn cảnh lịch sử tạo thành
từ cuộc chiến để lại, chủ yếu là Phật giáo miền Nam. Giai đoạn này nổi bật
là việc thành lập Ban liên lạc Phật giáo Yêu nước ở các tỉnh thành (1976),
kế đến là thành lập Ban vận động Thống nhất Phật giáo Việt Nam (1979).
Cả nước có tất
cả 9 tổ chức, hệ phái Phật giáo tham gia vào tiến trình vận động thống
nhất :
1. Giáo hội Phật
giáo Thống nhất Việt Nam (miền Bắc).
2. Giáo hội Phật
giáo Việt Nam Thống nhất (miền Nam).
3. Giáo hội Phật
giáo Cổ truyền Việt Nam
4. Ban Liên lạc
Phật giáo Yêu nước thành phố Hồ Chí Minh.
5. Giáo hội Tăng
Già Nguyên Thủy Việt Nam
6. Hội Ðoàn kết
Sư Sãi yêu nước Tây Nam bộ.
7. Giáo hội Tăng
Già Khất sĩ Việt Nam
8. Thiên Thai
Giáo Quán Tông
9. Hội Phật học
Nam Việt (cư sĩ)
Ở giai đoạn này,
Tập thứ I đã giới thiệu 13 vị danh Tăng. Tập thứ II xin giới thiệu 6 vị
mãn duyên khi đã nhìn thấy được ngày đất nước thống nhất
HÒA THƯỢNG THÍCH HUỆ PHÁP (1887 – 1975)
Hòa thượng Thích
Huệ Pháp, thế danh Nguyễn Lộ, sinh ngày 13 tháng 8 năm Ðinh Hợi 1887, tại
thôn Bồ Ðề, xã Ðức Quang, nay là xã Ðức Nhuận, huyện Mộ Ðức, tỉnh Quảng
Ngãi.
Thân sinh là cụ
Nguyễn Vĩnh, một bậc lão nho tinh thông cả Dịch lý, toán số, suốt đời mở
lớp gia giáo phổ biến Nho học, cả vùng Mộ Ðức – Ðức Phổ có đến hàng trăm
môn đệ của Người, người dân Quảng Ngãi đương thời không ai là không nghe
đến tên cụ; Thân mẫu là cụ bà Lê Thị Long, con của một lão nho trong làng.
Ngài là con trai thứ trong gia đình bốn anh chị em, trưởng huynh mất sớm,
chị cả là thân mẫu Hòa thượng Khánh Anh, bậc cao Tăng lương đống của Phật
giáo Việt Nam, em gái út lập gia đình.
Thiếu thời Ngài
học chữ nho của thân sinh. Ngài thường được cụ bà dắt đi chùa Cảnh Tiên
gần nhà để lễ Phật và nghe Ðại lão Hòa thượng Hoằng Thanh giảng đạo; Ngài
cũng được cụ Nguyễn Vĩnh dắt về Tổ đình Thiên Ấn – Thạch Sơn học hỏi giáo
lý của quý Ðại lão Hòa thượng Hoằng Tịnh, Hoằng Thạc, Hoằng Ðức. Từ môi
trường này, Ngài được gặp và tham gia chống Pháp với nhóm cách mạng do nhà
chí sĩ Trần Cao Vân và cụ Huỳnh Thúc Kháng lãnh đạo.
Năm Kỷ Dậu 1909,
lúc 22 tuổi Ngài xin phép song thân cho xuất gia với Ðại lão Hòa thượng
Hoằng Thanh tại chùa Cảnh Tiên, được Bổn sư cho thọ giới Sa di và ban pháp
danh là Chơn Phước. Ngài tinh cần chấp tác học tập qui tắc thiền môn, ngõ
hầu làm long tượng Phật pháp cho tương lai.
Năm Tân Hợi
1911, Ngài được Bổn sư cho đăng đàn thọ Cụ túc giới tại Ðại giới đàn Tổ
đình Thiên Ấn và là Thủ Sa di tại giới đàn này. Năm ấy Ngài 24 tuổi, được
truyền Tổ ấn với pháp tự là Ðạo Thông. Sau khi đắc giới, Ngài tiếp tục tu
học tại Tổ đình Thiên Ấn – Thạch Sơn.
Năm Giáp Dần
1914, Ngài đi vào Bình Ðịnh để tham học với Quốc sư Phước Huệ và Pháp sư
Phổ Huệ. Duyên lành đã đến, Ngài gặp hai Phật tử Trừng Quế, Trừng Qui cúng
cho Ngài một thảo am tại đồi cát ở khu 6, thành phố Qui Nhơn để tu học.
Năm Ðinh Tỵ
1917, Ngài được chư Sơn thỉnh làm Ðệ nhất Tôn chứng Giới đàn chùa Trừng
Giác, Tuy Phước, Bình Ðịnh. Uy tín và đạo hạnh của Ngài lan rộng, nhờ sự
phát tâm của tín đồ nên từ một thảo am, Ngài đã xây dựng thành ngôi Tam
bảo Minh Tịnh được trang nghiêm vào năm Mậu Ngọ 1918.
Năm Giáp Tý
1924, Ngài được cung thỉnh làm Giáo thọ A Xà Lê tại Giới đàn chùa Linh
Phong, Phù Cát, Bình Ðịnh. Ðến năm Bính Dần 1926, Giới đàn chùa Phước
Quang, Quảng Ngãi cung thỉnh Ngài làm Yết Ma A Xà Lê.
Năm Ðinh Mão
1927, Ngài được thỉnh làm Chánh Ký trường Hương chùa Long Khánh, Qui Nhơn,
kiêm Giáo thọ Sư cùng quý Ngài : Trí Hải chùa Bích Liên; Như Phước chùa
Liên Tôn; Hoằng Thông chùa Bạch Sa, dưới quyền Chủ giảng của Quốc sư Phước
Huệ. Cùng năm này, Lưỡng Xuyên Phật học đường miền Nam thỉnh Ngài vào làm
Chủ giảng, Ngài đã cho Pháp sư Khánh Anh là một học trò ưu tú nhất vào đó
để thay Ngài.
Năm Nhâm Ngọ
1942, Ngài được chư Sơn thiền đức tỉnh Bình Ðịnh cung thỉnh vào ngôi Yết
Ma A Xà Lê trong Ðại giới đàn chùa Thiên Ðức, huyện Tuy Phước.
Năm Giáp Thân
1944, tức năm Bảo Ðại thứ 19, Ngài được triều đình Huế sắc chỉ khâm ban
đạo điệp Tăng Cang và sắc tứ Biển Ngạch chùa Minh Tịnh.
Năm Ất Dậu 1945,
hưởng ứng lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, Ngài tham gia mặt trận kháng
chiến và được bầu làm Chủ tịch Hội Phật giáo Cứu quốc tỉnh Bình Ðịnh.
Năm Ðinh Hợi
1947, Ngài được cung thỉnh làm Chứng minh giới đàn chùa Thiên Bình, An
Nhơn, Bình Ðịnh.
Năm Ðinh Dậu
1957, tại Ðại giới đàn chùa Nghĩa Phương – Nha Trang, Ngài được cung thỉnh
làm Hòa thượng Ðường đầu truyền giới. Cùng năm, Hội Phật giáo Tịnh độ Tông
thỉnh Ngài ngôi vị Chứng minh Ðại Ðạo sư Trung phần.
Năm Kỷ Hợi 1959,
Hội Phật giáo Cổ truyền Lục Hòa Tăng và Lục Hòa Phật tử thỉnh Ngài làm
Chứng minh Ðạo sư Trung phần.
Năm Nhâm Dần
1962, chư Sơn thiền đức tỉnh Bình Ðịnh tổ chức Ðại giới đàn tại Tổ đình
Minh Tịnh, cung thỉnh Ngài làm Hòa thượng Ðường đầu truyền giới.
Ngài là vị Pháp
sư, Tuyên Luật sư chuyên giảng kinh, luật, luận cho các trường Giới,
trường Hạ, trường Hương và được cung thỉnh làm Giáo thọ A Xà Lê, Yết Ma A
Xà Lê và Ðường đầu Hòa thượng cho nhiều giới đàn khắp nơi Trung, Nam phần.
Ngài đã khai sơn
và chủ trương tái thiết, trùng tu hàng trăm tự viện. Ðệ tử xuất gia hàng
trăm vị, có nhiều vị xuất chúng là bậc long tượng Phật pháp, lãnh đạo Giáo
hội. Ðệ tử tại gia của Ngài có đến hàng vạn người.
Một phần ba cuộc
đời của Ngài tuy có nhiều ảnh hưởng chính trị trong công cuộc chống thực
dân Pháp giành độc lập, nhưng nhờ giáo lý Phật đà thấm sâu, Ngài đã hiến
trọn vẹn cuộc đời phục vụ cho đạo pháp.
Công hạnh viên
mãn, tâm ý hoan hỷ, thân không bệnh tật, Ngài viên tịch lúc 11 giờ ngày 11
tháng 11 năm Ất Mão 1975, thế thọ 89 năm, đạo thọ 65 Hạ lạp. Tháp tàng
nhục cốt của Ngài ở hướng Nam chùa Minh Tịnh, thành phố Qui Nhơn.
HÒA THƯỢNG THÍCH TÔN THẮNG (1879 – 1976)
Hòa thượng Thích
Tôn Thắng, pháp danh Trừng Kệ, pháp tự Như Nhu, Ngài thế danh là Dương Văn
Minh, sinh ngày 29 tháng 2 năm Kỷ Sửu – 1889 (năm Thành Thái nguyên niên)
tại làng Hà My, tổng Bích La, phủ Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, thân phụ là
ông Dương Văn Hiếu và thân mẫu là bà Nguyễn Thị Tiện.
Ngài sinh trưởng
trong một gia đình có truyền thống Nho học và Phật học chuẩn mực và được
nuôi dạy theo khuôn mẫu, nên buổi thiếu thời Ngài đã sớm được tiếp cận với
kinh sách thánh hiền.
Năm Giáp Thìn
(1904), lúc lên 16 tuổi, Ngài được phép mẫu thân đến cầu xuất gia với Hòa
thượng Tâm Truyền, Tăng Cang chùa Báo Quốc và được Hòa thượng ban pháp
danh là Trừng Kệ. Ðó là năm đáng nhớ nhất cuộc đời Ngài : năm nhiều tỉnh
miền Bắc bị mất mùa, đói kém và hình ảnh cao đẹp nữa về vị vua mà Ngài
ngưỡng mộ lại phải thân hành ra tận miền Bắc để thăm hỏi, cứu trợ, ghi
thêm một nét đẹp nữa cho Ngài.
Năm Bính Ngọ
(1906), Ngài được Bổn sư cho thọ Sa di giới và được ban pháp tự là Như
Nhu. Ngay sau đó, vua Thành Thái truyền lệnh cho bộ Lễ sung Ngài vào ngạch
Tăng chùa Diệu Ðế (Gia Hội – Huế).
Năm Canh Tuất
(1910), khi hay tin và qua thời gian chiêm nghiệm về sự kiện vua Thành
Thái bị khâm sứ Trung Kỳ Lévêque bắt buộc thoái vị, nhường ngôi cho vua
Duy Tân (1907). Ngài được phép Bổn sư cho tạm rời xa kinh thành Huế, dạt
vào Quảng Nam, Khánh Hòa và Bình Thuận để cầu tham học. Ngài trụ lại thị
xã Ðà Nẵng, lập thảo am trú xứ tại làng Thạch Châu tu tập.
Năm Quý Sửu
(1913), Ngài trở về Huế thọ tang Hòa thượng Bổn sư Tâm Truyền đã viên
tịch. Tăng môn đại chúng cung thỉnh Hòa thượng Tâm Khoan kế vị trụ trì
chùa Báo Quốc và Ngài được Hòa thượng cử làm tri sự.
Năm Mậu Ngọ
(1918), sau một chuỗi sự kiện làm chạnh lòng người dân đế đô, nổi cộm nhất
là sự kiện cuộc khởi nghĩa của vua Duy Tân thất bại (1916), Ngài lại một
lần nữa trở vào Ðà Nẵng. Nơi đây Ngài khai sơn chùa Phổ Thiên tại làng
Bình Thuận (nay là chùa Phổ Ðà, cơ sở của trường Cơ bản Phật học Quảng Nam
– Ðà Nẵng).
Năm Quý Hợi
(1923), năm Khải Ðịnh thứ 7. Lúc này Ngài 34 tuổi mới thọ Cụ túc giới tại
Ðại giới đàn chùa Phước Quang, tỉnh Quảng Ngãi do Hòa thượng Hoằng Tịnh
làm Ðàn đầu truyền giới.
Năm Giáp Tý
(1924), Ngài đến cầu pháp với Hòa thượng Phước Trí chùa Tam Thai, núi Ngũ
Hành, Quảng Nam được Hòa thượng phú pháp với Pháp hiệu là Tôn Thắng.
Năm Mậu Thìn
(1928), Ngài được cung thỉnh làm Trị sự tại Ðại giới đàn chùa Từ Vân, Ðà
Nẵng do Hòa thượng Quảng Hương làm Ðàn đầu.
Năm Kỷ Tỵ
(1929), Ngài được mời làm Dẫn Lễ Sư tại Ðại giới đàn chùa Phước Lâm – Hội
An, do Hòa thượng Phước Trí làm Ðàn đầu.
Năm Canh Ngọ
(1930), Ngài đảm đương trụ trì chùa Phổ Thiên, đồng thời được Giáo hội
Tăng Già Ðà Nẵng cung thỉnh giữ chức vụ Kiểm Tăng.
Năm Nhâm Thân
(1932), hưởng ứng phong trào chấn hưng Phật giáo nổi lên ở khắp ba miền
đất nước, Ngài đứng ra sáng lập Ðà Thành Phật học Hội và cung thỉnh Hòa
thượng Bích Liên làm Hội trưởng. Trụ sở đặt tại chùa Phổ Thiên và cho xuất
bản tạp chí Tam Bảo làm cơ quan ngôn luận chính thức của Hội trong việc
hoằng dương chánh pháp.
Năm Ất Hợi
(1935), Ngài vào khai sơn chùa Tịnh Ðộ tại thị xã Tam Kỳ, nay là chi nhánh
trường Cơ bản Phật Học của tỉnh Quảng Nam-Ðà Nẵng.
Năm Bính Tý
(1936), để phát triển việc hoằng hóa Ni giới, cũng tại làng Bình Thuận –
Ðà Nẵng, Ngài lại khai sơn chùa Diệu Pháp để làm Phật Học Ni Viện.
Năm Mậu Dần
(1938), Ngài được cung thỉnh vào ngôi Tôn Chứng tại Ðại giới đàn chùa Tịnh
Quang, làng Ái Tử – Quảng Trị, do Hòa thượng Phước Huệ làm Ðàn đầu.
Năm Kỷ Mẹo
(1939), tại Ðại giới đàn chùa Liên Trì, Khánh Hòa, Ngài được mời làm Yết
Ma A-Xà-Lê, giới đàn cũng do Hòa thượng Phước Huệ làm Ðàn đầu.
Năm Tân Tỵ
(1941), Ngài được cung thỉnh làm Ðàn đầu tại Ðại giới đàn chùa Bình Quang
Ni Tự tại tỉnh Bình Thuận.
Năm Nhâm Ngọ
(1942), việc hóa đạo khắp nơi đã khởi sắc do sự đóng góp tích cực của Ngài
trong phong trào chấn hưng Phật giáo, nhưng Ngài cũng không quên nghĩ về
quê hương bản sở. Do đó, sau bao nhiêu năm trời xa cách Ngài về lại Quảng
Trị, việc đầu tiên là Ngài thành lập ngay Phật học đường tại chùa Hội Quán
và làm Giám đốc trong 3 năm.
Năm Ất Dậu
(1945) do biến chuyển lớn của thời cuộc, Ngài lại trở vào Ðà Nẵng tiến
hành trùng tu các chùa Phổ Thiên, Tịnh Ðộ và chùa Hội Quán.
Năm Bính Tuất
(1946) ý thức về tiền đồ Phật giáo mai sau, Ngài quyết định hiến cúng chùa
Phổ Thiên (sau là chùa Phổ Ðà) cho Giáo hội để mở Phật học viện có tầm vóc
quy mô – chi nhánh Phật học viện Trung phần ở Trung Trung bộ.
Năm Giáp Thìn
(1964), Ngài được tiến cử làm Chứng minh Ðạo sư Giáo hội Phật giáo Việt
Nam Thống nhất thị xã Ðà Nẵng.
Năm Bính Ngọ
(1966), Ngài được tiến cử vào Hội đồng Trưởng lão Viện Tăng Thống Giáo hội
Phật giáo Việt Nam Thống nhất.
Năm Canh Tuất
(1970), Ngài làm Chánh chủ Ðàn tại Ðại giới đàn Vĩnh Gia, được tổ chức tại
chùa Phổ Ðà – Ðà Nẵng (chùa Phổ Thiên trước đây). Từ đó đến năm Bính Thìn
(1976) Ngài được thỉnh làm thành viên Hội đồng Giáo phẩm Trung ương Giáo
hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất.
Ngày 16 tháng 3
năm Bính Thìn (1976), Ngài an nhiên thị tịch, trụ thế 87 năm, giới lạp 53
tuổi Hạ, môn đồ pháp quyến lập Bảo tháp Ngài tại chùa Tịnh Ðộ – thị xã Tam
Kỳ, tỉnh Quảng Nam – Ðà Nẵng.
HÒA THƯỢNG THÍCH MINH TRỰC (1895 – 1976)
Hòa thượng Thích
Minh Trực, pháp húy Chơn Như, thế danh là Võ Văn Thạnh, tự Trương Văn Học,
sinh năm Ất Mùi (1895), tại xã Phước Vân, tổng Lộc Thành Thượng, tỉnh Chợ
Lớn (cũ), nay là xã Phước Vân, huyện Cần Ðước, tỉnh Long An. Thân phụ Ngài
là cụ ông Trương Văn Bền, thân mẫu là cụ bà Võ Thị Mai, pháp danh Bất Phàm
tự Diệu Giác. Cả hai đều là cư sĩ Phật tử thuần thành. Ngài là con thứ 4
trong gia đình.
Ngài xuất thân
trong một gia đình thuộc thành phần trung nông, thân phụ mất sớm, cụ bà lo
nuôi dưỡng ăn học. Thuở nhỏ, Ngài được thân mẫu dẫn đến quy y Tam bảo ở
chùa Mỹ Phước, xã Phước Lợi, huyện Cần Ðước, tỉnh Long An. Sau đó, Ngài
tiếp tục lên Sài Gòn học Nho học và Tây học cho đến khi đỗ đạt. Do có túc
duyên với Phật pháp nhiều đời, nên ngoài kiến thức thế gian, Ngài còn
thường xuyên gần gũi các bậc cao Tăng thạc đức, các giới học giả trí thức,
để tham cứu kinh sách Tam giáo, và quyết định chọn cho mình một con đường
để đi, đó là Phật giáo.
Năm 29 tuổi
(1924), Ngài xuất gia tại chùa Tam Tông (Sài Gòn) rồi cùng các cụ Minh
Chánh, Minh Giáo, Minh Truyền, Minh Ðàm, Minh Thiện sáng lập Tam Tông Miếu
– Minh Lý Thánh Hội tại quận Ba, Sài Gòn. Trong thời gian tu học ở đây,
Ngài thiết lập thiền thất chuyên nghiên cứu Phật học và cùng với các vị
tôn túc danh Tăng : Tổ Khánh Hòa, Huệ Quang, Khánh Anh, Ðạt Thanh; Hòa
thượng Từ Quang, Thành Ðạo, Thiện Hòa, Thiện Hoa... học hỏi, trao đổi giáo
lý Phật đà. Ngoài ra, Ngài quan hệ và tham gia các phong trào chấn hưng
Phật giáo : Hội Nam Kỳ Nghiên cứu Phật Học, Giáo hội Lục Hòa Tăng, Giáo
hội Tăng Già Việt Nam, Hội Phật học Nam Việt để mở rộng sự nghiệp hoằng
pháp lợi sanh sau này.
Năm 1948 (nhằm
ngày 5 tháng 1 năm Mậu Tý), sau hơn 20 năm tu học tinh tấn, thân cận các
bậc Thiện tri thức, Ngài khai sơn Tổ đình Phật Bửu Thiền Tịnh Ðạo Tràng.
Ngài hiển dương pháp môn Thiền Tịnh song tu và được lưu truyền rộng rãi
cho đến ngày nay.
Theo Ngài, muốn
nhiếp hóa đồ chúng dễ dàng, phải kết hợp cả Thiền lẫn Tịnh, cả đốn lẫn
tiệm. Về thiền, Ngài căn cứ vào yếu chỉ kinh tạng Ðại thừa đốn ngộ : Duy
Ma Cật, Viên Giác, Pháp Bảo Ðàn... Về Tịnh độ, Ngài y cứ vào kinh Di Ðà
Ðại Bổn, Thiền Môn Nhựt Tụng mà Ngài diễn dịch rất chu đáo để hướng dẫn đồ
chúng trên đường tu học.
Vốn có căn bản
về Nho học lẫn Tây học, lại thêm sự thấu đạt nghĩa lý sâu xa của Phật
pháp, nên từ năm 1948 đến cuối đời, Ngài đã để hết tâm trí miệt mài dịch
kinh, viết sách để truyền đạt tư tưởng giáo lý của Phật Tổ, vừa phát huy
được truyền thống bản sắc văn hóa dân tộc, tụng kinh tiếng Việt. Những bộ
kinh được Ngài dịch ra Việt ngữ như : Nhựt Tụng, Pháp Bảo Ðàn, Duy Ma Cật,
Ðại Viên Giác, Ðốn Ngộ Nhập Ðạo, Di Ðà, Hồng Danh, Phổ Môn, Bát Nhã Tâm
Kinh và sáng tác Lễ Bổn, Tham Thiền Bửu Sám, Thiền Tịnh Chơn Ngôn, Xuân Di
Lặc và một số các thi kệ, liễn đối ở các tự viện.
Năm 1952, Ngài
là một trong quý Hòa thượng lãnh đạo các Giáo phái Phật giáo Nam Bộ cung
nghinh ngọc xá lợi Phật Tổ do Phái đoàn Phật giáo Tích Lan thỉnh theo,
trên đường đi Hội nghị Phật giáo ở Nhật Bản quá cảnh Sài Gòn, cũng trong
năm này, Hội Phật học Ðịnh Tường suy tôn Ngài làm Pháp chủ của Hội.
Năm 1953, Ngài
đã cùng Hòa thượng Ðạt Thanh và phái đoàn sang hóa đạo tại nước Cao Miên.
Năm 1955, Ngài
đã tham gia cùng phái đoàn miền Nam Việt Nam dự Hội nghị Bang Ðung tại Nam
Dương (Indonesia) và tại Nhật Bản. Ngài từng là Pháp sư trong các lễ hội
do Giáo hội bạn tổ chức.
Năm 1963, Ngài
là Cố vấn Ủy ban Liên phái Bảo vệ Phật giáo, lãnh đạo giáo phái Thiền Tịnh
Ðạo Tràng đứng chung với 11 tổ chức Phật giáo miền Nam, đấu tranh chống
chính sách kỳ thị, đàn áp Phật giáo của chế độ Ngô Ðình Diệm. Ngày
22.8.1963, Ngài và toàn bộ Tăng chúng Tổ đình đã bị chính quyền Diệm bắt
giam tại Rạch Cát cùng chung với các vị lãnh đạo Ủy ban Liên phái.
Năm 1964, Giáo
hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất được thành lập, Ngài là thành viên của
Hội đồng Trưởng lão Viện Tăng Thống. Sau đó, vì có quan điểm khác nhau,
nên một số tổ chức Phật giáo đã đứng ra ngoài Giáo hội Phật giáo Việt Nam
Thống nhất để thành lập Tổng Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Ngài được chư
tôn Hòa thượng lãnh đạo Tổng Giáo hội suy tôn lên ngôi vị Pháp chủ.
Trên bước đường
hành đạo, Ngài trải bao gian khổ qua các bước quan san hẻo lánh khó khăn,
Ngài đã cùng môn đệ xây dựng thêm nhiều cảnh chùa thuộc Tổ đình Phật Bửu
Thiền Tịnh Ðạo Tràng, cùng mang tên Phật Bửu tại Quảng Ngãi, Bình Ðịnh,
Châu Ðốc, Mỹ Tho, Bến Tre, Long An, Bà Rịa Vũng Tàu và các quận huyện ở
thành phố như : Quận 4, Bình Thạnh, Hóc Môn. Và năm 1974, thêm một ngôi
chùa Phật Bửu tại Long Hải được ra đời.
Năm 1975, vì
tuổi già sức yếu và thọ bệnh, Ngài cho xây tháp tại Phật Bửu Tự Hóc Môn và
di huấn cho đệ tử lo việc tu học, điều hành môn phái.
Thế sự vô
thường, có sinh có diệt. Ngày mồng 5 tháng 5 năm Bính Thìn (2.6.1976),
Ngài đã an nhiên thị tịch vào lúc 20 giờ sau thời kinh Di Ðà. Ngài trụ thế
82 tuổi, hưởng 52 tuổi đạo. Sau khi trà tỳ, xá lợi Ngài được tôn trí vào
các bảo tháp ở Tổ đình Phật Bửu ở quận 3, Phật Bửu Tự Hóc Môn và Phật Bửu
Tự Phước Vân.
Suốt cuộc đời tu
hành, Ngài đã có nhiều cống hiến cho công cuộc hoằng hóa lợi sanh. Ngài đã
kết hợp “Thiền Tịnh song tu” và xây dựng nhiều chùa cảnh làm nơi truyền bá
đạo pháp cũng như phiên dịch kinh tạng giúp cho hậu thế thuận đường tu
học. Ngài xứng đáng là một Trưởng lão tôn túc của Phật giáo miền Nam và
toàn thể Phật giáo Việt Nam.
HÒA THƯỢNG PHÁP VĨNH (1891 – 1977)
Hòa thượng Pháp
Vĩnh, pháp danh Dhammasàro, thế danh Nguyễn Thức sanh năm Tân Mão 1891
(Thành Thái năm thứ 3) tại thôn Văn Quang, xã Phước Quang, huyện Tuy
Phước, tỉnh Bình Ðịnh.
Ngài sinh ra và
lớn lên trong một gia đình Nho giáo nề nếp, thân phụ là cụ ông Nguyễn
Ðình, thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Biểu. Song thân Ngài đều là những cư sĩ
mộ đạo thuần thành.
Ngay từ thuở
nhỏ, Ngài đã tỏ ra thông minh có ý chí hướng thượng, được song thân cho
quy y Tam bảo làm người Phật tử thuần thành tại chùa Khánh Vân tỉnh Bình
Ðịnh. Ðã nhiều lần, Ngài có ý định xuất gia tu Phật, nhưng vốn dĩ sống
trong gia đình có truyền thống Nho học chuẩn mực, vả lại Phật cũng đã từng
dạy : “Phụng sự cha mẹ là cúng dường Như Lai”, nên đành giữ trọn chữ hiếu,
một lòng chờ đợi duyên lành.
Mãi đến năm
1945, xả bỏ hết mọi trần duyên thế sự để bước vào con đường giải thoát
thanh cao. Ngài quyết định xuất gia theo giáo đoàn Khất sĩ Minh Ðăng Quang
với pháp danh là Thiện Ngộ, làm người sứ giả Như Lai đi khắp nơi truyền bá
đạo mầu.
Trên bước đường
hóa duyên truyền đạo, một duyên may chợt đến, Ngài được gặp các vị Tăng sĩ
của Phật giáo nguyên thủy (Theravàda). Qua trao đổi kinh nghiệm tu tập và
giáo lý, Ngài mới nhận ra rằng : tu học Phật pháp có nhiều phương tiện,
nhiều con đường để đi về một điểm cuối, nên người tu hành tùy hợp căn cơ,
vừa sức của mình mà thực nghiệm. Do đó, một lần nữa, Ngài tạm biệt các
huynh đệ đồng tu ở giáo đoàn khất sĩ, đến cầu pháp thọ giới bên giáo đoàn
Phật giáo Nguyên thủy. Vào dịp này, có các giới tử theo Hòa thượng Thiện
Luật sang Campuchia tu học đạo pháp, Ngài liền tháp tùng đi theo, tinh cần
tu tập.
Mùa xuân năm
1950, Ngài được Hòa thượng Vĩsuddhiransĩ làm Thầy tế độ thọ giới Tỳ khưu,
dưới sự tuyên ngôn của vị Thầy Yết ma Candavijira và chư Tăng tham dự rất
đông. Hòa thượng tế độ ban cho Ngài pháp danh Dhammasàro tức là Pháp Vĩnh.
Sau khi thọ giới Tỳ khưu, Ngài chú tâm hành đạo và làm tròn phận sự của
một đệ tử đối với Thầy Tổ.
Năm 1955, sau 5
năm tu học ở nước ngoài, Ngài được phép trở về quê hương hoằng dương đạo
pháp và được mời làm thành viên trong Ban Chưởng quản Giáo hội Tăng Già
Nguyên thủy Việt Nam, khi Giáo hội được thành lập vào năm 1957.
Cuối năm 1957,
Giáo hội cử Ngài về quê hương Bình Ðịnh để hoằng pháp. Nơi đây, từ trước
đến giờ chưa có Phật giáo Nguyên thủy, nên có thể nói Ngài là vị Tổ đầu
tiên đem sắc thái Nam truyền, giáo lý Phật giáo Nguyên thủy về mảnh đất
này, mở rộng công việc giáo hóa độ sanh. Vốn là người sống trong địa
phương này từ nhỏ đến lớn, Ngài rất thấu hiểu các phong tục tập quán, nên
việc truyền bá giáo pháp không gặp nhiều trở ngại. Ði đến đâu, dân chúng,
Phật tử đều nhiệt tâm ủng hộ, quy thuận theo lời giảng dạy của Ngài.
Năm 1958, đức
hạnh của Ngài càng được nhiều người biết đến, tín đồ khắp nơi ngưỡng mộ
rất đông. Trước nhu cầu đó, Ngài cùng Phật tử kiến tạo chùa Phước Quang
tại thôn Văn Quang, xã Phước Quang, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Ðịnh để
tiện việc giáo hóa và phụng sự tín ngưỡng.
Những năm sau
đó, Ngài tiếp tục duy trì sứ mạng hoằng dương chánh pháp ngay tại địa
phương, đồng thời mở mang thêm các chùa cảnh trong tỉnh. Năm 1964, Ngài
thành lập Niệm Phật đường ở thôn An Hòa, xã Phước Quang, huyện Tuy Phước –
Bình Ðịnh. năm 1965, thành lập chùa Huệ Quang, số 16 Nguyễn Huệ, thành phố
Quy Nhơn – Bình Ðịnh.
Lúc này, tuổi
Ngài đã cao, thân tứ đại suy yếu dần, nhưng Ngài vẫn thường xuyên giảng
dạy đệ tử, thuyết pháp cho tín đồ. Nhiều giới tử xuất gia được Ngài tế độ,
dìu dắt nay trở thành những bậc Tăng tài của Giáo hội trong và ngoài nước.
Ðã đến lúc duyên
cõi này trọn phước, quả cõi khác đón chờ. Ngài an nhiên thị tịch vào lúc 5
giờ sáng ngày 25 tháng 12 năm Ðinh Tỵ 1977, trụ thế 86 tuổi, với 32 năm
xuất gia hành đạo.
Cuộc đời và sự
nghiệp tu hành phổ độ chúng sinh của Ngài thật bình dị trong sáng, một
niệm vì quê hương, đất nước, vì đạo pháp, con người. Ngài đã có công lớn
trong việc khai phá, phát triển Hệ phái Phật giáo Nguyên thủy ở tỉnh Bình
Ðịnh, góp phần bồi đắp cho mảnh đất này sắc thái đa dạng của ngôi nhà
chung Phật giáo Việt Nam ngày thêm phong phú.
HÒA THƯỢNG THÍCH GIÁC NGUYÊN (1877 – 1980)
Hòa thượng Thích
Giác Nguyên, pháp danh Trừng Văn, pháp tự Chế Ngộ, pháp hiệu Giác Nguyên.
Ngài thế danh Ðặng Văn Ngộ, sinh năm Ðinh Sửu (1877) tại làng Phủ Trung,
huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Ðịnh, thân phụ là cụ ông Ðặng Văn Gần, thân mẫu
là cụ bà Cù Thị Tộ thuộc gia đình nhân đức hiền lương.
Ngài sinh ra
trong một gia đình đạo đức truyền thống lâu đời. Năm lên 6 tuổi đã mồ côi
cha mẹ, Ngài phải nương tựa dưỡng phụ là một vị quan Thái giám thời bấy
giờ tên là Nguyễn Ðình Huề (Hữu).
Lúc còn nhỏ,
Ngài thường theo dưỡng phụ lên chùa Từ Hiếu, một nơi ký tự hương hỏa của
các vị Thái giám triều đình, để thắp hương, lễ Phật. Như có duyên lành từ
nhiều kiếp, Ngài cảm thấy mến mộ cảnh thiền môn, và xin phép dưỡng phụ
được xuất gia học đạo. Dưỡng phụ Ngài vui lòng chấp thuận và tích cực hỗ
trợ cả tinh thần vật chất cho Ngài trên bước đường tu học.
Mùa xuân năm Tân
Mão (1891), Ngài xin thế độ xuất gia với Hòa thượng Tâm Tịnh tại chùa Từ
Hiếu. Sau 5 năm học đạo, năm Bính Thân (1896), Ngài chính thức được Hòa
thượng Tâm Tịnh hứa khả làm trưởng tử và được thọ giới Sa di với pháp danh
Trừng Văn, tự Chí Ngộ. Những pháp đệ của Ngài là quý Hòa thượng Giác Viên;
Giác Tiên; Giác Nhiên (đệ nhị Tăng Thống giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống
nhất); Giác Hạnh; Giác Hải; Giác Bổn; Giác Thanh (Hòa thượng Ðôn Hậu).
Năm Quý Mão
(1903), Hòa thượng Tâm Tịnh nhường chùa Từ Hiếu lại cho môn phái, Ngài
theo Bổn sư đến lập thảo lư mang tên Thiếu Lâm Am trên ngọn đồi phía Nam -
đàn Nam Giao thuộc thôn Thuận Hòa, xã Thủy Xuân để tịnh tu đạo nghiệp.
Năm Canh Tuất
(1910), Ngài thọ Cụ túc giới tại Giới đàn chùa Phước Lâm ở Hội An do Tổ
Vĩnh Gia làm Ðường đầu Hòa thượng, được đắc pháp lúc 33 tuổi hiệu là Giác
Nguyên. Tăng chúng đương thời đã suy tôn Ngài làm Thủ tọa chùa Tây Thiên,
đến khi Hòa thượng Tâm Tịnh viên tịch, Ngài được kế thừa chức trụ trì để
hưng long Phật pháp và hướng dẫn đồ chúng. Với trách nhiệm mới, Ngài luôn
luôn cần mẫn, giới đức tinh nghiêm làm gương mẫu trong đại chúng.
Năm Ất Sửu
(1925) do đức độ và uy tín của Ngài mỗi lúc thêm cao, cảm hóa được trên từ
vua, quan; đến hàng bao tín đồ Phật tử. Tất cả đã hỗ trợ Ngài xây dựng
ngôi thảo am thành một ngôi chùa trang nghiêm “Tây Thiên Tự” để hoằng
dương đạo pháp. Năm sau, được sự yểm trợ của nhà vua, Ngài xây dựng và an
vị tượng đức Phật A Di Ðà uy nghi lộng lẫy. Ðến đầu niên hiệu Bảo Ðại
(1926), chùa được ban hiệu là Sắc tứ Tây Thiên Di Ðà Tự.
Trên bước đường
tu tập, Ngài nổi tiếng là bậc giới đức thanh tịnh, bình dị, khiêm cung và
không xao lãng việc giáo hóa độ sanh.
Năm Canh Ngọ
(1930), với mục đích đào tạo Tăng tài, truyền thừa Tổ ấn mai sau, Ngài
cùng với một số tôn túc, pháp hữu cùng chung chí hướng thiết lập trường
Cao đẳng Phật học tại chùa Tây Thiên và cung thỉnh Hòa thượng Phước Huệ
chùa Thập Tháp - Bình Ðịnh làm Thượng thủ Giáo thọ. Những vị được đào tạo
tại đây sau này đều trở thành trụ cột của Giáo hội như Hòa thượng Bích
Phong, Ðôn Hậu, Trí Thủ, Mật Hiển, Mật Nguyện, Mật Thể, Thiện Trí... đều ở
trong hàng lãnh đạo Phật giáo Việt Nam.
Là một trụ trì
của Tổ đình, Ngài luôn luôn nêu cao tấm gương đạo hạnh sách tấn hàng Tăng
Ni, Phật tử noi theo. Tuy Ngài là vị có vốn học chưa thể so với các bậc
đồng tu khác, nhưng lại có trí tuệ minh mẫn, và công phu chuyên trì giới
định nghiêm mật. Hàng năm, ngoài ba tháng hạ an cư, Ngài còn kiết Thất tu
niệm trong những tháng Thu Ðông. Từ năm Kỷ Sửu (1949) đến năm Giáp Ngọ
(1954), Ngài phát nguyện liên tục lễ bái “Hồng danh Vạn Phật” và trì tụng
Tam Bảo kinh, mặc dù lúc ấy tuổi Ngài quá thất tuần.
Năm Quý Mão
(1963) và năm Bính Ngọ (1966), Ngài đã cùng các vị cao Tăng xuống đường
tuyệt thực để hướng dẫn cuộc đấu tranh bất bạo động chống chế độ độc tài
kỳ thị tôn giáo của gia đình nhà Ngô và các chánh quyền kế tiếp. Ngoài ra,
Ngài còn làm Giới sư, Chứng minh sư trong các Ðại giới đàn cũng như các
đại hội Phật giáo toàn quốc tại Sài Gòn lúc bấy giờ.
Phật Ðản năm
Ðinh mùi (1967), Ngài đứng ra lập Tịnh nghiệp đạo tràng Tây Thiên, với sự
hỗ trợ và chấp thuận của Giáo hội Phật giáo Thừa Thiên và miền Vạn Hạnh.
Mặc dù tuổi già
sức yếu, hàng ngày Ngài vẫn tinh tấn tu hành, hướng dẫn Tăng Ni, Phật tử
tấn tu huệ học. Các đệ tử của Ngài như Hòa thượng Thích Thiện Hỷ, Nhật
Liên, Thiện Châu đều là những bậc pháp khí Ðại thừa, hiển dương chánh pháp
cho đến ngày nay. Ðối với tín đồ, Ngài ân cần chỉ bảo thực hành pháp môn
trì danh niệm Phật để được vãng sanh tịnh độ.
Ðệ tử của Ngài
nhiều lần định tổ chức lễ thượng thọ để báo đáp công ơn dạy dỗ trong muôn
một, nhưng Ngài đều từ chối và bảo “Hãy dùng số tịnh tài ấy để đúc tượng,
sửa chùa, bố thí cho những người nghèo khổ”.
Cuộc đời Ngài
cho đến lúc trăm tuổi, không lúc nào không nghĩ đến việc tu hành và lợi
lạc quần sanh. Nếp sống giản dị khiêm tốn, tâm hồn trong sáng thanh cao,
khiến khắp nơi từ lãnh đạo Giáo hội, các bậc tôn túc Trưởng lão cùng thời,
đến hàng tứ chúng môn đồ ai ai cũng đều cảm kích, tôn phục.
Ngày mồng một
tháng Giêng năm Canh Thân, tức ngày 16 tháng 2 năm 1980, nhằm ngày đầu năm
Tết Nguyên Ðán, vào lúc 01 giờ sáng, Ngài đã an nhiên thị tịch, đi về cảnh
Phật. Ngài trụ thế 103 tuổi, giới lạp 70 tuổi Hạ.
Hòa thượng Thích
Giác Nguyên, sau hơn một thế kỷ làm bậc “xuất trần Thượng sĩ” với sự
nghiệp hoằng dương chánh pháp và phục vụ nhân sinh to lớn. Một bậc chân tu
đạo hạnh, một bậc tôn sư từ ái, thường che chở, sách tấn Tăng Ni, Phật tử
trên bước đường tu học, vẫn luôn được kính ngưỡng trong lòng mọi người
giữa chốn Tùng lâm Phật địa.
HÒA THƯỢNG THÍCH HUỆ HÒA (1915 – 1980)
Hòa thượng pháp
danh Niệm Hòa, pháp tự Hồng Từ, pháp hiệu Huệ Hòa. Ngài thế danh là Huỳnh
Văn Nhành, sinh năm Ất Mão (1915) tại xã Bình Chánh, Tam Bình, quận Cai
Lậy, tỉnh Mỹ Tho (Tiền Giang), thân phụ là cụ ông Huỳnh Văn Kiện, thân mẫu
là cụ bà Trần Thị Khuê. Ngài là con thứ mười trong gia đình có nhiều anh
em. Gia đình Ngài nhiều đời hấp thụ Nho giáo, hiền lương rất mực, trong
gia tộc Ngài có hai vị xuất gia tu Phật.
Thuở nhỏ Ngài
thường theo mẹ đến chùa Hưng Long, xã Phú Quý lễ Phật nghe kinh, cũng từ
đấy thiện căn sẵn có dần dà kết nụ. Năm 16 tuổi (1929 – Kỷ Tỵ), Ngài phát
tâm xuất gia với Hòa thượng Huệ Tiên, chùa Hưng Long, được Hòa thượng hứa
khả thế phát và cho pháp danh là Niệm Hòa.
Năm 1932 (Nhâm
Thân), lúc này Ngài vừa tròn 17 tuổi, Hòa thượng Bổn sư cho Ngài thọ Sa di
giới tại trường Kỳ chùa Minh Ðức, xã Phú Túc, Bến Tre.
Năm 1933 (Quý
Dậu), Ngài sang Mỹ Tho nhập chúng học kinh luật tại chùa Vĩnh Tràng dưới
sự giảng dạy của Hòa thượng Quảng Ân, tọa chủ chùa Linh Phước – Phật Ðá.
Năm 1934 (Giáp
Tuất), Ngài sang Sa Ðéc cầu pháp với Hòa thượng Chánh Thành chùa Vạn An,
được Hòa thượng cho pháp hiệu là Huệ Hòa, húy Hồng Từ. Sau đó Ngài ở lại
đây tu học, cũng trong năm này Ngài được đăng đàn thọ Cụ túc giới.
Năm 1936 (Bính
Tý), bổn đạo chùa Hưng Lâm xã Giao Long (Bến Tre) thỉnh Ngài về trụ trì. Ở
đây được một năm, Ngài tiến cử Thầy Quảng Tăng thay thế đảm nhiệm ngôi vị
trụ trì chùa Hưng Lâm, còn Ngài sang Mỹ Tho, đến chùa Linh Phong Cổ tự
nhập chúng tu học, đạo tràng này do Hòa thượng Kiểu Lợi làm Pháp sư.
Năm 1944 (Giáp
Thân), trường gia giáo Linh Phong mãn duyên. Ngài trở về Bến Tre nhập
chúng tại trường Phật học Phước Duyên. Trường này do Hòa thượng Hiển Pháp
mở ra và Hòa thượng Pháp sư Kiểu Lợi đảm trách giảng dạy, ở trường này,
Ngài được bầu làm chánh Duy Na.
Năm 1945 (Ất
Dậu), ông bà Hồ Văn Vàng ở xã Phú Nhơn, Bến Tre phát tâm cất một ngôi
chùa, kiến trúc cây lá đơn sơn, lấy tên Vạn Phước. Mến mộ đạo hạnh của
Ngài, hai ông bà đến chùa Phước Duyên thỉnh Ngài về trụ trì và Ngài đã về
đây hóa duyên cho đến lúc cuối đời.
Với đạo đức cao
dầy, Phật học uyên thâm, tánh tình hòa nhã, hoan hỷ nên Ngài được bổn đạo
gần xa cảm mến quy ngưỡng rất đông, ngôi chùa Vạn Phước ngày càng hưng
thịnh. Năm 1959 (Kỷ Hợi), Ngài cho tiến hành tái thiết lại ngôi Tam bảo
Vạn Phước, mái ngói nền gạch cao rộng, khang trang.
Mặc dù công việc
trụ trì có đa đoan nhưng Ngài vẫn đáp lại lòng kỳ vọng của Tăng Ni tỉnh
nhà, đảm nhiệm nhiều chức vụ quan trọng của Giáo hội giao phó.
Từ năm 1947 đến
năm 1955, Ngài giữ chức vụ Chánh Thư ký Giáo hội Tăng Già tỉnh Mỹ Tho.
Năm 1966 đến năm
1971, Ngài lại đảm nhiệm chức vụ Chánh Thư ký Giáo hội Lục Hòa Tăng tỉnh
Mỹ Tho.
Năm Nhâm Tý
1972, Ngài được Tăng Ni suy cử làm Tăng trưởng Giáo hội Lục Hòa Tăng tỉnh
Mỹ Tho.
Ngoài những công
tác thuần túy Phật sự ra, Ngài còn là người có tinh thần yêu nước rất cao.
Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, rồi đến chống Mỹ, Ngài luôn âm thầm
trợ giúp cách mạng, bằng nhiều hình thức, hoặc tiếp tế lương thực, thuốc
men, hoặc bảo mật cơ sở, hoặc che dấu cán bộ v.v... Nhiều cán bộ cao cấp
như Hòa thượng Thiện Hào, Hòa thượng Minh Nguyệt, Hòa thượng Pháp Tràng,
trong thời kỳ hoạt động kháng chiến từng được Ngài che dấu, giúp đỡ.
Ngoài ra, còn
biết bao thanh niên trong lứa tuổi quân dịch được Ngài cưu mang dưới lớp
áo tu sĩ, trợ giúp để họ khỏi phải cầm súng chống lại đồng bào, Ngài làm
mọi việc với tinh thần vô ngã, từ bi của nhà Phật, nên việc nào Ngài cũng
tận tâm tận lực.
Năm 1980 (Canh
Thân), Ngài về Tổ đình Hưng Long (Nhị Quý, Mỹ Tho) dự lễ Kỵ Tổ. Lúc trở
về, gần đến chùa Linh Phước (Mỹ Tho), Ngài gặp tai nạn xe, nên phải nằm
viện một thời gian. Từ đây, sức khỏe Ngài suy yếu dần.
Trong giai đoạn
đang nằm dưỡng bệnh ở chùa, Ngài thấy ngôi Giảng đường hư mục quá nhiều,
không đành lòng, Ngài sai đệ tử kêu thợ tới tu sửa. Môn nhơn đệ tử thương
Ngài nên xin hoãn lại, chờ khi bệnh Ngài thuyên giảm hãy thi công, nhưng
Ngài không bằng lòng, nói rằng : “Thân này đau mạnh, đi ở, là chuyện
thường. Chùa hư thì phải sửa, sửa rồi ai ở cũng được”.
Thế là Ngài
cương quyết thực hiện ý nguyện của mình. Ngày 16 tháng 10 khởi công, được
gần một tháng, ngôi Giảng đường sắp sửa hoàn thành, thì Ngài thâu thần thị
tịch, vào lúc 8 giờ 30 phút sáng ngày 11 tháng 11 năm Canh Thân (tức ngày
17 tháng 12 năm 1980), Ngài thọ thế 65 năm, giới lạp trải qua 32 mùa Hạ.
HÒA THƯỢNG THÍCH THIÊN ÂN(1925 – 1980)
Hòa thượng Thích
Thiên Ân, thế danh Ðoàn Văn An, sinh ngày 22 tháng 9 năm Ất Sửu 1925, tại
làng An Truyền, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên. Thân phụ của Ngài là Ðoàn
Mễ, sau xuất gia là Thượng tọa Thích Tiêu Diêu một bậc tử đạo Vị pháp
thiêu thân, thân mẫu là một tín nữ chuyên lo công quả ở chùa Báo Quốc và
tu viện Quảng Hương Già Lam, Ngài là con trai thứ trong một gia đình có 4
anh em.
Ngài xuất thân
trong một gia đình thế gia vọng tộc, có truyền thống kính tin Phật pháp
lâu đời. Nhờ duyên gần gũi Tam bảo từ thuở nhỏ, Ngài đã sớm mến cảnh thiền
môn với tiếng kệ câu kinh, nên năm lên 10 tuổi (1935), Ngài theo bước phụ
thân xin xuất gia đầu Phật tại chùa Báo Quốc, làm đệ tử của Hòa thượng
Phước Hậu, được Bổn sư ban pháp danh là Thiên Ân, Ngài tinh tấn chấp tác,
học tập thiền môn qui tắc, hầu cận sư trưởng.
Năm Tân Tỵ 1941,
khi được 16 tuổi, Ngài được Bổn sư cho thọ giới Sa di tại giới đàn chùa
Quốc Ân – Huế, do Hòa thượng Ðắc Quang làm Ðường đầu truyền giới.
Năm Mậu Tý 1948,
Ngài thọ Cụ túc giới tại giới đàn Hộ Quốc Ðàn, tổ chức tại Tổ đình Báo
Quốc, do Hòa thượng Tịnh Khiết làm Ðường đầu truyền giới. Ðồng khóa với
Ngài, còn có các vị Minh Châu; Ðức Tâm; Minh Tánh...
Năm Giáp Ngọ
1954, với khả năng Phật học và thế học xuất chúng, Ngài được chư tôn đức
cho xuất dương du học tại Nhật Bản. Ðến nước Nhật, Ngài vào học ở Ðại học
đường Waseda, là một trường đại học nổi tiếng. Trải qua 6 năm miệt mài đèn
sách, Ngài đậu Tiến sĩ Văn Chương vào năm 1960, sau đó Ngài về nước, trong
khi chờ Giáo hội bố trí công tác, Ngài nhận lời thỉnh giảng ở các trường
đại học.
Năm Tân Sửu
1961, với mơ ước thành lập một viện đại học riêng của Phật giáo. Ngài được
lời khuyên của các vị tôn túc lãnh đạo Giáo hội, cần phải trau giồi thêm
kinh nghiệm, phương pháp quản lý một đại học Phật giáo có tầm cỡ quốc tế.
Vì thế Ngài lại xuất dương để tu nghiệp. Ðến Nhật Bản lần này, Ngài đã tìm
học pháp môn Thiền Rinzai (Lâm Tế) chính thống của các thiền sư Nhật Bản
và thành tựu được sở nguyện này.
Năm Quý Mão
1963, thời cuộc chính trị trong nước đã không thuận lợi như ý định, do sự
đàn áp Phật giáo của chính quyền Ngô Ðình Diệm, dẫn đến cuộc đấu tranh của
Phật giáo đồ trên toàn miền Nam Việt Nam. Nặng lòng vì đạo pháp, Ngài bèn
trở về nước cùng chư tôn đức lãnh đạo Giáo hội và Tăng Ni Phật tử tham gia
công cuộc đấu tranh. Ngài bị chính quyền Diệm bắt giam chung với chư tôn
đức lãnh đạo trong cuộc tổng tấn công các chùa vào ngày 20 tháng 8 năm
1963, đòn cuối cùng báo hiệu trước sự sụp đổ của một chính quyền bạo tàn.
Năm Giáp Thìn
1964, sau pháp nạn, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất được thành lập.
Ngài được cử làm Ủy viên Phật học vụ thuộc Tổng vụ Tăng sự. Ngày 13 tháng
3 cùng năm, Viện Cao đẳng Phật học được thành lập do Hòa thượng Thích Trí
Thủ làm Viện trưởng, Hòa thượng Thích Minh Châu làm Phó Viện trưởng, Ngài
làm Giáo Thọ trưởng. Thời gian đầu tiên, Viện Cao đẳng Phật học đặt tại
chùa Pháp Hội ở đường Phan Thanh Giản, Sài Gòn, có hai lớp học giảng dạy
tại chùa Xá Lợi, quận Ba – Sài Gòn.
Năm Bính Ngọ
1966, Ngài được Cơ quan Văn hóa Á Châu của Liên hiệp quốc mời hợp tác
giảng dạy trong chương trình trao đổi giáo sư. Mùa hè năm ấy, Ngài lên
đường sang Mỹ quốc, giảng dạy tại Ðại học đường Nam California ở thành phố
Los Angeles, với tư cách là Giáo sư thỉnh giảng về ngôn ngữ và triết học.
Tại đây, Ngài được sinh viên yêu cầu dạy phương pháp thực hành thiền định
và sau đó lập nên nhóm nghiên cứu Phật học đầu tiên.
Năm Ðinh Mùi
1967, sau khi kết thúc chương trình giảng dạy Ðại học đường, Ngài dự định
sẽ về Việt Nam, nhưng thiền sinh, sinh viên Mỹ thỉnh cầu Ngài ở lại để
hướng dẫn tu học. Ngài được xem là vị Tăng sĩ Việt Nam đầu tiên hoằng pháp
tại nước Mỹ. Khởi đầu, Ngài thuê một căn hộ ở phía nam đại lộ Vermont –
Los Angeles để hướng dẫn sinh viên Mỹ học thiền theo truyền thống Nhật
Bản. Do ngày càng đông giới thanh niên Mỹ theo học, Ngài thành lập Trung
tâm Thiền học Quốc tế (International Buddhist Meditation Center) tọa lạc
tại South New Hampshire – Los Angeles. Ngay từ những ngày đầu thành lập,
đã có nhiều sinh viên Mỹ xin xuất gia tu học; nổi bật trong số đó có Sư cô
Karuna Dharma, là một Tiến sĩ Phật học, người kế tiếp sự nghiệp của Ngài
sau này.
Kế tiếp ba năm
sau đó, Ngài xây dựng một ngôi chùa lấy tên là chùa Phật Giáo Việt Nam,
ngôi chùa Việt đầu tiên trên đất Mỹ cho cộng đồng người Việt ở California
có nơi quy tụ chiêm bái và tu học.
Tháng 10 năm
1973, Ngài kết hợp với các nhà giáo dục Mỹ, Nhật, Triều Tiên, Tây Tạng,
Tích Lan để sáng lập trường Ðại học Ðông Phương (University of Oriental
Studies), một nơi thu hút đông đảo sinh viên Mỹ ghi danh học Phật học,
ngôn ngữ và triết học phương Ðông.
Năm Giáp Dần
1974, Ngài tổ chức Ðại giới đàn để truyền giới Tỳ kheo, Tỳ kheo ni và Pháp
sư (Nhà truyền giáo cư sĩ 25 giới) cho người Mỹ đến tu học với Ngài. Trong
quá trình hoằng pháp ở Mỹ, Ngài quan tâm đến việc đào tạo thêm nhiều Pháp
sư cư sĩ, người có thể đi vào mọi tầng lớp xã hội phương Tây để truyền dạy
chân lý nhà Phật.
Ðầu tháng 9 năm
1980, Ngài cảm thấy pháp thể khiếm an, bác sĩ cho biết Ngài mắc phải bệnh
nan y do u não và ung thư gan, nhưng Ngài vẫn tiếp tục miệt mài với công
tác hoằng pháp. Trong những tháng cuối cùng của cuộc đời, người ta thường
nhìn thấy Ngài ngồi một cách thanh thản trên các bậc thang của tháp
chuông, họ cảm phục năng lực tinh thần của Ngài kiên định vượt qua sự cam
chịu của tật bệnh.
Ngày 23 tháng 11
năm Canh Thân 1980, Ngài đã viên tịch ở tuổi 75, với 52 Hạ lạp. Ngài ra đi
trong sự tiếc thương đưa tiễn của hàng trăm ngàn người Việt tại Mỹ và hàng
ngàn thiền sinh người Mỹ học trò của Ngài. Một Thiền sinh người Mỹ nói :
“Ngài là sức mạnh, là chỗ dựa trong đời sống tu tập của chúng tôi. Ngài đã
dạy chúng tôi biết thế nào là sự vô thường, biến loạn của vạn vật, nhưng
chúng tôi không nghĩ là mất Ngài sớm như vậy”.
Trong cuộc đời
hoằng pháp lợi sanh, Ngài đã để lại dấu ấn cho đời qua các tác phẩm :
- Phật Pháp
(viết chung với 3 tác giả)
- Trao đổi văn
hóa Việt – Nhật
- Buddhism and
Zen in Vietnam.
Sự nghiệp hoằng
pháp của Hòa thượng Thích Thiên Ân được các đệ tử của Ngài kế thừa và phát
triển mạnh mẽ trên đất Mỹ. Ngài xứng đáng là một Tăng sĩ Việt Nam tiêu
biểu trong số các nhà Sư châu Á đầu tiên hoằng pháp trên đất Mỹ.
--- o0o ---
[
Mục Lục ]
[
Phần tiếp theo ]
--- o0o ---
Trình bày: Nhị Tường
Cập nhật: 01-02-2003