TIỂU SỬ
DANH TĂNG
VIỆT NAM
THẾ KỶ XX
Thích Đồng Bổn
chủ biên
TẬP II
--- o0o ---
IV
PHẬT GIÁO
GIAI ÐOẠN ÐẤT NƯỚC BỊ CHIA ÐÔI (1957 – 1974)
(tiếp theo)
HÒA
THƯỢNG
SUVANNA DHAMMA
TĂNG SANH (1897 – 1970)
Hòa thượng pháp danh Suvanna
Dhamma (Thiện Pháp). Thế danh Tăng Sanh, sinh năm 1897 nhằm ngày 6 tháng 4
năm Ðinh Dậu, tại làng Gò Ðất, xã Bình An, huyện Châu Thành, tỉnh Rạch
Giá.
Ngài xuất thân từ một gia đình
nông dân thuần hậu, thân phụ là cụ ông Tăng Keo và thân mẫu là cụ bà Danh
Thị Ni. Ngài là người con út trong gia đình, trên Ngài còn có 7 anh chị.
Năm 1905, khi lên 8 tuổi, Ngài
được song thân cho vào chùa Bom-Pênh-Chey-Svai, xã Sóc Sơn, huyện Châu
Thành học chữ Khmer với Ngài Danh Huôi.
Năm 1909, sau hơn 4 năm học
chữ, làm quen nếp sống giải thoát, Ngài xin phép cha, mẹ được cắt ái từ
thân, phát tâm xuất gia lúc 12 tuổi và được thọ giới Sa di nơi Hòa thượng
Danh Huôi.
Ðến năm 19 tuổi, Ngài xin phép
Thầy tế độ trở về chùa Gò Ðất ở quê của mình theo truyền thống để thăm xóm
làng, bái biệt cha mẹ, trước khi chính thức bước vào hàng Tăng lữ.
Năm 1917, khi tròn đủ 20 tuổi,
Ngài được thọ Cụ túc giới tại Ðại giới đàn chùa Suvanna Ransì Khlang Ong
(Minh Lương, Châu Thành, Kiên Giang). Do Hòa thượng Tăng Phêng làm Thầy tế
độ, Ngài Danh Tuôch làm Thầy Giáo thọ và Ngài Tăng Hiên làm Thầy Yết ma.
Sau khi thọ Cụ túc giới, Ngài trở về chùa Gò Ðất nhập Hạ hết hai năm để
trau dồi đạo nghiệp.
Năm 1920, với mong mỏi tiến tu
Tam học, Ngài xin phép thầy trụ trì chùa Gò Ðất, đến chùa Suvanna Ransì
Khlang Ong, là nơi Ngài thọ Ðại giới, để được thân cận thầy Tổ phụng Sư
học đạo. Nơi đây, Ngài tiếp tục học chữ Khmer, học giáo lý Vini (Vinaya);
chẳng bao lâu, với sự nỗ lực, tinh cần, Ngài đã khá tinh thông Phật pháp,
thông thạo việc chép kinh điển trên lá muôn. Tiếng tăm của sự tinh thông
ấy bắt đầu tỏa sáng; Hòa thượng Trưởng ban Phật giáo tỉnh là Mé-Kon Gana
đã mời Ngài cộng tác, giao trách nhiệm là người chuyên chép kinh điển trên
lá muôn, soạn thảo tài liệu để học tập và truyền bá Phật pháp.
Năm 1924, thấy Ngài có chí khí
hoằng dương đạo pháp, có đức hạnh nhu hòa, khiêm tốn, Hòa thượng Mé-Kon,
cùng thầy Tổ đã tấn phong Ngài lên Thượng tọa, và giao phó trách nhiệm làm
Phó trụ trì chùa Suvanna Ransì Khlang Ong. Với trọng trách mới, Ngài càng
ra sức tu trì, giới luật nghiêm minh, và góp phần sửa sang chùa cảnh, xây
dựng thêm liêu, cốc, trai đường, giảng đường làm nơi tu học cho Tăng
chúng.
Một thời gian sau, Hòa thượng
Tăng Phêng viên tịch, với sự chuyên tâm tu học và chăm phụng sự đạo pháp,
phục vụ chúng sanh, Ngài được Tăng chúng trong bổn tự, cùng đông đảo đồng
bào Phật tử tín nhiệm đề cử lên chức vị trụ trì kế vị.
Năm 1942, nhờ uy tín và đạo
hạnh nghiêm minh, Ngài được các hàng giáo phẩm tấn phong lên Hòa thượng.
Từ thời gian này trở đi đến cuối đời, Ngài không ngừng làm việc phụng sự
đạo pháp. Trong những năm chiến tranh tàn phá, Ngài đã cố công sửa sang
lại chùa cảnh, mở rộng khuôn viên đất chùa, để làm nơi cho Tăng chúng tu
học và đồng bào Phật tử lui tới sinh hoạt tín ngưỡng. Ngoài ra, với tâm
niệm “Tu phải Học”, Ngài cho xây cất trường lớp, mở lớp học phổ cập dạy
chữ, dạy kinh để thoát nạn mù chữ cho các Sư và tín đồ dân chúng địa
phương.
Năm 1962, qua những năm tích
cực hoạt động phụng đạo, ích đời, Ngài được tiến cử chức vị Phó Mé-Kon.
Lúc này, tuổi đời đã 65, tuy tuổi cao sức có yếu, nhưng Ngài vẫn cố gắng
phục vụ Phật pháp, kêu gọi hướng dẫn đồng bào Phật tử tu học, đặc biệt
hướng dẫn các vị trụ trì tiến tu Phật học, song song trau dồi thêm kiến
thức thế học, để đủ khả năng truyền bá đạo Phật ở thế gian. Trong thời
gian này, Ngài đã kiến tạo một ngôi tháp lớn, để an vị tôn thờ xá lợi của
thầy Tổ là cố Hòa thượng Tăng Phêng, và nhiều ngôi tháp nhỏ xung quanh
chánh điện của chùa. Sau buổi lễ khánh thành tháp xá lợi tôn sư, ý nguyện
đã thành tựu, do bệnh duyên tứ đại hoành hành, Ngài phải nằm bệnh nhưng
vẫn khuyên bảo, chỉ dạy các hàng đệ tử xuất gia và tại gia chuyên tâm tu
học, đoàn kết phụng sự đạo pháp và dân tộc.
Ðến 9 giờ sáng ngày 16 tháng 01
năm 1970, tức nhằm ngày 09 tháng 12 năm Kỷ Dậu, theo lẽ vô thường có sinh
tức có diệt, Ngài đã thu thần thị tịch, về cảnh vô dư thường lạc, trụ thế
73 năm, hưởng 53 tuổi Hạ. Sau 15 ngày đêm tổ chức lễ tang, Kim quan của
Ngài được trà tỳ và nhập tháp xá lợi ngay tại chùa, để Tăng chúng tín đồ
được chiêm ngưỡng, tôn thờ.
Hòa thượng Suvanna Dhamma Tăng
Sanh đã có công lớn trong việc trùng hưng kinh sách, truyền bá đạo pháp và
hướng dẫn mọi người thực hành đúng theo phương châm tu hành “duy Tuệ thị
nghiệp”, lợi lạc chúng sanh. Ngài để lại sự kính ngưỡng cho Tăng chúng,
Phật tử Phật giáo Khmer ở miền Tây Nam bộ.
VỊ PHÁP VONG THÂN
ÐẠI ÐỨC THÍCH THIỆN ÂN (1949 – 1970)
Ðại đức Thích Thiện Ân, thế
danh là Lương Hữu Ba, sinh năm Kỷ Sửu (1949) tại xã Nghĩa Hưng, quận Nghĩa
Hành, tỉnh Quảng Ngãi. Phụ thân là ông Lương Châu và thân mẫu là bà Hồ Thị
Ngọc.
Gia đình Ngài thuộc thành phần
trung lưu, có truyền thống tin Phật nhiều đời. Ngài có tất cả 4 anh chị
em, nhờ vào nếp sống thanh nhã của gia đình nên Ngài đã sớm bộc lộ đức
tính nhu hòa, luôn hiếu thuận với cha mẹ, anh chị em. Ngoài thời gian đến
trường và phụ giúp công việc gia đình, Ngài thường xuyên đến chùa lễ Phật
và nghe thuyết pháp. Nhờ vậy, trong Ngài đã un đúc chí nguyện xuất gia.
Thời gian này, Ngài như đã sống cuộc đời tập sự xuất gia, được quý thầy
tận tình dìu dắt và nhất là được sự trợ duyên đầy hoan hỷ của hai đấng
sinh thành.
Năm Mậu Tuất (1958), được sự
chấp thuận của song thân, ngày 10 tháng Giêng, Ngài đến chùa Linh Ứng tại
Non Nước (Ðà Nẵng) cầu xuất gia với Hòa thượng Thích Trí Hữu. Nhờ thời
gian tập sự trước đó, Ngài đã nhanh chóng đạt thông các nghi tắc thiền
môn, còn tỏ ra thông minh xuất sắc với các môn học ngoại điển.
Năm Canh Tý (1960) nhân ngày
vía Ðức Quán Thế Âm 19 tháng 2 Âm lịch, Ngài được thọ Sa di giới tại trụ
xứ. Do đức tính hiếu học, Ngài được phép Bổn sư gởi cho đi học tại Sài
Gòn. Tuy nhiên theo khuyến cáo của Bổn sư, vì e ngại bị tác động bởi nếp
sống rộn rã tại nơi đô hội, nên Ngài vâng lệnh Thầy bước đầu đến chùa
Thiên Phước tại quận Cai Lậy (Mỹ Tho) để tu học các chương trình tiếp tục.
Gần 2 năm tại nơi trú xứ mới này cũng giúp Ngài đạt thêm nhiều điều lợi
lạc, bổ sung cho kiến thức Phật học. Thời gian cũng đủ để Ngài thích hợp
với phong thổ Nam bộ và tính cách ứng xử đã giúp Ngài thành công trong
việc hỗ trợ chư Tăng địa phương công việc hoằng pháp.
Năm Nhâm Dần (1962), Ngài đến
Phật học viện chùa Phước Hòa (tỉnh Vĩnh Bình) theo học các khóa huấn luyện
cho kiến thức Phật học ngày càng phát triển, hầu có thể đảm đương các
nhiệm vụ Phật sự sau này. Sau 3 năm miệt mài cần mẫn, Ngài tốt nghiệp
chương trình Phật học sơ trung, được đánh giá vào hạng xuất sắc trong số
các học Tăng đồng bằng Nam bộ bấy giờ.
Năm Giáp Thìn (1964) vẫn chưa
thỏa nguyện tham cầu Phật học dù đã đạt được nhiều thành tựu khả quan,
Ngài bèn trở lên Sài Gòn đến Phật học viện Quang Minh (Phú Nhuận) để xin
tùng học. Người học Tăng trẻ tuổi mà chư tôn đức giảng dạy tại đây đã
thường được nghe nhắc tới, nay đã nhanh chóng chiếm được lòng ưu ái ngay
tại nơi tham học mới này. Tuy nhiên do tác động thời cuộc, Ngài theo học
nơi đây chưa bao lâu đã phải bị gián đoạn và Phật học viện này giải tán.
Năm Bính Ngọ (1966), được nhiều
sự ân cần giúp đỡ, Ngài đến Chợ Lớn dự thi vào lớp Trung đẳng phổ thông
tại Phật học viện Huệ Nghiêm khi Phật học viện này cũng vừa mở khóa. Thời
gian tham học tại Phật học viện danh tiếng này dưới sự lãnh đạo trực tiếp
của Giáo hội, Ngài đã có nhiều thuận duyên hơn bao giờ hết để đặt bước
tương lai cho mình. Vì vậy, đây là thời điểm quan trọng cho Ngài bước vào
khúc quanh lịch sử cuộc đời tu học của mình.
Năm Mậu Thân (1968), biến động
thời cuộc đã gây không ít khó khăn cho Giáo hội, lại vừa phải đương đầu
với nhiều thế lực. Do đó, tạm thời Phật học viện Huệ Nghiêm phải đóng cửa.
Dù vậy, cũng vừa đúng lúc Ngài tốt nghiệp chương trình Trung đẳng tại đây.
Cũng như nhiều học Tăng xa xứ
khác, Ngài phải tự tìm nơi ở mới ngay tại Sài Gòn để chờ cơ hội tiếp tục
học vươn tới. Ngài đến lưu xứ tại Tăng xá Phước Huệ (Phú Thọ) rồi lại về
chùa Vạn Hạnh ở đường Võ Tánh (Gia Ðịnh) mong tìm gặp được nhiều pháp lữ
có kiến thức lớn để gần gũi hầu không uổng phí thời gian tu học.
Nhờ ý chí hiếu học và trình độ
Phật học sớm được rèn luyện, nhiều Phật tử đã có lời thỉnh cầu Ngài đến
trực tiếp chỉ dạy tu học. Trong giai đoạn này, có một thuận duyên không
nhỏ đã giúp Ngài nhanh chóng quyết định về tọa chủ chùa Tân Long ở xã Tân
Quy Ðông, Nhà Bè. Tại đây, Ngài lại được Ban huynh trưởng Gia đình Phật tử
mời làm Cố vấn Giáo hạnh và Ngài đã hoan hỷ nhận lời.
Năm Kỷ Dậu (1969), khi Phật học
viện Huệ Nghiêm tái hoạt động, Ngài đã trở lại tu học và thọ Cụ túc giới
tại đây. Tuy sở nguyện được như ý, Ngài vẫn giữ mối liên hệ đạo tình trước
nay, đi lại thường xuyên với chùa Tân Long và Gia đình Phật tử Nhà Bè. Sau
khi thọ giới, Ngài cũng được nhiều nơi thỉnh giảng, mời làm trụ trì hoặc
có Ban đại diện Phật giáo địa phương mời ra làm việc v.v... nhưng Ngài vẫn
khiêm cung tự lượng sức mình, bày tỏ chí nguyện tiếp tục ở lại Phật học
viện Huệ Nghiêm để khẳng định ý chí và bản lĩnh Thích tử của mình.
Năm Canh Tuất (1970), đây là
năm Giáo hội vừa đấu tranh cho hòa bình dân tộc, lại vừa đối phó với thủ
đoạn thâm độc của các thế lực đàn áp, chia rẽ nội bộ Phật giáo dẫn đến
những hành động đau thương, trái với tôn chỉ từ bi của đạo Phật và đường
lối ôn hòa dân tộc mà Giáo hội đang đấu tranh thực thi. Ðó là “Vụ thảm sát
Việt Nam Quốc Tự”. Nguyên hơn 3 năm trước đó, bằng cái gọi là “Hiến chương
Vũng Tàu”, chính quyền Sài Gòn đã lập nên một “Giáo hội” khác và lấy Việt
Nam Quốc Tự là cơ sở pháp lý của Giáo hội này. Về phía Giáo hội (khối Ấn
Quang) đã nhiều lần đòi hỏi, kể cả thành lập “Ủy ban Bảo vệ Hiến chương”
mà chính quyền vẫn không đoái hoài. Ngày 29-11-1967, Giáo hội đã đơn
phương tổ chức việc thu hồi lại Việt Nam Quốc Tự nhưng đã bị đàn áp ngay
trước chùa Ấn Quang, trụ sở tạm của Viện Hóa Ðạo.
Ðêm 4 rạng sáng ngày 5 tháng 5
năm 1970, vì quá tin tưởng lời mời trao trả Việt Nam Quốc Tự, chư tôn đức
Lãnh đạo Viện Hóa Ðạo đã tổ chức cuộc tiếp thu lần thứ hai. Hậu quả là
ngay khuya hôm đó, lính Cảnh sát Dã chiến, Võ sinh Nhu đạo Quang Trung và
rất đông binh lính nhiều binh chủng đã ồ ạt tràn vào Việt Nam Quốc Tự tàn
sát bất kể là ai. Người thầy tu đầu tiên bị trúng đạn ngã gục chính là
Ngài mà hơn hai ngày qua đã náo nức tham gia đoàn tiếp thu của Viện Hóa
Ðạo. Ngài oằn oại trên vũng máu trước cảnh hỗn loạn chưa từng thấy trong
lịch sử Phật giáo Việt Nam, Ngài bị viên đạn trúng vào giữa bụng xuyên trổ
ra sau lưng. Và câu cuối cùng Ngài nói trong tiếng nấc đứt quãng : “Hãy
giao trả Việt Nam Quốc Tự lại cho Giáo hội, xin đừng nhờ thế lực chính
quyền để bắn giết những người vô tội...”.
Ngài đã tắt lịm trong lời nói
cuối cùng này, lúc đó là 5 giờ sáng ngày 23 tháng 6 năm 1970 tại Bệnh viện
Bình Dân. Công hạnh của Ngài sống mãi từ 21 tuổi đời, với 10 tuổi đạo đầy
nỗ lực tiến tu, tích phước hậu lai này.
HÒA THƯỢNG THÍCH PHÁP LONG (1901 – 1971)
Hòa thượng Thích Pháp Long,
pháp danh Quảng Hương, pháp húy Trừng Hinh, pháp tự Pháp Long, pháp hiệu
Từ Hội, nối pháp dòng Tế Thượng Thiên Thai Thiền Giáo Tông, đời thứ 42.
Ngài thế danh là Trần Minh Châu, sinh năm 1901 (Tân Sửu) tại làng Mỹ Hạnh
Trung, quận Cai Lậy, tỉnh Mỹ Tho. Thân phụ là cụ Trần Văn Trương; thân mẫu
là bà Nguyễn Thị Mùi, gia đình Ngài có tất cả là 10 anh em, và Ngài là
người con thứ 5 trong gia đình.
Ðược sinh trưởng trong một gia
đình đạo đức, tin kính Tam bảo, nên Ngài đã được huân dưỡng tánh đức hiền
lương từ tuổi ấu thơ. Năm lên 8 tuổi (1909) một thảm họa lớn đến với Ngài:
từ ngày 25 tháng 6, đến mùng 10 tháng 7 trong năm ấy, lần lượt thân mẫu và
các người anh em đều từ bỏ cõi đời sau một cơn bệnh dịch oan nghiệt. Sự
việc xảy ra quá đột ngột, và hết sức thương tâm này, đã khiến cho Ngài sớm
nhận ra đời người là vô thường huyễn hóa.
Từ đó, Ngài sống với cha và ông
nội. Năm lên 10 tuổi (1911), ông nội Ngài lại vĩnh biệt dương trần, còn
lại hai cha con nương nhau mà sống. Chán ngán cảnh đời đau khổ và mong
manh, thoạt có rồi không. Ðể rồi từ nhân duyên với Phật pháp nhiều kiếp
trước phát khởi, Ngài mạnh dạn xin phép phụ thân được xuất gia đầu Phật và
đã được chấp thuận.
Ngày mồng 8 tháng 4 năm 1914,
Ngài được thân phụ dẫn đến xin xuất gia tại Tổ đình Khánh Quới xã Tân
Bình, quận Cai Lậy, tỉnh Mỹ Tho (Tiền Giang hiện nay) được Bổn sư cho pháp
danh là Quảng Hương. Từ đó trở đi Ngài bắt đầu cuộc sống tu hành của người
cầu đạo giải thoát.
Ngày 19 tháng 2 năm Ất Mão
(1915), thân phụ của Ngài lại qua đời. Trước nỗi đau đó, khi càng buồn thì
Ngài càng tinh tấn tu niệm để tưởng nhớ và siêu tiến cho hương linh cố
phụ.
Năm 1920 trải qua 4 năm phụng
Sư học đạo, nỗ lực tu trì. Hòa thượng Bổn sư của Ngài viên tịch. Từ đây
một mình một bóng, Ngài bước đi trên con đường tự độ, hóa tha.
Năm 1923, Ngài được 22 tuổi,
nhận thấy muốn thoát khỏi sông mê về bến Giác, cần phải có thầy Tổ làm nơi
nương tựa dẫn đường. Cho nên, Ngài tìm đến Tổ Phi Lai ở núi Tượng, Châu
Ðốc cầu học. Ngài ở nơi đây học đạo một năm, và được Tổ ban cho pháp hiệu
là Hồng Hinh, pháp tự Từ Hội.
Năm 1924, Ngài trở về Tổ đình
Khánh Quới, phát nguyện nhập thất trì tụng một tạng kinh Di Ðà, 3000 biến
Kinh Kim Cương và thọ nhất thực (một bữa Ngọ) trong 6 tháng. Sau khi ra
thất, Ngài lên núi Ðiện Bà Tây Ninh tham dự trường Kỳ khóa Luật thọ Tỳ
kheo giới. Sau đó vào hang đá tu tập thiền quán, quyết minh tâm kiến tánh.
Nhưng tịnh chừng nào vọng nhiều chừng ấy, Ngài bèn đọc sách Quy Nguyên
Trực Chỉ, đọc đến Sơn Cư Bách Vịnh có đoạn viết :
“Sơn cư
phong cảnh tự thiên nhiên
Ðại đạo
chỉ triêu tại mục tiền
Bất thức tổ
tông thân mật chỉ
Ðồ lao niệm
Phật dữ tham thiền”.
Nghĩa là :
Phong cảnh
núi rừng vốn tự nhiên
Ðạo chẳng
đâu xa, ở hiện tiền
Nếu không
Thầy, Tổ chơn truyền chỉ
Sợ uổng
công niệm Phật, tọa thiền !
Ngài chợt tỉnh ngộ, nhận thấy
do mình tự tu thiếu Tổ chơn truyền, cần phải tầm Sư chỉ giáo. Ngài tìm đến
Hòa thượng Huệ Ðăng ở chùa núi Thiên Thai, Long Ðiền – Bà Rịa xin cầu yếu
chỉ. Tổ Thiên Thai nhận thấy Ngài có tuệ căn thông đạt, phước tướng trang
nghiêm, có thể là rường cột Phật pháp sau này, nên thâu nhận làm đệ tử,
ban pháp húy cho Ngài là Trừng Hinh; pháp hiệu là Pháp Long, với 4 câu kệ
rằng :
“Trừng định tinh
thần trí tuệ khai
Hinh phong hương
thủy tẩy trần ai
Pháp hoa liễu ngộ
vô sinh nhẫn
Long đạt tông
phong đại biện tài.”
Sau khi nhận lãnh pháp ngữ thầy
Tổ, Ngài nhất tâm chuyên trì giới luật, trên cung kính dưới khiêm nhường,
khắp nơi ngưỡng mộ tài đức của Ngài theo học rất đông.
Năm 1927, Ngài được tiến cử
chức Giáo thọ tại trường Kỳ chùa Thanh Long – Biên Hòa, và sau đó được tấn
phong ngôi Yết Ma tại trường Kỳ chùa Khánh Quới – Cai Lậy.
Từ năm 1928 đến 1945, theo bước
chân vân du hóa độ, Ngài đã tiếp độ rất nhiều đệ tử xuất gia và tại gia.
Trong số rất nhiều các đệ tử, có trưởng tử là Hòa thượng Thích Bửu Huệ
nguyên Phó viện trưởng viện Cao đẳng Phật học Huệ Nghiêm, và rất nhiều các
Ni sư, Thượng tọa, Ðại đức hiện đang trụ trì ở khắp nơi. Ngoài ra, Ngài
còn chứng minh, xây dựng, trụ trì nhiều chùa như : chùa Thiên Cơ (Trà Ôn),
chùa Tiên Châu (Vĩnh Long), chùa Bửu Long (Vũng Liêm – Vĩnh Long), chùa
Thiên Tôn (Bình Khê – Bình Ðịnh).
Năm 1945 đến 1954, Ngài cùng
với Hòa thượng Thích Thiện Cảnh tại Vĩnh Long hưởng ứng theo lời kêu gọi
của ông Trần Văn Giàu, chủ tịch Nam Bộ kháng chiến và cùng với quý Hòa
thượng Thích Minh Nguyệt, Thích Thiện Hào, Thích Pháp Tràng, Thích Pháp
Dõng v.v... tham gia trong phong trào Phật giáo Cứu quốc Nam Bộ chống lại
thực dân Pháp.
Sau những năm góp sức gìn giữ
quê hương, đạo pháp, Ngài nhận thấy tuổi già sức yếu muốn lui về Tổ đình
nhập thất tịnh tu, giảng dạy Tăng Ni Phật tử, nhưng Phật sự bên ngoài đã
không cho phép. Các huynh đệ cử Ngài cùng với Hòa thượng Pháp Chiếu đi
thăm Tổ Huệ Ðăng ở Bình Ðịnh, đi đến nơi thì nghe tin Hòa thượng Bổn sư
vừa viên tịch, đau xót vô vàn, Ngài phải quay về báo tin cùng sơn môn tứ
chúng làm lễ truy điệu. Một thời gian sau, để báo đáp thâm ân giáo huấn
của Hòa thượng Bổn sư, Ngài lặn lội ra tận Bình Ðịnh để xây tháp thờ Bổn
sư và trùng tu lại Tổ đình Thiên Tôn, tổ chức ổn định sinh hoạt tín ngưỡng
nơi đây.
Năm Ðinh Dậu 1957, Ngài được
chư tôn đức thỉnh làm Hòa thượng Ðàn Ðầu cho Ðàn giới tại chùa Thiên Thai,
Bà Rịa. Sau đó Ngài trở về chùa Khánh Quới lập một tịnh thất để tĩnh tu an
dưỡng và tiếp tục hoằng dương đạo pháp.
Vào năm 1961, do đấu tranh
chống lại chính sách kỳ thị tôn giáo của Ngô Ðình Diệm, Ngài đã bị bắt và
giam tại khám Chí Hòa hơn hai năm. Dù bị tra tấn đánh đập, nhưng lúc nào
Ngài vẫn một dạ sắt son với chánh nghĩa, với lý tưởng giác ngộ. Lúc ở
trong tù, Ngài đã làm bài thơ :
“Ðã ở tù
thì lắm cái dơ
Dơ tâm, dơ
tánh, thân càng dơ
Tu tâm
dưỡng tánh thân tù sạch
Ðạo chí
bền lòng chẳng để dơ”.
Tháng 11 năm 1963, chính quyền
nhà Ngô sụp đổ, Ngài được trả tự do, liền đó Ngài trở về chùa tiếp tục
hoạt động Phật sự, giáo dục Tăng Ni, Phật tử. Năm 1966, Ban bảo tự Tổ đình
Thiên Thai Thiền Giáo Tông hiệp khai trường Hương tại chùa Thiên Quang
(Hóc Môn), Ngài được tiến cử làm Hòa thượng Chủ Hương. Ðến mãn Hạ, lập đàn
truyền giới, Ban chức sự cung thỉnh Ngài làm Tái thí Ðàn đầu Hòa thượng.
Năm 1967, Ngài đến chùa Thiên
Minh (Pháp Võ cũ, Chợ Cầu – Hóc Môn) hiệp chúng cấm túc an cư tu học trong
3 tháng. Sau đó, Ngài trụ lại đây cho đến ngày viên tịch.
Những ngày cuối đời, tuy tuổi
cao, sức khỏe suy dần, nhưng Ngài vẫn tận tụy giảng dạy, lo cho tiền đồ
Phật giáo sau này. Ngày 13 tháng 9 năm Tân Hợi (tức ngày 31 tháng 10 năm
1971), Ngài đã xả báo an tường, thu thần tịch diệt. Ngài trụ thế 70 năm
với 47 tuổi đạo.
Suốt cuộc đời Ngài công hạnh
vẹn toàn, hiến thân cho đạo pháp và dân tộc không biết mỏi mệt. Ngài là
một bậc mô phạm xứng đáng cho hậu học quy ngưỡng.
HÒA THƯỢNG THÍCH THIỆN HƯƠNG (1903 –
1971)
Hòa thượng Thích Thiện Hương,
pháp danh Như Huệ, pháp hiệu Nhuận Huê, pháp tự Thiện Hương, pháp tự
truyền thừa tông môn là Thị Huê, thuộc dòng Lâm Tế Chúc Thánh đời thứ 42,
thế danh Lê Văn Bạch sanh ngày 14 tháng 5 năm Quý Mão (1903), tại làng
Tương An, tổng Bình Thổ ()
tỉnh Thủ Dầu Một (nay là xã Tân An, phường Phú Cường, thị xã Thủ Dầu Một,
tỉnh Bình Dương).
Ngài sanh trong một gia đình có
truyền thống kính tin Tam bảo theo Phật giáo Cổ truyền. Thân sinh là cụ
ông Lê Văn Ðông, thân mẫu là cụ bà Ðào Thị Siêng. Ngài là con cả trong gia
đình có 4 anh em gồm 2 trai, 2 gái.
Năm Mậu Thân 1908, lúc lên 5
tuổi, Ngài được cha mẹ đưa đến chùa Phước Hưng, xã Tân An xin quy y với
Hòa thượng Chơn Vị – Minh Vạn, được ban pháp danh là Như Huệ. Từ đó, với
nhân duyên gần gũi Tam bảo và công quả sớm hôm, đã giúp Ngài sớm có tâm
thành xuất gia tu học.
Năm Ất Mão 1915, khi lên 13
tuổi, đúng vào ngày Rằm tháng Tám, Ngài được cha mẹ đem vào chùa Long Minh
xin thế phát xuất gia với Hòa thượng Quảng Long, nên có được 3 năm công
phu bái sám, học tập quy tắc Thiền môn.
Năm Mậu Ngọ 1918, Ngài được Bổn
sư trao pháp thế độ là Nhuận Huê, tự là Thiện Hương, được cho đi dự khóa
luật và thọ giới Sa di tại giới đàn trường Kỳ chùa Long Phước – Tân An.
Năm sau (1919), Ngài được theo học khóa giáo lý tại Tổ đình Hội Khánh –
Thủ Dầu Một do Pháp sư Từ Văn khai mở và Ngài nhập chúng ở luôn lại đây tu
học.
Năm Nhâm Tuất 1922, lúc Ngài 20
tuổi, được Hòa thượng Từ Văn cho đi thọ đại giới tại giới đàn chùa Giác
Lâm, Chợ Lớn do Hòa thượng Như Phòng – Hoằng Nghĩa làm đàn đầu truyền
giới. Từ đó, Ngài chuyên tâm tinh tấn tu học ở Tổ đình Hội Khánh. Ðến năm
1930, Ngài cầu pháp với Hòa thượng Từ Văn được ban pháp hiệu Chơn Duyên,
tự Từ Giác, đồng thời được Hòa thượng và Tăng chúng cử làm Thủ tọa.
Năm Nhâm Thân 1932, Hòa thượng
Từ Văn viên tịch. Trưởng lão chùa Từ Ân cùng chư sơn thiền đức đứng ra lập
Ban trụ trì chùa Hội Khánh, gồm Hòa thượng Từ Tâm là chánh trưởng tử, sư
cụ Giáo thọ Thiện Quới làm trụ trì, Thủ tọa Thiện Hương làm phó nhất
trưởng tử. Nhằm để theo thứ tự truyền thừa, Hòa thượng Từ Tâm đặt chữ thế
độ cho Ngài là Thị Huê. Lúc bấy giờ mọi công việc Phật sự ở chùa Hội Khánh
đều do Ngài quản lý, vì các vị trong Ban trụ trì đều già yếu.
Năm Quý Dậu 1933, Ngài được suy
cử lên ngôi vị Yết Ma A xà lê trong đại giới đàn chúc thọ chùa Sắc tứ
Thiên Tôn. Năm 1934, Ngài liên tiếp được cung thỉnh vào các chức sự : Phó
Pháp sư trường Gia giáo chùa Tân Long (Gia Ðịnh); Chánh chủ Kỳ chùa Long
Quang (Lái Thiêu); Thư ký trường Kỳ chùa Long Khánh (Thủ Dầu Một); Chủ Kỳ
chùa Long Sơn (Thủ Dầu Một). Sang năm 1936, Ngài đứng ra trùng tu lại cổng
Tam quan chùa Hội Khánh.
Năm Tân Tỵ 1941, Ngài được Chư
sơn thiền đức giáo phẩm trong tỉnh Thủ Dầu Một công cử làm Trụ trì chùa
Hội Khánh – sau khi chư Hòa thượng trong ban Trụ trì đã lần lượt viên tịch
- Ngài mở khóa gia giáo, kêu gọi Chư sơn thiền đức trong tỉnh nhà có môn
đệ hãy gởi đến chùa Hội Khánh tu học. Chính Ngài là Pháp sư giảng dạy cho
khóa học, góp phần đào tạo Tăng tài tương lai cho tỉnh nhà.
Năm Ất Dậu 1945, theo lời kêu
gọi toàn quốc kháng chiến giành độc lập nước nhà, Ngài tham gia hội Phật
giáo Cứu quốc tỉnh Thủ Dầu Một, Hòa thượng Minh Tịnh được bầu làm Chủ
tịch, Ngài làm Phó chủ tịch Hội.
Năm Quý Tỵ 1953, Giáo hội Lục
Hòa Tăng Việt Nam được thành lập (31.12.1953), và Giáo hội Lục Hòa Tăng
tỉnh Bình Dương cũng được thành lập trong ngày này. Ngài được trung ương
Giáo hội và toàn thể Tăng tín đồ Bình Dương suy cử lên ngôi vị Hòa thượng,
đảm nhận Tăng trưởng Phật giáo tỉnh Bình Dương.
Ðến năm Canh Tý 1960, Ngài được
Hội đồng Trưởng lão Giáo hội suy cử Ðệ nhất phó Tăng giám Trung ương Giáo
hội Lục Hòa Tăng. Ngài đảm nhận danh vị này cho đến cuối đời.
Trong suốt thời gian hành đạo,
Ngài đã tham gia nhiều Phật sự cho Phật giáo Bình Dương, góp phần to lớn
trong phong trào chấn hưng Phật giáo tỉnh nhà, Ngài đã đào tạo nhiều thế
hệ kế thừa như : Hòa thượng Quảng Viên, Hòa thượng Ðồng Lưu, Hòa thượng
Ðồng Nghĩa...
Năm Quý Mão 1963, khi mà cuộc
đấu tranh của giới Phật giáo chống chế độ độc tài Ngô Ðình Diệm đang ở cao
trào, thì Ngài lâm bệnh. Tuy thế, Ngài vẫn luôn dõi hướng về cuộc đấu
tranh chung qua tin tức, và luôn cầu nguyện Tam bảo gia hộ cho Phật giáo
đồ toàn quốc vượt qua cơn sóng gió, đoàn kết chặt chẽ để đấu tranh cho đến
thành công.
Rồi đến lúc tùy duyên trở về
cùng tứ đại, Ngài nhẹ nhàng xả thân giả huyễn, lúc 17 giờ ngày 10 tháng 5
nhuần năm Tân Hợi, tức ngày 02 tháng 7 năm 1971, thọ thế 68 tuổi, giới lạp
48 năm. Ðồ chúng lập tháp thờ trong khuôn viên chùa Hội Khánh.
Hòa thượng Thiện Hương là một
bậc thạch trụ thiền môn của Phật giáo Bình Dương. Cuộc đời Ngài là một tấm
gương kiên trì hành đạo, nêu cao hạnh tinh tấn cho hàng hậu học noi theo
và là niềm tự hào về một thế hệ danh Tăng nước Việt.
HÒA THƯỢNG THÍCH CHÍ TỊNH (1913 – 1972)
Hòa thượng Thích Chí Tịnh, pháp
danh Hồng Căn, thế danh Nguyễn Văn Ðại sinh năm 1913 (Quý Sửu) tại xã Kim
Sơn, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang.
Ngài xuất thân trong một gia
đình trung nông, có truyền thống tín ngưỡng Phật giáo lâu đời. Thân phụ là
cụ ông Nguyễn Văn An, thân mẫu là cụ bà Võ Thị Ðiều, vốn là những Phật tử
thuần thành chất phác.
Thuở nhỏ, Ngài thường hay đau
ốm, khó nuôi nên năm lên 7 tuổi (1920 Canh Thân), thân mẫu Ngài đưa lên
chùa Phước Long, xã Phú Phong huyện Châu Thành, Tiền Giang cho xuất gia
với Hòa thượng Như Bửu, hiệu Thanh Châu được Bổn sư đặt pháp danh là Hồng
Căn. Ngài ở đây hầu thầy, học đạo suốt 13 năm liền. Bản tánh thông minh,
lại thêm cần mẫn siêng năng, nên chẳng mấy chốc, thiền môn kinh luật, phạm
tắc oai nghi, Ngài đều làu thông. Năm 1930 (Canh Ngọ), thấy Ngài hiếu học,
Hòa thượng Bổn sư cho Ngài học thêm chữ quốc ngữ và xuống chùa Phước Long,
xã Kim Sơn học chữ nho và kinh bộ với Hòa thượng Chí Nghĩa.
Năm 1932 (Nhâm Thân), lúc này
Ngài vừa tròn 20 tuổi, nhận thấy thiện duyên đã đủ, đạo hạnh đã thuần, Hòa
thượng Bổn sư cho Ngài đăng đàn thọ Tỳ kheo-Bồ tát giới tại trường Kỳ chùa
Minh Ðức, Phú Túc, Bến Tre và cho pháp hiệu là Chí Tịnh.
Năm 1935 (Ất Hợi), được phép
của Hòa thượng Bổn sư, Ngài đến chùa Vạn An, Sa Ðéc, tham học giáo lý và
thiền môn nghi lễ với Hòa thượng Chánh Thành. Suốt bảy năm Ngài chuyên cần
tu học, Phật điển mỗi lúc một uyên thâm, khoa nghi ứng phú mỗi lúc thêm
tinh tường.
Năm 1942 (Nhâm Ngọ), giã từ đạo
tràng Vạn An, Ngài đến chùa Tuyên Linh, Bến Tre tham học với Hòa thượng
Khánh Hòa. Sau đó được Hòa thượng đưa vào nhập học tại Phật học đường
Lưỡng Xuyên.
Trong thời gian tu học ở đây,
Ngài được quý Phật tử cảm mến đạo hạnh, cung thỉnh về trụ trì chùa Lạc
Thiện ở xã Tân Thạch, Bến Tre. Ở đây Ngài dốc lòng chăm lo Phật sự, trùng
tu Tam bảo đến nỗi Bổn sư lâm bệnh nặng Ngài vẫn không hay để về phụng
dưỡng.
Năm 1951 (Tân Mão), Hòa thượng
Bổn sư viên tịch, di chúc lại cho Ngài kế tục đảm nhiệm ngôi vị trụ trì.
Phụng theo di chúc của Thầy, Ngài giao chùa Lạc Thiện lại cho đệ tử lớn là
thầy Quảng Mai và về trông coi Tổ đình Phước Long.
Những năm 1951 – 1954, Ngài
được mời đi họp ở Ðồng Tháp Mười, và cùng Hòa thượng Pháp Tràng tham gia
phong trào Phật giáo Cứu quốc, lo vận động đồng bào Phật tử đóng góp tài
lực vào cuộc kháng chiến chống Pháp.
Năm 1954, hòa bình lập lại,
Ngài trở về chùa Phước Long, trùng tu Tam bảo, hướng dẫn thiện tín tu
hành. Dù Phật sự đa đoan, năm nào đến mùa an cư, Ngài cũng tham dự kiết
Hạ, nhập chúng tu học, khi ở gần, lúc ở xa, khi ở Sài Gòn, lúc ở Trà Vinh,
Sóc Trăng, Sa Ðéc v.v...
Năm 1955 (Ất Mùi) Giáo hội Lục
Hòa Tăng được thành lập. Ở Mỹ Tho, Hòa thượng Quảng Ân được bầu làm Tăng
trưởng, Hòa thượng Pháp Tràng làm Tăng giám. Ngài được bầu làm Ủy viên
Hoằng pháp. Hòa thượng Nguyên Thanh làm thư ký, Hòa thượng Trí Long làm Ủy
viên tài chánh. Hội sở đặt tại chùa Vĩnh Tràng.
Năm 1963 (Quý Mão), chiến tranh
lan tràn khốc liệt, ở thôn quê giặc càn quét khắp nơi, ở thành phố thì bị
pháp nạn, chùa chiền Tăng Ni bị chính quyền họ Ngô đàn áp, bắt bớ. Ngài
thấy không thể hoạt động Phật sự ở chùa Phước Long được nữa nên đã tản cư
xuống chùa Chơn Minh (Mỹ Tho). Ở đây, Ngài hợp tác với Hòa thượng trụ trì,
Hòa thượng Hiển Pháp mở lớp dạy giáo lý cho chư Tăng quy tụ về tu học rất
đông.
Năm 1966 (Bính Ngọ), Ngài được
Phật tử cung thỉnh về trụ trì chùa Phật Ân (thị xã Mỹ Tho). Chùa là cơ sở
của Hội Phật học tỉnh Ðịnh Tường, nên về đây Ngài hợp tác với Hội mở
trường đào tạo Tăng tài, cung thỉnh Hòa thượng Thiền Ðịnh cùng quý giảng
sư ở Sài Gòn giảng dạy. Hơn sáu năm trụ trì chùa Phật Ân, Ngài đã góp phần
đào tạo được một thế hệ Tăng trẻ có tài đức, kế thừa sự nghiệp hoằng pháp
ở Tiền Giang.
Năm 1972 (Nhâm Tý), Ngài tham
dự khóa an cư kiết Hạ tổ chức ở chùa Sùng Ðức, Phú Lâm - Chợ Lớn và được
đại chúng bầu làm Chánh chúng trường Hạ. Giữa khóa Hạ, Ngài lâm bệnh nặng
nhưng nhất quyết không bỏ Hạ, bệnh tình mỗi lúc một thêm nặng nên đại
chúng phải đưa Ngài vào bệnh viện Sùng Chính để điều trị. Tưởng bệnh sơ
sài rồi sẽ qua, nào ngờ, ngày mùng 6 tháng 6 năm Nhâm Tý, vào lúc 3 giờ
sáng Ngài an nhiên thị tịch, hưởng dương 59 tuổi, tròn 40 Hạ lạp.
Tang lễ Ngài được Ban chức sự
trường Hạ tổ chức vô cùng trọng thể trong suốt bốn ngày, Hội đồng Viện
Tăng thống do Hòa thượng Huệ Thành và Hội đồng Viện Hóa Ðạo do Hòa thượng
Bửu Ý dẫn đoàn giáo phẩm về trường Hạ làm lễ truy điệu và truy tặng Ngài
một “Anh dũng Phật chương”. Sau đó, Tăng Ni, Phật tử trường Hạ cung tiễn
Kim quan Ngài lên xe tang đưa về chùa Chơn Minh (Mỹ Tho). Sau đó đưa về
chùa Phước Ðiền, xã Long Bình Ðiền – Chợ Gạo, nhập Bảo tháp.
59 năm trụ thế, 40 năm tu học
phụng đạo, thời gian tuy ngắn ngủi nhưng đức tánh khắc kỷ, lợi tha, tinh
thần vì đạo quên thân của Ngài luôn là một tấm gương sáng cho môn đồ hậu
tấn noi theo.
HÒA THƯỢNG THÍCH ÐẠT THANH (1853 – 1973)
Hòa thượng Thích Ðạt Thanh,
pháp hiệu là Như Bửu, tục danh là Võ Minh Thông, sau đổi là Võ Bửu Ðạt,
sinh năm Quý Sửu (1853), triều Tự Ðức năm thứ 6, tại làng Tân Thới Tây,
tổng Bình Thạnh Hạ, huyện Bình Long, phủ Tân Bình, tỉnh Gia Ðịnh, nay là
xã Xuân Thới Thượng, huyện Hóc Môn, Tp. Hồ Chí Minh.
Ngài sinh trong một gia đình
trung lưu Nho học, kính tin Tam bảo. Thân sinh của Ngài là cụ ông Võ Văn
Kiển, pháp danh Thiện Tim, thân mẫu là cụ bà Hà Thị Tông, pháp danh Diệu
Nho. Ngài có 7 anh em trai. Người anh cả là ông Võ Văn Bường, một liệt sĩ
cách mạng, bị thực dân Pháp sát hại trong cuộc kháng chiến năm 1947 tại
quê nhà. Các em của Ngài có 2 người xuất gia. Một vị làm trụ trì chùa
Phước Tường ở Thủ Ðức, một vị làm trụ trì chùa Long Thạnh ở Bà Hom.
Ngày chào đời của Ngài có một
đàn bồ câu không biết từ đâu bay đến đậu chật kín cả nóc nhà nhảy nhót, gù
gáy hoan hỷ. Thân phụ cho đó là điềm lành, thiết bàn thờ giữa sân cúng tạ
trời đất và cầu cho Ngài được mọi sự an lạc. Kể từ đó song thân Ngài phát
nguyện trường trai, thực hiện hạnh bố thí, thiết lập bàn thờ Phật trong
nhà, hằng đêm tụng kinh trì chú.
Vốn là một nhà nho uyên thâm,
thân phụ Ngài hết lòng dạy bảo. Sẵn có tư chất thông minh lại chăm chỉ học
hành, nên chẳng bao lâu Ngài học hết và thông hiểu nghĩa lý các sách Minh
Tâm, Tứ Thư, Ngũ Kinh. . . . vùng Bà Ðiểm là lò dạy võ, nên Ngài cũng được
theo học võ, tài nghệ được xếp hàng đầu trong số thanh niên biết võ của
liên xã. Tuy văn võ vào hàng ưu tú như thế, nhưng Ngài luôn khiêm nhường
không kiêu căng ngạo mạn. Hàng ngày ngoài việc học hành, giúp đỡ cha mẹ
các việc trong nhà, Ngài thường xuyên chăm lo nhang đèn nơi bàn thờ Phật.
Năm lên 12 tuổi, Ngài theo song
thân đi lễ Phật ở chùa Linh Nguyên làng Ðức Hòa, hôm đó, nhân vía Ðịa Tạng
Bồ tát, chùa tổ chức lễ cầu siêu Bạt tiến rất long trọng. Ðàn tràng uy
nghi Tăng Ni, Phật tử các nơi quy về dự lễ rất đông. Ngài và song thân ở
lại suốt ba ngày đêm, tham dự các khóa lễ. Khi ra về, Ngài luôn mang theo
hình ảnh trang nghiêm, thanh tịnh giải thoát của chốn thiền môn những ngày
qua. Một tháng sau, Ngài xin phép song thân cho được xuất gia tại chùa
Linh Nguyên như nguyện ước trong thâm tâm.
Ðiều mong ước ấy không mấy khó
khăn, vì song thân Ngài cũng đã có ý hướng để Ngài xuất gia cho hợp với
điềm lành khi Ngài chào đời và phù hợp bản tính nhân từ, đôn hậu bẩm sinh
của Ngài. Sau đó, Ngài được song thân đưa tới chùa Linh Nguyên, cầu xin Tổ
Minh Phương – Chơn Hương thâu nhận làm đệ tử.
Trải hai năm chuyên cần tu học,
Ngài đã thông suốt các nghi thức thiền môn. Tổ Minh Phương thấy ở Ngài có
túc căn tài trí, không thể chỉ học đến như thế là đủ, nên dẫn Ngài đến
chùa Giác Lâm là ngôi cổ tự lâu đời để học thêm kinh điển dưới sự giáo
huấn của Tổ Minh Vi – Mật Hạnh. Trải qua 6 năm học tập tại đây, Ngài được
xếp vào diện hạng ưu, thì vừa lúc Bổn sư của Ngài là Tổ Minh Phương viên
tịch (1877).
Sau khi về thọ tang Bổn sư,
Ngài trở lại chùa Giác Lâm tu học. Vào thời điểm đó, khoa nghi ứng phú đạo
tràng rất thịnh hành ở đây. Tăng chúng phải tham gia các “đám cúng” mất
nhiều thì giờ, không còn rảnh rang để nghiên cứu kinh điển. Vì vậy, Ngài
xin qua chùa Giác Viên để tu học đúng theo sở nguyện. Tại đây, Ngài được
sự tận tâm dạy bảo của các vị giáo thọ như Tổ Hoằng Ân-Minh Khiêm, Như
Nhãn-Từ Phong... Sẵn tư chất thông minh, làu thông nho học, lại gặp được
thầy giỏi, nên Ngài sớm trở thành một danh Tăng đương thời.
Năm 1879, Ngài được tứ chúng Tổ
đình Linh Nguyên công cử kế vị trụ trì, thay tổ Minh Phương – Chơn Hương
đã viên tịch.
Sau khi Ngài xuất gia, song
thân Ngài cải tạo ngôi nhà từ đường thành một ngôi Tam bảo, mở rộng cửa
cho Phật tử quanh vùng đến tụng kinh lễ Phật. Ðến năm 1919, thân phụ Ngài
qua đời, Ngài giao nhiệm vụ trụ trì chùa Linh Nguyên lại cho Ngài Như Ðạt
– Thiên Cang (huynh đệ đồng sư với Ngài) rồi trở về lo việc cư tang báo
hiếu, đồng thời trùng tu lại ngôi chùa do song thân lập ra. Năm 1921, việc
trùng tu xây dựng ngôi chùa đã xong, Ngài tổ chức lễ khánh thành, có đông
đảo tín đồ và chư Sơn đến dự. Trong buổi lễ trang trọng này, ngôi chùa
được Tổ Như Nhãn – Từ Phong đặt tên hiệu là Long Quang Tự. Ðặc biệt trong
dịp lễ khánh thành và đặt tên chùa, nông dân trong vùng đào ao, phát hiện
một pho tượng Phật bằng đá không rõ có từ niên đại nào. Họ thỉnh đến chùa
giao cho Ngài thờ phụng, Ngài tôn trí pho tượng nơi bàn Tổ lưu giữ cho đến
nay.
Vào đầu thập niên 1920 tổ chức
Thiên Ðịa Hội, một tổ chức yêu nước của những người dân yêu nước ở Nam kỳ
hoạt động khắp nơi. Mạnh nhất là vùng Ðức Hòa – Hóc Môn – Chợ Lớn. Trong
số những người tham gia tổ chức này có nhiều Tăng sĩ như : Sư Lồng (Huỳnh
Văn Lồng); Sư Ký Ðời; Sư Ký Nhàn; Sư Ký Hạp ở Ðức Hòa; Sư Phát Ấn; Thiện
Tòng; Thành Ðạo v.v... ở vùng Chợ Lớn – Gia Ðịnh và trong đó có Ngài (gia
nhập năm 1926). Sau một thời gian hoạt động, tổ chức Thiên Ðịa Hội bị thực
dân Pháp đàn áp, nhiều hội viên bị bắt và đày Côn Ðảo, Ngài cũng chịu
chung số phận.
Gần 4 năm trời, Ngài sống cuộc
sống lao tù khổ sai trên hải đảo, nhưng vẫn giữ phong cách của vị tu hành,
ăn cơm với muối, bận áo nâu sồng. Năm cuối cùng Ngài được đi lên rừng đốn
củi, đốt than. Tại nơi làm việc, Ngài kết thân với một số bạn tù, tổ chức
kết bè vượt ngục. Sau thời gian 2 tháng, bè đã kết xong. Ngài cùng một số
bạn tù gồm 7 người lên bè ra khơi trong đêm tối.
Trong ngày đầu trời tốt, thuận
gió, bè lướt nhanh. Khi trông thấy ánh sáng mặt trời xuất hiện ở phương
Ðông thì bè cũng đã rời xa Côn Ðảo. Nhưng nỗi vui mừng chưa qua đi, sự lo
âu đã cận kề. Một trận cuồng phong từ phương Ðông thổi tới. Chiếc bè gập
ghềnh, chao đảo trên những ngọn sóng kinh hồn. Chiếc bè bị đứt làm đôi,
phía kia có 4 người ngồi trên đó, chỉ qua vài đợt sóng, mảng bè đã bị xé
nát, 4 người lần lần mất dần trong sóng nước.
Ðương lúc thập tử nhất sinh,
trên nửa bè kia có Ngài và hai người nữa tưởng chỉ còn chờ đến phiên mình
làm mồi cho cá. Hai người kia nhắm mắt chờ chết. Riêng Ngài vẫn ngồi xếp
bằng, hai tay níu chặt thân bè để sóng khỏi hắt xuống nước, miệng trì niệm
tâm kinh. Giây phút trôi qua, gió lặng sóng yên, trời quang mây tạnh,
chiếc bè lặng lẽ trôi đi theo làn gió nhẹ.
Ba ngày hai đêm, bè bồng bềnh
trên mặt biển, chung quanh là trời nước mênh mông, chẳng thấy đâu là bờ.
Ba người ngồi trên bè chỉ còn biết phó thác cho duyên nghiệp. Bỗng từ xa
một chiếc thuyền buôn xuất hiện, căng buồm rẽ sóng lướt về phía chiếc bè.
Sự vui mừng xen lẫn lo âu, mừng
vui vì sắp được cứu sống nếu gặp người tốt bụng. Lo âu nếu gặp quân lính
hay kẻ tham danh vọng bắt đem nạp cho nhà chức trách. Nhưng dù sao thì
cũng phải lên thuyền. Những người làm trên thuyền bu quanh ba người hỏi
chuyện. Bỗng từ sau buồng lái một người xăm xăm bước tới, mọi người dang
ra. Người ấy nhìn chăm chú vào Ngài rồi cất tiếng hỏi :
- Có phải ông là nhà sư chăng ?
- Thưa phải. Ngài đáp.
Nghe đáp thế, người kia chắp
tay xá, rồi mời Ngài vào trong khoang hàn huyên tâm sự. Người ấy chính là
một thương gia tên là Lê Trung Cận, quê Quảng Ngãi vào lập nghiệp ở Rạch
Giá. Ông Cận là một Phật tử thuần thành, bàn thờ Phật tại nhà ông không
khác gì một “tiểu già lam”. Ông hết lòng cung phụng vào bảo bọc cho Ngài
được an tâm trong thời gian lưu trú trong nhà ông. Ðối lại, Ngài cũng đem
trình độ hiểu biết sâu rộng về Phật pháp ra truyền đạt cho ông. Từ đó ông
coi Ngài như bậc sư phụ và tìm cách hợp thức hóa cái tên giả Võ Bửu Ðạt
thay cho tên thật Võ Minh Thông để che mắt nhà cầm quyền Pháp.
Không dám trở về chùa cũ và quê
xưa, với tấm căn cước mang tên Võ Bửu Ðạt, suốt gần mười năm trời, Ngài đi
khắp các tỉnh miền Tây Nam bộ – tới đâu Ngài cũng đem giáo pháp của đức
Như Lai ra truyền dạy cho Phật tử, và có lúc Ngài cũng phải sử dụng môn
Khoa Nghi ứng phú đạo tràng để làm phương tiện hoằng hóa chúng sinh và thu
phục nhân tâm. Trên bước đường vân du, có một thời gian Ngài dừng chân tá
túc ở chùa Châu Long ở Châu Ðốc. Ngôi chùa này do Ngài Như Hiếu – Thuần
Hạnh sáng lập. Nơi đây chúng Tăng biết Ngài thuộc dòng Lâm Tế Gia Phổ đồng
tông phái, nên Ngài được tiếp đón như hàng tôn túc.
Năm 1949, cái án tù vượt ngục
không còn ngăn cản sự tự do hành đạo của Ngài nữa, Ngài mới chính thức trở
lại Sài Gòn, nhưng chưa an trụ một nơi nào, khi thì ở chùa Trường Thạnh,
chùa Tịnh Ðộ, chùa Giác Hải, khi thì ở chùa Giác Viên, Giác Lâm, Bình Hòa,
Chưởng Thánh, Long Phước, Sùng Ðức v.v... Ðến cuối năm đó, mến mộ tài đức
đạo hạnh của Ngài, thầy Trí Hữu (tức Ðội Hữu) thỉnh Ngài về trụ trì chùa
Giác Ngộ tại ngã sáu Vườn Lài.
Qua năm sau, 1950 Ngài chính
thức mở trường Kỳ tại chùa Giác Ngộ do Ngài làm Ðường đầu Hòa thượng. Năm
1951, Giáo hội Tăng Già Nam Việt được thành lập, trụ sở đặt tại chùa Ấn
Quang, đường Sư Vạn Hạnh, Ngài được suy tôn ngôi vị Pháp chủ. Từ đó, giới
Tăng già cũng như Cư sĩ tôn kính Ngài là một trong các bậc cao Tăng của
miền Nam. Khắp các chùa trong lục tỉnh mỗi khi có thiết đại lễ đều thỉnh
Ngài đến chứng minh.
Sau thời gian ba năm phục vụ
cho Giáo hội, nhận thấy tuổi già sức yếu, nên tại Ðại hội Giáo hội họp
ngày 08-3-1953, Ngài xin cáo lui, trao ngôi vị Pháp chủ cho Hòa thượng Huệ
Quang. Ngài trở về chùa Long Quang ở Xuân Thới Thượng an dưỡng, nhưng vẫn
là bậc Chứng minh Ðạo sư của Giáo hội Tăng Già Việt Nam, của Giáo hội Lục
Hòa Tăng Việt Nam.
Từ khi Ngài bị bắt tù đày Côn
Ðảo, ngôi chùa Long Quang trong tình trạng hoang phế, có lúc thực dân Pháp
dùng làm nơi đóng đồn bót để đàn áp lực lượng kháng chiến. Sau hiệp định
Genève 1954, người Pháp rút khỏi miền Nam, họ mới chịu trả chùa lại cho
nguyên chủ. Sau khi thôi giữ ngôi vị Pháp chủ Giáo hội Tăng Già Nam Việt,
lưu về đây an dưỡng, Ngài bắt tay vào công việc trùng tu, đến năm 1956 mới
hoàn thành. Cảnh chùa lại tấp nập, đông vui hơn ngày xưa.
Ngài về đây an dưỡng chưa được
bao lâu thì cuộc kháng chiến của nhân dân miền Nam lại bùng nổ. Vùng Bà
Ðiểm, Hóc Môn là căn cứ cách mạng, bom đạn của địch trút xuống ngày càng
ác liệt. Lại một lần nữa Ngài phải xa chùa, lánh cư nơi khác. Năm 1956, có
Phật tử tên là Phạm Thị Phương, chủ nhà in Văn Hóa ở Sài Gòn, phát tâm xây
dựng một ngôi chùa tại Bình Trị, cạnh Phú Lâm lấy hiệu là Long Nguyên,
thỉnh Ngài về an trụ. Ngài luôn được các đệ tử trụ trì các nơi cung thỉnh
về chùa mình để phụng dưỡng cho đến hết năm 1972.
Ðầu năm 1973, sức khỏe của Ngài
thực sự suy kém, mặc dầu tinh thần vẫn sáng suốt, Ngài được các đệ tử đưa
từ chùa Chưởng Thánh về chùa Long Quang ở Bà Ðiểm. Sáng mồng 1 Tết Quý
Sửu, Ngài được dìu lên chánh điện lễ Phật, lễ Tổ. Sau đó, Ngài bảo kê
chiếc đơn cạnh bàn thờ Tổ cho Ngài nằm. Suốt 11 ngày, Ngài chỉ uống nước.
Ðến sáng ngày 11, Ngài bảo nấu nước các hoa thơm để tắm rửa và bảo Sa di
Thiện Hạnh đi báo cho các đệ tử của Ngài từ các nơi như Biên Hòa, Thủ Ðức,
Tây Ninh, Long An, Ðịnh Tường và Sài Gòn về gặp Ngài trong ngày 12 Âm
lịch.
Ðúng 12 giờ, mọi người đã tề
tựu đông đủ, Ngài bảo đỡ dậy ngồi tựa lưng vào bàn thờ Tổ, dùng pháp âm
ngõ lời trước đông đảo môn nhơn về luật vô thường, không có gì phải bi
thống. Ðoạn Ngài đọc một bài kệ 8 câu cho đệ tử ghi chép (rất tiếc lâu
ngày bài kệ này đã bị thất lạc). Sau đó, Ngài bảo tất cả mọi người lên
chánh điện tọa thiền nhập từ bi quán để chư Phật tiếp dẫn giác linh Ngài.
Ðến 15 giờ 30, Ngài bảo đánh
trống Bát Nhã đến khi nào Ngài bảo thôi mới thôi. Ðến 16 giờ, Ngài an
nhiên thị tịch trên tay vẫn nắm chặt xâu chuỗi Thập Bát. Ngài thọ được 120
tuổi đời, 99 Hạ lạp. Môn nhơn pháp quyến, môn đồ tứ chúng vô cùng thương
tiếc, nhưng nhớ lời Ngài đã di huấn, nên đều không dám để rơi nước mắt.
Kim quan của Ngài được quàn tại chùa Long Quang 5 ngày. Sau đó, đi đến
chùa Trường Thạnh lưu 5 ngày. Ðến ngày 22 tháng Giêng Âm lịch lại quy hoàn
chùa Long Quang làm lễ nhập tháp.
Sinh thời, Ngài sáng tác, phiên
dịch rất nhiều kinh sách, phần lớn bị thất lạc hoặc mối mọt làm hư hao.
Nay chỉ còn lại một bộ Lục Vân Tiên tân truyện viết bằng chữ Nôm, một bộ
Du Ðà Ðại Khoa, một bộ Vu Lan Thích Nghĩa. Tất cả đều lưu trữ tại chùa
Long Quang, Bà Ðiểm.
Cuộc đời của Hòa thượng là một
tấm gương trí dũng của người con Phật, làm nên công đức cho sự nghiệp
thống nhất Phật giáo nước nhà trong phong trào chấn hưng Phật giáo ở miền
Nam. Hành trình hoằng pháp lợi sanh của Ngài suốt trên một thế kỷ quả là
ít có ai sánh được. Ngài đã để lại sự kính ngưỡng muôn thuở cho hàng hậu
bối tôn vinh học tập.
HÒA THƯỢNG THÍCH THIỆN THUẬN (1900 –
1973)
Hòa thượng Thích Thiện Thuận,
pháp húy Nhật Dần, thế danh là Lê Văn Thuận, sinh năm Canh Tý (1900) tại
Cần Giuộc, tỉnh Chợ Lớn (nay là tỉnh Long An). Thân phụ là cụ ông Lê Văn
Xúy và thân mẫu là cụ bà Trần Thị Biền, thuộc thành phần trung nông và là
một gia đình có truyền thống tu Phật nhiều đời. Nhờ vậy ngay từ tấm bé,
Ngài đã sớm thấm nhuần nếp sống đạo đức và tỏ ra thương yêu loài vật một
cách đặc biệt, được song thân quý mến và làng xóm thương yêu.
Thời gian này đất Gia Ðịnh tuy
vẫn còn râm ran đó đây các phong trào đấu tranh nổi dậy tự phát, nhưng
thực dân pháp đã ổn định về mọi sự áp đặt của họ. Phật giáo vẫn còn bị kềm
chế đó đây, cuộc sống tu hành của Tăng sĩ gặp nhiều khó khăn. Trong tình
cảnh đó, hiếm có được ngôi chùa nào còn sót lại ngay trung tâm Gia Ðịnh và
vùng Bến Nghé. Vì vậy cung cách giữ gìn truyền thống và tu tập của gia
đình Ngài trong hoàn cảnh này thật đáng quý.
Năm Canh Tuất (1910) Ngài
thường xuyên cùng song thân đi hành hương lễ Phật các chùa quanh vùng.
Theo như mong ước của Ngài, đó còn là dịp để song thân tìm được nơi tin
tưởng hầu có thể gởi gắm Ngài tu học sau này. Tiếc rằng do ảnh hưởng chung
của thời thế, hiện trạng Phật giáo chịu chung vận mệnh đất nước bị suy
thoái, nên mục đích cao đẹp là chơn giải thoát chỉ còn là hình tướng lễ
bái mà thôi.
Năm Giáp Dần (1914) trên chuyến
xe ngựa đầu xuân, vó ngựa gõ đều trên mặt lộ hướng về phía Ðông Bắc, trong
những bạn hàng buôn chuyến sớm, có song thân và Ngài đang thực hiện hoài
bão cao cả hằng ấp ủ bấy lâu : Hòa thượng Hồng Hưng-Thạnh Ðạo ra đến cổng
Tam Quan chùa Giác Lâm hoan hỷ đón đợi Ngài cùng song thân như để báo rằng
hoài bão của gia đình và bản thân Ngài giờ đây đã thành hiện thực.
Ở Gia Ðịnh thời ấy chỉ có ba
ngôi chùa tạm được gọi là lớn và có quy trình tu học, đào tạo Tăng Ni được
khắp nơi biết đến là chùa Giác Lâm, Giác Hải và Long Thạnh. Từ Cần Giuộc
xa xôi gia đình Ngài không quản thời gian tìm đến và quyết định cho Ngài
xuất gia tu học tại đây. Rằm tháng Tư âm lịch năm ấy, khi vừa đến tuổi 15,
Ngài chính thức được Hòa thượng Hồng Hưng - Thạnh Ðạo cho làm lễ xuất gia
và đặt pháp danh là Nhật Dần, hiệu Thiện Thuận, thuộc đời thứ 41 dòng Ðạo
Bổn Nguyên, Tông Lâm Tế.
Năm Canh Thân (1920) Ngài được
Bổn sư cho thọ Cụ túc giới tại trường Kỳ chùa Phú Long – Phú Nhuận, do Hòa
thượng Quảng Phát làm Ðàn đầu truyền giới. Sau khi thọ giới, Ngài được cử
giữ chức hương đăng chùa Giác Lâm, Ngài chuyên cần chấp tác mọi công việc
của chùa, dù cho đó là công việc của Sa di, vì vậy Ngài đã tạo ra mối gắn
bó tu học gần gũi trong Tăng chúng. Không lâu sau, nhận thấy sở học của
Ngài luôn phát tấn, cần được nâng cao để có thể đảm đương các Phật sự quan
trọng mai sau, nên Bổn sư đã gởi Ngài đi tham học nhiều nơi; trong đó đáng
kể nhất là thời gian Ngài được tu học với Hòa thượng Thanh Ấn, húy Như
Bằng-Từ Hòa ở chùa Từ Ân (Phú Lâm). Ngài đã cầu pháp với Hòa thượng, được
ban pháp hiệu là Từ Hiền-Chơn Dần.
Năm Kỷ Mão (1939) Ngài trở về
Giác Lâm và giữ trách nhiệm điển tọa. Thời gian này Hòa thượng Bổn sư đã
già yếu, Ngài luôn cận kề chăm sóc và thực hiện những đạo lệnh quan trọng
nhằm củng cố và phát triển Tăng đoàn nơi Giác Lâm.
Năm Kỷ Sửu (1949) Hòa thượng
Bổn sư viên tịch, Ngài tuân thủ di chúc, được đại chúng suy tôn kế thế trụ
trì chùa Giác Lâm. Với bản tính điềm đạm, ít nói, nhu hòa, đã giúp Ngài
thực hiện trọng trách, được lòng tất cả Tăng chúng và Phật tử gần xa.
Trụ trì ngôi đại già lam này,
Ngài đạt nhiều công hạnh tốt, nhưng cũng là thời gian ít có vị trụ trì nào
như Ngài, đã chứng kiến một thực trạng mang tính lịch sử : Tăng chúng ngày
một giảm đi, không phải vì suy vi đạo nghiệp hay trở lực chướng duyên nào,
mà họ đã nghe theo tiếng gọi của Hội Phật giáo Cứu quốc, tạm xếp Tăng bào,
lên đường kháng chiến cứu nước cứu dân. Chùa Giác Lâm còn là nơi nuôi giấu
cán bộ và là nơi hội họp của nhiều cấp ủy một thời.
Năm Nhâm Thìn (1952), tình hình
có vẻ lắng dịu, các vị ra đi ấy đã có nhiều vị trở về, tiếp tục hợp sức
với Ngài chuyên lo Phật sự. Từ đây, Ngài có một quyết định mang tính lịch
sử : tham gia vào tổ chức Giáo hội Lục Hòa Tăng, cùng Hòa thượng Hồng Từ
hiến cúng 4 công đất của chùa Giác Viên cho Giáo hội Lục Hòa Tăng làm nơi
bồi dưỡng, đào tạo Tăng tài, lấy tên là “Trường Lục Hòa”. Cũng nơi đây,
thành lập cơ sở in ấn “Phật học tạp chí”, cơ quan ngôn luận chính thức của
Giáo hội Lục Hòa Tăng, nhưng tạp chí ra mắt được vài số thì đình bản vì
không đủ nhân lực tài lực.
Năm Quý Tỵ (1953) Ngài hiến
cúng mẫu đất trước khuôn viên chùa Giác Lâm, dùng làm nơi xây tháp để tôn
trí ngọc Xá lợi Phật do Ðại đức Narada từ Tích Lan mang sang tặng, vào
ngày 24.6.1953, và trồng một cây Bồ đề được chiết cành từ nơi đất Phật.
Năm Ðinh Dậu (1957), Ngài được
tấn phong Hòa thượng nhân Ðại giới đàn tại chùa Trường Thạnh, lễ Khai Bằng
Giáo Phẩm được tổ chức trọng thể tại trường Lục Hòa - chùa Giác Viên.
Năm Nhâm Dần (1962) Hòa thượng
Thích Huệ Thành (chùa Long Thiền – Biên Hòa) được suy tôn lãnh đạo Giáo
hội Phật giáo Lục Hòa Tăng. Từ đây, Ngài vẫn tích cực ủng hộ Giáo hội,
nhưng do đa đoan bổn tự nên Ngài âm thầm với cuộc sống chuyên tu nhiều
hơn. Giáo hội Phật giáo Lục Hòa Tăng cũng vì bảo vệ tôn chỉ, mục đích Lục
Hòa, nên đứng ngoài các đấu tranh về chính trị, xã hội.
Năm Canh Tuất (1970) Giáo hội
Phật giáo Lục Hòa Tăng và Hội Lục Hòa Phật tử được hợp nhất, đổi tên thành
Giáo hội Phật giáo Cổ Truyền Việt Nam, Ngài được suy cử vào thành viên Hội
đồng Viện Tăng Thống.
Năm Nhâm Tý (1972) Ngài được đề
cử chức vụ Viện trưởng Viện Hoằng Ðạo và Hòa thượng Thích Huệ Thành giữ
ngôi vị Tăng Thống.
Năm Quý Sửu (1973) Ngài an
nhiên thị tịch vào ngày 26 tháng 3 âm lịch, thọ 73 tuổi đời, giới lạp 53
mùa hạ. Môn đồ pháp quyến đã xây tháp thờ Ngài trong khuôn viên chùa Giác
Lâm.
HÒA THƯỢNG THÍCH QUẢNG ÂN (1891 – 1974)
Hòa thượng Thích Quảng Ân, pháp
húy Nguyên Ðồ, pháp hiệu Quảng Ân (),
nối đời thứ 44 dòng Lâm
Tế Chánh Tông, thế danh Lê Văn Bảy, sinh năm 1891 (Tân Mão) tại xã Mỹ
Phước, quận Bến Tranh, tỉnh Ðịnh Tường (nay là Tiền Giang).
Thân phụ Ngài là cụ Lê Văn
Chung, một nhà nho uyên thâm, tinh tường cả Nho, Y, Bốc, Số; Thân mẫu Ngài
là bà Nguyễn Thị Thiệt, một người nhân từ mộ đạo. Ngài là con út trong một
gia đình đông con. Thuở nhỏ Ngài được phụ thân cho theo Nho học, vốn thông
minh, hiếu học lại được cha rèn cặp nên mới 12 tuổi, Ngài đã làu thông Tứ
thư, Ngũ kinh.
Năm 13 tuổi (1903), nhân một
lần chứng kiến cái chết của người chị dâu, Ngài cứ băn khoăn, thao thức:
“Tại sao người ta lại phải chết”. Hình ảnh người chị nằm bất động, chung
quanh là những tiếng than khóc não nề, cùng câu hỏi ấy cứ dấy lên ám ảnh
tâm trí Ngài. May sao về dự tang lễ có thầy Thiện Trung, một người anh của
Ngài đã xuất gia ở chùa Khánh Quới. Ngài đem ý nghĩ của mình ra thưa hỏi,
thầy Thiện Trung giảng giải lý sanh tử vô thường của kiếp người cho Ngài
rõ. Sau khi nhận thức được rằng thế gian chỉ là huyễn mộng, kiếp người vốn
dĩ khổ đau, muốn thoát ra khỏi vòng luân hồi triền miên đó, chỉ có một con
đường là tu Phật.
Từ đấy ý tưởng xuất gia nhen
nhúm trong Ngài. Sau bao đêm nung nấu, cuối cùng Ngài đem tâm nguyện của
mình thưa cùng thân mẫu. Biết được ý con, bà không muốn rời xa người con
út. Thế nhưng chí nguyện đã quyết ngay trong năm này (1903), dưới sự hướng
dẫn, giới thiệu của thầy Thiện Trung, Ngài đã đến chùa Khánh Quới (Cai
Lậy), cầu xin xuất gia với Hòa thượng Phước Chí (húy Tâm Ba – còn gọi là
Tổ Tâm Bờ). Ðược Hòa thượng thu nhận làm đệ tử và cho pháp danh là Thiện
Chiên. Thế là từ đây Ngài theo hầu hạ và học tập đạo lý với Tổ Tâm Bờ, Hòa
thượng thấy Ngài tuổi trẻ mà ý chí vững vàng, đạo hạnh siêng năng, mẫn
tiệp nên hết lòng thương yêu dạy bảo.
Năm 1904 (Giáp Thìn), tháng 3,
một trận cuồng phong thổi đến, cây cối nghiêng ngả, nhà cửa sập đổ, tróc
nóc, duy chùa vẫn được bình an. Ðêm rằm tháng Tư, Hòa thượng khai trường
Hương, dẫn đến ngày hưu Hạ, lại mở trường Kỳ, lập đàn truyền giới. Thấy
Ngài mới xuất gia nhưng học hành kiêm ưu, chí nguyện vững vàng nên Hòa
thượng cho Ngài thọ giới Sa di.
Ðàn truyền giới vừa xong, kế
đến tháng 10, Hòa thượng Tâm Bờ họp chúng, cử thầy Trí Ân lên thay làm trụ
trì, rồi Hòa thượng giã từ môn nhơn, lên núi Trà Sư ẩn tu.
Năm 1905 (Ất Tỵ), Hòa thượng
Phước Chí viên tịch trên núi Trà Sư. Hay tin, Ngài vô cùng buồn khổ, kế mẹ
già lại tha thiết yêu cầu Ngài trở về nhà để mẹ con sớm hôm được đoàn tụ,
thương mẹ nên Ngài không nỡ từ chối. Thế nhưng về nhà được ít lâu, Ngài
lâm trọng bệnh thuốc thang bao nhiêu cũng vô hiệu, cả nhà đang cơn tuyệt
vọng, thì Ngài nằm mộng thấy Hòa thượng Tổ bảo phải trở vào chùa tu niệm.
Biết túc duyên của con với Tam bảo sâu dày nên mẹ Ngài phát nguyện cho
Ngài tiếp tục tòng Sư tu Phật. từ đó không cần thuốc thang mà bệnh cứ
thuyên giảm dần, hết bệnh Ngài trở về chùa, được thầy trụ trì Trí Ân giao
cho chức vụ Thư ký.
Tháng 7 năm 1907 (Ðinh Mùi),
Hòa thượng Thanh Ẩn, trụ trì chùa Sắc tứ Từ Ân (Chợ Lớn), khai gia giáo
dạy kinh luật Ðại thừa. Ngài xin phép thầy trụ trì và đại chúng để lên
tham dự khóa học. Ngài đã nhập chúng tu học ở đây cho đến khi mãn khóa.
Tháng 4 năm 1909 (Kỷ Dậu), Ngài
cùng sư huynh là Hòa thượng Thiện Tòng đến an cư kiết Hạ tại chùa Sùng Ðức
(Chợ Lớn). Sau lại đến chùa Linh Nguyên của Hòa thượng Chơn Hương nghe
kinh Kim Cang Chư Gia. Trong suốt sáu năm trời viễn du tham học (1909 –
1912), không một trường Hương một lớp gia giáo nào mà Ngài vắng mặt. Vì
vậy đạo hạnh Ngài mỗi lúc một tinh nghiêm, Phật học ngày càng thêm sâu
rộng.
Năm 1912 (Nhâm Tý), lúc bấy giờ
Ngài đã được 22 tuổi, chú Ngài là cụ Từ Hòa, cùng với các vị hương chức
làng thỉnh Ngài về trụ trì chùa Linh Phước (chùa Phật Ðá) ở thôn Bà Bèo.
Ðây là một ngôi chùa cổ có từ thời vua Hiển Tông niên hiệu Cảnh Hưng
(1772), do các mục đồng dựng lên. Trải một thời gian không người trông coi
nên chùa bị hoang phế. Năm 1897, Hương chức làng thỉnh cụ Từ Hòa về ở để
giữ gìn, hương khói cho chùa và cụ Từ Hòa đã ở đây cho đến lúc Ngài về đảm
nhiệm chức vụ trụ trì.
Năm 1914 (Giáp Dần), Ngài thọ
giới Tỳ kheo tại trường Kỳ chùa Khánh Ðức, kế sau được suy tôn làm Giáo
Thọ. Năm 1915 (Ất Mão), Ngài cho trùng tu lại ngôi chánh điện chùa Linh
Phước.
Năm 1917 (Ðinh Tỵ), Sở Trường
Tiền cho xáng múc kinh Bà Bèo quá gần vuông chùa, nên Ngài họp bổn đạo cho
dời chùa đến một khu đất hoang, cách nền chùa cũ khoảng 500m. Và một ngôi
chùa Phật Ðá mới, bốn nóc cao rộng, khang trang được dựng lên ở đây cho
đến ngày nay.
Năm 1919 (Kỷ Mùi), Ngài tổ chức
lễ Lạc thành chùa mới, thỉnh chư tôn đức về tham dự rất đông. Sau khi chùa
chiền an ổn, Ngài bắt đầu việc hoằng hóa độ sinh, tiếp Tăng giáo chúng.
Lúc trường Hương này thỉnh giảng dạy, khi trường Kỳ nọ thỉnh chứng minh,
tiếng tăm Ngài mỗi lúc một vang xa. Lại thêm truyền tích vị Phật Ðá ở chùa
cảm đức hạnh Ngài nên mỗi lúc lại linh thiêng hơn, nhiều người đau bệnh
nan y, hiểm nghèo về đây lễ bái cầu nguyện đều được chữa lành, nên bổn đạo
gần xa quy ngưỡng chùa này ngày càng thêm đông.
Năm 1927 (Ðinh Mão), Ngài trùng
tu chánh điện chùa Linh Phước cao rộng hơn, để có thể dung chứa đủ thập
phương thiện tín về lễ bái. Năm 1929, Sư huynh là Hòa thượng Thiện Tòng,
trụ trì chùa Trường Thạnh (Sài Gòn) về chùa Long Phước (Cai Lậy) lập Chúc
thọ Giới đàn, thỉnh Hòa thượng Sắc tứ Long Hoa (Gò Vấp) làm Hòa thượng Ðàn
Ðầu và thỉnh Ngài làm Giáo Thọ.
Năm 1939, vị trưởng tử của Ngài
là Hoằng Thông húy Quảng Châu, trụ trì chùa Sắc tứ Long Hội mở trường Kỳ
cung thỉnh Ngài làm Hòa thượng Ðàn đầu truyền giới.
Khi phong trào chấn hưng Phật
giáo nổi lên khắp nơi, hưởng ứng lời kêu gọi của Hòa thượng Khánh Hòa, năm
1931, Ngài tham gia làm hội viên sáng lập Hội Lưỡng Xuyên Phật Học.
Năm 1947, chiến tranh Việt-Pháp
bùng nổ, làng mạc tan hoang, chùa chiền bị thiêu rụi, Ngài phải cùng các
đệ tử vào rừng ẩn náu, rồi đến tạm trú chùa Linh Quang của Ðại đức Quảng
Cơ. Tuy gian nan, vất vả, Ngài vẫn mỉm cười : “Tăng vô nhứt vật”.
Năm 1949 (Kỷ Sửu), Ngài cùng
các đệ tử lại phải tản cư ra nương náu nơi Linh Ẩn Viện ở Nhị Bình lần thứ
nhứt.
Năm 1952, Giáo hội Lục Hòa Tăng
được thành lập, đại chúng thỉnh Ngài làm Tăng trưởng, từ chối nhiều lần
không được, Ngài đành phải hứa khả. Trong thời gian phục vụ vì công việc
quá nhiều nên mắt Ngài mờ dần, mãi đến năm 1960 mới sáng trở lại. Dầu vậy
Ngài vẫn không xao lãng Phật sự, vẫn đi chứng minh đó đây, giảng dạy gia
giáo khắp các đạo tràng.
Năm 1955, khi tiếng súng chiến
tranh chấm dứt, Ngài cùng đồ chúng trở về trùng tu lại ngôi chùa Linh
Phước. Chùa chiền vừa được sửa sang xong chưa bao lâu thì chiến tranh nữa
lại nổi lên, khói lửa phủ mờ thôn xóm.
Năm 1961, Ngài cùng đồ chúng
lại phải rời bỏ mái chùa thân yêu, tản cư ra nương náu nơi am Linh Ẩn –
Nhị Bình lần thứ hai. Năm 1964, Ngài lại tản cư lưu trú nhiều chùa ở Mỹ
Tho suốt hai năm.
Năm 1966, ông bà Phán Bổn, một
bổn đạo tín tâm, thấy Ngài tuổi đã cao mà còn vất vả, lận đận nơi ăn chốn
ở nên đã hiến cúng cho Ngài một miếng đất ở Mỹ Tho. Ngài cùng đồ chúng về
đây dựng lên ngôi Linh Phước thứ hai, và trụ ở đây cho đến viên tịch.
Năm 1967, Ngài viết bảng Thanh
quy trao quyền trụ trì cho đệ tử là Ðại Ðức Nhuận Quang để Ngài chuyên tâm
tu trì và thuyết pháp độ sanh.
Năm 1974 (Giáp Dần), thấy sức
khỏe mình đã suy yếu lắm, Ngài họp các môn nhơn đệ tử dặn dò, phó chúc
những việc phải làm sau khi Ngài viên tịch. Ngày mùng 5 tháng 10 năm 1974,
Ngài thong thả đọc bài kệ :
Ngàn thu an
giấc khỏe thân ôi !
Cái nợ trầm
luân đã phủi rồi
Thẳng tới
Niết bàn theo cõi Phật
Thầy trò từ
giã kiếp này thôi.
Sau đó Ngài an nhiên thị tịch,
hưởng thọ 84 tuổi, 60 Hạ lạp. Môn nhơn đệ tử xây tháp an táng nhục thân
Ngài trong khuôn viên trước chùa Linh Phước.
--- o0o ---
[
Mục Lục ]
[
Phần tiếp theo ]
--- o0o ---
Trình bày: Nhị Tường
Cập nhật: 01-02-2003