TIỂU SỬ
DANH TĂNG
VIỆT NAM
THẾ KỶ XX
Thích Đồng Bổn
chủ biên
TẬP I
---o0o---
VI
GIAI ÐOẠN THỐNG NHẤT
PHẬT GIÁO LẦN THỨ 2
HÒA THƯỢNG
THÍCH GIÁC HẠNH
(1880 - 1981)
Hòa thượng họ Nguyễn thế danh
là Ðức Cử, đạo hiệu là Thích Giác Hạnh, sinh ngày 13 tháng 6 năm Canh Thìn
(1880- P.L. 2423) tại làng Ái Tử, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Xuất
thân trong một gia đình trung nông, thân phụ laø cụ ông Nguyễn Ðức Uẩn,
thân mẫu là cụ bà Lê Thị Lộc. Anh em Ngài có chín người gồm bảy trai và
hai gái và chính Ngài đóng vai trưởng tử khi người anh cả mất sớm.
Ngài sinh trưởng trong một gia
đình chịu ảnh hưởng Tam giáo. Thiếu thời, Ngài theo học Nho văn. Khác với
mọi Nho sinh, Ngài luôn ưu tư về cuộc sống xuất tục. Ðã nhiều lần Ngài
trình bày với thân sinh về bản hoài xuất gia học Phật của mình.
Cho đến năm 17 tuổi (1897),
Ngài mới được xuất gia tại Tổ đình Từ Hiếu (Huế). Sau 2 năm tu học với ý
chí kiên định, tính tình hoan hỷ và nhẫn nại, trong tuần lễ Phật Ðản 08-4
năm Kỷ Hợi (1899), Ngài thọ giới Sa Di với Ngài Huệ Nhật và được pháp danh
là Tâm Cảnh và pháp tự là Thiện Quyên.
Ngày 08 tháng 3 năm Canh Tuất
(1909), Ngài thọ Cụ Túc giới tại Ðại giới đàn Phước Lâm - Quảng Nam do Hòa
thượng Vĩnh Gia làm Hòa thượng Ðường đầu. Với chí nguyện tham học cầu ngộ
chân lý giải thoát, nên Ngài tìm đến học đạo tại chùa Tây Thiên. Trải qua
một thời gian dài tu học nghiên cứu, Ngài tinh thông kinh, luật, luận và
nhất là phần giới luật được Ngài nghiêm trì cẩn mật. Với tuệ căn mẫn tiệp,
sở học uyên thâm, nên tên tuổi Ngài không những được biết đến trong chốn
thiền môn mà còn lan truyền ra ngoài hàng tín hữu nữa. Từ năm 1915, Ngài
đã sớm thành bậc Pháp khí của Phật đạo. Lúc bấy giờ tại kinh thành Huế,
ông baø Hiệp Tá Ðại Học Sĩ Nguyễn Ðình Hòe có lập một ngôi am nhỏ hiệu Phổ
Phúc nằm trên đồi Bình An (Nam Giao-Huế) mong muốn mời Ngài làm tọa chủ.
Sau nhiều lần ông bà đến chùa Tây Thiên cung thỉnh, Ngài hoan hỷ nhận làm
truù trì Phổ Phúc Am vào năm Ất Mão (1915) lúc Ngài được 36 tuổi. Về đây,
thấy cách sinh hoạt ở Phổ Phúc Am mang nhiều sắc dị đoan mê tín không phù
hợp với thanh quy thiền môn, Ngài quyết tâm chấn chỉnh. Sau thời gian dài,
Ngaøi mới tạo được nếp sống thanh tịnh của chốn thiền môn.
Nhờ ý chí tiến tu và công hạnh
hoằng hóa Phật đạo, Ngài đã đắc pháp với Hòa thượng Tâm Tịnh, được ban Ðạo
hiệu là Giác Hạnh, vào ngày 14 tháng giêng năm Bính Dần (1926), kế thừa
đời thứ 43 dòng Lâm Tế Thiền Tông. Cùng năm đó, Ngài trùng tu chánh điện
và đổi Am Phổ Phúc thành chùa Vạn Phước (Huế).
Năm 1932, hội An Nam Phật Học
ra đời, Ngài được cung thỉnh làm chứng minh Ðạo sư của hội.
Năm 1933, để tiếp dẫn hậu lai
báo Phật ân đức, Ngài đã dành những ngôi nhà tả hữu của chùa (Vạn Phước)
làm cơ sở vật chất cho trường tiểu học Phật giáo để Tăng Ni có nơi tham
học, do Pháp sư Mật Khế sáng lập vaø chủ giảng.
Năm Nhâm Ngọ (1941), Ngài được
cung thỉnh làm Yết Ma Hòa thượng tại Ðại giới đàn chùa Hưng Khánh tỉnh
Bình Ðịnh do Ngài Chí Bảo làm Ðường đầu Hòa thượng.
Ngài rất quan tâm về việc hoằng
hóa độ sinh, nên Ngài đã từng cố vấn đạo hạnh cho hai tổ chức Phật giáo
đương thời là Giáo Hội Tăng Già Trung Việt và Hội An Nam Phật Học, Ngài
cũng đã chung sức cùng Chư tôn Giáo phẩm Tăng Ni hằng quan tâm đến các
lãnh vực giáo dục, xã hoäi và hóa đạo bằng những phương thức nghi lễ của
thiền môn. Ngài tự nguyện đứng vào trong ban Kinh tài để vận động tài
chánh cho báo Viên Âm. Tờ báo này được duy trì mãi đến ngày báo Liên Hoa
ra đời, nhờ sự đóng góp moät phần của Ngài.
Là người dốc lòng phụng sự đạo
pháp và cũng rất hiếu hạnh, Ngài không quên nơi chôn nhau cắt rốn, nên đã
trở về quê hương năm Mậu Tuất (1958). Cùng với chư vị Trưởng lão ở làng Ái
Tử, Ngài trùng tu chùa chiền, tạo lập trụ sở để tỏ lòng người đạo tử nhớ
nghĩa sanh thành.
Năm 1963, Ngài tham gia công
cuộc vận động, đòi thực thi 05 nguyện vọng của Phật Giáo Việt Nam.
Ðến năm Ất Tỵ (1965), Ngài thấy
tuổi tác đã cao không thể đảm đương Phật sự, nên Ngài trao chức trú trì
cho kế pháp tử trưởng là Hòa thượng Thích Tâm Hướng. Cùng năm này, Ngài
được mời làm Tôn chứng A Xà Lê các giới đàn Từ Hiếu, Báo Quốc và Thiền Tôn
- Huế.
Năm 1967, Ngài vào miền Nam
(Sài Gòn) tiếp nhận chùa Tuệ Quang. Năm 1970, Ngài cho xây lại chùa này,
và năm 1971 Ngài đã chú thành một đại hồng chung, sau đó đổi hiệu chùa là
Vạn Phước vào năm 1973 (Ở số 55 đường Tuệ Tỉnh, quận 11, Sài Gòn).
Năm 1973, Ngài được Giáo Hội
Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất cung thỉnh làm thành viên Hội Ðồng Trưởng
Lão Viện Tăng Thống. Cũng trong khoảng thời gian này, Ngài chỉ đạo cho Hòa
thượng Tâm Hướng chú đại hồng chung và trùng tu chùa Tịnh Ðộ nằm phía Tây
Bắc cạnh chùa Vạn Phước, đường Lam Sơn- Huế.
Từ đấy, Ngài không quản ngại
mọi khó khăn có khi hành đạo ở miền Trung, lúc du hóa tận phương Nam.
Nhiệm vụ của một trưởng tử Như Lai trong đời Ngài đã viên thành. Thân ngũ
uẩn giả hợp ấy đã đến hồi qui tịch, Ngài đã an nhiên mãn hiện vào giờ Tý
ngày 10 tháng 7 năm Tân Dậu (nhằm ngày 09/8/1981), trường thọ 102 năm,
được 72 hạ lạp. Nhà bia và bảo tháp của Ngài được tôn trí tại khuôn viên
chùa Vạn Phước, đường Lam Sơn-Huế.
Cuộc đời hành hóa của Ngài thể
hiện phương châm : “Lợi sanh vi sự nghiệp, hoằng hóa thị gia vụ” của chư
Tổ mà Ngài đã tâm đắc và thực hành suoát tám mươi lăm năm xuất trần vi
thượng sĩ vậy.
HÒA THƯỢNG
HỘ TÔNG
(1893- 1981)
Hòa thượng Hộ Tông thế danh là
Lê Văn Giảng, sinh năm 1893 tại làng Tân An, quận Tân Châu, tỉnh Châu Ðốc.
Ngài xuất thân trong một gia đình trung lưu trí thức, thân phụ là ông Lê
Văn Như, thân mẫu là bà Ðinh Thị Giêng. Thuở nhỏ Ngài theo học chữ Hán và
chữ Việt tại làng Tân An. Ðến năm 20 tuổi Ngài sang Phnômpênh học chương
trình Pháp vaên tại trường Collège Sisavatt. Ngài thi đậu bằng Diplôme.
Sau đó Ngài về học ngành Thú y tại trường Cao Ðẳng ở Hà Nội, đậu bằng bác
sĩ thú y, và làm việc tại Campuchia.
Mặc dù thành công mỹ mãn trên
đường đời, có địa vị trong xã hội, nhưng men danh lợi không làm say lòng
Ngài. Năm 34 tuổi, Ngài phát tâm bắt đầu từ bỏ thế tục, hướng về nghiên
cứu con đường tu hành, thoát khỏi mùi danh bả lợi. Ngài tìm đọc nhiều kinh
sách khác nhau và thực hành khổ hạnh, tuyệt dục. Cuối cùng Ngài gặp được
đức Phó Vua sãi tại chùa Unalom Phnômpênh Campuchia. Ngài được Ðức Phó Vua
sãi giảng dạy bát chánh đạo và bảo Ngài hãy đến Pháp Bảo Viện đọc quyển
Bát Chánh Ðạo bằng tiếng Pháp. Từ đó Ngài có duyên lành với Phật giáo Nam
Tông tại xứ Chùa Tháp Campuchia. Ngài cùng với ông Nguyễn Văn Hiểu và các
cư sĩ người Việt khác hội họp lúc thì tại Sài Gòn, lúc tại Phnômpênh để
đàm đạo về Phật pháp. Ngài lập một ngôi chùa tại Phnômpênh là chùa Sùng
Phước để hướng dẫn Việt kiều tu học theo Phật giáo Nam Tông. Mọi người gọi
Ngài là A-Cha Giảng với lòng tôn kính. Vào ngày rằm tháng 10 năm Canh Thìn
(1940), Ngài được đức Phó Vua sãi Campuchia truyền giới xuất gia tại chùa
Sùng Phước Phnômpênh.
Cũng trong năm 1940, Ngài về
Việt Nam xây dựng Tổ đình Bửu Quang tại ấp Gò Dưa, xã Tam Bình, huyện Thủ
Ðức, Sài Gòn. Ðây là ngôi chùa đầu tiên của Phật giáo Nam Tông người Việt.
Từ đây nhiều ngôi chùa của Phật giáo Nguyên Thủy được thành lập và Phật
giáo Nguyên Thủy bắt đầu được truyền bá ở Việt Nam.
Năm 1944, Ngài trở lại
Phnômpênh. Tại xứ chùa Tháp, Ngài chu du khắp nơi, Ngài vào rừng để thực
hành thiền định Vipassanà theo hạnh Ðầu Ðà (Dhutanga).
Năm 1949, Ngài trở về Việt Nam
cùng với cư sĩ Nguyễn Văn Hiểu và các thiện tín ban đầu của Phật giáo
Nguyên Thủy lập chùa Kỳ Viên ở Bàn Cờ, quận 3, Sài Gòn. Ở đây Ngài thường
xuyên thuyết pháp về kinh điển Pàli cho cư sĩ tín đồ tu học theo giáo lý
Nguyên Thủy.
Từ lúc thấm nhuần chánh pháp,
Ngài luôn luôn tinh tấn hành đạo và hoaèng pháp lợi sanh.
Năm 1954, Ngài cùng với Hòa
thượng Bửu Chơn đã tham dự hội nghị kết tập Tam Tạng Pàli lần thứ 6 tại
Rangoon - Miến Ðiện. Ngài đã đọc diễn văn trong ngày bế mạc hội nghị.
Ngài đến Ấn Ðộ chiêm bái bốn
Thánh tích trung tâm : Bồ Ðề Ðạo Tràng, Vườn Lộc Uyển, Vườn Lâm Tì Ni và
nơi Phật nhập Niết Bàn. Ngài cũng xuất ngoại sang Thái Lan và Tích Lan để
nghiên cứu Tam Tạng Pàli và thực hành Thiền Tứ Niệm Xứ.
Ngày 18-12-1957 Giaùo Hội Tăng
Già Nguyên Thủy Việt Nam được thành lập. Trong Ban Chưởng Quản lâm thời,
Ngài được bầu làm Phó Tăng Thống đệ nhị. Sau đó, chính thức bầu Ban Chưởng
Quản Giáo Hội Tăng Già Nguyên Thủy Việt Nam khóa I, Ngài đươïc suy cử chức
vụ Tăng Thống.
Ngài đã xây dựng nhiều ngôi
chùa, đào tạo nhiều Tăng tài, cho xuất gia nhiều tu nữ, thành lập Phật học
viện, Thiền viện.
Ở Lâm Ðồng, Ngài lập Thiền viện
Tam Bố năm 1963 và Thiền viện Phi Nôm năm 1964.
Ở Thủ Ðức, Sài Gòn, Ngài lập tu
viện Bửu Long và Phật học viện Nguyên Thủy năm 1970, và ở Vũng Tàu, Ngài
lập chùa Bồ Ðề năm 1969 trên Núi Lớn.
Ngài cũng hợp tác với các vị
cao Tăng khác trong Phật giáo Nguyên Thủy để lập các chùa Tam Bảo-Ðà Nẵng
năm 1953, chùa Giác Quang- Chợ Lớn năm 1950, chùa Pháp Quang-Gia Ðịnh năm
1958, chùa Tăng Quang ở Huế năm 1959 v.v...
Ðến năm 1971, Ngài tiếp tục đảm
nhận chức Tăng Thống, nhưng uûy quyền lại cho Hòa thượng Bửu Chơn lúc bấy
giờ là Phó Tăng Thống điều hành, còn Ngài sang Thái Lan để hành thiền và
nghiên cứu Tam Tạng Pàli. Sau đó Ngài trở về Việt Nam tiếp tục hành đạo và
hoằng dương giáo pháp.
Naêm 1980, Nhà nước Việt Nam
cho phép Ngài xuất cảnh sang Pháp chữa bệnh. Ở Pháp hơn một năm vì nỗi nhớ
quê hương, nhớ chư Tăng và các ngôi chùa thân yêu, Ngài xin trở về Việt
Nam, dừng bước tại chùa Bửu Long- Thủ Ðức, nơi đây Ngài trùng tu cảnh Bồ
Ðề Ðạo Tràng. Sau đó, Ngài tổ chức làm phước cúng dường trai Tăng bảy ngày
và cúng dường đến 33 ngôi chùa Phật giáo Nguyên Thủy.
Ngày 26-7 năm Tân Dậu, tức
25/8/1981 trước những giờ phút cuối cùng, Ngài rất minh mẫn còn giảng dạy
Thiền định về đề mục niệm hơi thở cho các đệ tử thân cận. Bài pháp vừa
xong, Ngài an lành viên tịch, với nét mặt trang nghiêm tươi tỉnh như đang
nằm nghỉ ngơi. Lúc ấy là 16 giờ 45 phuùt. Ngài hưởng thọ 89 tuổi đời, 41
tuổi đạo.
Công đức du nhập Phật giáo
Nguyên Thủy vào Việt Nam của Ngài vô cùng to lớn. Ngài là vị Tổ khai sơn
của Phật giáo Nam Tông người Việt. Ngài có nhiều đức tính ưu việt mà các
hàng đệ tử xuất gia và tại gia của Ngài không bao giờ quên được. Ngài là
một người ngay thẳng, bộc trực, nghiêm khắc nhưng bao dung, thích độc cư
thiền định, thực hành hạnh bố thí xả ly. Báo thân ấy đã tan rã, nhưng sự
nghiệp hoằng pháp và tấm gương tu hành tinh chuyên của Ngài còn mãi. Các
kinh sách đã được Ngài phiên dịch và ấn hành:
- Nhật hành của cư sĩ.
- Cư sĩ thực hành.
- Luật Xuất Gia quyển 1, 2.
- Vi Diệu Pháp vấn đáp.
- Nền Tảng Phật Giáo.
- Sơ Thiền Tâm.
- Thanh Tịnh Kinh.
- Quỷ Vương Vấn Ðạo.
- Tứ Diệu Ðế.
- Bát Chánh Ðạo.
- Pháp Trích Yếu.
- Phật Giáo chánh lời Phật
thuyết.
- Phép Chánh Ðịnh.
- Phật Ngôn.
- Thập Ðộ.
- Triết lý về nghiệp v.v...
HÒA THƯỢNG
THÍCH TÂM HOÀN
(1924 - 1981)
Hòa thượng Tâm Hoàn, thế danh
là Nguyễn Hướng, pháp danh Tâm Hoàn, tự Giải Quy, hiệu Huệ Long, thuộc
dòng thiền Lâm Tế đời thứ 43.
Ngài sinh ngày 12 tháng 02 năm
Giáp Tý (1924),tại làng Phú Thành, xã Nhơn Thành, huyện An Nhơn, tỉnh Bình
Ðịnh trong một gia đình Nho giáo, thân phụ là ông Nguyễn Phước Trì, thân
mẫu là bà Lê Thị Chiếu. Cả hai ông bà đều là người phước đức nhân hậu, có
lòng kính tín Tam Bảo, thường hay đến lễ bái và nghe giảng tại Tổ đình
Thập Tháp Di Ðà. Thân phụ Ngài là một hương chức trong làng, được mọi
người quý mến.
Gia đình Ngài có tất cả chín
anh chị em, Ngài là người con thứ tám. Người anh cả đã xuất gia tại Tổ
đình Thập Tháp với Tổ Phước Huệ, trú trì chùa Diêu Quang, ấp Nhơn Thọ, xã
Thọ Lộc, huyện An Nhơn, Bình Ðịnh.
Do những thuận duyên sẵn có ấy,
Ngài đã sớm thừa hưởng được phước báu từ gia đình trong cả hai lãnh vực,
đạo pháp và tri thức. Khi lớn lên, những nếp sinh hoạt mang nặng truyền
thống Phật giáo của gia đình, Ngài đều thuần thục. Cũng như hai bậc sanh
thành, Ngài luôn ngưỡng mộ nếp sống đạo phong ung dung thanh thoát của các
bậc Tăng già phạm hạnh.
Năm Ất Hợi (1935) khi Ngài vừa
12 tuổi, thêm một thiện duyên quý báu nữa đưa đến bước ngoặt quan trọng
của đời Ngài là việc Hòa thượng Giác Tánh vốn là thân hữu của thân phụ,
thường hay gặp gỡ trao đổi đạo tình đã tấn dẫn Ngài bước vào con đường tu
Phật. Liền sau đó, được sự chấp thuận của hai đấng sinh thành, Ngài đã đến
Tổ đình Long Khánh, cầu đạo xuất gia với Hòa thượng Chánh Nhơn (húy Trừng
Chấn). Hôm đó là ngày mùng 8 tháng 4.
Năm 1941, Ngài được Hòa thượng
Bổn sư gởi đến học tại Phật học đường Báo Quốc-Huế. Thời gian này, Ngài
được sự tận tình dạy dỗ của chư Tôn đức giáo thọ nổi tiếng, trong đó có
Ngài Ðốc giáo Trí Ðộ và bác sĩ Tâm Minh - Lê Ðình Thám, là hai vị đang nỗ
lực đào tạo Tăng tài cho công cuộc chấn hưng Phật giáo. Cùng khóa được đào
tạo với Ngài tại Phật học đường này có quý Hòa thượng Trí Quang, Thiện
Minh, Huyền Quang, Thiện Siêu, Trí Nghiêm, Trí Thành...
Năm 1944, lúc 20 tuổi Ngài thọ
Cụ Túc giới tại Tổ đình Hưng Khánh, trong giới đàn này Ngài được chọn là
Vĩ Sa di.
Năm 1945, Ngài trở lại quê nhà.
Do điều kiện đất nước đang dồn tâm lực vào việc chống ngoại xâm, Ngài đã
tham gia phong trào Phật giáo Cứu quốc tỉnh Bình Ðịnh với tư cách thành
viên sáng lập.
Từ năm 1945 đến 1954, Ngài liên
tục dấn thân vào công việc cứu nước bên cạnh sự nghiệp hoằng hóa. Do đó
trong 10 năm liên tục này, Ngài từng là Bí thư Phật giáo Cứu Quốc tỉnh, Ủy
viên Ban Chấp hành Mặt trận Việt Minh tỉnh, Ủy viên Ủy ban Kháng chiến
tỉnh, Chính trị viên Thị Ðội Boä Dân Quân Quy Nhơn, Ủy viên Hội Ðồng Nhân
Dân tỉnh Bình Ðịnh (ứng cử đơn vị An Nhơn) và các chức vụ khác. Do những
cống hiến đó, Ngài luôn bị theo dõi và không tránh khỏi tù tội, chịu đủ
mọi tra tấn cực hình như vào năm 1956 Ngài bị giam bằng gông xiềng tại Ty
Công An Tuy Hòa và nhà lao Ngọc Lãn cho đến ngày hiệp định đình chiến
Genève được ký kết.(1)
Năm Giáp Ngọ (1954) sau khi đất
nước bị chia đôi, Ngài được cử giữ chức Phó Hội trưởng Hội Phật học Trung
phần.
Năm Kỷ Hợi (1959), Ngài lại
được bầu vào chức Phó hội trưởng Hội Phật giáo tỉnh Bình Ðịnh.
Năm Quý Mão (1963), cũng như
nhiều chư sơn khác, dưới sự lãnh đạo của Ủy Ban Liên Phái Bảo Vệ Phật
giáo, Ngài đã dấn thân tích cực cùng toàn thể Phật giáo đồ cả nước làm nên
trang sử đẹp nhất ở cương vị của mỗi người con Phật thời bấy giờ.
Năm Giáp Thìn (1964), Giáo Hội
Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất ra đời đáp ứng giai đoạn phát triển mới có
tầm vóc, kỷ cương chặt chẽ. Ngài được Ðại Hội toàn tỉnh suy cử chức Phó
Ðại Diện Giáo Hội tỉnh Bình Ðịnh.
Về mặt đào tạo, Ngài đã từng
đảm nhận những trọng trách như từ năm 1947, 1948 là Giáo thọ caùc Phật học
đường Thập Tháp (An Nhơn), Thiên Ðức (Tuy Phước)... Từ năm 1956 đến năm
1957, Phó Giám đốc Phật học đường Nha Trang. Năm 1960, Phó Ðốc Giáo Phật
học viện Nguyên Thiều. Sau năm 1963, là Phó Giám Viện và Giáo thoï tại hai
Phật học viện Phước Huệ và Tổ đình Thập Tháp. Năm 1968, làm Hóa chủ Ðại
giới đàn Bình Ðịnh tại Tổ đình Long Khánh. Năm 1973, là Chánh chủ khảo Ðại
giới đàn Phước Huệ tại Nha Trang, năm 1976 là Giáo thọ tại Ðại giới đàn
chùa Hưng Long, Bình Ðịnh.
Về mặt truyền pháp độ sinh, đệ
tử của Ngài phần lớn đều được gởi đi tu học và xuất thân từ các Phật học
đường danh tiếng, nhiều vị đã trở thành giảng sư lỗi lạc, đang tiếp tục
con đươøng hoằng hóa của Ngài. Kể cả giới Cư sĩ Phật tử tại gia cũng không
hiếm người lỗi lạc đang tiếp tục tu học ở khắp mọi nơi, nhiều nhất là ở
huyện Hoài Ân- Hoài Nhơn Quy Nhơn và Thành phố Hồ Chí Minh.
Riêng về Tổ đình Long Khánh, do
Tổ Ðức Sơn từ Trung Quốc đến khai sơn vào khoảng năm 1700, là một danh lam
thắng tích và lưu tâm của mọi người. Ngài đã góp phần vào việc trùng tu,
phát triển thành nơi trường lớp đào tạo Tăng Ni và Phật tử tại gia nổi
tiếng. Các Ngài Thiện Hoa, Thiện Hòa và nhiều vị khác đã từng đến học tại
đây trong thời kỳ Tổ Phước Huệ làm chủ giảng.
Cả cuộc đời của Ngài thể hiện
qua nếp sống tam thường bất túc, giản dị, siêng năng, nhu hòa, nhẫn nhục,
lúc nào Ngài cũng nghiêm túc với bản thân, khiêm tốn, nhã nhặn với mọi
người. Ngài rất thương yêu đồ chúng và hết lòng phụng sự Tam Bảo, dân tộc,
mong sao cho đạo mạch miên viễn, đất nước vinh quang. Chính các hạnh
nguyện này của Ngài, là động cơ thúc đẩy Tăng chúng và Phật tử noi gương,
sách tấn nhau trên bước đường tu niệm, giải thoát.
Cơ duyên đã mãn, sau hơn năm
mươi năm sống giữa trần hành đạo, Ngài đã an nhiên thị tịch vào lúc 5 giờ
sáng, ngày mùng 7 tháng 3 năm Tân Dậu (1981) tại Tổ đình Long Khánh, thành
phố Quy Nhơn. Hưởng
thọ 58 tuổi đời, 38 tuổi đạo.
Chú thích :
1) Theo thủ bút của
chính Ngài.
HÒA THƯỢNG
ẨN LÂM
(1898 - 1982)
Hòa thượng tục danh
là Lê Văn Tâm, sinh năm Mậu Tuất (1898) trong một gia đình nông dân tại
huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang. Thân phụ Ngài là cụ Lê Văn Cường, thân mẫu
là cụ Ðặng Thị Dưỡng. Gia đình Ngài quy y theo Phật giáo Bắc Tông. Thuở
nhỏ Ngài đã theo gia đình thường xuyên đến các chùa để lễ Phật tụng kinh.
Năm 18 tuổi, duyên
lành đã đến, Ngài xuất gia tại chùa Khánh Quới thuộc phái Lâm Tế (Thiền
tông Trung Quoác). Sau đó Ngài đi hành đạo ở các chùa Long Thành, Huỳnh
Long rồi trở về chùa Phi Lai nơi Ngài đã quy y từ thuở nhỏ.
Năm 30 tuổi (1920),
Ngài sang Campuchia nghiên cứu kinh điển Tam Tạng Pàli. Năm 1940, Ngài gặp
Hòa thượng Thiện Luật (người Việt Nam tu theo hệ phái Nam tông, bấy giờ ở
tỉnh Preyveng- Campuchia) và được thọ giới theo Phật giáo Nam Tông. Năm
1941 Ngài phát nguyện thực hành pháp môn Ðầu Ðà khất thực và độc cư trong
rừng.
Năm 1946, Ngài thọ
giới Tỳ kheo với Ngài Dhammavansa Guna Thera. Vì cảm kích nếp độc cư thiền
định trong rừng nên Thầy tế độ đã ban pháp danh cho Ngài là Ẩn Lâm
(Arannavasi). Ngài luôn tâm niệm người tu phải sống độc cư thiền định,
rưøng núi là môi trường yên tĩnh sẽ giúp cho tâm được thanh tịnh. Ðồng
thời Ngài gìn giữ giới hạnh trang nghiêm trong sạch, lấy giới định tuệ làm
phương châm tu tập. Ngài có đời sống tri túc, thiểu dục của bậc Sa môn
chân chính. Dù ở đâu Ngài cũng trì bình khất thực hàng ngày.
Năm 1954, từ
Campuchia về Sài Gòn, Ngài tu tập tại các chùa Kỳ Viên, Giác Quang, Bửu
Quang.
Năm 1957, Giáo Hội
bổ nhiệm Ngài về trụ trì chùa Tăng Quang (Huế).
Năm 1959, Ngài theo
quyết định của Giáo Hội về điều hành Phật sự tại chùa Tam Bảo (Ðà Nẳng).
Năm 1961, Ngài lại
về trụ trì chùa Thanh Vân, Tây Ninh.
Năm 1962, Giáo Hội
điều động Ngài về trụ trì chùa Phước Hải, Tân Hiệp, Tiền Giang.
Năm 1975, Giáo Hội
Tăng Già Nguyên Thủy Việt Nam điều Ngài về trụ trì chùa Kỳ Viên- Bàn Cờ,
Sài Gòn.
Trên bước đường
hoằng dương chánh pháp, đâu đâu cũng có dấu chân của Ngài, từ miền Nam ra
miền Trung, từ miền Trung xuống miền Tây.
Ngài là một trong
những vị Giáo phẩm cao cấp của Phật giáo Nam Tông được Tăng ni Phật tử hệ
phái tôn kính ngưỡng mộ. Năm 1965, Ngài được tín nhiệm suy cử vào chức Phó
Tăng Thống Giáo Hội Tăng Già Nguyên Thủy Việt Nam. Năm 1976, Ngài được chư
Tăng suy cử Ngài vào chức vụ Tăng Thống GHTGNTVN. Trong nhiệm kỳ 1979 -
1982 Ngài làm Cố Vấn GHTGNTVN.
Năm 1981, khi Giáo
Hội Phật Giáo Việt Nam được thành lập, Ngài được Ðại hội suy cử vào chức
vụ Phó Pháp chủ Hội đồng Chứng minh.
Tháng 10/1982 sức
khỏe của Ngài bắt đầu suy yếu. Mặc dù bệnh duyên như vậy, nhưng Ngài vẫn
vô cùng sáng suốt khi Tăng chúng Phật tử đến thăm, Ngài thường nhắc nhở
vieäc tu hành. Hình ảnh một vị Hòa thượng cao Tăng luôn luôn chánh niệm,
tỉnh giác trước giờ phút viên tịch đã tác động vào niềm tin của hàng Phật
tử xuất gia cũng như tại gia cư sĩ rất nhiều.
Vào lúc 10 giờ 30
phút sáng 20/12/1982 tức 6/11 năm Nhâm Tuất, Ngài đã an nhiên thị tịch.
Một đại thọ đã không còn, một thuyền từ đã tách bến, để lại niềm thương
tiếc vô bờ nơi các hàng môn đệ hậu sanh.
HÒA THƯỢNG
THÍCH THÁI KHÔNG
(1902 - 1983)
Hòa thượng Thích
Thái Không, thế danh là Hoàng Long Phi, sinh ngày 07-7-1902 (Nhâm Dần) tại
xã An Nhơn, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre. Thân phụ là cụ Hoàng Ðăng Khoa
và thân mẫu là cụ Khống Thị Mai. Ngài là con thứ năm trong gia đình có sáu
anh em.
Xuất thân từ một gia
đình nông dân nghèo, có truyền thống tin đạo. Năm 1917 (Ðinh Tỵ), Ngài
xuất gia đầu Phật nơi Tổ Khánh Hòa tại chùa Tuyên Linh thuộc xã Minh Ðức,
huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre. Tại ngôi chùa này, Ngài đã cần mẫn miệt mài tu
học, rồi được lần lượt thọ Sa Di và Cụ Túc giới.
Năm 1930, phong trào
chấn hưng Phật giáo ở miền Nam phát khởi từ Hòa thượng Khánh Hòa, Bổn sư
của Ngài. Vì thế Ngài được tiếp xúc thường xuyên với Sư Thiện Chiếu, cùng
nhau hợp tác với Hội Nam Kỳ Nghiên Cứu Phật Học. Ngài lấy bút hiệu bằng
chính pháp danh của mình, để tham gia viết bài cho tờ báo Từ Bi Âm, góp
phần chuyeån tải những giá trị tinh hoa Phật học cũng như lịch sử Phật
giáo nước nhà, un đúc thêm niềm tin yêu Phật pháp và khêu gợi lòng yêu
nước, tự tôn dân tộc trong mọi tầng lớp độc giả. Nhờ đó, Ngài được xem như
một sứ giaû Như Lai hoằng truyền chánh pháp một cách rất đắc lực trong
khoảng thời gian và hoàn cảnh mà Phật giáo hầu như bị đẩy lùi vào làng quê
cô tịch.
Khi các hoạt động
của Hội Nam Kỳ Nghiên Cứu Phật Học tạm lắng dịu bởi những khó khăn khách
quan, Ngài trở về với Hội Phật Học Lưỡng Xuyên, tiếp tục cống hiến tài sức
làm lợi ích cho sự nghiệp chánh pháp, phụ lực với Tổ Khánh Hòa, Huệ Quang,
Khánh Anh và cư sĩ Trần Quỳnh là chủ bút tạp chí Duy Tâm để đào tạo Tăng
tài cho Phật giáo miền Nam.
Năm 1944, Ngài trở
về trú xứ chùa Tuyên Linh thuộc xã Minh Ðức, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre.
Nơi đây, vì giúp đỡ che giấu nhiều chiến sĩ cách mạng, Ngài bị giặc Pháp
bắt điều tra, đánh đập và giam cầm sáu tháng. Nhờ Tổ Khánh Hòa lãnh ra cho
về chùa Viên Minh ở một thời gian. Sau đó, vì e rằng Ngài tiếp tục hoạt
động móc nối với các chiến sĩ Cách mạng, thực dân Pháp không còn cách nào
khác hơn là quản thúc Ngài tại chùa Viên Giác, thị xã Bến Tre, hòng cách
ly với quần chúng Phật tử và dập tắt lòng yêu nước nơi Ngài. Nhưng Ngài
vẫn giữ lòng kiên định với dân tộc và đạo pháp.
Cuối năm 1941, do
chiến tranh giữa thực dân Pháp với các lực lượng kháng chiến, Hội Lưỡng
Xuyên Phật Học không thể tiếp tục hoạt động vì thiếu nguồn tài trợ. Ngài
chọn con đường kháng chiến chống Pháp, theo Cách mạng ra chiến khu. Năm
1945, Ngaøi được bầu làm Trưởng ban Chấp hành Hội Phật Giáo Cứu Quốc tỉnh
Bến Tre, và là thành viên Mặt Trận Việt Minh tại quận Giồng Miếu.
Từ năm 1947 đến năm
1949, Ngài còn là Trưởng Ban chia cơm xẻ áo cho Vệ Quốc Ðoàn tỉnh Bến Tre.
Năm 1951, Ngài được
điều về công tác tại xã Long Hòa kết hợp với nhiệm vụ xây dựng lại từ đầu
công việc hoằng hóa.
Năm 1960, tại Bến
Tre phát động cuộc Cách mạng Ðồng Khởi, Ngài được đề cử giữ chức Ủy viên
Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam tỉnh Bến Tre, kiêm chủ tịch
Mặt trận Dân tộc Giải phóng huyện Thạnh Phú.
Năm 1969, Ngài lúc
này trú xứ tại xã An Nhơn, huyện Thạnh Phú, được hội đồng Lưỡng Viện Giáo
Hội Phaät Giáo Việt Nam Thống Nhất đề cử trụ trì chùa Lưỡng Xuyên-Trà Vinh
ngày 11/10/1970 và được suy cử làm Trưởng ban Giáo Dục Tăng Ni và Giám
Luật.
Từ đó cho đến năm
1975, với danh nghĩa Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, Ngài hoạt
động công khai và giữ liên lạc thường xuyên với Cách mạng, nhất là với các
cán bộ Tôn giáo kiều vận Trung Nam bộ.
Năm 1975, sau khi
đất nước thống nhất, Ngài được cử vào Ủy Ban Mặt Trận Tổ Quốc thị xã Traø
Vinh.
Năm 1976, Ngài được
bầu vào Hội Ðồng Nhân Dân tỉnh Cửu Long, nhiệm kỳ I. Và đến năm 1977, là
Ủy viên Mặt Trận Tổ Quốc tỉnh Cửu Long nhiệm kỳ I, II đồng thời là Ủy viên
Hội Ðồng Nhân Dân thị xã Trà Vinh nhiệm kỳ III.
Năm 1981, Ngài là
thành viên Ban Trù Bị Ðại Hội Phật Giáo Thống Nhất họp tại thủ đô Hà Nội.
Sau khi Giáo Hội
Phật Giáo Việt Nam được hình thành, Ngài được suy cử làm thành viên Hội
đồng Chứng minh Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam nhiệm kỳ I.
Cũng như mọi chúng
sinh chịu sự chi phối của định luật vô thường, Ngài đã xả báo an tường sau
cơn bạo bệnh vào ngày 24 tháng giêng năm Quí Hợi (8.3.1983). Trụ thế 81
năm và 60 năm đạo nghiệp.
Một loøng trung kiên
với dân tộc và đạo pháp, Ngài thể hiện một cách trọn vẹn cả Ðạo lẫn Ðời
trong sự nghiệp và hành động, nối tiếp truyền thống đặc thù của Phật giáo
Việt Nam qua gương Trúc Lâm - Tuệ Trung Thượng Sĩ.
HÒA THƯỢNG
THÍCH TRÍ THỦ
(1909 - 1984)
Hòa thượng họ
Nguyễn, húy Văn Kính, pháp danh Tâm Như, tự Ðạo Giám, pháp hiệu Thích Trí
Thủ. Ngài sinh ngày 19 tháng 9 năm Kỷ Dậu, tức ngày 01-11-1909 trong một
gia đình nho phong thanh bạch, tại làng Trung Kiên, tổng Bích Xa, phủ
Triệu Phong (Nay là xã Triệu Thượng, huyện Triệu Phong) tỉnh Quảng Trị.
Thân phụ là cụ Nguyễn Hưng Nghĩa, thân mẫu là cụ Lê Thị Chiếu. Hai cụ là
người rất kính tín Tam Bảo. Vì vậy, dù là con trai độc nhất trong gia
đình, lúc 14 tuổi Ngài đã được song thân cho vào học kinh kệ ở chùa Hải
Ðức - Huế.
Năm 1926, khi được
17 tuổi, Ngài thực thụ xuất gia thọ giáo với Hòa thượng Viên Thành tại
chùa Tra Am ở Huế. Năm Ngài 20 tuổi (1929), được Bổn sư cho vào thọ giới
Cụ Túc (Tỳ Kheo) tại Ðại giới đàn chùa Từ Vân ở Ðà Nẵng. Tại đại giới đàn
này Ngài trúng tuyển Thủ Sa Di trong số 300 giới tử. Do đó, Boån sư đã ban
cho Ngài pháp hiệu là Thích Trí Thủ, ngụ ý khen tặng chữ THỦ là đứng đầu.
Cũng vừa năm đó, Bổn sư của Ngài là Hòa thượng Viên Thành viên tịch. Ngài
ở lại chùa Tra Am hai năm để thọ tang. Năm 1932, Ngài vào học tại Phật học
đường Trúc Lâm do Hòa thượng Giác Tiên thành lập và mời Hòa thượng Phước
Huệ ở chùa Thập Tháp-Bình Ðịnh ra làm chủ giảng.
Trong thời gian theo
học tại Phật học đường Trúc Lâm, gặp lúc phong trào chấn hưng Phật giáo
khởi phát ở miền Trung, Ngài tích cực tham gia, cùng với các pháp lữ khác
góp phần rất lớn. Ngài đã từng làm giáo thọ, dạy ở trường Phật Học Phổ
Thiên, Ðà Nẵng.
Cuối năm 1934, Ngài
trở ra Huế, cùng các pháp lữ ngày trước tổ chức trường Phật học ở chùa Tây
Thiên, cung thỉnh Tăng Cang Giác Nhiên ở chùa Thuyền Tôn làm giám đốc, Hòa
thượng Phước Huệ ở chùa Thập Tháp-Bình Ðịnh làm đốc giáo. Cùng thời gian
này, Ngài còn làm giảng sư cho Hội Phật Học Thừa Thiên và lớp Trung đẳng
Phật học cũng mở tại chùa Tây Thiên, cùng kiêm nhiệm việc giảng dạy tại
trường Tiểu học Phật học mở tại chùa Báo Quốc - Huế.
Năm 29 tuổi (1938),
sau khi tốt nghiệp trường Phật học Tây Thiên, Ngài được sơn môn cử về trú
trì Tổ đình Ba La Mật. Ngài vẫn tiếp tục công việc giảng dạy và hỗ trợ cho
các trường Phật học. Năm 1939, Ni trường chùa Từ Ðàm được thành lập. Ðây
là cơ sơû và khởi duyên Ni bộ đầu tiên được hình thành trong cả nước. Sơn
môn và hội Phật học giao cho Ngài đặc trách việc đào tạo Ni chúng.
Năm 1942, Ngài được
Giáo Hội Tăng Già Thừa Thiên bổ nhiệm trú trì chùa Báo Quốc. Thời gian này
Ngài tích cực hoạt động cho việc phục hưng Phật Giáo và cùng các Tăng lữ
cấp tiến như Thượng tọa Mật Thể, Thiện Minh, Thiện Siêu đề xướng cải tiến
cách tu học, phổ cập cho phù hợp với thời đại.
Năm 1944, các lớp
Ðại, Trung và Tiểu học của trường Sơn Môn Phật Học được dời về chùa Linh
Quang, Ngài được sơn môn Tăng Già giao phó nhiệm vụ Giám viện kiêm trú trì
chùa.
Cuối năm 1945, chiến
tranh Việt - Pháp lại bùng nổ sau cuộc Cách Mạng Tháng Tám giành độc lập
cho nước nhà, Ngài đã cùng một số vị khác thành lập hội Phật Giáo Cứu Quốc
Trung bộ và Thừa Thiên, và cho người đi khắp các tỉnh thành lập hội Phật
Giáo Cứu Quốc tại tỉnh. Vào năm 1946, chiến sự xảy ra ngay tại thành phố
Huế, nên Sơn Môn Tăng Già Thừa Thiên quyết định dời trường sơn môn Phật
Học về chùa Báo Quốc, Ngài bàn giao nhiệm vụ trú trì chùa Linh Quang lại
cho Hòa thượng Mật Nguyện.
Năm 1947, mặt trận
Huế vỡ, cảnh tang thương, chết chóc diễn ra khắp thành thị đến nông thôn.
Những Tăng tín đồ nào đã thực sự đứng trong hàng ngũ kháng chiến thì rút
ra chiến khu. Những ai còn trong nội thành thì tập hợp nhau tại các chùa
để cầu nguyện cho đất nước sớm thanh bình. Sau đó, các Phật sự được khôi
phục dần dần. Cuối năm đó, Ngài được giao nhiệm vụ mở lại Phật học đường
Trung Việt tại chùa Báo Quốc và tiếp tục làm Giám viện. Chính nơi đây đã
đào tạo được nhiều Tăng tài, lỗi lạc hữu dụng cho các hoạt động Phật sự về
sau. Từ giới đàn đầu tiên tại đây, sau cơn khói lửa, do Ngài làm đàn đầu,
đã phục hồi ý nghĩa “Thất chứng” mà các trường giới thường ít coi trọng.
Năm 1950, sau khi
hội Việt Nam Phật Học thành lập(1) được ba năm, Ngài được đại hội thường
niên bầu làm Hội trưởng thay cho cư sĩ Chơn An -_Lê văn Ðịnh. Từ ngày có
phong trào chấn hưng Phật giáo tại Trung Việt năm 1932, đây là lần đầu
tiên chức Hội trưởng thuộc về Tăng sĩ.
Thống nhất Phật giáo
là nguyện vọng tha thiết nhất trong cuộc đời tu hành của Ngài. Do đó, khi
được giao nhiệm vụ đứng đầu Hội Việt Nam Phật Học, Ngài liền vận động
thống nhất Phật giáo cả nước. Năm 1951, một đại hội gồm 51 đại biểu đại
diện cho 6 tập đoàn Phật giáo, cả ba miền Nam, Trung, Bắc họp tại chùa Từ
Ðàm ngày 06 tháng 5 dương lịch, đã quyết nghị thành lập Tổng Hoäi Phật
Giáo Việt Nam, đáp ứng nguyện vọng tha thiết của hàng Tăng sĩ và cư sĩ đã
từng ước ao thống nhất Phật giáo Việt Nam.
Năm 1952, trong chức
vụ Ủy viên Hoằng pháp của Giáo Hội Tăng Già Trung Việt, Ngài đã đặt viên
đá cho ngôi trường Trung, Tiểu học tư thục Bồ Ðề đầu tiên của hội tại
thành nội Huế. Từ đó về sau các trường Bồ Ðề từ bậc Tiểu học đến bậc Trung
học được lần lượt mở ở các tỉnh hội khắp Trung Việt, lan vào cả Sài gòn.
Năm 1956, Ðại hội kỳ
II của Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam họp tại chùa Phước Hòa (Sài gòn), Ngài
được bầu làm Ủy viên Giáo dục. Cũng trong năm này, Phật học viện Nha Trang
được thành lập tại chùa Hải Ðức trên núi Trại Thủy, Ngài được giao nhiệm
vụ Giám viện.
Ðể có thêm tài chính
yểm trợ ẩm thực cho Tăng sinh, Ngài đã cử một số học Tăng vào Sài Gòn học
riêng khoa chế biến nước tương là một món ăn chay rất cần thiết và phổ
bieán trong các chùa và dân gian mà nhu cầu hàng ngày rất lớn. Khi số học
Tăng này trở về, Ngài cho thành lập xưởng chế biến nước tương đóng chai,
lấy hiệu “Lá Bồ Ðề” cung cấp cho thị trường khắp Trung phần và Cao nguyên.
Phật học viện Nha
Trang chỉ đào tạo Tăng sinh đến bậc Trung học, sau đó họ phải vào Sài Gòn
theo học bậc Ðại học. Ðể giúp đỡ số Tăng sinh này có nơi ăn ở đi học mà
vẫn giữ được nếp sinh hoạt thiền môn, năm 1960 Ban Quản Trị ủy cho Ngài
vào Sài Gòn mua một sở đất (nay ở đường Lê Quang Ðịnh) tại xã Hạnh Thông,
quận Gò Vấp, xây dựng tu viện Quảng Hương Già Lam. Nơi đây cũng là trú sở
của Ngài sau năm 1963 cho tới ngày viên tịch.
Năm 1962, Ngài dẫn
đầu phái đoàn Phật Giáo miền Nam tham dự Ðại lễ thế giới Phật lịch 2500-
ngày Ðức Phật nhập Niết Bàn tại thủ đô Vientaine Lào.
Năm 1963, sự kỳ thị
tôn giáo xảy ra dưới chính quyền Ngô Ðình Diệm. Ngài trở về Hueá cùng chư
Tăng lãnh đạo cuộc đấu tranh đòi hỏi tự do tín ngưỡng và bình đẳng tôn
giáo. Ngài bị bắt giam và đưa vào Sài Gòn. Khi trung tâm đầu não của cuộc
đấu tranh chuyển từ Huế vào Sài gòn, Ngài lại tích cực tham gia. Sau khi
chính quyền Ngô Ðình Diệm sụp đổ, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống nhất
ra đời, Ngài được cử vào Ban Dự thảo hiến chương và sau đó được bầu vào
chức Tổng vụ trưởng Tổng vụ Hoằng Pháp, kiêm Tổng vụ Tài chánh. Với trách
vụ này Ngài đã tổ chức được ba cuộc hội nghị hoằng pháp (tại Phật học viện
Nha Trang, chùa Xá Lợi, chùa Ấn Quang), thành lập đoàn giảng sư phân công
tới các địa phương thuyết giảng Phật pháp, và thành lập thêm được Phật học
viện Phổ Ðà ở Ðà Nẵng.
Năm 1964, Ngài làm
Viện trưởng viện Cao Ðẳng Phật học đặt tại chùa Pháp Hội, tiền thân của
Viện Ðại Học Phật giáo Vạn Hạnh, Ngài còn chủ trương xuất bản các tập san
Tin Phật, Baùt Nhã để hỗ trợ cho công tác hoằng pháp.
Năm 1965, Ngài đi
hành hương chiêm bái các danh lam Phật tích ở Nhật Bản, Hàn Quốc, Ðài
Loan, Hồng Kông, đồng thời để mở rộng sự giao thiệp với các tổ chức Phật
giáo tại các nước này trên đường phụng sự Phật pháp.
Năm 1969, Ngài được
Hội đồng Lưỡng viện Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất tấn phong pháp
vị Hòa thượng. Cùng năm này, Ngài khai Ðại giới đàn tại Phật học viện Nha
Trang. Năm 1969, Ngài trùng tu Tổ đình Báo Quốc-Huế. Năm 1970 Ngài mở lớp
Trung đẳng II chuyên khoa tại Phật học viện Nha Trang, đến năm 1974 chuyển
thành Viện Cao Ðẳng Phật Học Nha Trang, Hòa thượng Thiện Siêu được thỉnh
cử làm Viện trưởng.
Trong Ðại hội Giáo
Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất kỳ 5 và kỳ 6, Ngài được giao trách nhiệm
hết sức quan trọng và nặng nề là Viện trưởng Viện Hóa Ðạo để thay thế Hòa
thượng Thích Thiện Hoa vừa viên tịch. Ðây là giai đoạn khó khăn nhất của
đất nước cũng như Giáo Hội. Người lãnh đạo lèo lái con thuyền Giáo Hội
phải đủ nghị lực, can trường và sáng suốt mới đi đúng hướng, đúng đạo pháp
được. Ðến năm 1975, Ngài lại phải gánh theâm một trách vụ nặng nề nữa, là
xử lý thường vụ Viện Tăng Thống. Năm 1976, Ngài mở Ðại giới đàn Quảng Ðức
ở chùa Ấn Quang và làm Ðàn chủ.
Ðất nước đã được
thống nhất, Nam Bắc một nhà. Trước thực trạng đó, việc thống nhất Phật
giáo hai miền là cần thiết. Thấy được điều đó, ngày 23-01-1977 trong Ðại
hội kỳ 7 của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, Ngài đã đưa ra thông
bạch nêu lên nguyện vọng ấy cụ thể như sau: Ðại hội cần ủy cho Giáo hội
Trung Ương tiếp tục vận động thống nhất Phật Giáo cả nước trong tinh thần
đạo pháp và truyền thống dân tộc.
Năm 1980, Ngài khai
Ðại giới đàn Thiện Hòa tại chùa Ấn Quang và Ngài làm Ðàn chủ. Ðây cũng là
Ðaïi giới đàn cuối cùng của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất. Và
cũng là giới đàn có số giới tử Tăng Ni đông nhất 1.500 người.
Sau bao gian lao,
vượt qua bao khó khăn trở ngại từ mọi phía, Ngài đã được các hệ phái Phật
giáo đề cử làm Trưởng ban vận động thống nhất Phật giáo. Không lâu sau đó
ngày 07-11-1981 Ðại hội Thống nhất Phật giáo được tổ chức tại chùa Quán Sứ
- Hà Nội, thành lập Giáo Hội toàn quốc với danh xưng “ Giáo Hoäi Phật giáo
Việt Nam”. Ngài được bầu làm Chủ Tịch Hội Ðồng Trị Sự Trung Ương - nhiệm
kỳ I.
Trách nhiệm Phật sự
khó khăn cho nền Thống nhất Phật giáo hoàn thành, đáng lẽ đã đến lúc Ngài
lui về an trú tại chốn già lam thanh tịnh. Nhưng Ngài đã không quản tuổi
già sức yếu, vẫn một lòng phụng sự đạo pháp. Ngài đã dẫn đầu Ðoàn đại biểu
Phật giáo Việt Nam tham dự Ðại hội lần thứ 5 (1979), lần thứ 6 (1982) của
Tổ chức Phật Giáo Châu Á Vì Hòa Bình (ABCP) họp tại Mông Cổ. Năm 1980,
Ngài làm trưởng đoàn đại biểu Tôn Giáo Việt Nam dự hội nghị các nhà Tôn
Giáo Thế Giới vì hòa bình và giải trừ quân bị, chống chiến tranh hạt nhân,
tổ chức tại Nhật Bản. Năm 1981, Ngài làm trưởng đoàn đại biểu Phật giáo
Việt Nam dự hội nghị các nhà hoạt động Tôn Giáo Thế Giới vì hòa bình và sự
sống, chống chiến tranh hạt nhân, tổ chức tại Liên Xô.
Năm 1983, Ngài tham
dự hội nghị các vị đứng đầu Phật giáo 5 nước Châu Á tổ chức tại thủ đô
Veintaine Lào. Cũng năm này, Ngài được cử làm Ủy viên Ðoàn Chủ Tịch Ủy Ban
Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam.
Vào những năm tháng
cuối đời, sau khi đã đem bao tâm lực coáng hiến cho sự chấn hưng Phật
giáo, cho sự phát triển và thống nhất các hệ phái dưới một mái nhà Phật
giáo, cho sự tu hành thăng tiến của lớp hậu sinh, sức khỏe của Ngài có
phần suy giảm nhiều.
Ngày 02 tháng 3 năm
Giaùp Tý, tức ngày 02 tháng 4 năm 1984, sau một cơn suy tim đột ngột, Ngài
đã thâu thần viên tịch tại Bệnh viện Thống Nhất, thọ 76 tuổi đời, 56 tuổi
đạo.
Ngoài những đóng góp
Phật sự từ ngày xuất gia cho đến ngày lãnh các trọng trách trong Giáo hội,
Hòa thượng Thích Trí Thủ còn để lại cho hậu thế nhiều sáng tác, dịch phẩm
có giá trị như:
- Kinh Phổ Hiền.
- Mẹ Hiền Quan Âm.
- Kinh Vô Thường.
- Kinh A Di Ðà (thể
thơ 4 chữ).
- Pháp Môn Tịnh Ðộ.
- Nghi Thức Phật
Ðản.
- Tứ Phần Luật.
- Nghi Thức Truyền
Giới Tại Gia và _ Bồ Tát Thập Thiện.
- Luật Tỳ Kheo.
- Ðể trở thành người
Phật tử.
- Kinh Bất Tăng Bất
Giảm.
- Thường Bất Khinh
Bồ Tát.
- Phát Bồ Ðề Tâm.
- Thử vạch qui chế
đào tạo Tăng tài.
- Nghi thức tụng
niệm hàng ngày của giới_Phật tử.
- Ðiều căn bản cho
giới Phật tử mới _ quy y v.v...
(và một số tác phẩm
văn thơ khác.)
Nói đến Hòa thượng,
là nói đến sự nghiệp thống nhất Phật giáo Việt Nam giữa các hệ phái, từng
giai đoạn lịch sử từ trước 1954 cho đến sau 1975 và cho đến khi hoàn thành
bản nguyện. Ngài là thuyền Bát Nhã đưa Phật giáo Việt Nam bước qua lịch sử
và làm nên lịch sử. Ngài đã đi qua, nhưng lịch sử vẫn còn lại ngàn năm với
công hạnh và hình bóng Ngài trong lòng bao thế hệ kế thừa.
_
Chú thích :
1) Hội Việt Nam Phật
Học vốn là hậu thân của Hội An Nam Phật Học, thành lập năm 1948 đặt trụ sở
tại soá 1B đường Nguyễn Hoàng - Huế.
HÒA THƯỢNG
THÍCH THIỆN TƯỜNG
(1917 - 1984)
Hòa thượng pháp danh
là Thanh Giới, tự Chơn Như, hiệu Thiện Tường, thuộc dòng Lâm Tế Chánh Tông
đời thứ 41. Ngài thế danh Ngô Văn Phải, sinh năm 1917 tại làng Bình Xuân,
tổng Hòa Lạc, tỉnh Gò Công (nay thuộc tỉnh Tiền Giang). Ngài xuất thân
trong một gia đình kính tin Phật đạo. Thân phụ là cụ Ngô Văn Chồn, thân
mẫu là cụ Ðỗ Thị Thơ, Ngài là con thứ hai trong gia đình có 5 anh em. Cô
em út sau này nối chí Ngài, xuất gia hiệu là Tịnh Quang cũng là một trong
hàng Ni chúng lỗi lạc.
Năm lên 9 tuổi, Ngài
sớm mồ côi cha, lại là lao động chính của gia đình. Vốn bản tính chơn chất
hiền hòa và chí hiếu, Ngài chịu khó với ruộng đồng lam lũ phụ giúp mẹ và
dạy bảo các em. Những lúc rảnh việc mùa màng, Ngài thường cùng mẹ lên chùa
lễ Phật nghe kinh, nhân duyên lần kết và hạnh nguyện xuất gia được nung
nấu trong lòng.
Ðến năm 19 tuổi
(Ðinh Sửu - 1937), nhân ngày Phật Ðản, Ngài tới chùa Long Quang, làng Bình
Thạnh làm lễ thế phát quy y với Hòa thượng trụ trì. Trải qua bốn năm tinh
tấn chuyên cần tu học, Ngài vẫn chưa thỏa mãn được việc thâm nhập kinh
tạng của mình, Ngài bèn khăn gói y bát nâu sòng lên Sài Gòn tá túc ở chùa
Linh Sơn công quả và tham học. Nơi đây, hạnh duyên được gặp Hòa thượng Lê
Phước Chí, Ngài cầu pháp thọ học sớm khuya chuyên cần và được truyền trao
nhiều pháp yếu.
Năm 1941, Ngài được
thọ tam đàn Cụ Túc giới tại chùa Xuân Quang ở thị xã Phan Thiết.
Năm 1943, Ngài cùng
sư huynh là Hòa thượng Thích Thới An cùng đi nhiều nơi tham học Phật pháp.
Hễ nghe đâu có bậc cao đức thì Ngài tìm đến xin thụ giáo. Do đó Ngài đã
gặp không ít bậc Thầy lỗi lạc như Hòa thượng Hòa Bình ở chùa Kim Huê, Hòa
thượng Bửu Ðạt ở chùa Linh Sơn - Sa Ðéc...
Năm 1944, Ngài về
làm trú trì chùa Long An ở Sa Ðéc, tại đây diễn ra cuộc hội ngộ đáng nhớ
giữa Ngài, Hòa thượng Thới An, Hòa thượng Khánh Phước với một Tăng khách
đặc biệt là Hòa thượng Hành Trụ, nhân một hôm Hòa thượng dừng bước trên
đường hoằng pháp. Cảm mến đạo hạnh và kiến thức quảng bác của Hòa thượng
Hành Trụ, ba vị đã cung thỉnh Hòa thượng lưu lại chùa Long An để mở Phật
Học Ðường nuôi dạy Tăng chúng tu học, tôn Hòa thượng làm Huynh trưởng kiêm
Hóa chủ ngôi chùa này. Bốn vị đồng phát nguyện kết nghĩa làm Tăng hữu trọn
đời kề vai sát cánh bên nhau trên con đường hoằng dương chánh pháp, tiếp
Tăng độ chúng.
Năm 1946, tiếp nối
phong trào chấn hưng Phật giáo sau khi chiến tranh chống Pháp tạm lắng, cả
bốn vị đều rời miền Tây lên Sài Gòn thành lập ngôi Tam Bảo ở vùng Khánh
Hội đặt tên là chùa Tăng Già để qui tụ Tăng chúng và mở trường đào tạo.
Ðây cũng là Phật hoïc đường đầu tiên ở Sài Gòn.
Năm 1947, nhận thấy
Tăng chúng và Ni chúng về học rất đông, các vị lại lập nên ngôi già lam
thứ hai ở gần đấy là chùa Giác Nguyên để tiếp độ chúng Tăng, còn chùa Tăng
Già để cho Ni chúng thọ học. Về sau, chùa Tăng Già được đổi tên là chùa
Kim Liên.
Năm 1950, cảm mến ân
đức và đạo hạnh của Ngài, Hội Vạn Thọ hiến cúng cho Ngài ngôi chùa Vạn Thọ
ở vùng Tân Ðịnh. Ngài về đấy an trụ và tiếp Tăng độ chúng. Từ đó trải hơn
10 năm sau, Ngài miệt mài với công việc hoằng dương chánh pháp và có công
gầy dựng trùng tu lại các ngôi già lam khác như: Tăng Già, Giác Nguyên,
Vạn Thọ, Thiền Lâm, Giác Minh, Quan Âm, Thiên Phước, Hội Tôn...
Năm 1960, Ngài trở
về làm Hóa chủ Tổ đình Giác Nguyên nhiếp độ tứ chúng thay ba vị huynh đệ
nhận trú xứ khác để hoằng dương Phật pháp.
Năm 1963, Ngài đã
cùng chư Tăng,Ni và quần chúng Phật tử tham gia đấu tranh chống chính
quyền Ngô Ðình Diệm kỳ thị tôn giáo, đòi bình đẳng và tự do tín ngưỡng.
Năm 1964, Giáo Hội
Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất ra đời, từ năm 1973 liên tiếp ba nhiệm kỳ,
Ngài được cử giữ chức Tổng Vụ Trưởng Tổng Vụ Tài chánh Kiến thiết.
Năm 1968, Ngài được
cử tham gia phái đoàn Phật giáo Việt Nam đi thăm các nước Phật giáo như
Singapore, Ðài Loan, Hồng Kông và Nhật Bản.
Năm 1969, Ngài làm
Hóa chủ kiêm Giám đốc Phật học viện Tổ đình Giác Nguyên.
Do giới hạnh trang
nghiêm, Ngài được các nơi cung thỉnh làm giới sư ở các giới đàn để truyền
trao giới pháp cho Tăng Ni trong những năm sau như: Giáo Thọ A Xà Lê tại
Ðại giới đàn chùa Ấn Quang năm 1973 và Ðại giới đàn Quảng Ðức năm 1977, Ðệ
nhất Tôn chứng Ðại giới đàn Thiện Hòa tại Ấn Quang năm 1980.
Năm 1981, Giáo Hội
Phật Giáo Việt Nam được thành lập, Ngài được cung thỉnh làm thành viên Hội
đồng Chứng minh Trung Ương.
Những năm sau đó, vì
tuổi già sức yếu, Ngài chỉ an trú nơi Tổ đình Giác Nguyên, chuyên tâm trực
tiếp dạy bảo đồ chúng, khuyến giáo tín đồ. Ngài còn dành thì giờ dịch
kinh, và lấy việc vãng sanh Tịnh độ làm yếu chỉ. Cũng như những bậc Cao
đức khác, biết trước ngày giờ trở về cõi Phật, Ngài khuyên chúng đệ tử cố
gắng tu trì, xả thân vì đạo pháp, noi gương đạo bạn giữa Ngài và ba vị
pháp hữu thực hiện lục hòa đoàn kết trong Tăng giới. Vào ngày 23 tháng 8
năm Giáp Tý, tức 18 tháng 9 năm 1984, Ngài xả nhục thân thâu thần về cõi
Phật, hưởng thọ 68 tuổi đời với 46 năm hành đạo.
Cuộc đời Ngài là một
tấm gương thân giáo với hạnh nguyện chấp tác lao động miệt mài, thể hiện
phương châm : “Nhứt nhựt bất tác, nhứt nhựt bất thực”, Ngài không nề hà
gian khổ trong mọi công tác xây dựng, trùng hưng chùa chiền.
Và còn hơn thế, với
một đức độ khả kính, Ngài tự nghiêm khắc với bản thân bằng hạnh Ðầu Ðà như
Tổ Ca Diếp. Khắp nơi đều khâm phục và kính trọng một bậc cao Tăng thẳng
thắn, trung thực đầy nghị lực hiếm có như Ngài.
HÒA THƯỢNG
TỊNH SỰ
(1913 - 1984)
Hòa thượng Tịnh Sự,
thế danh là Võ Văn Ðang, sinh năm Quí Sửu (1913), trong một gia đình có
truyền thống Nho giáo, tại một vùng quê miền Nam, xã Hòa Long, huyện Lai
Vung, tỉnh Ðồng Tháp. Thân phụ Ngài là cụ Võ Văn Tỏ, thân mẫu là cụ Trần
Thị Thông.
Năm 7 tuổi Ngài đã
học chữ Nho. Rất thông minh, Ngài được người đương thời gọi là “Thần đồng
Lê Quí Ðôn”. Do túc duyên sẵn có từ nhiều đời, đến năm 12 tuổi Ngài xuất
gia và thọ giới Sa Di tại chùa Bửu Hưng (Sa Ðéc). Thấy Ngài quá thông minh
nên Bổn sư đặt pháp danh là Thích Huệ Lực.
Năm 20 tuổi Ngài thọ
giới Tỳ kheo tại chùa Kim Huê-Sa Ðéc. Ðến năm 25 tuổi Ngài được bổ nhiệm
về trụ trì tại chùa Phước Ðịnh - Chợ Lách. Năm 30 tuổi Ngài trụ trì chùa
Viên Giác-Vĩnh Long. Năm 35 tuổi duyên lành đối với Phật giáo Nam Tông đã
chín mùi, Ngài được du học tại Chùa Tháp Campuchia, thọ giới theo Phật
giáo Nam Tông tại chùa Kùm Pung (Treyloko) ở Trà Pét.
Từ Campuchia Ngài có
thiện duyên du học tại Thái Lan, thọ giới Tỳ kheo tại chùa Pakknam
Bangkok. Ngài được thầy tế độ ban pháp danh là Tịnh Sự (Santakicco) vì
thấy Ngài chuyên tâm hành đạo. Tại xứ Phật giáo Thái Lan này, Ngài đã thực
hành hạnh đầu đà, tu thiền Minh Sát và học A Tỳ Ðàm (Abhidhamma) trong bảy
năm. Rời Thái Lan về Việt Nam, Ngài trở lại trụ trì chùa Viên Giác - Vĩnh
Long. Ngài bắt đầu mở mang truyền bá giáo pháp Nguyên Thủy. Ngài dạy Pháp
học A Tỳ Ðàm Pàli (Abhidhamma) và Pháp hành Tứ Niệm Xứ.
Muốn cho môn học
Abhidhamma được truyền bá rộng rãi nên vào năm 59 tuổi Ngài về trụ trì
chùa Siêu Lý - Sài Gòn. Mở trường chuyên dạy về môn Abhidhamma và dịch các
bộ sách Giáo Khoa Phật Học như Vi Diệu Pháp Sơ Cấp, Trung Cấp và Chánh
Tạng Abhidhamma.
Ngài đã đào tạo
nhiều thế hệ học trò Vi Diệu Pháp. Các thế hệ đệ tử này đã kế thừa sự
nghiệp của Ngài truyền baù môn Abhidhamma khắp nơi. Những thế hệ đệ tử Vi
Diệu Pháp đầu tiên hiện nay còn những vị tiêu biểu như Ðại Ðức Giác Chánh,
cư sĩ Vĩnh Phúc, cư sĩ Trần Quỳnh Hương đã có công đức duy trì và phát
triển môn học Abhidhamma.
Về phương diện đào
tạo Tăng tài, Ngài đã từng làm thầy Tế độ truyền giới xuất gia cho hàng
trăm Sa Di, Tỳ Kheo. Họ đã tiếp nối được sự nghiệp truyền bá giáo pháp của
Ngài một cách tốt đẹp.
Không những chỉ đào
tạo Tăng tài mà Ngài còn xây dựng rất nhiều cơ sở tự viện: chùa Viên Giác
(Vĩnh Long), chùa Long Linh, chùa Giác Phước, chùa Pháp Ðộ, chùa Trúc Lâm,
chùa Siêu Lý, chùa Thiền Quang 1, chùa Thiền Quang 2.
Ðiểm nổi bật nhất
trong sự nghiệp hoằng pháp của Hòa thượng là Ngài đã dịch hoàn thành Tạng
luận Pàli tức Tạng Abhidhamma gồm:
1) Bộ Pháp Tụ
(Dhammasangani).
2) Bộ Phân Tích
(Vibhanga).
3) Bộ Chất Ngữ (Dhà
kàthà).
4) Bộ Nhân Chế Ðịnh
(PuggalaPanntti).
5) Bộ Ngữ Tông
(Kàthà Vatthu).
6) Bộ Song Ðối
(Yamakam).
7) Bộ Phát Trí
(Patthana).
Ðó là phần chánh
tạng Abhidhamma. Sau đây là những dịch phẩm giáo khoa Adhidhamma được
giảng dạy tại các trường Phật Học Thái Lan.
1) Vi Diệu Pháp Sơ
Cấp.
2) Vi Diệu Pháp
Trung Cấp.
3) Vi Diệu Pháp Cao
Cấp.
4) Thanh Tịnh Ðạo.
5) Diệu Pháp Lý Hợp.
Sự nghiệp đạo pháp
của Ngài vô cùng to lớn. Nhất là Ngài đã dành hết đời mình để phiên dịch
trọn Tạng Vi Diệu Pháp (Luận Tạng PàLi). Qua công hạnh này, Ngài là một
ngôi sao mà càng nhìn chúng ta càng thấy sáng hơn.
Ðêm mùng 6 tháng 5
năm Giáp Tý, Ngài thọ bệnh. Nửa đêm hôm ấy Ngài cho gọi Chư Tăng để ban di
huấn và gởi lời sám hối đến Tăng chúng gần xa. Rồi Ngài an trú chánh niệm
và viên tịch lúc 6 giờ 15' sáng ngày 7 tháng 5 năm Giáp Tý (tức
05-06-1984), hưởng thọ 72 tuổi, hành đạo 52 năm.
Trước khi viên tịch
Ngài đã giảng về sự khổ, rồi mỉm cười tắt hơi thở cuối cùng. Ngài ra đi
nhưng sự nghiệp đạo pháp của Ngài vẫn còn ở lại với hậu tấn ngưỡng cầu
giải thoát khổ đau, để hằng an vui tự tại nơi Niết Bàn tịch tịnh.
HÒA THƯỢNG
THÍCH PHÁP TRÀNG
(1898 - 1984)
Hòa thượng Thích
Pháp Tràng, thế danh Ðồng Ngọc Tự, sinh năm Mậu Tuất (1898) tại thôn Tân
Long (nay là xã Tân Bình, huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang). Song thân là cụ
Ðồng Văn Tỉnh và bà Ngô Thị Nơi. Gia đình Nho học, kính tín Phật đạo. Ngài
là người con thứ tám trong gia đình, người anh thứ hai xuất gia trước
Ngài.
Năm lên 7 tuổi, Ngài
đã được cha cho học chữ Hán. Năm lên 13 tuổi, do sức học tiến nhanh, tiếp
thu văn nghĩa thư kinh tốt nên Ngài được cha cho ra trường làng học chữ
Quốc ngữ.
Năm Mậu Ngọ (1918),
vừa tuổi 20, Ngài từ chối việc lập gia đình, kiên quyết xin cha mẹ cho
xuất gia và tìm đến chùa Khánh Quới (cùng thôn Tân Long) xin thế độ. Ðược
Hòa thượng Khánh Quới giới thiệu đến chùa Thiên Thai (Bà Rịa) đảnh lễ cầu
pháp với Hòa thượng Huệ Ðăng, được Hòa thượng đặt Pháp danh Trừng Tự, hiệu
Pháp Tràng, nối đời thứ 42 dòng Lâm Tế. Nhờ sự dạy dỗ của Hòa thượng Thiên
Thai, không bao lâu Ngài đã thông hiểu các kinh tạng và thiền luật.
Năm Mậu Thìn (1928),
chúc thọ giới đàn được mở tại chùa Phước Long (nay là Hội Xuân, Cai Lậy)
Ngài được mời tham dự với cương vị Giáo Thọ. Lúc bấy giờ Phật tử xã Mỹ
Phước Tây đem cúng chùa Khánh Long vào Tổ đình Thiên Thai, Hòa thượng
Thiên Thai nhận thấy Ngài đã đủ cơ duyên nên cử làm trụ trì chùa này. Nhờ
vào tài đức của Ngài, các hàng Phật tử đaõ đến quy y và lễ bái rất đông.
Năm Ất Hợi (1935),
Ngài tham dự giới đàn tại chùa Tiên Long (Biên Hòa) được cử làm Yết Ma A
Xà Lê.
Năm Ðinh Sửu (1937),
Ngài an cư tại Tổ đình Long Hòa (Bà Rịa) do Hòa thượng Thiên Thai đứng ra
tổ chức, Ngài được cử giữ chức Chánh Chúng.
Năm Mậu Dần (1938),
Ngài được Hòa thượng Thiên Thai ủy nhiệm đứng ra tổ chức giới đàn. Công
việc viên mãn tốt đẹp, Ngài được tấn phong Thượng Tọa (năm Ngài được 41
tuổi).
Từ đây, uy tín và
đức độ của Ngài đã lan tỏa khắp nơi, bắt nhịp với cao trào cách mạng ở
miền Nam, nên cán bộ cách mạng thường lui tới viếng thăm, đàm đạo để tranh
thủ sự ủng hộ, và Ngài đã nhiệt tình cộng tác. Cuoái tháng 11 năm 1940
(Canh Thìn) cuộc khởi nghĩa Nam kỳ bùng nổ, Ngài là một trong những người
đầu tiên có công lớn. Tuy vậy, khi tình hình bình ổn, các cuộc truy lùng,
bắt bớ của thực dân thêm dữ dội, những người cầm đầu cuộc khởi nghĩa ấy
lớp bị bắt, lớp bị lưu đày ra Côn Ðảo. Riêng Ngài nhờ Phật tử thân tín
giúp đỡ, nhanh chóng đưa Ngài sang chùa Phước Long, xã Tân Hợi, huyện Long
Mỹ, tỉnh Cần Thơ để ẩn tu. Mãi đến sau năm 1945 Ngài mới trở về quê cũ và
tìm đến chùa Liên Từ nơi người anh ruột của Ngài là Thầy Minh Tâm đang ở
tu. Ngài về đây là có mục đích liên lạc lại với các cơ sở cách mạng.
Năm Ðinh Hợi (1947),
Hòa thượng Minh Nguyệt đã về chùa Lieân Từ, cùng Ngài thành lập Hội Phật
Giáo Cứu Quốc huyện Cái Bè. Sau đó, Ngài được cử vào Ban Chấp Hành huyện,
rồi Ban Chấp Hành cấp tỉnh, và Ủy viên Kiểm soát Ban Chấp Hành Phật Giáo
Cứu quốc Nam bộ. Ngài đã đi đến hầu hết các nơi trong tỉnh vận động Tăng
Ni Phật tử, quyên tiền ủng hộ kháng chiến và chế tạo vũ khí.
Năm Mậu Tý (1948),
Ngài công tác ở Ban Chấp Hành Phật Giáo Cứu Quốc; Ủy viên Mặt Trận Liên
Việt tỉnh Mỹ Tho.
Những năm 1949-1950,
khi phong trào Phật Giáo Cứu Quốc bị giải tán, Ngài được cử vào làm đại
biểu Phật giáo trong Mặt Trận Liên Việt.
Ngày 10.10.1952,
trong chuyến công tác từ Mỹ Tho về Cai Lậy, Ngài bị bắt cùng với tiền
quyên góp ủng hộ kháng chiến và không ít tài liệu quan trọng. Ngài bị giam
ở khám số 7 (ở Mỹ Tho) và bị tra tấn trước khi đày lên Lộc Ninh. Ðến năm
Quý Tỵ (1953) Ngài mới được tự do, trở về tiếp tục công tác trong Mặt Trận
Lieân Việt Mỹ Tho.
Sau Hiệp định Genève
1954, Ngài nhận nhiệm vụ ở lại tại chỗ để đấu tranh đòi thi hành Hiệp
định, và đòi quyền dân chủ dân sinh, cùng tham gia Ban Chấp Hành Phật Giáo
Lục Hòa tỉnh Ðịnh Tường.
Năm 1956, Ngài đứng
ra vận động tổ chức ngày lễ Phật Ðản tại thành phố Mỹ Tho rất trọng thể.
Ngài thuyết phục chính quyền Sài Gòn cho vào nhà lao thăm các tù chính
trị, cung cấp thuốc men, thức ăn... Nhờ đó những cán bộ bị giam giữ đeàu
nắm được tình hình bên ngoài. Hình thức này tồn tại được hai năm thì bị
cấm hẳn. Ngài chuyển hướng khác, đầu tiên là vận động giúp đỡ đồng bào bị
nạn trong chiến dịch của chính quyền Ngô Ðình Diệm truy quét quân Bình
Xuyeân của tướng Bảy Viển ở vùng cầu chữ Y, Xóm Củi - Sài Gòn Chợ Lớn.
Cuối năm 1957, Ngài
đã thoát được đợt truy bắt của chính quyền Sài Gòn vào chùa Bửu Long,
Trung Lương - Mỹ Tho (lúc này Ngài trụ trì nơi đây). Ngài liền lánh sang
Bến Tre, đến chùa Bửu Long ở xã Phú Ðức, do một Phật tử dâng cúng Ngài.
Ngày 15.01.1960, Mặt
Trận Giải Phóng Miền Nam Việt Nam ra đời, Ngài được bầu làm Ủy viên Mặt
trận tỉnh Mỹ Tho.
Cuối năm 1964, Trung
ương Maët trận Giải phóng Miền Nam Việt Nam mời Ngài tháp tùng đoàn đại
biểu dự Ðại hội Nhân dân Ðông Dương tổ chức tại Campuchia từ ngày 1 đến 9
tháng 3.1965. Ðoàn gồm 27 thành viên, do ông Huỳnh Tấn Phát dẫn đầu. Sau
hội nghị, Ngài còn được mời tham quan Angkor và các nơi khác ở Campuchia.
Sau khi về nước, Ngài được dự lớp Dân Vận Mặt Trận tại Văn phòng Trung
ương. Hai tháng sau khi mãn khóa, Ngài về công tác ở Mặt trận Liên khu 8.
Nhờ đó, Ngaøi có dịp lui tới các vùng An Giang, Kiên Giang, Bến Tre, Mỹ
Tho, Gò Công. Trong một chuyến công tác, Ngài bị máy bay oanh kích bị
thương ở vai phải,
Năm 1969, Ngài cùng
Hòa thượng Thiện Hào được ủy nhiệm hướng dẫn phái đoàn Phật giáo sang
viếng tang Tăng Hoàng Campuchia.
Năm 1970, Trung ương
Mặt trận Giải phóng Miền Nam Việt Nam cử Ngài tham gia phái đoàn dự Hội
nghị Cao cấp Nhân dân Ðông Dương, được tổ chức ở Campuchia. Sau đó, Ngài
về ngụ tại chùa Long Khánh (xã Long Thành, tỉnh Vĩnh Long) do Hòa thượng
Pháp Vân đang trụ trì.
Năm 1972, Ngài
chuyển địa bàn hoạt động lên Sài Gòn Chợ Lớn. Trên đường về Sài Gòn, ngày
27.6 Ngài bị bắt tại Phú Lâm, nhưng do không tìm được gì khác hơn nên sau
đó Ngài được trả tự do.
Năm 1973, Ngài được
cử đến gặp Ni Sư Huỳnh Liên ở Tịnh xá Ngọc Phương (đường Lê Quang Ðịnh -
Gò Vấp) để truyền đạt, bàn bạc các chỉ thị hoạt động của Tăng Ni tổ chức
biểu tình chống chế độ Sài Gòn.
Năm 1975, Ngài trở
lại Tiền Giang để thay mặt Quân Khu 8 kêu gọi Tăng Ni Phật tử đoàn kết và
dốc tâm sức xây dựng đất nước trong hoàn cảnh mới của nước nhà thống nhất.
Năm 1978, lúc này đã
80 tuổi, Ngài được mời về trụ trì chùa Phật Ấn tại thành phố Mỹ Tho.
Năm 1981, Ngài tham
dự Ðại hội Ðại biểu Thống nhất Phật giáo Việt Nam tại Hà Nội và được suy
cử làm thành viên Hội Ðồng Chứng Minh Trung Ương Giáo Hội Phật Giáo Việt
Nam.
Ngày 17.3.1984, Ngài
trở lại thăm quê hương (Cai Lậy - Tiền Giang) lần sau cùng. Tối đêm ấy,
đang ngồi tham dự một ván cờ tướng, Ngài đột ngột qua đời. Hưởng thọ 86
tuổi, 45 năm tham gia cách mạng và 66 năm sống trong Ðạo pháp.
Kim quan Ngài được
đưa về chùa Vĩnh Tràng và Bảo tháp được xây dựng trong khuôn viên chùa
này.
Ngài đã được Nhà
nước tặng thưởng các huân huy chương:
- Huân chương Kháng
chiến hạng nhất.
- Huân chương chống
Mỹ hạng nhất.
- Bằng khen của Mặt
trận Tổ quốc tỉnh Tiền Giang.
HÒA THƯỢNG
THÍCH THANH TRÍ
(1919 - 1984)
Hòa thượng thế danh
là Hồ Văn Liêu, húy Tâm Huệ, pháp hiệu Thích Thanh Trí, thuộc dòng Lâm Tế
đời thứ 43. Ngài sinh ngày mồng 1 tháng 10 năm Kỷ Mùi (21-11-1919) tại
làng Phước Yên, xã Quảng Thọ, huyện Quảng Ðiền (nay là Hương Ðiền), tỉnh
Thừa Thiên. Là con trai độc nhất trong một gia đình có năm anh chị em.
Thân phụ là cụ ông Hồ Văn Sừng. Thân mẫu là cụ bà Tô Thị Thục.
Xuất thân trong một
gia đình nề nếp, thấm nhuần đạo Phật, hằng ngày thường lui tới ngôi Sắc tứ
Quảng Phước Tự trong làng, nên Ngài sớm có ý nguyện xuất gia học đạo. Năm
12 tuổi, Ngài đã xin phép song thân vào Huế, tìm đến chùa Từ Hóa, đảnh lễ
Ðại lão Hòa thượng Trừng Diên, xin xuất gia và được Hòa thượng hứa khả. Từ
đó Ngài chăm lo học tập kinh luận, tìm hiểu Phaät pháp. Ðến năm 1936, Ngài
đúng 18 tuổi, được thọ giới Sa Di tại giới đàn chùa Ðại Bi tỉnh Thanh Hóa,
do Ðại lão Hòa thượng Thích Huệ Minh trú trì chùa Từ Hiếu làm Ðàn đầu Hòa
thượng.
Tuy còn là Sa Di,
nhưng với tư chất thông minh, đạo hạnh gương mẫu, nên năm 1940 (22 tuổi),
Ngài được Phủ Tôn Nhơn hoàng tộc xin Giáo hội cho trú trì chùa Diệu Hỷ
thành phố Huế. Hai năm sau, Ngài lại được Giáo hội và Tổ đình Báo Quốc mời
làm Tri sự của Tổ đình. Năm 1948, lúc 30 tuổi, Ngài thọ Cụ Túc giới tại
Ðại giới đàn Báo Quốc do Hòa thượng Thích Tịnh Khiết làm đàn đầu. Sau đó
Ngài được Giáo hội lần lượt giao nhiều trách nhiệm quan trọng.
Năm 1953, Ngài là Ủy
viên Tài chánh của Giáo hội Tăng già Trung Việt. Cũng trong năm này, Ngài
đã cùng Giáo hội sáng lập trường tiểu học Hàm Long với mục đích mở mang về