III
GIAI ÐOẠN THỐNG NHẤT
PHẬT GIÁO ÐẦU TIÊN
HÒA THƯỢNG LIÊN TÔN-THÍCH HUYỀN Ý (1891 -
1951)
Hòa thượng Liên Tôn, thế danh
Võ Trấp, hiệu Ðồng Gian (Thiện Minh Tử), pháp danh Như Phước, tự Giải
Tiềm, hiệu Huyền Ý (Liên Tôn là tên ngôi chùa do Ngài khai sơn năm được 41
tuổi).
Ngài sinh ngày 19 tháng 9 năm
Tân Hợi (1891) tại làng Hưng Trị, xã Cát Thắng, huyện Phù Cát, tỉnh Bình
Ðịnh.
Ngài là con út lại là trai duy
nhất trong gia đình có truyền thống khoa bảng. Cha mẹ là ông bà Tú tài Võ
Toản và Lê Thị Viện pháp danh Trừng Viện. Ngay sau khi sinh, thân mẫu đã
đem Ngài đến quy y với Hòa thượng chùa Tịnh Lâm (huyện Phù Cát) hiệu Từ
Mẫn, được ban pháp danh Như Phước.
Năm 1899, khi vừa 8 tuổi, Ngài
được gia đình cho mời thầy về tận nhà để dạy học, với ước nguyện mai sau,
Ngài sẽ tiếp nối con đường khoa bảng, vinh hiển như cha, anh. Vì thế Ngài
đã sớm làu thông chữ Hán lẫn Quốc ngữ.
Năm 1910, khi vừa 19 tuổi, vì
là con trai duy nhất nên Ngài đành thuận ý cha mẹ để lập gia đình với cô
Phạm Thị Thuận người cùng làng, đã được cha mẹ đôi bên ngầm giao kết từ
lâu(1).
Ngài thi đổ bằng Tú tài năm 21
tuổi nhờ vào sức học tinh tấn và sự hỗ trợ của gia đình. Năm 23 tuổi, Ngài
tốt nghiệp ngành sư phạm và được bổ ngay học vị Giáo sư.
Thời gian tiếp theo, Ngài vừa
dạy học vừa chuyên tâm nghiên cứu kinh tạng. Nhờ uyên thâm Hán học và khả
năng nhận thức, Ngài dễ dàng thâm nhập vào tinh hoa Phật pháp. Ðồng thời
Ngài hướng dẫn gia đình cùng tu, khuyến hóa người chung quanh đến với Phật
giáo. Trong quá trình tham cứu nội tạng kinh điển, Ngài đặc biệt chú ý đến
bộ sách hai quyển Long Thơ Tịnh Ðộ (Do hòa thượng Bích Liên - Trí Hải cho
mượn). Ðó là nhân duyên phát khởi và cũng là nội dung hành hóa được Ngài
mang theo suốt cả quảng đời.
Năm 1929, lúc 38 tuổi, Ngài đến
xin xuất gia với Tổ Từ Mẫn, chùa Tịnh Lâm Bình Ðịnh(2).
Tuy xuất gia muộn, nhưng do
thời gian còn tại gia Ngài đã tiếp xúc nghiên cứu và thâm nhập Tam tạng
giáo điển, hơn nữa, nhờ được gần gũi với Ngài Trí Hải, nên Ngài sớm tỏ ngộ
thiền lý và nhanh chóng trở nên một vị học hạnh kiêm toàn. Trong giai đoạn
này, từ sở học uyên thâm và được chư sơn khuyến khích, Ngài đã sáng tác
bài thơ nổi tiếng bằng chữ Hán tựa là “Ðáo Liên Thành Lộ”.
Năm Tân Mùi (1931) Hội Nam Kỳ
Nghiên Cứu Phật Học theo đề nghị của Hòa thượng Bích Liên và Hòa thượng
Khánh Hòa, đã cử Ngài vào Nam để nhận trọng trách Phó Chủ bút tạp chí Từ
Bi Âm, cùng điều hành tòa soạn với Hòa thượng Bích Liên.
Nhờ sự hợp lực tâm đắc ấy trong
thời gian từ 1932 đến 1938, Ngài đã góp phần đưa tạp chí Từ Bi Âm trở
thành một công cụ truyền bá Phật học uy tín nhất, nổi tiếng nhất thời bấy
giờ, góp phần vào công cuộc chấn hưng Phật giáo đang trong giai đoạn phát
triển mạnh mẽ. Ðeå tán thán công đức Ngài, tạp chí Từ Bi Âm đã dành hẳn
một số để giới thiệu về thân thế sự nghiệp Ngài.
Năm Nhâm Thân (1932) Ngài về
lại quê nhà, khai sơn chùa Liên Tôn(3), xong Ngài trở vào Nam tiếp tục sự
nghiệp Phoù chủ bút báo Từ Bi Âm và danh từ Liên Tôn theo truyền thống
miền Trung được dành gọi thay tên Ngài.
Năm Mậu Dần (1938) báo Từ Bi Âm
bị đình bản, Ngài về chùa Liên Tôn, tiếp tục nghiên cứu giáo pháp bên cạnh
phụ thân.
Năm Kỷ Sửu (1949) trong tình
hình đất nước đang bước vào giai đoạn quan trọng và vì muốn đem đạo hòa
nhập vào thời cuộc. Ngài đã hoan hỷ nhận lời mời của chư vị có nhiệt tình
cách mạng, nhận chức Hội trưởng hội Phật giáo Cứu quốc Liên khu 5.
Trong cương vị mới mẻ ấy, Ngài
đã được các vị cùng thời hỗ trợ và ủng hộ rất nhiệt tình. Trong ban lãnh
đạo Hội có Hòa thượng Phước Hộ và Hòa thượng Trí Nghiêm là hai ủy viên và
Hòa thượng Huyền Quang là Tổng thư ký.
Từ đó về sau, Ngài luôn thể
hiện tinh thần tiến thủ mang nhiều ý niệm cách tân và củng cố nếp sống
thiền gia cho Tăng chúng theo tinh thần Phật giáo phát triển. Ðáng kể nhất
là chủ trương Thiền Tịnh song tu. Kế nữa là việc rộng mở theo giới luật
tìm mọi phương cách khả thi để Ni giới có điều kiện thực nhập tiến tu theo
đà phát triển, đúng với chủ trương chấn hưng.
Các đệ tử thọ pháp trực tiếp
với Ngài rất nhiều, hiện nay chỉ còn Hòa thượng Ðồng Huy, về phía Ni giới
có Sư bà Tâm Ðăng trú trì chùa Linh Sơn(4) v.v...
Một điểm đáng lưu ý Sư bà Hương
Quang(5) là người con thứ tám của Ngài cũng nối gót theo con đường giải
thoát trong thời gian Ngài trở về khai sơn Liên Tôn Tự. Sư bà thọ pháp
xuất gia với Hòa thượng Trí Hải, sớm trở nên một trong nhiều Ni chúng xuất
sắc thời ấy, xứng đáng trong hàng hậu duệ tích cực nhất không chỉ vì mối
quan hệ trực thuộc gia đình mà còn do sở học và ý chí tiến tu.
Năm Tân Mão (1951) Tỉnh Hội
Phật Giáo Bình Ðịnh tổ chức khóa huấn luyện cán sự hành chánh tại xã Cát
Thắng, huyện Phù Cát vào ngày 18 tháng giêng. Trong hàng tứ chúng có sự
hiện diện của Ngài. Ðến ngày 27 tháng giêng, khóa học được bế mạc và theo
lời mời của Ngài, toàn thể nhân sự của khóa huấn luyện đều về chùa Liên
Tôn thọ trai. Chính trong ngày ấy, Ngài đã thị tịch trước đại chúng có
mặt, hưởng thọ 60 tuổi đời, 22 giới lạp.
Hiện tháp của Ngài tọa lạc phía
Tây Nam trong khuôn viên chùa Liên Tôn.
Tác phẩm của Ngài, ngoài bài
thơ Ðáo Liên Thành Lộ còn có trước tác và phiên dịch:
- Sa Di Luật diễn nghĩa.
- A Di Ðà kinh diễn nghĩa.
- Kim Cang Bát Nhã diễn nghĩa.
- Chứng Ðạo Ca diễn nghĩa.
- Kinh Pháp Bảo Ðàn.
- Luận về Nhơn Quả.
- Luận về Niết Bàn.
- Nghiên cứu duy thức A Lại Da.
- Luận về sáu pháp Ba La Mật.
- Luận về Chánh tín - Mê tín.
Tiểu thuyết:
- Hiếu nghĩa cảm phẩm.
- Tu là Cội phúc.
Rất tiếc, các tác phẩm này,
đáng kể nhất là bài thơ Ðáo Liên Thành Lộ, cho đến ngày nay vẫn còn thất
lạc chưa tìm được(6).
Với bấy nhiêu công đức, Pháp sư
Liên Tôn xứng đáng nhận sự kính trọng và mến mộ của thời nhân và hậu thế.
Chú thích:
1) Có tài liệu khác: Ngài đã có
con trai, con gái, có người tham gia kháng chiến. Riêng người con gái có
tập kết ra Bắc năm 1954 và đã trở về quê nhà sau 1975.
2) Có nơi ghi rằng Ngài đã cầu
xuất gia với Hòa thượng Trí Hải.
3) Chùa Liên Tôn được tái thiết
lần đầu vào năm Bính Thân (1956). Năm Giáp Thìn (1964) bị chiến tranh tàn
phá, mãi đến năm Tân Dậu (1981) mới được tái tạo quy mô lần thứ hai. Cả
hai lần tái tạo ấy đều do Sư bà Hương Quang đứng ra thực hiện.
4) Hòa thượng Ðồng Huy nay là
Trưởng Ban Trị Sự Tỉnh Hội Phật Giáo Bà Rịa - Vũng Tàu. Sư bà Tâm Ðăng
được Ngài ban pháp hiệu dựa theo kệ “TÁNH, HẢI, THANH, TRỪNG, TÂM, NGUYỆN,
QUÃNG, NHUẬN “ của Tổ Thiệt Diệu (dòng kệ quy y) nhưng pháp tự lại là Hạnh
Viên (theo kệ Pháp Tự) “TỔ, ÐẠO, GIẢI, HẠNH, THÔNG v.v...” của Tổ Minh Hải
(dòng Thế Ðộ).
5) Sư bà Hương Quang được Hòa
thượng Trí Hải ban pháp danh là THÍCH NỮ TỊNH VIÊN, thế danh là Võ thị Kim
Ðính.
6) Có tài liệu cho biết các
trước tác, dịch thuật của Ngài hiện Sư bà Thích Nữ Tịnh Viên, Tọa chủ
Hương Quang Ni Viện, ở thôn Trung Tín, thị trấn Tuy Phước, lưu giữ (chúng
tôi chưa kịp xác minh, sưu tầm).
HÒA THƯỢNG THÍCH HUỆ ÐĂNG (1873 - 1953)
Hòa thượng húy Thanh Kế, hiệu
Huệ Ðăng, thế danh là Lê Quang Hòa, sinh năm Quý Dậu (1873) nhằm triều Tự
Ðức năm thứ 26, tại xã An Ðông, huyện Bình Khê, nay là huyện Tây Sơn, tỉnh
Bình Ðịnh, trong một gia đình Nho học.
Thân phụ Ngài là một nhà Nho,
nên Ngài đã được thụ giáo từ khi mới lên 5 tuổi. Ðến 7 tuổi Ngài được vào
học trường huyện. Nhờ bẩm chất thông minh, Ngài luôn chiếm ưu hạng. Sau
một thời gian Ngài được chuyển lên học trường tỉnh. Ðây là nơi Ngài có thể
sôi kinh nấu sử để mai sau danh chiếm bảng vàng, làm rạng rỡ tông đường.
Ngờ đâu ngày 22 tháng 5 năm Ất Dậu (1885) kinh đô Huế thất thủ. Vua Hàm
Nghi phải xuất bôn, và xuống chiếu Cần Vương. Vừa lúc đó có kỳ thi Hương
tại trường thi Bình Ðịnh, các sĩ tử cùng nhau bãi thi, phá trường, hô hào
tham gia phong trào Cần Vương, chống Pháp cứu nước. Ngài cũng xếp bút
nghiên, gia nhập hàng ngũ nghĩa quân Bình Ðịnh của các Ông Mai Xuân
Thưởng, Bùi Ðiều.
Năm Ðinh Hợi (1887), sau khi
lực lượng nghĩa quân Cần Vương bị Pháp đàn áp, các thủ lãnh lần lượt hy
sinh, Ngài phải lánh nạn vào vùng Bà Rịa, tạm khoát áo thầy đồ che mắt
quân địch, để chờ cơ hội và tìm đồng chí. Ngài đã đi khắp các tỉnh miền
Ðông xuống tới Gò Công. Ði đến đâu Ngài cũng đều thất vọng vì bấy giờ
người Pháp đã đặt xong nền cai trị với bộ máy đàn áp và tay sai khắp nơi.
Phong trào Cần Vương không có ảnh hưởng gì ở miền Nam. Chán nản, Ngài lại
quay về Bà Rịa, tạm ẩn mình nơi nhà người bạn cũ năm xua.
Năm 1900, một hôm, đang dạo
bước lên đồi Chân Tiên, lòng bâng khuâng vì thời cuộc, bỗng xa vọng lại
tiếng chuông chùa trầm buồn giữa núi rừng thâm u thanh vắng, Ngài chợt
thức tỉnh giấc mộng trần. Sáng hôm sau Ngài tìm đến chùa Long Hòa Cổ Tự
gặp Sư Tổ Hải Hội-Chánh Niệm. Qua phong thái và tâm tình của Ngài, Tổ trú
trì đoán đây là người lương đống cho Phật pháp trong tương lai, nên lấy
lời cảnh tỉnh khuyên Ngài xuất gia hành đạo. Nghe Tổ giáo huấn, Ngài tự
nghĩ rằng “Cứu quốc không xong, thôi đành cứu đời vậy”. Từ đó Ngài xin
xuất gia học đạo, Tổ Hải Hội - Chánh Niệm truyền quy giới vaø ban cho Ngài
pháp hiệu là Thiện Thức. Ngài tinh tấn tu học, mau chóng am hiểu được các
việc trong thiền lâm, được Thầy Tổ mến yêu, huynh đệ kính vì.
Năm 1901, Ngài được Bổn sư gởi
đi tham học với Tổ Trí Hải ở chùa Thiên Thai Sơn Thạch Tự ở Sông Cầu, tỉnh
Phú Yên. Ngài ở đây ba năm tinh tấn tu học, tỏ ra là người trí tuệ uyên
bác, thông suốt các kinh, luật, luận. Rồi Ngài quay về chùa Long Hòa. Thấy
đạo phong và trí huệ Ngài xứng đáng laø người gìn giữ mối đạo tương lai,
Tổ Hải Hội truyền trao Cụ Túc giới và ban pháp danh là Thanh Kế, đạo hiệu
là Huệ Ðăng. Năm đó, Ngài 30 tuổi (1903), Ngài được Tổ cho trú trì chùa
Kiên Linh hơn một năm. Sau đổi về trú trì chùa Phước Linh ở xã Tam Phước
cùng tỉnh Bà Rịa năm 1904 và cũng năm này, Ngài được nhập chúng tu học với
hạ lạp đầu tiên tại chùa Giác Viên, do Tổ Hoằng Ân làm Chủ hương.
Năm Ất Tỵ 1905, Tổ Hải Hội viên
tịch ở chùa Long Hòa. Ngài phải về cư tang và lo xây dựng bảo tháp. Thời
gian này Ngài vào núi Dinh (núi Dinh Cố) khai phá Thạch động làm nơi tĩnh
tu. Ngài ở lại đây hai năm tĩnh tu thiền định, tụng kinh Pháp Hoa. Danh
đức của Ngài vang khắp, thiện tín bốn phương sùng kính ngày càng đông, đồ
chúng theo Ngài tu học càng nhiều.
Năm 1908, Ngài 35 tuổi, chùa
Châu Viên ở Bà Rịa khai trường Kỳ, chư sơn mời Ngài lãnh chức Yết Ma, đồng
thời làm Pháp sư trong giới đàn đó.
Năm 1910, Ngài vẫn ở tại Thạch
động mà Ngài đặt tên là Ðộng Thiên Thai. Thạch động nhỏ hẹp, không phải là
chốn già lam, nên Ngài nghĩ đến việc xây dựng chùa Thiên Thai ở chân núi
Dinh để tiếp Tăng độ chúng truyền bá chánh pháp.
Năm 1913 chư sơn trong tỉnh
thỉnh Ngài tổ chức giới đàn tại chùa Phước Linh xã Tam Phước, Bà Rịa. Tại
Ðại giới đàn này, ngài được suy tôn làm Ðường đầu Hòa thượng.
Năm 1915 (42 tuổi), Ngài được
thỉnh đeán trú trì chùa Bà Lang Lệ ở Cái Tàu Thượng (Sa Ðéc) do Phật tử
cúng cho Ngài. Về đây việc truyền bá Phật pháp của Ngài có cơ hội phát
triển. Rất đông chư sơn các nơi đến học và quảng đại tín đồ đến quy y thọ
giới. Tưø đó Pháp hạnh của Ngài được lan truyền trong các sơn môn, nên
trong những trai đàn đại lễ, các chùa đều thỉnh Ngài làm Pháp sư hay Chứng
minh. Ngài không từ chối dù phải đi xa, như năm 1918 Ngài làm Pháp sư
trường Hương ở chùa Sắc Tứ Quan Âm Cổ Tự (Cà Mau), năm 1920 Ngài làm Chứng
minh trường Hương ở chùa Phước Trường v.v...
Sau một thời gian vân du hoằng
hóa ở các tỉnh Nam bộ, Ngài cùng một đệ tử về ẩn tu ở hang Mai trên núi
Dinh, sống khaéc khổ để tĩnh tu thiền định. Ngài bị quan Tri phủ sở tại
nghi ngờ tổ chức chống Pháp nên bắt buộc phải rời hang Mai.
Năm 1925, Ngài lại dẫn đồ chúng
lên sườn núi Dinh khai hoang lập vườn trồng cây trái. Sau năm năm vừa tu
hành vừa làm lụng cực nhọc, vườn cây vú sữa đã có trái, đủ huê lợi cho môn
đồ no ấm tu học.
Năm 1929, Ngài trùng tu lại
ngôi Tổ đình Long Hòa được khang trang. Vì chùa đã bị hư mục sau 200 năm
xây dựng. Và năm 1933, do thỉnh cầu của đồ chúng, Ngài cho xây dựng Thiên
Bửu Tháp (còn gọi là Cửu Liên Ðài) ở phía đối diện chùa Thiên Thai.
Năm 1931, Hòa thượng Khánh Hòa,
cây đại thụ của phong trào chấn hưng Phật giáo, vận động chư sơn thành lập
hội Nam Kỳ Nghiên Cứu Phật Học đặt trụ sở tại chùa Linh Sơn ở gần chợ Cầu
Muối. Chẳng may trên bước đường hoằng dương chánh pháp, hội Nam Kỳ Nghiên
Cứu Phật Học đã gặp trở ngại, nên Phật sự không tiến hành được suôn sẻ.
Trước tình trạng đó, các Hòa
thượng có tâm huyết ở Nam kỳ tha thiết với mục đích chấn hưng Phật Giáo,
đã phải quay về chùa nhà, tỉnh nhà thành lập các tổ chức Phật giáo với
danh xưng khác nhau để tùy duyên hoằng pháp. Hòa thượng Khánh Hòa thành
lập hội Lưỡng Xuyên Phật Học năm 1934, Hòa thượng Trí Thiền thành lập Hội
Phật Học Kiêm Tế năm 1937. Cùng chiều hướng này năm 1935, Ngài thành lập
hội Thiên Thai Thiền Giáo Tông, đặt trụ sở tại chùa Long Hòa ở Bà Rịa -
Vũng Tàu, đồng thời Ngài cho xuất bản tờ Bát Nhã Âm để vận động phong trào
chấn hưng Phật Giáo và hoằng dương chánh pháp. Trường gia giáo cũng được
khai giảng tại chùa Long Hòa, quy tụ hàng Phật tử xuất gia và tại gia về
tu học ngày càng đông.
Ngài thường nói với đồ chúng
rằng:"Duy trì Phật pháp chính là ở chỗ mở rộng việc hoằng hóa lợi sanh,
giáo dục thiện tín, gieo trồng duyên lành, cội phước". Chính nhờ quan niệm
đúng đắn đó, mà việc truyền bá giáo lý của Ngài được phát triển khắp nơi.
Năm 1941, Ngài về thăm quê nhà.
Vì quá ngưỡng mộ danh đức của Hòa thượng, quan huyện Bình Khê và một số
đông nhân sĩ trong huyện đến thọ giáo và thỉnh cầu Ngài ở lại hoằng hóa
tại đây. Ngài chọn núi Ông Ðốc ở xã Bình Tường - Phú Phong - Tây Sơn -
Bình Ðịnh, lập nên ngôi chùa Thiên Tôn.
Năm 1943, sơn môn trong Nam cử
người ra rước Ngài trở lại chùa Thiên Thai. Bấy giờ sức khỏe của Ngài đã
giảm sút nhiều. Ngài luôn khuyên bảo đồ chúng lo tinh tấn tu hành, cố gắng
giữ gìn chánh pháp, một lòng một dạ với sự nghiệp lợi sanh. Ngài sắp xếp
ngôi thứ trong Tổ đình Thiên Thai và nhiệm vụ truyền pháp độ sanh trong
môn đệ.
Qua năm sau (1944) Ngài lại trở
về chùa Thiên Tôn - Bình Ðịnh và đến ngày 11 tháng 7 năm Quý Tỵ (1953)
Ngài ngồi kiết già, hướng mặt về Tây, niệm Phật và viên tịch. Bảo tháp
Ngài được xây dựng trên sườn núi Ông Ðốc cạnh chùa.
Công hạnh và đạo nghiệp rực rỡ
của Ngài còn thể hiện qua việc trước tác nhiều thơ văn Nôm. Các kinh điển
được Ngài diễn Nôm thường tụng còn lưu truyền rộng rãi cho đến ngày nay:
- Kinh Vu Lan nghĩa.
- Kinh Di Ðà nghĩa.
- Bát Nhã Tâm Kinh nghĩa.
- Tịnh Ðộ Chánh Tông.
- Bài sám Thảo lư.
Hòa thượng Huệ Ðăng với Tổ đình
Thiên Thai là tiêu biểu cho tinh thần Phật giáo gắn với truyeàn thống yêu
nước phụng đạo: Ðất nước có độc lập tự chủ thì Phật pháp mới hóa độ tròn
duyên.
HÒA THƯỢNG
THÍCH KHÁNH THÔNG
(1870-1953)
Hòa thượng thế danh là Hoàng
Hữu Ðạo, pháp danh Như Tín, pháp hiệu Khánh Thông, sinh năm Canh Ngọ
(1870) tại làng An Thủy, tổng Bảo Trị, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre, trong
một gia đình thuộc hàng Nho gia khá giả. Thân phụ là ông Hoàng Hữu Nghĩa.
Thân mẫu là bà Ðặng Thị Sa. Lúc nhỏ Ngài được theo học chữ Nho với cụ Ðồ
Chiểu tại làng An Ðức (Khi cụ từ Cần Giuộc - Long An lánh nạn về đây mở
trường dạy học). Là học trò cụ Ðồ Chiểu, nên Ngài có tài về dịch học và
giỏi về Ðông y.
Trước khi xuất gia, Ngài sinh
hoạt theo đạo lý luân thường của Khổng Mạnh, chí hiếu với cha mẹ, hòa nhã
thân thiết với hương thôn tổng huyện. Quan, dân trong vùng coi Ngài như
bậc thiện trí thức gương mẫu uy tín của tỉnh Bến Tre. Ngài có biệt tài về
thơ phú, xuất khẩu thành chương, ứng đối mau lẹ và viết chữ rất đẹp. Hàng
năm cứ vào dịp gần tết, người trong làng thường nhờ Ngài viết giúp các câu
đối, câu liễn để treo trên bàn thờ gia tiên. Ngài còn có trí nhớ tốt,
thuộc rất nhiều kinh sử trong Tam giáo Cửu lưu. Tài hùng biện lưu loát của
Ngài dễ loâi cuốn người nghe trong các cuộc đàm đạo giao lưu.
Một hôm, tự thân suy gẫm về thế
cuộc nhân sinh, Ngài bỗng nhớ đến câu:
Nhơn tình tợ chỉ, trương trương
bạc
Thế sự như kỳ, cuộc cuộc tân.
Nghĩa là:
Tình người giống như tờ giấy
mỏng
Cuộc đời chẳng khác nào bàn cờ,
thắng bại đổi thay luôn.
Và thấy thấm thía lẽ vô thường.
Hạt giống xuất gia nẩy mầm trong Ngài. Năm 1897 (27 tuổi), Ngài đến chùa
Long Khánh xã Bình Tây xin quy y thế độ với Hòa thượng Chấn Bửu, được ban
pháp danh Nguyên Nhơn. Sau Ngài lại đến cầu chánh pháp nhãn tạng với Tổ
Minh Lương tức Thiền sư Chánh Tâm ở chùa Kim Cang tỉnh Tân An, được ban
pháp danh Như Tín, pháp hiệu Khánh Thông. Ngài là đồng môn huynh đệ với
Hòa thượng Thích Khánh Hòa.
Năm 1907 (Ðinh Mùi), Ngài trở
về làng An Thủy phát tâm khuyến giáo kiến tạo ngôi Tam bảo đặt tên là Bửu
Sơn Tự. Khi làm lễ khánh thành chùa và an vị Phật, Ngài kết hợp mở Ðại
giới đàn cung thỉnh Hòa thượng Bổn sư Minh Lương chùa Kim Cang giữ ngôi vị
Ðàn đầu Hòa thượng truyền giới. Còn Ngài được chư sơn cùng giới tử mời giữ
chức Yết Ma A Xà Lê. Qua giới đàn này, danh tiếng của Ngài bắt đầu vang
khắp các sơn môn. Thiện nam, tín nữ quy ngưỡng về Ngài cầu mong được thọ
ân pháp nhũ. Ðương thời có bà Lê Thị Ngỡi, pháp danh Như Ngỡi ở làng Tân
Hào, chợ Hương Ðiểm là một nhà đại thí chủ, tôn kính Ngài như Bổn sư. Phàm
những Phật sự phước đức nào bà phát tâm cúng dường cũng phải có Ngài chứng
minh mới được.
Ngày rằm tháng 2 năm Quý Hợi
(1923), Ngài được cung thỉnh lên ngôi vị Ðàn đầu Hòa thượng ở Ðại giới đàn
chùa Thắng Quang. Ðến năm Tân Mùi (1931), Ngài lại được cung thỉnh giữ
chức Ðàn đầu Hòa thượng Ðại giới đàn ở chùa Long Nhiêu (Bến Tre).
Ngài là người có vốn Nho học,
lại thêm đức độ và uy tín thiền gia nên đồ chúng về đảnh lễ tu học raát
đông. Trong phong trào chấn hưng Phật giáo, Ngài đã góp phần đào tạo thế
hệ Tăng tài đáp ứng cho cuộc chuyển mình của Phật giáo. Lớp Tăng sĩ trẻ
này đã làm nền tảng cho Hòa thượng Khánh Hòa trong mọi công tác Phật sự.
Ðể phân biệt đệ tử của Hòa thượng Khánh Thông và đệ tử của Hòa thượng
Khánh Hòa: Ðệ tử Ngài Khánh Thông mang pháp danh chữ Vĩnh, như Vĩnh Huệ,
Vĩnh Ðạo, Vĩnh Tấn... Ðệ tử Ngài Khánh Hòa thì mang pháp danh chữ Thành,
như Thành Ðạo, Thành Lệ...
Năm Giáp Ngọ (1933) vào ngày
mùng 3 tháng 8 sau khi tụng xong một thời kinh, thấy người hơi mệt, biết
trần duyên đã mãn, sắp buông xả thân tứ đại, Ngài bèn cho gọi các đệ tử
tới bên cạnh, kể lại quảng đời hành đạo của mình, để tỏ lòng tri ân với Tổ
đình Long Khánh, Tổ đình Kim Cang, cùng với huynh đệ đồng môn xuất gia tu
học từ hồi niên thiếu. Ngài lại khuyên bảo chúng đệ tử xuất gia, tại gia
kiên tâm bền chí lo việc tu hành, chớ nên buồn rầu. Nói rồi Ngài vui vẻ
thâu thần về cõi Phật, hưởng thọ 83 tuổi đời, 55 giới lạp.
--- o0o ---
|
Mục Lục Tập I |
|
I |
II |
III |
IV |
V |
VI |
VII |
--- o0o ---
[
Tập II ]
--- o0o ---
Trình bày: Nhị Tường
Cập nhật: 05-2003