II
GIAI ÐOẠN CHẤN HƯNG
PHẬT GIÁO VIỆT NAM
TỔ PHI LAI THÍCH CHÍ THIỀN
(1861 - 1933)
Tổ Phi Lai thế danh là Nguyễn
Văn Hiển, Pháp hiệu Chí Thiền(1). Ngài sinh tháng 02 năm Tân Dậu (1861)
tại Quảng Nam, xã Diêm Sơn, huyện Duy Xuyên, trong một gia đình nhiều đời
làm quan triều đình và có lòng kính tin Phật pháp. Ông nội là Hộ Quốc Công
Nguyễn Công Thành, dưới triều Tự Ðức,(2) thân phuï Ngài là quan Tổng Trấn
Quảng Nam, rất được lòng dân(3).
Ngài lớn lên trong sự giáo
dục nghiêm nhặt theo đúng truyền thống gia phong, văn võ song toàn, trí
đức ngời sáng. Tuy ở dinh Tổng Trấn với nếp sống quyền quý, nhưng Ngài vốn
bản tính hiền hậu hay giúp đỡ mọi người. Giữa lúc thiếu niên đang cần sự
dạy bảo của phụ thân thì ông qua đời. Ngài phải nương dựa vào mẹ và tiếp
tục phấn đấu học hành tiến thủ.
Năm Mậu Dần (1878), khi Ngài
18 tuổi, vua sắc chỉ trọng dụng con công thần làm quan, Ngài được bổ nhậm
làm quan Hậu Bố tại hạt Khánh Hòa. Tuy làm quan, có tài kinh lược, nhưng
Ngài vẫn không cảm thấy thích thú với quan lộ như truyền thống gia đình.
Ngaøi bí mật tham gia phong trào khởi nghĩa Văn Thân. Khi phong trào tan
rã, Ngài lánh nạn vào miền Nam ở đất Gia Ðịnh để tránh sự theo đuổi của
quan quân triều đình và mật thám Pháp.
Năm Tân Tỵ (1881) tại nơi
lánh nạn này, Ngài cảm nhận được sự vô thường, danh lợi như chiếc bóng
thoáng qua, chiêm nghiệm thực cảnh biển dâu, thống khổ bấy giờ chỉ là giấc
mộng, chí xuất trần bộc phát nên Ngài đến chùa Giác Viên Chợ Lớn xin xuất
gia học đạo vơùi Tổ Hoằng Ân - Minh Khiêm, được Tổ ban pháp hiệu Chí
Thiền, pháp danh Như Hiền.
Từ đó, Ngài theo thầy Tổ để
học đạo, và noi gương Lục Tổ Huệ Năng phát nguyện bửa củi, gánh nước, giã
gạo v.v... không nề gian lao khổ cực suốt một thời gian dài. Sau đó Ngài
phát nguyện đóng chuông ngày sáu thời ròng rã suốt ba tháng. Mãn đóng
chuông ba tháng, Ngài phát tâm công quả đấp nền chùa Giác Viên hằng ngày
bằng 100 xe đất cho đến lúc thành tựu. Sau đó Ngài xin Bổn sư cho nhập
thất ba năm, được Thầy ban pháp ấn. Ba năm nhập thất cũng đạt sở nguyện
viên mãn, Ngài lại cùng Bổn sư lo xây dựng ngôi Tam bảo Giác Sơn. Ngôi
chùa được khánh thành, Bổn sư cử Ngài làm Thủ tọa coi sóc trong ngoài chùa
Giác Sơn. Cho đến khi Bổn sư viên tịch vào năm Kỷ Tỵ (1899), Ngài lại kiêm
nhiệm trụ trì chùa Giác Viên.
Năm Giáp Thìn (1904), trận
bão lụt lớn nhất miền Nam thời ấy, gây tai họa thảm khốc cho nhân dân Gò
Công. Ngài đích thân quy nạp ghe thuyền với sự trợ sức của Tăng tín đồ
tỉnh Gò Công, cứu giúp gần một vạn người đang bị nước cuốn trôi. Giữa trận
mưa bão tơi bời, hình ảnh Tăng sĩ vật lộn với thiên tai đaõ đem lại lòng
tin nơi những người cộng sự và để lại trong lòng người dân tỉnh Gò Công
một hình ảnh hết sức tốt đẹp và cao quý. Nhất là nơi vàm Ốc Len ngay chính
ghe cứu nạn của Ngài bị lật úp, nhưng với tinh thần từ bi cao cả và bình
tĩnh sáng suốt, Ngài đã nhanh chóng biến nguy nan thành sức mạnh tự tại,
nhờ đó mà vượt qua được nạn tai.
Sau trận bão lụt, ngoài việc
tiếp tục lo tìm xác thu lượm chôn cất và làm lễ cầu siêu cho những ngươøi
xấu số, Ngài còn vận động xây cất nhà cửa, dọn dẹp những căn nhà đổ nát và
cấp phát thuốc men ngừa bệnh. Ngày rằm tháng chạp năm đó, Ngài trở về quê
cũ thăm mẫu thân thì mẹ đã qua đời. Ngài lo an táng và cầu siêu cho mẹ đến
chung thất mới trở lại chùa.
Sau khi sắp đặt cắt cử mọi
việc trong chùa xong, Ngài cùng một thị giả đến chùa Giác Sơn, từ giã
huynh đệ thẳng đường đến núi Sam - Châu Ðốc, ẩn dật tu hành. Khi đi ngang
kênh Vĩnh Tế, Ngài được ông Năm Thanh đưa sang bờ và hướng dẫn đến chùa
Phi Lai Cổ Tự lễ Phật. Ðây là ngôi chùa vách đất, vắng vẻ hoang vu, do đó
khi lễ Phật xong Ngài cùng thị giả đi thẳng qua hướng Thạch động, núi Cấm,
yên chí tu hành nhưng không quên ngôi chùa vắng vẻ đìu hiu ấy. Ông Năm
Thanh, sau khi tiễn Ngài lên núi, trở về bàn cùng hương chức và Phật tử
địa phương cung thỉnh Ngài trụ trì chùa Phi Lai và được Ngài hứa khả. Chùa
Phi Lai sau đó được Ngài về trụ trì. Nhờ uy đức và hạnh nguyện, Ngài đã
biến nơi đây thành chốn già lam đông đúc Tăng tín đồ đến thọ pháp, cuộc
sống người dân quanh vùng có biến đổi mới mẻ và chan hòa ý sống tình đạo.
Năm Ðinh Mùi (1907), một thảm
họa khác lại đưa đến, do nước lũ ngập úng, cây cối hoa màu không sinh sôi
nảy nở, mùa màng tổn thất. Ngài cho cứu tế khắp nơi, đem cả lương thực của
chùa ra phân phát, kêu gọi dân chúng lên núi vào ở ngay trong chùa, đợi
cho đến khi nước rút mới thôi. Do đó mà người dân đã thoát qua được những
trận thiên tai địa ách bằng lòng tin và cách sống vị tha của Ngài. Họ đã
đứng sau lưng Ngài trong suốt 49 ngày lập đàn Dược Sư cầu nguyện. Sau
những biến động thiên tai dồn dập ấy, Ngài phát nguyện tịch cốc, chỉ ăn
rau trái, với tâm nguyện chịu nỗi khổ thay dân trong suốt mười hai năm
liền.
Do những hoạt động và tinh
thần xả thân vì chúng sanh, Ngài được quần chúng ngưỡng mộ và hết lòng quy
thuận, nên mật thám Pháp nghi ngờ Ngài làm quốc sự và bắt giam Ngài trong
mười tháng.
Do những hoạt động và tinh
thần xả thân vì chúng sanh, Ngài được Lục Cả chùa Tà Lạp ở Campuchia hiến
cúng pho tượng Phật cổ hàng trăm năm bằng vàng, để tôn trí tại chùa Phi
Lai. Ðủ nói lên tinh thần và oai đức của Ngài đã vượt ra khỏi biên giới
bản địa, kết chặt thêm tình đạo cao sâu, giữa thời buổi chiến tranh loạn
lạc.
Thời điểm mở đầu của phong
trào chấn hưng Phật giáo, Tổ Khánh Hòa cùng chư Hòa thượng đồng tâm nguyện
họp bàn công việc Phật sự tại chùa Linh Sơn Sàigòn, Ngài không đến được,
đã gửi cúng vào quỹ Chấn hưng ba trăm đồng tiền Ðông Dương.
Năm Ðinh Mẹo (1927), Ngài
chứng minh lễ khai giảng lớp học Tăng ở chùa Giác Hoa tỉnh Sóc Trăng. Năm
Kỷ Tỵ (1929), Ngài chứng minh Ðại giới đàn chùa Trùng Khánh ở Phan Rang.
Năm Nhâm Thân (1932), sau
khi Hội Nam Kỳ Nghiên Cứu Phật Học được thành lập, Ngài tham gia vận động
trực tiếp cổ xúy cho Hội, khuyến khích Phật tử tích cực ủng hộ hầu làm cho
ngôi nhà Chánh pháp thêm vững mạnh, huy hoàng.
Năm Quí Dậu (1933), Ngài thọ
bệnh và an dưỡng tại thiền sàng, Ngài ứng hẹn vào vía Phật nhập Niết Bàn
sẽ viên tịch. Quả đúng như thế, đến ngày rằm tháng 02, sau khi dặn dò các
đệ tử, Ngài chắp tay nói bài kệ:
Nhứt niệm viên quang tội tánh
không
Ðẳng đồng pháp giới hàm thanh
tịnh.
rồi an nhiên thâu thần thị
tịch. Ngài trụ thế được 73 năm, hành đạo 52 năm. Bảo tháp của Ngài được
xây tại chùa Phi Lai Châu Ðốc.
Cuộc đời của Tổ Phi Lai còn
rất nhiều hành trạng bí mật trong việc giúp đỡ các phong trào yêu nước
chống Pháp và những pháp thuật cứu đời. Học thức uyên thâm và đức độ của
Ngài đã cảm hóa không biết bao nhiêu người trở thành đệ tử Ngài, quy y
theo Phật, xuất gia học đạo và thế hệ kế thừa Ngài là những vị Tăng tài
xuất chúng đóng góp cho sự nghiệp phát triển Phật giáo Việt Nam rạng rỡ
huy hoàng.
Tổ Phi Lai là tiêu biểu cho
thế hệ danh Tăng ở miền Tây Nam bộ, đóng góp công sức rất lớn cho phong
trào chấn hưng, mà lịch sử mãi còn kính ghi khắc lại tưởng niệm đời đời.
Chú thích:
1) Có nơi gọi là Chí Thành -
vì cữ tên ông nội nên gọi là Chí Thiền (Phật Giáo Việt Nam Sử Lược Tập III
- Nguyễn Lang) - (Ý kiến Trương Ngọc Tường).
2) Có ý kiến cho rằng ông nội
của Ngài là Tiền Quân Nguyễn văn Thành dưới triều Tự Ðức. Sau biến cố gia
đình theo anh về Bình Ðịnh (đang làm Bố Chánh Bình Ðịnh) - (Trương Ngoïc
Tường).
3) Có bản tiểu sử ghi Ngài là
con của Hộ Quốc Công Nguyễn Công Thành (Tiểu sử chùa Kim Quang-Nha Trang,
Tiểu sử chùa Từ Quang - Thủ Ðức ).
HÒA THƯỢNG
THÍCH MẬT KHẾ
(1904 - 1935)
Ngài Mật Khế, sinh năm Giáp
Thìn, niên hiệu Thành Thái thứ 16 (1904) tại làng Thần Phù, huyện Hương
Thủy, tỉnh Thừa Thiên. Năm lên 9 tuổi (Quý Sửu 1913) vừa lúc Ni sư Diên
Trường dựng xong chùa Trúc Lâm ở làng Dương Xuân Thượng và thỉnh Hòa
thượng Giác Tiên về làm trú trì, Ngài theo Hòa thượng làm tiểu đồng hầu
hạ.
Năm 19 tuổi (Quý Hợi 1923)
Ngài được Hòa thượng Giác Tiên chính thức thế độ, ban cho pháp danh Tâm
Ðịa, pháp hiệu là Mật Khế. Từ đó Ngài cùng các Tăng hữu Mật Nguyện, Mật
Hiển và Mật Thể là những đệ tử lỗi lạc nhất của Hòa thượng Giác Tiên và là
những trụ cột về sau cho phong trào chấn hưng Phật giáo.
Cùng năm đó (1923), Hòa
thươïng Giác Tiên tổ chức Ðại giới đàn tại chùa Từ Hiếu do Hòa thượng Tâm
Tịnh làm Hòa thượng truyền giới. Ngài được Bổn sư cho thọ Cụ Túc giới tại
Ðại giới đàn này. Ngài tỏ ra là người xuất sắc nhất trong hàng các giới
tử, nên được chỉ định làm thủ chúng Sa Di. Sau khi thọ giới, Ngài được Hòa
thượng Tâm Tịnh ban thưởng cho một cà sa và một bình bát là hai vật thiêng
liêng nhất, quý trọng nhất của người xuất gia tu hành.
Năm Bính Dần (1926) Ngài 22
tuổi, được Bổn sư gửi vào Bình Ðịnh thọ giáo với Quốc sư Phước Huệ tại
chùa Thập Tháp. Quốc sư Phước Huệ là vị cao Tăng nổi tiếng bác thông kinh
luận vào bậc nhất thời bấy giờ. Năm 1929 Hòa thượng Giác Tiên mở Phật học
đường tại chùa Trúc Lâm và vào Bình Ðịnh thỉnh Quốc sư làm chủ giảng, Ngài
Mật Khế lại quay về chùa cũ tiếp tục tu học.
Năm Nhâm Tuất (1932) hội An
Nam Phật Học được thành lập và tạp chí Viên Âm được xuất bản. Trong những
ngày đầu mới hoạt động, hội có những buổi diễn giảng Phật pháp tại chùa Từ
Quang, chính cư sĩ Tâm Minh - Lê Ðình Thám và Ngài đã thay phiên nhau làm
Pháp sư. Ðó là hình ảnh đẹp nhất về sự cộng tác của một tại gia và một
xuất gia trên con đường phụng sự đạo pháp tại đất Thần kinh.
Năm Quý Dậu (1933), Hòa
thượng Giác Viên ủy cho Ngài mở trường Tiểu học Phật học tại chùa Vạn
Phước, làm nơi tham học cho hàng Sa Di các chùa trong vùng. Số học Tăng
bấy giờ được năm mươi người. Năm 1936, sau khi Ngài mất, trường được dời
về chùa Túy Ba gần bờ biển rồi lại dời về chùa Báo Quốc.
Năm Giáp Tuất (1934), Ngài
lại cùng Bổn sư mở trường An Nam Phật Học tại chùa Trúc Lâm, thu nhận bước
đầu năm mươi học Tăng. Ngài là một trong những giảng sư hăng hái và tận
tụy của trường. Những bài giảng của Ngài trên diễn đàn ở chùa Từ Quang như
“Tam quy ngũ giới”, “Trạch pháp tu tâm”, “Thanh văn thừa”, “Bồ tát thừa”,
“Pháp môn niệm Phật” v.v... giúp cho người học Phật bước đầu tìm hiểu giáo
lý sơ đẳng, đều được in lại trong tạp chí Viên Âm, phổ biến khắp nơi.
Cùng năm đó, Ngài cùng Hòa
thượng Trí Ðộ vào Quảng Ngãi dự Giới đàn Thạch Sơn với tư cách phóng viên
của báo Viên Âm.
Bước đầu khởi xướng phong
trào chấn hưng Phật giáo, các vị trong hội An Nam Phật Học, Tăng Ni cũng
như cư sĩ, đều chung một ý muốn phải có một sự kiện gì thật nổi bật để gây
được tiếng vang trong dư luận toàn quốc và làm động cơ thúc đẩy phong trào
chấn hưng Phật giáo tiến mạnh khắp các tỉnh, khắp cả ba miền Nam Trung
Bắc. Cái sự kiện mà mọi ngươøi mong muốn đó là sẽ tổ chức một đại lễ Phật
Ðản vào dịp mồng 8 tháng 4 năm Ất Hợi (1935) thật vĩ đại, thật trang
nghiêm và thật rầm rộ.
Một trong những người góp
nhiều công sức cho việc tổ chức đại lễ ấy là Ngài Maät Khế. Ngài đã để ra
nhiều tuần lễ, đi khắp các chùa, các tự viện tại kinh đô Huế và cả tỉnh
Thừa Thiên vận động, thuyết phục giới Tăng sĩ hưởng ứng và dành sự ủng hộ
toàn diện cho buổi lễ. Với tư cách là Tổng Thư ký của Sơn môn Thừa Thiên,
Ngài đã làm việc tích cực, quên ăn quên ngủ, quá sức chịu đựng, nên Ngài
ngã bệnh nặng. Ngày mồng 8 tháng 4, (tức 15-5-1935), trong lúc đại lễ Phật
Ðản được cử hành trọng thể tại chùa Diệu Ðế có sự tham dự của vua Bảo Ðại
là Hội trưởng danh dự của hội An Nam Phật Học, thì tại chùa Trúc Lâm, Hòa
thượng Giác Tiên đã không dự lễ, mà ở lại ngồi bên giường bệnh của người
đệ tử thân yêu đang trong giờ phút cuối cùng. Hòa thượng Giác Tiên đã sai
thị giả lấy bút mực, tự tay viết bài kệ:
Tâm địa quan hàm pháp tính
viên
Tây lai diệu chỉ hiểu Nam
thiên
Hoạt nhiên trực triệt Tào Khê
lộ
Miễn tại linh bình ngũ thập
niên.
Dịch:
Cõi tâm bao hàm pháp giới
tính
Trời Nam sáng tỏ ý Tây truyền
Bỗng nhiên thấy triệt Tào Khê
lộ
Khỏi mất công dài năm chục
năm.
Viết xong Hòa thượng trao cho
Ngài. Ðọc xong, Ngài nhắm mắt chiêm nghiệm. Mười lăm phút sau, Ngài thở
hơi cuối cùng, hưởng dương 31 tuổi đời. Ngày an táng Ngài, một người bạn
chí thân là cư sĩ Vân Ðàn điếu đôi câu đối như sau:
Rừng Mai đạp tuyết, cay đắng
trải bao phen, cơ hóa độ còn nhiều, hy vọng chứa chan, tằm kéo tơ lòng
thêu sử Phật.
Sàng Trúc trổ hoa, tỉnh mê
trong nửa kiếp, tình tương tri quá nặng, sầu trường man mác, quyên rơi
giọt lụy gọi hồn thiêng.
Ðúng như cư sĩ Vân Ðàn đã
nói, Ngài mất quá sớm, đang thời thanh niên, chứa đầy nhựa sống, hăng say
hoạt động. Hội Phật học đặt nhiều hy vọng ở Ngài, Bổn sư và Tăng hữu cũng
đặt nhiều hy vọng Ngài sẽ trở thành cột trụ cho Ðạo pháp trong tương lai.
Nhưng than ôi! Ngài đã sớm lìa trần, để lại bao thương tiếc cho mọi người.
Tuy hội An Nam Phật Học chỉ mới hoạt động được ba năm, nhưng ngay từ những
ngày đầu, Ngài đã hiến dâng tất cả tài năng và sức lực cho phong trào chấn
hưng Phật giáo. Dù công nghiệp chưa nhiều, thành tích còn khiêm tốn, những
gì Ngài đã hiến dâng đóng góp cho đạo pháp đều là những viên đá nền móng
trên đó những người đi sau xây dựng lên tòa lâu đài Giáo hội ngày nay vậy.
TỔ VĨNH NGHIÊM
HÒA THƯỢNG-THÍCH THANH HANH
(1840 - 1936)
Hòa thượng thế danh là Nguyễn
Thanh Ðàm(1) pháp hiệu là Thanh Hanh, sinh năm 1840 tại làng Thanh Liệt,
huyện Thanh Trì, tỉnh Hà Ðông (nay thuộc Hà Nội) trong một gia đình thi
lễ. Năm lên bảy tuổi, Ngài được gia đình theo cho học chữ Nho. Nhờ có sẵn
thiên tư, lại được cha rèn thầy dạy, nên việc học của Ngài tiến bộ nhanh
chóng. Tuy nhiên, Ngài lại không thích đời trần tục mà lại có yù muốn xuất
gia.
Mặc dầu được cha mẹ thương
yêu, nặng tình cốt nhục cố ngăn cản, Ngài vẫn một lòng xin song thân cho
phép đi tìm cuộc sống thanh thoát nơi thiền gia. Cuối cùng Ngài được toại
nguyện. Lên mười tuổi (1850), Ngaøi đến làm lễ xuất gia với vị Hòa thượng
họ Nguyễn ở chùa Hòe Nhai - Hà Nội.
Năm lên 18 tuổi (1858), Ngài
được về chùa Vĩnh Nghiêm, tỉnh Bắc Giang, tiếp tục tu học dưới sự chỉ dẫn
của Hòa Thượng Tâm Viên.
Năm 20 tuổi (1860), Ngài thọ
Cụ Túc giới tại Ðại giới đàn chùa Vĩnh Nghiêm. Sau đó Ngài vẫn tiếp tục ở
lại chùa tu hành nghiên cứu giáo lý. Ngài tu học rất tinh tấn và trở thành
một nhân vật rường cột của Tổ đình này.
Năm 30 tuổi (1870), nghĩa lý
đã làu, đạo thiền đã thấu, Ngài được nghiệp sư cử vào tỉnh Ninh Bình giảng
dạy Phật pháp cho Tăng Ni, khi ở chùa Phượng Ban, lúc tới chùa Hoàng Kim,
lại về chùa Phúc Tỉnh v.v... Ðến chỗ nào, Ngài cũng chỉ thiết tha một
niềm: lấy việc hoằng dương Chánh pháp, giáo hóa Tăng Ni làm phận sự. Ngài
luôn tâm niệm làm mọi việc lợi lạc cho tín đồ là sứ mệnh của người xuất
gia. Ròng rã ba mươi năm Ngài làm Pháp sư, đem đạo dạy đời. Trong thì Tăng
Ni, ngoài thì thập phương thiện tín, ai cũng được thấm nhuần mưa pháp. Nhờ
vậy mà đệ tử của Ngài nhiều người thành bậc đạo hạnh thuần nhã, tín căn
kiên cố.
Năm Canh Tý (1900), Ngài 60
tuổi, sư huynh của Ngài là Hòa thượng Thanh Tuyền viên tịch. Ngài trở về
Tổ đình Vĩnh Nghiêm và được sơn môn suy cử vào ngôi kế đăng. Từ đó Tăng
chúng và tín đồ thường gọi Ngài là Tổ Vĩnh Nghiêm.
Trong cương vị đứng đầu một
ngôi Tổ đình lớn vào bậc nhất miền Bắc, công việc điều hành đa đoan, Ngài
vẫn không sao nhãng việc hoằng dương Chánh pháp, đào tạo Tăng tài, bồi
dưỡng lớp kế thừa. Ngài thường xuyên lui tới trường Viễn Ðông Bác Cổ ở Hà
Nội, tìm tòi tam tạng kinh điển đại thừa, rồi xin phép ban Giám đốc cho đồ
chúng đem bút giấy vào sao chép về cho khắc ván ấn hành nhiều bản. Bước đi
tiên phong của Ngài đã gây nên phong trào các sơn môn lớn trên đất Bắc đua
nhau sao cheùp và in ấn kinh sách, giúp Tăng Ni và cư sĩ có tài liệu tham
cứu. Nhờ đó mà các thiền môn có được những bộ kinh quý hiếm như kinh Hoa
Nghiêm Sớ Tấu, kinh Ðại Bát Nhã, kinh Ðại Bảo Tích, kinh Duy Ma Cật, kinh
Trường A Hàm, luật Tứ Phần Tu Trì, luật Trừng Trị Tục Khắc và các bộ luận
về môn Duy Thức với bộ Phụ Giáo Biên v.v... Các bộ kinh, luật, luận ấy
được khắc ván và in, đều có mang lời tựa và lời bạt của Ngài. Ngày nay
chúng ta đọc lại những bài ấy sẽ thấy sức học của Ngài rất uyên thâm, sự
hiểu biết sâu sắc, lòng vị chúng của Ngài rất thống thiết.
Ngài luôn quan tâm đến việc
chấn hưng Phật giáo, quy tụ các sơn môn về một mối. Hoạt động của Ngài và
Tăng hữu cho mục đích cao cả đó đã vang dội tận miền Nam, nên năm 1929,
Hòa thượng Khánh Hòa đã cử Thiền sư Thiện Chiếu ra Bắc gặp các sơn môn để
bàn việc thành lập Việt Nam Phật Giáo Tổng Hội. Nhưng vì cơ duyên chưa
thuận, việc không thành. Sau đó miền Nam, rồi miền Trung lần lượt thành
lập các hội Phật giáo. Miền Bắc đến ngày 05-12-1934, Bắc Kỳ Phật Giáo Hội
mới chính thức được thành lập. Hội đã thỉnh cầu Ngài làm Thiền gia Pháp
chủ. Tuy tuổi Ngài lúc đó đã 94, sức khỏe đã giảm sút nhiều, nhưng vì ước
nguyện mấy chục năm nay của Ngài đã thành sự thật, nên Ngài vẫn vui vẻ
nhận lãnh nhiệm vụ nặng nề ấy. Trong lễ suy tôn, tổ chức rất long trọng
tại chùa Quán Sứ ngày 23-12-1934, Ngài đã kêu gọi Tăng sĩ theo nguyên tắc
lục hòa của Phật dạy mà bỏ hết dị biệt của tông nọ phái kia để dốc lòng
chấn hưng Phật giáo.
Tuy vậy, sự bất đồng ý kiến
của một số sơn môn với Bắc Kỳ Phật Giáo Hội vẫn xuất hiện. Ðó là việc hai
chùa Linh Quang (Bà Ðá) và Hồng Phúc cho phát hành tờ Tiếng Chuông Sớm vào
giữa năm 1935, lúc đó tờ Ðuốc Tuệ, cơ quan ngôn luận của hội Bắc Kỳ Phật
Giáo chưa xuất hiện. Sự bất đồng ý kiến kéo dài từ giữa cho đến cuối năm
1935, nặng nề nhất là việc hai Tổ đình Linh Quang và Hồng Phúc phối hợp
với các chùa chi nhánh tại Hà Nội và các tỉnh để tổ chức Bắc Kỳ Phật Giáo
Cổ Sơn Môn. Trước tình trạng đó Hòa thượng Thanh Hanh đã tìm mọi cách hòa
giải, Ngài thường xuyên lui tới các Tổ đình trên để đả thông và thuyết
phục. Nhờ vậy mà sự bất đồng ý kiến trước đó dần dần nhường chỗ cho sự
cộng tác. Ðầu tháng chạp năm 1935, tờ Ðuốc Tuệ ra mắt độc giả. Báo Tiếng
Chuông Sớm liền viết bài chào mừng và đăng những bài có tinh thần hòa giải
và cởi mở.
Sau bao năm tận tụy phục vụ
Ðạo pháp, đào tạo Tăng tài, goùp sức cho phong trào chấn hưng Phật giáo,
hòa giải những ý kiến dị biệt, đưa các sơn môn miền Bắc về chung một mái
nhà Phật giáo, công đức của Ngài vô cùng to lớn. Ðã đến lúc Ngài có thể
trút bỏ thân tứ đại để trở về cõi Tây phương Cực Lạc, nên ngày mồng 8
tháng 12 năm Bính Tý (1936), Ngài đã viên tịch tại chùa Vĩnh Nghiêm, hưởng
thọ 96 tuổi đời, 86 tuổi đạo.
Ý nguyện hòa hợp Tăng già,
thạnh hưng Phật đạo để làm mẫu mực cho đời và hy vọng giải thoát chúng
sanh của Ngài còn mãi.
Chú thích:
1) Theo Nguyễn Lang trong
Việt Nam Phật Giáo Sử Luận tập III, Hòa thượng Thanh Hanh tên tục là
Nguyễn Thanh Ðàm (trang 149). Nhưng theo tài liệu viết về Tổ Thuyền Gia
Pháp Chủ (Do Ðại Ðức Gia Quang ở Phân viện Nghiên Cứu Phật học Hà Nội cung
cấp) thì lại thuộc dòng họ Bùi.
HÒA THƯỢNG
THÍCH GIÁC TIÊN
(1880 - 1936)
Hòa thượng Giác Tiên, họ
Nguyễn, sinh năm Canh Thìn 1880 (năm Tự Ðức thứ 33) tại làng Giạ Lê
Thượng, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên. Song thân Ngài mất sớm, vì vậy
năm Giáp Ngọ (1894) khi vừa tròn 15 tuổi, Ngài đã đến chùa Từ Hiếu xin
xuất gia với Hòa Thươïng Tâm Tịnh. Năm Canh Tý (1900), 21 tuổi Ngài thọ
giới Sa Di.
Năm Giáp Thìn (1904) khi được
24 tuổi, Ngài theo Hòa thượng Bổn sư Tâm Tịnh về dựng Am Thiếu Lâm để tu
học, nhường chùa Từ Hiếu lại cho bản phái. Am Thiếu Lâm này gần chùa Tây
Thiên, rất hợp cho thầy trò an cư tĩnh tu.
Năm Mậu Thân (1908) Ðại giới
đàn được tổ chức tại chùa Phước Lâm ở Quảng Nam, do Ngài Vĩnh Gia làm Ðàn
đầu Hòa Thượng. Ngài được gởi vào thọ Cụ Túc giới tại giơùi đàn này, Ngài
tỏ ra là một giới tử xuất sắc nên được chọn làm Thủ chúng Sa Di.
Năm Quý Sửu (1913), Ni Sư
Diên Trường xây dựng xong chùa Trúc Lâm, liền xin phép Hòa Thượng Tâm Tịnh
thỉnh Ngài về làm trụ trì ngôi chùa mới cất này. Ngài về đây thu nạp đồ
chúng và mở rộng hoạt động hoằng dương Chánh pháp, tiếng tăm vang xa, vượt
ra khỏi làng Dương Xuân Thượng, đến khắp mọi nơi.
Năm Canh Thân (1920), các
khóa giảng được mở ra thường xuyên tại chùa Thiên Hưng do Hòa thượng Huệ
Pháp chủ trì, Ngài đã cùng nhiều vị Tăng khác nhanh chóng tìm đến cầu học.
Nơi đây, sau nhiều tháng ngày theo học, Ngài được Hòa thượng Huệ Pháp khen
tặng là người có túc căn thâm hậu.
Năm Quý Hợi (1923), Ngài tổ
chức Ðại giới đàn tại chùa Từ Hiếu. Tại giới đàn này, đệ tử của Ngài là
Mật Khế thọ đại giới, và Bổn sư Ngài là Hòa thượng Tâm Tịnh làm Hòa thượng
truyền giới.
Năm Ất Sửu (1925), năm Bảo
Ðại nguyên niên, Ngài được sắc chỉ triều đình làm trụ trì chùa Diệu Ðế.
Năm Kỷ Tỵ (1929), năm Bảo Ðại
thứ 5 , sau khi trùng tu chùa Trúc Lâm và mở Phật Học Ðường tại đây, Ngài
liền vào Bình Ðịnh cung thỉnh Hòa thươïng Phước Huệ chùa Thập Tháp Di Ðà
ra làm chủ giảng. Từ đó, năm nào Hòa thượng Phước Huệ cũng được thỉnh về
Trúc Lâm giảng dạy. Các đệ tử của Ngài như thầy Mật Khế, Mật Nguyện, Mật
Hiển và Mật Thể đều được theo học và đã đóng góp tích cực trong công cuộc
chấn hưng Phật giáo sau này. Ðặc biệt, cùng theo học tại Trúc Lâm lúc này
có cư sĩ Lê Ðình Thám, Y sĩ trưởng tại viện Pasteur Huế. Cư sĩ Lê Ðình
Thám đã quy y với Ngài từ năm 1928 được đặt pháp danh là Tâm Minh (chính
cư sĩ là người vâng lời Ngài triệu tập các bậc đồng lữ, thành lập hội An
Nam Phật Học năm 1932).
Ngài rất chú ý đến việc đào
tạo Tăng tài. Nhờ những cố gắng đó mà Ngài đã biến chùa Trúc Lâm thành nơi
phát tích nhiều cột trụ của nền Phật giáo cận đại. Tiêu biểu trong số
những Tăng sĩ lừng lẫy như: Quảng Huệ, Trí Thủ, Mật Thể, Chánh Thông,
Thiện Trí, Thiện Hoa, Thiện Hòa...
Năm Quý Dậu (1933), naêm Bảo
Ðại thứ 8, Ngài ủy thác cho thầy Mật Khế mở trường Tiểu học Phật Học cho
Sa Di các chùa tại chùa Vạn Phước, trường trực thuộc Hội An Nam Phật Học.
Năm Giáp Tuất (1934), Ngài
lại cùng đệ tử Mật Khế tổ chức trường An Nam Phật Học tại chùa Trúc Lâm,
thu nhận được năm mươi học Tăng. Cuối năm này, Ngài lại quy tụ được rất
nhiều học Tăng có học lực và trình độ khá cao để mở ra cấp Ðại học Phật
giáo, cũng tại Trúc Lâm.
Giai đoạn này là cao trào
chấn hưng Phật giáo ở miền Trung, nhờ vào uy đức của Ngài cùng tài uyên
bác của Tâm Minh - Lê Ðình Thám, và sự hưởng ứng nồng nhiệt của các bậc
thức giả học Phật như: Ưng Bàng, Nguyễn Ðình Hòe, Nguyễn Khoa Tân Viễn Ðệ,
Nguyễn Khoa Toàn, Ứng Bình, Bửu Bác, Trần Ðăng Khoa, Lê Thanh Cảnh, Lê
Quang Thiết, Trương Xướng, Tôn Thất Quyên, Nguyễn Xuân Tiếu, Hoàng Xuân
Ba, Lê Bá Ý và Tôn Thất Tùng. Qua Hội An Nam Phật Học và taïp chí Viên Âm,
Ngài và đệ tử mình đã khéo léo dung nạp được rất nhiều chánh kiến khác
nhau, về cùng chí hướng là tận dụng người tri thức để phục vụ Phật pháp.
Khi sinh tiền, Ngài được Bổn
sư Tâm Tịnh trao cho bài kệ đắc pháp sau đây:
Giác đạo kiếp không tiên
Không không Bát Nhã thuyền
Quả nhân phù hạnh giải
Xứ xứ đắc an nhiên.
Dịch:
Ðường giác trước không kiếp
Thuyền Bát Nhã không không
Hạnh giải hợp nhân quả
Ở đâu cũng thung dung.
Ngài hướng đạo cho Hội An Nam
Phật Học được bốn năm. Năm Bính Tý (1936) ngày mồng 2 tháng 10 Âm lịch,
Ngài cho triệu tập các môn đồ tứ chúng về đầy đủ và tụng bộ Pháp Bảo Ðàn
Kinh, tụng đến phẩm Bát Nhã thì Ngài cho dừng lại để dặn dò những điều cần
thiết. Qua đến ngày mồng 4, Ngài an nhiên thị tịch. Thọ 57 tuổi đời, 29 hạ
lạp(1).
Tháp Ngài sau đó được tôn trí
nơi phía tả khuôn viên chùa Trúc Lâm.
Chú thích:
1) Ngài Giác Tiên tịch vào
năm 1936 chứ không phải vào năm 1934 như Lê Ðình Duyên đã viết trong bài
“Tiểu sử đạo hữu Tâm Minh - Lê Ðình Thám” in ở đầu trang sách Kinh Thủ
Lăng Nghiêm xuất bản tại Sài Gòn năm 1973.
HÒA THƯỢNG
THÍCH TỪ PHONG
(1864 - 1938)
Hòa thượng Thích Từ Phong,
thế danh Nguyễn Văn Tường, sanh năm Giáp Tý (1864) tại Sông Tra, thôn Ðức
Hòa Thượng, tổng Dương Hòa Thượng, huyện Bình Dương, tỉnh Gia Ðịnh, nay là
huyện Ðức Hòa, tỉnh Long An.
Ngài là con trai út duy nhất
của gia đình gồm ba chị em, sống bằng nông nghiệp. Năm 16 tuổi, nghe cha
mẹ bàn bạc về việc lo gia thất cho mình, Ngài từ chối và xin song thân cho
được xuất gia học Phật. Ðược toại nguyện, Ngài tìm đến chùa Từ Lâm ở làng
Hiệp Ninh, châu thành Tây Ninh, xin quy y thọ giới với thiền sư Minh Ðạt
(tục gọi Yết Ma Lượng) là một danh Tăng khả kính đương thời.
Tu học tại chùa Từ Lâm được
một thời gian, Ngài đến chùa Giác Viên ở thôn Bình Thới, tổng Tân Phong
Trung, huyện Tân Long, tỉnh Gia Ðịnh (nay thuộc phường 9, quận Tân Bình,
thành phố Hồ Chí Minh) cầu pháp với Hòa thượng Hoằng Ân - Minh Khiêm, được
ban pháp danh Như Nhãn, phaùp hiệu Từ Phong, truyền thừa đời thứ 39 dòng
Lâm Tế, chi phái Ðạo Mẫn. Hòa thượng Hoằng Ân thường vân du hóa đạo, ít
trụ tại chùa, nên lập ban trụ trì để chăm lo Phật sự, Ngài được cử làm thư
ký.
Bấy giờ tại xóm Chợ Gạo, làng
Tân Hòa Ðông, tổng Long Trung, tỉnh Chợ Lớn (nay thuộc quận 6,thành phố Hồ
Chí Minh) có bà Trần Thị Liễu lập một cảnh chùa để tu tâm dưỡng tánh, an
hưởng tuổi già. Ðược một thời gian, bà cúng ngôi chùa ấy cho Hòa thượng
Hoằng Ân và thỉnh Hòa thượng tới trú trì để hoằng dương Phật pháp. Hòa
thượng Hoằng Ân cử Ngài về đó thay thế. Ngôi chùa của bà Liễu mang hiệu là
Giác Sơn Tự. Ngài thấy hai chữ Giác Sơn chưa đủ ý nghĩa, nên đổi là Giác
Hải Tự, lấy ý trong câu “Giác giả năng độ mê tân. Mê giả tắc trầm khổ
hải”(1). Từ đó Ngài vâng lệnh Bổn sư, nối nghiệp Tổ tông, hoằng dương đạo
pháp tại chùa Giác Hải(2).
Năm 29 tuổi (Quý Tỵ 1893),
sau muøa an cư kiết hạ, tại chùa Giác Viên có Ðại giới đàn, Ngài được cử
làm Yết Ma A Xà Lê. Vốn là người uyên bác lại tinh tấn nghiên cứu học hỏi
nên Ngài sớm trở thành một Pháp sư tinh thông kinh điển, có tài hùng biện
luôn thuyết phục được người nghe. Vì vậy ai cũng thích đến nghe pháp với
Ngài. Năm Kỷ Dậu (1909) chùa Long Quang ở Châu Thành - Vĩnh Long khai
trường Hương, thỉnh Ngài làm Pháp sư, nhân dịp này, Ngài viết bài “Khải
cáo phát minh văn”.
Năm Nhâm Tý (1912) tại Tổ
đình Giác Lâm khai trường Hương, Ngài được tôn làm Hòa thượng Pháp sư. Sau
mùa an cư này, Ngài nhờ hiệu Quảng Ðồng An ở Chợ Lớn đặt bản đá in bộ “Quy
nguyên trực chỉ” do Ngài diễn Nôm, Bổn sư là Hòa thượng Hoằng Ân hiệu
đính. Bài “Khải cáo phát minh văn” được in lên đầu sách. Khoảng năm 1915,
Ngài lại soạn bộ “Tông cảnh yếu ngữ lục” nhằm nhắc nhở những Tăng Ni trẻ
mới xuất gia cố gắng tu hành.
Năm Kyû Mùi (1919) Hòa thượng
Chánh Hậu ở chùa Vĩnh Tràng (Mỹ Tho) khai trường Hương gia giáo, Ngài được
mời làm Pháp sư. Qua năm sau (Canh Thân 1920), Ngài lại được thỉnh làm
pháp sư trường Hương tại chùa Bửu Long ở thôn Trung Tín, tổng Bình Trung,
huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long, do bà Trần Thị Thọ một thí chủ hằng tâm
hằng sản cúng dường mọi sở phí. Ðây là chùa tư của bà Thọ. Sau mùa an cư
bà cúng ngôi chùa cho Ngài. Em bà Thọ là bà Trần Thị Sanh cũng cúng cho
Ngài chùa Từ Lâm. Một số Phật tử khác ở Vĩnh Long cúng cho Ngài chùa An
Thạnh, chùa Giác Quang. Ở Mỹ Tho có gia đình ông Trần Văn Thông cúng cho
Ngài chùa Linh Phong. Ở Gò Công các Phật tử cúng chùa Phú Thơùi v.v...
Tổng số tự viện các nơi cúng cho Ngài có đến khoảng 20 ngôi.
Ðạo đức , học vấn và tài hùng
biện của Ngài nổi tiếng đến độ có một số người Pháp thường đến chùa tham
vấn, tôn Ngài vào bậc thầy, như Ông Lamacs (lúc đó làm Thiếu tá hải quân).
Ông Doumergue (lúc đó làm Thống Ðốc Nam Kỳ). Hoàng gia Campuchia đã bốn
lần thỉnh Ngài sang Phom Pênh thuyết pháp. Mặc dầu hoàng tộc và triều thần
thường nghe giáo lý Tiểu thừa. Nhưng do caû hai bên đều thành tâm vì đạo
pháp nên vẫn được kết quả cao. Một sự kiện khá hy hữu đã xảy ra: vua
Norodom cảm phục đạo hạnh cao cả và kiến thức uyên thâm của Ngài đã thỉnh
Ngài làm lễ xuống tóc để xuất gia tu học coù hạn kỳ theo phong tục nước
Campuchia.
Trong những năm 1920-1925,
thấy chùa Từ Lâm của thầy Tổ mình nằm trong khuôn viên châu thành Tây Ninh
quá chật hẹp, Ngài dựng một ngôi chùa mới tại Gò Kén, Thôn Thái Hiệp
Thạnh, gần châu thành. Ngôi chùa này qui mô đồ sộ, trang trí đẹp, nằm
trong khu vực yên tĩnh, rộng rãi, cũng mang tên Từ Lâm, ngụ ý của Ngài là
muốn tuyên dương công nghiệp của Thầy Tổ mình. Sau đó Ngài lại cải táng
hài cốt Sư phụ là thiền sư Minh Ðạt về chùa mới, xây tháp tôn thờ. Năm
1926, đạo Cao Ðài thành lập ở Tây Ninh. Các chức sắc tiên phong thấy Ngài
đạo phong cao trọng, lại có sẵn ngôi chùa khang trang, có ý muốn tôn Ngài
chức Thái Chưởng Pháp và mượn chùa Từ Lâm 3 tháng để thiết đàn cầu cơ.
Ngài chỉ chấp nhận cho mượn chùa 3 tháng, sau gia hạn thêm 1 tháng để tôn
giáo bạn có đủ thời giờ xây dựng thánh thất.
Bấy giờ các tự viện ở Nam bộ
thường liên kết lại thành một hội gọi là Hội Lục Hòa, dựa vào hình thức
hội họp luân phiên qua lại mỗi lần tại một chùa để gây tình đoàn kết, phát
động phong trào chấn hưng Phật giáo. Ngài thường được các nơi thỉnh làm
Pháp sư thuyết giảng trong các lần hội họp đó.
Ngày 26-8-1931, do sự hoạt
động tích cực của Hòa thượng Khánh Hòa, Thầy Thiện Chiếu, các Hòa thượng
trong các Sơn môn, Tổ đình và một số Phật tử hữu tâm, Hội Nam Kỳ Nghiên
Cứu Phật Học được thành lập, đặt trụ sở tại chùa Linh Sơn, gần chợ Cầu
Muối (Sàigòn). Lúc này Ngài đang trụ trì chùa Giác Hải, được bầu làm Chánh
Hội Trưởng. Nhưng sau đó hội không tiến hành được Phật sự như mong muốn,
vì một số cư sĩ ngăn trở. Năm 1933, các Hòa thượng Khánh Hòa, Từ Phong,
Chánh Tâm, Tâm Quang, Khánh Anh, Huệ Quang lui về miền Tây thành lập Phật
Học Ðường lưu động gọi là Liên Ðoàn Phật Học Xã để đào tạo Tăng tài. Mỗi
chùa luân phiên mở lớp học 3 tháng, thường thỉnh Ngài đến giảng dạy. Chẳng
bao lâu Liên Ðoàn Phật Học Xã gặp khó khăn về tài chánh phải tan rã. Hội
Lưỡng Xuyên Phật Học ra đời năm 1934, khóa đầu tiên do Hòa thượng An Laïc
chùa Vĩnh Tràng làm Hội trưởng, Ngài làm Chứng minh Ðạo sư. Năm 1935, hội
xuất bản tạp chí Duy Tâm, mở trường Phật học.
Ngoài Phật sự hoằng dương
Chánh pháp, Ngài còn là một bậc chân tu khổ hạnh khó ai sánh bằng. Hằng
ngày Ngài trì danh niệm Phật một muôn biến (10.000 lần), không có một thời
khắc nào ngơi nghỉ để lo những việc cho cá nhân Ngài, và không hề để cho
đồ chúng được chăm sóc phục dịch, dẫu đến khi tuổi già sức yếu.
Cuộc du hóa độ sanh của một
cao đức tài hoa vẫn đang đăng trình thì năm Mậu Dần (1938) Ngài viên tịch,
thọ 74 tuổi, trên 50 hạ lạp. Chùa Từ Lâm ở Gò Kén đón nhận nhục thân Ngài,
sau bao năm tích cực phục vụ phong trào chấn hưng Phật Giáo, đào tạo Tăng
tài. Ðể ghi nhớ công đức Ngài, đồ chúng xây tháp thờ tại chùa Từ Lâm và
chùa Giác Hải là hai trú xứ Ngài kiến tạo và dừng chân lâu nhất.