Truyện Lục tổ Huệ Năng
Ðại sư Lục tổ Huệ Năng là tổ thứ sáu của Thiền tông Trung quốc. Cha của
ngài là cụ Lô Hành Thao, người gốc vùng Phạm Dương, huyện Uyển Bình,
tỉnh Hà Bắc, vốn là một vị quan nổi tiếng ở đời vua Ðường Cao Tổ, nhưng
sau đó bị cách chức và đày đi làm người dân thường ở vùng Tân Châu, miền
Lĩnh Nam. Cụ Thao cùng phu nhân là Lý thị đã lấy nhau hơn hai mươi năm
mà vẫn chưa có con. Một hôm, phu nhân Lý thị nằm mơ thấy hai bụi cây ở
trước cửa nhà nở đầy hoa trắng, sau đó hoa trắng lại biến thành một đôi
hạc trắng vỗ cánh bay vút vào trời cao. Chẳng bao lâu lại có một mùi
hương lạ tràn ngập gian phòng của bà, một lúc lâu sau mới từ từ tan đi.
Phu nhân tỉnh giấc liền phát giác mình đã có thai.
Theo truyền thuyết, phu nhân mang thai sáu năm mới sinh ra Huệ Năng, khi
đó là năm Trinh Quán thứ mười hai, đời Ðường Thái Tông (TL 638). Lúc vừa
mới sinh ngài ra, trên không trung có một luồng ánh sáng chói rực, giống
như từ đỉnh đầu của Ðức Phật phóng ra. Trong nhà lại có một mùi hương lạ
thơm phưng phức. Sáng hôm sau có hai vị tăng tướng mạo phi phàm tìm đến
hỏi thăm. Sau khi nói lời chúc mừng, hai vị nầy nói rằng họ đến với mục
đích đặt tên cho đứa bé là Huệ Năng. Huệ có nghĩa là đem Phật pháp huệ
thí, tế độ chúng sinh, còn Năng có nghĩa là có năng lực hoằng dương Phật
pháp. Vừa nói xong, hai vị tăng liền biến mất. Ðiều nầy làm cho cụ Thao
và phu nhân vô cùng kinh dị.
Huệ Năng ra đời vào lúc ngài Huyền Trang vẫn còn đang đi thỉnh kinh ở Ấn
Ðộ. Ngài lớn lên trong sự chăm sóc tưng tiu của cha mẹ. Chẳng may, cha
ngài qua đời vào lúc ngài vừa mới lên ba. Hai mẹ con bèn dời nhà đến
vùng Nam Hải. Nhờ vào nghề may vá của phu nhân mà mẹ góa con côi đùm bọc
nhau, sống qua những chuỗi ngày gian khổ. Khi Huệ Năng vừa trưởng thành,
ngài bèn vào rừng đốn củi gánh ra chợ bán lấy tiền nuôi dưỡng mẹ già.
Một hôm, Huệ năng đem củi đến một quán trọ bán cho một người khách. Nhận
tiền xong, Huệ Năng vừa định đi ra bỗng nghe có tiếng tụng kinh. Ngài
tuy từ nhỏ chẳng học được bao nhiêu chữ nghĩa, nhưng khi nghe lời kinh
lại có một cảm giác lạ lùng, giống như một người đang ở trong hang tối,
vừa đục một lỗ hang, bỗng nhiên thấy được ánh sáng chan hòa. Tâm ngài
đột nhiên bừng sáng, một niềm vui khó tả tràn ngập trong lòng.
Ðang lúc người đó vừa tụng đến câu "Ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm"
[i][1]
Huệ Năng bỗng thấy chấn động trong lòng, ngài cảm giác như có một luồng
ánh sáng dài muôn trượng chiếu xuyên qua từng lỗ chân lông. Trong giây
phút đó, Huệ Năng cảm nhận một cách phảng phất hình như mình đã được
khai ngộ. Ngài bèn đặt gánh xuống, hấp tấp hỏi xem người khách tên gì,
lại hỏi ông ta làm thế nào mà có được bộ kinh đó. Người khách trọ nầy
tên là An Ðạo Thành, nói với Huệ Năng là ông đang tụng kinh Kim Cương,
và bộ kinh nầy được thỉnh từ chùa Ðông Thiền, chỗ của ngài Ngũ tổ Hoằng
Nhẫn, ở huyện Hoàng Mai, đất Kỳ Châu. Huệ Năng nghe xong, vô cùng ngưỡng
mộ, bèn nao nức muốn đến chùa Ðông Thiền theo ngài Hoằng Nhẫn tu học
Phật pháp, cầu mong Ngũ tổ ấn chứng cho sự khai ngộ của mình. Nhưng khi
nghĩ lại mẹ già không người sớm hôm phụng dưỡng, ngài bỗng trở nên lo
âu, lưỡng lự, không biết phải làm thế nào. Có lẽ do duyên lành từ đời
trước, An Ðạo Thành thấy Huệ Năng nghèo khổ không được đi học, mà lại có
tâm tha thiết mong cầu Phật Pháp, bèn rất khảng khái móc ra mười lượng
bạc giúp cho Huệ Năng làm lộ phí, lại còn hứa giúp đỡ Huệ Năng trong
việc chăm sóc mẹ già. Huệ Năng nghe xong rất cảm động, bèn trở về nhà
hỏi ý mẹ. Xếp đặt công việc săn sóc cho mẹ xong, Huệ Năng bèn từ giã mẹ
già lên đường cầu đạo.
Nhân vì tấm lòng tha thiết cầu đạo, Huệ Năng đã không quản đường xá xa
xôi, tất tả trèo non lội suối, do đó chỉ trong vòng ba mươi ngày, ngài
đã đến chùa Ðông Thiền ở huyện Hoàng Mai. Khi Huệ Năng tìm vào chùa, vị
sư tri khách bèn dẫn ngài vào phương trượng ra mắt Ngũ tổ. Vừa thấy Huệ
Năng, Tổ bèn vặn hỏi:
- Chú em là người xứ nào, đến đây làm gì?
Huệ Năng cung kính trả lời:
- Dạ thưa, con là người xứ Lĩnh Nam, đất Tân Châu. Con đến đây chỉ muốn
học làm Phật, mà không có mục đích nào khác.
- Té ra chú em là dân man di ở vùng tây nam, sống như bọn mọi rợ, làm
sao mà có thể giác ngộ thành Phật được?
Huệ Năng nghe xong liền thẳng thắn trả lời:
- Thưa Tổ! Người tuy có Nam, Bắc khác nhau, thế nhưng ai ai cũng có thể
thành Phật. Phật tính nào có Nam, Bắc? Những kẻ hình dáng mọi rợ, tuy có
khác với dung mạo tôn nghiêm của Ngài, thế nhưng Phật tính của họ, so
với Ngài đâu có gì khác!
Thực là sự đối đáp bén nhọn, hợp lý hợp tình. Ngũ tổ trong tâm cảm thấy
yêu thích, biết rằng Huệ Năng là kẻ có căn cơ lanh lợi. Tổ muốn kéo dài
câu chuyện, song thấy chung quanh có nhiều người, sợ họ nghe Huệ Năng
đối đáp nhanh nhẩu lại sinh tâm đố kỵ, liền bảo Huệ Năng không nên nói
nhiều, kế đó kêu người dẫn Huệ Năng ra sau chùa làm công tác. Huệ Năng
bèn thưa với Tổ:
- Tâm tính con vốn sáng suốt, thường sinh trí tuệ, biết rõ tất cả các
pháp tức là tự tính của tâm. Do tâm tính nầy mà thành tựu tất cả phúc
điền. Không biết Tổ muốn con làm công việc gì?
Ngũ tổ tấm tắc khen ngợi:
- Chà, chú nhỏ nầy tâm tính lanh lợi dữ à!
Thế nhưng, Tổ lại lo sợ sẽ có nhiều người sinh lòng ganh ghét, bèn bảo
Huệ Năng:
- Không cần nói thêm gì nữa. Ði xuống phòng giã gạo làm việc!
Huệ Năng bèn theo người ra sau chùa. Có một hành giả[ii][2]
giao phó cho Huệ Năng công việc bửa củi, và đạp cối giã gạo. Như vậy,
thời gian thắm thoát cũng gần tám tháng.
Một hôm, Tổ ra sau chùa, thấy Huệ năng bèn nói:
- Ta thấy con là người trí tuệ, có cái nhìn khác thường không giống mọi
người. Trong tương lai con có thể thành tựu. Song ta sợ có người sinh
tâm ghen ghét tìm cách hại con, vì thế ta đã không nói chuyện với con
nhiều. Con có hiểu như thế không?
Huệ Năng nói:
- Dạ thưa, con hiểu ý Tổ, vì thế con cũng không dám tùy tiện ra trước
Pháp đường, tránh không cho kẻ khác sinh tâm nghi ngờ, bàn chuyện thị
phi.
Tổ nói:
- Nếu vậy thì tốt. Mai mốt con sẽ có nhiều cơ hội đến nghe ta thuyết
pháp. Hiện giờ con nên nhẫn nại một chút, không nên nghĩ nhiều. Có thể
chỉ cần một đoạn thời gian ngắn nữa cơ duyên sẽ chín muồi.
- Dạ thưa, con biết!
Ngũ tổ bèn trở về phòng của ngài. Từ đó Huệ năng càng trở nên trầm mặc
ít nói, chuyên tâm vào công việc đạp cối giã gạo của mình.
Ít lâu sau, Ngũ tổ biết rằng cơ duyên đã đến, bèn tập hợp mọi người
trong chùa lại. Ngài nói:
- Trên đời nầy, không có vấn đề nào quan trọng hơn là vấn đề sinh tử.
Không luận là giàu nghèo, sang hèn, đẹp xấu, không kẻ nào có thể tránh
khỏi vấn đề nầy. Nghiệp báo là do tự mình gây tạo, tự mình nhận chịu, mà
không ai có thể thay thế cho mình được. Giả sử thân người nầy mất đi,
thì có thể trong trăm ngàn kiếp bị đọa vào ba đường ác. Mấy ông cả ngày
chỉ biết tham cầu quả báo hữu lậu[iii][3]
trời người mà không biết siêng năng tu tập trí tuệ, hầu có thể thoát
khỏi biển khổ sinh tử. Các ông nên biết rằng, một khi hưởng hết phúc báo
trời người, sẽ vẫn có thể bị đọa vào đường ác. Nếu mê mờ tự tính, thì dù
phúc báo có lớn đến bao nhiêu cũng không cứu mấy ông được. Bây giờ các
ông trở về phòng, hồi tâm tự quán xét chính mình, khéo dùng trí tuệ sẵn
có của các ông, mỗi người làm một bài kệ trình cho ta xem. Nếu như có
người nào thực sự thấu triệt Phật pháp, ta sẽ đem y bát truyền từ Phật,
tổ đến nay, trao truyền cho người đó làm tổ đời thứ sáu của Thiền tông.
Bây giờ các ông nên lập tức trở về phòng mình làm kệ, không được trễ
nải. Nếu còn nghĩ ngợi lâu lắc, chắc chắn không thể nào tức khắc thấy
được[iv][4]
bản tính của mình. Người như thế, không thể nào gọi là kẻ thấu triệt bản
tính!
Sau khi nghe Ngũ Tổ dặn dò, mọi người trở về hậu liêu[v][5],
bèn chạy đi báo cho người khác biết, bàn luận rầm rỉ:
- Chúng ta chẳng nên làm kệ làm gì cho tốn công nhọc sức. Giả sử có nặn
hết đầu óc ra làm kệ cũng chẳng ích gì! Thầy giáo thọ[vi][6]
của chúng ta là Thượng tọa Thần Tú, hiện giờ trong chùa không ai bằng
Ngài. Nếu y bát không truyền cho Thượng tọa thì sẽ truyền cho ai bây
giờ? Chúng ta nên biết thân phận của mình. Dù có mạo muội làm kệ, chẳng
qua cũng chỉ làm trò cười cho thiên hạ. Chi bằng tiết kiệm sức mình, bỏ
qua đừng nghĩ đến chuyện đó nữa!
Mọi người nghe qua lời nầy đều gật đầu tán thành, tất cả đều bỏ ý định
làm kệ trình lên cho Tổ, kế đó cùng nhau phụ họa:
- Chúng ta cùng nhau nhất tâm nhất ý theo học với Thượng tọa Thần Tú,
cần gì phải tranh nhau làm kệ cho khổ!
Thượng tọa Thần Tú vốn người họ Lý, gốc ở vùng Lạc Dương. Từ nhỏ đã đọc
hết kinh sách của Nho, Lão, ..., và nỗi tiếng là một bậc học vấn uyên
bác. Ðến khoảng năm mươi tuổi, ông bèn phát tâm xuất gia. Sau khi đến
yết kiến Ngũ tổ Hoằng Nhẫn, Thần Tú chính thức đảnh lễ xin xuất gia làm
đệ tử của ngài. Hiện nay ông ta đã được năm mươi sáu tuổi. Tại chùa Ðông
Thiền, ngoài Tổ Hoằng Nhẫn ra, Thần Tú là người có địa vị cao nhất. Thần
Tú thân cao tám thước[vii][7],
lông mày như mày rồng, cặp mắt rất đẹp, uy nghi siêu phàm, phẩm cách,
học vấn cùng đạo hạnh đều thuộc hạng ưu tú. Hơn nữa, Thần Tú lại đem
tinh thần tha thiết cầu đạo, cần cù khổ nhọc phụng sự cho chùa, do đó
rất được Ngũ tổ kính mến. Ngũ tổ đã từng khen ngợi Thần Tú trước mặt mọi
người:
- Phật pháp trong chùa Ðông Sơn nầy hoàn toàn nằm trong tay Thần Tú.
Thế nhưng, biến cố làm kệ nầy đem đến cho Thần Tú một cảm tưởng là đang
bị áp lực nặng nề. Thần Tú biết rõ là mọi người chỉ hùa nhau làm ồn ào,
thực sự ra không ai muốn làm kệ. Thần Tú nghĩ thầm:
- Mọi người đều không muốn làm kệ trình cho Tổ là vì mình là thầy giáo
thọ của họ. Họ nghĩ rằng mình phải làm kệ trình Tổ là một điều đương
nhiên, do đó họ nhân cơ hội nầy nhường cho mình. Làm sao cho hợp tình
hợp lý đây? Nếu không làm kệ, chắc chắn Tổ không thể nào biết được kiến
giải của mình sâu cạn thế nào, vả lại mình cũng chẳng thể nào được Tổ ấn
chứng.[viii][8]
Nhưng nếu làm kệ, lại sợ người khác hiểu lầm dụng ý của mình, cho là
tham ngôi vị tổ sư mà làm kệ. Nếu vậy, chẳng khác nào một kẻ phàm phu
tục tử lại mong tranh giành ngôi vị tổ sư?
Thần Tú suy đi nghĩ lại, lo tới lo lui, đến nỗi cơm nước không ăn, ban
đêm lại trằn trọc không ngủ được. Qua ít lâu, sau những cơn giằn vật tâm
hồn, Thần Tú cuối cùng cũng làm xong một bài kệ. Thần Tú phân vân năm
lần bảy lượt, muốn đem kệ trình cho Tổ xem, nhưng mỗi khi đến trước
phòng của Tổ, lại có cảm giác hoảng hốt, tâm trạng bàng hoàng, mồ hôi
chảy ra như tắm. Thần Tú thầm nghĩ:
- Nếu Tổ thấy bài kệ, giả sử Ngài không hài lòng thì mình phải làm sao?
Cứ như thế cả bốn ngày, Thần Tú đến phòng của Tổ lại quay trở lại, trước
sau tổng cộng mười ba lần, mà cũng không dám trình kệ cho Tổ xem, trong
tâm càng lúc càng bối rối.
Thần Tú suy đi nghĩ lại, rốt cuộc cũng tìm ra được một biện pháp tốt
đẹp. Thần Tú nghĩ:
- Tốt nhất mình đem bài kệ nầy viết lên bức tường của hành lang. Ðợi đến
ngày mai, nếu Tổ đi qua chỗ đó, thế nào Ngài cũng thấy. Nếu Tổ khen bài
kệ là hay, mình sẽ trình diện cho Tổ biết là mình viết. Còn nếu Ngài chê
là dở, thì có lẽ mình nên âm thầm xuống núi là vừa! Chỉ nên tự trách
mình tu học chưa đến nơi đến chốn, uổng phí công lao ở trong núi nầy mấy
năm nay, thọ nhận sự cung kính lễ lạy của người khác. Như vậy cũng không
bị mất mặt.
Suy nghĩ như vậy xong, buổi tối hôm đó vào canh ba, Thần Tú nhân mọi
người đang ngủ say, bèn vội vàng xách đèn đến bức tường phía nam hành
lang, hấp tấp viết bài kệ của mình lên tường:
Thân như Bồ đề thọ,
Tâm như minh kính đài,
Thời thời thường phất thức,
Vật sử nhạ trần ai.
Việt dịch:
Thân như cây Bồ đề
Tâm như đài gương sáng
Thường thường siêng lau quét
Ðừng để dính bụi trần!
Viết xong, Thần Tú liền len lén trở về phòng không để ai hay biết. Thần
Tú sau khi quay về phòng lại tiếp tục ngẫm nghĩ:
- Sáng mai Tổ xem xong, nếu Ngài vui lòng, thì mình là kẻ có duyên với
Pháp. Còn nếu Tổ không hài lòng, thì chỉ nên trách mình phiền não nghiệp
chướng quá nặng, chưa thể khai ngộ, không đạt được ý nghĩa chân thực của
Phật pháp, âu cũng là đáng kiếp! Mà thôi, cảnh giới của các bậc thánh
chẳng phải là chỗ phàm phu có thể suy lường được.
Cứ vậy cả đêm, Thần Tú tâm hồn ray rức, nằm xuống cũng không yên, tới
lui cũng không yên, chẳng hề chợp mắt cho đến khi trời sáng.
Sự thực, Ngũ tổ từ lâu đã biết là Thần Tú vẫn chưa vào đạo, không thể
minh tâm kiến tính.
Sáng hôm sau, khi sai người đi mời cư sĩ Lô Trân đến vẽ hai bức họa Lăng
Già Kinh Biến Tướng và Ngũ Tổ Huyết Mạch Ðồ, Tổ cùng Lô Trân đi đến bức
tường của hành lang thì ngài phát giác là đã có người viết chữ trên đó.
Tổ đến gần nhìn kỹ, té ra là một bài kệ, lúc đó trong tâm ngài đã biết
rõ việc gì đang xảy ra. Tổ liền quay lại nói với Lô Trân:
- Kinh Kim Cương có nói: "Hễ có hình tướng đều là hư vọng". Hiện giờ
trên tường đã có người viết sẵn bài kệ rồi. Như vậy hai bức họa Lăng Già
Kinh Biến Tướng và Ngũ Tổ Huyết Mạch Ðồ cũng không còn cần phải vẽ nữa.
Nên giữ lại bài kệ nầy cho mọi người cùng đọc tụng, tu hành. Nếu quả
thực có người theo đây mà tu, ít ra họ cũng không bị đọa vào đường ác,
hơn nữa lại được lợi ích vô cùng.
Nhân đó, Tổ bèn tụ tập tất cả mọi người trong chùa đến trước bức tường
có viết bài kệ, bảo họ đốt hương cung kính lễ bái, cùng nhau tụng niệm
bài kệ đó. Mọi người đều vâng lời, tiếng tụng niệm lan khắp trong chùa,
ê a không dứt. Ngũ tổ lại dặn dò mọi người:
- Các ông cần phải siêng năng đọc tụng bài kệ nầy, từ từ sẽ có thể minh
tâm kiến tính.[ix][9]
Nghe xong mọi người càng chuyên tâm nhất ý trong việc đọc tụng. Trên bàn
thờ đặt trước bài kệ, cả ngày khói hương nghi ngút. Hơn nữa, số người tò
mò đến xem càng lúc càng đông. Mọi người đều khen ngợi bài kệ là tuyệt
diệu. Ngũ tổ quay về phòng mình, trong bụng nghĩ thầm:
- Bài kệ nầy nhất định là do Thần Tú viết. Rất tiếc là công phu chưa
đến!
Nhân đó, nửa đêm Tổ bèn sai người đi kêu Thần Tú đến phòng mình. Tổ hỏi:
- Bài kệ trên tường là do ông viết phải không?
Thần Tú đáp:
- Dạ chính con viết bài kệ đó. Thế nhưng con không dám mơ ước đến việc
thừa kế y bát. Chỉ cầu xin Tổ mở lòng từ bi, xem con có thấy được ý
nghĩa Phật pháp hay chưa?
Tổ nói:
- Ông làm bài kệ nầy, có thể nói là đã đến ngạch cửa, song vẫn chưa thấu
được chân như bản tính. Giống như người đang mò mẫm trên mặt cửa, nhưng
vẫn chưa tìm được chìa khóa để mở cửa vào nhà. Kiến giải như vậy mà muốn
cầu Vô thượng Bồ đề, e rằng chưa đủ trình độ. Người muốn được Vô thượng
Bồ đề phải là kẻ khi nghe một lời, trong khoảnh khắc phải thấy rõ được
bản tâm của mình, nhìn rõ tự tính không sinh không diệt của chính mình.
Trong tất cả mọi lúc, niệm niệm đều phải thấy rõ tự tính, hiểu rõ rằng
tự tính của các pháp vốn không chướng ngại, cũng không biến đổi, nghĩa
là các pháp không rời chân như, như như bất động, không sinh không diệt.
Cái tâm như như nầy, tức là sự rời bỏ hai sự chấp trước: chấp ngã và
chấp pháp. Nếu thấy được như vậy tức là thấy được Vô thượng Bồ đề. Bây
giờ ông hãy trở về phòng, ta cho ông hai ngày để suy ngẫm, làm thêm một
bài kệ đem lại cho ta xem. Nếu như kệ của ông thấy rõ được bản tính, ta
sẽ đem y bát trao truyền cho ông.
Thần tú lạy Tổ xong, bèn quay trở về phòng. Trải qua nhiều ngày, tâm
trạng lúc nào cũng như người hoảng hốt. Chỉ thấy ông ta ngày thì ngồi
lên ngồi xuống, đêm thì trăn qua trở lại. Thế thì làm sao làm được kệ gì
mới?!
Hai ngày sau khi bài kệ được viết trên tường, có một sa di đi ngang qua
phòng giã gạo, vừa đi vừa lớn tiếng ngâm nga bài kệ. Huệ Năng nghe xong,
biết rằng kẻ làm bài kệ nầy chưa thấy được bản tính, do đó mới bước tới
hỏi:
- Dạ thưa, xin phép được hỏi chú, ai là người làm ra bài kệ nầy?
Sa di ngạc nhiên:
- Hả! Chùa mình xảy ra một sự kiện lớn lao như thế mà chú không biết?
Bài kệ nầy là do Thượng tọa Thần Tú, một bậc đạo cao đức trọng trong
chùa làm ra. Mấy ngày trước, Tổ cho mọi người biết rằng không bao lâu
nữa Ngài sẽ viên tịch, do đó Ngài nghĩ đến việc tìm người để trao truyền
y bát làm Tổ thứ sáu. Tổ bảo mọi người làm kệ trình lên cho Ngài xem,
nếu Ngài nhận thấy người nào đã ngộ được Phật pháp, Ngài sẽ đem y bát
truyền cho người đó. Tổ đã xem qua bài kệ của Thượng tọa Thần Tú và Ngài
tỏ vẻ rất hài lòng. Do đó Ngài bảo mọi người nên đọc tụng, lại nói rằng
nếu y theo đó mà tu hành sẽ khỏi bị đọa ba đường ác và được vô lượng lợi
ích.
Huệ Năng nghe xong liền nói với chú sa di:
- Dạ thưa chú, Huệ Năng ở chỗ nầy làm việc giã gạo cũng đã hơn tám
tháng, thế nhưng đến nay vẫn chưa biết Pháp đường ở đâu. Xin chú làm ơn
dẫn đường, cho Huệ Năng có dịp đến đó xem bài kệ, không biết chú có đồng
ý không. Huệ Năng hy vọng cũng giống như các vị trong chùa nầy, được đọc
tụng bài kệ, hầu kết chút duyên lành với Phật pháp trong đời sau.
Chú sa di nghe xong liền dẫn Huệ Năng đến trước bài kệ. Huệ Năng thành
thực nói với chú sa di:
- Huệ Năng vốn thất học, không hiểu mặt chữ, xin phiền chú đọc bài kệ
cho Huệ Năng nghe.
Lúc đó có một vị quan biệt giá[x][10]
vùng Giang Châu, tên là Trương Nhật Dụng, đứng bên cạnh, nghe Huệ Năng
nói xong, bèn lớn tiếng đọc bài kệ. Huệ Năng nghe xong liền nói với Nhật
Dụng:
- Tôi cũng có một bài kệ, xin quan lớn vui lòng viết dùm lên tường.
Trương Nhật Dụng tỏ vẻ không tin, có thái độ gần như khinh thị:
- Hả! Chú cũng biết làm kệ? Ðây quả thực là một điều kỳ lạ!
Huệ Năng vẫn điềm nhiên như không có gì, nhã nhặn nói với ông ta:
- Nếu muốn được Vô thượng Bồ đề, điều trước nhất là không nên coi thường
kẻ mới vào đạo. Trên đời nầy không có gì là tuyệt đối cả. Người giai cấp
hạ tiện vẫn có thể có trí tuệ cao siêu, còn kẻ giai cấp cao quí vẫn có
thể là kẻ không có trí tuệ. Nếu tùy tiện coi thường kẻ khác, e rằng sẽ
gặt vô lượng tội báo trong đời sau!
Trương Nhật Dụng nghe xong liền đổi thái độ, không còn dám tỏ vẻ khinh
mạn, vội vàng nói với Huệ Năng:
- Chú cứ nói hết ra, tôi sẽ viết dùm cho. Trong tương lai nếu chú khai
ngộ, xin chú đừng quên độ cho tôi.
Huệ Năng liền đọc kệ:
Bồ đề bổn vô thọ,
Minh kính diệc phi đài,
Bổn lai vô nhất vật,
Hà xứ nhạ trần ai.
Việt dịch:
Bồ đề vốn không cây
Gương sáng chẳng phải đài
Xưa nay không một vật
Chỗ nào dính trần ai!
Trương Nhật Dụng viết xong, vừa nhìn kỹ lại, trong lòng cảm thấy rất là
khâm phục. Những người đứng chung quanh đó tự nhiên cũng cảm thấy vô
cùng kinh ngạc, không ai mà không trầm trồ khen ngợi cho là kỳ đặc. Tin
tức nầy lan truyền nhanh chóng. Mọi người kề đầu rỉ tai, nói với nhau:
- Chà, hay quá sức tưởng tượng. Chẳng ngờ trong chùa Ðông Sơn lại có
thánh nhân ẩn nấp!
- Thật là không thể xem mặt mà bắt hình dung. Làm sao mới vừa không gặp
mặt chỉ trong vài ngày mà hắn đã trở thành Nhục thân Bồ tát!
- Ngôi tổ đời thứ sáu không chừng sẽ thuộc về hắn!
- Thực là xui xẻo, Thượng tọa Thần Tú đã gặp đối thủ cao cường rồi!
Như thế, bài kệ của Huệ Năng được loan truyền nhanh chóng, chẳng bao lâu
đã đến tai Ngũ tổ. Tổ nghe mọi người xôn xao bàn tán bèn đi ra ngoài đến
chỗ bài kệ xem việc gì xảy ra. Ðến nơi, Tổ ngước xem bài kệ vừa mới được
viết lên tường, bỗng nhiên ngài cảm thấy trong lòng khơi dậy một chút
xao động. Ðầu tiên là một niềm vui, kế đến lại là một nỗi lo âu. Tổ vui
là vì biết rằng Huệ năng là một kẻ phi phàm, hơn nữa, khi Tổ gặp mặt Huệ
Năng lần đầu tiên tám tháng về trước, ngài đã biết rằng Huệ Năng là một
kẻ đã khai ngộ, và Tổ cuối cùng đã tìm ra một người để truyền trao y
bát. Song, kế đó Tổ lại cảm thấy lo lắng, bài kệ của Huệ Năng rõ ràng là
một sự trái ngược với bài kệ của Thần Tú, thế nhưng Huệ Năng không thể
nào so sánh được với Thần Tú. Tất cả mọi người trong chùa đều công nhận
Thần Tú sẽ là kẻ được truyền y bát làm Tổ thứ sáu, còn Huệ Năng là một
người không có một chút quyền thế nào hết, chỉ ở địa vị ti tiện của một
kẻ giã gạo trong chùa. Giả sử có người ghen ghét muốn hại Huệ Năng, điều
nầy sẽ dễ dàng như trở bàn tay. Nếu như Tổ đem y bát truyền cho Huệ
Năng, chắc chắn sẽ đưa đến nhiều sự tranh chấp trong chùa.
Tổ vừa nghĩ đến điều nầy, như được dẫn dắt bởi linh tính, nên không một
chút do dự, liền cởi một chiếc giầy đang mang, nói với mọi người chung
quanh:
- Có gì mà mọi người phải rầm rỉ như thế! Bài kệ nầy rất tầm thường,
cũng chưa thấy được tự tính, không đáng cho mọi người phải xôn xao như
thế. Mọi người nên quay về phòng mình, y vào bài kệ của Thần Tú mà tu
tập!
Tổ vừa nói vừa lấy gót giầy xóa bài kệ của Huệ Năng. Mọi người nghe Tổ
nói như thế, ai cũng cho rằng bài kệ đó cũng chẳng có gì đáng quan tâm,
cho nên tất cả đều im lặng quay về phòng mình, mà không còn bàn tán xôn
xao nữa. Sau khi Tổ quay về phòng, ngẫm nghĩ đến bài kệ của Huệ Năng,
Ngài bỗng cảm thấy rất vui vẻ trong lòng. Tổ nhớ là Huệ Năng đến chùa
mới được tám tháng, hai người gặp nhau chỉ hai ba lần, thế nhưng, từ
dáng dấp và thái độ, Huệ Năng đã biểu lộ một trình độ tâm linh rất cao
xa. Hơn nữa, sự lý giải về thiền định và Phật pháp của Huệ Năng làm cho
Tổ cũng cảm thấy kinh ngạc. Nhân đó, Tổ quyết định đem y bát truyền giao
cho Huệ Năng.
Hôm sau, vì không muốn cho mọi biết nên Tổ bèn âm thầm đi đến phòng giã
gạo, thấy Huệ Năng đang bận giã gạo, trên eo buộc đầy những viên đá
nặng.[xi][11]
Ngài bèn lên tiếng an ủi:
- Người tìm cầu đạo pháp, vì Phật pháp mà không màng đến sự gian khổ,
giống như vầy chăng!
Huệ Năng nghe tiếng người bèn ngẩng đầu lên nhìn, vừa thấy Tổ, Huệ Năng
vội vàng vái chào. Tổ thấy trong cối có gạo bèn hỏi Huệ Năng một cách ẩn
ý:
- Gạo giã sạch chưa?
Huệ Năng đáp:
- Dạ, gạo đã sạch từ lâu, nhưng vẫn chưa có người sàng.
Tổ vừa nghe xong liền hiểu ý Huệ Năng muốn nói là mình đã khai ngộ, chỉ
còn chờ một bậc thầy giỏi đến chỉ điểm mà thôi. Tổ thấy Huệ Năng đối đáp
trôi chảy, hơn nữa ngài hiểu rõ nguyện vọng đang tha thiết tìm cầu một
bậc minh sư[xii][12]
của Huệ Năng. Tổ chẳng nói thêm lời nào nữa, liền đi đến bên cạnh cối
giã gạo, lấy tích trượng gõ lên đó ba tiếng, kế đó quay trở về phòng.
Khoảng canh ba, Huệ Năng thức dậy, lần mò trong bóng đêm tìm đến phòng
của Tổ. Huệ Năng thấy vẫn còn ánh đèn sáng trong phòng, hình như Tổ đang
đợi mình đến. Huệ Năng bước vào, chắp tay cúi lạy xong, bèn thưa với Tổ:
- Dạ thưa, Tổ gọi con đến lúc nửa đêm, không biết Ngài muốn chỉ bảo việc
gì?
Tổ không trả lời, bèn dẫn Huệ Năng vào phòng trong. Sau khi khóa cửa cẩn
thận, Tổ vẫn còn sợ người khác trông thấy, bèn đem cà sa che ngang cửa
sổ. Sau khi hai người ngồi yên, Tổ bèn nói với Huệ Năng:
- Ta biết căn tính của con không phải người tầm thường, song người trong
chùa có nhiều thành phần phức tạp, ta sợ có người hại con nên mới sai
con xuống làm ở phòng giã gạo.
Huệ Năng thưa với Tổ:
- Dạ thưa con hiểu điều nầy. Con rất cảm ơn Tổ đã tưởng nghĩ đến con, do
đó mỗi ngày con đều tận tâm làm việc, không dám để người khác chú ý.
Tổ nói tiếp:
- Hình như con đã đọc qua kinh Kim Cương?
Huệ Năng lắc đầu:
- Dạ chưa! Con sinh ra trong gia đình nghèo khổ, không có cơ hội đi học.
- Như vậy, bài kệ con viết đó ...!?
Huệ năng hiểu ý Tổ định nói, liền tiếp lời:
- Dạ đúng, bài kệ đó là do con làm ra, nhưng con nhờ người khác viết
dùm. Mấy tháng trước, con có nghe người khác tụng kinh Kim Cương, lúc đó
tâm hồn con tràn đầy một sự cảm động không thể tưởng tượng được. Do đó
con mới quyết tâm tìm đến đây, hầu mong được nghe Tổ giảng kinh.
Tổ nghe xong, gật đầu khen ngợi:
- Giỏi lắm! Con quả thực là thông minh lanh lợi, lại có tâm tha thiết
cầu pháp. Nếu vậy, con nên lắng nghe, ta sẽ giảng kinh Kim Cương cho con
nghe.
Nói xong, Tổ bèn đem kinh Kim Cương giải thích cho Huệ Năng. Ðang khi Tổ
giảng đến câu "Ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm", ngay lúc đó Huệ Năng hốt
nhiên đại ngộ, thấy rõ được ý nghĩa chân thực là tất cả mọi vật đều
không rời tự tính. Do đây, Huệ Năng liền thưa với Tổ:
- Chẳng ngờ tự tính xưa nay không sinh không diệt, không dơ không sạch,
không thêm không bớt. Không ngờ tự tính xưa nay vốn không biến động, mà
lại có thể sinh ra tất cả các pháp, hoàn toàn không chướng ngại.
Ðến đây, Tổ quyết chắc là Huệ Năng đã triệt ngộ bản tính, bèn nói:
- Ðúng vậy, nếu không hiểu rõ tự tâm là chân Phật, không hiểu rõ tự tính
là chân Pháp, mà lại cho rằng có Phật ở ngoài tâm, có Pháp ở ngoài tính,
nếu đem sự hiểu lầm về tâm tính nầy mà đi học Phật pháp, hoàn toàn không
có lợi ích gì hết. Chỉ có kẻ nào nhận thức bản tâm mình, thấy rõ bản
tính mình, mới đáng gọi là bậc đại trượng phu, mới có thể làm bậc thầy
của trời người. Ðây cũng chính là Phật!
Nói xong, Tổ bèn đem y bát ra, trịnh trọng nâng lên trên hai tay của
mình, nói với Huệ năng:
- Ðức Thế Tôn trước khi nhập Niết Bàn đã đem Chính pháp giao phó cho Tôn
giả Ca Diếp, Ca Diếp giao phó cho A Nan, A Nan lại giao phó cho Thương
Na Hòa Tu, cứ như thế chuyển đến tay ta. Hôm nay ta quyết định giao phó
cho con, hy vọng là con sẽ khéo léo giữ gìn, lo việc hoằng dương Phật
pháp, cứu độ chúng sinh, đừng cho đoạn tuyệt.
Huệ Năng ngẩng đầu lên nhìn Tổ, lòng bàng hoàng cảm động, không biết
phải nói điều gì, chỉ vỏn vẹn kêu lên vài tiếng:
- Thưa Tổ, con ...
Tổ đưa cặp mắt sáng rực nhìn Huệ Năng một cách chăm chú, kế đó ngài đọc
bài kệ:
Hữu tình lai hạ chủng,
Nhân địa quả hoàn sinh,
Vô tình diệc vô chủng,
Vô tính diệc vô sinh.
Việt dịch:
Trong ruộng chúng sinh gieo giống Phật
Nhân duyên chín muồi sinh quả Phật
Vô tình không có hạt giống Phật
Không có tính Phật không sinh Phật.
[xiii][13]
Chỉ thấy Huệ Năng gật đầu, đưa hai tay lên nâng y bát. Tổ nói tiếp:
- Bắt đầu từ hôm nay, con chính thức là Tổ thứ sáu của Thiền tông Ðông
độ,[xiv][14]
con có trách nhiệm phải khéo léo hộ trì Phật pháp, làm cho Pháp nầy đời
đời truyền nối, không được để cho đoạn tuyệt!
- Dạ thưa Tổ, con xin ghi lòng tạc dạ, không dám quên lời.
Nhân vì sự truyền pháp diễn ra lúc giữa đêm, cho nên cả chùa không ai
hay biết. Truyền pháp xong, Tổ lại nói tiếp:
- Ngày xưa, khi Tổ sư Ðạt Ma vừa đến Trung quốc, vì sợ người khác không
tin vào Pháp cùng sự thừa kế, do đó mới truyền y bát của Phật để làm
chứng minh cho sự truyền thừa của Phật, tổ. Sự thực, chân lý không có
hình tướng, không thể truyền cho nhau được. Các vị tổ sư, chẳng qua là
dùng những phương tiện khéo léo đem tâm truyền tâm. Vật được truyền thọ
chỉ là cái tự tính lý thể của mình. Ðiều bí mật mà các ngài giao phó
cũng chỉ là vật mà xưa nay mọi người sẵn có, tức là kho tàng tự tính của
chúng ta, chứ không phải y bát, là những vật hình thức bên ngoài. Thế
nhưng, những kẻ phàm tục không thể thấy được cái kho tàng tự tính nầy,
mà chỉ bo bo chấp vào hình tướng, do đó y bát nầy có thể trở thành sự
tranh chấp. Từ con về sau, y bát nầy không cần phải truyền cho đời sau
nữa. Nếu mà còn tiếp tục truyền xuống, e rằng ngay cả tính mệnh của con
cũng không được bảo đảm. Bây giờ con phải cấp tốc rời khỏi chổ nầy, để
khỏi mang họa vào thân!
Huệ Năng phân vân:
- Dạ thưa, con phải đi về đâu bây giờ?
Tổ nói:
- Con có thể chèo thuyền rời khỏi chỗ nầy, đi về phương nam. Nếu đến
vùng mà tên có chữ Hoài, thì có thể dừng bước, còn nếu đến vùng mà tên
có chữ Hội, thì phải nên ẩn dật.
Huệ Năng trả lời:
- Dạ thưa, con nhớ.
Huệ Năng lạy Tổ xong, bèn chuẩn bị quay trở về phòng. Tổ hỏi:
- Khoan đã, con định đi đâu vậy?
- Dạ thưa, con trở về phòng, đợi sáng mai lên đường.
- Không được! Nếu đợi sáng mai làm sao mà còn đi được? Con phải đi ngay
bây giờ!
- Ði bây giờ? Thế nhưng con không rành đường. Sợ trong đêm tối sẽ bị lạc
trong rừng núi!
Tổ nói:
- Chớ lo, ta sẽ đưa con đi một đoạn.
Nói xong, hai thầy trò trong đêm vắng vội vả xuống núi, đi một mạch về
hướng bờ sông. Ðến nơi cả hai cùng leo lên một chiếc thuyền nhỏ không
chủ, Tổ bèn cầm chèo định đưa Huệ Năng qua sông. Huệ năng thấy vậy hớt
hãi nắm lấy mái chèo, vội vả thưa với Tổ:
- Dạ thưa Tổ ngồi nghỉ, để con chèo thuyền đưa Tổ qua sông.
Tổ mỉm cười nói với Huệ Năng:
- Ta là thầy, con là trò, đáng lẽ ta nên đưa con qua sông mới đúng.
Trong khoảnh khắc, Huệ Năng hiểu rõ ý Tổ, bèn trả lời:
- Dạ thưa Tổ, khi con còn mê muội đương nhiên là Tổ độ con, nhưng nay
con đã khai ngộ, con phải tự độ chính mình.
Nghe nói xong, Tổ cảm thấy rất là hài lòng, ngài liền xuống thuyền nói
với Huệ Năng:
- Nếu vậy ta đưa con đến đây, để con tự qua sông. Từ đây về sau, việc
hoằng dương Phật pháp hoàn toàn trông cậy vào con. Con đi rồi, ba năm
sau ta sẽ viên tịch. Bây giờ con phải đi nhanh về phương nam sống ẩn
dật, ít nhất cũng từ mười đến mười lăm năm, chớ nên hấp tấp đi giảng
kinh thuyết pháp. Ðợi nhân duyên chín muồi rồi đi ra hoằng dương Phật
pháp cũng không muộn. Ðiều nầy con nên nhớ rõ, đạo lớn của Thiền tông
không lớn mạnh một cách dễ dàng được.
Tổ đưa Huệ Năng xong liền trở về chùa, liên tiếp mấy ngày Tổ không lên
Pháp đường giảng kinh. Mọi người trong chùa đều hoang mang không hiểu
việc gì xảy ra, bèn cử người đại diện đến phòng Tổ thăm hỏi:
- Dạ thưa! Mấy hôm nay Tổ không lên Pháp đường giảng kinh, không hiểu Tổ
có bệnh hoạn gì không, hay là chúng con có làm điều gì mà Tổ không vừa
ý?
Tổ nói:
- Ta chẳng có bệnh hoạn gì cả, mà cũng chẳng buồn giận gì ai hết. Chỉ có
điều là y bát đã được truyền về phương nam rồi.
Nghe xong, mọi người đều hớt hãi, bèn thưa với Tổ:
- Dạ thưa, xin hỏi Tổ ai là người được truyền y bát.
Tổ nói:
- Kẻ có đủ khả năng được truyền y bát.[xv][15]
Tin tức vừa loan ra, mọi người đều kinh ngạc trước biến cố vĩ đại nầy.
Thượng tọa Thần Tú mới là kẻ đau khổ nhất, ông ta nghĩ thầm:
- Không ngờ mình lao khổ tu tập bao nhiêu năm như vậy, mà rốt cuộc cũng
không được Tổ chấp nhận.
Ôm nỗi khổ đau ray rức trong lòng, Thần Tú gom góp đồ đạc, từ biệt mọi
người xong, bèn lặng lẽ xuống núi.
Hai sự kiện Ngũ tổ truyền Pháp y và Thần Tú bỏ chùa, được nhanh chóng
truyền đi khắp nơi trong chùa, làm cho cả chùa nổi cơn sóng gió. Trong
chùa có một vị họ Trần, pháp danh Huệ Minh, là người cảm thấy bất mãn
cho sự thiệt thòi của Thần Tú nhiều nhất. Huệ Minh tỏ vẻ rất bất bình,
bèn tụ tập một nhóm người, chuẩn bị đi tìm đoạt y bát đem trở về chùa.
Thế nhưng, Tổ đã truyền y bát cho ai? Mọi người cùng nhau suy đoán, bèn
phát giác là tên "mọi" phương nam làm trong phòng giã gạo đã biệt vô tăm
tích từ lúc nào! Lúc đó mọi người bèn quyết đoán là Huệ Năng đã đem y
bát về phương nam.
Huệ Minh hầm hừ:
- Thực là đáng ghét, cái tên man di thất học đó lại dám ăn cắp y bát của
Thiền tông trốn đi biệt tích. Chắc là hắn muốn làm tổ sư đời thứ sáu?
Vậy mà lúc mới đến làm bộ như hiền từ, nói mình chỉ muốn học làm Phật,
ngoài ra không có ý đồ gì khác. Thử xem, ta sẽ đi tìm bắt hắn đem về!
Sau đó nhóm người do Huệ Minh cầm đầu ồ ạt xuống núi, tìm về phương nam,
đuổi bắt Huệ Năng.
Huệ Năng sau khi từ biệt Ngũ tổ, liền vội vả băng rừng lội suối đi về
phương nam ngày đêm không nghỉ, trong vòng hai tháng đã đến Ðại Dữu
Lĩnh. Ðây là vùng biên giới của Giang Tây và Quảng Ðông. Nếu vượt qua
rặng núi nầy là đến đất Lĩnh Nam, quê cũ của ngài. Do vì đường dài bôn
ba, lại thêm nhiều ngày không nghỉ, thân thể cảm thấy mệt mỏi, Huệ Năng
bèn tạm ngồi nghỉ ngơi trên tảng đá bên vệ đường. Chẳng ngờ, chưa được
bao lâu, bèn nghe có tiếng chân người dưới chân núi đang đuổi theo, ngài
cúi xuống nhìn kỹ té ra là Huệ Minh chứ chẳng phải ai khác. Huệ Minh vốn
là quan võ, cấp bậc tứ phẩm, xuất gia chưa được bao lâu, tính tình vẫn
còn rất thô bạo. Huệ Năng thấy ông ta hung hăng chạy lên, trong bụng bèn
nghĩ thầm:
- Phải làm thế nào bây giờ?
Ngài vội vàng quay nhìn bốn phía, chỉ thấy toàn là cỏ mọc rậm rì trên
những tảng đá hình thù cổ quái, đúng là chỗ ẩn nấp an toàn. Huệ Năng vội
vàng lao mình vào bụi rậm ẩn trốn, thế nhưng ngài lại không mang kịp y
bát theo, bọc hành trang vẫn còn nằm nguyên trên tảng đá.
Chẳng bao lâu, Huệ Minh chạy đến, tuy không thấy bóng Huệ Năng, song ông
ta biết là ngài đang ẩn nấp gần đó, bèn hả miệng định lên tiếng nhục mạ.
Thốt nhiên, nhìn thấy y bát còn để trên tảng đá bên vệ đường, Huệ Minh
mừng rỡ, vội vàng chạy đến chuẩn bị đoạt lấy đem về. Ô hay, lạ lùng
thật! Bọc y bát hình như mọc rễ xuống đất.
Huệ Minh gồng hết sức mình cũng không làm cho nó nhúc nhích được, giống
như nhấc lên tảng đá ngàn cân. Lúc đó, Huệ Minh trong lòng bắt đầu lo
lắng. Ông ta nghĩ thầm:
- Quả thực cái tên quái nầy được Ngũ tổ truyền y bát là đúng rồi. Nếu
không, làm gì mà hắn có pháp lực dữ dội như vậy!
Huệ Minh suy đi nghĩ lại, trong lòng càng lúc càng lo âu. Quay nhìn bốn
bề, chỉ nghe thấy tiếng rì rào của cơn gió lạnh thổi qua triền núi. Trên
mặt đất, những chiếc lá khô bị gió xoắn, lượn đi lượn lại, tạo thành
những âm thanh xào xạc. Lúc đó, Huệ Minh không biết phải làm sao, trong
lòng tràn ngập niềm lo sợ. Ông biết rằng y bát nầy không phải là người
nào cũng có thể giành được, do đó bèn lớn tiếng kêu Huệ Năng:
- Hành giả! Hành giả! Làm ơn đến đây, tôi biết lỗi mình rồi! Vả lại, tôi
cũng vì Pháp mà đến. Xin hành giả từ bi đến đây thuyết pháp!
Nghe Huệ Minh kêu la có vẻ thảm thiết như vậy, Huệ Năng bèn trong bụi
rậm từ từ bước ra. Ngài nói với Huệ Minh:
- Y bát chỉ là một vật để làm tin, tại sao thầy lại muốn dùng vũ lực để
tranh đoạt?
Huệ Minh tỏ vẻ ngượng nghịu:
- Dạ, dạ! Dạ mong hành giả từ bi nói Pháp cho Huệ Minh nghe.
Huệ Năng nói:
- Nếu như thầy thực tình vì pháp mà đến, như vậy trước tiên thầy phải xả
bỏ cái tâm tranh đoạt, buông bỏ tất cả vọng tưởng, trong tâm không một
niệm nào khác, tôi sẽ nói pháp cho thầy nghe.
Huệ Minh nghe xong bèn ngồi trầm lặng. Một lúc sau, Huệ Năng nói với ông
ta:
- Không nghĩ thiện! Không nghĩ ác! Cái gì là bổn lai diện mục của thầy?
Cái gì là chân thực tự tính của thầy? Nói mau! Nói mau!
Huệ Minh thốt nhiên có cảm giác như nghe một tiếng sét ngang trời. Ông
ta thấy rõ được chân như tự tính trong dáng dấp nguyên sơ của nó. Trong
khoảnh khắc đó, Huệ Minh đại ngộ! Cái không phân biệt thiện ác, há chẳng
phải là sự biểu hiện của Phật tính hay sao?
Huệ Minh trong lòng tràn ngập niềm cảm động, bèn nói với Huệ Năng:
- Dạ xin hỏi Ngài, ngoại trừ điều mà Ngài vừa nói đó, còn có điều bí mật
nào khác mà Ngài có thể dạy Huệ Minh hay không?
Huệ Năng nói:
- Những điều tôi vừa nói với thầy, đã rõ ràng như thế, chứng tỏ là tôi
không có dấu diếm điều gì hết. Nếu thầy có thể dùng trí tuệ Bát nhã soi
rõ tự tính, thầy sẽ khám phá ra là cái chân lý ẩn tàng trong đó, xưa nay
trong tâm mình vẫn đầy đủ. Cũng giống như đóa hoa sen mà trong đó có
chứa hạt minh châu.
Huệ Minh nghe xong, cảm thấy mừng rỡ như một kẻ bần cùng vừa lượm được
một viên ngọc quí. Ông ta cảm động đến rơi nước mắt, nói với Huệ Năng:
- Huệ Minh tuy ở nơi Tổ Hoàng Mai cầu pháp nhiều năm, mà cho đến nay vẫn
chưa thấy được Phật pháp, không biết bổn lai diện mục của mình. Hiện nay
nhờ ơn của Ngài nên ngộ được tự tính. Từ trước đến nay, Huệ Minh chưa
từng thấy được cái cảm giác khó hình dung như vậy, giống như người khát
uống nước, lạnh nóng tự mình biết. Từ hôm nay trở đi, Ngài là thầy của
Huệ Minh.
Nói xong Huệ Minh chấp tay định bái tạ Huệ Năng. Thấy thế, Huệ Năng liền
vội vàng đở ông ta dậy, ngài nói:
- Thầy và tôi là người đồng môn, việc gì mà phải chấp nhất ai là thầy ai
là trò. Chỉ cần chúng ta tuân theo lời dạy của Tổ mà tu hành là tốt rồi.
Huệ Minh lại hỏi:
- Hôm nay Huệ Minh đã ngộ được Phật pháp, không biết phải đi về đâu để
quảng độ chúng sinh?
- Thầy đi đến vùng nào mà tên có chữ Viên thì có thể tạm ngừng, đi đến
vùng nào mà tên có chữ Mông thì có thể ở lại.
Huệ Năng ngừng một lúc lại nói:
- Mà nầy! Thầy xuống núi không nên nói cho ai biết chuyện nầy, để khỏi
phiền hà mai sau, mà tự làm hại chính mình!
Huệ Minh từ biệt Huệ Năng xong bèn xuống núi. Xuống đến chân núi Huệ
Minh nói với những người trong nhóm vừa mới tìm đến:
- Tôi lên núi tìm cả buổi mà không thấy ai hết, chắc chắn không phải ở
chỗ nầy. Tốt hơn, chúng ta nên theo hướng khác mà tìm.
Sau khi Huệ Minh đi rồi, Huệ năng bèn tiếp tục hành trình về đến Tào
Khê.
Huệ Năng từ lúc trở về trú ẩn ở làng Tào Khê, đất Tiều Châu, sự kiện
ngài được Tổ Hoàng Mai truyền y bát, vẫn không ai hay biết. Có một vị
thư sinh tên là Lưu Chí Lược mới gặp Huệ Năng có một lần mà đã cảm thấy
thân thiết như người bạn lâu năm. Hai người bèn kết nghĩa làm anh em.
Chí Lược có một người cô xuất gia làm ni, pháp danh Vô Tận Tạng, thường
tụng kinh Ðại Niết Bàn. Vô Tận Tạng nghe cháu nói Huệ Năng là người tinh
thông Phật pháp, bèn cầm quyển kinh đến tìm Huệ Năng hỏi ý nghĩa. Huệ
Năng nói:
- Tôi không biết mặt chữ, xin cô cứ hỏi ý nghĩa trong kinh, tôi sẽ trả
lời.
Vô Tận Tạng có vẻ nghi ngờ:
- Mặt chữ còn không biết, làm sao hiểu được ý nghĩa của kinh?
Huệ Năng trả lời:
- Nghĩa lý nhiệm mầu của chư Phật đều có đủ trong tất cả các pháp. Tôi
tuy không biết chữ, cô cứ đem kinh ra đọc. Tôi nghe qua rồi, tôi sẽ đọc
được và sẽ hiểu được ý nghĩa của kinh.
Vô Tận Tạng nửa tin nửa ngờ, bèn đem quyển kinh ra lật từ trang đầu đến
trang cuối. Một lúc sau tìm được một đoạn mà chính cô ta cũng không hiểu
muốn nói gì, bèn đọc cho Huệ Năng nghe. Quả thực, Huệ Năng vừa nghe qua
liền có thể đọc lại không sai một chữ, mà lại còn giải thích tường tận ý
nghĩa của kinh cho cô ta nghe. Vô Tận Tạng nghe xong, cảm thấy vô cùng
kinh phục, không ngớt gật đầu khen ngợi:
- Thật đáng bội phục! Quả không hổ danh là học trò của Tổ Hoàng Mai!
Danh tiếng của Huệ Năng chẳng bao lâu truyền khắp trong làng. Mọi người
trong làng đều đến yết kiến ngài, trong đó có cháu nhiều đời của Tào
Tháo là Tào Thục Lương cũng tìm đến xin cầu Pháp. Thục Lương ra mắt Huệ
Năng xong, bèn ở lại cùng Huệ Năng đàm luận về những vấn đề nhân sinh vũ
trụ. Thục Lương lần lần đối với Huệ Năng sinh tâm cung kính, ngưỡng mộ,
do đó muốn tìm cơ hội báo đáp ân huệ của ngài. Cơ duyên đến thật là đúng
lúc! Phía trên làng Tào Khê có một ngôi chùa cổ, tên là Bảo Lâm, nhưng
vì chiến tranh tàn phá, đến nay đã trở thành hoang phế. Tào Thục Lương
bèn tụ hợp mọi người trong làng, gom góp tiền bạc vật dụng trùng tu lại
ngôi chùa, và mời Huệ Năng về đó trụ trì. Ở đây, Huệ Năng bắt đầu công
việc hoằng pháp của mình. Thời gian thắm thoát đã qua chín tháng. Thế
nhưng trên đời nầy, chẳng có hạnh phúc nào lâu dài cả. Nhóm người chùa
Ðông Thiền đi tìm đoạt y bát của Huệ Năng, dù trải qua ngàn dặm sơn khê,
rốt cuộc cũng đã tìm đến! Bọn họ dự mưu là đuổi Huệ Năng từ trước núi ra
đến sau núi, kế đó sẽ đốt rừng, bức bách Huệ Năng phải chạy ra mà túm
bắt. Nhưng bọn họ không ngờ rằng Huệ Năng núp vào trong khe đá, may mắn
thoát nạn.[xvi][16]
Nghe nói, hiện nay chỗ ấy có một tảng đá hình giống bồ đoàn, trên đó có
dấu vết Huệ Năng ngồi kiết già. In trên mặt đá là dấu vết của hai đầu
gối, cùng dấu vết của những nếp áo của ngài!
Sáng hôm sau, Huệ Năng từ khe đá chun ra, nhìn về phía chùa Bảo Lâm đã
bị thiêu rụi, ngài biết là không thể tiếp tục ở lại được nữa, bèn lần về
phương nam. Khoảng ba bốn ngày sau, bất giác Huệ Năng đã đến chỗ giáp
ranh của hai vùng Hoài Tập và Tứ Hội[xvii][17].
Ngài nhớ lại lời dặn dò của Tổ: "Gặp Hoài thì ngừng, gặp Hội thì ở". Do
đó, ngài bèn định cư tại nơi nầy.
Từ đó, Huệ Năng bèn sống lẫn trong đám thợ săn, giả trang làm nghề săn
bắn. Mỗi khi có cơ hội, Huệ Năng thường giảng cho bọn họ nghe về lòng từ
bi đối với muôn loài. Bọn thợ săn giao phó cho ngài công việc canh chừng
bẫy thú, thế nhưng mỗi khi thấy có thú rừng lọt vào trong bẫy, ngài lại
cảm thấy bất nhẫn bèn mở bẫy để cho chúng chạy thoát, do đó, ngài thường
bị bọn họ mắng nhiếc và xử phạt. Vì làm nghề săn bắn nên món ăn chính
của bọn họ thường là thịt thú rừng. Huệ Năng lúc mỗi bữa ăn, đều nhặt
rau rừng, măng tre, ..., bỏ vào trong một giỏ tre nhỏ, nhún trong nồi
thịt, nấu chín mà ăn. Nếu bọn họ có hỏi lý do, thì ngài trả lời:
- Mỗi ngày tôi chỉ làm những công tác nhàn hạ là trông chừng bẫy, chẳng
tốn bao nhiêu sức lực, bởi vậy chỉ cần ăn rau cải cũng đủ rồi.
Cứ như thế, thời gian như "bóng câu qua cửa sổ", thắm thoát mà đã gần
mười lăm năm. Một hôm, Huệ Năng nghĩ thầm:
- Ðã đến lúc phải ra hoằng pháp, không còn có thể ẩn núp lâu được nữa!
Nhân đó, Huệ Năng bèn từ giả bọn thợ săn, đi về hướng nam, đến thành phố
Quảng Châu. Ðầu tiên ngài đến chùa Trang Nghiêm; thấy cảnh chùa vắng vẻ,
trong chùa chỉ có vài vị tăng, Huệ Năng hỏi thăm lý do, thì biết là mọi
người trong chùa đã đến chùa Pháp Tính nghe pháp sư Ấn Tông giảng kinh
Ðại Bát Niết Bàn.
Nghe nói như thế, Huệ Năng bèn tìm đường đến chùa Pháp Tính. Ðến nơi,
thấy mọi người tụ hợp đông đảo trong Pháp đường, không có chỗ chen chân.
Huệ Năng len lỏi vào đám đông, khó khăn lắm mới tìm được một chỗ đứng
ngoài hành lang. Pháp sư Ấn Tông ngồi trên giảng tòa, đang giảng ý nghĩa
thâm sâu của kinh Niết Bàn. Ông nói:
- Mọi vật trên thế gian đều do nhân duyên hòa hợp mà sinh ra. Xin hỏi
các vị, như vậy là trước phải có nhân, rồi sau đó mới có duyên? Hay là
trước phải có duyên, rồi sau đó mới có nhân?
Vừa nói đến đó, bỗng nhiên có một cơn gió lớn thổi qua, làm cho tấm
tràng phan treo trước cửa chùa phất phơ lay động. Ấn Tông thấy sự việc
xảy ra như vậy, bèn hỏi mọi người:
- Các vị có vừa thấy tràng phan lay động không? Xin hỏi các vị, tràng
phan tự nó lay động, hay là có vật gì làm cho nó lay động?
Trong đám đông có người đứng dậy trả lời:
- Tràng phan không thể tự nó lay động, mà là do gió thổi làm nó lay
động.
Vừa nói xong, liền có người khác đứng dậy phản đối:
- Không đúng, chắc chắn là tràng phan tự nó lay động, vì cái tính động