Tiếng Việt

Trang nhà Quảng Đức

   Tiếng Anh 

qd.jpg (8936 bytes)

 Nhân Vật Phật Giáo Thế Giới


...... ... .

 

Du Tăng Cầu Pháp

Thích Hằng Ðạt

---o0o---


 

R. Nghĩa Tịnh.
 
 Tên tự của Thầy là Văn Minh, họ Trương, người Phạm Dương. Lúc còn nhỏ đã từ biệt song thân mà xuất gia. Thầy đi khắp nơi để tầm sư học đạo. Do đó, Thầy thông suốt các sách luận thế tục và nội điển. Năm mười lăm tuổi, vì ngưỡng mộ cao phong của ngài Pháp Hiển và Huyền Trang, nên ước muốn sang Tây Vực cầu pháp.
 
 Niên hiệu Hàm Hanh thứ hai (671), lúc ba mươi bảy tuổi, Thầy đến Phiên Ngu, cùng đồng kết giao với hơn mười pháp lữ để đi cầu pháp. Song, vừa lúc lên thuyền thì tất cả pháp lữ đều thối tâm. Vì vậy, đơn độc một mình Thầy sang Tây Vực cầu pháp. Thầy đi chiêm ngưỡng lễ bái hết các thánh tích, qua hơn ba mươi nước. Mười năm trú tại tu viện Na Lan Ðà, Thầy nghiên cứu tu học luật tạng, y dược, và tiếng Phạn. Thầy gom góp thỉnh được khoảng bốn trăm bộ kinh và mang trở về cố quốc. Mang kinh điển đến nước Bà Lỗ Sư (Srivijaya), Thầy trú lại đó trong bốn năm để phiên dịch. Năm 689, ra thương cảng để định gởi thơ, tình cờ Thầy lên thuyền trở về bổn quốc ngoài ý muốn. Tất cả kinh điển và những bản phiên dịch đều để lại nước Bà Lỗ Sư (Srivijaya). Vì vậy, vừa về cố quốc, Thầy liền trở lại nơi đó trong cùng năm, và ở nước đó thêm năm năm. Vào mùa hè, niên hiệu Chứng Thánh nguyên niên (695), Thầy mang bốn trăm bộ kinh luật luận cùng năm trăm ngàn câu kệ bằng tiếng Phạn, một bức tranh chân dung tượng Phật tại Kim Cang Tòa, và ba trăm (?) hột xá lợi, trở về kinh đô. Thiên Hậu đích thân ra cửa thành phía đông mà ngưỡng thỉnh. Chư tăng trong các chùa chiền tại kinh thành đều sắp theo đội ngũ mà mang tràng phan bảo cái, cùng trống nhạc mà cung nghinh. Thiên Hậu ban sắc cho Thầy trú tại chùa Phật Thọ Ký.
 
 Ðầu tiên, Thầy cùng với tam tạng pháp sư Thật Xoa Nan Ðề (người nước Vu Ðiền) phiên dịch kinh Hoa Nghiêm. Sau này, tại chùa Phước Tiên ở Trường An, chùa Tây Minh ở Ủng Kinh, v.v... Thầy tự phiên dịch kinh Kim Quang Minh Tối Thắng Vương, Năng Ðoạn Kim Cang Bát Nhã, Di Lặc Thành Phật, Nhất Tự Chú Vương, Trang Nghiêm Vương Ðà La Ni, Trường Trảo Phạm Chí, Căn Bổn Nhất Thiết Hữu Bộ Tỳ Nại Da, Ni Ðà Da Mục Ðắc Ca, một trăm luật Yết Ma Nhiếp, các luận về Lục Môn Giáo Thọ, các kệ tụng của ngài Long Thọ, v.v... Tổng cộng là năm mươi sáu bộ và hai trăm ba mươi quyển kinh luật luận. Thầy được hơn hai mươi chư tăng, kẻ tục người Thiên Trúc và Ðông Ðộ, cùng các quần thần hỗ trợ trong công việc phiên dịch, như kiểm thảo, trau chuốt, nhuận sắc, kiểm chứng văn dịch. Thầy lại soạn viết quyển Ðại Ðường Tây Vực Cầu Pháp Cao Tăng Truyện, Nam Hải Kỳ Quy Nội Pháp Truyện, Biệt Thuyết Tội Yếu Hành Pháp, Thọ Dụng Tam Pháp Thủy Yếu, Pháp Hộ Mạng Phóng Sanh Nghi Quy. Thầy tuy dịch ba tạng kinh luật luận, nhưng lại chú trọng nhiều nhất vào tạng luật. Thầy tịch vào năm 713, thọ bảy mươi chín tuổi, được năm mươi chín hạ lạp.
 
 Dưới đây là lời tự thuật của Thầy về chuyến hành hương cầu pháp sang Thiên Trúc và các nước lân cận của mình cùng với các vị du tăng đồng đạo vào đương thời.


 
 Ðại Ðường Tây Vực Cầu Pháp Cao Tăng Truyện.


 
 Sa môn Nghĩa Tịnh từ Tây Quốc trở lại Nam Hải Thất Lợi Phật Thệ, soạn viết quyển Kỳ Quy Bính Na Lan Ðà Tự Ðồ.
 
 Lời dẫn nhập:
 
 Từ xưa, có rất nhiều vị cao tăng ở đất Thần Châu (nước Tàu) đã từng đi qua Tây Vực để cầu pháp mà không tiếc thân mạng. Ngài Pháp Hiển là vị đầu tiên mở đường, vượt qua bao gian nan hiểm trở để đến Thiên Trúc và các nước lân cận. Ngài Huyền Trang, theo dấu chân ngài Pháp Hiển, khai mở chánh lộ đường đến Thiên Trúc.
 
 Những người Tàu du hành sang Thiên Trúc sớm nhất là bằng hai cách: Thứ nhất, độc hành theo đường bộ, vượt qua vùng biên giới phía tây. Thứ hai, đi bằng đường biển.
 
 Chư cao tăng du hành, dẫu đi bằng đường bộ hay đường biển, luôn nhớ đến những thánh tích của Phật đà, năm vóc lễ bái quy mạng. Các ngài luôn hoài vọng trở về báo tứ trọng ân.
 
 Tuy là duyên may, đại phước mới đến được Thiên Trúc, nhưng cuộc hành trình rất gian nan nguy hiểm. Không ai có thể mang theo hương hoa tràng phan bảo cái để cúng dường Phật đà, chỉ có vài vị là hoàn thành cuộc hành trình.
 
 Nguyên nhân là vì sự chướng ngại nơi các bãi sa mạc khô cằn và những dòng sông lớn của đất Tượng (Thiên Trúc), cùng ánh nắng chói chang, hoặc những gợn sóng cuồn dâng đến bầu trời do những con cá voi phun lên, hay những dòng nước chảy xuống tận đáy biển. Những khi đơn độc du hành đến vùng Thiết Môn [1], người bộ hành đi lạc vào muôn ngàn núi non hiểm trở. Hoặc bị rơi xuống những vực sâu, hoặc vừa lúc vượt qua cột Ðồng Trụ [2] phải lội qua trăm sông ngàn suối, để rồi mất mạng.
 
 Tôi đã trải qua bao ngày nhịn đói, ngay cả không có một giọt nước. Tôi thật lấy làm lạ rằng không biết làm thế nào các du tăng có thể giữ vững ý chí tu hành cùng tinh thần dõng mãnh và giới đức thanh bạch trong điều kiện vô vàn khó khăn như thế. Vì cuộc hành trình gian nan hiểm trở, người du hành thường thay đổi quan niệm sống.
 
 Khi quyết định khởi hành rời nước, tôi có năm mươi pháp hữu, nhưng hầu hết họ đều ở lại Thiên Trúc. Song, nếu có một vị tăng nào đến được Thiên Trúc, sau cuộc hành trình gian nan hiểm trở, vị đó sẽ không tìm được một ngôi chùa Tàu nào cả tại nơi đó. Do đó, không có nơi cố định để chúng tôi cư trú, mà chỉ đi từ chỗ này qua chỗ khác như những luống cỏ bị gió thổi trôi. Tuy hoàn cảnh có khó khăn gian nan trắc trở, nhưng sự nghiên tầm học hỏi Phật pháp cùng kinh luật là việc hệ trọng nhất. Thật vậy, sự chân thành và tín tâm của họ thật rất được ngưỡng mộ và ca tụng.
 
 Hiện tại, tôi viết về những kinh nghiệm về chuyến hành hương cầu pháp, hầu mong để lại cho hậu thế. Tôi đã từng nghe bằng tai, thấy bằng mắt, chứng kiến những sự khó khăn mà chư du tăng đã từng trải qua. Do đó, Tôi viết quyển sách này theo trình tự niên biểu thời gian của những sự kiện xảy ra trong chuyến hành hương cầu pháp. Ðầu tiên, tôi ghi lại tiểu sử của các vị còn sống và sau đó viết về các vị đã qua đời.
 
 1. Pháp sư Huyền Chiếu ở Thái Châu
 
 2. Pháp sư Ðạo Hi ở Tề Châu.
 
 3. Luật sư Sư Tiên ở Tề Châu.
 
 4. Pháp sư A Nan Da Bạt Ma ở Tân La.
 
 5. Pháp sư Huệ Nghiệp ở Tân La.
 
 6. Pháp sư Huyền Thái ở Tân La.
 
 7. Pháp sư Huyền Khác ở Tân La.
 
 8-9. Hai vị pháp sư ở Tân La.
 
 10. Phật Ðà Bạt Ma ở Ðổ Hóa La.
 
 11. Pháp sư Ðạo Phương ở Tịnh Châu.
 
 12. Pháp sư Ðạo Sanh ở Tịnh Châu.
 
 13-14. Thiền sư Thường Mẫn (Nityadaksa Dhyanacarya) ở Tịnh Châu và một đệ tử.
 
 15. Thầy Mạt Ðề Tăng Ha ở Kinh Sư.
 
 16. Pháp sư Huyền Hội ở Kinh Sư.
 
 17. Thầy Chất Ða Bạt Ma.
 
 18-19. Hai vị tăng từ nước Ni Ba La (Nepal).
 
 20. Pháp sư Long.
 
 21. Pháp sư Minh Viễn ở ích-châu.
 
 22-23-24. Luật sư Nghĩa Lương (Arthadipta) ở ích-châu và một đệ tử, cùng Trí Ngạn.
 
 25. Luật sư Hội Ninh ở ích-châu.
 
 26. Pháp sư Vận Kỳ ở Giao Châu (Việt Nam).
 
 27. Pháp sư Khuy Xung ở Giao Châu (Việt Nam).
 
 28. Pháp sư Huệ Diễm ở Giao Châu (Việt Nam).
 
 29. Pháp sư Giải Thoát Thiên ở Giao Châu (Việt Nam).
 
 30. Pháp sư Tín Trụ.
 
 31. Pháp sư Trí Hành ở Ái Châu (Việt Nam)[3].
 
 32. Thiền sư Ðại Thừa Ðăng ở Ái Châu (Việt Nam).
 
 33. Sa môn Tăng Già Bạt Ma ở Khương Quốc.
 
 34-35. Pháp sư Bỉ Ngạn và Trí Ngạn ở Cao Xương.
 
 36. Pháp sư Ðàm Nhuận ở Lạc Dương.
 
 37. Luận sư Nghĩa Huy ở Lạc Dương.
 
 38-39-40. Ba vị từ nước Tàu.
 
 41. Pháp sư Huệ Luân ở Tân La.
 
 42. Pháp sư Ðạo Lâm ở Kinh Châu.
 
 43. Pháp sư Ðàm Quang ở Kinh Châu.
 
 44. Thiền sư Huệ Mạng ở Kinh Châu.
 
 45. Luật sư Huyền Quỳ ở Nhuận Châu.
 
 46. Pháp sư Thiện Hạnh ở Tấn Châu.
 
 47. Pháp sư Linh Vận ở Nhưỡng Dương.
 
 48. Thiền sư Tăng Triết ở Phong Châu.
 
 49. Huyền Du đệ tử của Tăng Triết ở Cao Ly.
 
 50. Luật sư Trí Hoằng ở Lạc Dương.
 
 51. Thiền sư Vô Hành ở Kinh Châu.
 
 52. Thiền sư Pháp Chấn ở Kinh Châu.
 
 53. Pháp sư Ðại Luật ở Phong Châu.
 
 54. Tỳ kheo Trinh Cố ở Vĩnh Xuyên.
 
 55 Tỳ kheo Ðạo Hoằng ở Biện Châu.
 
 56. Tỳ kheo Pháp Lãng Nhưỡng Dương.
 
 Những vị tăng được kể ở phần trên (của danh sách) hầu hết đều phân tán đi rải rác. Tôi (Nghĩa Tịnh) chỉ gặp năm vị tăng như Vô Hành, Ðạo Lâm, Huệ Luân, Tăng Triết và Trí Hoằng. Thùy Cùng nguyên niên (685), Tôi (Nghĩa Tịnh) cùng với thiền sư Vô Hành từ biệt đất Tàu để đến Tây Quốc. Cho đến hôm nay (lúc Nghĩa Tịnh ghi chép quyển này) không có một phái đoàn nào tìm kiếm xem họ còn sống hay đã tịch rồi.
 
 1. Pháp sư Huyền Chiếu.
 
 Pháp sư Huyền Chiếu vốn là người Tiên Chưởng ở Thái Châu. Tên tiếng Phạn của Pháp Sư là Bàn Già Xá Mạt Ðề (Parkasamati); tiếng Tàu dịch là Chiếu Huệ. Tổ phụ (ông nội và cha) của Pháp Sư liên tiếp giữ chức thừa tướng trong triều. Song, lúc còn nhỏ Pháp Sư đã xuống tóc xuất gia.
 
 Lúc thành niên, Pháp Sư ước muốn đi lễ bái thánh tích. Thế nên, Pháp Sư lên kinh sư tham dự và bàn luận về kinh luận. Giữa niên hiệu Trinh Quán (627-649), tại chùa Ðại Hưng Thiện, Pháp Sư bắt đầu học Phạn ngữ với thầy Huyền Chứng. Kế đến, Pháp Sư chống tích trượng, tiến về hướng Tây, nghĩ tới tịnh xá Kỳ Viên (Jetavana). Rời Kim Phủ (Lan Châu), Pháp Sư vượt qua bãi sa mạc Lưu Sa và Thiếc Môn, rồi leo lên núi Tuyết Lãnh. Pháp Sư tắm gội trong ao nước hương, rồi tự nhủ rằng phải hoàn thành bốn hoằng thệ nguyện. Pháp Sư leo lên ngọn núi Hốt Phụ (hay Thông Lĩnh-Pamir) và giữ vững tinh thần cùng sự tinh tấn. Pháp Sư thệ nguyện cứu độ Tam Hữu (ba cõi: Dục giới, Sắc giới, Vô Sắc giới). Pháp Sư băng qua Tốc Lợi [4], đến Ðỗ Hóa La [5], rồi đi ngang qua biên giới của người Hồ và tiến vào nước Thổ Phiên (Tây Tạng). Vì ngưỡng mộ, công chúa Văn Thành cúng dường tiền lệ phí cho Pháp Sư trên đường đến bắc Thiên Trúc. Pháp Sư hướng đến nước Ðồ Lan Ðà [6].
 
 Thật là một cuộc hành trình đầy gian nan nguy hiểm. Trước khi vào vương thành của nước Ðồ Lan Ðà, Pháp Sư bị giặc cướp bắt. Không có ai để cho thương nhân cùng du khách mách cáo hay cầu cứu. Thất vọng vì không có người cứu giúp, Pháp Sư tụng thầm thần chú. Ðêm hôm sau, Pháp Sư mơ thấy ước vọng của mình được toại nguyện. Pháp Sư chợt tỉnh dậy, thấy bọn cướp đều ngủ mê say, bèn vội lén lút bỏ đi, rồi lập tức chạy khỏi nơi đó, tức được thoát nạn.
 
 Pháp Sư trú lại nước Ðồ Lan Ðà trong bốn năm. Nơi đó Pháp Sư được quốc vương ân cần tiếp đãi cúng dường cùng cung cấp nơi ăn chốn ở. Pháp Sư chuyên cần học kinh luận và Phạn ngữ nhưng rất ít tiến bộ.
 
 Từ từ Pháp Sư đi về hướng nam đến Ma Ha Bồ Ðề (Mahabodhi sangharama) và ở đó bốn năm. Pháp Sư tự hận mình sanh không gặp Thánh hiền (tức Phật Thích Ca), nhưng cảm thấy may mắn được lễ bái thánh tích của Phật đà. Pháp Sư lại lễ bái chân dung thánh tượng Từ Thị Di Lặc (Maitreya). Thánh tượng này được điêu khắc rất tỉ mỉ và oai nghiêm, khiến cho người xem phải khởi lòng cung kính. Thật vậy, thánh tượng đó là một tác phẩm xuất phát từ lòng chân thành tuyệt đối của người thợ điêu khắc.
 
 Pháp Sư nghiên cứu tu học thâm sâu luận Câu Xá [7], luận A Tỳ Ðàm (Abhidharma) tức Giải Ðối Pháp (Abhidharma) và hiểu biết tinh tường về luật nghi (Vinayas) của hai thừa, tức đại thừa và tiểu thừa (Mahayana and Hinayana).
 
 Sau đó, Pháp Sư đến tu viện Na Lan Ðà (Nalanda) và lưu trú lại trong ba năm. Nơi đó, Pháp Sư học Trung Luận [8] với ngài Thắng Quang (Vijayarasmi), rồi học Du Già Thập Thất Ðịa [9] với đại đức giáo thọ Bảo Sư Tử (Ranasimha).
 
 Pháp Sư lại học nhiều môn thiền định, quán tưởng trừu tượng (khiến tâm được thoát khỏi sự trói buộc của tất cả năng và sở), tinh tấn quán sát cội nguồn tâm thức, để thấu suốt tận cùng chân nghĩa bao la.
 
 Kế đến, Pháp Sư đi dọc theo phía bắc sông Hằng (Ganga) và được tiếp đón nồng hậu bởi quốc vương nước Thiêm Bộ. Pháp Sư trú tại chùa Tín Giả và những tự viện khác trong ba năm.
 
 Sứ giả nhà Ðường, Vương Huyền Sách[10], trên đường trở về nước Tàu, tấu trình rõ ràng về du tăng Huyền Chiếu. Liền sau đó, nhà vua phái người qua Thiên Trúc tìm kiếm và đưa Pháp Sư về kinh đô. Trên đường trở về, quốc vương nước Ni Ba La (Nepal) giúp đỡ Pháp Sư tiến về nước Thổ Phiên (Tây Tạng), và gặp lại công chúa Văn Thành[11]. Bà rất vui mừng rồi lại cúng dường Pháp Sư tư lương cần thiết để trở về nước Tàu.
 
 Sau cuộc hành trình dài dẳng dọc theo phía tây của nước Thổ Phiên (Tibet), Pháp Sư về đến nước Tàu. Vào tháng chín, Pháp Sư rời nước Thiêm Bộ và đến Lạc Dương vào tháng giêng. Năm tháng trường Pháp Sư đi hơn vạn dặm. Vào niên hiệu Lân Ðức (664), Pháp Sư vào hoàng cung yết kiến nhà vua và được sắc lịnh đến Yết Chập Di La (Kashmir) để đón một vị trưởng lão bà la môn tên là Lô Ca Dật Ða (Lokaditya).
 
 Lúc ở Lạc Dương, Pháp Sư gặp rất nhiều vị đại đức và cùng họ thảo luận về huyền lý của Phật pháp. Tại chùa Cung Ái [12], Pháp Sư bắt tay vào công việc phiên dịch quyển luật Tát Bà Ða Bộ Nhiếp (Sarvastivada) với sự giúp đỡ của Ðạo luật sư (Vinayacarya), Quán pháp sư (Dharmacarya), cùng những vị khác. Song, sau một thời gian ngắn, Pháp Sư phải qua Thiên Trúc theo lịnh của nhà vua. Do đó, bổn hoài của Pháp Sư chưa được hoàn thành. Pháp Sư phải để những bản kinh luật bằng tiếng Phạn tại kinh đô.
 
 Pháp Sư lại phải vượt qua những bãi sa mạc cát đá, và băng qua những ngọn núi cao chót vót. Pháp Sư đi lần theo đường mòn chung quanh các vách núi; nơi cầu đá để vượt qua chỗ vách núi nguy hiểm, Pháp Sư tìm thấy một con đường mòn dốc lài và băng qua đó được. Ðến một con sông, nọ, tuy có cầu giây, nhưng Pháp Sư lại tự lội sang sông, nên tránh được bọn cướp ở nước Thổ Phiên (Tibet). Ðược an toàn một đỗi, rồi Pháp Sư lại bị bọn Hung Nô cướp bóc, nhưng may mắn trốn thoát. Sau đoạn đường dài, Pháp Sư tiến vào biên giới của bắc Thiên Trúc.
 
 Trên đường Pháp Sư gặp đoàn sứ giả của nước Tàu đang hộ tống ngài Lô Già Dật Ða. Ðược đoàn sứ giả giao trọng trách, Pháp Sư dẫn dắt họ theo đoàn thương buôn đến nước La Trà [13] ở phía tây Thiên Trúc, để lấy thuốc trường sanh. Trên đường, Pháp Sư đến chùa Nạp Bà Tỳ Ha La (Nava Vihara), tức Tân Tự (Nava Sangharama) ở Phược Khát La (Bukhara). Nơi đó, Pháp Sư chiêm lễ bình bát và các thánh tích của đức Như Lai. Kế đến, Pháp Sư tới Ca Tất Thí (Kapisa) và đảnh lễ cùng cúng dường hương hoa cho xá lợi xương đầu của Phật (Như Lai Ðảnh Cốt- Usnisa). Nơi đó, Pháp Sư viết lại ấn văn, quán lai sanh thiện ác (xem lại những chuyện lành xấu xưa nay).
 
 Pháp Sư lại đi qua Phương Ðạt La của nước Tín Ðộ, và được quốc vương tiếp đón nồng hậu, nên ở lại đó bốn năm. Từ đó, Pháp Sư đi về hướng nam Thiên Trúc. Nơi ấy, Pháp Sư thường gởi nhiều loại thuốc về nước Tàu.
 
 Trên đường du hành, Pháp Sư đến Kim Cang Tọa, tức Bồ Ðề Mạn Ðà (Bodhimada), và trú lại nơi đó trong một thời gian. Tại tu viện Na Lan Ðà, Pháp Sư gặp Nghĩa Tịnh. Chí nguyện thuở bình sanh đã được hoàn thành. Cả hai chúng tôi đồng khế ước gặp nhau tại hội Long Hoa.
 
 Ðường đi từ nước Ni Ba La (Nepal) đến nước Thổ Phiên và đường đi xuyên qua nước Ca Tất Thí đến Ðại Thực không thông, bế tắc. Vì vậy, nghỉ ngơi một đỗi, Pháp Sư tiến đến núi Thứu Phong (Grdhrakuta) và tịnh xá Trúc Lâm (Venuvana). Những nơi đó, Pháp Sư rất mến thích và khởi tâm cung kính tột bậc.
 
 Dầu Pháp Sư có chí nguyện truyền đăng, nhưng ước muốn này tiêu diêu như lá rụng. Than ôi! Pháp Sư khổ hạnh du hành mà nguyện lợi sanh chưa toại. Sao Pháp Sư lại muốn cỡi mây xuống trung Thiên Trúc bằng đôi cánh chim! Tại nước Am Ma La Bạt (Bha-va) ở trung Thiên Trúc, Pháp Sư viên tịch vào lúc sáu mươi tuổi.
 
 Ðể truy điệu Pháp Sư, Nghĩa Tịnh viết bài tán thán:
 
 "Tráng chí cao ngất
 
 Thông minh tuyệt đỉnh
 
 Từng vượt muôn trùng
 
 Xa thẳm quê mẹ
 
 Trú nơi Trúc Lâm
 
 Ngắm lá tre lay
 
 Khởi tâm niệm niệm
 
 Khát ngưỡng đạo huyền
 
 Mãi giữ giới đức
 
 Thường mong trở về
 
 Hoằng diễn chánh pháp
 
 Ðề cao đức hạnh
 
 Than ôi! Bất toại
 
 Vận mạng mong manh
 
 Chôn xương nơi sông
 
 Bát Thủy danh lừng
 
 Chết vẫn an lạc."
 
 2. Pháp sư Ðạo Hy ở Tề Châu (Sơn Ðông).
 
 Pháp sư có tên tiếng Phạn là Thất Lợi Ðề Bà (Dharmacarya). Tàu dịch là Kiết Tường Thiên (Srideva). Pháp Sư thuộc dòng dõi quý tộc. Tôn tộc thường làm quan tại triều nội.
 
 Từ thuở bé, Pháp Sư rất hiền hòa lễ nghĩa, và đã từng theo học huyền môn cùng được thấm nhuần giáo lý Phật đà, nên thường có chí nguyện du hành sang trung Thiên Trúc.
 
 Trên đường du hành, Pháp Sư vượt qua bao núi non hiểm trở mà không màng đến thân mạng, chỉ một lòng cầu pháp. Pháp Sư tiến đến nước Thổ Phiên (Tibet) nhưng đường lộ rất nguy hiểm, nên không dám đi theo hướng đó, mà xoay bước về hướng tây, rồi lại gặp thêm bao gian nan khổ nhọc. Sau khi vượt qua bao vương quốc, Pháp Sư đến Ma Ha Bồ Ðề, rồi ở lại nơi đó hai năm để nghiêm tầm kinh điển và lễ bái thánh tích của Phật đà. Pháp Sư trú tại tu viện Na Lan Ðà và nước Câu Thi [14] trong một thời gian. Quốc vương nước Am Ma La Bạt rất tôn kính và tiếp đãi Pháp Sư nồng hậu. Tại tu viện Na Lan Ðà, Pháp Sư chuyên cần học giáo lý Ðại Thừa. Nơi chùa Thâu Bà Bạn Na, tức chùa Niết Bàn (Nirvana), Pháp Sư chuyên chú nghiên cứu tu học luật tạng (Vinayapitaka) và luận Thanh Minh (Sabdavidyshatra).
 
 Pháp Sư là vị học giả tri thức tài hoa. Trên một tảng đá tại chùa Ðại Giác, Pháp Sư khắc chữ Tàu lên đó, và tại tu viện Na Lan Ðà, Pháp Sư đã để lại hơn bốn trăm quyển kinh luật cũ mới bằng chữ Tàu.
 
 Nghĩa Tịnh không được gặp Pháp Sư ở Thiên Trúc. Lúc năm mươi tuổi, Pháp Sư cảm bệnh và qua đời tại nước Am Ma La Bạt (Amraka). Sau này, Nghĩa Tịnh đến đó và lễ bái căn phòng của Pháp Sư. Nghĩa Tịnh rất cảm kích và thương tiếc cho Pháp Sư, cùng viết kệ tán thán:
 
 "Cô đơn tiến bước trăm khổ nhọc
 
 Chân thành chất trực đức tánh cao
 
 Hằng nguyện báo đền bốn ân trọng
 
 Thương thay chưa thắp ngọn đèn pháp
 
 Mà phải bỏ mình giữa đường xa."
 
 3. Pháp sư Sư Tiên (Sri Kasa) ở Tề Châu.
 
 Pháp Sư thông suốt Phạn ngữ (Sanskrit) và chú Vinh Nhàn (Vidyamantra), tức chú Ðà La Ni. Pháp Sư đã từng cùng với ngài Huyền Chiếu đi sang bắc và qua tây Thiên Trúc. Ðến vương thành của nước Am Ma La Bạt, họ được quốc vương cung kính tiếp đón niềm nở. Khi trú tại chùa Vương Tụ (Raja Vihara), Pháp sư gặp ngài Ðạo Hy. Vì hai ngài vốn đồng hương nên đối đãi nhau rất thân mật. Ðang sống chung với ngài Ðạo Hy, Pháp sư nhiễm bịnh và qua đời vào lúc ba mươi chín tuổi.
 
 4. Pháp sư A
Nan Da Bạt Ma (Anandavarman) ở Tân La (Triều Tiên).
 
 Pháp Sư vốn là người Tân La (Triều Tiên). Trong niên hiệu Trinh Quán, Pháp Sư khởi cuộc du hành từ thành Quảng Nhiếp (một vương thành nhỏ) ở Trường An để tầm cầu chánh giáo và đích thân lễ bái thánh tích. Trú tại tu viện Na Lan Ðà, Pháp Sư chuyên chú tu học luật luận và sao chép rất nhiều kinh điển.
 
 Thương thay, Pháp Sư không thể đạt được chí nguyện. Pháp Sư xuất phát từ biên giới phía đông nước Kê Quý (tức Triều Tiên), và an tường thị tịch tại hướng tây của hồ Long Tuyền ở tu viện Na Lan Ðà vào lúc hơn bảy mươi tuổi.
 
 5. Pháp sư Huệ Nghiệp (Jananasampada) ở nước Tân La (
Korea).
 
 Vào niên hiệu Trinh Quán, Pháp Sư du hành qua Tây Vực, rồi trú tại chùa Bồ Ðề cùng lễ bái thánh tích. Trong vài năm trú tại tu viện Na Lan Ðà, Pháp Sư thường tu học Phật pháp và dành rất nhiều thời giờ để lắng nghe cùng viết lại những bài thuyết giảng.
 
 Lúc đang đọc và kiểm thảo lại những bản sao chép, Nghĩa Tịnh chợt thấy một bản sao Lương Luận [15]. Cuối quyển luận ghi rõ là pháp sư Huệ Nghiệp, vị tăng của nước Tân La (Triều Tiên), sao chép kinh bên dưới cội cây Phật Xỉ Mộc (cây tăm xỉa răng của Phật).
 
 Khi hỏi thăm chư tăng ở tu viện đó, Nghĩa Tịnh được biết là Pháp Sư đã viên tịch nơi ấy vào lúc trên sáu mươi tuổi. Những bản kinh tiếng Phạn được Pháp Sư sao chép lại vẫn còn lưu giữ trong chùa.
 
 6. Pháp sư Huyền Thái ở nước Tân La.
 
 Pháp Sư có tên tiếng Phạn là Tát Bà Chân Nhã Ðề Ba (Sarvajnadeva); tiếng Tàu dịch là Nhất Thiết Trí Thiên. Trong niên hiệu Vĩnh Huy (650-655), Pháp Sư đến nước Thổ Phiên (Tibet), băng qua nước Ni Ba La (Nepal), rồi vào trung Thiên Trúc. Pháp Sư hành hương đến cây Bồ Ðề và tinh tường nghiên cứu tu học kinh luật. Pháp Sư cũng đi du hành rất nhiều nơi tại vùng phía đông. Trên đường trở về, đến Thổ Cốc Hồn, Pháp Sư gặp ngài Ðạo Hy, rồi cả hai cùng đến chùa Ðại Giác. Sau này, Pháp Sư trở về nước Tàu, nhưng không ai biết được việc Pháp Sư thị tịch như thế nào.
 
 7. Pháp Sư Huyền Khác (Paramapujya) ở
Tân La.
 
 Vào niên hiệu Trinh Quán, Pháp Sư khởi hành cùng với ngài Huyền Chiếu. Họ đến chùa Ðại Giác. Pháp Sư chân thành lễ bái thánh tích Phật đà, nhưng sau vài ngày bị cảm bệnh và qua đời vào lúc năm mươi tuổi.
 
 8-9. Hai vị tăng ở nước
Tân La.
 
 Không ai biết được danh tánh của hai vị tăng này. Họ rời Trường An và đến Nam Hải. Kế đến, họ đi tới nước Bà Lỗ Sư (Srivijaya), ở phía tây nước Thất Lợi Phật Thệ (Sribhoga), rồi lâm bịnh và thị tịch tại đó.
 
 10. Phật Ðà Ðạt Ma (Bodhiarma) ở
Ðổ Hóa La.
 
 Thân hình của Ngài vạm vỡ, đủ để chịu đựng những gian nan khổ nhọc trên các cuộc du hành. Ngài theo học giáo lý tiểu thừa, và thỉnh thoảng đi khất thực. Nhờ ăn ít nên Ngài đi đứng thuận tiện. Ngài đến Thần Châu (nước Tàu), và xuất gia tại chùa ích-phủ. Tánh tình thích đi viễn du, và thường hành cước rất nhiều nơi ở Cửu Châu cùng những vùng khác.
 
 Ngài đến tu viện Na Lan Ðà và gặp Nghĩa Tịnh. Khi năm mươi tuổi Ngài đến bắc Thiên Trúc và thị tịch vào lúc hơn năm mươi tuổi.
 
 11. Thầy Ðạo Phương (Dharmadesa) ở Tịnh Châu.
 
 Thầy xuất gia xong, bèn vượt qua những bãi sa mạc và đồi núi, rồi đến nước Ni Ba La. Thầy đến và làm trụ trì chùa Ðại Giác trong vài năm. Sau này, Thầy trở lại nước Ni Ba La cho đến khi gặp Nghĩa Tịnh.
 
 12. Pháp sư Ðạo Sanh ở Bình Châu.
 
 Tên tiếng Phạn của Pháp Sư là Bàn Ðạt La Ðề Bà (Cadradeva), Tàu dịch là Nguyệt Thiên.
 
 Cuối niên hiệu Trinh Quán, Pháp Sư theo đường núi đến nước Thổ Phiên, qua trung Thiên Trúc, rồi tới chùa Bồ Ðề. Nơi đó, Pháp Sư kính thành cúng dường và lễ bái Chế Ðề Cật (Caitagrha), tức tháp thờ xá lợi Phật. Trong tu viện Na Lan Ðà, Pháp Sư là vị tăng trẻ nhất, nên được quốc vương thâm kính lễ bái. Ði về phía đông cách tu viện Na Lan Ðà mười hai do tuần, Pháp Sư đến chùa Vương Tự, nơi chư tăng đều tu học theo giáo lý tiểu thừa. Pháp Sư trú trong chùa đó vài năm để học giáo lý tiểu thừa và lẽ tinh yếu của ba tạng giáo nghĩa. Pháp Sư mang trở về bổn quốc rất nhiều kinh điển và tượng Phật. Trên đường về cố hương, vì nghiệp vận, Pháp Sư bị bịnh và thị tịch vào lúc năm mươi tuổi tại nước Ni Ba La.
 
 13-14. Thiền sư Thường Mẫn (Nityadaksa Dhyanacarya) ở Tịnh Châu và một đệ tử.
 
 Thiền Sư cắt tóc xuất gia vào lúc còn thơ ấu. Tướng hảo kiết tường oai nghiêm của Thiền Sư thật không thể kể hết. Thiền Sư rất thông minh đảnh ngộ; tinh tấn tu hành, chuyên cần tụng niệm kinh điển không mệt mỏi; Thiền sư lại thường phát đại thệ nguyện vãng sanh qua cõi Cực Lạc, nên luôn hành tịnh nghiệp niệm danh hiệu Phật không ngừng. Thiền Sư rất vững vàng về căn bản giáo lý nhà Phật.
 
 Thiền Sư đến Lạc Dương tuyên dương chánh pháp. Ðể biểu lộ lòng chân thành trong công cuộc hoằng pháp, Thiền Sư phát đại nguyện viết mười ngàn quyển kinh Bát Nhã (Prajna). Thiền Sư nguyện ước đi qua Tây Vức để lễ bái cúng dường xá lợi Phật và các thánh tích, rồi hồi hướng công đức qua cõi Tây Phương Cực Lạc.
 
 Dịp may đến, Thiền Sư vào kinh sư, dâng thơ thỉnh nguyện nhà vua cho phép được đi du hành qua chín châu để truyền bá Phật pháp cùng viết kinh Bát Nhã. Ðược nhà vua chuẩn y, Thiền Sư khởi hành cuộc vân du, rồi băng qua bao sông ngòi, và đi khắp vùng phía nam của nước Tàu. Trong thời gian ở tại miền nam, Thiền Sư chân thành viết kinh Bát Nhã và luôn tỏ lòng tri ân sâu sắc đối với nhà vua vì đã chuẩn y cho phép mình được toại nguyện.
 
 Sau này, Thiền Sư đến hải cảng, lên thương thuyền để tới nước Ha Lăng [16]. Ðến nơi, Thiền Sư lại theo thuyền qua nước Mạc La Du [17], với mục đích là sang trung Thiên trúc. Một cơn bão đột ngột thổi đến vùng đó, khiến cho biển động sóng dồn. Vì chở rất nhiều kiện hàng hóa nặng nề, nên thương thuyền chỉ ra được bến mà không đi đến đâu được. Vài tiếng sau, thương thuyền bắt đầu bị chìm. Trong cơn hãi hùng hỗn loạn, thương nhân cùng thủy thủ tranh nhau xuống chiếc thuyền nhỏ để tránh nạn. Vốn là một Phật tử thuần thành, vừa bước xuống chiếc thuyền nhỏ thì vị thuyền trưởng liền gọi to rằng Thiền Sư hãy nên xuống đó với hợ để lánh nạn. Thiền Sư bèn đáp:
 
 - Tôi không xuống đâu! Ông nên đem vài người khác xuống để thay thế chỗ của tôi.
 
 Thiền Sư không chịu xuống con thuyền nhỏ mà chỉ âm thầm chấp nhận nghiệp vận ngắn ngủi để giữ vững tâm Bồ Ðề: Xả thân mình để cứu người. Thật là hạnh nguyện của bậc Bồ Tát Ðại Sĩ.
 
 Kế đến, Thiền Sư chắp tay hướng về phía tây, và cung kính xưng niệm danh hiệu Phật A Di Ðà liên tục, mặc tình cho thương thuyền từ từ chìm xuống biển cả. Lúc đó, Thiền Sư hơn năm mươi tuổi.
 
 Thiền sư Thường Mẫn có một người đệ tử mà không ai biết rõ danh tánh. Vị thầy này khóc sướt mướt và cũng xưng niệm danh hiệu Phật A Di Ðà. Mất vị tôn sư, Thầy cảm giác mọi việc đều vô nghĩa và trống rỗng. Thầy được người trên chiếc thuyền nhỏ ân cần giúp đỡ. Câu chuyện này được những người thoát nạn đắm thuyền kể lại.
 
 Thương thay bậc vĩ nhân, thị tịch quá sớm! Hy sinh thân mạng mình để cứu người, sáng chói như gương bóng, quý báu như viên ngọc nước Hòa Chấn (Khotan). Dẫu có ngâm mình trong dòng nước dơ mà thân không nhơ nhuốc. Dẫu bị mài giũa mà không khiếm khuyết. Hiến mình vì Phật pháp để đạt được trí huệ Bát Nhã thâm sâu. Dưỡng trí huệ để gieo nhân lành cao tột. Nơi bổn quốc gieo nghiệp lành. Tại nước người gặt được quả tốt. Gặp hiểm nạn trên biển cả, tự đối đầu và quyết định trầm mình theo thương thuyền để cứu vớt người, khiến đệ tử phải mất đi một tôn sư và không còn pháp lữ.
 
 Thân nhớp nhúa rã tan trong biển cả. Dùng tịnh nguyện để qua an dưỡng nơi cõi Cực Lạc. Ðạo không hề bị vô vị và hạnh đức mãi không bị chôn vùi. Phóng ánh sáng từ bi vị tha. Tận trần kiếp để sinh ra một vĩ nhân khác.
 
 15. Thầy Mạt Ðề Tăng Ha (Matisimha) ở Kinh Triệu.
 
 Tên tiếng Tàu của Thầy là Sư Huệ. Thầy vốn là người ở Kinh Triệu, họ là Hoàng Phủ, nhưng không ai biết tên tục là gì. Thầy đồng du hành với ngài Sư Tiên qua trung Thiên Trúc, đến và trú tại chùa Tín Giả.
 
 Thầy có kiến thức về tiếng Phạn, nhưng không nghiên cứu tường tận về kinh luật nhà Phật. Thầy quyết định trở về bổn quốc nhưng lại thị tịch tại nước Ni Ba La vào năm bốn mươi tuổi trên đường về cố hương.
 
 16. Thầy Huyền Hội ở kinh sư.
 
 Có người bảo rằng Thầy là con của tướng quân họ An. Theo đường bộ, Thầy đến bắc Thiên Trúc rồi vào nước Yết Chập Di La [18]. Thầy được quốc vương nước đó giao cho chức giữ voi của hoàng gia. Thầy thường cỡi voi với nhạc cụ theo sau. Mỗi ngày, quốc vương sai người đem thức ăn đến cúng dường cho chùa Long Trì Sơn [19], nơi thầy Huyền Hội trú ở, và là nơi mà năm trăm vị A La Hán thường thọ thực, và cũng là nơi mà đệ tử của tôn giả A Nan Ðà, tức ngài Mạt Ðiền Ðịa (Madhyantika), đã từng hóa độ long vương. Nhờ Thầy khuyên bảo, quốc vương phóng thích hơn một ngàn tử tội. Thầy được tự do ra vào cung cấm, nhưng sau này vì có chuyện bất bình nên bỏ vào nam.
 
 Tại chùa Ðại Giác, Thầy lễ bái cây Bồ Ðề và ngắm nhìn hồ Mộc Chân Trì (Muchalinda) cả hàng giờ. Tại nơi đó, Thầy leo lên núi Linh Thứu (Grdhrakuta) và núi Tôn Túc, tức Kê Túc (Kukkutapadagiri). Thầy có kiến thức rất thâm sâu quảng đại và thần minh của một bậc thánh hiền, cùng thiện xảo khéo léo. Dẫu gặp bao khó khăn trở ngại, Thầy nói thông thạo tiếng Phạn trong một thời gian ngắn. Song, vì không có kiến thức thâm sâu về kinh điển tiếng Phạn và đạo lý, nên Thầy quay trở về bổn quốc. Không may, trên đường về, khi đi ngang qua nước Ni Ba La, Thầy mất vào lúc hơn ba mươi tuổi.
 
 Nước Ni Ba La có bao loại độc dược nên nhiều khách hành hương bị chết tại nơi đó vì ăn nhằm chúng. 
 
 
 17. Thầy Chất Ða Bạt Ma (Cittavarman).

Thầy vốn theo đoàn sứ giả nước Tàu đến xứ Phược Khát La (BuKhara) bằng đường lộ phía bắc. Tại chùa Tân Tự (Navasangharama), nơi truyền dạy giáo lý tiểu thừa, xuất gia với tên là Chất Ða Bạt Ma (Cittavarman). Thọ giới cụ túc xong, Thầy từ chối không ăn ba loại thịt thanh tịnh.
 
 Vị giới sư trong chùa bảo:
 
 - Như Lai Ðại Sư đích thân khai mở ngũ chánh, hay ngũ tịnh nhục (tức năm loại thịt thanh tịnh), cho chư tăng nên không có tội, thì sao Thầy lại không ăn?
 
 Vị Thầy đó đáp:
 
 - Các kinh điển đại thừa đều cấm chế. Do tập tánh đó nên không thể thay đổi.
 
 - Ta y theo ba tạng kinh luật mà tu hành, và chưa từng đọc qua những văn kinh như thế. Nếu có kiến chấp khác biệt như vầy, Ta không phải là tôn sư của Thầy.
 
 Nghe vậy, Thầy đành miễn cưỡng, xả bỏ lời nguyện xưa và rơi lệ mà ăn. Thầy theo luật nghi của chùa mà tu hành, nhưng kiến thức Phạn ngữ rất giới hạn. Sau này, Thầy theo đường lộ phía bắc, rồi trở về bổn quốc. Từ đó, không ai biết Thầy đã đi đâu. Chuyện của Thầy do chư tăng ở bắc Thiên Trúc thuật lại.
 
 18-19. Hai vị tăng từ nước Ni Ba La (
Nepal).
 
 Bà di mẫu của công chúa nước Thổ Phiên (Tây Tạng) có hai người con, đồng xuất gia lúc trẻ. Họ trú tại chùa Ðại Vương (Rajavihara). Hai vị nói và đọc tiếng Phạn rất thông thạo. Một vị tuổi ba mưoi lăm còn vị kia tuổi hai mươi lăm. Sau này, một trong hai vị đó hoàn tục.
 
 20. Pháp sư họ Long (Gauravadharma).
 
 Không ai biết Pháp Sư là dân nước nào. Trong niên hiệu Trinh Quán, Pháp Sư xuất gia và theo đường lộ phía bắc để qua Thiên Trúc. Vừa đến đó, Pháp Sư muốn tận mắt xem sự hoằng hóa của chánh pháp ở trung Thiên Trúc. Pháp Sư tụng được kinh Pháp Hoa (Saddharmapundarika) bằng tiếng Phạn rất thông thạo. Khi đến nước Kiền Ðà La, Pháp Sư nhuốm bịnh và thị tịch. Câu chuyện này do chư tăng ở bắc Thiên Trúc thuật lại.
 
 
 
 21. Pháp sư Minh Viễn ở ích-châu.
 
 Pháp sư Minh Viễn là người ở Thanh Thành, ích-châu. Pháp Sư có tên tiếng Phạn là Chấn Ða Ðề Bà (Cintadeva). Tàu dịch là Tư Thiên. Thuở nhỏ, Pháp Sư đã được thấm nhuần Phật pháp, nên lớn lên trở thành một vị rất đạo hạnh. Tướng mạo của Pháp Sư oai nghiêm tuấn tú. Pháp Sư thích tham gia các pháp hội tụng đọc kinh điển. Người người đều kính trọng Pháp Sư. Pháp Sư thông thạo luận Trung Quán (Madhyamika) cùng luận Bách Pháp (Satasastra), và có khả năng luận nghị về tư tưởng Trang-Châu.
 
 Lúc trẻ, Pháp Sư thường du hành qua Thất Trạch ở Hồ Nam và Tam Ngô (vùng phía đông của sông Dương Tử) để tầm sư học đạo. Sau này, Pháp Sư nghiên cứu tu học tinh tường kinh luận và hành thiền định. Kế đến, Pháp Sư tự an cư kiết hạ trên đỉnh núi Lô Sơn.
 
 Vì Thánh giáo (đạo Phật) đang dần dần bị suy vi, và với ý chí phục hưng, nên Pháp Sư chống tích trượng qua Giao Châu (Việt Nam). Từ đó, Pháp Sư theo thuyền qua nước Ha Lăng, rồi đến vương quốc Sư Tử (Tích Lan) lễ xá lợi Phật.
 
 Theo người nước Sư Tử cho biết thì du tăng người Tàu đó (tức Pháp Sư), tiếp tục đi qua nam Thiên Trúc, rồi sau này mất trên đường đến chùa Ðại Giác. Không ai biết được Pháp Sư sống đến bao lâu.
 
 Tương truyền, quốc vương nước Sư Tử ra lịnh đem để xá lợi Phật trên một tòa lâu các cao ráo, đóng cửa kín an toàn, và cho quân canh phòng cẩn mật. Trong tòa lâu các đó có nhiều cánh cửa sắt cứng chắc nặng trĩu, cùng với những ống khóa to lớn được lấp kín bằng vôi bởi năm vị quan triều. Nếu mở cánh cửa chính ra thì sẽ có tiếng chuông báo hiệu vang khắp thành quách.
 
 Ngày ngày, hương hoa đều được cúng dường đầy khắp. Người chí tâm cầu khẩn thì sẽ thấy một đóa hoa vàng xuất hiện trên răng xá lợi Phật, hoặc thấy xá lợi Phật hiển hiện những ánh sáng lạ thường. Theo truyền thuyết, nếu mất đi răng xá lợi Phật thì vương quốc này sẽ bị quỷ La Sát (Raksasas) nuốt mất. Vì thế, răng xá lợi Phật được nghiêm phòng thủ hộ cẩn mật.
 
 22-23-24. Luật sư Nghĩa Lương (Arthadipta) ở ích-châu và một đệ tử, cùng Trí Ngạn.
 
 Luật Sư vốn là người Thành Ðô ở ích-châu. Luật Sư thông thạo luật điển và giải thích được luận Du Già (Yoga). Lúc trẻ đã từng liễu ngộ giáo pháp, nên Luật Sư thường nghiên cứu nội điển, và lại có tài viết văn rất hay. Vì có ước muốn đi hành hương chiêm bái thánh tích, nên Luật Sư khởi hành cuộc vân du. Phát xuất từ Trường An, Luật Sư đi cùng với thầy Trí Ngạn (một vị đồng hương), và Nghĩa Huyền (một danh nhân đương thời), cùng một đệ tử. Do đối đãi thân mật như tình huynh đệ, nên họ rất khắng khít với nhau trên đường hành hương.
 
 Họ đến nước Ô Lôi, rồi lên thương thuyền. Trải qua bao muôn ngàn sóng to gió lớn, thương thuyền chạy ngang nước Phù Nam [20] và thả neo tại Lương Gia [21]. Nơi đó, họ được quốc vương tiếp đãi như thượng khách và tặng rất nhiều lễ vật. Thầy Trí Ngạn chẳng may nhuốm bịnh và tịch tại đó, khiến Luật Sư rất đau buồn. Luật Sư lại cùng với người đệ tử tiếp tục cuộc hành trình, lên thuyền qua vương quốc Sư Tử. Nơi đó, đoàn hành hương lễ bái răng xá lợi Phật cùng thâu nhặt sách vở ngoại đạo.
 
 Dần dần họ đến Tây Quốc (Thiên Trúc). Từ đó, không ai biết được Luật Sư cùng đoàn hành hương đi về đâu. Người nước Sư tử cùng Thiên Trúc không gặp và nghe tin tức gì về họ. Có lẽ Luật Sư tịch ở nước ngoài khi hơn bốn mươi tuổi. Nghĩa Tịnh chỉ nghe lại câu chuyện này từ các vị sa môn khác.
 
 25. Luật sư Hội Ninh (Mahabhisayanavinayacarya).
 
 Luật Sư là người Thành Ðô ở ích-châu. Thuở bé, Luật Sư vốn thông minh đảnh ngộ và tiết tháo, cùng có chí nguyện hoằng dương Phật pháp, khiến lợi ích quần sanh, nên thường đến chùa chiền để tìm hiểu về đạo lý. Xả vinh hoa phú quý như bỏ chiếc áo rách, Luật Sư sớm xuất gia đầu Phật làm tăng sĩ. Luật Sư nghiên cứu kinh luận cùng tinh tường hiểu rõ về luật nghi. Với chí nguyện hoằng pháp, Luật Sư muốn sang Tây Vức để tu học.
 
 Trong niên hiệu Lân Ðức (A.D 665), Luật Sư chống tích trượng đến Nam Hải và theo thuyền sang nước Ha Lăng, rồi ở lại nơi đó trong ba năm với vị tăng đa văn, Nhã Na Bạt Ðà La (Jnanabhadra). Kế đến, Luật Sư phiên dịch một phần của kinh A Hàm (Agama), liên hệ đến chương miêu tả buổi lễ trà tỳ kim thân của đức Như Lai, nhưng lại không tương hợp với kinh Niết Bàn của Ðại Thừa. Sau này, ở tại Tây Vức, Nghĩa Tịnh tìm thấy kinh Niết Bàn của phái đại thừa có khoảng hai mươi lăm ngàn câu kệ, và đã được phiên dịch chữ Tàu hơn sáu mươi quyển. Nghĩa Tịnh muốn gom góp toàn bộ kinh nhưng không thành công, mà chỉ góp nhặt được bốn ngàn câu kệ đầu tiên từ Ðại Chúng Bộ (Mahasanhika)
 
 Phiên dịch xong bộ kinh A Hàm, Luật Sư sai đệ tử là Vận Kỳ mau kíp thỉnh kinh trở về bổn quốc. Thầy Vận Kỳ thỉnh kinh về đến Châu Phủ (Việt Nam) thì được quan quân hộ tống vào kinh đô. Trong hoàng cung, thầy Vận Kỳ phụng tấu nhà vua nên ban sắc lệnh truyền bá bộ kinh này cho người Ðông Hạ (người Tàu). Kế đến, thầy Vận Kỳ rời kinh đô trở lại Giao Chỉ, mang về tặng phẩm trăm mảnh lụa do triều đình ban thưởng.
 
 Qua trở lại Ha Lăng, thầy Vận Kỳ báo tin cho ngài Ðức Trí Hiền, tức Nhã Na Bạt Ðạt La, biết rằng luật sư Hội Ninh muốn tương kiến. Vừa lúc ấy, luật sư Hội Ninh đã qua Tây Vức. Thầy Vận Kỳ ở đó, nóng lòng chờ đợi tin tức của Luật Sư. Thầy Vận Kỳ lại gởi người sang Ngũ Thiên (Thiên Trúc) để tìm kiếm Luật Sư nhưng không nghe tin tức. Có lẽ Luật Sư đã tịch vào năm ba mươi bốn tuổi. Ðây là một điều thật đáng tiếc.
 
 Luật sư Hội Ninh đơn độc đi cầu pháp, và tâm thành muốn hành hương sang xứ Phật. Luật Sư chỉ du hành một đoạn đường ngắn ngủi. Cuối cùng, Luật Sư đến nơi Bảo Chử (hay Bảo Sở), và tạm cư nơi Hóa Thành.
 
 Tuy đã thị tịch nhưng pháp của Luật Sư vẫn mãi trường tồn, và tinh thần Bồ Tát hạnh cùng tên tuổi của Luật Sư vẫn mãi được người sau nhớ đến.
 
 
 
 26. Pháp sư Vận Kỳ (Kalacakra) ở Giao Châu (Việt
Nam).
 
 Pháp Sư đồng du hành với thầy Ðàm Nhuận và theo ngài Phục Trí Hiền thọ giới cụ túc. Pháp Sư trở lại Nam Hải và sống nơi đó hơn mười năm. Pháp Sư thông thạo ngôn ngữ của người Côn Lôn và tiếng Phạn. Sau này Pháp Sư lại hoàn tục và trú tại nước Thất Lợi Phật Thệ cho đến lúc Nghĩa Tịnh qua đó.
 
 Sau này, cuộc đời của Pháp Sư lại thay đổi đột ngột. Vì cảm kích ân trọng của Phật pháp vô ngần, Pháp Sư xuất gia trở lại, rồi vân du khắp vương quốc đó và thường hoằng bá chánh pháp đến cho những kẻ ngoại đạo. Pháp sư tịch vào lúc bốn mươi tuổi.
 
 27. Pháp sư Khuy Xung ở Giao Châu (Việt
Nam).
 
 Pháp Sư có pháp danh tiếng Phạn là Chất Ðát La Ðề Bà (Citradeva). Pháp Sư cùng với thầy Minh Viễn đến Nam Hải, và theo thuyền sang nước Sư Tử, rồi qua tây Thiên Trúc. Nơi đó Pháp Sư gặp thầy Huyền Chiếu, rồi cùng nhau đến trung Thiên Trúc.
 
 Pháp Sư rất chân thật, tín thành và thông minh. Pháp Sư tụng đọc kinh tiếng Phạn rất hay. Mỗi lần tìm được quyển kinh tiếng Phạn nào, Pháp Sư đều tụng xướng theo âm điệu nhịp nhàng. Pháp Sư hành hương đến và chiêm lễ cây Bồ Ðề. Khi đến thành Vương Xá, vào tịnh xá Trúc Lâm, Pháp Sư trú lại đó rất lâu, rồi nhuốm bịnh và tịch lúc hơn ba mươi tuổi.
 
 28. Pháp sư Huệ Diễm (Prajnaratna) ở Giao Châu (Việt
Nam).
 
 Pháp Sư là đệ tử của thầy Hành Công. Pháp Sư theo tôn sư đến nước Sư Tử rồi trú lại nơi đó. Không ai biết được là Pháp Sư tịch vào lúc nào.
 
 29. Pháp sư Giải Thoát Thiên ở Giao Châu (Việt
Nam).
 
 Pháp Sư theo thuyền đi chu du các nước, rồi đến chùa Ðại Giác, lễ bái các thánh tích. Pháp Sư tịch vào lúc chỉ mới hai mươi lăm tuổi tại chùa Ðại Giác.
 
 30. Pháp sư Tín Trụ.
 
 Không ai biết Pháp Sư là dân xứ nào. Pháp danh tiếng Phạn của Pháp Sư là Thiết Lị Ðà Bạt Ma (Sraddhavarman). Tàu dịch là Tín Trụ.
 
 Pháp Sư theo dường lộ phía bắc mà đến Thiên Trúc, rồi tới lễ bái và trú tại chùa Tín Giả. Trên nóc chùa, Pháp Sư xây một tòa lâu các bằng gạch và cúng dường cho những vị tăng già yếu. Thời gian sau, Pháp Sư nhuốm bịnh nặng. Ðêm sắp lâm chung, Pháp Sư chợt tỉnh dậy và bảo rằng chư Bồ Tát đưa tay tiếp dẫn đến tòa nhà trang nghiêm đẹp đẽ. Ðứng dậy chấp tay thọ nhận, Pháp Sư thị tịch vào năm ba mươi lăm tuổi.
 
 31. Pháp sư Trí Hành ở Ái Châu (Việt
Nam).
 
 Pháp danh tiếng Phạn của Pháp Sư là Bàn Nhã Ðề Bà (Prajnadeva). Tàu dịch là Huệ Thiên. Theo thuyền đi từ Nam Hải, Pháp Sư đến tây Thiên Trúc, rồi lễ bái xá lợi đức Thế Tôn. Kế đến, Pháp Sư đi dọc theo sông Hằng, và đến chùa Tín Giả, rồi tịch tại đó vào năm năm mươi tuổi.
 
 32. Thiền sư Ðại Thừa Ðăng ở Ái Châu (Việt
Nam).
 
 Thiền Sư có pháp danh tiếng Phạn là Mạc Ha Dạ Na Bát Ðịa Ký Ba (Mahayanapradipa); Tàu dịch là Ðại Thừa Ðăng. Lúc nhỏ Thiền Sư cùng với cha mẹ đến nước Ðỗ Hòa La Bát Ðề [22]. Nơi đó, Thiền Sư xả tục xuất gia. Sau đó, Thiền Sư theo đoàn sứ giả Ðàm Tự đến kinh đô. Thiền Sư trú tại chùa Từ Ân (Mahakaruna), nơi tam tạng pháp sư Huyền Trang đã từng cư ngụ, rồi được thọ giới cụ túc. Thiền Sư ở lại kinh đô vài năm để duyệt xem kinh thư. Với lòng tín thành hằng tiềm ẩn trong tâm, Thiền Sư luôn nghĩ đến thánh tích và ước vọng qua Tây Vức. Song song, Thiền Sư luôn giữ giới đức thanh tịnh.
 
 Sau này, Thiền Sư mang kinh luận và tượng Phật vượt biển Nam Hải để đến nước Sư Tử. Nơi đó, Thiền Sư chân thành lễ bái răng xá lợi Phật và được những điềm cảm ứng linh dị. Thiền Sư lại qua nam Thiên Trúc và đến đông Thiên Trúc, rồi tới nước Ðam Ma Lập Ðề[23]. Vừa vào cửa sông thì chiếc thuyền và những đồ vật quý giá của Thiền Sư đều bị bọn cướp lấy đi mà chỉ còn mạng sống.
 
 Kế đến, Thiền Sư lên bờ và trú nơi đó hơn mười hai năm để học kinh điển tiếng Phạn. Thiền Sư thường tụng kinh Duyên Sanh (Nidana) và những bộ kinh khác, cùng tu phước nghiệp.
 
 Nhân gặp thương buôn và Nghĩa Tịnh, Thiền Sư cùng chúng tôi đến trung Thiên Trúc. Ðầu tiên chúng tôi đến tu viện Na Lan Ðà, rồi tới Kim Cang Tọa, qua nước Tỳ Xá Ly (Vaisali), và cuối cùng gặp nước Ca Thi La (Kusonagara). Thiền Sư lại cùng thiền sư Vô hành chiêm bái tất cả những thánh tích ở các nơi đó. Mỗi lần gặp thánh tích, Thiền Sư thường ta thán và nguyện muốn hoằng dương chánh pháp tại bổn quốc. Lúc gần thị tịch, Thiền Sư thệ rằng nếu đời này chưa hoàn thành chí nguyện thì đời sau sẽ tiếp tục.
 
 Vì thường nghiên cứu lịch sử, Thiền Sư tìm đến ngôi nhà của Bồ Tát Từ Thị thường trú ở. Hai lần trong mỗi ngày, Thiền Sư đều thành kính dâng cành Long Hoa cúng dường.
 
 Thiền Sư sống trong căn phòng mà thầy Ðạo Hy đã từng trú ngụ. Lúc Thiền Sư đến đó thì thầy Ðạo Hy đã thị tịch, nhưng kinh sách chữ Phạn và chữ Tàu của Thầy vẫn còn y nguyên. Nhìn thấy những di vật và căn phòng trống trải này, Thiền Sư rơi lệ, cảm thương cho thầy Ðạo Hy. Xưa kia, họ đã từng đồng du hành, cùng nhau luận nghị Phật pháp ở Trường An. Song, hiện tại Thiền Sư không còn gặp lại pháp hữu của mình tại nước người nữa.
 
 Tại thành Câu Thi La, nơi chùa Bát Niết Bàn, Thiền Sư quy tịch.
 
 33. Sa môn Tăng Già Bạt Ma (Sanghavarman) ở Khương Quốc [24].
 
 Thuở nhỏ thầy đã từng đi vân du bằng đường bộ qua những bãi sa mạc cát đá rồi đến kinh thành. Thầy rất sùng tín Phật pháp, và tự giữ giới hạnh rất tinh nghiêm, cùng luôn hành hạnh từ bi hỷ xả.
 
 Trong niên hiệu Hiển Khánh, thể theo sắc lệnh của nhà vua, Thầy cùng với đoàn sứ giả qua Tây Vức, rồi đến chùa Ðại Giác. Tại Kim Cang Tòa, Thầy đốt đèn nến trong bảy ngày đêm để cúng dường đại pháp hội kiết tập kinh điển. Trong nội viện Bồ Ðề, dưới cành cây Vô Ưu, Thầy khắc thánh tượng Phật cùng Bồ Tát Quán Tự Tại (Avalokitesvara).
 
 Thầy lại trở về nước Tàu và phụng chiếu chỉ của nhà vua, sang Giao Chỉ tìm dược thảo. Ðến nơi, gặp lúc hạn hán, nhân dân đói kém, nằm chết la liệt, nên ngày ngày Thầy đem thức ăn nước uống để cứu tế họ. Thầy rơi lệ xót xa trước tình cảnh đói khát ngặt nghèo của dân chúng, nên được gọi là 'Thường Ðế Bồ Tát (tức vị Bồ Tát thường rơi lệ)'. Thời gian sau, Thầy có chút bịnh rồi tịch vào năm sáu mươi tuổi.
 
 34-35. Pháp sư Bỉ Ngạn (Nirvana) và Trí Ngạn (Jnanaparin) ở Cao Xương [25].
 
 Hai thầy đến Trường An và có ý muốn xuất gia. Họ rất nóng lòng qua trung Thiên Trúc để tận mắt xem sự hoằng hóa của đạo Phật.
 
 Thế nên, cùng với đoàn sứ giả Vương Huyền Khuyếch, họ lên thuyền đi qua Thiên Trúc. Chẳng may, trên thuyền họ nhuốm bịnh và tịch. Bộ luận Du Già cùng những bộ kinh luận khác bằng chữ Tàu của họ đều được để lại nước Thất Lợi Phật Thệ (Srivijaya).
 
 36. Pháp sư Ðàm Nhuận (Meghasikta) ở Lạc Dương.
 
 Pháp Sư tinh thông chú thuật và huyền lý học, cùng thâm hiểu luật điển và y minh học (Cikitsa Satra). Pháp Sư có dung mạo đoan chánh và rất cẩn thận. Pháp Sư thường biểu lộ tính thích cứu giúp muôn loài.
 
 Pháp Sư từ từ du hành sang Giao Chỉ, rồi trú lại nơi đó trong một năm, sống đời đơn giản và bình dị khiến ai ai cũng khâm phục, tán thán. Pháp Sư lại lên thuyền đi từ Nam Hải đến Thiên Trúc. Nào ngờ, giữa đường Pháp Sư thị tịch tại nước Bột-ích[26], phía bắc nước Ha Lăng, vào lúc ba mươi tuổi.
 
 
 
 37. Luận sư Nghĩa Huy (Artharasmi Sastracarya) ở Lạc Dương.
 
 Luận Sư vốn thông minh mẫn tiệp và có lề lối suy tưởng rất thâm sâu. Luận Sư hoài vọng trở thành một học giả và thích tầm cầu chân lý. Khi nghe qua Nhiếp Luận (Samparigrha) và Câu Xá Luận (Kosa), Luận Sư liền đạt được nghĩa lý thậm thâm. Song, vì nghĩa lý trong đó lại có những điểm dị biệt tương đồng và sai lệch, nên Luận Sư ước muốn tìm kiếm bổn văn chữ Phạn và chính được nghe những lời bàn luận cùng triết ngôn. Do đó, Luận Sư đến trung Thiên Trúc, rồi hoài vọng trở về cố hương. Song, tiếc thương thay, như mạ héo trước khi trưởng thành, Luận Sư tịch tại Lương Gia sau một cơn bịnh vào lúc hơn ba mươi tuổi.
 
 38-39-40. Ba vị tăng từ nước Tàu.
 
 Họ theo đường lộ phía bắc đến nước Ô Trường Na [27] vì nghe có xá lợi xương đầu của Phật (Phật Ðảnh Cốt) tại đó. Tới nơi, họ lễ bái cúng dường xá lợi. Sau này, không ai biết được họ sống chết như thế nào. Nghĩa Tịnh chỉ được chư tăng ở nước đó kể lại sơ qua về họ.
 
 41. Pháp sư Huệ Luân ở Tân La (Triều Tiên).
 
 Pháp Sư có pháp danh tiếng Phạn là Bát Nhã Bạt Ma (Prajnavarman). Tàu dịch là Huệ Giáp. Pháp Sư xuất gia lúc còn ở tại bổn quốc và luôn có tâm nguyện du hành lễ bái thánh tích.
 
 Pháp Sư theo thuyền đến Mân Việt (Phước Kiến), rồi đi bộ đến Trường An. Nơi đó, nhà vua ban chiếu chỉ bảo Pháp Sư làm thị giả cho thầy Huyền Chiếu trên cuộc hành trình sang Thiên Trúc. Qua đến nơi đó, Pháp Sư chiêm ngưỡng lễ bái các thánh tích, rồi trú tại chùa Tín Giả ở nước Am Ma La Bạt khoảng mười năm. Kế tiếp, đi về hướng đông, Pháp Sư viếng thăm chùa Ðỗ Hóa La Tăng (Tukhara Sagharama) ở vùng kế cận. Ngôi chùa này nằm về phía bắc Thiên Trúc và do dân chúng kiến lập để cung ứng chỗ trú ngụ cho chư tăng trong nước. Ngôi chùa này rất sang trọng và thức ăn cùng vật dụng luôn luôn được cúng dường đầy ắp, mà không có ngôi chùa nào sánh bằng. Tên của chùa là Kiền Ðà La Trà (Gandhara Sanda). Pháp Sư trú tại ngôi chùa ấy để học tiếng Phạn, và sau này rất tinh thông về luận Câu Xá. Lúc Nghĩa Tịnh đến đó thì Pháp Sư đã được bốn mươi tuổi.
 
 Chư tăng từ phương bắc tới đều thường trú và làm chủ ngôi chùa Kiền Ðà La Trà. Phía tây chùa Ðại Giác có chùa của người nước Ca Tất Thi. Ngôi chùa này cũng rất sang trọng và có nhiều chư vị thạc đức, mà chư tăng đều tu theo phái tiểu thừa. Chư tăng từ phương bắc đến cũng thường trú nơi đó. Ngôi chùa có tên là Lũ Nõa Triết Lý Ða (Gunacarita); Tàu dịch là Ðức Hạnh (Punyagati). Cách chùa Ðại Giác về hướng đông bắc hai do tuần có chùa Khuất Lục Ca (Calukya), do vua nước Khuất Lục Ca ở nam Thiên Trúc xây cất. Tuy cảnh chùa đơn sơ giản dị nhưng chư tăng trong chùa tinh cần nghiêm trì giới đức. Ðương thời, vua Nhật Quân (Aditysena) vừa xây xong một ngôi chùa mới sát bên chùa Khuất Lục Ca. Chư tăng đến từ phương nam thường trú tại ngôi chùa đó. Mọi nơi đều có chùa chiền, nên chư tăng đồng quốc tịch thường liên lạc với nhau dễ dàng. Song, Thần Châu (nước Tàu) chẳng có một ngôi chùa nào cho chư tăng bổn xứ trú ngụ, nên khiến du tăng bị khó khăn khốn đốn trong việc ăn ở.
 
 Cách tu viện Na Lan Ðà về phía đông, dọc theo hạ lưu sông Hằng có một ngôi chùa tên là Mật Lật Già Tất Tha Bát Na (Mrgasthapana); Tàu dịch là Lộc Viên. Gần ngôi chùa này có một ngôi cổ tự hiệu là Chi Na nhưng đã bị hoang phế và chỉ còn nền móng. Tương truyền, xưa kia đại vương Thất Lợi Cấp Ða (Sri-Gupta) xây ngôi chùa này cho hơn hai mươi chư tăng Chi Na (thuộc vùng Quảng Châu) trú ở.
 
 Mạt Ha Chi Na (Devaputra) tức Kinh Sư, Tàu dịch là Thiên Tử. Xưa kia, có hơn hai mươi tăng sĩ từ nước Tàu đến đó. Họ đi ngang qua vùng Thục Xuyên[28] và đến Ma Ha Bồ Ðề, cách nhau khoảng năm trăm do tuần, rồi đảnh lễ cúng dường những nơi thánh tích. Quốc vương nước đó chân thành cung kính tiếp đón và cúng dường hai mươi bốn thôn làng để cho họ trú ngụ.
 
 Sau này, họ lần lượt thị tịch và đất đai bị người ngoài chia cắt. Khi Nghĩa Tịnh đến đó, chỉ có khu đất của ba thôn làng là thuộc quyền sở hữu của chùa Lộc Viên. Chùa Chi Na đã được xây năm trăm năm về trước. Hiện tại (trong thời của Nghĩa Tịnh), đất đai thuộc quyền sở hữu của vua Ðề Bà Bạt Ma (Devavarma) ở đông Thiên Trúc. Nhà vua trả ngôi chùa lại cho dân làng đó để tránh những chi phí dành cho các du tăng từ nước Tàu qua hành hương. Ông cũng nói:
 
 - Nếu có chư tăng nước Tàu qua đông đảo, Trẩm sẽ trùng hưng ngôi chùa đó lại. Xây một tổ chim bồ câu rất dễ dàng, nhưng tìm người có phước đức để trụ nơi đó thật rất khó. Nếu ai có tâm vì muốn cứu độ chúng sanh, mang ích lợi đến cho muôn loài mà phụng tấu với Trẩm về việc xây lại ngôi chùa đó, thì việc này chẳng khó chút nào.
 
 Chùa Kim Cang Tòa và Ðại Giác đều do quốc vương nước Sư Tử xây cất. Xưa kia, chư tăng từ nước Sư Tử qua thường đến đó trú ngụ.
 
 Tu viện Na Lan Ðà cách Ma Ha Bồ Ðề khoảng bảy do tuần, được vua Thất Lợi Thụ Yết La Ðiệt Ðề (Sakraditya) xây cất cho tỳ kheo Hạt La Xã Bàn ở bắc Thiên Trúc.
 
 42. Pháp sư Ðạo Lâm ở Kinh Châu.
 
 Pháp Sư người Giang Lăng ở Kinh Châu. Pháp danh tiếng Phạn của Pháp Sư là Thi La Bát Pha (Silaprabha); Tàu dịch là Giới Quang. Pháp Sư xuất gia lúc ấu niên. Khi thành niên, Pháp Sư đi tham phương tầm sư cầu chân lý, và gom góp luật tạng để nhiếp hộ thân tâm nên thông đạt tinh tường về luật nghi.
 
 Pháp Sư dành hết mọi thời giờ vào việc tu tập thiền định nên nước tâm lắng đọng như ao xanh, tự tánh lẳng lặng như trăng soi đáy giếng. Tâm tánh Pháp Sư rất hiền từ nhân hậu, thanh tịnh, khiêm tốn, chân thật. Thọ nhận suối nguồn Phật pháp trong trẻo như lưu ly, để khiến đất tâm tĩnh lặng; dùng nước Phật pháp thanh tịnh để xúc miệng hầu mong trưởng dưỡng tâm linh. Pháp Sư rất ít ngủ nghỉ, thường ngồi thiền mãi không nằm, và thọ trai mỗi ngày một buổi.
 
 Qua bao năm đại giáo (Phật pháp) đã được truyền sang đông độ (nước Tàu). Song, môn thiền định[29] chỉ vừa khai sáng, và luật nghi ít được chú trọng. Vì vậy, Pháp Sư luôn nôn nóng qua Thiên Trúc để tầm cầu những bản thảo chánh của kinh luật.
 
 Sau này, Pháp Sư chống tích trượng, lên thuyền của ngoại nhân, đến Nam Hải, rồi qua Thiên Trúc. Trên đường đi, Pháp Sư vượt qua cột đồng trụ, tới nước Lang Gia, băng qua nước Ha Lăng và Khỏa Quốc[30] để đến Thiên Trúc. Quốc vương ở những nơi đó đều tiếp đón Pháp Sư rất nồng hậu. Sau khi trú ngụ nơi đó hai năm, Pháp Sư đến nước Ðàm Ma Lập Ðế ở đông Thiên Trúc và trú lại nơi ấy trong ba năm để học tiếng Phạn. Pháp Sư bỏ những giới luật cũ, thọ nhận những giới luật quan trọng mới và nghiên cứu tinh tường luật nghi của Nhất Thiết Hũu Bộ (Sarvastisada).
 
 Không những tu học luật tạng mà Pháp Sư lại còn chú tâm nghiên cứu vào định và huệ. Pháp Sư lại bỏ rất nhiều thời gian để tu học tinh tường Ðàm Chú Tạng (Dharani Pitaka).
 
 Nơi trung Thiên Trúc, Pháp Sư tận mắt chứng kiến sự hưng thạnh của Phật pháp. Pháp Sư lại đến chiêm bái và hành lễ tại Kim Cang Tọa cùng cội Bồ Ðề và những thánh tích khác. Sau này, Pháp Sư tới tu viện Na Lan Ðà, rồi trú lại nơi đó vài năm để học chân nghĩa của kinh luận Ðại Thừa. Pháp Sư tinh thông luận Câu Xá, A Tỳ Ðàm. Kế đến, Pháp Sư hành hương tới núi Linh Thứu, Trượng Lâm Sơn Viên (Yastivanagiri), và Hộc Thọ [31]. Tại những nơi đó, Pháp Sư vận dụng hết tâm chân thành kính ngưỡng, chất trực để lễ bái các thánh tích.
 
 Pháp Sư du hành khắp nam Thiên Trúc để tìm thầy Huyền Mô. Pháp Sư lại đi qua tây Thiên Trúc, tới nước La Trà và ở đó một năm. Khi ấy, Pháp Sư lập một Linh Ðàn để hành Minh Chú (Vidyadhara Pitaka). Ðôi khi, Pháp Sư giảng giải về giáo nghĩa của Minh Chú.
 
 Tổng quát, nghĩa của Minh Chú theo tiếng Phạn là Tỳ Ðê Ðà La Tất Cản Gia (Vidyadhara Pitaka). Tỳ Ðê, được dịch là Minh chú. Ðà La được dịch là Trì. Tất Cản Gia được dịch là Tạng. Do đó, nghĩa tổng quát là Trì Tạng Minh Chú. Ðược biết Tạng Chú này có một trăm câu kệ bằng tiếng Phạn, và dịch qua tiếng Tàu được ba trăm quyển. Hiện tại (thời của ngài Nghĩa Tịnh), những bản dịch đa phần đã bị thất lạc, chỉ còn một số ít.
 
 Sau khi đức Thế Tôn nhập Niết Bàn, ngài A Ly Dã Na Ca Hạt Thọ Na (Nagarjuna), tức Bồ Tát Long Thọ bảo tồn chân nghĩa tinh yếu của tạng chú này.
 
 Một trong những vị đệ tử của Bồ Tát Long Thọ là ngài Nan Ðà, vốn là một vị thông minh học thức uyên bác, đặc biệt chú trọng đến tạng chú này. Tại tây Thiên Trúc, ngài Nan Ðà chuyên tâm trì tạng chú này trong mười hai năm và được rất nhiều điềm cảm ứng. Ðến giờ thọ trai, ngài Nan Ðà chỉ việc tụng tạng chú này thì thức ăn từ trên hư không chợt rơi vào bình bát. Nếu ước muốn có vật gì, ngài Nan Ðà chỉ tụng tạng chú thì vật đó liền hiện ra trong bình bát linh dị. Nếu ngài Nan Ðà không tụng tạng chú đó thì bình bát bèn biến mất.
 
 Sợ rằng tạng chú này sẽ bị thất lạc, ngài Nan Ðà tự kết tập làm mười hai ngàn câu kệ, mà sau này lại được phân theo các trường phái khác nhau. Mỗi câu mỗi chữ đều được so sánh rất cẩn thận. Tuy đồng chữ đồng câu nhưng công dụng và ý nghĩa của mỗi kệ chú lại khác nhau. Ðương thời tạng chú này được dạy theo lối khẩu truyền, và không ai có thể hiểu hay nhận rõ tầm quan trọng của tạng chú đó.
 
 Sau này, khi nghiên cứu tường tận sự trước tác của ngài Nan Ðà, luận sư Trần Na (Dinnaga) rất đỗi ngạc nhiên về công phu thù đặc và tư tưởng cao siêu của cổ nhân, nên chú trọng vào tạng chú đó. Cảm động, luận sư Trần Na [32] ta thán:
 
 - Nếu Ngài (Nan Ðà) đã chứng ngộ, liễu đạt được Nhân Minh (Hetu Vidya), thì Ta có thể so sánh được với vị hiền giả này không? Chẳng những bậc trí sĩ hiểu rõ tầm vóc kiến thức của Ngài, mà kẻ ngu cũng vẫn nhận ra tri thức thậm thâm đó.
 
 Tạng chú này chưa được lưu hành rộng rãi ở Ðông Hạ (nước Tàu). Trong lời dẫn nhập về tạng Minh Chú có nói: "Muốn bay lên trời cỡi xe rồng, cùng muốn sai sử hàng trăm chư thiên, chỉ cần đọc tụng và bắt ấn thần chú này."
 
 Lúc ở tu viện Na Lan Ðà, Nghĩa Tịnh thường đến đàn tràng và chí tâm tinh tấn tu hành tạng chú này, nhưng công phu vẫn chưa thành tựu. Với mục đích chính là muốn hoằng dương tạng chú này đến những kẻ ngoại đạo, nên Nghĩa Tịnh chép chỉ chép lại bố cục tổng quát.
 
 Từ biên giới vùng phía tây, pháp sư Ðạo Lâm tiến lên bắc Thiên Trúc. Pháp Sư thăm viếng và chứng kiến mắt sự giáo hóa của đạo pháp ở nước Yết Chập Di La (Kashmir), rồi vào nước Ðiểu Trường Na để tham vấn về môn thiền định và tầm cầu kinh Bát Nhã.
 
 Kế đến, Pháp Sư hành hương qua nước Ca Tất Thi, rồi lễ bái cúng dường xá lợi đảnh nhục kế của Phật (Ðiểu Suất Ni Sa-Usnisa).
 
 Khi Nghĩa Tịnh trở về Nam Hải, đến nước Yết Trà thì nghe những người ở phương bắc (Hồ nhân) bảo rằng pháp sư Ðạo Lâm đã gặp hai vị tăng người Hồ (Mông Cổ hay Thổ Nhĩ Kỳ) cùng với thầy Trí Hoằng rồi đồng kết hẹn trở về cố quốc. Lúc năm mươi tuổi, trên đường trở về bổn quốc, vì bị bọn cướp ngăn chặn, nên pháp sư Ðạo Lâm phải quày lại bắc Thiên Trúc.
 
 
 
 43. Luật sư Ðàm Quang (Krsnamegharasmi) ở Kinh Châu.
 
 Luật Sư người Giang Lăng ở Kinh Châu. Luật Sư xả tục xuất gia, rời cố hương, đến kinh sư.
 
 Luật Sư là đệ tử của luật sư họ Thành. Luật Sư (Ðàm Quang) là vị học giả và có tài hùng biện, cùng trì giới luật rất tinh nghiêm. Luật Sư học hỏi luận lý cổ điển trong và ngoài nước. Luật Sư rất nhã nhặn và lịch thiệp.
 
 Xuất phát từ Nam Hải, Luật Sư vượt trùng dương để đến Thiên Trúc lễ bái thánh tích cùng xá lợi Phật. Ðầu tiên, Luật Sư đến tây Thiên Trúc, rồi tới nước Ha Lợi Kê La [33] ở đông Thiên Trúc. Từ đó, không ai biết được Luật Sư du hành đến đâu. Một vị tăng ở nước Ha Lợi Kê La kể rằng có gặp một tăng sĩ nước Tàu, (tức luật sư Ðàm Quang) tuổi tác độ khoảng năm mươi; Luật Sư được quốc vương tiếp đón nồng hậu và giao chức trụ trì tại một ngôi chùa; Luật Sư thường thích tìm kiếm những bản văn chính của kinh luận và tượng Phật; Luật Sư thường răn nhắc những vị tăng phạm giới ở trong chùa. Sau này, Luật Sư cảm bịnh và tịch tại nơi đó.
 
 44. Thiền sư Huệ Mạng (Prajnajnapti) Kinh Châu.
 
 Thiền sư cũng là Giang Lăng ở Kinh Châu. Tánh tình chân thật, tiết tháo, thông suốt luật nghi, và có hoài bão cao thượng. Thiền Sư học văn thơ cổ điển trong và ngoài nước. Thiền Sư thường ao ước ngắm xem sông Ni Liên Thuyền[34], và ý chí cùng tâm tư luôn hướng về vườn Trúc Uyển. Thiền Sư khởi hành cuộc vân du hướng đến Chiêm Ba [35], và phải chịu đựng bao khổ nhọc vì những cơn giông bão trên biển cả. Ðến cột đồng trụ của Mã Viện, Thiền Sư ngơi nghỉ nơi đó, rồi trở về nước Tàu.  
 
 
 45. Luật sư Huyền Quỳ (Mahamarga) ở Nhuận Châu.
 
 Luật Sư là người Giang Ninh ở Nhuận Châu, họ Hồ, thuộc dòng dõi quý tộc. Luật Sư tinh thông văn học và sử ký. Tánh tình nhân từ, lễ nghĩa, kính pháp trọng tăng. Với danh thơm và hoài bão lớn, Luật Sư xuất gia từ thuở ấu niên. Khi trưởng thành, Luật Sư được mọi người cung kính và tôn trọng. Luật Sư tiến bộ và thành tựu trong việc tu học. Không những am tường luật tạng mà Luật Sư còn tinh thông thiền định. Luật Sư giữ giới luật tinh nghiêm mà ít có ai hành được. Luật Sư luôn tham dự những buổi luận nghị về kinh điển và đặc biệt chú tâm vào huyền nghĩa. Nhờ có bẩm chất học giả, trí huệ và tài năng thư pháp của Luật Sư rất tuyệt vời. Luật Sư chỉ thường dùng ba bộ y ca sa của sa môn.
 
 Mỗi lần bước vào chánh điện, Luật Sư thường bỏ dép ra, nhưng lại mang vào khi đi đường. Luật Sư rất cẩn thận và tỉ mỉ mà chẳng màng đến những tiếng cười đùa của thế nhơn. Không bao giờ đặt lưng trên chiếu, Luật Sư luôn luôn ngồi thiền quán. Dầu thường đi khất thực, Luật Sư cũng không nhận nhiều thức ăn, và luôn tránh thọ thực tại các phòng ăn lớn.
 
 Nhiều người thích mang đôi giày rơm. Họ cũng biết nghệ thuật làm giày. Song, giày rơm rách nát không thể chừng mực. Trên đường vân du, Luật Sư luôn mang đôi giày rơm rách tả tơi. Thật là khổ nhọc!
 
 Luật Sư luôn có đồng ý kiến với các pháp hữu, nhưng lại có lý giải riêng; có thể khởi cơn giông tố trong nguồn nước sông tĩnh lặng; không độc đoán hay thỏa thuận dễ dàng như người thường, thường có tâm tính hướng về chân lý. Làm thế nào mà Luật Sư hòa quang đồng trần được với những kẻ bình thường đang sống trong tối tăm với tâm tánh chấp trước nặng nề!
 
 Luật Sư du hành từ nơi này sang nơi khác rồi tới Ðan Dương. Nơi đó, Luật Sư đồng giao kiết với một người nọ là sẽ qua Thiên Trúc. Sau đó, Luật Sư rơi lệ tạm biệt người anh và thân hữu ở miền nam, vì hoài vọng tầm cầu Phật pháp để hoằng dương chánh pháp, một tôn giáo đã ngự trị cuộc đời và tâm linh của mình.
 
 Với mục đích đó, Luật Sư đến Quảng Châu, nhưng chẳng may bị bịnh sưng phổi. Cảm thấy bịnh tình trói buộc khiến không thể tiến bước, Luật Sư đành thất vọng não nề trở về bổn xứ Ngô Sở vào năm hai mươi lăm tuổi.
 
 Sau này, một vị tăng tên là Triết, đến Thiên Trúc và thuật lại rằng luật Sư Huyền Quỳ, một danh tăng, đã cảm bịnh mà thị tịch.
 
 Thật là điều bất hạnh! Cuộc đời của Luật Sư minh chứng rằng đạt được mục tiêu không phải là chuyện dễ. Thương thay! Ước vọng chân thành tầm cầu chân lý thể pháp, vượt ngoài âm dương, và mang giáo lý Phật đà về bổn xứ của Luật Sư đã bị tiêu tan như bọt sóng cồn vì nghiệp chướng bịnh hoạn. Thế nên, tôi (Nghĩa Tịnh) viết kệ tán thán:
 
 "Thạc nhân đã tịch
 
 Ai hay kế thừa
 
 Rủi thay đoản mạng
 
 Ô hởi thương thay!
 
 Hoài bão cao vọng
 
 Bị tan từng mãnh
 
 Hoa nước chóng tàn
 
 Liễu giải lý dễ
 
 Dụng công hành khó
 
 Thuở còn niên thiếu
 
 Ðức nghiệp tròn đầy
 
 Truyền đăng hậu thế
 
 Ước nguyện cao tột
 
 Tráng chí hùng dũng."
 
 Vì muốn giữ gương sáng về cuộc đời tu hành của Luật Sư nên tôi (Nghĩa Tịnh) viết lại tiểu sử để ngàn thu nhớ mãi.
 
 Ðể tưởng nhớ đến Luật Sư, tôi (Nghĩa Tịnh) viết thêm một bài kệ:
 
 "Tâm hướng về ngôi Phạm vũ
 
 Hồn mơ bay qua Tiên Châu
 
 Sầu trai trẻ lâm bịnh hoạn
 
 Không cùng bạn sang Tây Thiên
 
 Hoài vọng tan như cát bụi
 
 Lá đã rơi đành về cội!
 
 Chí nguyện xưa lại bất thành
 
 Một mai gặp duyên lành đến
 
 Nương bình bát tới Tây Thiên
 
 Quán xem mạch pháp lưu truyền."
 
 Vào niên hiệu Hàm Hanh (670-673), trú tại Tây Kinh một năm, tôi (Nghĩa Tịnh) thường nghe giảng và tu học kinh luận. Ðương thời, tôi cùng với thầy Xứ Nhất ở Bình Bộ, luật sư Hoằng Huy ở Lai Châu, và ba đại đức đồng hẹn nhau đến lễ bái núi Linh Thứu và hướng tâm về cây Giác Thọ (tức cội Bồ Ðề).
 
 Vì mẹ già và nhớ đến Bình Châu, nên thầy Xứ Nhất phải quày về cố hương. Ngược lại, luật sư Hoằng Huy khi gặp thầy Huyền Chiêm tại Giang Ninh bèn hướng tâm về cõi An Dưỡng (tây phương Cực Lạc). Huyền Quỳ cùng đi với Nghĩa Tịnh đến Quảng Phủ, nhưng vì bịnh nên không thể tiến bước. Một mình Nghĩa Tịnh khởi hành cuộc vân du cùng với tiểu tăng Thiện hạnh.
 
 Chia tay với những pháp lữ tại đất Thần Châu, Nghĩa Tịnh không tìm được một pháp lữ trên đất Thiên Trúc. Ðương thời, nếu Nghĩa Tịnh có chút do dự (đi Thiên Trúc) thì hoài vọng chắc không thể hoàn thành. Buồn vì cô đơn du hành, Nghĩa Tịnh viết bài kệ:
 
 "Vượt bao trùng dưong muôn ngàn dặm
 
 Dây sầu khuấy động tâm trăm mảnh
 
 Thân hình sáu thước, bóng khắc khoải
 
 Biên thùy Thiên Trúc, chẳng cùng ai
 
 Bèn tự giải nổi ưu sầu, bảo:
 
 Thượng tướng chống quân xâm lăng
 
 Chí không dời, sĩ phu nào bằng
 
 Nếu như than tiếc vì mạng ngắn
 
 Sao được mãn nguyện sống Trường Trăng!"
 
 Niên hiệu Hàm Hanh thứ ba (672), tôi an cư kiết hạ tại Dương Phủ. Ðầu mùa thu, tôi chợt gặp sứ giả triều đình là Phùng Hiếu Thuyên ở Cung Châu. Mông ơn đàn việt sứ giả Phùng Hiếu Thuyên, tôi đến Quảng Châu, rồi hẹn với chủ thuyền người Ba Tư[36] ngày lên thuyền xuôi về nam. Tôi lại được sứ quân Phùng Hiếu Ðản, Phùng Hiếu Chẩn, em của Phùng Hiếu Thuyên, và phu nhân họ Ninh họ Bành cùng những vị khác tặng rất nhiều phẩm vật. Trước khi khởi hành, vì sợ tôi sẽ bị đói khát hay gặp nhiều sóng gió trên biển cả và hiểm nạn trên đất liền, nên toàn gia đình cùng quyến thuộc đều tranh nhau cúng dường rất nhiều thức ăn vật dụng. Tôi cảm thấy lòng thành lo lắng của họ như cha mẹ thương con côi cút, thường cung cấp những nhu yếu phẩm. Nhờ những vật dụng họ cúng dường mà tôi có thể hành hương sang thắng xứ (Thiên Trúc).
 
 Lòng thành của gia quyến sứ quân họ Phùng đã khích lệ tôi lên đường hành hương rất mãnh liệt. Chư tăng và kẻ tục ở vùng Lãnh Nam đều quyến luyến rơi lệ khi tôi từ biệt. Ngay cả các học giả ở phương bắc cũng ưu sầu vì không biết ngày nào sẽ tương hội.
 
 Vào tháng mười một, tôi bắt đầu cuộc hành trình, hướng về phía Dục Chẩn, và bỏ lại Phiên Ngu (Quảng Ðông) đằng sau lưng. Ðôi khi, tôi hướng tâm đến Lộc Viên và vọng mong lên núi Kê Túc để lễ bái.
 
 Bấy giờ, cơn gió mùa bắt đầu thổi đến. Với đôi dây thừng cột trên buồm thuyền cao trăm thước, thuyền tiến về hướng Chu Phương. Rời sao Ky, hai thuyền buồm bị gió thổi bay mất. Thuyền chạy trên những làn sóng cao ngất như núi. Hợp với dòng suối vịnh, những đợt sóng triều dâng cao tận trời xanh như mây đen vần vũ.
 
 Gần hai mươi ngày, thuyền đến nước Phật Thệ. Nghĩa Tịnh lên bờ, ở lại nơi đó sáu tháng để học Thanh Minh (ngôn ngữ). Ðược sự giúp đỡ của quốc vương, tôi đến nước Mạt La Du (Malayu), tức nước Thất Lợi Phật Thệ (Sribhoga) và trú tại đó hai tháng, rồi đến nước Yết Trà.
 
 Ðến tháng chạp, tôi lên vương thuyền (thuyền của hoàng gia) để đi đông Thiên Trúc. Cách nước Yết Trà khoảng mười ngày, thuyền đến nước của người Khỏa Thân (Insula Nudorum). Nhìn về hướng đông bãi biển, chỉ thấy toàn là những cây dừa xiêm, cùng một rừng dây trái trầu, trông rất đẹp mắt. Thuyền vừa đến bãi biển thì thổ dân chèo trăm chiếc xuồng nhỏ. Họ đem dầu, chuối, cùng những đồ vật làm bằng tre mía ra để trao đổi hàng hóa.
 
 Vật họ cần nhất là sắt. Một mảnh sắt dài hai lóng tay có thể đổi lấy năm hay mười trái dừa xiêm. Nơi đó, đàn ông thì trần trụi còn đàn bà thì che thân bằng lá. Thương nhân muốn cho áo quần nhưng họ đều khoát tay từ chối.
 
 Ðược biết, nước này nằm thẳng về hướng tây nam của vùng Thục Xuyên. Nơi đây không bao giờ sản xuất thiếc sắt. Vàng bạc rất ít thấy. Nhu yếu phẩm chính là dừa và khoai, mà lúa gạo lại rất hiếm. Họ xem thiếc sắt là vật trân quý nhất, và được gọi là Lô Ha.
 
 Nói chung, dung sắc của thổ dân không đen đúa và có vóc hình tầm trung bình. Nghệ thuật làm giỏ bằng cây mía của họ rất tinh vi mà không nơi đâu sánh bằng. Nếu có ai từ chối trao đổi hàng hóa, họ sẽ bắn cung tên tẩm độc. Ai bị tên bắn thì mạng không còn.
 
 Thuyền chạy khoảng nửa tháng về hướng đông bắc thì đến nước Ðam Ma Lập Ðề (Tamralipti), tức biên giới phía nam của đông Thiên Trúc. Cách tu viện Na Lan Ðà và Ma Ha Bồ Ðề khoảng sáu mươi do tuần. Tôi gặp ngài Ðại Thừa Ðăng (Mahayana) tại nơi ấy lần đầu tiên. Nơi đó, tôi học tiếng Phạn và thanh văn luận (Vyakarana).
 
 Kế đến tôi cùng với ngài Ðại Thừa Ðăng lên đường đi thẳng về hướng tây, và đồng hành với một trăm thương nhân đến trung Thiên Trúc. Cách Ma Ha Bồ Ðề mười ngày đường, chúng tôi băng qua một ngọn núi cao và đầm lầy. Ðường xá rất nguy hiểm và gồ ghề. Ði qua nơi đó phải có người đồng hành chứ chẳng nên đi một mình.
 
 Trên đường đi, tôi mệt lã người vì những cơn bịnh sốt. Dầu muốn nhưng tôi không thể đi kịp theo đoàn thương nhân. Song, tôi vẫn tiến bước. Song, vì quá mệt mõi, nên trong năm dặm đường mà tôi nghỉ ngơi cả trăm lần. Ðương thời, đồng hành có hơn hai mươi vị tăng ở tu viện Na Lan Ðà. Ngài Ðại Thừa Ðăng đã đi về phía trước, và bỏ một mình tôi trên con lộ hiểm nguy. Hoàng hôn vừa che trùm mặt đất thì bọn cướp liền xuống núi, vây quanh tôi. Giương cung tên, chúng trương mắt nhìn và chửi rủa. Ðầu tiên chúng lột thượng y, rồi đến y phục dưới thân, và ngay cả dây nịt trên thân trần truồng cũng bị lột luôn.
 
 Bấy giờ, tôi cảm thấy đời mình đã tận và sẽ không còn nhìn lại thế gian. Nếu bị tên bắn hay giáo đâm thì niềm hy vọng hành hương lễ bái thánh tích tan tành như cát bụi. Theo lời đồn đãi của dân chúng nước đó thì bọn cướp nếu bắt được người nào có sắc diện hồng hào tuấn tú thì sẽ đem cúng tế quỷ thần. Nhớ lại những lời này khiến tôi rùng mình, càng sợ hãi thêm. May thay, tôi trốn thoát, rồi chạy vào một cái đầm nước. Nơi đó, tôi trét bùn cùng lấy lá che trùm lên thân, rồi chống gậy, men theo con đường cũ.
 
 Màn đêm bao phủ khắp nơi. Lữ quán lại cách đó rất xa. Vào canh hai, tôi gặp lại các pháp lữ đồng hành nhờ nghe tiếng gọi của ngài Ðại Thừa Ðăng từ bên ngoài thôn làng. Vừa gặp lại nhau, ngài Ðại Thừa Ðăng liền cho tôi y phục để mặc, rồi dẫn tôi tới một bồn nước để tắm gội trước khi vào làng.
 
 Từ nơi đó, chúng tôi đi khoảng vài ngày thì đến tu viện Na Lan Ðà. Nơi đó, chúng tôi lễ tháp Căn Bổn (Mulagandhakuti). Kế đến, tôi hành hương lên núi Linh Thứu và thấy một đống y phục được cất gọn gàng bên trong. Thứ đến, tôi tới chùa Ðại Giác, lễ chân dung tượng Phật.
 
 Ðược chư tăng và kẻ tục ở Sơn Ðông cúng dường một mảnh lụa dầy nhuyễn, tôi bèn may y ca sa đúng theo lượng của Như Lai rồi thành kính cúng dường lên thánh tượng. Luật sư Huyền ở Bộc Châu đã đưa cho tôi hàng trăm ngàn cây bảo cái để cúng dường đức Như Lai. Tôi thay mặt thiền sư An Ðạo lễ bái tượng Phật ở cội Bồ Ðề thể theo lời yêu cầu thuở xưa. Với lòng thành kính tột bậc và tâm bất phân biệt, năm vóc gieo xuống đất, tôi lễ bái thánh tượng Phật đà. Vì muốn báo đền bốn trọng ân[37] ở đất Ðông Hạ (nước Tàu) cùng hóa độ pháp giới hàm linh, tôi nguyện được vào sơ hội Long Hoa, gặp đức Thế Tôn Từ Thị, để khế hợp chân tông, đắc trí vô sanh.
 
 Sau đó, tôi lễ bái các thánh tích khác, rồi đi ngang qua Phương Trượng (ở nước Khuất Câu Thi). Hành hương đến đâu, tôi đều vận tâm chân thành mà lễ bái. Tôi lại vào Lộc Viên, leo lên núi Kê Túc, rồi trú lại tu viện Na Lan Ðà hơn mười năm để tầm cầu gom góp kinh điển.
 
 Thời gian sau, tôi đi theo tuyến đường cũ để trở về cố hương. Trước khi đến nước Ðàm Ma Lập Ðề, tôi lại gặp một bọn cướp, nhưng thoát nạn đao kiếm, mà được toàn mạng trong lằn tơ kẻ tóc.
 
 Từ hải cảng, tôi theo thuyền đến nước Yết Trà, mang theo hơn năm trăm ngàn ba tạng kinh điển bằng tiếng Phạn, mà trơng đó có hơn một ngàn quyển kinh luận đã được phiên dịch ra tiếng Tàu. Trên đường đi, tôi ghé qua thành phố đông dân cư ở nước Thất Lợi Phật Thệ.
 
 46. Pháp sư Thiện Hạnh ở Tấn Châu.
 
 Pháp Sư xuất gia từ thuở ấu niên, rồi rời quê quán, đến Ðông Sơn tầm thầy học đạo. Lúc trưởng thành, Pháp Sư học luật nghi và thích tu theo Minh Chú (Vidyamantra). Tánh tình nhu hòa, điềm đạm cùng giản dị. Kính tôi (Nghĩa Tịnh) làm Thầy và lại theo tôi qua nước Thất Lợi Phật Thệ. Chẳng may, tại nơi đó, Pháp Sư bị bịnh ung thư nên phải theo một chiếc thuyền nhỏ trở về nước Tàu vào lúc khoảng hơn bốn mươi tuổi.
 
 47. Pháp sư Linh Vận ở Nhưỡng Dương.
 
 Pháp danh tiếng Phạn của Pháp Sư là Bát Nhã Ðề Bà (Prajnadeva). Xuất gia từ thuở ấu niên, Pháp Sư có chí khí và nghị lực kiên cường hơn người. Với ước muốn truy tầm thánh tích, Pháp Sư cùng với vị tăng họ Triết từ Nam Hải qua Thiên Trúc.
 
 Pháp Sư học tinh thông tiếng Phạn và lấy sự nghiệp hoằng pháp lợi sanh làm bổn hoài. Do đó, đi đến đâu, Pháp Sư đều được quốc vương dân chúng kính trọng lễ bái.
 
 Khi đến tu viện Na Lan Ðà, dưới cội Bồ Ðề, Pháp Sư vẽ lại chân dung của đức Từ Thị Di Lặc. Bức tượng này được Pháp Sư họa lại rất khéo léo và tỉ mỉ theo đúng kích thước khuôn mẫu của bức tượng chánh, với những đường nét uyển chuyển tuyệt vời mà các họa sĩ danh tiếng cũng không thể sánh bì. Sau này, trở về cố hương Pháp Sư vận dụng hết mọi tài đức để hoằng dương Phật pháp. Với tài năng thiên tánh sẳn có, Pháp Sư phiên dịch Thánh điển (ba tạng kinh điển) rất chân thực, gọn gàng, trong sáng dễ hiểu.
 
 48. Thiền sư Tăng Triết ở Phong Châu.
 
 Thuở ấu thơ, Thiền Sư rất mực ngay thẳng, chân thực, đứng đắn; tánh tình thâm trầm, và sớm thích cửa huyền môn (Phật pháp); cơ giải ngộ rất vi huyền, đàm luận sắc xảo lanh lợi, tài hùng biện hơn người, thường ăn nói cùng hành động như đang ở trong đám đông.
 
 ThIền Sư nhiệt thành nghiên cứu thâm sâu về tạng luật và tinh thông lý lẽ thiền môn. Thiền Sư cũng từng bảo rằng hai môn luận Trung Quán và Bách Pháp tối cực quan trọng và có mối liên hệ với luận của hai ông Trang và Lưu.
 
 Vì luôn ngưỡng mộ thánh tích, Thiền Sư theo thuyền đi Thiên Trúc. Tới nơi, Thiền Sư thường tùy duyên mà đi khất thực.
 
 Hành hương lễ bái các thánh tích ở những vương quốc xung quanh xong, Thiền Sư tiến về phía đông Thiên Trúc, đến nước Tam Ma Ðàn Tra (Samatata). Nơi đó, quốc vương Hạt La Xã Bạt Thâu, thâm tín ngôi Tam Bảo và là một đại cư sĩ.
 
 Lòng nhiệt thành thâm tín Phật pháp của thiền Sư thật xưa nay rất hiếm thấy. Mõi ngày, Thiền Sư vừa tự tay nắn trăm ngàn tượng Phật nhỏ, y theo hình dung của đức Thế Tôn, cùng tụng trăm ngàn câu kệ trong kinh Ðại Bát Nhã. Thiền Sư dùng trăm ngàn nhành hoa tươi, chất cao bằng đầu người, để cúng dường những tôn tượng đó.
 
 Vào những dịp đại lễ, thánh tượng Quán Âm được khiêng đi diễn hành trước xa giá của hoàng gia. Cờ xí, tràng hoa, và tràng phan bay phất phơ trong gió cùng âm thanh của chuông trống kèn nhạc vang rền khắp hư không. Chư tăng cung thỉnh tượng Phật dẫn đầu đoàn hành lễ và theo sau là quốc vương, quần thần cùng dân chúng. Trong vương thành, hơn bốn ngàn tăng ni được quốc vương cúng dường thức ăn.
 
 Mỗi ngày, sứ giả triều đình được phái vào các ngôi chùa, đến từng phòng, chấp tay thỉnh vấn về cuộc sống của chư tăng. Thay mặt quốc vương, họ tác bạch với vị tăng trụ trì:
 
 - Ðại Vương xin vấn an quý Ðại Ðức có ngủ được an lành chăng?
 
 Tăng đáp lễ:
 
 - Xin nguyện Ðại Vương không bịnh hoạn, sống trường thọ, và quốc gia thái bình, nhân dân an lạc.
 
 Sứ giả lại báo cáo và bàn luận về những việc quốc sự.
 
 Chư đại đức Thiên Trúc bác học, thông minh, trí huệ quảng đại, tài cán siêu quần. Chư tăng thuộc mười tám tông phái Hữu Chúng Bộ đều tinh thông liễu giải đại luận ngũ minh. Từ mọi góc trời, các ngài đồng tụ hội tại vương thành. Lòng nhân hậu từ bi của quốc vương vang xa khắp mọi miền nên mới vân tập số đông chư đại đức bác học như thế. Quốc vương nước này thật là một viên ngọc trân quý giữa các quốc vương xưa nay.
 
 Thiền sư Tăng Triết trú ở chùa Vương Tự (Raja-vihara) và được quốc vương cung kính lễ bái rất đặc biệt. Nơi đó, Thiền Sư học tiếng Phạn ngày một tiến bộ.
 
 Nghĩa Tịnh không gặp được Thiền Sư. Khi viếng thăm chùa Vương Tự, Nghĩa Tịnh được chư tăng bổn tự cho biết là Thiền Sư đã từng trú ở đó vào lúc trên bốn mươi tuổi.
 
 49. Huyền Du, đệ tử của thiền sư Tăng Triết, đến từ nước Cao Ly.
 
 Huyền Du theo tôn sư đến nước Sư Tử để thọ giới cụ túc và trú lại nơi đó suốt cuộc đời.
 
 50. Luật sư Trí Hoằng (Mahaprajna) ở Lạc Dương.
 
 Luật Sư vốn là cháu của sứ quân Vương Huyền Sách, một người đã từng phụng mạng nhà vua dẫn đoàn sứ giả sang Tây Vức. Từ thuở nhỏ, Luật Sư đã sớm hiểu rõ sự vô thường của thế gian. Luật Sư rất khinh khi những kẻ hào phú ăn không ngồi rồi, vô tích sự, mà thích xả bỏ dục lạc thế gian, cùng xa lánh thế tình. Tánh tình của Luật Sư hòa nhã, nhưng chẳng hề động tâm vì lời vuốt ve nịnh bợ.
 
 Xuất gia xong, Luật Sư đến núi Thiếu Lâm, và chỉ ăn trái cây để sinh sống tu hành. Luật Sư thường tụng điển, và kiêng kỵ những nơi ồn náo, cùng thích trú những chỗ tịch tĩnh lặng lẽ như chư thánh tăng. Thư pháp của Luật Sư rất tuyệt vời.
 
 Thứ đến, Luật Sư rời Bát Thủy, tới Tam Ngô, xả bỏ tất cả, mặc y ca sa, theo giáo thọ sư là Soa Thiền (Dhyanarasmi), hành hạnh khất sĩ. Tuy muốn tiếp thừa trí huệ của tôn sư nhưng chưa thành tụu. Luật Sư lại đến Kỳ Châu, lễ bái thiền sư họ Nhẫn và được chỉ dẫn cách thanh tịnh thân tâm, nhưng vẫn chưa liễu ngộ tâm tánh.
 
 Kế đến, Luật Sư vượt sông Tương, băng qua núi Hành Lĩnh, vào chùa Quế Lâm, rồi ẩn mình dưỡng tâm tu hành nơi rừng sâu núi thẳm trong nhiều năm. Nơi đó, Luật Sư y chỉ theo thiền sư họ Tịch. Ngắm nhìn vẽ thanh tú hùng vĩ của núi sông rừng nội, Luật Sư bèn lấy bút viết kệ diễn đạt cảm giác về khung cảnh thiên nhiên ở xung quanh cùng tâm tư hoài vọng của người viễn xứ.
 
 Nương nhờ các bậc thạc đức ở vùng Tam Ngô, Luật Sư đạt được pháp ích sung mãn. Lại nữa, nhờ các vị thức giả ở Cửu Giang chỉ điểm mà Luật Sư thông suốt được diệu lý của Phật pháp.
 
 Luật Sư luôn nguyện ước sang Thiên Trúc để lễ bái các thánh tích. Dịp may đến, vừa gặp mặt nhau thì Luật Sư cùng thiền sư Vô Hành đồng khế ước du hành sang Tây Vức. Ðến Hợp Phố, Luật Sư lên thuyền vượt trùng dương. Vì thời tiết xấu, gió to sóng lớn, Luật Sư phải ở lại Thượng Cảnh, rồi tiếp tục cuộc h